1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy nội lực, coi trọng thị trường nội địa gắn với tranh thủ hợp lý, sử dụng hiệu quả ngoại lực để phát triển đất nước

37 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 440,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay, cần đặc biệt quan tâm đến việc phát huy những nguồn nội lực chủ yếu sau đây: - Một,

Trang 1

1

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU

-

PHÁT HUY NỘI LỰC, COI TRỌNG THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA GẮN VỚI TRANH THỦ HỢP LÝ, SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NGOẠI LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC MỤC LỤC A QUAN ĐIỂM VỀ CÁC NGUỒN NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC 2

1 Phát huy nội lực là chính, coi trọng thị trường nội địa 2

2 Tranh thủ ngoại lực 7

B KHÁI QUÁT THỰC TIỄN VỀ PHÁT HUY NỘI LỰC, KẾT HỢP GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 11

1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát huy nội lực, kết hợp giữa nội lực và ngoại lực trong phát triển đất nước 11

2 Khái quát tình hình thực hiện chủ trương, chính sách về phát huy nội lực, kết hợp giữa nội lực và ngoại lực trong thời gian qua 14

3 Những đòi hỏi mới và khả năng mới từ thực tế về phát huy nội lực, kết hợp nội lực và ngoại lực 26

C MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP NHẰM PHÁT HUY NỘI LỰC, TRANH THỦ NGOẠI LỰC VÀ KẾT HỢP GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC 29

1 Phát huy nội lực 29

2 Tranh thủ ngoại lực 33

3 Kết hợp giữa phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

Trang 2

2

A QUAN ĐIỂM VỀ CÁC NGUỒN NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC

1 Phát huy nội lực là chính, coi trọng thị trường nội địa

1.1 Các nguồn nội lực chủ yếu

Các nguồn lực trong nước có thể được huy động cho phát triển kinh tế - xã hội là hết sức đa dạng, phong phú Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay, cần đặc biệt quan tâm đến việc phát huy những nguồn nội lực chủ yếu sau đây:

- Một, nguồn lực con người mà trung tâm là nguồn lực lao động: Việt Nam

là nước có dân số đông, tốc độ tăng dân số khá lớn, tạo ra lực lượng lao động dồi dào và trẻ, nhu cầu về việc làm ngày càng tăng, giá lao động lại rẻ, đây đang là lợi thế so sánh quan trọng của nguồn lực con người nước ta Mặt khác, con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù, chịu khó, có tư chất thông minh và sáng tạo, có khả năng thích ứng nhanh với hoàn cảnh Nói chung, người Việt Nam có ý thức dân tộc cao, biết tự trọng dân tộc; có ý thức chính trị, nhạy cảm chính trị; có phương thức ứng xử mềm mỏng, không cực đoan, thái quá; có lối sống nhân ái, trọng đạo lý; có ý chí, bình tĩnh vượt qua những cam go thử thách, những dao động tâm lý tư tưởng; tích cực ủng hộ đổi mới, mở cửa đề hội nhập và phát triển… Đây là thế mạnh của con người Việt Nam, là thế mạnh của nguồn lực con người Việt Nam, là sức mạnh của đất nước, là nguồn nội sinh quý giá không thể thay thế được của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tuy nhiên, nguồn lực con người nói chung và lực lượng lao động nói riêng của Việt Nam vẫn còn những hạn chế cơ bản Dân số nước ta tuy đông nhưng chất lượng sống thấp; lực lượng lao động dồi dào song chất lượng rất hạn chế, nhất là về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, kỹ năng lao động, thể lực và văn hóa lao động công nghiệp, đặc biệt là tư tưởng và tâm lý của người sản xuất nhỏ vẫn còn tồn tại phổ biến ở người lao động Thêm vào đó, việc khai thác và sử dụng số lao động đã qua đào tạo, có trình độ lại bất hợp lý và kém hiệu quả; đồng thời có

sự mất cân đối lớn về cơ cấu trình độ đào tạo và phân bố lao động giữa các ngành, các vùng Những hạn chế nêu trên đã làm yếu đi đáng kể chất lượng nguồn lực con người của nước ta hiện nay

