XUẤT, NHẬP KHẨU TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI NGÀY NAY Xuất, nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là hoạt động kinh tế thương mại
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU
-
MỤC LỤC
I XUẤT, NHẬP KHẨU TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN CỦA CÁC
QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI NGÀY NAY
1.Vai trò của xuất, nhập khẩu trong phát triển kinh tế- xã hội
1.1 Vai trò của xuất khẩu
1.2.Vai trò của nhập khẩu
2.Tình hình xuất, nhập khẩu trên thế giới trong những năm gần đây
3.Chính sách và kinh nghiệm xuất, nhập khẩu của một số nước
3.1 Chính sách và kinh nghiệm về định hướng xuất khẩu của một số nước châu Á
3.2 Kinh nghiệm về quản lý nhập khẩu
4 Bài học rút ra cho Việt Nam
II TÌNH HÌNH XUẤT, NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG
III KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
1 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu
2.Giải pháp chấn chỉnh cơ cấu nhập khẩu, chống nhập siêu quá lớn và sử dụng hàng nhập có hiệu quả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XUẤT, NHẬP KHẨU:
TĂNG MẠNH XUẤT KHẨU, GIẢM MẠNH NHẬP SIÊU
I XUẤT, NHẬP KHẨU TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN CỦA CÁC
QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI NGÀY NAY
Xuất, nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế,
là hoạt động kinh tế thương mại với nước ngoài do những tổ chức hoặc cá nhân tiến hành nhằm đem lại những lợi ích kinh tế trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của mỗi nước Xuất, nhập khẩu không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nước nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi
cơ cấu kinh tế, ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân
Xuất, nhập khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại hiệu quả đột biến, nhưng cũng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hoặc một số hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước tham gia xuất, nhập khẩu không dễ dàng hiểu biết và cạnh tranh được Khi tham gia thương mại quốc
tế, các nước đều có xu hướng chuyên môn hóa các sản phẩm mà mình có điều kiện sản xuất thuận lợi nhất hoặc thuận lợi hơn để nhờ đó có thể giảm giá bán sản phẩm, tạo lợi thế về chi phí so với các nước khác Nghĩa là các nước chỉ nên nhập khẩu những sản phẩm mà trong nước không có điều kiện sản xuất hoặc hiệu quả thấp và xuất khẩu những sản phẩm có điều kiện sản xuất thuận lợi, hiệu quả cao
1.Vai trò của xuất, nhập khẩu trong phát triển kinh tế- xã hội
Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế thông qua tự do hoá thương mại đã đem lại những kết quả khả quan cho mọi nền kinh tế trên thế giới, trong đó hoạt động xuất, nhập khẩu đã thể hiện được vai trò quan trọng phục vụ
có hiệu quả phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ, thúc đẩy nâng cao chất lượng
và sức cạnh tranh của hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Tự do hóa thương mại vừa mở rộng quy mô xuất khẩu của mỗi quốc gia, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhập khẩu, mở cửa cho hàng hóa và dịch vụ quốc tế mà nước mình mong muốn thâm nhập vào thị trường nội địa dễ dàng hơn
Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, sự mở cửa thương mại quốc tế thông qua tự do hoá có thể mang lại lợi ích kinh tế tổng thể; bởi lẽ sự gia tăng cạnh tranh nhập khẩu giảm được chính sách độc quyền Xuất, nhập khẩu trên thế giới được điều chỉnh rất mạnh bởi sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của các quốc gia Toàn cầu hoá làm cho thị trường được mở rộng, cho phép các doanh nghiệp đẩy mạnh được hoạt động xuất, nhập khẩu của mình; về mặt
Trang 3sản phẩm, sự đa dạng hoá sản phẩm hàng hoá (kể cả về chất lượng) được thực hiện thông qua tự do hoá xuất, nhập khẩu dẫn tới sự nâng cao năng suất lao động
và cuối cùng, cơ hội cho xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ngày càng tăng, nhất là ở các nước đang phát triển khi họ có thể tạo dựng được các ngành dịch vụ có năng suất lao động cao nhờ chi phí trả lương thấp hơn Bên cạnh đó, về dài hạn, các nước đang phát triển có thể hình thành các cao trào đầu tư vào xuất khẩu mới thông qua mô phỏng hàng hoá nhập khẩu Nhờ hội nhập vào xu thế tự do hoá thương mại, các doanh nghiệp của các nước nhỏ có thể đạt được mục tiêu sản lượng và hiệu quả kinh doanh thông qua việc xuất khẩu sản phẩm của mình ở nước ngoài
1.1 Vai trò của xuất khẩu
Cùng với chiến lược hội nhập và phát triển, thương mại quốc tế là một bộ phận quan trọng, gắn liền với tiến trình hội nhập và có vai trò quyết định đến lợi thế của một quốc gia trên thị trường khu vực và thế giới Vì vậy, việc đẩy mạnh giao lưu thương mại quốc tế nói chung và thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ nói riêng là mục tiêu phát triển kinh tế hàng đầu của các quốc gia Xuất khẩu là cơ
sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại, tăng cường địa vị kinh
tế của mỗi quốc gia trên thị trường thế giới Xuất khẩu tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng được lợi thế so sánh của mình Sức cạnh tranh của hàng hóa được nâng cao, tăng trưởng kinh tế trở nên ổn định và bền vững hơn nhờ các nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả hơn Quá trình này cũng tạo ra cơ hội lớn cho tất
cả các nước, nhất là các nước đang phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa trên cơ
sở ứng dụng thành quả của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ
Trong mối quan hệ với nhập khẩu, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu công nghệ, máy móc và những nguyên, vật liệu cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá (CNH-HĐH) Hoạt động xuất khẩu kích thích các ngành kinh tế phát triển, góp phần tăng tích lũy vốn, mở rộng sản xuất, tăng thu nhập cho nền kinh tế, cải thiện mức sống của các tầng lớp dân cư Ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu là nguồn tăng dự trữ ngoại tệ Thực tế cho thấy rằng, lượng ngoại tệ dự trữ dồi dào là điều kiện cần thiết để giúp cho quá trình ổn định đồng tiền nội tệ và chống lạm phát
Không những đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu còn tạo ra những thay đổi quan trọng đối với sản xuất trong nước Xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất sản phẩm mới cần Coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất nhằm xuất khẩu những gì mà thị trường thế giới cần Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất sản phẩm, do các ngành sản xuất hàng xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi Ví dụ, phát triển ngành dệt xuất khẩu tạo cơ hội cho việc phát triển ngành sản xuất
Trang 4bông, hay thuốc nhuộm Bên cạnh đó, xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước; bởi vì xuất khẩu là phương tiện quan trọng đưa nguồn vốn và kỹ thuật công nghệ từ thế giới bên ngoài vào nhằm hiện đại hóa nền kinh tế nội địa để tạo ra năng lực sản xuất mới Thông qua xuất khẩu, hàng hóa nội địa tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi sản xuất nội địa phải được tổ chức lại, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích ứng được với những thay đổi của thị trường
Một vai trò không kém phần quan trọng là xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người dân Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm nhiều mặt Trước hết, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc với thu nhập cao Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục
vụ đời sống và đáp ứng ngày càng phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Đồng thời xuất khẩu tác động tích cực đến trình độ tay nghề của người sản xuất hàng xuất khẩu
1.2.Vai trò của nhập khẩu
Nhập khẩu là hiện tượng di chuyển hàng hoá từ thị trường thế giới vào thị trường nội địa của một nước Để lựa chọn nhập khẩu được hàng hoá có chất lượng cao, giá cả hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân, các quốc gia và doanh nghiệp phải mở rộng giao dịch với đối tác ở nhiều nước khác nhau Cùng với xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu chính là cơ sở quan trọng để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của một nước, là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng Nhập khẩu hướng vào mục tiêu chủ yếu là phục vụ chiến lược phát triển xuất khẩu và đáp ứng yêu cầu thiết yếu của sản xuất, tiêu dùng trong nước Thị trường nhập khẩu mở rộng, chất lượng hàng nhập khẩu được nâng cao góp phần đổi mới trang, thiết bị kỹ thuật và quy trình sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ nói chung, từ đó thúc đẩy xuất khẩu phát triển Như vậy, cơ cấu hàng nhập khẩu cần được kiểm soát theo hướng ưu tiên phục vụ sản xuất để xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu trong nước
2.Tình hình xuất, nhập khẩu trên thế giới trong những năm gần đây
- Năm 2004: Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tổng giá trị thương
mại hàng hóa thế giới ước tăng 11,1 % trong năm 2004, tăng 4,4 điểm phần trăm
so với năm 2003 Kim ngạch sản xuất của các nước công nghiệp tăng 8,1% Một điều đáng lưu ý là các nước đang phát triển ở châu Á tiếp tục có tốc độ tăng trưởng thương mại cao hơn nhiều so với mức chung của thế giới, với kim ngạch xuất khẩu tăng tới 16% Cũng trong năm này, do tăng trưởng kinh tế rất cao,
Trang 5Trung Quốc đã trở thành nhà nhập khẩu và tiêu dùng lớn nhất thế giới đối với nhiều mặt hàng như dầu thực vật, đỗ tương, cao su, năng lượng, dịch vụ vận tải biển và các dịch vụ liên quan Đây chính là một điều kiện thuận lợi để các nước châu Á và Đông Nam Á đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc
- Năm 2005: Một điểm đáng lưu ý trong năm 2005 là sự sụt giảm rất đáng
kể tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế Tổng kim ngạch thương mại hàng hóa thế giới chỉ tăng khoảng 7,0%, giảm tới 3,3 điểm phần trăm so với năm 2004 Tốc
độ tăng trưởng kim ngạch xuất, nhập khẩu của các nước phát triển tương ứng đạt 5,0 và 5,4, giảm 3,3 và 3,4 điểm phần trăm so với năm 2004 Thương mại của các nước đang phát triển cũng tăng trưởng chậm lại (xuất khẩu tăng 10,4% và nhập khẩu tăng 13,5% so với mức 14,5% và 16,4% năm 2004) Giá dầu và giá một số nguyên liệu đầu vào tăng cao, sự suy thoái theo chu kỳ sản xuất của ngành điện
tử, thiết bị thông tin và viễn thông, chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng quay lại tại các nước phát triển được coi là những nhân tố chủ yếu làm giảm tăng trưởng thương mại thế giới Trong năm 2005, nhu cầu nhập khẩu cao của Trung Quốc vẫn là động lực chính cho thương mại thế giới với tốc độ tăng trưởng là 25,2%
- Năm 2006: Năm 2006 chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của thương mại quốc tế Theo tính toán của IMF, trong năm 2006, tăng trưởng thương mại thế giới đã tăng ở mức 9,2% Tăng trưởng thương mại hàng hóa chủ yếu bắt nguồn từ một số ít nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ Đáng chú ý là thương mại hàng hóa của khối nước đang phát triển (kể cả khi không tính Trung Quốc, cũng đạt mức tăng trưởng nhanh hơn so với năm 2005) Trong năm
