1. Trang chủ
  2. » Vật lý

ThS. Phạm Xuân Quý: Xây dựng mô hình dự đoán sinh khối rừng tràm (Melaleuca cajuputi) ở khu vực

11 23 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 39,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ rằng, biểu sinh khối tươi và sinh khối khô của rừng tràm có thể được dự đoán dựa theo đường kính thân cây cả vỏ và chiều cao thân cây.. Ngược[r]

Trang 1

XÂY DỰNG MÔ HÌNH DỰ ĐOÁN SINH KHỐI RỪNG TRÀM

(MELALEUCA CAJUPUTI) Ở KHU VỰC TÂY NAM BỘ

ThS PHẠM XUÂN QUÝ

TÓM TẮT

Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên

cứu những mô hình dự đoán sinh khối

của các bộ phận trên mặt đất của rừng

tràm (Melaleuca cajuputi) trồng trong

giai đoạn 12 tuổi ở khu vực Tây Nam

Bộ Mô hình sinh khối rừng tràm được

xây dựng từ 257 cây giải tích bình quân

theo cấp đường kính Khả năng ứng

dụng của mô hình sinh khối được kiểm

tra dựa theo 30 cây giải tích không tham

gia xây dựng mô hình Kết quả nghiên

cứu đã chứng tỏ rằng, biểu sinh khối

tươi và sinh khối khô của rừng tràm có

thể được dự đoán dựa theo đường kính

thân cây cả vỏ và chiều cao thân cây

Nếu dự đoán sinh khối tươi và sinh khối

khô của rừng tràm chỉ dựa theo đường

kính thân cây cả vỏ, thì mô hình dự

đoán thích hợp là mô hình Gompertz

Ngược lại, nếu dự đoán sinh khối tươi

và sinh khối khô của rừng tràm dựa theo

hai biến đường kính thân cây cả vỏ và

chiều cao thân cây, thì mô hình dự đoán

thích hợp thay đổi tùy theo bộ phận sinh

khối Sai số của hai kiểu mô hình dự

đoán sinh khối rừng tràm nằm trong giới

hạn dưới 10%

Từ khóa: Biomass (sinh khối),

Melaleuca cajuputi (tràm cừ), Mekong

delta (Đồng bằng sông Cửu Long)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong lâm nghiệp, việc sử dụng hợp lý tài nguyên rừng đòi hỏi phải sử dụng đầy đủ sinh khối của rừng Việc

mở rộng quy mô sử dụng gỗ cũng đòi hỏi phải hoàn thiện các phương pháp xác định sinh khối của rừng Nếu phương pháp điều tra gỗ thân cây đã được nghiên cứu một cách chi tiết, thì phương pháp điều tra các thành phần sinh khối thân, cành, lá, hoa, quả và hệ

rễ cây vẫn chưa được nghiên cứu đầy

đủ

Trên thế giới đã có rất nhiều tác giả xây dựng phương pháp nghiên cứu sinh khối của rừng (A.A Molchanov, 1971; B.B Xmirnov, 1971; A.I Utkin, 1975; et al.,)[Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002][8] Mặc dù vậy, theo N.P Anuchin (1978), phương pháp nghiên cứu sinh khối của rừng vẫn còn là một trong những nhiệm vụ mới của hoạt động điều tra rừng I.X Melekhov (1978) đã đưa ra khái niệm “năng suất tổng hợp của rừng” - đó là năng suất của toàn bộ các thành phần của rừng, kể cả những bộ phận rất khó xác định như hàm lượng O2 thải ra không khí và ý nghĩa sinh thái của rừng Nhiều nhà lâm học cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xây dựng biểu sinh khối (tươi và khô) của cây cá thể và toàn bộ quần thụ tùy theo tuổi và lập địa [1, 3, 5, 7]

Trang 2

Hiện nay phần lớn những nghiên

cứu về rừng tràm (Melaleuca cajuputi)