Trang 3

3

- Hai, nguồn lực đất đai và tài nguyên thiên nhiên: Diện tích nước ta không lớn, song chúng ta vẫn còn gần 5 triệu ha đất trống, đồi núi trọc chưa được sử dụng Đất canh tác của nước ta nhìn chung là màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị thương mại cao Đất phi nông nghiệp còn tiềm năng vốn hóa lớn, nếu phát huy có hiệu quả sẽ tạo lượng vốn lớn cho phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đất đai, nước ta được xếp vào loại nước giàu tài nguyên ngư nghiệp, với khoảng 1 triệu ha mặt nước nội địa, 1 triệu ha mặt nước lợ - mặn, trên 3.200 km

bờ biển với diện tích lãnh hải khoảng 1 triệu km2 cùng nhiều loại thủy sản, hải sản phong phú, có giá trị kinh tế cao Nước ta cũng được đánh giá là nước có tài nguyên khoáng sản phong phú Cho đến nay cả nước đã xác định được 5.000 điểm quặng với 60 loại khoáng sản khác nhau, trong đó có một số khoáng sản có trữ lượng lớn, có thể phục vụ tốt cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như: than, sắt, bôxít, apatít, dầu mỏ, khí đốt…

Tuy nhiên, nguồn lực đất đai và tài nguyên thiên nhiên của nước ta cũng có những hạn chế cơ bản Đất nông nghiệp bị chia thành các thửa có diện tích nhỏ, phân tán, manh mún, không thích hợp cho sản xuất hàng hóa quy mô lớn Hơn nữa, diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp đáng kể do chuyển đổi sang mục đích sử dụng phi nông nghiệp Đất phi nông nghiệp chưa phát huy hiệu quả đích thực, bị sử dụng lãng phí, quỹ đất dành cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, các tiện ích công cộng ở những đô thị lớn rất hạn chế Diện tích rừng của nước ta giảm nhanh chóng và rừng nghèo chiếm tỷ lệ lớn Hiện nay, diện tích rừng và trữ lượng gỗ bình quân đầu người của Việt Nam được xếp vào loại thấp nhất thế giới Các nguồn tài nguyên biển và khoáng sản của đất nước hoặc chưa được khai thác hoặc bị khai thác bừa bãi, quá mức, dẫn đến cạn kiệt…

- Ba, nguồn lực vốn tài chính: Trong những năm qua, nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ khá cao, nên các nguồn lực vốn tài chính trong nước không ngừng tăng lên Nguồn thu ngân sách nhà nước tăng lên đều đặn, từ mức 90.749 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên 399.000 nghìn tỷ đồng năm 2008 (gấp gần 4,4 lần), do vậy có nguồn để gia tăng các khoản chi cho phát triển kinh tế - xã hội Nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ còn gia tăng mạnh nếu hệ thống thuế hoạt động

có hiệu quả cao Khu vực doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh

tế, các tổng công ty lớn sau nhiều năm phát triển kinh tế thị trường đã tích lũy được lượng vốn tài chính khá lớn, có đủ tiềm lực và khả năng đảm nhiệm đầu tư các dự án lớn của đất nước Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước phát triển

Trang 4

4

nhanh, có thể huy động các nguồn vốn đa dạng, là nơi chứa đựng nguồn lực vốn quan trọng Đặc biệt, nguồn vốn nhàn rỗi trong dân được đánh giá là rất dồi dào, được tích trữ hoặc đầu cơ dưới nhiều hình thức khác nhau như vàng, đô la, bất động sản hoặc gửi ngân hàng

Tuy nhiên, nếu so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới thì nguồn lực vốn tài chính của Việt Nam còn rất nhỏ bé Nguồn thu ngân sách nhà nước chưa đủ chi (năm 2008, thâm hụt ngân sách nhà nước là 75,28 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,95% GDP) Khu vực doanh nghiệp trong nước thường xuyên thiếu vốn, trong khi đó nguồn vốn nhàn rỗi trong dân không dễ được huy động cho đầu

tư, kinh doanh do nhiều nguyên nhân khác nhau

- Bốn, nguồn lực khoa học và công nghệ: Đội ngũ cán bộ khoa học của nước ta tăng nhanh, số cán bộ nghiên cứu trên 1.000 dân của nước ta cao hơn nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đội ngũ cán bộ khoa học của nước ta

về cơ bản có thể tiếp thu được những công nghệ tiên tiến của thế giới để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội nước nhà, từng bước phát huy được năng lực nghiên cứu, giải quyết được những đòi hỏi của nền kinh tế về đổi mới công nghệ sản xuất Các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của nước ta phát triển mạnh mẽ về số lượng cũng như cơ sở vật chất, gồm các trường đại học, các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các cơ sở nghiên cứu của các doanh nghiệp, của tập thể, cá nhân…