2006, nỗ lực thúc đẩy phát triển thương mại quốc tế tiếp tục diễn ra khá sôi động
ở cả cấp độ khu vực và song phương Một điều đáng chú ý trong thương mại quốc
tế năm 2006 là tình trạng thâm hụt thương mại giữa Hoa Kỳ và các nền kinh tế lớn khác như Trung Quốc, EU Tính đến hết tháng 10/2006, thâm hụt thương mại hàng hóa của Hoa Kỳ là khoảng 693 tỷ USD, tăng gần 9,7% so với cùng kỳ năm
2005
- Năm 2007 Đây là năm có nhiều biến động đáng lo ngại trên thị trường tài chính toàn cầu: giá cả leo thang, thị trường bất động sản của Hoa Kỳ khủng hoảng và đồng USD tiếp tục suy yếu Trong bối cảnh có nhiều diễn biến bất lợi như vậy, kinh tế thế giới năm 2007 vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao Theo số liệu của Liên Hiệp quốc (2008), với xuất khẩu là động lực tăng trưởng chính, kinh tế Đông Á năm 2007 đạt mức tăng trưởng cao khoảng 8,4% Riêng Trung Quốc đạt được tỷ lệ tăng trưởng khoảng 11,4% chủ yếu do duy trì được nhịp độ đầu tư và xuất khẩu cao
Thương mại thế giới trong năm 2007 cũng đã đạt được mức tăng trưởng khá, khoảng 6,8% theo tính toán của IMF hoặc 8,7% theo con số của Ngân hàng Thế giới Châu Á vẫn tiếp tục dẫn đầu trong tăng trưởng của thương mại thế giới
Trang 6(từ năm 2001) Năm 2007, châu Á đóng góp 40% vào tăng trưởng thương mại toàn cầu so với mức 45% của các nước phát triển Tuy nhiên, tăng trưởng thương mại thế giới năm 2007 đã chậm lại, chủ yếu do mức tăng cầu nhập khẩu của các nước phát triển giảm đáng kể, từ 7,4% xuống 4,2% năm 2007, trong khi đó, theo IMF, xuất khẩu của khối nước này cũng giảm tới 2,4 điểm phần trăm
Đối với khu vực Euzone (khu vực sử dụng đồng euro), trong những năm gần đây, mức nhập khẩu lương thực và năng lượng ở khu vực này tăng mạnh Riêng trong 6 tháng đầu năm 2008, kim ngạch nhập khẩu năng lượng, chủ yếu là dầu mỏ và khí đốt tự nhiên từ Trung đông và Nga đã tăng 41% lên 91,8 tỷ euro (142 tỷ USD) Theo các quan chức của EU, đồng euro mạnh lên khiến kim ngạch xuất khẩu của châu Âu sang Hoa Kỳ giảm 3%, trong khi kim ngạch xuất khẩu của các quốc gia Euzone sang Trung Quốc và Nga lại tăng mạnh, đạt lần lượt là 16%
và 21% Trong khi đó, đồng bảng Anh giảm giá so với đồng euro khiến cho hàng hóa của Anh trở nên “hợp lý” hơn đối với người dân khu vực Euzone, đưa Anh trở thành đối thủ của Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh trở thành nguồn nhập khẩu lớn nhất của khu vực này
Bảng 1: Tăng trưởng thương mại thế giới 2004- 2007 (%)
Tăng trưởng thương mại thế giới (%)
Các nước phát triển: xuất khẩu
7,4
5,5 6,0 11,8 11,9
9,2
8,2 7,4 10,9 14,4
6,8
5,8 4,2 8,9 12,8
Nguồn: Tổng hợp theo Báo cáo các năm 2004, 2005, 2006, 2007 của IMF
3.Chính sách và kinh nghiệm xuất, nhập khẩu của một số nước
3.1 Chính sách và kinh nghiệm về định hướng xuất khẩu của một số nước châu Á
- Singapore: Do hạn chế về thị trường trong nước, Singapore đã thông qua chiến lược công nghiệp hoá định hướng xuất khẩu để đưa nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ngay sau khi giành độc lập từ Malaysia Là nền kinh tế có độ
mở cao, Singapore đã nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế để tăng trưởng xuất khẩu và qua đó phát triển kinh tế Ở giai đoạn phát triển ban đầu, Singapore cũng như bất cứ một nước đang phát triển nào đều dựa trên những ngành sản xuất sử
Trang 7dụng nhiều lao động phục vụ cho xuất khẩu để tận dụng chi phí lao động thấp và nguồn lao động dồi dào như ngành sợi, may mặc, chế biến gỗ, thực phẩm và lắp ráp các thiết bị giao thông vận tải Được coi là thành công nhờ chính sách công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động vào cuối những năm 60, nhưng đến đầu những năm 70, ở khu vực Đông Á xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh với mức tiền lương thấp, cộng với sức ép tiền lương cao trong nước đã buộc Singapore phải có một chương trình tái cơ cấu ngành mới Vào đầu những năm 80, 90, Singapore tập trung phát triển các mặt hàng và dịch
vụ xuất khẩu sử dụng nhiều vốn, nhiều kỹ năng, có hàm lượng công nghệ cao và
có giá trị gia tăng cao để duy trì năng lực cạnh tranh xuất khẩu, như các ngành lọc dầu, đóng tàu biển Đặc biệt, chính sách đổi mới công nghệ, thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào các ngành kỹ thuật cao, đã làm bùng nổ ngành công nghiệp điện tử bán dẫn, khiến Singapore trở thành một trong những trung tâm sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng điện tử lớn nhất tại Đông Nam Á
Cho dù hiện nay các mặt hàng xuất khẩu của Singapore tương đối khác biệt so với Việt Nam, do chủ yếu xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ có giá trị cao, song những kinh nghiệm của Singapore có thể vẫn hữu ích về phương diện làm thế nào nước này có thể vượt qua những khó khăn do chi phí lao động cao gây
ra Singapore có thể bù đắp cho chi phí lao động cao bằng cải thiện đáng kể năng lực trong duy trì trình độ công nghệ cao bằng việc ứng dụng công nghệ mới, cơ cấu lại ngành công nghiệp, và vận hành một hệ thống ngân hàng chất lượng cao,…
Duy trì trình độ công nghệ cao: Do Singapore không cạnh tranh được với Trung quốc và các nước lân cận có chi phí lao động thấp và thị trường nội địa rộng lơn, nên Singapore phát triển năng lực để đổi mới, cải tiến chất lượng sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất Đặc biệt, việc áp dụng công nghệ hiện đại trong thông tin viễn thông đã có đóng góp đặc biệt quan trọng vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Singapore
