2- Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc trợ giúp người nghèo, người cận nghèo, người dễ bị tổn thương trong tình hình lạm phát cao II- TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI CẬN NGHÈO, NGƯỜI DỄ BỊ TỔ
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU
-
TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI CẬN NGHÈO VÀ NGƯỜI DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TRONG CÔNG CUỘC CHỐNG LẠM PHÁT CAO VÀ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
MỤC LỤC I- TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÚP NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI CẬN NGHÈO VÀ NGƯỜI DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
1- Thế nào là người nghèo, người cận nghèo, người dễ bị tổn thương?
2- Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc trợ giúp người nghèo, người cận nghèo, người dễ bị tổn thương trong tình hình lạm phát cao
II- TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI CẬN NGHÈO, NGƯỜI DỄ BỊ TỔN THƯƠNG LÀ NÔNG DÂN
1- Tác động của lạm phát đối với nông dân nghèo
1- Học sinh, sinh viên nghèo
2- Người dân nông thôn mất đất sản xuất không có việc làm
3- Những người bán hàng rong
4- Những người chạy xe tự chế
5- Một số nhóm người cần trợ giúp khác
V- KẾT LUẬN
Trang 2I- TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÚP NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI CẬN NGHÈO VÀ NGƯỜI DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
1- Thế nào là người nghèo, người cận nghèo, người dễ bị tổn thương?
Để hiểu được thế nào là người nghèo, người cận nghèo, trước hết cần hiểu
rõ khái niệm “Nghèo” Hiểu một cách khái quát, “Nghèo” diễn tả sự thiếu cơ hội
để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian Tiêu chuẩn phổ biến được căn cứ để xác định nghèo là dựa vào thu nhập (tiêu chuẩn được Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra) Theo
đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia Một khái niệm về “Nghèo” được thừa nhận rộng khắp là khái niệm do Ủy ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra tại Hội nghị chống nghèo khổ trong khu vực tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 Theo khái niệm này, “Nghèo” là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận Theo khái niệm này thì không thể đưa ra được chuẩn nghèo chung cho các quốc gia vì điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán mỗi nước có khác nhau, và chuẩn nghèo là một đại lượng biến đổi theo không gian và thời gian Sau hội nghị này nhiều quốc gia đã đưa ra chuẩn nghèo cụ thể khác nhau
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 USD/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với đô la thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn nghèo tổng quát Căn cứ vào giá trị đó, chuẩn nghèo cho từng địa phương, từng vùng được xác định, từ 2 USD/ngày cho châu Mỹ Latinh và Caribê đến 4 USD/ngày cho những nước Đông Âu, cho đến 14,4 USD/ngày cho những nước công nghiệp phát triển
Đối với Việt Nam, Chính phủ đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ năm 1993 đến cuối năm 2005 Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/9/2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia đình
có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Trang 3Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Chuẩn nghèo được áp dụng cho mọi thành phần trong xã hội, không có sự phân biệt công nhân, nông dân hay trí thức, ai rơi vào hoàn cảnh nghèo đều nhận được sự trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng, và điều này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế
Cho đến nay, chưa có định nghĩa cụ thể nào về “cận nghèo”, tuy nhiên những người cận nghèo được hiểu phổ biến là những người ở mấp mé, cận kề với