Tuy nhiên, nguồn lực khoa học và công nghệ của nước ta còn nhiều hạn chế: trình độ công nghệ nước ta còn thấp so với các nước trong khu vực; tiềm lực khoa học và công nghệ của nước ta chưa lớn mạnh; đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của nước ta còn thiếu và bất hợp lý về cơ cấu ngành nghề, phân bố lực lượng, gần đây hiện tượng chảy máu chất xám có xu hướng tăng; cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động khoa học và công nghệ còn yếu kém và lạc hậu Số đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu nhiều, nhưng tỷ lệ ứng dụng vào cuộc sống còn rất thấp, nhiều sản phẩm khoa học và công nghệ không được thương mại hóa, không được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ…

- Năm, nguồn lực văn hóa vật thể và phi vật thể: Đây được coi là nguồn lực lớn và hết sức quý giá Chúng ta có các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, có hàng nghìn di tích cấp quốc gia, có hàng trăm lễ hội truyền thống, lễ hộ văn hóa, sinh hoạt văn hóa… Dân tộc ta có nhiều truyền thống tốt đẹp, nhân dân ta có lòng

Trang 5

5

yêu nước, năng lực lãnh đạo của Đảng và quản lý của Chính phủ được thử thách qua thực tiễn cách mạng Việt Nam Đây là những yếu tố đặc biệt quan trọng đóng góp cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tuy nhiên, không ít nguồn lực văn hóa đã bị mai một, mất dần bản sắc tốt đẹp vốn có, một số không được phát huy hoặc bị thương mại hóa quá mức, làm mất giá trị giáo dục tinh thần cho người dân Việt Nam Nói cách khác, các nguồn lực này chưa được phát huy thỏa đáng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

hễ có tiền là đưa vào đầu tư phát triển kinh tế chứ không phải cất giấu, tích trữ hoặc tiêu xài lãng phí Đây là việc khó, song chúng ta hoàn toàn có thể làm được nếu chúng ta có chính sách phù hợp

Một yêu cầu đặc biệt quan trọng của phát huy nội lực là phải có sự phân bổ hợp lý các nguồn lực, tức là phải vừa đảm bảo cho nền kinh tế phát triển toàn diện các ngành, các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, song lại vừa có ưu tiên thỏa đáng cho những ngành, lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng sâu rộng đối với

cả nước, có khả năng tạo ra sự phát triển đột phá cho nền kinh tế Phân bổ các nguồn lực phải tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đều có thể tiếp cận các nguồn lực một cách bình đẳng, trên cơ sở đó từng thành phần có thể đóng góp hết khả năng của mình cho sự phát triển chung của đất nước Phân bổ các nguồn lực cần có sự hợp lý giữa các vùng, tức là vừa tạo ra được những vùng kinh tế trọng điểm, có sức mạnh kinh tế lớn, có thể thu hút, lôi kéo, hỗ trợ các vùng khác phát triển, lại vừa quan tâm đúng mức đến các vùng kém phát triển, vùng núi cao,

Trang 6

6

vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo, bảo đảm sự phát triển tương đối đồng đều giữa các vùng trong cả nước Phân bổ các nguồn lực cần hợp lý giữa lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội, sao cho kinh tế và xã hội thường xuyên tạo điều kiện cho nhau, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển một cách bền vững

Về sử dụng các nguồn nội lực, trước hết phải sử dụng một cách đầy đủ, có nghĩa là, một mặt có những nguồn lực nào có thể làm cho nền kinh tế nước nhà phát triển thì chúng ta cố gắng sử dụng hết, mặt khác phải cố gắng sử dụng tối đa từng nguồn lực Cùng với sử dụng đầy đủ, cần sử dụng tiết kiệm các nguồn lực, đặt tiết kiệm là quốc sách hàng đầu trong nhiều năm nữa Một yêu cầu đặc biệt quan trọng là cần sử dụng có hiệu quả các nguồn nội lực Vấn đề hiệu quả cần được đặt ra một cách nghiêm túc hơn và làm quyết liệt hơn Tư tưởng sử dụng hiệu quả các nguồn lực phải được quán triệt sâu sắc đến từng cơ quan của Đảng

và Nhà nước ở mọi cấp, từng doanh nghiệp và từng người dân Chỉ khi nào chúng

ta chắt chiu đối với từng nguồn lực và sử dụng hiệu quả nó, chúng ta mới có thể đạt được sự phát triển nhanh, sớm theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới

1.3 Tầm quan trọng và yêu cầu của thị trường nội địa

Thị trường nội địa với hơn 86 triệu dân có thu nhập bình quân đầu người khoảng 17 triệu đồng/năm là một thị trường lớn và đang tiếp tục phát triển nhanh chóng Trong những năm qua, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ (quy mô thị trường nội địa) tăng nhanh hơn mức tăng trưởng GDP Cụ thể, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 10 năm (1997- 2007), tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ theo giá thực tế đã tăng 352,01% (năm 2007 gấp 4,52 lần năm 1997, 731.810 tỷ đồng/161.900 tỷ đồng), trong khi đó GDP chỉ tăng 264,77% (năm

2007 gấp 3,65 lần năm 1997, 1.144.015 tỷ đồng/313.623 tỷ đồng) Điều này chứng tỏ thị trường nội địa thực sự là “đầu kéo” của nền kinh tế, đóng góp phần quan trọng vào tăng trưởng

Với sức hấp dẫn của thị trường nội địa Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có nhiều tập đoàn xuyên quốc gia, đã và đang rất quan tâm khai thác, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO và thực hiện mở cửa dịch vụ phân phối theo cam kết trong khuôn khổ hội nhập này Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam lại chưa quan tâm đúng mức đến việc chiếm lĩnh khu vực thị trường nội địa Lâu nay, trên nhiều lĩnh vực, hình bóng các doanh nghiệp trong

Trang 7

7

nước trên thị trường nội địa vẫn khá nhạt nhòa Sức cạnh tranh – không nhất thiết

về chất lượng – hơn hẳn về nhiều mặt của hàng ngoại, cộng thêm tâm lý xem thường hàng nội địa đi vào định kiến của không ít người tiêu dùng, càng khiến các sản phẩm nội bị chất thêm lực cản khi muốn vượt lên chính mình

Bởi vậy, mở rộng thị trường nội địa, tăng cường nội tiêu (trong cả sản xuất

và tiêu dùng) không chỉ là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh thị trường xuất khẩu

bị thu hẹp, mà phải là hướng phát triển quan trọng trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Thị trường nội địa còn là điểm tựa để các doanh nghiệp nước ta vươn lên trong cạnh tranh, nơi các doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế hơn so với thị trường nước ngoài Phải quán triệt quan điểm: thị trường trong nước là cơ sở, thị trường nước ngoài là quan trọng trong chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp Cần có chính sách thích hợp để các doanh nghiệp Việt Nam phát triển nhanh, bền vững trong cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế

2 Tranh thủ ngoại lực

2.1 Các nguồn ngoại lực

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các nguồn ngoại lực có thể được huy động cho phát triển đất nước là hết sức phong phú, đa dạng Trong đó có một số nguồn lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đã và đang có những đóng góp to lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, đó là các nguồn lực về vốn, tri thức và khoa học – công nghệ

Nguồn vốn được đánh giá là quan trọng nhất, trong đó nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm phần lớn Trong giai đoạn 2000-2006, tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội luôn dao động trong khoảng 14-18%, tuy nhiên trong hai năm vừa qua con số này đã gia tăng đột biến, tương ứng là 24,3% và 31,4% trong các năm 2007 và 2008 Trong 6 tháng đầu năm 2009, tỷ trọng vốn FDI vẫn chiếm 22% trong tổng số 322,6 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư toàn

xã hội Rõ ràng nguồn vốn này đã bổ sung hữu hiệu cho các nguồn vốn trong nước trong bối cảnh nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Trong thời gian tới, nhiều dự báo cho rằng vốn FDI tục tăng do Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 8

8

Bên cạnh FDI, các nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) cũng đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Nếu như tính đến cuối năm 2006, số vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam đạt khoảng 2 tỷ USD, thì đến cuối năm 2007 con số này đã tăng lên gần 4 tỷ USD và cuối năm 2008 đạt tới 7,4 tỷ USD Xu hướng dòng vốn này đổ vào Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng Nguồn FII giúp cho nền kinh tế tăng tỷ lệ đầu tư mà không cần dựa hoàn toàn vào nguồn tiết kiệm trong nước; các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp cận với nguồn tiết kiệm nước ngoài, tận dụng nguồn vốn này để đầu tư, giảm bớt áp lực vốn trong quá trình mở rộng sản xuất, kinh doanh, giảm chi phí vay vốn Nguồn vốn này cũng góp phần tăng cường cơ hội và đa dạng hóa phương thức đầu tư, phát triển thị trường tài chính nói riêng, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường ở Việt Nam nói chung

