1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Mô hình số liệu mảng nghiên cứu ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập lên tăng trưởng tại Việt Nam

8 26 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 246,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với công cụ là mô hình dữ liệu mảng để ước lượng tác động của 3 tiêu chí phản ánhBBĐTN là chỉ số G[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập (BBĐTN) và tăng trưởng kinh tế (TTKT) đã được đặt ra từ lâu, là một trong những nền tảng để hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội, và vì vậy thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Không thể lựa chọn một xã hội không tăng trưởng cũng như không thể chấp nhận một xã hội BBĐTN cao Cân bằng giữa hai yếu tố này luôn là một bài toán khó đối với mọi quốc gia nói chung cũng như Việt Nam hiện nay Các kết quả nghiên cứu trên thế giới dường như đang hội tụ về một khoảng giá trị nhất định của BBĐTN Nhưng có vẻ như mỗi quốc gia, tùy theo điều kiện cụ thể của mình, đều cần một câu trả lời cụ thể riêng trong khoảng

đó

Ở Việt Nam, quan hệ giữa TTKT và BBĐTN cũng đã bắt đầu được nghiên cứu Phần lớn các nghiên cứu này đề cập đến mặt định tính, một sốnghiên cứu định lượng thì đa phần nghiên cứu ảnh hưởng của TTKTtớiBBĐTN Cácnghiêncứutheo chiều ngược lại, xem xét ảnh hưởngcủaBBĐTNtới TTKTcònít

Vì vậy, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Mô hình số liệu mảng nghiên cứu ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập lên tăng trưởng tại Việt Nam”

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá tác động của BBĐTNlên TTKT Việt Nam giai đoạn 2010-2014 Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với công cụ là mô hình dữ liệu mảng để ước lượng tác động của 3 tiêu chí phản ánhBBĐTN là chỉ số Gini, tỉ lệ thu nhập của 40% dân số nghèo nhất

và tỷ lệ thu nhập giữa 20% dân số giàu nhất với 20% dân số nghèo nhất cùng với vốn đầu

tư và lao động lên tốc độTTKT Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu số liệu 63 tỉnh/thành các năm 2010, 2012, 2014

Kết cấu của luận văn gồm 3 chương chính:

- Chương 1 Tổng quan về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế

- Chương 2 Thực trạng mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Trang 2

- Chương 3 Ước lượng thực nghiệm ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

BBĐTN là việc đối xử (phân phối) không ngang nhau đối với các chủ thể có các

cơ hội phát triển như nhau (Ngô Thắng Lợi, 2013).BBĐTN có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như: sự biến động của thị trường lao động, toàn cầu hóa, cải cách chính sách Các nhà kinh tế sử dụng rất nhiều chỉ tiêuđể đo lường BBĐTN Một số thước đo phổ biến là: đường Lorenz, hệ số Gini, tỷ lệ Q5/Q1 và tiêu chuẩn “40” của Ngân hàng Thế giới (WB)

TTKTlà “sự gia tăng thu nhập/sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập/sản phẩm quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)” (Ngô Thắng Lợi, 2013) Tốc độ TTKT được đo lường bằng phần trămtăng thêm của GDP thực tế hoặc GDP thực tế bình quân đầu người Rất nhiều nhân tố có thể tác động đến TTKT với các mức độ khác nhau

Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng củaBBĐTN tới tăng trưởng cho thấy: a/ Các nghiên cứu lý thuyết đưa ra kết luậnBBĐTN lớn hơn có thể làm giảm tăng trưởngcũng có thể thúc đẩy tăng trưởng

- BBĐTNcó thể thúc đẩy tăng trưởng Lý do làBBĐTN cao khuyến khích người ta

làm việc chăm chỉ hơn, thúc đẩy đầu tư và chấp nhận rủi ro để có thu nhập cao (Lazear and Rosen, 1981) hoặc BBĐTN cao hơn làm tăng tổng tiết kiệm, và vì vậy làm tăng tích lũy vốn, vì người giàu có thiên hướng tiêu dùng biên thấp (Kaldor, 1956; Bourguignon, 1981)