sự nghèo khổ Theo quy định của Việt Nam, người cận nghèo được xác định là những người có mức thu nhập bình quân cao hơn 1,5 lần người nghèo, có nghĩa là những người có mức thu nhập bình quân từ 201.000- 300.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và từ 261.000- 390.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
Người dễ bị tổn thương có diện rộng hơn người nghèo và người cận nghèo
Đó là những người dễ bị tác động tiêu cực trước những rủi ro của cuộc sống Theo nghĩa này, những người dễ bị tổn thương trong xã hội bao gồm người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người sống chung với HIV/AIDS, dân di cư, nhân dân trong vùng thiên tai, những cộng đồng
đã bị ảnh hưởng bởi sự thoái hóa và ô nhiễm môi trường…
Việc xác định thế nào là người nghèo, người cận nghèo, người dễ bị tổn thương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi lẽ, dựa vào đó Nhà nước xác định những đối tượng cần trợ giúp để xây dựng và thực hiện các chính sách, biện pháp trợ giúp nhằm đảm bảo an sinh xã hội, hướng tới mục tiêu công bằng xã hội và phát triển bền vũng
1.2 Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc trợ giúp người nghèo, người cận nghèo, người dễ bị tổn thương trong tình hình lạm phát cao
Những người nghèo, người cận nghèo, người dễ bị tổn thương (gọi tắt là đối tượng cần trợ giúp) trong điều kiện bình thường cuộc sống vốn đã hết sức khó khăn, luôn luôn cần đến sự trợ giúp của xã hội Trong điều kiện lạm phát cao, cuộc sống của những đối tượng này càng trở nên khó khăn gấp bội, bởi lẽ chính
họ là những người phải gánh chịu tổn thất nặng nề nhất do tác động của lạm phát Một điều đơn giản ai cũng biết là lạm phát có tác động trực tiếp đến “túi tiền” của
Trang 4các tầng lớp trong xã hội Tuy nhiên, mức thu nhập của các nhóm dân cư rất khác nhau cho nên lạm phát có ảnh hưởng không giống nhau đối với từng nhóm
Nhìn chung, lạm phát làm xói mòn mức sống của những nhóm có thu nhập
cố định như công nhân, viên chức, người về hưu, những người buôn bán nhỏ, nông dân… không có khả năng điều chỉnh giá mặt hàng của mình theo kịp mức tăng giá Nó thực sự là thảm hoạ đối với những nhóm dễ tổn thương, phải sống nhờ trợ cấp, không có sức lao động Còn nhóm chủ doanh nghiệp, nghĩa là những người giàu có, thường không bị ảnh hưởng mấy bởi lạm phát, vì khi giá cả tăng, doanh thu của họ tăng theo Có thể nói, đã có sự chuyển giao thu nhập từ người cho vay và người làm công ăn lương sang cho người chủ doanh nghiệp Bản chất của sự chuyển giao này là người gửi tiền tiết kiệm và người làm công ăn lương thường không thể nương theo lạm phát mà tăng thu nhập cho mình, còn người kinh doanh thì không những có thể nương theo sự tăng giá để bảo toàn thu nhập,
mà còn thu thêm được phần sức mua bị mất đi của nhóm kia Lạm phát tạo ra một
sự chuyển giao thu nhập âm thầm nhưng liên tục từ người nghèo sang người giàu
Do đó, nhiều người cho rằng lạm phát có tính tàn bạo về mặt xã hội
Với thực tế ấy, việc tăng cường trợ giúp cho các nhóm đối tượng cần trợ giúp trong điều kiện lạm phát cao càng có ý nghĩa quan trọng Trở lại tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian vừa qua, từ năm 2007, một số chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô của nền kinh tế đã có những biểu hiện xấu và tiếp tục tác động sang năm 2008 như: lạm phát liên tục tăng cao, nhập siêu quá mức, sự gia tăng quá cao của các chỉ số về tổng phương tiện thanh toán, tổng mức huy động vốn và tổng dư nợ tín dụng, thiên tai, dịch bệnh về cây trồng và gia súc… Theo số liệu của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, lạm phát trong thời gian qua liên tục tăng cao, năm 2007 là 12,63% và