Nguồn vốn quan trọng tiếp theo từ bên ngoài là nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Nguồn vốn này trong những năm qua liên tục gia tăng và góp một phần quan trọng vào tổng đầu tư toàn xã hội Tính trong giai đoạn 3 năm (2006-2008), tổng vốn ODA đã ký đạt 11,07 tỷ USD, trong đó lượng vốn đã giải ngân đạt 6,213 tỷ USD, chiếm 12-13% tổng đầu tư toàn xã hội Vốn ODA đã đóng góp to lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là phát triển kết cấu hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, phát triển năng lượng và công nghiệp, phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ… Điều quan trọng là cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế vẫn tiếp tục thể hiện sự cam kết cao và sự ủng

hộ mạnh mẽ trong việc hỗ trợ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam (năm 2009, tổng giá trị vốn ODA cam kết đạt 5,914 tỷ USD) Có nghĩa là nguồn vốn ODA tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong những năm tới

Một nguồn lực tài chính quan trọng nữa cần phải kể đến là nguồn kiều hối gửi về nước hàng năm Hiện có khoảng 3 triệu Việt kiều đang sinh sống ở khoảng

40 nước, chủ yếu là các nước có nền kinh tế phát triển, có thu nhập cao và hầu hết

bà con các thế hệ vẫn giữ được truyền thống yêu quê hương, đất nước Lượng kiều hối gửi về nước trong những năm qua không ngừng tăng nhanh: năm 2005 đạt gần 4 tỷ USD, năm 2006 tăng lên 5,2 tỷ USD, và các năm 2007, 2008 tăng lên tương ứng là 6,7 và 8 tỷ USD Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam hiện nằm trong top 10 nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới Nguồn kiều hối không chỉ

Trang 9

Hiện nay, trong số hơn 3 triệu Việt kiều đang sinh sống ở khắp các châu lục có khoảng hơn 300 nghìn nhà khoa học, trong đó có nhiều người luôn sẵn sàng phục vụ đất nước Đây là nguồn tri thức, khoa học và công nghệ vô cùng quý giá, có thể được huy động cho công cuộc phát triển đất nước

2.2 Tranh thủ ngoại lực

Tạo môi trường pháp lý thuận lợi, cải thiện môi trường đầu tư, kết hợp hài hòa giữa chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại là cách để khơi thông nguồn ngoại lực từ bên ngoài, góp phần nhân lên sức mạnh của nguồn nội lực phục vụ cho chiến lược phát triển đất nước

Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới gặp nhiều khó khăn, trong khi

đó chúng ta có những lợi thế cơ bản, cần tranh thủ cơ hội này để tăng cường thu hút các nguồn ngoại lực Tuy nhiên, trong quá trình thu hút các nguồn ngoại lực, cần có định hướng đúng, có nghĩa là các nguồn ngoại lực có đóng góp hữu hiệu nhất cho công cuộc phát triển đất nước Chẳng hạn, trong lĩnh vực FDI, trong thời gian tới cần quan tâm nhiều đến những đối tác có tiềm lực về vốn và công nghệ (Bảng 1)

Trang 10

10

Bảng 1 Một số đối tác thu hút FDI mục tiêu

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Bên cạnh việc định hướng đúng trong thu hút các nguồn ngoại lực, cần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này, đặc biệt là nguồn ODA Tính hiệu quả của nguồn vốn FDI là do doanh nghiệp và thị trường quyết định, còn nguồn ODA phần lớn là vốn đi vay, nếu sử dụng không có hiệu quả sẽ tạo gánh nặng nợ phải trả cho các thế hệ mai sau

2.3 Quan hệ giữa phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta coi “Nội lực là quyết định, ngoại lực

là quan trọng, gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước

là đúng đắn

Gần đây, có một số ý kiến cho rằng cần xem xét lại quan điểm về mối quan

hệ giữa phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực, rằng cách đúng nhất đối với Việt Nam hiện nay là huy động tối đa nguồn lực để phát triển kinh tế, không phân biệt

đó là nội lực hay ngoại lực Tuy nhiên, kể từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính

và suy thoái kinh tế toàn cầu với những ảnh hưởng nặng nề, nhất là đối với những nước lệ thuộc nhiều vào các nguồn lực bên ngoài, khiến cho nhiều nước phải nhìn nhận lại tầm quan trọng của các nguồn nội lực, đặc biệt là thị trường nội địa Xu thế “hướng nội”, thể hiện dưới những hình thức khác nhau, đã và đang xuất hiện