- BBĐTN lớn hơn có thể làm giảmtăng trưởng Do BBĐTN có thể dẫn tới bất ổn

chính trị và rối loạn xã hội, với tác động có hại đối với tăng trưởng (Alesina and Perotti, 1996; Keefer and Knack, 2000) hoặc BBĐTN cao làm chongười nghèo có thể không có khả năng đầu tư thích đángvào “vốn con người”, đồng nghĩa với tổng sản lượng thấp hơn Lý thuyết này do Galor và Zeira đề xuất (1993) và được gọi là

Trang 3

lý thuyết “đầu tư vốn con người” Hoặc việc chấp nhận các công nghệ mới cần một mức cầu nội địa tối thiểu (Bắt nguồn từ lý thuyết Big Push những năm 1940

và củng cố bởi Murphy et al (1989))

b/ Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các kết quả khác nhau tùy thuộc không gian và thời gian.Một số tác giả thấy BBĐTNcó ảnh hưởngtiêu cực đến TTKT Một số khác lại thấy BBĐTN thúc đẩy TTKT Một số khác nữa lại thấy BBĐTN có thể có những hiệu ứng khác nhau giữa các nước giàu và nghèo, dân chủ và phi dân chủ, thậm chí không có tương quan

Ở Việt Nam,Hoàng Thủy Yến (2015) đã xác định ngưỡng tác động của BBĐTN đối với TTKT Việt Nam là Gini = 0,37 hoặc khoảng cách giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất là 9.6 lần BBĐTN sẽ kích thích tăng trưởng khi BBĐTN nhỏ hơn ngưỡng và sẽ kìm hãm tăng trưởng khi BBĐTN lớn hơn ngưỡng

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Phân tích số liệu cho thấy BBĐTN giữa các nhóm hộ gia đình tính bằng Q5/Q1 liên tục tăng từ năm 2002 tới năm 2014 So sánh giữa thành thị với nông thôn thì BBĐTN giữa các nhóm hộ ở nông thôn có xu hướng tăng liên tục, tốc độ tăng thu nhập bình quân của nhóm giàu nhất cao hơn so với của nhóm nghèo nhất, trong khi ở thành thị lại bắt đầu

có dấu hiệu giảm

Phân tích theo hệ số Gini thì từ 2002 đến 2014, mức độ BBĐTN đo bằng hệ số Gini của Việt Nam có xu hướng tăng nhẹ.So sánh giữa thành thị và nông thôn thì ở thành thị, hệ số Gini cao hơn nhưng đang giảm, ở nông thôn hệ số Gini thấp hơn nhưng lại đang tăng Đây là một xu hướng tích cực: khoảng cách BBĐTN giữa thành thị và nông thôn đang giảm dần, đến 2010, khoảng cách này chỉ còn 0,007 Nhưng BBĐTN giữa nông thôn và thành thị lại tiếp tục gia tăng sau năm 2010, và lần này thì theo chiều ngược lại so với giai đoạn trước: Gini ở nông thôn cao hơn ở thành thị

Trang 4

Đánh giá theo tiêu chuẩn “40’’ của WB, tỉ lệ thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất ở nước ta đang nằm trong khoảng 12%-17%, nghĩa là có sự BBĐTN trung bình, nhưng liên tục tăng

Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng cao trong nhiều năm qua Tuy nhiên chất lượng tăng trưởng còn thấp so với các nước xung quanh Tăng trưởng mới chỉ theo chiều rộng phụ thuộc nhiều vào đầu tư và nhân công rẻ, năng suất lao động chưa cao Những hạn chế này đang ngày càng gây nhiều khó khăn đối với mục tiêu tăng trưởng

BBĐTN và TTKT ở Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với nhau BBĐTNtác động lên tăng trưởng có thể theo nhiều kênh khác nhau như khả năng tiếp cận hệ thống giáo dục đào tạo, sự chuyển dịch lao động giữa các khu vực, tập trung vốn đầu tư, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu

Việt Nam xác định mục tiêu và chính sách gắn TTKT đi đôi với thực hiện công bẳng, trong đó có công bằng phân phối thu nhập

CHƯƠNG 3 ƯỚC LƯỢNG THỰC NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ỞVIỆTNAM