6 tháng đầu năm 2008 là 18,44%, đã khiến cho thu nhập thực tế của dân cư nhìn chung đã giảm đáng kể Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là đời sống những người làm công ăn lương, nông dân, đồng bào vùng bị thiên tai, gia đình chính sách, gia đình neo đơn, học sinh, sinh viên… ngày càng khó khăn Trong 6 tháng đầu năm 2008, thu nhập bình quân một tháng của một lao động khu vực nhà nước đạt 2,3 triệu đồng, tăng 21,1%, loại trừ yếu tố tăng giá tiêu dùng (bình quân so với cùng kỳ tăng 20,34%), thì chỉ còn tăng có 0,63% Đó là bình quân chung, nếu trừ một số ngành có thu nhập cao, còn phần lớn lao động khu vực nhà nước chưa được cải thiện, thậm chí còn bị sút giảm Lao động khu vực nhà nước
do Trung ương quản lý đạt cao hơn (2,7 triệu đồng) nhưng tăng thấp (12,5%), nên nếu loại trừ yếu tố tăng giá tiêu dùng còn bị giảm (9,3%) Lao động khu vực nhà nước do địa phương quản lý tuy tăng cao (31,2%) nhưng mức thu nhập lại thấp hơn (2,1 triệu đồng) Đối với khu vực nông thôn, tuy được mùa, được giá, nhưng
Trang 5chi phí đầu vào tăng quá cao nên đời sống vẫn còn khó khăn, nhất là đối với những hộ có thu nhập thấp ở vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang, vùng biên giới
và vùng đồng bào các dân tộc ít người
Để vượt qua khó khăn, ngay từ đầu năm nay, Chính phủ, các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân đã nỗ lực thực hiện các biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tiếp tục tăng trưởng bền vững Điều đó cho thấy rằng việc bảo đảm an sinh xã hội (thực chất là thực hiện trợ giúp cho các đối tượng cần trợ giúp) đang được coi là một trong bốn mục tiêu quan trọng hiện nay Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã đề ra 5 giải pháp trước mắt mà các cấp, ngành chức năng cần thực hiện ngay:
- Thứ nhất, thực hiện đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả các chính sách đã được ban hành về bảo trợ xã hội, chính sách đối với người nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, không để bất kỳ người dân, hộ gia đình nào bị đói, thuộc diện chính sách
mà không được hưởng; các tỉnh, thành xem xét để nâng mức trợ cấp xã hội cao hơn quy định tùy theo khả năng ngân sách của địa phương; bố trí nguồn nhân lực tại chỗ để kịp thời hỗ trợ nhân dân đẩy lùi thiên tai, dịch bệnh, tai họa bất thường, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản; các cấp theo dõi sát sao, nắm vững tình hình diễn biến giá cả, đời sống nhân dân trên địa bàn để dự báo và có biện pháp xử lý kịp thời
- Thứ hai, giảm hộ nghèo năm 2008 Tình hình giá cả tăng cao đã ảnh hưởng đến chất lượng sống, mức sống của các hộ nghèo, hộ cận nghèo Để không phá vỡ các mục tiêu cũng như cơ cấu ngân sách đã được phê duyệt, cần duy trì chuẩn nghèo như hiện nay và phấn đấu để đạt chỉ tiêu giảm hộ nghèo; huy động các nguồn lực tăng thêm cho chương trình giảm nghèo và chương trình 135, đặc biệt ưu tiên cho 58 huyện nghèo nhất
Cho phép giãn nợ, khoanh nợ đối với các hộ vay vốn quỹ giảm nghèo, quỹ tạo việc làm cho những hộ bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; tiếp tục cho vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh Đẩy nhanh tiến độ thẩm định, giải ngân cho vay các dự án khôi phục sản xuất, tăng nguồn cung lương thực, thực phẩm cho thị trường, góp phần giảm mức tăng giá các mặt hàng này
- Ba là, thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp Cố gắng tạo việc làm cho khoảng 1,7 triệu người thông qua phát triển dạy nghề gắn với phát triển sản xuất Khuyến khích các doanh nghiệp chia sẻ khó khăn cùng nhà nước, chăm lo đời sống cho người lao động
- Bốn là, chuẩn bị các điều kiện để hướng dẫn thực hiện đúng lộ trình cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công
Trang 6- Năm là, cấp ủy, địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời điều chỉnh, bổ sung, chấn chỉnh việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn, đảm bảo chính sách đến đúng người thụ hưởng
