1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình, một số kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị đối sách của việt nam

42 29 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 522,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Từ đầu tư sang đổi mới: Khi các doanh nghiệp trong một nước đạt đến biên giới công nghệ, thì các chính sách điều tiết vốn thiên vị đầu tư của các doanh nghiệp hiện tại cần được thay th

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU

-

VƯỢT QUA BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KIẾN NGHỊ VỀ ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT NAM MỤC LỤC A KHÁI QUÁT VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH – KINH NGHIỆM THÀNH CÔNG VÀ KHÔNG THÀNH CÔNG CỦA MỘT SỐ NỀN KINH TẾ ĐÔNG Á TRONG VIỆC VƯỢT QUA BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 3

1 Khái quát về bẫy thu nhập trung bình 3

1.1 Bẫy thu nhập trung bình 3

1.2 Vượt qua bẫy thu nhập trung bình 3

2 Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm thành công và không thành công của một số nền kinh tế Đông Á 6

B NỀN KINH TẾ VIỆT NAM: ĐẠT NGƯỠNG THU NHẬP TRUNG BÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI 13

1 Thành tựu phát triển kinh tế và cải thiện mức thu nhập của Việt Nam trong hơn hai thập kỷ đổi mới 13

1.1 Tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người 14

1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 15

1.3 Mức độ mở cửa của nền kinh tế 16

1.4 Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ 16

1.5 Đổi mới hệ thống chính trị, đảm bảo quyền tự do, dân chủ và phát triển văn hóa 17

2 Những vấn đề tồn tại 18

2.1 Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp 18

Trang 2

2.2 Những yếu kém về các ngành kinh tế 19

2.3 Những yếu kém về các thành phần kinh tế 20

2.4 Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ kém phát triển 21

2.5 Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa đồng bộ và còn khá nhiều méo mó 22

2.6 Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp và có xu hướng giảm sút, môi trường kinh doanh có dấu hiệu xấu đi 22

2.7 Trình độ phát triển kinh tế tri thức thấp 24

2.8 Năng lực và kinh nghiệm điều hành kinh tế vĩ mô còn hạn chế 26

C KIẾN NGHỊ VỀ ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT NAM ĐỂ VƯỢT QUA BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 27

1 Nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của nền kinh tế Việt Nam 27

2 Kiến nghị về đối sách của Việt Nam để vượt qua bẫy thu nhập trung bình 28

2.1 Điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế 29

2.2 Thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế 30

2.3 Thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa theo kiểu “rút ngắn”, kết hợp với phát triển kinh tế tri thức 31

2.4 Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN 33

2.5 Đổi mới khoa học và công nghệ, tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia 35

2.6 Cải cách, hiện đại hóa nền giáo dục và đào tạo, chăm lo đào tạo và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao 37

2.7 Đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 3

A KHÁI QUÁT VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH – KINH NGHIỆM THÀNH CÔNG VÀ KHÔNG THÀNH CÔNG CỦA MỘT SỐ NỀN KINH TẾ

ĐÔNG Á TRONG VIỆC VƯỢT QUA BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH

1 Khái quát về bẫy thu nhập trung bình

1.1 Bẫy thu nhập trung bình

Thuật ngữ “bẫy thu nhập trung bình” (middle income trap) dùng để chỉ tình trạng một số nước sau khi đã thoát được ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp, trở thành nước có thu nhập trung bình, song dừng lại ở đó rất lâu, không vươn lên được ngưỡng nước có thu nhập cao1 Như vậy, theo cách hiểu phổ biến hiện nay, một nước bị mắc kẹt vào bẫy thu nhập trung bình có nghĩa là nước ấy sau khi đạt được mức thu nhập bình quân đầu người 1.000 USD/năm, mất nhiều thập kỷ vẫn không đạt được mức thu nhập bình quân đầu người 10.000 USD/năm, mà chỉ loanh quanh ở dưới mức ấy

1.2 Vượt qua bẫy thu nhập trung bình

Vượt qua bẫy thu nhập trung bình là bài toán phát triển thuộc loại khó giải nhất đối với các quốc gia đang phát triển, một quá trình lâu dài đòi hỏi hội tụ nhiều yếu tố và điều kiện Đây là chủ đề thu hút nhiều sự chú ý của giới nghiên cứu và hoạch định chính sách kinh tế trong những thập kỷ qua

Nghiên cứu khu vực Đông Á, Giáo sư kinh tế học Kenichi Ohno thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản (GRIPS) cho rằng, công cuộc phát triển của các quốc gia được đặc trưng bởi quá trình công nghiệp hóa trải qua bốn giai đoạn từ thấp đến cao Bẫy thu nhập trung bình được ví như một cái “trần thủy tinh” ngăn cách giữa Giai đoạn 2 và Giai đoạn 3, quốc gia nào phá vỡ được cái trần ấy sẽ chính thức vượt qua được bẫy thu nhập trung bình để gia nhập hàng ngũ những nước có thu nhập cao Quá trình phá vỡ “trần thủy tinh”, hay còn gọi là quá trình bắt kịp của các quốc gia, được mô tả qua Hình vẽ số 1 dưới đây:

Hình 1 Quá trình bắt kịp của các quốc gia

1 Theo cách hiểu phổ biến nhất hiện nay, nước có thu nhập thấp có mức GDP bình quân đầu người dưới 1.000 USD/năm; nước có thu nhập trung bình có mức GDP bình quân đầu người từ 1.000 USD/năm đến dưới 10.000 USD/năm; và nước có thu nhập cao có mức GDP bình quân đầu người

từ 10.000 USD/năm trở lên.