Với thực tế số liệu thu thập được, tác giả lựa chọn mô hình số liệu mảng để phân tích tác động của BBĐTN tới TTKT ở Việt Nam Cấu trúc số liệu mảng gồm 63 đối tượng chéo (ứng với 63 tỉnh thành) và 3 mốc thời gian (2010, 2012, 2014) Mô hình được tác giả chọn để nghiên cứu tác động của BBĐTN tới TTKT có dạng sau:

lgdp   ldt   lld   X  c u Trong đó, Xk là biến phản ánh BBĐTN ; uit là sai số ngẫu nhiên thông thường ; ci phản

ánh sự khác biệt giữa các tỉnh trong tập quan sát, không phụ thuộc vào thời gian

Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng các biến sau để phản ánh BBĐTN:

+) gini: Hệ số Gini

+) qf: Tỷ số giữa thu nhập của nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất

(Q5/Q1)

+) sf: Tỷ lệ thu nhập của 40% nghèo nhất trên tổng thu nhập

Trang 5

Kết quả ước lượng các mô hình

a) Tác động của Gini lên tăng trưởng

lgdp    ldtlldgi

Trong mô hình các hệ số đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (hệ số của ldt và lld

có ý nghĩa ở mức 1%) Kết quả cho thấy:

- Đầu tư và số lao động có tác động cùng chiều tới tăng trưởng Tăng mức đầu tư 1% có thể làm GDP tăng khoảng 0,31%.Lao động đang làm việc thời điểm 1/7 hàng năm tăng 1% có thể làm GDP tăng khoảng 2,37%

- Hệ số Gini có tác động cùng chiều đến tăng trưởng Hệ số Gini tăng 1 điểm phần trăm có thể làm cho tăng trưởng tăng 0,53% Điều này cho thấy xu thế tăng

BBĐTN theo Gini làm tăng tốc độ tăng trưởng

b) Tác động của tỉ số Q5/Q1 tới tăng trưởng

lgdp    ldtlldqf

Trong mô hình các hệ số đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (hệ số của ldt và lld

có ý nghĩa ở mức 1%) Kết quả cho thấy:

- Đầu tư và số lao động có tác động cùng chiều tới tăng trưởng Tăng mức đầu tư 1% có thể làm GDP tăng khoảng 0,31%.Lao động đang làm việc thời điểm 1/7 hàng năm tăng 1% có thể làm GDP tăng khoảng 2,37%

- BBĐTN tính theo Q5/Q1 có tác động cùng chiều tới tăng trưởng Nếu tỉ số Q5/Q1 tăng thêm 1 lần thì có thể làm tăng trưởng tăng thêm 1,28%, tương đương với tăng khoảng 4% mức đầu tư Khoảng cách thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất trong xã hội nới rộng có ảnh hưởng tích cực tới TTKT

c) Tác động của tiêu chuẩn « 40 » đến tăng trưởng

lgdp    ldtlldsf

Trong mô hình các hệ số đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (hệ số của ldt và lld

có ý nghĩa ở mức 1%) Kết quả cho thấy:

Trang 6

- Đầu tư và số lao động có tác động cùng chiều tới tăng trưởng.Tăng mức đầu tư 1%

có thể làm GDP tăng khoảng 0,32% Lao động đang làm việc thời điểm 1/7 hàng năm tăng 1% có thể làm GDP tăng khoảng 2,33%

- BBĐTN tính theo tỉ lệ thu nhập của 40% dân số nghèo nhất có tác động ngược chiều tới tăng trưởng Tăng tỉ lệ thu nhập cho 40% dân số nghèo nhất thêm 1% làm có thể làm GDPgiảm 0,01% Tuy nhiên, có thể thấy tác động của chỉ tiêu này tới tốc độ tăng trưởng là khá thấp

KẾT LUẬN

Từ kết quả nghiên cứu, tác giả rút ra một số kết luận sau:

- Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm và đã đạt mức thu nhập bình quân trung bình thấp Tuy nhiên chất lượng tăng trưởng chưa cao, dựa nhiều vào đầu tư và lao động Chính sách của Đảng và Nhà nước luôn gắn mục tiêu tăng trưởng với công bằng xã hội, trong đó có công bằng phân phối Thực tế này thể hiện rõ qua các chỉ tiêu phản ánh BBĐTN của Việt Nam luôn ở mức thấp hoặc trung bình Tuy vậy, có thể điều này cũng tác động tới tốc độ tăng trưởng