Ngoài ra, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng đưa ra 4 giải pháp trung và dài hạn nhằm bảo đảm an sinh xã hội lâu dài, bền vững gồm: (1) nghiên cứu, đánh giá và cảnh báo tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến an sinh xã hội để có chính sách phù hợp giảm thiểu tác động tiêu cực; (2) xây dựng và phát triển hệ thống an sinh xã hội đồng bộ, phù hợp cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) tăng mức bao phủ hướng tới tất cả các thành viên trong xã hội, bảo đảm an toàn cho mọi người trước mọi rủi ro trong cuộc sống và (4) nâng cao thu nhập cho người lao động bằng biện pháp nâng cao năng suất lao động, cải cách cơ bản chính sách tiền lương cho từng giai đoạn 10 năm tới phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành và kêu gọi các đoàn thể
hỗ trợ với số tiền và hiện vật trị giá 333 tỷ đồng trong dịp Tết Nguyên đán Mậu tý; hỗ trợ cho các gia đình có trâu, bò bị chết do rét và dịch bệnh; hỗ trợ người dân mua và đóng mới, thay đổi thiết bị tàu đánh bắt hải sản; hỗ trợ 50% giá một thẻ bảo hiểm y tế đối với thành viên thuộc diện cận nghèo có tham gia bảo hiểm y
tế tự nguyện; cấp sách giáo khoa cho học sinh thuộc các gia đình chính sách; nâng mức cho vay ưu đãi học tập cho học sinh, sinh viên nghèo, hộ chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số; xuất cấp không thu tiền hàng triệu liều vắc-xin lở mồm long móng cho các địa phương phòng trừ dịch bệnh Để cứu đói, Chính phủ đã xuất 26,6 nghìn tấn lương thực dự trữ quốc gia và 10 tỷ đồng, trong đó riêng tháng 6 là 3,6 nghìn tấn lương thực và 446 triệu đồng Do vậy, đến nay, số hộ và
số người thiếu đói đã giảm Tình hình thiếu đói trong các tháng tiếp theo dự kiến
sẽ giảm do bội thu lúa đông xuân, tốc độ tăng giá lương thực chậm lại…
Những biện pháp trợ giúp nêu trên có tầm quan trọng và ý nghĩa sâu sắc không chỉ về kinh tế, chính trị, xã hội, mà còn phản ảnh bản chất của chế độ, của Nhà nước ta, nêu cao truyền thống tốt đẹp “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách” của dân tộc Việt Nam Điều này thể hiện ở một số khía cạnh chính sau đây:
- Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, luôn luôn phục vụ lợi ích của nhân dân Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta hướng tới các mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Việc Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội thực hiện tích cực các biện pháp nhằm đảm bảo an sinh xã hội, trong đó có các biện pháp trợ giúp những đối tượng cần trợ giúp, trong bối cảnh tình hình kinh tế có nhiều khó khăn
đã cụ thể hóa bản chất tốt đẹp ấy Đầu tháng 4/2008, tại buổi thảo luận về một số
Trang 7vấn đề kinh tế - xã hội quý I/2008 cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, Bộ Chính trị đã kết luận: “Mục tiêu ưu tiên hàng đầu hiện nay là kiềm chế lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đặc biệt quan tâm tới an sinh xã hội, hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo, người làm công ăn lương chịu ảnh hưởng nhiều của lạm phát, để những năm tới tiếp tục phấn đấu đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn, cải thiện đời sống nhân dân" Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2008, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng truyền thông điệp: Chính phủ chủ trương mở rộng các chính sách về an sinh
xã hội Huy động từ các nguồn lực xã hội bổ sung cho các chương trình trợ giúp người nghèo, vùng nghèo bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng Thủ tướng cũng nhấn mạnh các cấp, các ngành phải hết sức chăm lo cho nhân dân, dứt khoát không để đồng bào nghèo, thuộc diện chính sách, ở vùng sâu, vùng xa, vùng chịu thiên tai bị đói Từ xưa ông cha ta đã có câu “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, việc những người nghèo, người yếu thế trong xã hội được các cấp, các ngành
và toàn xã hội quan tâm trợ giúp về cả vật chất và tinh thần đã tạo động lực to lớn