Trang 4

Đối với phần lớn các nước Đông Á, nền kinh tế cất cánh khởi đầu với sự xuất hiện và tham gia của hàng loạt doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (Giai đoạn 1) Các doanh nghiệp này thực hiện lắp ráp hoặc chế tác các sản phẩm công nghiệp nhẹ phục vụ xuất khẩu như dệt may, giầy dép, thực phẩm và một số linh kiện điện tử Toàn bộ các công việc thiết kế, công nghệ, sản xuất và marketing đều dưới sự hướng dẫn của nước ngoài, các nguyên vật liệu và phụ kiện quan trọng đều được nhập khẩu, và nước sở tại chủ yếu chỉ đóng góp lực lượng lao động phổ thông và mặt bằng đất đai Tuy việc này tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động nghèo, song giá trị gia tăng do trong nước tạo ra rất nhỏ bé

Trong Giai đoạn 2, khi vốn đầu tư nước ngoài ngày càng lớn và sản xuất được

mở rộng, nguồn cung trong nước các linh, phụ kiện bắt đầu tăng lên, công nghiệp phụ trợ bắt đầu phát triển Điều này diễn ra một phần là do sự gia nhập thị trường của các nhà cung cấp nước ngoài, một phần là do sự lớn mạnh của các nhà cung cấp trong nước Khi đó, các doanh nghiệp lắp ráp trong nước trở nên cạnh tranh hơn và

sự hợp tác giữa các doanh nghiệp lắp ráp và các nhà cung cấp được thiết lập ngày càng chặt chẽ Công nghiệp tăng trưởng về mặt lượng thông qua nguồn cung cấp sản phẩm đầu vào của các doanh nghiệp trong nước Giá trị gia tăng do trong nước tạo

ra từng bước tăng lên, nhưng về cơ bản hoạt động sản xuất vẫn chịu sự quản lý và hướng dẫn của nước ngoài Một điều rõ ràng là tiền lương và thu nhập của người lao

Trang 5

động bản địa không thể tăng lên nhiều nếu toàn bộ các hoạt động quan trọng vẫn chịu sự chi phối của nước ngoài

Bước sang Giai đoạn 3, công nghệ và năng lực quản lý từng bước được chuyển giao cho người bản địa, quá trình bản địa hóa được mở rộng từ sản xuất các đầu vào vật chất sang nguồn nhân lực, và sự lệ thuộc vào nước ngoài giảm đi đáng

kể Người bản địa thay thế người nước ngoài trong toàn bộ các mặt hoạt động của quá trình sản xuất, kinh doanh như: quản lý, công nghệ, thiết kế, vận hành nhà xưởng, hậu cần, quản lý chất lượng và marketing Giá trị gia tăng do trong nước tạo

ra tăng lên nhanh chóng Khi đó, một quốc gia đã đạt đến Giai đoạn 3 sẽ trở thành nước xuất khẩu năng động các sản phẩm chế tác chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh với các đối tác có trình độ phát triển cao hơn và có thể góp phần định hình lại bối cảnh công nghiệp toàn cầu

Trong Giai đoạn 4, các nước có đủ năng lực để tạo ra các sản phẩm mới và dẫn dắt các xu hướng thị trường toàn cầu Việc này đạt được thông qua đổi mới

Sự “leo thang” của một quốc gia từ Giai đoạn 1 lên Giai đoạn 4 là một quá trình lâu dài và khó khăn Trong đó, việc phá vỡ “trần thủy tinh”, hay vượt qua bẫy thu nhập trung bình, để bước từ Giai đoạn 2 lên Giai đoạn 3 là nhiệm vụ mà không nhiều quốc gia làm được trong vòng vài thập kỷ Mặc dù những thành tựu phát triển kinh tế đòi hỏi sự học hỏi và điều chỉnh không ngừng, nhưng gần đây có những phát hiện cho thấy, một nước muốn vượt qua bẫy thu nhập trung bình để đạt mức thu nhập bình quân từ 10.000 USD/năm trở lên thì cần phải có ba sự thay đổi quan trọng2 Cụ thể là:

(1) Từ đa dạng hóa đến chuyên môn hóa: Nhiều bằng chứng cho thấy các quốc gia nói chung tiến hành đa dạng hóa trong giai đoạn đầu tăng trưởng Tuy nhiên, xu hướng này đảo ngược sau khi thu nhập bình quân đầu người đạt mức khoảng 5.000-8.000 USD/năm, khi đó các quốc gia ấy bắt đầu tiến hành chuyên môn hóa lại Bước chuyển này có thể diễn ra sớm hơn hay muộn hơn tùy thuộc vào quy mô và định hướng xuất khẩu của mỗi quốc gia

(2) Từ đầu tư sang đổi mới: Khi các doanh nghiệp trong một nước đạt đến biên giới công nghệ, thì các chính sách điều tiết vốn thiên vị đầu tư của các doanh nghiệp hiện tại cần được thay thế bởi các chính sách khuyến khích sự gia nhập của các doanh nghiệp mới và tạo thuận lợi cho sự giải thể của những doanh nghiệp có

2 Xem trong Indermit Gill và Homi Kharas (2007), Đông Á phục hưng: Ý tưởng phát triển kinh tế,

NXB Văn hóa Thông tin, tr 84.

Trang 6

sản phẩm hoặc công nghệ đã trở nên lỗi thời Sự chuyển dịch này cần phải chọn thời điểm phù hợp và tương đối khó thực hiện do sự tồn tại của những lợi ích cục bộ

(3) Từ giáo dục cơ bản sang giáo dục đại học: Khi các quốc gia nắm bắt thông tin tốt hơn về các sản phẩm và lĩnh vực sản xuất, họ nên chuyên môn hóa và về các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) liên quan họ cần trợ cấp, chính phủ phải thay đổi trợ cấp chung cho giáo dục sang việc áp dụng các biện pháp khuyến khích

cụ thể hơn cho việc tạo ra các sản phẩm và quy trình mới Nếu các nhà hoạch định chính sách không thể quyết định được hoạt động R&D nào cần trợ cấp, thì chiến lược tốt nhất là trợ cấp chung cho giáo dục đại học

Gần đây, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiệm vụ phá vỡ “trần thủy tinh” của các nước đang phát triển ngày càng trở nên khó khăn hơn do tình hình có nhiều thay đổi, nhất là sự thay đổi về bối cảnh cạnh tranh quốc tế Không giống như trước đây, ngày nay các quốc gia phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên quy mô toàn cầu để thu hút các nguồn lực cho phát triển Đặc biệt, sự nổi lên của Trung Quốc với những lợi thế về nguồn lao động rẻ càng làm cho sự cạnh tranh ở khu vực Đông Á thêm quyết liệt Bên cạnh đó, các cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực hoặc toàn cầu xảy ra một cách thường xuyên với hậu quả lan tỏa rộng và nhanh chóng cũng gây cản trở lớn đến tiến trình phát triển của các quốc gia

2 Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm thành công và không thành công của một số nền kinh tế Đông Á