ở khu vực Tây Nam Bộ chỉ tập trung

vào việc thống kê tài nguyên rừng và

đánh giá kết quả trồng rừng Những

công trình nghiên cứu về đặc điểm lâm

học và xây dựng biểu sinh khối rừng

tràm còn ít được quan tâm Nhận thấy

rằng, để nâng cao hiệu quả kinh doanh

rừng tràm, một trong những vấn đề cần

nghiên cứu là xác định sinh khối rừng

tràm Bài báo này giới thiệu kết quả

nghiên cứu mô hình dự đoán sinh khối

rừng tràm (Melaleuca cajuputi) ở khu

vực Tây Nam Bộ

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là rừng

tràm (Melaleuca cajuputi) trồng thuộc

khu vực Tây Nam Bộ từ Long An đến

Cà Mau Rừng tràm được trồng với mật

độ 20.000 cây/ha Tuổi rừng tràm được

đưa vào nghiên cứu nằm trong giai đoạn

12 năm Mục tiêu của nghiên cứu này là

xây dựng những mô hình dự đoán sinh

khối của các bộ phận trên mặt đất của

cây tràm để làm cơ sở lập biểu sinh khối

cho rừng tràm ở khu vực Tây Nam Bộ

Để đạt được mục tiêu đề ra, tác giả đã

nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh khối

(tươi và khô) của các bộ phận trên mặt

đất của cây tràm với đường kính thân

cây ngang ngực cả vỏ (D, năm) và chiều

cao toàn thân cây (H, m) Theo đó, trên

những ô tiêu chuẩn đại diện cho những

lâm phần tràm từ tuổi 2 - 12 năm, sau

khi thu thập những đặc trưng lâm phần,

đã tiến hành phân chia các cá thể tràm

theo cấp đường kính với mỗi cấp 1,0

cm Sau đó, ở mỗi cấp đường kính đã

chặt hạ 3 cây tiêu chuẩn bình quân

Tổng số đã thu thập sinh khối của 287

cây mẫu; trong đó 257 cây được sử

dụng để lập biểu sinh khối, còn 30 cây dùng để kiểm tra khả năng ứng dụng của biểu sinh khối Để xác định sinh khối tươi ở ngoài rừng, trước hết đã chặt

hạ cây tràm với vị trí gốc chặt cách mặt đất từ 5 - 10 cm Kế đến, trên mỗi cây tiêu chuẩn chặt hạ, đã đo chính xác D(cm) cả vỏ bằng thước kẹp Palmer với

độ chính xác 0,1 cm; chiều dài thân cây (H, m) được đo đạc bằng thước dây với

độ chính xác 0,01 m Tiếp đến, phân chia cây tiêu chuẩn thành những bộ phận khác nhau như thân, cành, lá và hoa quả (từ đây gọi chung là lá) Tiếp theo, cân đo sinh khối thân tươi (SKT(t)), sinh khối cành tươi (SKC(t)) và sinh khối

lá tươi (SKL(t)) với độ chính xác 0,05

kg Sau đó cộng dồn những bộ phận sinh khối tươi để xác định tổng sinh khối tươi (TSK(t)) trên mặt đất của cây tràm Sau khi xác định sinh khối tươi, đã lấy mẫu từng bộ phận sinh khối với mỗi loại 1 kg để dùng vào việc xác định sinh khối khô tuyệt đối (từ đây gọi là sinh khối khô) Để xác định sinh khối khô, các mẫu sinh khối tươi của cây tràm được phơi khô ngoài không khí; rồi đưa vào tủ sấy ở phòng thí nghiệm với nhiệt

độ từ 60-700C trong 6 giờ Tiếp đến làm nguội và cân đo các bộ phận bằng cân tiểu ly với độ chính xác 0,01 kg Sau đó, các mẫu được đưa trở lại tủ sấy ở nhiệt

độ 1050C trong vòng 6 giờ Công việc này được thực hiện lặp lại cho đến khi trọng lượng không đổi Kết quả cuối cùng được ghi nhận vào biểu sinh khối khô

Để xây dựng những mô hình sinh khối dùng vào việc dự đoán nhanh sinh khối cây cá thể và lâm phần, trước hết

từ số liệu thực nghiệm trên những cây mẫu đã tính ma trận tương quan giữa các bộ phân sinh khối (thân, cành, lá)