để họ vượt qua những khó khăn hiện tại, có cơ hội phát triển và hòa nhập vào cộng đồng Đặc biệt, sự nỗ lực, quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội đã không chỉ khiến cho các đối tượng cần trợ giúp mà còn khiến cho toàn dân tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ của chúng ta
- Dân tộc ta có truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương
ái Sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để
ổn định và phát triển xã hội đồng thời nhằm củng cố những giá trị nhân bản của con người giúp cho xã hội phát triển lành mạnh Hưởng ứng quyết tâm của Đảng, Nhà nước, thời gian qua nhiều cá nhân, tổ chức đã rất tích cực trong các hoạt động trợ giúp người nghèo, người cận nghèo và người dễ bị tổn thương trong xã hội Họ đã bổ sung những nguồn lực hết sức quan trọng cho công tác trợ giúp bên cạnh các chính sách, biện pháp trợ giúp được thực hiện bởi Nhà nước Thông qua các hình thức trợ giúp đa dạng, phong phú, nhiều cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước đã đến với những người cần trợ giúp
để hỗ trợ về tinh thần, tình cảm, giúp đỡ từ tiền, vật chất cụ thể như: gạo, bánh kẹo, quần áo, chăn màn cho đến hỗ trợ mang tính chất phát triển như: cấp vốn hoặc cho vay không tính lãi để phát triển kinh tế gia đình; hỗ trợ đào tạo nghề và
tư vấn việc làm; sửa chữa, xây dựng nhà cửa; nâng cao năng lực của cộng đồng nghèo để họ tự giải quyết những vấn đề khó khăn tại cộng đồng nghèo Thông qua các phong trào nhân đạo do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và các tổ chức, các cá nhân khởi xướng như: chương trình “Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân gắn với một địa chỉ nhân đạo”, “Hũ gạo tình thương”, “Nhà tình thương, nhà Chữ thập đỏ”, “Quỹ
Trang 8một triệu ly sửa cho trẻ em nghèo Việt Nam”… đã làm thay đổi nhận thức và khơi dậy tấm lòng yêu thương con người trong xã hội Có những chương trình, chẳng hạn như việc thành lập Quỹ một triệu ly sữa cho trẻ em nghèo Việt Nam, không chỉ thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp, các nghệ sỹ mà còn hứa hẹn huy động sự tham gia của cả cộng đồng vì sự phát triển của trẻ em Việt Nam (Hộp 1)
Hộp 1 Thành lập Quỹ một triệu ly sữa cho trẻ em nghèo Việt Nam
Sáng 30/6/2008, Quỹ một triệu ly sữa cho trẻ em nghèo Việt Nam đã chính thức được công bố thành lập từ sáng kiến của Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam và Công ty Cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk) Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là Chủ tịch Quỹ này Quỹ có giá trị tối thiểu là 3 tỷ đồng do Vinamik tài trợ Cách thức đóng góp cho quỹ là khi người tiêu dùng mua một hộp sữa Vinamilk bất kỳ chính là đã đóng góp 60 đồng vào Quỹ một triệu ly sữa cho trẻ em nghèo Việt Nam
Các hoạt động chính của Quỹ là tổ chức diễn đàn Quyền uống sữa cho trẻ em Việt Nam, tổ chức trao tặng sữa cho các trẻ em nghèo, tổ chức chương trình ca nhạc từ thiện và truyền thông quảng bá sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng Các hoạt động này nhằm kêu gọi mọi người dân Việt Nam hãy có ý thức hơn trong việc chăm sóc sức khỏe và đảm bảo dinh dưỡng cho gia đình mình, đồng thời chia sẻ các khó khăn với trẻ em nghèo suy dinh dưỡng, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trong thời gian 2 tháng đầu mới thành lập từ 1/7-30/8/2008, Quỹ sẽ cung cấp 1 triệu hộp sữa miễn phí cho 50 nghìn trẻ em nghèo của 14 tỉnh, thành phố trong cả nước
là Hà Nội, Hải Phòng, Cao Bằng, Nghệ An, Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Đắc Lắk, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau Các em sẽ được uống miễn phí 2 hộp sữa mỗi ngày trong vòng 10 ngày liên tục và như vậy, trong đợt này, trung bình mỗi em sẽ nhận được 20 hộp sữa từ Quỹ