Trên phạm vi toàn thế giới, hình ảnh bẫy thu nhập trung bình rất quen thuộc với phần lớn các nước Mỹ Latinh: ngày nay những nước này vẫn chỉ ở ngưỡng nước

có mức thu nhập trung bình cho dù họ đã đạt được mức thu nhập tương đối khá ngay

từ thế kỷ 19 Ở khu vực Đông Á, ngoại trừ Nhật Bản đã có mức thu nhập tương đối cao từ rất sớm, thì 4 “con Rồng châu Á” (Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore) được coi là đã vượt qua bẫy thu nhập trung bình thành công trong những thập niên nửa cuối thế kỷ 20 Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người của các nền kinh tế này đã được xếp ở ngưỡng các nước có thu nhập cao Tuy nhiên, họ cũng đã mất khoảng 25- 30 năm để vượt bẫy Bên cạnh đó, một số nền kinh tế thuộc khu vực ASEAN như Malaysia, Thái Lan, Inđônêsia, Philippin cũng đạt mức thu nhập trung bình đã 25- 30 năm hoặc lâu hơn nữa, nhưng không thể vươn lên ngưỡng các nước có thu nhập cao Hay nói cách khác, họ đang bị mắc kẹt vào bẫy thu nhập trung bình, với mức thu nhập bình quân đầu người dưới 10.000 USD/năm (Hình 2)

Trang 7

Hình 2 GDP bình quân đầu người của một số nền kinh tế

khu vực Đông Á năm 2008

Đơn vị: USD

1053 1848 2254 3264 3869 7222

16987 19115

30864

37598 38443

0 5000 10000 15000 20000 25000 30000 35000 40000 45000 Việt Nam

Philippin Inđônêsia Trung Quốc

Thái Lan Malaysia Đài Loan (TQ)

Hàn Quốc Hồng Kông (TQ)

Singapore Nhật Bản

Nguồn: CSDL Chỉ số Phát triển Thế giới, WB (2009).

Xem xét quá trình đuổi kịp của các nền kinh tế Đông Á kể từ giữa thế kỷ 20

đến nay, thì thấy rằng thành tích tăng trưởng kinh tế có sự khác biệt lớn về chiều sâu

và tốc độ, thậm chí ngay giữa các nền kinh tế được đánh giá là thành công trong

việc vượt qua bẫy thu nhập trung bình Rõ ràng đã có sự khác biệt khá lớn giữa Hàn

Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) (thuộc ngưỡng các nước có thu nhập cao), đồng

thời cũng có sự khác biệt không nhỏ giữa Malaysia, Thái Lan, Inđônêsia và

Philippin (thuộc ngưỡng các nước có thu nhập trung bình)

Hình 3 dưới đây cho thấy bức tranh so sánh giữa mức thu nhập thực tế bình

quân đầu người của một số nền kinh tế Đông Á với mức thu nhập của nước Mỹ

trong thời kỳ 1950 – 2005 Nó cũng cho thấy tốc độ đuổi kịp của các nền kinh tế là

không giống nhau Cho đến giữa những năm 1960, các nền kinh tế này (ngoại trừ

Nhật Bản) chưa cho thấy dấu hiệu rõ ràng nào của sự đuổi kịp Tuy nhiên, Hàn

Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), với xuất phát điểm thấp ngang nhau, đã thực sự

cất cánh kể từ cuối những năm 1960 và đã cải thiện nhanh chóng các mức thu nhập

của mình Trong khi đó, sự đuổi kịp của Malaysia và Thái Lan lại ít ấn tượng hơn,

còn Philippin và Inđônêsia đã không cải thiện được vị trí của mình so với nước Mỹ

Trang 8

Hình 3 Tốc độ đuổi kịp khác nhau của các nền kinh tế Đông Á

Nguồn: Kenichi Ohno (2008)

Có nhiều nghiên cứu lý giải về sự khác biệt về thành tựu tăng trưởng kinh tế,

về kinh nghiệm thành công và không thành công trong việc vượt qua bẫy thu nhập trung bình của các nền kinh tế Đông Á Xét từ khía cạnh công nghiệp hóa, có thể thấy một số nguyên nhân nổi bật

Hàn Quốc hồi cuối những năm 1950 được biết đến như một đất nước bị chia cắt, bị chiến tranh tàn phá và lệ thuộc nặng nề vào nước Mỹ Đối với nhiều người, Hàn Quốc bấy giờ được ví như một bệnh nhân bị cưa cụt hết chân tay, không còn hy vọng cứu chữa Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi nhanh chóng sau khi Tướng Park Chung-hee lên nắm quyền năm 1961 và bắt đầu khởi xướng quá trình công nghiệp hóa đất nước Quá trình công nghiệp hóa diễn ra tuần tự từ khu vực nông nghiệp đến khu vực công nghiệp, từ công nghiệp nhẹ đòi hỏi ít vốn sang những ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hóa dầu, rồi đến công nghiệp điện từ và công nghiệp chính xác Đến cuối những năm 1980, Hàn Quốc đã sở hữu một nền tảng công nghiệp to lớn có thể sản xuất các sản phẩm điện tử và máy móc, thiết bị chất lượng cao với các thương hiệu nổi tiếng trên thị trường toàn cầu Hàn Quốc đã gia nhập OECD, câu lạc bộ của các nước công nghiệp, vào năm 1996

Quá trình công nghiệp hóa của Đài Loan (Trung Quốc)- một hòn đảo đã từng nổi tiếng với lúa gạo, đường và chuối- được khởi xướng bởi chính quyền Tưởng Giới Thạch sau khi tách khỏi Trung Quốc đại lục năm 1949 Cũng giống như Hàn

Trang 9

Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) tiến hành công nghiệp hóa từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ công nghiệp nhẹ sang công nghiệp nặng, công nghiệp hóa chất, công nghiệp điện tử và công nghiệp công nghệ cao Đến cuối những năm 1980, Đài Loan (Trung Quốc) đã trở thành nền kinh tế hàng đầu trên thế giới sản xuất các sản phẩm điện tử, với các doanh nghiệp nhỏ và vừa mạnh, tham gia sâu rộng vào các mạng lưới thương mại quốc tế

Thông qua chiến lược đầu tư mạnh ra nước ngoài, cả Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) hiện nay đã trở thành “những người sáng tạo” trong cơ cấu công nghiệp toàn cầu, không còn phải lệ thuộc vào các nhà quản lý hoặc các kỹ sư nước ngoài nữa Điểm quan trọng cần lưu ý là Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) chỉ mất khoảng ba thập kỷ để thoát khỏi tình cảnh một nền kinh tế nông nghiệp nghèo khó, vươn lên trở thành một cường quốc công nghiệp thế giới, với năng lực đổi mới, hấp thụ và sáng tạo công nghệ rất cao3