Trang 3

với nhau và giữa chúng với D(cm) và

H(m) Kế đến, từ ma trận tương quan,

phân tích và xây dựng những mô hình

sinh khối phù hợp nhất để mô tả quan hệ

giữa sinh khối của các bộ phận (thân,

cành, lá hoa quả) với D(cm) và H(m)

Để thuận tiện cho việc ứng dụng các mô

hình trong thực tế, tác giả đã thực hiện

xây dựng hai kiểu mô hình sinh khối

Kiểu thứ nhất là mô hình sinh khối 1

nhân tố; trong đó biến dự đoán sinh khối

là D(cm), nghĩa là sinh khối = f(D)

Kiểu thứ hai là mô hình sinh khối 2

nhân tố; trong đó biến dự đoán sinh khối

là D(cm) và H(m), nghĩa là sinh khối =

f(D, H) Mô hình sinh khối 1 nhân tố

phù hợp nhất được kiểm định từ 13 hàm

khác nhau (hàm số mũ, hàm số mũ biến

đổi, hàm số căn bậc 2 của D, hàm số căn

bậc 2 của sinh khối, hàm số nghịch đảo

của D, hàm số hai lần nghịch đảo của D,

hàm số bậc nhất, hàm số bậc 2, hàm số

bậc 3, hàm số bậc 4, hàm số logarit,

đường cong hình chữ S và hàm

Gompertz) Các hệ số của những mô

hình phi tuyến được xác định bằng

phương pháp hồi quy phi tuyến của

Marquardt Mô hình phù hợp nhất được

kiểm định dựa theo 5 tiêu chuẩn – đó là

hệ số tương quan cao nhất (maxR2%),

sai lệch nhỏ nhất (minSe), sai lệch tuyệt

đối nhỏ nhất (minMAE), sai lệch tuyệt

đối tính theo phần trăm nhỏ nhất

(minMAPE), tổng bình phương sai lệch

nhỏ nhất (minΣ(Ylt - Ytn)2 với Y(lt) và

Y(tn) tương ứng là sinh khối tươi và sinh

khối khô của các bộ phận (thân, cành, lá

hoa quả)) Mô hình sinh khối 2 nhân tố phù hợp nhất được kiểm định từ 4 hàm sau đây:

(1) Y = a0 + a1*D + a2*H;

(2) Y = a0 + a1*D + a2*D*H; (3) Y = a0 + a1*D + a2*H +

a3*D*H;

(4) Y = a0 + a1*D + a2*D2 + a3*H + a4*H2

Tiếp đến, tác giả sử dụng số liệu của 30 cây không tham gia lập mô hình sinh khối để kiểm tra khả năng ứng dụng của các mô hình sinh khối Tiêu chuẩn kiểm tra là sai lệch tương đối giữa những giá trị thực tế và giá trị lý thuyết không vượt quá 10% Khi những

mô hình sinh khối thỏa mãn tiêu chuẩn đặt ra, thì sử dụng chúng để xây dựng biểu sinh khối 1 nhân tố và 2 nhân tố Tất cả những cách thức xây dựng mô hình hồi quy tương quan được thực hiện theo chỉ dẫn chung của Vũ Tiến Hinh (2003)[1,2], Nguyễn Ngọc Lung (1999)[4], Nguyễn Ngọc Kiểng (2000)[3] và Nguyễn Văn Thêm (2004)[9] Công cụ tính toán là phần mềm Excel và Statgraphics Plus Version 4.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

(1) Đặc trưng sinh khối cây tràm

Kết quả thống kê tổng sinh khối tươi, tổng sinh khối khô, sinh khối thân cây tươi, sinh khối thân cây khô, sinh khối cành tươi, sinh khối cành khô, sinh khối lá tươi và sinh khối lá khô của cây tràm được ghi lại ở bảng 1 và 2

Trang 4

Bảng 1 Đặc trưng sinh khối tươi của cây tràm theo cấp đường kính

Đơn vị tính: kg/cây Cấp D

(cm) Trị sốTổng sốV(%) Trị sốSinh khối thânV(%) Trị sốSinh khối cànhV(%) Trị sốSinh khối láV(%)