Tái cơ cấu ngành công nghiệp: Tái cơ cấu ngành công nghiệp có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với một nền kinh tế Singapore bắt đầu tập trung vào các ngành công nghiệp chế tạo sử dụng nhiều lao động để xuất khẩu và sau đó chuyển hướng tập trung sang các ngành công nghiệp chế tạo sử dụng nhiều vốn như là một lợi thế cạnh tranh để giảm các hoạt động sản xuất sử dụng nhiều lao động Vào năm 1979, một chương trình tái cơ cấu các ngành công nghiệp, cùng với chính sách tiền lương cao và những khuyến khích về mặt tài khóa cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D), đã được ban hành để hỗ trợ cho các ngành xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn và sử dụng nhiều vốn và kỹ năng
Trang 8Hệ thống ngân hàng chất lượng cao: Một hệ thống ngân hàng chất lượng cao đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của xuất khẩu Singapore thông qua việc huy động tiết kiệm trong nước và phân bổ các khoản vay đến đúng tay các doanh nghiệp xuất khẩu Hệ thống này cung cấp các khoản vay cho các nhà xuất khẩu với lãi suất hợp lý Nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch thương mại thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính như thư bảo đảm tín dụng
Nhật Bản: Sự thành công vượt bậc của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh do sự kết hợp của nhiều yếu tố tạo nên Một nhân tố nổi bật trong số đó là vai trò quan trọng của chiến lược hướng về xuất khẩu Trong thời kỳ đầu, từ một nền công nghiệp chủ yếu dựa vào việc sản xuất các mặt hàng có hàm lượng lao động cao, Nhật Bản đã phát huy sức mạnh truyền thống là một nước chuyên chế biến xuất khẩu các sản phẩm được chế tạo bằng nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài, đã được hình thành trước chiến tranh, nhằm nhanh chóng mở rộng và tăng cường xuất khẩu
Có thể nói một trong những nhân tố chủ yếu quyết định tăng trưởng kinh
tế của Nhật Bản là các biện pháp khuyến khích xuất khẩu Nhằm kích thích xuất khẩu hàng hóa, ngày từ đầu, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra các biện pháp khuyến khích và ưu đãi các nhà xuất khẩu như: miễn, giảm thuế cho các công ty xuất, nhập khẩu, thông qua các cơ quan tài chính của Chính phủ như Ngân hàng phát triển Nhật Bản và Ngân hàng xuất, nhập khẩu, cấp vốn với lãi suất thấp cho các doanh nghiệp xuất khẩu Đặc biệt, Chính phủ còn thành lập các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu trong các lĩnh vực thăm dò và tìm kiếm các thị trường bên ngoài Tiêu biểu nhất là Tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO), được thành lập năm 1958 với các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu như: xây dựng các điểm điều tra ở hầu hết các nước, theo dõi những thay đổi về chính sách thuế quan, về thị hiếu tiêu dùng, về tình hình cạnh tranh của các nước; sau đó tập hợp các thông tin này chuyển về nước phục vụ cho các doanh nghiệp có nhu cầu JETRO còn thành lập các phòng trưng bày tại nước ngoài, tổ chức các cuộc triển lãm trong và ngoài nước để giới thiệu sản phẩm mới; đồng thời JETRO thăm dò và tìm kiếm những đối tác có thể trở thành khách hàng của Nhật Bản, và tổ chức để họ có thể gặp
gỡ, tiếp xúc với các nhà sản xuất trong nước
Chính phủ Nhật Bản thành lập Ngân hàng xuất, nhập khẩu (EXIMBANK)
để hỗ trợ tín dụng cho những dự án xuất khẩu có kim ngạch lớn như sản xuất chế tạo tàu biển, thép, thiết bị Hội nghị tối cao bàn về xuất khẩu (gồm đại diện của Chính phủ và giới kinh doanh) được thành lập, họp định kỳ bàn về mục tiêu xuất khẩu và đánh giá các biện pháp hỗ trợ Để khuyến khích xuất khẩu, Nhật Bản đề
ra các quy định công nhận các doanh nghiệp có nhiều cống hiến cho xuất khẩu, hàng năm kiểm điểm, đánh giá kết quả xuất khẩu và tặng thưởng bằng biện pháp
Trang 9cấp tín dụng với lãi suất thấp và miễn, giảm thuế đặc biệt cho các doanh nghiệp này
Đối với Nhật Bản, tốc độ xuất khẩu nhanh một mặt chứng minh việc tiêu thụ hàng hóa ở nước ngoài ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với quá trình tái sản xuất Mặc khác nó cũng chứng tỏ xuất khẩu có vai trò quan trọng trong việc duy trì và gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế
Ngoài Nhật Bản và Singapore, các nước trong khu vực Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan rất chú trọng phát triển xuất khẩu để phát triển nền kinh tế Biện pháp có tính quyết định đối với các nước là tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan đã thành công theo định hướng xuất khẩu nhờ dựa vào công nghệ, vốn, kinh nghiệm quản
lý, năng lực marketing của các công ty xuyên quốc gia Hàn Quốc thì thu hút công nghệ bằng cách vay vốn để nhập khẩu công nghệ, thiết bị vật tư phục vụ cho các ngành định hướng xuất khẩu Các biện pháp khuyến khích xuất khẩu được các nước áp dụng là giảm thuế xuất khẩu, trợ cấp, ưu đãi xuất khẩu
Trung Quốc và Thái Lan cũng là hai nước áp dụng thành công công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu Ở thời kỳ đầu, hai nước này tập trung khai thác lợi thế sẵn có của các mặt hàng xuất khẩu như nông sản, khoáng sản, các sản phẩm chế biến giá trị thấp sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày để tích lũy vốn Thời kỳ tiếp theo là đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành chế biến công nghệ trung bình sử dụng nhiều lao động và từng bước chuyển sang phát triển dịch vụ và công nghệ cao Là nước có nền kinh tế chuyển đổi nên chính sách của Trung Quốc trước hết là hạn chế sự can thiệp của chính quyền vào công việc kinh doanh, cải cách thể chế ngoại thương, mở rộng quyền hạn cho các chủ thể kinh doanh xuất khẩu Các biện pháp cụ thể khuyến khích xuất khẩu là ưu đãi tín dụng, thưởng xuất khẩu, giảm thuế đầu vào nhập khẩu, xóa bỏ thuế xuất khẩu, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường, đẩy mạnh hội nhập kinh tế thương mại, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa
3.2 Kinh nghiệm về quản lý nhập khẩu
-Hoa Kỳ và việc quản lý chất lượng hàng nhập khẩu về phương diện vệ sinh và an toàn thực phẩm
Theo số liệu thống kê, kể từ năm 2001 đến nay, thâm hụt thương mại hàng hoá của Hoa Kỳ liên tục tăng Các nhóm hàng có mức thâm hụt lớn nhất là các sản phẩm năng lượng, sản phẩm điện tử, dệt may,… Đáng chú ý là Hoa Kỳ vốn là nước xuất siêu nông sản nhưng từ năm 2004 đến nay lại trở thành nước nhập siêu Trong quản lý hoạt động ngoại thương, Hoa Kỳ là một trong những nước có hệ thống quản lý nhập khẩu khá chặt chẽ và toàn diện Các biện pháp quản lý nhập khẩu mà Hoa Kỳ áp dụng là: thuế quan, các biện pháp hạn chế định lượng, các
Trang 10biện pháp kỹ thuật, các biện pháp tạm thời bảo vệ thương mại, và các biện pháp hành chính Mỗi một biện pháp đều nhằm đạt các mục tiêu cụ thể trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ Trong phần này, chúng ta tìm hiểu kỹ hơn về các biện pháp vệ sinh và an toàn thực phẩm, là một biện pháp quản lý nhập khẩu hướng tới việc bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường Ở Hoa Kỳ, có ba cơ quan cùng chia sẻ trách nhiệm thực thi các đạo luật liên quan đến vệ sinh và an toàn thực phẩm: Cơ quan quản lý dược và thực phẩm (FDA), Cơ quan thanh tra
và an toàn thực phẩm (FSIS) và Cơ quan thanh tra độ an toàn sức khoẻ thực vật, động vật (APHIS)
Cơ quan thanh tra độ an toàn sức khoẻ thực vật, động vật (APHIS) có nhiệm vụ đề ra những quy định về nhập khẩu rau quả, động vật và các sản phẩm
có nguồn gốc tương tự vào lãnh thổ Hoa Kỳ Hiện nay, APHIS có nhiệm vụ xây dựng và phát triển các quy tắc trong nhập khẩu dựa trên những phân tích về nguy
cơ, trong đó đặc biệt chú trọng tới các chi tiết về sản phẩm và nguồn gốc xuất xứ
Cơ quan này cũng đưa ra các hướng dẫn về đánh giá nguy cơ bệnh dịch trong nhập khẩu động vật và các sản phẩm từ động vật APHIS tập trung hướng dẫn việc đánh giá và nhận dạng những khu vực như thế nào thì được gọi là nguồn nhập khẩu an toàn Quá trình đánh giá này thường bao gồm các chuyến đi của các chuyên gia APSHIS tới các vùng xuất khẩu; sau đó họ sẽ lập ra danh sách các quốc gia, khu vực được cho là không có gia súc, gia cầm bị bệnh Bên cạnh đó, việc nhập khẩu rau quả, động vật phải có sự đồng ý của APHIS Sự chấp thuận này tạo điều kiện cơ bản cho hàng hoá được nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ
Cơ quan thanh tra và an toàn thực phẩm (FSIS) chịu trách nhiệm riêng về
độ an toàn của các loại thịt gia súc, gia cầm, trứng Để được nhập vào Hoa Kỳ, các sản phẩm này phải đáp ứng được các yêu cầu về an toàn thực phẩm của Hoa
Kỳ và phải được dịch vụ kiểm định của FSIS chứng nhận Bên cạnh đó, FSIS còn đánh giá hệ thống tiêu chuẩn chất lượng về thịt gia súc, gia cầm, trứng của quốc gia xuất khẩu có giống như của Hoa Kỳ không Cuối cùng, FSIS sẽ tổng hợp các quy định luật pháp và sau đó kiểm định toàn bộ, nếu hệ thống chất lượng của quốc gia này được đánh giá tương xứng với Hoa Kỳ thì được Chính phủ Hoa Kỳ cho phép nhập khẩu Đến nay, Hoa Kỳ đã thừa nhận 34 hệ thống kiểm dịch nước ngoài là đạt tiêu chuẩn
Về tiêu chuẩn nhập khẩu đối với các sản phẩm dược và thực phẩm, Bộ Y
tế Hoa Kỳ và Đạo luật chống khủng bố sinh học năm 2000 quy định rằng những hàng hoá nhập khẩu phục vụ cho thị trường Hoa Kỳ phải đăng ký với Cơ quan quản lý dược và thực phẩm (FDA) Luật này cũng trao cho FDA quyền cản trở về mặt hành chính bất kỳ loại thực phẩm nào mà tại thời điểm đó có nghi ngờ nguy hiểm tới sức khoẻ và tính mạng con người hay súc vật
Trang 11- Chính sách tự do hoá nhập khẩu của một số nước Châu Á
Quản lý nhập khẩu là một trong những biện pháp duy trì cán cân thương mại trong trạng thái lành mạnh Phần lớn các nước hiện nay đều thực hiện chính sách hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng, khuyến khích nhập khẩu tư liệu sản xuất, đặc biệt là thiết bị máy móc Nhiều nghiên cứu định lượng cho thấy, nhập khẩu cạnh tranh (tư liệu sản xuất) ở các nước Hàn Quốc, Nhật Bản là yếu tố quyết định năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và tăng trưởng xuất khẩu Các nước như Thái Lan, Trung Quốc áp dụng mô hình hướng xuất khẩu và tự do hóa nhập khẩu nhằm khai thác lợi thế cạnh tranh động (tận dụng vốn, kỹ thuật, công nghệ, quản lý, marketing, ) để phát triển các ngành công nghiệp chế tạo
Điều cần lưu ý ở đây là các nước đã có những điều chỉnh chính sách để tăng tỷ lệ nhập khẩu công nghệ, máy móc và giảm tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu Chẳng hạn các nước này đã chủ động phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cho sản xuất và thay thế nhập khẩu bằng các biện pháp ưu tiên Thực tế cho thấy, chính sách xuất, nhập khẩu của các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản hay Singapore, là sự kết hợp linh hoạt giữa xuất khẩu và nhập khẩu; chỉ mở rộng loại nhập khẩu mà nhờ đó xuất khẩu được cải thiện hơn Các nước công nghiệp hóa mới ở khu vực Đông Á sau này đều phát triển kinh tế theo hướng mở rộng nhập khẩu, cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan Các nghiên cứu thực nghiệm đều cho thấy, tự do hóa nhập khẩu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu nhiều hơn ở nước, ví dụ như Nhật Bản và Hàn Quốc