So với Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), những thành tựu của Malaysia

và Thái Lan là ít ấn tượng hơn nhiều Cũng giống như hai nền kinh tế trên, Malaysia

và Thái Lan bắt đầu tiến hành quá trình công nghiệp hóa từ những năm 1960 với mục tiêu xóa bỏ nền kinh tế thuần nông và đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, tập trung mạnh phát triển công nghiệp chế tác Ban đầu, họ cũng tập trung vào sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu, nhưng sau đó đã chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa định hướng xuất khẩu Các thành tựu kinh tế vĩ mô trong dài hạn của hai nước này cũng khá khả quan cho dù vấp phải một số cú sốc, chẳng hạn như đợt suy thoái hồi đầu những năm 1980 và khủng hoảng tài chính năm 1997-98 Tuy nhiên, cả Malaysia và Thái Lan (kể cả Inđônêsia và Philippin nữa) đều không thể thoát khỏi tình trạng lệ thuộc nặng vào nước ngoài, đặc biệt là về vốn, công nghệ và quản lý Những năm gần đây, đặc biệt là sau khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, lại có thêm bằng chứng cho thấy những nền kinh tế

lệ thuộc nặng vào nước ngoài về đầu tư và thị trường tiêu thụ chính là những nơi bị ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng

Tuy công nghiệp điện tử ở Malaysia và công nghiệp sản xuất ô tô ở Thái Lan

đã tăng trưởng mạnh về mặt lượng, song các nguyên liệu công nghệ cao, các cấu kiện then chốt và các quy trình quan trọng như thiết kế và marketing vẫn chủ yếu được đảm nhận bởi các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hoặc thông qua nhập khẩu trực tiếp Hệ quả là, người bản địa chỉ thực hiện lắp ráp hoặc sản xuất các bộ phận

3 Chẳng hạn, khi Hàn Quốc xây dựng tổ hợp sản xuất thép hiện đại đầu tiên vào những năm 1970 hoặc các nhà máy sản xuất ô tô hiện đại vào những năm 1980, ngay sau đó Hàn Quốc đã không còn cần đến sự hỗ trợ của các chuyên gia Nhật Bản nữa.

Trang 10

đơn giản trong khi phần lớn giá trị vẫn do người nước ngoài tạo ra và nắm giữ Vốn đầu tư nước ngoài vẫn được chào đón và các tổng giám đốc người nước ngoài vẫn tại vị Sau hơn 4 thập kỷ công nghiệp hóa, tình trạng thiếu tính kỷ luật, thiếu kỹ năng của người lao động và thiếu đội ngũ các nhà quản lý trung và cao cấp vẫn là vấn đề thường xuyên được đề cập đến Ở Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc), những vấn đề này đã được giải quyết từ lâu

Xét về bối cảnh lịch sử, có nhiều bằng chứng cho thấy Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) có thuận lợi hơn so với Malaysia và Thái Lan trong quá trình công nghiệp hóa Điều này được thể hiện ở mấy điểm chính sau đây:

- Thứ nhất, kinh nghiệm công nghiệp hóa ngay trong thời kỳ thuộc địa của Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) đã hơn hẳn so với Malaysia và Thái Lan Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) đều là cựu thuộc địa của Nhật Bản sau Cải cách Minh Trị Các bước phát triển nhất định trong các lĩnh vực công nghiệp, giáo dục và hành chính mà các nước này đã đạt được trong nửa đầu thế kỷ 20 là những nhân tố thuận lợi cho việc công nghiệp hóa nhanh chóng và rất khác so với các nước cựu thuộc địa khác Chẳng hạn, khả năng chế tác của người Nhật Bản cao hơn ở các thuộc địa khác Tương tự, hệ thống hành chính của các thuộc địa này cũng trở nên

có tính trọng tài năng, có tinh thần dân tộc và có khả năng tiềm tàng hỗ trợ cho sự phát triển

- Thứ hai, ngay từ đầu những năm 1950, do di sản chế độ thuộc địa của Nhật Bản, sự vượt trội về lượng vốn của những người di tản mà không dựa vào giới điền chủ, và sự hiện diện của Mỹ, tất cả đều đã thúc đẩy quá trình cải cách ruộng đất ở Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) Những cuộc cải cách này đảm bảo một sự phân phối ruộng đất và thu nhập nông nghiệp công bằng hơn, làm tăng năng suất trong nông nghiệp, quy tụ tầng lớp nông dân có đất, tích tụ đất đai, phục vụ cho sản xuất quy mô lớn Trong khi đó, ở Malaysia và Thái Lan đã không trải qua những cuộc cải cách ruộng đất lớn, mặc dù đã có đầu tư lớn vào việc mở rộng nông nghiệp

và phát triển nông thôn Nông dân thiếu đất Mặc dù việc làm phi nông nghiệp đã được mở rộng và năng suất nông nghiệp đã tăng lên, nhờ đó đã giảm được đói nghèo, nhưng bất bình đẳng vẫn tiếp tục tồn tại trong chế độ sở hữu cũng như khả năng tiếp cận đất đai và thu nhập

- Thứ ba, người ta thường cho rằng, một nền kinh tế có nguồn tài nguyên phong phú sẽ có nhiều khả năng phát triển hơn Tuy nhiên, cần xem xét lại luận điểm này khi giải thích quá trình phát triển của các nền kinh tế Đông Á Cả Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) đều có nguồn tài nguyên rất khiêm tốn, tuy nhiên chính điều này lại khiến cho yêu cầu cấp bách phải công nghiệp hóa của họ càng trở

Trang 11

nên mãnh liệt hơn Kết quả là, Malaysia và Thái Lan (và nhiều nền kinh tế giàu tài nguyên khác) đã bị tụt hậu do họ không cảm nhận được sự khẩn cấp đó Thành công của họ trong xuất khẩu nông sản và khoáng chất càng chứng tỏ thêm cảm nhận về sự

cơ sở kinh tế nhằm chống lại các lực lượng đối địch Ở Malaysia và Thái Lan đã không có được sự hỗ trợ này

- Thứ năm, các điều kiện thuận lợi trong thời kỳ hoàng kim hậu chiến đã góp phần vào quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) Trong những năm 1950 và 1960, thương mại quốc tế mở rộng đã tạo ra những cơ hội to lớn cho tăng trưởng xuất khẩu Quá trình xuyên quốc gia hóa ngành chế tác cũng đã mở

ra cơ hội để công nghiệp hóa Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) đã tạo một môi trường quốc tế thuận lợi cho công nghiệp hóa và mở mang thương mại Theo Hệ thống Ưu đãi chung, xuất khẩu từ các nước đang phát triển được hưởng thuế suất thấp hơn và ít hạn chế hơn khi nhập vào các nước công nghiệp Mặc dù tăng trưởng kinh tế thế giới đã chậm lại từ những năm 1970, nhưng tình hình toàn cầu vẫn còn rất thuận lợi cho công nghiệp hóa Tuy nhiên, sự trỗi dậy của chế độ bảo hộ và sự nổi lên của các thể chế kinh tế quốc tế mới lại tạo ra những tình huống bất lợi cho các nước công nghiệp hóa sau như Malaysia và Thái Lan Việc mở rộng GATT sang lĩnh vực đầu tư nước ngoài, thương mại dịch vụ và quyền

sở hữu trí tuệ, cũng như việc thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tăng cường quyền bá chủ của các doanh nghiệp đa quốc gia, và áp đặt thêm chi phí cho những nỗ lực công nghiệp hóa mới