1 0,41 50,3 0,30 47,7 0,05 66,9 0,06 61,6

2 1,81 27,9 1,35 30,1 0,25 42,9 0,21 39,7

3 3,64 24,1 2,72 25,6 0,51 42,3 0,42 41,6

4 7,34 23,5 5,39 26,7 1,09 47,4 0,86 36,3

5 11,63 17,3 8,92 18,0 1,65 41,7 1,06 40,7

6 16,98 11,8 13,22 15,8 2,23 29,9 1,53 39,0

7 27,14 9,6 20,29 11,1 4,86 32,5 1,99 31,4

8 37,66 18,2 28,50 23,9 6,34 19,8 2,82 28,2

9 58,50 14,1 45,75 15,3 8,88 16,9 3,88 42,5

10 58,50 1,5 45,13 1,3 9,43 4,3 3,93 14,0

Bảng 2 Đặc trưng sinh khối khô của cây tràm theo cấp đường kính

Đơn vị tính: kg/cây Cấp D

(cm)

Tổng số Sinh khối thân Sinh khối cành Sinh khối lá Trị số V(%) Trị số V(%) Trị số V(%) Trị số V(%)

1 0,17 54,1 0,13 52,3 0,02 73,2 0,02 68,9

2 0,80 31,2 0,60 33,9 0,11 44,7 0,09 41,0

3 1,63 27,5 1,23 29,1 0,22 44,9 0,18 41,8

4 3,24 25,6 2,36 26,0 0,50 53,9 0,38 38,5

5 5,13 16,9 3,88 17,6 0,78 42,0 0,47 41,9

6 8,18 25,8 6,47 32,1 1,09 28,0 0,62 36,6

7 15,29 12,0 12,51 16,3 2,01 42,8 0,77 31,5

8 20,94 23,0 16,18 30,0 3,26 13,7 1,49 23,9

9 33,37 12,1 27,01 11,8 4,61 23,2 1,75 53,8

10 33,99 6,2 27,09 7,9 5,13 1,7 1,76 21,8

Phân tích số liệu của bảng 1 và 2

cho thấy, cả sinh khối tươi và sinh khối

khô đều gia tăng rất chậm trong khoảng

đường kính thân cây từ 1-5 cm; sau đó

gia tăng rất nhanh từ đường kính 5-10

cm Sinh khối tổng số và sinh khối của

các bộ phận trên mặt đất của cây tràm

có biến động rất lớn trong cùng một cấp

D(cm); trong đó sinh khối của những

cây thuộc cấp đường kính nhỏ biến

động lớn hơn so với những cây thuộc

cấp đường kính lớn Những tính toán cũng cho thấy, so với tổng sinh khối tươi (100%), tỷ lệ sinh khối thân tươi trung bình là 75,6%, còn cành tươi và lá tươi tương ứng là 14,8% và 9,6% Tương tự, so với tổng sinh khối khô (100%), tỷ lệ sinh khối thân khô, cành khô và lá khô tương ứng là 77,4%, 14,1% và 8,5% Ngoài ra, so với tổng sinh khối tươi (100%), tổng sinh khối khô trung bình là 49,4%; còn thân khô,

Trang 5

cành khô và lá khô tương ứng là 50,7%,

46,8% và 43,0% Khi cấp đường kính

gia tăng, thì tỷ lệ sinh khối thân và sinh

khối cành cũng lớn hơn so với sinh khối

(2) Xây dựng mô hình dự đoán

sinh khối cây tràm

Kết quả phân tích ma trận tương

quan giữa các bộ phận sinh khối tươi và

sinh khối khô của cây tràm (Bảng 3) cho thấy, giữa từng cặp bộ phận sinh khối tươi và sinh khối khô của cây tràm có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau (r = 0,845 – 0,997; P < 0,01)

Các bộ phận sinh khối tươi và sinh khối khô của cây tràm cũng có mối quan hệ rất chặt chẽ với D và H (r = 0,794 – 0,913; P < 0,01)