Đối với Thái Lan và Trung Quốc, chủ trương tự do hóa nhập khẩu đã được chính phủ thi hành với thái độ thận trọng Chính phủ áp dụng chính sách nhập
khẩu “hai gọng kìm”: một mặt tự do đối với hàng nhập khẩu để phục vụ xuất
khẩu, mặt khác rất hạn chế đối với hàng nhập phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, đặc biệt là các sản phẩm xa xỉ
Mặc dầu trong những thời điểm nhất định nhiều nước bị rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, nhưng thực tế cho thấy rằng các biện pháp hạn chế nhập khẩu một cách thái quá ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Sụt giảm nhập khẩu kéo theo sụt giảm tốc độ xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Vì vậy, vấn đề cần nhận thức rõ ở đây là phải hạn chế nhập khẩu các hàng hóa phi cạnh tranh và
mở rộng nhập khẩu các hàng hóa cạnh tranh
Trang 12Bảng 2: Cán cân thương mại của một số nước châu Á (triệu USD)
Trung quốc 85.469 103.324 177.109 255.214 355.690 399.452 438.397 Hàn quốc 21.952 37.569 32.683 27.905 29.409 27.390 26.470 Indonesia 24.562 20.152 17.533 29.660 33.084 30.849 26.651
Malaysia 25.727 27.572 33.155 36.682 37.287 36.555 37.828
Philippin -5.851 -5684 -7.773 -6.732 -8236 -9717 -10.163 Singapore 29.427 31040 37.084 43.397 49.165 49.102 53.210
Việt Nam -5.107 -5.484 -4.314 -5.065 -12.443 -17.690 -21.71
Nguồn: ADB, Asian Development Outlook, 3/2008 ; Ghi chú: * số liệu dự báo
4 Bài học rút ra cho Việt Nam
Qua thực tế phát triển và thành công của các nước trong khu vực liên quan đến vấn đề xuất, nhập khẩu, có một số bài học mà Việt Nam có thể tham khảo để
phát huy vai trò của xuất, nhập khẩu trong phát triển kinh tế - xã hội Thứ nhất, áp
dụng mô hình công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu dựa trên lợi thế so sánh và
tự do hóa nhập khẩu cạnh tranh (tư liệu sản xuất) để khai thác lợi thế cạnh tranh của quá trình tự do hóa thương mại Bảng 1 cho thấy thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam là khá cao và liên tục; Đây là những cảnh báo nhắc Việt Nam phải rà soát lại danh mục các loại hàng nhập khẩu, lưu ý cần tránh nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ không phục vụ cho thúc đẩy sản xuất trong nước; cần có chiến
lược quản lý nhập khẩu hợp lý để từ đó đẩy mạnh xuất khẩu; Thứ hai, thúc đẩy
phát triển khu vực tư nhân và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài là động lực chủ yếu để tăng trưởng xuất khẩu Tạo điều kiện để các doanh nghiệp thâm nhập vào
hệ thống cạnh tranh toàn cầu là cách tốt nhất để nâng cao khả năng cạnh tranh của
sản xuất hàng xuất khẩu Thứ ba, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ làm
tăng khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu và giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu
Thứ tư, cần có mức độ mở cửa đáng kể nền kinh tế để đón nhận những cơ hội do
hội nhập kinh tế quốc tế đem lại Cuối cùng, phải xây dựng hệ thống chính sách
xuất, nhập khẩu theo hướng minh bạch, dễ dự đoán, không phân biệt đối xử để hạn chế bảo hộ, độc quyền, gian lận thương mại, đồng thời góp phần đẩy mạnh
quá trình hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu
Trang 13II TÌNH HÌNH XUẤT, NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1 Xuất Khẩu
1.1 Thành tựu và tác dụng
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất khẩu của nước ta ngày một tiến bộ cả về quy mô, về tốc độ và có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Trong những năm vừa qua hoạt động xuất khẩu
đã đạt được nhiều thành tựu rất khả quan
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2000 - 2007
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
6 tháng
Nguồn: Tổng cục Thống Kê
Một là, Giá trị kim ngạch xuất khẩu không ngừng được tăng lên, đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng trưởng GDP Tốc độ tăng trưởng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu trong giai đoạn 2001 – 2007 tăng trung bình hàng năm 19,01% Mặc dù xuất khẩu còn gặp nhiều áp lực cạnh tranh và các rào cản thương mại nhưng nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn đạt kim ngạch xuất khẩu cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra Xuất khẩu đã trở thành nhân tố quan trọng và động lực mạnh của tăng trưởng kinh tế Nhìn chung, nền kinh tế quốc dân đã được định vị theo hướng xuất khẩu và độ mở của nền kinh tế là tương đối rộng
Hai là, cơ cấu các hàng hóa xuất khẩu được cải thiện theo hướng giảm dần tỷ trọng của hàng là nguyên liệu thô, tăng dần tỷ trọng của hàng hóa đã qua chế biến Nếu như năm 1991 hàng là nguyên liệu thô chiếm trên 92% thì nay chỉ còn khoảng 51% kim ngạch xuất khẩu Hàng chế biến năm 2002 chiếm khoảng 49%, trong khi năm 1991 chỉ chiếm 8% kim ngạch xuất khẩu Chúng ta đã hình thành được nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực, số lượng các mặt hàng xuất khẩu ngày càng tăng, chất lượng các mặt hàng xuất khẩu được nâng cao một cách rõ rệt, bước đầu tạo được sự cạnh tranh trên thị trường thế giới Tỷ trọng hàng chế biến sâu và nhóm hàng công nghiệp tăng; tỷ trọng sản phẩm thô giảm và Việt Nam ngày càng có nhiều sản phẩm đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (như dầu thô, hàng dệt may, giày dép, thuỷ sản, đồ gỗ, hàng linh kiện điện tử, cà phê, gạo, cao su, dây điện và cáp điện) Nhiều mặt hàng xuất khẩu đã đạt được thứ