ở nhiều nước Có thể nói rằng các nguồn nội lực vẫn đóng vai trò quyết định

Nguồn ngoại lực đóng vai trò quan trọng, tuy nhiên, muốn khai thác, tiếp thu ngoại lực, thì nội lực phải mạnh Nói cách khác, nếu không chuẩn bị tốt bên trong, thì ngoại lực dù có mạnh, có nhiều đến đâu, cũng không phát huy được tác dụng, chưa nói là có thể tác động ngược lại

Trang 11

11

Một yêu cầu hết sức quan trọng nữa trong giải quyết mối quan hệ giữa phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực là phải nội sinh hoá ngoại lực và hiện đại hoá nội lực, có thể hiểu là việc tiếp thu và chuyển hoá ngoại lực thành nội lực, làm cho nội lực được phát huy, ngày càng được tăng cường và phát triển Muốn vậy, đầu tư phát triển con người, chăm lo giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng nhân cách, nâng cao mặt bằng dân trí, phát triển nhân lực, khoa học và công nghệ, giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc,… chính là điều kiện để đảm bảo nội sinh hoá ngoại lực và hiện đại hoá nội lực, phát triển đất nước

B KHÁI QUÁT THỰC TIỄN VỀ PHÁT HUY NỘI LỰC, KẾT HỢP GIỮA NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát huy nội lực, kết hợp giữa nội lực và ngoại lực trong phát triển đất nước

“Phát huy nội lực” là một chủ trương lớn của Đảng ta trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chủ trương này đã được khẳng định trong các văn kiện quan trọng của Đảng và được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Nội dung có tính xuyên suốt là Đảng và Nhà nước ta luôn coi các nguồn lực trong nước đóng vai trò quyết định, các nguồn lực bên ngoài đóng vai trò quan trọng, và sự kết hợp giữa hai loại nguồn lực này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển đất nước

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII đã nêu rõ: “Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại

Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài”1

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định: “Tập trung tháo gỡ

mọi vướng mắc, xóa bỏ mọi trở lực để khơi dậy nguồn lực to lớn trong dân, cổ vũ các nhà kinh doanh và mọi người dân ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút tốt hơn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”2

Tại Đại hội Đảng lần thứ X, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, khi kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, XNB

Chính trị Quốc gia, tr 84.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, XNB

Chính trị Quốc gia, tr 165-166.

Trang 12

12

Đảng và nhìn lại 20 năm đổi mới, đã rút ra một trong những bài học lớn là: “Phát

huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới Phát huy nội lực, xem đó là nhân

tố quyết định đối với sự phát triển; đồng thời coi trọng huy động các nguồn ngoại lực, thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực mạnh hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước nhanh và bền vững, trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa

Cụ thể hóa những chủ trương nêu trên, trong những năm qua Nhà nước ta

đã ban hành và thực hiện nhiều văn bản pháp luật nhằm khơi dậy các nguồn lực trong nước (bao gồm: nguồn lực con người, nguồn lực đất đai và tài nguyên, nguồn lực vốn tài chính, nguồn lực khoa học và công nghệ, nguồn lực văn hóa, sức mạnh trí tuệ, sức mạnh của nhân tố lãnh đạo ) cho công cuộc phát triển đất nước Xét khái quát, các văn bản pháp luật tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và phát triển mạnh mẽ các loại hình doanh nghiệp của tư nhân, các loại hình kinh tế hợp tác, các hộ kinh doanh cá thể; đồng thời tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả

và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước

- Thứ hai, phát triển đồng bộ và tạo sự vận hành thông suốt các loại thị trường, bao gồm: thị trường hàng hóa, dịch vụ; thị trường tài chính; thị trường bất động sản; thị trường lao động; thị trường khoa học và công nghệ

- Thứ ba, chính sách thuế được đổi mới và từng bước hoàn thiện theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ, bảo đảm môi trường thuận lợi, khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh Chính sách phân phối tài chính được đổi mới theo hướng kết hợp nguồn lực nhà nước với các nguồn lực khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước đã từng bước xóa bỏ tình trạng bao cấp đối với sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước

- Thứ tư, chính sách tiền tệ và tín dụng được thực hiện linh hoạt, theo nguyên tắc thị trường nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an ninh hệ thống các ngân hàng và tổ chức tín dụng Đã kết hợp tương đối tốt chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa để ổn định kinh tế vĩ mô, khuyến khích doanh nghiệp và nhân dân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh

- Thứ năm, đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình xây dựng, thông qua

và phê duyệt, triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

Trang 13

- Thứ bẩy, thực hiện chính sách chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc

tế, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế, hội nhập ngày càng toàn diện và sâu rộng mà bước ngoặt quan trọng là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), góp phần huy động các nguồn ngoại lực và kết hợp có hiệu quả giữa các nguồn nội lực và ngoại lực phục vụ mục tiêu phát triển đất nước

Trong thời gian gần đây, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, Chính phủ, các cấp, các ngành lại càng đề cao các nguồn nội lực Trong đó, việc khai thác mạnh thị trường nội địa được coi là giải pháp quan trọng để nền kinh tế vượt qua khó khăn, thách thức Do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp đáng kể, các doanh nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa, cho nên việc đẩy mạnh khai thác thị trường tiêu thụ trong nước giúp giải tỏa những khó khăn này Nhiều ý kiến cho rằng, đây là cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành tái cấu trúc thị trường, mở rộng thị trường trong nước, giảm bớt phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu Trong thông điệp đầu năm 2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Mở

rộng thị trường nội địa, tăng cường nội tiêu (với cả sản xuất và tiêu dùng) không chỉ là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, mà phải

là hướng phát triển quan trọng trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Thị trường nội địa còn là điểm tựa để các doanh nghiệp nước ta vươn lên trong cạnh tranh, nơi các doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế hơn so với thị trường nước ngoài Phải quán triệt quan điểm: thị trường trong nước là cơ sở, thị trường nước ngoài là quan trọng trong chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp Cần có chính sách

Trang 14

mở rộng và khai thác thị trường nội địa Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp cũng thay đổi chiến lược sản xuất, kinh doanh nhằm tiếp cận với thị trường nội địa

Trước thách thức và cơ hội phát triển đất nước trước mắt cũng như lâu dài,

có thể nói rằng phương châm cơ bản của chúng ta vẫn là: Ra sức phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, coi nội lực là yếu tố quyết định, ngoại lực là quan trọng kết hợp nội lực và ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp để đưa đất nước tiến lên

2 Khái quát tình hình thực hiện chủ trương, chính sách về phát huy nội lực, kết hợp giữa nội lực và ngoại lực trong thời gian qua

2.1 Những thành tựu nổi bật

2.1.1 Phát huy nguồn lực con người

Việt Nam là nước có dân số trẻ, có nguồn nhân lực dồi dào, là lợi thế quan trọng trong quá trình phát triển đất nước Nhờ thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nên lực lượng lao động được thu hút tham gia vào các hoạt động kinh tế ngày càng tăng, năng suất lao động có được cải thiện và cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực (xem các Bảng 2, 3 và 4)

Bảng 2 Lực lượng lao động tham gia các hoạt động kinh tế, 2000-2008

3 Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng: “Phát huy sức mạnh tổng

hợp, nỗ lực phấn đấu ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội”, Báo điện tử Vietnamnet.vn, ngày 02/01/2009.

Trang 15

15

Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả

Số liệu của Bảng 2 cho thấy lực lượng lao động tham gia các hoạt động kinh tế của Việt Nam tăng lên liên tục, tính theo cả số lượng tuyệt đối và tỷ lệ tương đối so với tổng dân số

Bảng 3 Năng suất lao động xã hội, 2000-2008

Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả

Số liệu của Bảng 3 cho thấy năng suất lao động xã hội tăng liên tục, đặc biệt là năm 2008 tốc độ tăng năng suất lao động đạt tới 27%

Bảng 4 Cơ cấu lao động làm việc theo ngành kinh tế, 2000-2008

Đơn vị tính: %

và thủy sản

Công nghiệp và xây dựng

Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả

Sự chuyển dịch tích cực của cơ cấu lao động theo ngành kinh tế được thể hiện rất rõ tại Bảng 4, khi tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành nông – lâm

Trang 16

2.1.2 Phát huy nguồn lực đất đai và tài nguyên thiên nhiên

Theo Hiến pháp Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước giao đất cho người dân để sử dụng ổn định, lâu dài với các quyền: chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, chuyển đổi, cho tặng và góp vốn để liên doanh, liên kết Cùng với sự đổi mới pháp luật về đất đai và chính sách quản lý đất đai, hệ thống chính sách tài chính về đất đai cũng được hình thành và tưng bước hoàn thiện Nhờ vậy, đất đai ở nước ta dần dần đã trở lại vị trí đích thực của nó Giá trị của đất không ngừng tăng lên, sự biến động của các loại đất ngày càng theo xu hướng tiến bộ, hiện đại, phù hợp với xu thế chung của sự phát triển