- Phân phối thu nhập theo hệ số Gini càng bất bình đẳng thì có thể tốc độ tăng trưởng càng tăng.Hệ số Gini tăng 1 điểm phần trăm có thể làm cho tăng trưởng tăng 0,53% Điều này cho thấy việc phân phối thu nhập trên bình diện toàn xã hội

có ý nghĩa quan trọng với việc duy trì và gia tăng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam

- Tỉ số thu nhập của 20% dân số giàu nhất so với 20% nghèo nhất càng lớn thì có lẽ càng có ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng Tỉ số Q5/Q1 tăng thêm 1 lần thì có thể làm tăng trưởng tăng thêm 1,28% Điều này cũng khẳng định vai trò quan trọng của nhóm giàu nhất trong việc thúc đẩy TTKT

- Tỉ lệ thu nhập của 40% nghèo nhất trên tổng thu nhập tăng thì có thể làm suy giảm tốc độ tăng trưởng Tuy vậy, tác động của tỉ lệ này tới tốc độ tăng trưởng là khá thấp.Tăng tỉ lệ thu nhập cho 40% dân số nghèo nhất thêm 1% làm có thể làm GDPgiảm 0,01%

Trang 7

Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định BBĐTN có ảnh hưởng cùng chiều tới TTKT Việt Nam Kết quả này tương tự như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Công (2006) cho giai đoạn 1992-2004 (tuy nhiên nghiên cứu của Nguyễn Văn Công xem xét ít yếu tố phản ánh BBĐTN hơn) và khác so với nghiên cứu ở giai đoạn 2004-2010 của Hoàng Thủy Yến (2015)

Một số khuyến nghị

Mặc dù nghiên cứu cho thấy gia tăng BBĐTN có ảnh hưởng tích cực tới TTKT Việt Nam song đương nhiên không thể lựa chọn TTKT là mục tiêu duy nhất hoặc ưu tiên nhất Điều này đã được thể hiện rõ trong chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước

Vì vậy, ở đây tác giả đưa ra một vài gợi ý chính sách sau:

 Duy trì phân phối thu nhập cho nhóm 40% nghèo nhất ở mức hợp lý Do tác động của tỉ lệ này đến tốc độ tăng trưởng là khá thấpvà việc để tỉ lệ này quá thấp sẽ làm nảy sinh các vấn đề về xã hội nên cần cân nhắc một mức độ phù hợp để nhóm nghèo này có động lực vươn lên Bên cạnh đó, với 1 tỉ lệ phù hợp của nhóm, nên tăng mức hiệu quả của nó bằng cách giảm khoảng cách thu nhập nội nhóm Và như vậy, cần đặc biệt chú trọng chính sách điều tiết thu nhập trong nhóm 40% nghèo nhất này

 Cân đối phân phối thu nhập trên bình diện toàn xã hội Việc tăng hệ số Gini có xu thế trực tiếp làm tăng tốc độ tăng trưởng nhưng không thể gia tăng mãi được do có thể phát sinh tiêu cực xã hội Mặt khác, số liệu Gini trong giai đoạn nghiên cứu dùng để ước lượng có thể chưa vượt ngưỡng nhất định mà nếu vượt qua có thể đảo chiều quan hệ với tốc độ tăng trưởng Ngoài ra, với cùng một giá trị của Gini có thể có nhiều tổ hợp phân phối thu nhập khác nhau cho các nhóm Vì vậy, để có thể đạt được hiệu quả cao đối với một mức Gini hợp lý, cần thiết phải cân đối thu nhập cho các nhóm

 Phát triển các chính sách an sinh xã hội nhằm gia tăng mức sống, giảm áp lực gia tăng thu nhập đối với nhóm nghèo nhất Từ đó giảm bớt mâu thuẫn xã hội

 Trong giai đoạn gần, có lẽ chưa nên tăng mức thuế suất thuế thu nhập với người có thu nhập cao, cũng như thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 8

Hạn chế của nghiên cứu

Mặc dù đã đạt được một số kết quả, song do giới hạn về thời gian nên nghiên cứu mới chỉ xem xét các mô hình tĩnh để xử lý số liệu mảng Nghiên cứu về mô hình động xử

lý số liệu mảng sẽ được tác giả tiếp tục thực hiện trong các nghiên cứu tiếp theo

Ngày đăng: 23/01/2021, 18:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w