Trang 14hạng cao so với mặt hàng của những nước khác, có ảnh hưởng lớn đến thị trường thế giới như: gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều và chè…
Bảng 4: Mười mặt hàng xuất khẩu lớn nhất trong năm 2006 và 2007
Năm 2006 Năm 2007
Giá trị (Triệu USD)
Tỷ trọng (%)
Giá trị (Triệu USD)
Tỷ trọng (%)
% tăng giá trị (năm 2007
so với năm 2006)
8.488
3.763
7,7 12,1
5 Gỗ và sản phẩm gỗ
1.933 4,9
2.404
5,0 24,4
6
Máy vi tính sản phẩm điện tử
và linh kiện
1.708 4,3
2.154
4,4 26,1
7 Cà phê
1.217 3,1
1.911
3,9 57,0
8 Gạo
1.276 3,2
1.490
3,1 16,8
9 Cao su 1.286 3,2 1.393 2,9 8,3
10 Than đá 915 2,3 1.000 2,1 9,3
Nguồn: Tổng cục Hải quan và tính toán của Viện NCQLKTTW
Ba là, cùng với tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao, chính sách đa dạng hoá thị trường đã đem lại nhiều kết quả khả quan Hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam có mặt ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Lấy ví dụ
về quan hệ thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ Kim ngạch xuất, nhập khẩu giữa hai nước đã tăng từ mức dưới 2 tỷ USD năm 1995 lên mức 10,3 tỷ USD năm 2007 vừa qua (tương đương gần 14,5% GDP của Việt Nam), 40% mức này thuộc về hàng may mặc và giầy da Hoa Kỳ cũng là nước chiếm tới 24% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2007 Năm 2007, có 10 thị trường tại đó nước ta đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó Hoa Kỳ 10,3 tỷ, EU 8,7 tỷ, ASEAN 8 tỷ; Nhật bản 5,5 tỷ và Trung quốc 3,2 tỷ Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường truyền thống, thì việc mở thêm những thị trường
Trang 15mới, trọng điểm, có nhiều cơ hội và việc giảm bớt xuất khẩu qua trung gian đã làm cho hàng xuất khẩu Việt Nam giảm bớt được sự lệ thuộc vào một thị trường nhất định, giảm thiểu rủi ro khi có biến động thị trường và tăng kim ngạch xuất khẩu của hàng hoá nói chung
Bảng 4: Cơ cấu về thị trường xuất khẩu (%)
Khu vực thị trường 2000 2002 2003 2004 2005 2006
Nguồn: Tổng cục thống kê và Bộ Thương mại
Cùng với việc hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới, việc gia nhập
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) là cơ hội to lớn đối với Việt Nam trong việc
mở rộng thị trường xuất khẩu Việc tăng trưởng xuất khẩu của nước ta chỉ còn phụ thuộc vào năng lực sản xuất của chính mình Năm 2007, hoạt động xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng cao tới 21,5% với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 48,56 tỷ USD; cũng trong năm 2007, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu /GDP là 68,2% Với tiêu chí này, độ mở cửa của nền kinh tế Việt Nam đứng thứ tư trong khu vực (sau Singapore, Malaysia, Bruney), vượt xa so với tỷ lệ bình quân 22% của toàn thế giới
Thứ tư, các chủ thể tham gia xuất khẩu không ngừng được mở rộng, đa dạng hoá và hoạt động ngày càng có hiệu quả, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn và là động lực quan trọng đối với tăng trưởng xuất khẩu của cả nước Trong năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 27,3 tỷ USD, chiếm xấp xỉ 57% kim ngạch xuất khẩu của cả nước và tăng 18,6% so với năm 2006 Đóng góp của khu vực doanh nghiệp trong nước tăng trên 23%
Trang 16Bảng 5: Tỷ trọng cơ cấu xuất khẩu phân theo thành phần kinh tế tham gia
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
DN 100% vốn trong nước 52,9 54,8 52,9 49,6 45.0 43.0 42
DN có vốn đầu tư NN 47,1 45,2 47,1 50,4 55,0 57,0 58,0
Tổng 100 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Tổng cục thống kê và Bộ Thương mại
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập của Việt Nam đang tạo ra những cơ hội mới cho các công ty dịch vụ hoạt động trong môi trường cạnh tranh và cởi mở Những cải cách về thể chế và hành chính phù hợp với những cam kết quốc tế, tạo triển vọng dỡ bỏ rào cản đối với hầu hết các dịch vụ và hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp sẽ có một sân chơi bình đẳng trên cả thị trường quốc tế
và trong nước Các công ty Việt Nam cũng có thể mở rộng hoạt động xuất khẩu của mình ra nước ngoài nhờ tự do hóa thương mại ở các nước đối tác và thông qua hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ Về trung và dài hạn, các doanh nghiệp hoàn toàn có thể nghĩ đến việc đạt được giá trị gia tăng cao hơn về xuất khẩu dịch vụ
1.2 Yếu kém và hậu quả
Lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam đạt được những thành tích nói trên là nhờ quá trình tích cực đổi mới chính sách ngoại thương như: Chính sách mở rộng thị trường xuất khẩu, đa phương hóa, đa dạng hóa thị trường, cải cách cơ chế quản lý và điều hành xuất khẩu, mở rộng quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp xuất khẩu; chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế, tháo dỡ hạn ngạch xuất khẩu, cải cách ngoại hối, hỗ trợ xuất khẩu hàng nông sản, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế… Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn rất nhỏ bé so với khu vực và thế giới Theo thống kê, xuất khẩu bình quân đầu người của Singapore là 60.600 USD/người, Malaysia là 5.890 USD/người, Thái Lan là 1.860 USD/người Theo tiêu chí này, lượng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam ra nước ngoài vẫn còn rất khiêm tốn, hiện mới chỉ đạt mức 473 USD/người Xuất khẩu mặc dù tăng nhanh nhưng vẫn chưa vững chắc; kim ngạch xuất khẩu