Phát biểu khai mạc lễ công bố thành lập Quỹ một triệu ly sữa cho trẻ em nghèo Việt Nam, Bộ Trưởng Bộ Lao đông – Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Quỹ Nguyễn Thị Kim Ngân mong muốn từ những kết quả bước đầu này có thể tiếp tục duy trì Quỹ sữa dành cho trẻ em nghèo với các hoạt động ngày càng phong phú và đa dạng hơn Nhân dịp này, Chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân cũng kêu gọi và mong muốn nhận được
sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, các cá nhân, các cơ quan, các doanh nghiệp trong và ngoài nước hỗ trợ cho Quỹ với mục tiêu đảm bảo quyền uống sữa cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, từng bước góp phần làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 20% vào năm 2010
Các ca sĩ Mỹ Tâm, Lam Trường, các nghệ sĩ Thanh Bạch, Quyền Linh, Xuân Bắc và em Nguyễn Tấn Hoàng Nam (nhà vô địch cờ vua Đông Nam Á) được chọn làm đại sứ thiện chí của Quỹ đã rất hào hứng với chương trình Họ cho biết, với tình thương
Trang 9yêu đối với trẻ em, họ sẽ đồng hành với tất cả mọi hoạt động của Quỹ một cách nhiệt tình, vô điều kiện và sẽ tích cực kêu gọi người tiêu dùng ủng hộ chương trình để Quỹ có thể đem đến cho trẻ em nghèo nhiều hơn một triệu ly sữa
Được biết, hiện Việt Nam có trên 2,6 triệu trẻ em suy dinh dưỡng thiếu chiều cao (cứ 3 trẻ em thì có 1 trẻ thiếu chiều cao) Ngoài ra, có hơn 2 triệu trẻ em suy dinh dưỡng
vì thiếu cân nặng (cứ 5 trẻ em thì có một trẻ suy dinh dưỡng vì thiếu cân nặng) Phần lớn trong số đó là các em nghèo và khó khăn Tỷ lệ sữa sử dụng trên đầu người tại Việt Nam hiện thấp nhất so với khu vực và thế giới, chỉ đạt 6 lít/đầu người/năm, trong khi tại Thái Lan là 22 lít và Trung Quốc là 26 lít Chiều cao và thể lực của người Việt Nam cũng yếu nhất trong khu vực (Chiều cao của nam thanh niên Việt Nam 18 tuổi thấp hơn
8 cm so với nam thanh niên Nhật, các thiếu nữ Việt Nam ở độ tuổi 18 cũng thua 4 cm
về chiều cao so với thiếu nữ Nhật Bản) So với thế giới, chiều cao của nam, nữ thanh niên Việt Nam còn kém hơn rất nhiều Nguyên nhân là do thiếu chất dinh dưỡng, trong
đó có thiếu sữa
Nguồn: http://www.molisa.gov.vn (ngày 30/6/2008)
Những kết quả nêu trên cho thấy rằng, nếu chúng ta có các biện pháp thích hợp thì sẽ huy động được các bộ phận rộng khắp trong xã hội tham gia các hoạt động trợ giúp Nhờ vậy sẽ giảm thiểu những tác động tiêu cực từ lạm phát đến người nghèo, người cận nghèo, người dễ bị tổn thương, giúp họ vượt qua những khó khăn hiện tại trong cuộc sống
- Về khía cạnh kinh tế, các biện pháp trợ giúp đã góp phần cải thiện tình hình thu nhập của những đối tượng cần trợ giúp Về bản chất, các biện pháp này
có chức năng như một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong
xã hội Như đã nêu trên đây, lạm phát đã âm thầm di chuyển thu nhập của người nghèo sang người giàu Lạm phát là “kẻ thù” của người tiêu dùng nói chung và là
“kẻ thù nguy hiểm” của người nghèo nói riêng Việc thực hiện các biện pháp trợ giúp bằng tiền mặt hoặc hiện vật sẽ giúp nâng cao thu nhập thực tế của những đối tượng được trợ giúp, qua đó cải thiện điều kiện kinh tế trước mắt của họ Bên cạnh đó, việc trợ giúp thông qua các biện pháp có tính chất phát triển như cho vay vốn, dạy nghề, tạo việc làm… thì giống như một cách đầu tư có hiệu quả Nó tạo
cơ hội và năng lực cho các đối tượng được trợ giúp tự vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng Khi đó, bản thân họ sẽ tạo ra được thu nhập, đóng góp một phần vào sự tăng trưởng kinh tế, và quan trọng hơn là giúp giảm chi ngân sách nhà nước cho các đối tượng cần trợ giúp khi họ đã tự lực được trong cuộc sống,
và lúc này họ không còn là đối tượng cần trợ giúp nữa Việc thực hiện trợ giúp còn góp phần giữ vững ổn định xã hội tạo cơ hội cho phát triển kinh tế, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế Kinh tế muốn tăng trưởng và phát triển phải dựa trên một xã hội ổn định và an toàn Sự ổn định, an toàn xã hội cho phép các nhà đầu tư