Trang 17

17

Số liệu Bảng 5 cho thấy diện tích của các loại đất có mục đích sử dụng đều tăng lên Việc huy động nguồn lực đất đai được thực hiện theo một số hình thức chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất, người dân tìm mọi cách để đầu tư khai hoang, mở rộng thêm diện tích đất nông, lâm nghiệp, diện tích mặt nước, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tạo việc làm và thu nhập

- Thứ hai, người nông dân đã dần từ bỏ phương thức canh tác theo kiểu quảng canh, bóc lột độ màu mỡ của đất đai, để tăng cường thâm canh, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong canh tác, nâng cao độ màu mỡ của đất đai và nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi

- Thứ ba, trong những năm gần đây, ở nhiều địa phương trên cả nước, đã có

sự dịch chuyển mạnh đất đai từ mục đích sử dụng nông nghiệp sang mục đích sử dụng phi nông nghiệp, nhất là khu công nghiệp và khu đô thị, nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa của đất nước

Ngoài nguồn lực về đất đai, các nguồn tài nguyên khác như tài nguyên rừng, tài nguyên biển, các loại khoáng sản cũng được quan tâm khai thác, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

2.1.3 Phát huy nguồn lực vốn tài chính

Nhờ thực hiện các chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển đầu tư, kinh doanh, nhất là kể từ khi thực hiện Luật Doanh nghiệp 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2005) và Luật Đầu tư 2005, nên nguồn lực về vốn được huy động cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội không ngừng tăng lên, từ 34,2% GDP năm 2000 lên 41,3% năm 2008 Trong đó, nguồn vốn trong nước tăng khá nhanh và chiếm phần lớn trong tổng vốn đầu tư, bình quân trên 80% (xem các Bảng 6 và 7)

Bảng 6 Tổng vốn đầu tư xã hội, 2000-2008

Đơn vị tính: Nghìn tỷ đồng

nhà nước

Kinh tế ngoài nhà nước

Khu vực

có vốn ĐTNN

Tỷ trọng tổng vốn đầu tư trên GDP (%)

Trang 18

Bảng 7 Cơ cấu vốn đầu tư xã hội, 2000-2008

Đơn vị tính: %

nhà nước

Kinh tế ngoài nhà nước

Khu vực

có vốn ĐTNN

Ngày đăng: 23/01/2021, 11:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). V ă n ki ệ n đạ i h ộ i đạ i bi ể u toàn qu ố c lần thứ X. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
4. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (cb) (2009). V ượ t thách th ứ c, m ở th ờ i cơ phát triển bền vững. NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ượ"t thách th"ứ"c, m"ở" th"ờ"i c"ơ" phát tri"ể"n b"ề"n v"ữ"ng
Tác giả: Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (cb)
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2009
5. Đoàn Văn Khái (2005). Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngu"ồ"n l"ự"c con ng"ườ"i trong quá trình công nghi"ệ"p hóa, hi"ệ"n "đạ"i hóa "ở" Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Đoàn Văn Khái
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2005
6. Lê Du Phong (cb) (2006). Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh t ế th ị tr ườ ng đị nh h ướ ng xã h ộ i ch ủ ngh ĩ a ở Vi ệ t Nam. NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngu"ồ"n l"ự"c và "độ"ng l"ự"c phát tri"ể"n trong n"ề"n kinh t"ế" th"ị" tr"ườ"ng "đị"nh h"ướ"ng xã h"ộ"i ch"ủ" ngh"ĩ"a "ở" Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Lê Du Phong (cb)
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
7. NCEIF (2008). “Một số vấn đề về nguồn nhân lực ở Việt Nam thời kỳ hậu gia nhập WTO”. Tuần tin Kinh tế - Xã hội, số 17, tháng 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nguồn nhân lực ở Việt Nam thời kỳ hậu gia nhập WTO
Tác giả: NCEIF
Năm: 2008
8. Nguyễn Mại (2009). “Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và FDI tại Việt Nam”. Tạp chí TT&DB Kinh tế - Xã hội, số 41, tháng 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và FDI tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mại
Năm: 2009
9. Nguyễn Minh Phong (2006). “Đầu tư gián tiếp nước ngoài: Tác động hai mặt và những lựa chọn chính sách cần thiết cho Việt Nam”. Tạp chí Tài chính, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư gián tiếp nước ngoài: Tác động hai mặt và những lựa chọn chính sách cần thiết cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Phong
Năm: 2006
10. Tổng cục Thống kê (2009). Niên giám th ố ng kê 2008. NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám th"ố"ng kê 2008
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w