- Thứ sáu, một điểm đáng chú ý nữa là tốc độ gia tăng dân số của Malaysia và Thái Lan cao hơn so với Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) Vì vậy, mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong thời gian dài, song mức thu nhập bình quân đầu người ở hai nền kinh tế này rõ ràng là tăng chậm hơn so với các nền kinh tế công nghiệp hóa trước

Mặc dù những yếu tố thuộc bối cảnh lịch sử nêu trên đóng vai trò quan trọng, song chắc chắn chúng không có ý nghĩa quyết định Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, yếu tố quyết định đứng đằng sau sự thành công hay thất bại của một quốc gia chính

Trang 12

là chiến lược, chính sách và nỗ lực phát triển của quốc gia ấy Kinh nghiệm của Malaysia phản ánh rất rõ điều này (Hộp 1) Cũng có những bằng chứng cho thấy rằng, một số nước sau khi đạt được ngưỡng thu nhập trung bình thì quá say sưa với những thành công bước đầu, tự thổi phồng thành tích, có tâm lý và hành động tự mãn,… trong khi thực chất lại không có được một pha đổi mới tiếp theo, gồm những cải cách mới về thể chế, sự tái cấu trúc cần thiết của mô hình phát triển, tạo nên động lực mới để tiếp tục phát triển

Hộp 1 Chính sách kinh tế mới (NEP): nguyên nhân chính khiến cho nền kinh tế

Malaysia sa vào bẫy thu nhập trung bình

Khi giành độc lập năm 1957, Malaysia đứng thứ hai ở châu Á, chỉ sau Nhật Bản, về mức độ thịnh vượng và thu nhập, cho dù thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 200 USD Sau đó một thập kỷ, thu nhập bình quân đầu người của Malaysia vẫn cao hơn Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) cho dù thấp hơn Singapore Năm 1967, thu nhập bình quân đầu người của Malaysia là 290 USD so với các mức 160 USD, 250 USD và 600 USD tương ứng của Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Singapore

Nhưng ngày nay, trong khi Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) đã gia nhập hàng ngũ những nền kinh tế có mức thu nhập cao, thì Malaysia vẫn bị mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình suốt 4 thập kỷ qua Khi xem xét quá trình phát triển của Malaysia, nhiều chuyên gia kinh tế Malaysia cho rằng chính Chương trình Chính sách kinh tế mới (NEP) được áp dụng từ những năm 1970 là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng mắc kẹt vào bẫy của quốc gia này

Chính sách kinh tế mới dành nhiều ưu đãi về kinh tế cho người gốc Malay, vốn chiếm đa số nhưng lại kém hơn về quyền lực kinh tế so với người gốc Hoa, vốn chỉ chiếm 25% dân số nhưng lại kiểm soát phần lớn nền kinh tế Malaysia Thực chất, NEP chỉ đem lại lợi ích cho số ít, và khiến nhiều người gốc Malay ỷ lại và bắt đầu lợi dụng chính sách này Có nhiều doanh nghiệp Malay đã đòi hỏi, thậm chí đe dọa, Chính phủ phải cho họ trúng thầu hợp đồng, cho họ việc làm Một số người gốc Malay sau khi được giấy phép ưu đãi thì đem bán lại để lấy tiền chứ không chịu làm ăn Vì vậy, chính sách này đã góp phần khiến cho đất nước không thể khai thác tốt nhất nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên tiềm tàng cho phát triển Hơn nữa, nó còn bị coi là một chính sách gây chia rẽ và phân biệt đối xử

Sau khi có NEP, Chính phủ Malaysia đã ban hành và thực hiện một số chính sách kinh tế và sáng kiến bổi bật như: Chính sách hướng Đông Á, Sáng kiến Hành lang siêu xa

lộ thông tin, Chính sách phát triển công nghệ, Chính sách phát triển công nghệ thông tin và truyền thông, Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,… Mặc dù đã đạt được một số kết quả tích cực, được khu vực và quốc tế đánh giá cao, tuy nhiên đến nay Malaysia vẫn chưa thể thoát khỏ bẫy thu nhập trung bình

Trang 13

Ngày nay, tuy vẫn còn không ít tranh cãi về hiệu quả của NEP, nhưng có nhiều ý kiến cho rằng Malaysia cần phải xóa bỏ NEP, chứ không chỉ đơn thuần là tái cấu trúc nó,

để chuyển sang một mô hình kinh tế mới, mở đường cho đất nước phát triển trở thành một nước có mức thu nhập cao

Nguồn: Tổng hợp của các tác giả

Trong cuốn sách Sự thần kỳ Đông Á do Ngân hàng Thế giới xuất bản năm

1993, các tác giả đã chỉ ra một số yếu tố then chốt đứng đằng sau sự thành công hay không thành công của các quốc gia, đáng chú ý là: môi trường kinh tế vĩ mô, tiết kiệm và đầu tư, nguồn nhân lực, bộ máy hành chính, mức độ bình đẳng về thu nhập, năng lực xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài… Các tác giả cho rằng hiệu quả của những yếu tố trên có ảnh hưởng quyết định đến sự thần kỳ Đông Á Tuy nhiên, hiệu quả của từng yếu tố ở các quốc gia khác nhau và ở từng thời điểm khác nhau là không giống nhau Chính sự khác biệt ấy cũng góp phần đưa đến sự thành công và không thành công của các nền kinh tế Đông Á trong việc vượt qua bẫy thu nhập trung bình

B NỀN KINH TẾ VIỆT NAM: ĐẠT NGƯỠNG THU NHẬP TRUNG BÌNH

Qua hơn 20 năm đổi mới, theo đuổi thực hiện mô hình phát triển đã lựa chọn, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội Tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đời sống nhân dân được nâng cao, thành tích xóa đói giảm nghèo được cộng đồng quốc tế đánh giá cao… là những