Bảng 3 Ma trận tương quan giữa các bộ phận sinh khối của cây tràm

Thống kê D(cm) H(m) SKT (t) SKC (t) SKL (t) TSK (t) SKT (k) SKC (k) SKL (k) TSK (k)

H(m) r 0,929 1,000

P 0,000

N 257 257 SKT (t) r 0,907 0,872 1,000

P 0,000 0,000 ,

N 257 257 257 SKC (t) r 0,867 0,831 0,934 1,000

P 0,000 0,000 0,000 ,

N 257 257 257 257 SKL (t) r 0,871 0,816 0,871 0,897 1,000

P 0,000 0,000 0,000 0,000 ,

N 257 257 257 257 257 TSK (t) r 0,913 0,876 0,996 0,958 0,900 1,000

P 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 ,

N 257 257 257 257 257 257 SKT (k) r 0,868 0,847 0,985 0,928 0,847 0,982 1,000

P 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 ,

N 257 257 257 257 257 257 257 SKC (k) r 0,847 0,811 0,930 0,969 0,875 0,948 0,924 1,000

P 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 ,

N 257 257 257 257 257 257 257 257 SKL (k) r 0,847 0,794 0,872 0,889 0,981 0,898 0,845 0,869 1,000

P 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 ,

N 257 257 257 257 257 257 257 257 257 TSK (k) r 0,879 0,853 0,987 0,948 0,875 0,989 0,997 0,948 0,873 1,000

P 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 ,

N 257 257 257 257 257 257 257 257 257 257

Kết quả nghiên cứu trên đây đã

chỉ ra rằng, sinh khối của các bộ phận

trên mặt đất của cây tràm có mối quan

hệ rất chặt chẽ với D(cm) và H(m) Vì

thế, để xác định nhanh những bộ phận

sinh khối trên mặt đất của cây tràm,

trước hết đã phân tích hồi quy tương quan giữa những bộ phận sinh khối với D(cm) và H(m) theo 17 mô hình khác nhau Sau đó chọn những mô hình phù hợp nhất dựa theo những kiểm định sai lệch; trong đó đặc biệt quan tâm đến 4

Trang 6

tiêu chuẩn cơ bản sau đây: (1) mô hình

tồn tại và phản ánh đúng quy luật biến

đổi của sinh khối theo tuổi hay cấp D;

(2) hệ số tương quan cao nhất (Rmax); (3)

tổng sai lệch bình phương nhỏ nhất

(minΣ(Ylt-Ytn)2); (4) dễ đo đạc và tính

toán Kết quả phân tích thống kê cho

thấy, khi sử dụng một nhân tố D(cm) để

dự đoán sinh khối của các bộ phận cấu thành cây tràm (tổng số, thân, cành, lá), thì mô hình Gompertz là mô hình phù hợp nhất Theo đó, mô hình dự đoán sinh khối tươi của cây tràm theo D(cm)

có dạng (Hình 1):

+ Đối với tổng sinh khối tươi

TSK (t) = 216,75*exp(-7,0951*exp(-0,17632*D)) (1)

với R 2 = 96,9%; Se = ±2,07; MAE = 1,00.

Khoảng dự đoán 95%

TSK (dưới) = 159,269*exp(-6,83866*exp(-0,15402*D)) (1a)

TSK (trên) = 274,231*exp(-7,35154*exp(-0,19862*D)) (1b)

+ Đối với sinh khối thân cây tươi

SKT (t) = 174,182*exp(-7,17254*exp(-0,17438*D)) (2)

với R 2 = 96,1%; Se = ±1,82; MAE = 1,82.

Khoảng dự đoán 95%

SKT (dưới) = 118,653*exp(-6,88857*exp(-0,14848*D)) (2a)

SKT (trên) = 229,711*exp(-7,45651*exp(-0,20028*D)) (2b)

+ Đối với sinh khối cành cây tươi

SKC (t) = 26,5205*exp(-7,94955*exp(-0,212581*D)) (3)

với R 2 = 89,7%; Se = ±0,64; MAE = 0,37.