Trang 10yên tâm đầu tư mở rộng sản xuất- kinh doanh Vì vậy, mặc dù lạm phát đang ở mức cao nhất trong nhiều năm qua, một số chỉ số kinh tế vĩ mô có biểu hiện không tích cực, song với một nền tảng rất quan trọng là sự ổn định về chính trị, xã hội, Việt Nam có khả năng sớm vượt qua những khó khăn hiện tại về kinh tế
- Không chỉ có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, sự trợ giúp đối với người nghèo, người cận nghèo, người dễ bị tổn thương còn có ý nghĩa về mặt chính trị,
xã hội, văn hóa, nhân văn sâu sắc Trên bình diện xã hội, việc trợ giúp xã hội là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là những người nghèo khó, những nhóm dân cư yếu thế trong xã hội Việc thực hiện
có hiệu quả các biện pháp trợ giúp xã hội sẽ giải quyết tốt các vấn đề xã hội, ngăn ngừa sự rạn nứt xã hội trong hoàn cảnh khó khăn Đây là nền tảng để xây dựng một xã hội bác ái, công bằng, vì trợ giúp xã hội không chỉ giải quyết các vấn đề
xã hội mà còn góp phần thiết yếu trong việc phát triển xã hội, thể hiện sự chuyển giao xã hội, làm cho xã hội tốt đẹp hơn, văn minh hơn
Về khía cạnh chính trị, việc thực hiện các biện pháp trợ giúp xã hội đóng vai trò tích cực đối với sự ổn định chính trị của đất nước Điều này là dễ nhận ra, bởi lẽ tình hình kinh tế - xã hội của đất nước có ổn định, có vững mạnh thì tình hình chính trị mới ổn định và vững mạnh Trong khi đó, lạm phát là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bất ổn về kinh tế và xã hội, do đó dẫn đến bất
ổn về chính trị Hiện nay, một số nước châu Á đang phải đối mặt với những nguy
cơ lớn về bất ổn chính trị do lạm phát cao (Hộp 2)
Hộp 2 Bất ổn chính trị do giá lương thực tăng cao
Một số nước châu Á đang phải đối mặt với nhiều cuộc đình công, biểu tình và nạn đầu cơ, khi giá lương thực và nhu yếu phẩm tăng chóng mặt, đặc biệt là gạo, đe dọa làm giảm tỷ lệ ủng hộ chính phủ trong các cuộc bầu cử
Ở Philippines, quốc gia nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới, tuần trước chính phủ đã triển khai quân đội để phân phát lương thực tới những khu vực nghèo khó quanh thủ đô Manila, trong lúc người dân lo sợ tình trạng thiếu gạo Nhà chức trách cũng ra lệnh cho cảnh sát bắt giam những kẻ đầu cơ gạo để ngăn chặn nguy cơ giá tăng Tại Inđônêsia, dầu hỏa - chất đốt chính của người nghèo dùng để nấu ăn - lên giá khiến đời sống của
họ thêm khó Trước kia, tổng thống Suharto của nước này đã mất ghế trong một cuộc bạo động lớn của dân chúng, bùng nổ sau khi nhà cựu độc tài ra lệnh tăng giá nhiên liệu trong bối cảnh kinh tế đang khủng hoảng
Tại Trung Quốc, lạm phát là một trong những mối lo đặc biệt của cả dân lẫn giới chức Giá thịt lợn ở đây đã tăng 60% so với năm ngoái Jean -Pierre Cabestan, giáo sư đại học Hong Kong Baptist nhận xét rằng "Đang có sự bất bình vì giá tăng Sự bất bình
đó có thể là nguồn gốc cho những căng thẳng trong tương lai Tuy nhiên mức độ căng
Trang 11thẳng trong xã hội sẽ không quá nghiêm trọng, do hiện nay tầng lớp trung lưu đã chiếm một phần lớn và ổn định ở Trung Quốc”
Giá cả leo thang cũng đang trở thành một trong những chủ đề quan trọng trong các cuộc bầu cử ở châu Á Bầu cử ở Pakistan tháng hai vừa rồi còn mang nhiều dư âm của vụ ám sát cựu thủ tướng và các cuộc đánh bom tự sát, và cả tình trạng thiếu bánh mì
- thứ lương thực thiết yếu của dân chúng Bánh mì ở đây tăng giá gấp đôi kể từ năm ngoái
Nguồn: http://www.doisongphapluat.com.vn , ngày 10/4/2008
Ở Việt Nam, chúng ta không phải đối mặt với những nguy cơ nặng nề đến như trên, dù lạm phát ở nước ta đang ở mức cao Điều đó phần nào cho thấy chúng ta đã thực hiện có hiệu quả các biện pháp trợ giúp các đối tượng cần trợ giúp trong xã hội trong bối cảnh lạm phát cao
II- TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO, NGƯỜI CẬN NGHÈO, NGƯỜI DỄ BỊ TỔN THƯƠNG LÀ NÔNG DÂN
1- Tác động của lạm phát đối với nông dân nghèo