Trang 14

minh chứng cụ thể Từ năm 2008, theo thống kê chính thức,Việt Nam đã thoát ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp để bắt đầu trở thành nước có thu nhập trung bình,

vì vậy vị thế trong khu vực và trên thế giới được nâng cao

1.1 Tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người

Một trong những thành tựu quan trọng nhất của quá trình đổi mới ở Việt Nam

là luôn đạt và duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP cao hàng đầu trong khu vực và

cả trên thế giới Nhờ vậy, thu nhập bình quân đầu người cũng không ngừng tăng lên Với mức GDP bình quân đầu người đạt trên 1.000 USD năm 2008 Việt Nam đã chính thức gia nhập nhóm các nước có mức thu nhập trung bình (Hình 4)

Hình 4 Tốc độ tăng trưởng GDP 4 , mức GDP bình quân đầu người

của Việt Nam, giai đoạn 1990-2009

1024 1074

5.1

5.8

8.7 8.1 8.8 9.5 9.3

8.2

5.8 4.8

6.8 6.9 7.1

7.3 7.8

8.4 8.17 8.5

6.18 5.32

GDP bình quân đầu người (USD) T ốc độ tăng GDP (%)

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Cùng với sự cải thiện thu nhập, công tác xoá đói giảm nghèo trong mấy thập

kỷ qua đạt nhiều thành tựu quan trọng, Việt Nam được cộng đồng quốc tế công nhận

4 Trong giai đoạn 1990- 2009, sự sụt giảm tăng trưởng GDP trong các năm 1997, 1998 là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á Từ năm 2008, tăng trưởng kinh tế giảm, tuy nhiên vẫn ở mức khá cao so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Xu hướng giảm cũng đã được chặn lại từ quý I năm 2009

Trang 15

là nước có tốc độ giảm nghèo nhanh trên thế giới và là một trong những nước đi đầu trong thực hiện mục tiêu giảm 50% số người nghèo vào năm 2015 Điều này đã giúp nâng cao đáng kể mặt bằng thu nhập của người Việt Nam, tạo điều kiện nâng cao mức sống và tăng tích lũy cho đầu tư phát triển đất nước

1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cùng với tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm qua

đã có sự chuyển dịch tích cực Những nỗ lực thực hiện công nghiệp hóa đã góp phần nâng cao tỷ trọng của các ngành phi nông nghiệp trong GDP (Bảng 1) Điều này cho thấy trình độ phát triển của nền kinh tế đã từng bước được nâng lên

Bảng 2 Cơ cấu đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế

Trang 16

1.3 Mức độ mở cửa của nền kinh tế

Trong hơn hai thập kỷ qua, nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập khá sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài Xuất khẩu, nhập khẩu tăng trưởng cao và ổn định, nguồn vốn FDI đổ vào nước một cách tương đối vững chắc đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Bảng 3)

Bảng 3 Xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài, 1995-2009

96,6

46,2 49,9

96,1

47,5 56,1

103,6

50,1 62,6

112,7

58,1 70,4

128,5

61,0 69,3

130,3

65,4 73,8

139,2

68,4 88,4

156,8

70,4 90,5

160,9

60,4 73,4

133,8 FDI

3142,8 2450,5

2998,8 2591,0

3191,2 2650,0

4547,6 2852,5

6839,8 3308,8

12004,0 4100,1

21347,8 8030,0

64011,0 11600,0

21480,0 10000,0

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư

1.4 Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ

Được coi là hai lĩnh vực quốc sách hàng đầu, trong những năm qua giáo dục

và đào tạo, khoa học và công nghệ được Nhà nước quan tâm đầu tư ngày càng tăng Giáo dục ở tất cả các cấp học đều có tiến bộ Đào tạo đại học và cao đẳng mở rộng nhanh chóng, góp phần đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ cao, có khả năng sử dụng các công nghệ mới, hiện đại Số các trường đại học và cao đẳng tăng nhanh (Bảng 4), góp phần đưa số lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên của cả nước tăng từ 1,3 triệu người năm 2000 lên 2,8 triệu người năm 2008

Trang 17

Bảng 4 Số lượng các trường cao đẳng và đại học

Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo

Tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước đã từng bước phát triển, cả về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và công nghệ Năng lực công nghệ quốc gia đã

có tiến bộ, bắt đầu có được khả năng lựa chọn, thích nghi và làm chủ công nghệ Trong một số lĩnh vực, công nghệ đã tiếp cận được trình độ của khu vực và thế giới Tiềm lực khoa học và công nghệ cùng với nguồn nhân lực có trình độ ngày càng cao

hỗ trợ tích cực cho các hoạt động đổi mới và sáng tạo, phục vụ đắc lực công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

1.5 Đổi mới hệ thống chính trị, đảm bảo quyền tự do, dân chủ và phát triển văn hóa

Song hành với đổi mới về kinh tế và xã hội, đổi mới trong lĩnh vực chính trị của Việt Nam trong hơn 20 năm qua cũng đạt được những thành tựu đáng ghi nhận,

về thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt nam, về nâng cao vai trò của các đoàn thể nhân dân, về chỉnh đốn Đảng và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần quan trọng vào việc tháo gỡ những lực cản đối với phát triển kinh tế

Thực hiện đường lối phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, những năm qua nước ta đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển văn hoá Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng văn hoá đã phát triển rộng khắp Những hoạt động giao lưu văn hoá trong và ngoài nước được đẩy mạnh với hiệu quả cao, đến nay Việt Nam đã có quan hệ hợp tác văn hoá với hơn 50 nước ở tất cả các châu lục, với nhiều hiệp định, chương trình hợp tác đã ký kết Những thành tựu đó đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đồng thời có đóng góp cho sự phát triển kinh tế của đất nước

Tóm lại, sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã tiến đến một vị thế phát triển mới Không chỉ đơn thuần thoát khỏi vị thế thu nhập thấp, tiến đến

Trang 18

ngưỡng thu nhập trung bình, mà nền kinh tế đã bắt đầu tích tụ được các yếu tố và nguồn lực cần thiết cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm tiếp theo

2 Những vấn đề tồn tại

Mặc dù đã gia nhập nhóm nước có mức thu nhập trung bình, song nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng bẫy thu nhập trung bình đang giăng ở phía trước nền kinh tế Việt Nam Nhận định này càng có thêm cơ sở khi nền kinh tế còn những hạn chế ràng buộc sự tăng trưởng và phát triển trong dài hạn Nhiều vấn đề đã nảy sinh

từ nhiều năm nay và càng trở nên nổi cộm trong những năm gần đây khi nền kinh tế phải hứng chịu những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh

tế toàn cầu Việc nhìn nhận rõ những vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, từ