Khoảng dự đoán 95%

SKC (dưới) = 15,9641*exp(-7,03056*Exp(-0,16511*D)) (3a)

SKC (trên) = 37,0768*exp(-8,86854*Exp(-0,26005*D)) (3b)

+ Đối với sinh khối lá cây tươi

SKL (t) = 11,1760*exp(-5,51191*exp(-0,17171*D)) (4)

với R 2 = 80,4%; Se = ±0,39; MAE = 0,25.

Khoảng dự đoán 95%

SKL (dưới) = 4,47181*exp(-5,10387*exp(-0,11552*D)) (4a)

SKL (trên) = 17,8802*Exp(-5,91995*exp(-0,22790*D)) (4b)

Hình 1 Quan hệ giữa sinh khối tươi với đường kính thân cây

.

TSKt (kg/cây)

D(cm) SKTt (kg/cây)

D(cm)

.

SKCt (kg/cây)

D(cm) SKLt (kg/cây)

D(cm)

Trang 7

Mô hình dự đoán sinh khối khô của cây tràm theo D(cm) có dạng (Hình 2):

+ Mô hình tổng sinh khối khô

TSK (k) = 118,538*exp(-8,32848*exp(-0,19789*D)) (5)

với R 2 = 96,0%; Se = ±1,36; MAE = 0,72.

Khoảng dự đoán 95%

TSK (trên) = 153,054*exp(-8,88207*exp(-0,22678*D)) (5b)

+ Mô hình sinh khối thân khô

SKT (k) = 82,7505*exp(-8,87494*exp(-0,21668*D)) (6)

với R 2 = 94,6%; Se = ±1,27; MAE = 0,68.

Khoảng dự đoán 95%

SKT (dưới) = 57,8393*exp(-8,02129*exp(-0,18122*D)) (6a)

SKT (trên) = 107,662*exp(-9,7286*exp(-0,25213*D)) (6b)

+ Mô hình sinh khối cành khô

SKC (k) = 25,5776*exp(-8,0589*exp(-0,16604*D)) (7)

với R 2 = 89,7%; Se = ±0,32; MAE = 0,19.

Khoảng dự đoán 95%

SKC (dưới) = 8,66692*exp(-7,49639*exp(-0,12109*D)) (7a)

+ Mô hình sinh khối lá khô

SKL (k) = 7,06016*exp(-5,74922*exp(-0,14832*D)) (8)

với R 2 = 77,4%; Se = ±0,19; MAE = 0,12.

Khoảng dự đoán 95%

SKL (dưới) = 1,83364*exp(-5,30826*exp(-0,08823*D)) (8a)

SKL (trên) = 12,2867*exp(-6,19018*exp(-0,20841*D)) (8b)

Khi sử dụng hai nhân tố D(cm) và H(m) để dự đoán sinh khối của các bộ phận cấu thành cây tràm (tổng số, thân, cành, lá), thì những mô hình phù hợp nhất có dạng:

+ Đối với tổng sinh khối tươi

Hình 2 Quan hệ giữa sinh khối khô với đường kính thân cây

.

TSKk (kg/cây)

D(cm)

SKTk (kg/cây)

D(cm)

.

SKCk (kg/cây)

D(cm)

SKLk (kg/cây)

D(cm)

Trang 8

TSK (t) = 4,30778-0,30002*D + 0,5525*D 2 – 2,6941*H + 0,31404*H 2 (9)

với R 2 = 97,3%; Se = ±1,96; MAE = 1,13.

+ Đối với sinh khối thân tươi

SKT (t) = 3,77525+0,22942*D + 0,36287* D 2 - 2,74816*H + 0,31567*H 2 (10)

với R 2 = 96,8%; Se = ±1,64; MAE = 0,97.

+ Đối với sinh khối cành tươi

SKC (t) = 0,76729 – 0,52749*H + 0,14091*D*H (11)

với R 2 = 88,8%; Se = ±0,67; MAE = 0,41.

+ Đối với sinh khối lá tươi

SKL (t) = -0,01989 + 0,20606*D – 0,15598*H + 0,03482*D*H (12)

với R 2 = 80,0%; Se = ±0,40; MAE = 0,24.