dễ bị tác động khi có những biến động trên thị trường thế giới hay khi gặp các rào cản thương mại Khả năng cạnh tranh của chúng ta còn yếu kém trên cả 3 cấp độ: nền kinh tế, doanh nghiệp và hàng xuất khẩu
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân khác nhau như, trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp; sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu có quy mô nhỏ bé, gặp nhiều khó khăn về vốn, công nghệ, nhân lực; các hiệp hội ngành hàng thực sự chưa làm được nhiều để
Trang 17giúp các doanh nghiệp đạt kết quả tốt hơn Việc cung cấp thông tin thị trường có
ý nghĩa thiết thực còn hạn chế; hoạt động của hệ thống đại diện thương mại tại các nước chưa đem lại hiệu quả đáng chú ý; các chương trình xúc tiến thương mại còn nhỏ lẻ, rời rạc Các hoạt động thương mại nhìn chung chưa có những chuyển biến căn bản, vẫn mang nhiều tính chất dàn trải, thiếu tính chuyên nghiệp, vì vậy kết quả thấp
Nhìn chung, hoạt động xuất khẩu của nước ta còn nhiều bất cập Các vấn
đề nổi bật như sau:
- Về cơ cấu hàng xuất khẩu: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chưa hợp lý,
chủng loại hàng xuất khẩu đơn điệu, ít có mặt hàng có giá trị gia tăng cao, đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn Mặc dù tỷ trọng của hàng chế biến sâu trong cơ cấu hàng xuất khẩu trong thời gian qua có xu hướng tăng, nhưng mới chiếm khoảng gần nửa tổng số kim ngạch xuất khẩu Hiện nay chúng ta vẫn dựa chủ yếu vào xuất khẩu các sản phẩm thô như dầu thô, các sản phẩm nông nghiệp, các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật không cao, có giá trị gia tăng thấp Các mặt hàng công nghiệp như dệt may, da giày, điện tử, linh kiện máy tính… còn mang nặng tính chất gia công, hiệu quả thấp Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, trong điều kiện kinh tế tri thức, nếu dựa chủ yếu vào yếu tố lao động để tăng xuất khẩu
sẽ không đảm bảo cho xuất khẩu tăng trưởng nhanh và ổn định
Hộp 1: Một số bất cập trong xuất khẩu dầu thô, nông – lâm – thuỷ sản và
hàng công nghiệp
Trước hết phải nói đến dầu thô, một hàng hoá được xếp vào loại tài nguyên quý giá của quốc gia Nhưng nguồn nguyên liệu này hiện đang bị khai thác một cách triệt để nhằm thu được tối đa nguồn lợi cho xuất khẩu Trong những năm vừa qua giá trị xuất khẩu của dầu thô là lớn nhất Tỷ trọng xuất khẩu của dầu thô tuy đã giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu và mức tăng trưởng xuất khẩu cao chủ yếu là do tăng trưởng xuất khẩu dầu thô Mặc dù việc xuất khẩu dầu thô mang lại nguồn thu xuất khẩu lớn nhưng lại chứa đựng những nguy cơ của sự tăng trưởng xuất khẩu không bền vững Bởi lẽ nguồn tài nguyên này không phải vô tận, là tài nguyên không thể tái tạo, nên việc khai thác triệt để nguồn tài nguyên này sẽ dẫn đến việc thiếu hụt trong tương lai, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nói riêng và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nói chung Ngoài ra, nếu tiếp tục xuất khẩu dầu thô bằng mọi giá để thu được cái lợi trước mắt thì về lâu dài sẽ đe doạ an ninh năng lượng quốc gia Cái được trước mắt ấy sẽ không thể bù đắp được cái thiệt hại về lâu dài Tài nguyên thiên nhiên trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày một cạn kiệt đẩy thế giới vào tình trạng thiếu nguyên liệu cho sinh hoạt, trong khi quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đang diễn ra một cách nhanh chóng, đòi hỏi một lượng nguyên nhiên liệu không nhỏ
Trang 18Đối với nhóm hàng nông – lâm – thuỷ - sản, đây là những mặt hàng có giá trị thấp, chủ yếu là mặt hàng mới qua sơ chế, nên dễ chịu sự tác động của hiện tượng “giá cánh kéo” và sự biến động giá cả các sản phẩm này trên thị trường thế giới Mặt khác, các sản phẩm thuỷ sản còn chịu sự kiểm soát khắt khe về
an toàn vệ sinh thực phẩm từ phía đối tác nước ngoài Bên cạnh đó, các sản phẩm nông sản Việt Nam chưa đa dạng, còn đơn điệu về chủng loại, vẫn còn ít hàm lượng công nghệ nên sức cạnh tranh còn thấp, lại phải đối mặt những rào cản thương mại mới Đây là một thách thức lớn đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam
Trong khi đó các mặt hàng xuất khẩu thuộc lĩnh vực công nghiệp như dệt may,
da giày, điện tử vẫn còn mang tính chất thủ công, lấy công làm lãi, hàm lượng chất xám cũng như tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm còn thấp nên phần lợi nhuận thu về còn chưa tương xứng với tiềm năng cũng như công sức bỏ ra Nếu tiếp tục như vậy thì một khi giá nhân công của Việt Nam không còn hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, rất có khả năng việc xuất khẩu sẽ được chuyển sang cho các nước có giá nhân công canh tranh hơn và lúc đó xuất khẩu có nguy cơ
bị chững lại, đe doạ tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Nguồn: Một số cảnh báo về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam, 5/2008
Tóm lại, cơ cấu xuất khẩu vẫn dựa chủ yếu vào khoáng sản, hàng nông nghiệp chưa chế biến, và hàng công nghiệp chế biến nhưng có giá trị gia tăng thấp Năm 2007, tỷ trọng hàng công nghiệp, hàng chế biến xuất khẩu mới chiếm 40,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu Nhìn chung quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của chúng ta diễn ra rất chậm, sự dịch chuyển trong thời gian qua chủ yếu đi theo chiều rộng mà chưa đi vào chiều sâu Việc xuất khẩu dựa nhiều vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có, chứ chưa khai thác được những lợi thế cạnh tranh, hay cao hơn nữa là dựa trên lợi thế của kinh tế tri thức Bên cạnh đó,