đó có thể nghiên cứu đưa ra các chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển trong thời gian tới, đưa nền kinh tế đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình Phần dưới đây xin nêu ra một số vấn đề đáng được quan tâm:

2.1 Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp

Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khá cao và ổn định trong thời gian dài, nhưng chất lượng tăng trưởng thấp Mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong nhiều năm qua dựa nhiều vào tăng đầu tư, khai thác tài nguyên và sức lao động rẻ, chưa chú trọng và chưa đạt được tiến bộ rõ nét về trình độ công nghệ và quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả (được gọi là các yếu tố phát triển theo chiều sâu)

Những năm vừa qua, lượng vốn đầu tư được huy động cho nền kinh tế là rất lớn nhưng hiệu quả đầu tư thấp, cơ cấu đầu tư còn chưa hợp lý, quản lý đầu tư còn nhiều thất thoát, kém hiệu quả, thể hiện qua hệ số ICOR cao5 Nếu so sánh với các nền kinh tế trong khu vực ở giai đoạn tăng trưởng nhanh thì hệ số ICOR của Việt Nam cao hơn đáng kể (Bảng 5)

5 Rõ ràng, với tỷ lệ vốn đầu tư/GDP năm 2008 và 2009 tương ứng là 41,3% và 42,8%, nhưng tốc

độ tăng GDP hai năm chỉ đạt 6,18% và 5,32% là chưa tương xứng

Trang 19

Bảng 5 So sánh ICOR của Việt Nam với các nước trong thời kỳ

tăng trưởng nhanh

Nước Thời kỳ tăng

trưởng nhanh

Tỷ lệ đầu tư (% GDP)

Tỷ lệ tăng trưởng (%)

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Sự lệ thuộc nặng vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng chính là lực cản đối với tăng trưởng và phát triển trong dài hạn Bởi lẽ, dư địa cho việc khai thác các yếu tố này ngày càng bị thu hẹp, đến một lúc nào đó không thể đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển thì nền kinh tế sẽ sụt giảm tăng trưởng, thậm chí bị tụt dốc Nguy cơ này là tương đối rõ đối với nền kinh tế Việt Nam

2.2 Những yếu kém về các ngành kinh tế

Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân nói chung theo GDP và cơ cấu kinh tế ba khu vực (nông – lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ) theo giá trị sản xuất còn chậm và không đều giữa các ngành, các vùng và các địa phương

Yếu kém dễ thấy nhất là sự kém năng động của khu vực dịch vụ, với tỷ trọng dịch vụ trong GDP còn thấp và có xu hướng giảm dần, không ổn định, dù tiềm năng rất lớn Tuy cơ cấu nội bộ ngành dịch vụ đã có biến đổi theo hướng đa ngành, đa sản phẩm, nhưng còn nặng về phát triển các ngành truyền thống như: y tế, giáo dục, quản lý nhà nước, du lịch khách sạn, nhà hàng Sự phát triển một số ngành dịch vụ chất lượng cao của nền kinh tế, như: tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, khoa học công nghệ; tư vấn và các dịch vụ sử dụng trí tuệ, chất xám còn chậm Tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu sản xuất các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp

Trang 20

rất nhỏ bé và tăng chậm Dịch vụ khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hóa

Trong công nghiệp, đóng góp lớn cho GDP chủ yếu là các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế tác không đáng kể, công nghiệp phụ trợ kém phát triển Nhìn chung, trình độ phát triển công nghiệp còn thấp, năng lực cạnh tranh yếu, công nghệ tiên tiến rất ít, với quy mô còn rất nhỏ

Nền nông nghiệp vẫn còn phân tán, manh mún, năng suất lao động thấp, ngay

cả những loại nông sản xuất khẩu chủ lực như gạo, cà phê, cao su, chè, thủy sản chủ yếu vẫn là sản phẩm từ lao động thủ công Đặc biệt, trong thời gian dài chúng ta thiếu quan điểm rõ ràng và biện pháp có hiệu quả về phát triển kinh tế nông thôn (rộng hơn hẳn nông nghiệp), từng bước tái hiện căn bệnh coi nhẹ nông nghiệp, để nông dân “tự bơi” trong cơ chế thị trường

2.3 Những yếu kém về các thành phần kinh tế

Cơ cấu thành phần kinh tế đang bộc lộ một số mất cân đối trên nhiều mặt Khu vực kinh tế nhà nước tập trung vào những ngành, sản phẩm chủ chốt dẫn tới tập trung kinh tế và độc quyền kinh doanh với những tác động ngoài ý muốn; hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng chưa cao, thường thấp hơn mức bình quân chung của các doanh nghiệp Quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm chạp, hiệu quả kém

Có sự chia cắt ngay trong nội bộ kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân chính thức (các doanh nghiệp có đăng ký) tuy có bước phát triển mạnh so với trước đây, nhưng quy mô của thành phần kinh tế này nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng vẫn còn quá nhỏ và tốc độ phát triển không cao so với yếu cầu và tiềm năng phát triển (chưa thể là một động lực phát triển quan trọng của nền kinh tế); hiệu quả kinh doanh đang giảm dần Khu vực phi chính quy (hộ kinh doanh cá thể), sản xuất nhỏ, phân tán và lạc hậu còn quá lớn, và sự chuyển dịch theo hướng “chính quy hóa” chậm Khu vực các hợp tác xã còn lại không đáng kể Mặc dù vậy, trong những năm qua chúng ta lại thiếu các chính sách, biện pháp khuyến khích, trợ giúp khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Khu vực này thường chịu thiệt hại nặng nề nhất do ảnh hưởng của các cú sốc hoặc khủng hoảng kinh tế

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gia tăng nhanh trên tất cả các phương diện Ngoài những yếu tố tích cực, thì sự gia tăng mạnh mẽ và nhanh chóng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài làm gia tăng mức độ phụ thuộc của nền kinh tế nước ta vào vốn và thị trường bên ngoài, là nhân tố làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của nền kinh tế Thêm nữa, nếu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài gia tăng chủ yếu để tận dụng

Trang 21

các lợi thế của nước ta về tài nguyên và lao động rẻ hiện có, thì nó càng khoét sâu thêm những yếu kém có tính cơ cấu hiện hành, không giúp ích cho chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang giai đoạn phát triển cao hơn