+ Đối với tổng sinh khối khô

TSK (k) = 3,83132 – 0,73775*D + 0,34323*D 2 – 1,91565*H + 0,23273*H 2 (13)

với R 2 = 96,5%; Se = ±1,26; MAE = 0,77.

+ Đối với sinh khối thân khô

SKT (k) = 3,41825 – 0,33421*D + 0,23451*D 2 – 1,97831*H + 0,23868*H 2 (14)

với R 2 = 95,8%; Se = ±1,13; MAE = 0,69.

+ Đối với sinh khối cành khô

SKC (k) = 0,38857 – 0,41020*D + 0,08995*D 2 + 0,07778*H – 0,00685*H 2 (15)

với R 2 = 89,1%; Se = ±0,33; MAE = 0,20.

+ Đối với sinh khối lá khô

SKL (k) = 0,03673 + 0,07694*D – 0,08178*H + 0,01817*D*H (16)

với R 2 = 77,2%; Se = ±0,19; MAE = 0,12.

(3) Xây dựng biểu sinh khối

rừng tràm

Biểu sinh khối tươi và sinh khối

khô của rừng tràm ở khu vực Tây Nam

Bộ được xây dựng dựa trên 16 mô hình

đã được phân tích trên đây Để tạo thuận

lợi cho việc đo đạc sinh khối rừng tràm

ở ngoài trời, tác giả đã xây dựng hai

kiểu biểu sinh khối – đó là biểu một

nhân tố và biểu hai nhân tố Biểu sinh

khối một nhân tố được xây dựng dựa

theo mối quan hệ giữa các bộ phận sinh

khối với D(cm) cả vỏ Theo đó, biểu

sinh khối tươi một nhân tố được xây

dựng dựa theo 4 mô hình từ 1-4, còn

biểu sinh khối khô được xây dựng dựa

theo 4 mô hình từ 5-8 Biểu sinh khối

tươi hai nhân tố và biểu sinh khối khô

hai nhân tố được xây dựng dựa theo các

mô hình tương ứng từ 9-12 và 13-16

Kết quả tính toán cũng cho thấy, sai lệch giữa tổng sinh khối tươi được tính từ mô hình 1 với giá trị tương ứng cộng dồn từ ba mô hình 2-4 là 0,32% Tương tự, chênh lệch giữa tổng sinh khối khô được tính từ mô hình 5 với giá trị tương ứng cộng dồn từ ba mô hình

6-8 là 1,6% Sai lệch giữa tổng sinh khối tươi được tính từ mô hình 9 và giá trị tương ứng cộng dồn từ ba mô hình

10-12 là 4,0% Tương tự, sai lệch giữa tổng sinh khối khô được tính từ mô hình 13 với giá trị tương ứng cộng dồn từ ba mô hình 14-16 là 1,2%

Vì những sai lệch này đều nằm trong phạm vi sai số cho phép của điều

Trang 9

tra rừng, nên những giá trị tổng sinh

khối (tươi, khô) của biểu một nhân tố và

hai nhân tố đã được điều chỉnh bằng

cách cộng dồn từ sinh khối của các bộ

phận thân, cành và lá

Từ những mô hình sinh khối tươi

một nhân tố (mô hình 1-4) và sinh khối

khô một nhân tố (mô hình 5-8), đã xây

dựng được biểu sinh khối tương ứng với từng cấp D từ 1-12 cm (Bảng 4) Lưu ý rằng, những giá trị ghi trong biểu sinh khối này là giá trị sinh khối trung bình của cây tràm Khoảng dự đoán 95% đối với sinh khối tươi và sinh khối khô của cây tràm theo cấp D(cm) có thể xác định tương ứng từ các mô hình 1(a,b)-8(a,b)

Bảng 4 Biểu sinh khối cây tràm dựa theo cấp đường kính thân cây cả vỏ

Cấp D(cm) Sinh khối tươi (kg/cây): Sinh khối khô (kg/cây):

Thân Cành Lá Tổng Thân Cành Lá Tổng (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9)