2.4 Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ kém phát triển

Mặc dù khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu, tuy nhiên đến nay đây vẫn là hai lĩnh vực có nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước Nhìn chung, khoa học và công nghệ nước ta còn yếu so với trình độ chung trong khu vực, khoảng cách với các nước chưa được rút ngắn Các hoạt động khoa học và công nghệ chưa thực sự gắn kết hữu

cơ với nhu cầu của các ngành kinh tế - xã hội; giữa khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội thiếu sự liên kết chặt chẽ; trình độ công nghệ nước ta còn thấp so với các nước trong khu vực; tiềm lực khoa học và công nghệ của nước ta chưa lớn mạnh; đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của nước ta còn thiếu và bất hợp lý về cơ cấu ngành, nghề, phân bố lực lượng; cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động khoa học và công nghệ yếu kém và lạc hậu…

Về giáo dục và đào tạo, mặc dù được tăng đầu tư tài chính nhưng chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp và không đồng đều giữa các vùng miền; chương trình sách giáo khoa và phương pháp giáo dục chậm đổi mới Nhìn chung, cơ sở vật chất của các trường học nghèo nàn, thiếu phương tiện thực hành, thiếu giáo viên giỏi Khảo sát 25 trường đại học mới được thành lập cho thấy có trường không có hoặc

có rất ít giáo sư, phó giáo sư hay tiến sĩ Các vấn đề của giáo dục và đào tạo không được giải quyết một cách có hệ thống và toàn diện, trong nhiều trường hợp gặp đâu làm đó, thí điểm đi rồi thí điểm lại; kết quả là học sinh, sinh viên phải chịu làm vật thí nghiệm mà không biết bao giờ mới có thể được hưởng một nền giáo dục sánh với các nước khác Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực kéo dài dai dẳng mà không được giải quyết như: bệnh thành tích, dạy thêm học thêm quá mức, học nhồi nhét, bằng giả, bằng thật học giả,… Giáo dục và đào tạo yếu kém là nguyên nhân chủ yếu của nhiều yếu kém khác, trong đó thấy rõ là những yếu kém của nguồn nhân lực

Việt Nam là nước có lực lượng lao động đông đảo, nhưng số lượng lao động

đã qua đào tạo còn thấp và chất lượng lao động chưa đáp ứng được nhu cầu Đây là một trong những nguyên nhân gây cản trở đối với việc tiếp thu, nắm bắt và làm chủ công nghệ hiện đại, góp phần làm chậm quá trình đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp cũng như của cả nền kinh tế

Ngày đăng: 23/01/2021, 11:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Hữu (2008), “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức”, Tài liệu nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
Tác giả: Đặng Hữu
Năm: 2008
2. Đinh Văn Ân-Hoàng Thu Hòa (cb) (2009), Vượt thách thức, mở thời cơ phát triển bền vững, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ượ"t thách th"ứ"c, m"ở" th"ờ"i c"ơ" phát tri"ể"n b"ề"n v"ữ"ng
Tác giả: Đinh Văn Ân-Hoàng Thu Hòa (cb)
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2009
3. Indermit Gill và Homi Kharas (2007), Đông Á phục hưng: Ý tưởng phát triển kinh tế, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ông Á ph"ụ"c h"ư"ng: Ý t"ưở"ng phát tri"ể"n kinh t
Tác giả: Indermit Gill và Homi Kharas
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2007
4. Kenichi Ohno (2008), The Middle Income Trap: Implications for Industrialization Strategies in East Asia and Africa, Policy Discussion Papers - GRIPS Development Forum Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Middle Income Trap: Implications for Industrialization Strategies in East Asia and Africa
Tác giả: Kenichi Ohno
Năm: 2008
5. Lê Minh Phong (2009), “Xu hướng thế giới và yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo: Tổng quan Kinh tế- Xã hội Việt Nam, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng thế giới và yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam”, "T"ạ"p chí Kinh t"ế" và D"ự" báo: T"ổ"ng quan Kinh t"ế"- Xã h"ộ"i Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Lê Minh Phong
Năm: 2009
6. Ngân hàng Thế giới (2002), Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy ng"ẫ"m l"ạ"i s"ự" th"ầ"n k"ỳ Đ"ông Á
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
7. Trần Đình Thiên (2008), “Các yếu tố thời đại và cơ hội đột phá phát triển của Việt Nam”, Tài liệu nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố thời đại và cơ hội đột phá phát triển của Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Thiên
Năm: 2008
8. Trần Đình Thiên (2008), “Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn hậu WTO của Việt Nam: Lộ trình và đột phá”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn hậu WTO của Việt Nam: Lộ trình và đột phá
Tác giả: Trần Đình Thiên
Năm: 2008
9. Viện Nghiên cứu QLKT Trung ương (2008), Những yếu tố đảm bảo để Việt Nam sớm vượt khỏi ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp, Thông tin chuyên đề, số 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh"ữ"ng y"ế"u t"ố đả"m b"ả"o "để" Vi"ệ"t Nam s"ớ"m v"ượ"t kh"ỏ"i ng"ưỡ"ng n"ướ"c "đ"ang phát tri"ể"n có thu nh"ậ"p th"ấ"p
Tác giả: Viện Nghiên cứu QLKT Trung ương
Năm: 2008
10. Viện Nghiên cứu QLKT Trung ương (2009), Cơ cấu lại nền kinh tế: một số vấn đề về nhận thức và kinh nghiệm một số nước, Thông tin chuyên đề, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"ơ" c"ấ"u l"ạ"i n"ề"n kinh t"ế": m"ộ"t s"ố" v"ấ"n "đề" v"ề" nh"ậ"n th"ứ"c và kinh nghi"ệ"m m"ộ"t s"ố" n"ướ"c
Tác giả: Viện Nghiên cứu QLKT Trung ương
Năm: 2009
11. Viện Nghiên cứu QLKT Trung ương (2009), Nhìn lại mô hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam: Những kiến nghị điều chỉnh, Thông tin chuyên đề, tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn l"ạ"i mô hình phát tri"ể"n kinh t"ế" - xã h"ộ"i c"ủ"a Vi"ệ"t Nam: Nh"ữ"ng ki"ế"n ngh"ị đ"i"ề"u ch"ỉ"nh
Tác giả: Viện Nghiên cứu QLKT Trung ương
Năm: 2009
13. Trang tin điện tử http://www.thesaigontimes.vn 14. Trang tin điện tử http://www.workbank.org 15. Trang tin điện tử http://www.baodautu.vn 16. Trang tin điện tử http://www.vnexpress.net 17. Trang tin điện tử http://www.vnn.vn Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w