1 0,42 0,04 0,11 0,57 0,07 0,03 0,05 0,14

2 1,10 0,15 0,22 1,48 0,26 0,08 0,10 0,44

3 2,48 0,40 0,42 3,29 0,80 0,19 0,18 1,17

4 4,90 0,89 0,70 6,49 1,98 0,40 0,29 2,68

5 8,68 1,70 1,08 11,46 4,10 0,76 0,46 5,32

6 14,02 2,88 1,56 18,47 7,37 1,30 0,67 9,34

7 20,99 4,41 2,13 27,52 11,80 2,06 0,92 14,78

8 29,45 6,21 2,77 38,43 17,25 3,02 1,22 21,50

9 39,14 8,20 3,45 50,79 23,41 4,19 1,55 29,16

10 49,70 10,27 4,15 64,12 29,94 5,53 1,92 37,39

11 60,74 12,32 4,86 77,91 36,50 6,99 2,29 45,78

12 71,90 14,26 5,54 91,70 42,81 8,52 2,68 54,01

Tương tự, khi thay thế các cấp

D(cm) và cấp H(m) vào 8 mô hình từ 9

đến 16, có thể xây dựng được biểu sinh

khối tươi và biểu sinh khối khô hai nhân

tố Do khuôn khổ của bài báo, ở bảng 5

và bảng 6 chỉ dẫn ra biểu dự đoán tổng sinh khối tươi và tổng sinh khối khô của cây tràm theo cấp D(cm) và cấp H(m)

Bảng 5 Biểu dự đoán tổng sinh khối tươi của cây tràm theo cấp D(cm) và cấp H(m)

Đơn vị tính: kg/cây

4 6,21 6,32 7,06

5 10,61 10,90 11,82 13,37 15,55

6 15,74 16,20 17,30 19,03 21,38 24,37

7 22,24 23,51 25,41 27,94 31,11 34,90

Trang 10

Bảng 6 Biểu dự đoán tổng sinh khối khô của cây tràm theo cấp D(cm) và cấp H(m)

Đơn vị tính: kg/cây

Để kiểm tra khả năng ứng dụng

của các biểu sinh khối rừng tràm, tác giả

đã so sánh sinh khối (tươi và khô) được

tính từ những mô hình lý thuyết từ 1-16

với sinh khối thực tế của 30 cây tràm

không tham gia lập biểu Kết quả tính

toán cho thấy (Bảng 7), sai số ước lượng

trung bình tuyệt đối theo phần trăm giữa những giá trị của biểu 1 nhân tố và giá trị thực tế nằm trong giới hạn từ 5,9% (sinh khối lá khô) đến 8,2% (sinh khối cành tươi) Tương tự, đối với biểu 2 nhân tố dao động từ 3,8% (sinh khối cành khô) đến 9,1% (sinh khối thân cây tươi)

Bảng 7 Kiểm nghiệm độ chính xác của các biểu sinh khối rừng tràm

Kiểu biểu Sinh khối Sai lệch sinh khối giữa biểu và thực tế (%):

Tổng số Thân cây Cành cây Lá cây

Nói chung, khi xác định sinh khối

các bộ phận của cây tràm dựa theo quan

hệ với D(cm) và H(m), thì một số

trường hợp có thể mắc phải sai số lớn

hơn 10% Nhưng khi xác định sinh khối

cho nhiều cá thể, thì sai số trung bình

thường không vượt quá 10,0% Nguyên

nhân mắc phải những sai số lớn là do:

(1) sai số đo đường kính và chiều cao

thân cây; (2) sai số cân đo trọng lượng

của các bộ phận cây tràm; (3) sai số của

mô hình hồi quy Trong khoa học lâm

nghiệp, nếu sai số thống kê sinh khối cho phép không lớn hơn 10%, thì việc

dự đoán sinh khối cây tràm theo D(cm) hoặc theo cả D(cm) và H(m) đều có thể chấp nhận được

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ rằng, sinh khối tươi và sinh khối khô của các bộ phận trên mặt đất của rừng

tràm (Melaleuca cajuputi) có mối

quan hệ rất chặt chẽ với đường kính thân cây cả vỏ và chiều cao toàn thân

Ngày đăng: 23/01/2021, 18:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w