Như đã nêu ở phần trên, lạm phát là “kẻ thù” của người tiêu dùng nói chung và là “kẻ thù nguy hiểm” của người nghèo Nông dân hiện chiếm gần ba phần tư dân số cả nước và có tới 90% người nghèo của cả nước là nông dân, do vậy chính những người nông dân là đối tượng phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của lạm phát Không chỉ ảnh hưởng đến tiêu dùng, trong thời gian qua, lạm phát cao còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất của người nông dân Tác động của lạm phát đối với nông dân nghèo có thể được phân tích ở một số khía cạnh sau đây:
- Thứ nhất, lạm phát tăng cao ảnh hưởng nặng nề đến tiêu dùng của người nông dân nghèo. Xem xét tình hình lạm phát ở nước ta trong năm 2007 và những tháng đầu năm 2008, có thể nhận thấy rằng các nhóm hàng lương thực và thực phẩm- chiếm 42,85% trong cơ cấu rổ hàng hoá- có tốc độ tăng giá mạnh nhất (Bảng 1) Trong khi đó, nông dân nghèo phải dành tới 70% thu nhập của mình để chi tiêu cho lương thực, thực phẩm, vì vậy giá cả các nhóm hàng này tăng cao đã ngốn đi gần như toàn bộ thu nhập của họ Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm cuối năm 2007 so với năm 2006, thu nhập thực tế của những người nghèo thuộc nhóm chi tiêu thấp nhất đã bị giảm 293.000 đồng/hộ, nhóm cận nghèo bị giảm 115.000 đồng/hộ, còn thu nhập thực tế của các nhóm trung bình, khá và giàu đều tăng
Bảng 1 Tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng giá của một số mặt hàng năm
2007 và 7 tháng đầu năm 2008 (%)
Trang 12Năm Tỷ lệ lạm
phát
Lương thực
Thực phẩm
Dược phẩm – Y
so sánh giữa khu vực thành thị và nông thôn về tỷ lệ đến trường của trẻ em cấp tiểu học thì thấy rằng không có sự chênh lệch nhiều lắm Song càng lên các cấp cao hơn như trung học cơ sở, trung học phổ thông thì chênh lệch càng lớn Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện kinh tế khó khăn, càng lên các cấp cao hơn chi phí cho việc đi học càng lớn và điều điều kiện đi học cũng khó khăn hơn, nên nhiều học sinh phải bỏ học.
- Thứ hai, lạm phát tăng cao ảnh hưởng xấu tới quá trình sản xuất, kinh doanh của nông dân Việt Nam tuy là nước nông nghiệp và có tỷ trọng xuất khẩu nông sản cao nhưng người nông dân Việt Nam không thực sự là những người được hưởng lợi nhiều từ giá trị xuất khẩu Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa diễn ra theo cách khiến hàng nghìn nông dân mất đất và chịu thua thiệt, trong khi chính sách bảo hộ dành cho nông nghiệp của nước ta lại quá “mong manh” Thực tế, nông nghiệp nước ta chỉ được nhận bảo hộ từ Nhà nước ở mức 10%, còn
tỷ lệ tương ứng ở ngành công nghiệp là 30%
Bên cạnh đó, phần lớn nông dân chưa có nhiều cơ hội tiếp cận dịch vụ sản xuất như khuyến nông, các dịch vụ về tín dụng và đặc biệt là thiếu các thông tin
về thị trường Một số ý kiến cho rằng mức giá tăng như hiện nay thì người nông dân được lợi, nhưng điều này chưa đúng vì một số lý lẽ sau đây Thứ nhất, người nông dân vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng lương thực, thực phẩm, họ phải gánh chịu tác động xấu của việc tăng giá vì phần thu nhập của họ dành cho hàng lương thực, thực phẩm là rất lớn (như đã nêu trên đây) Thứ hai, giá các mặt hàng đầu vào cho sản xuất như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc, xăng dầu tăng cao đã làm tăng đáng kể chi phí sản xuất của nông dân Thứ ba,
Trang 13người nông dân còn phải chịu nhiều tác động từ tình hình thiên tai, dịch bệnh và hiện tượng thay đổi khí hậu toàn cầu (Hộp 3)
Hộp 3 Tác động của biến đổi khí hậu tới người nông dân
Biến đổi khí hậu làm cho thời tiết trở nên bất thường, khó dự báo hơn Điển hình
là việc miền Bắc vừa trải qua một đợt rét đậm, rét hại kéo dài nhất Đợt rét kỷ lục kéo dài gần 40 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 vừa qua đã cho thấy tác động khắc nghiệt của sự biến đổi khí hậu tới nền kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), đợt rét đậm này xảy ra đúng vào thời vụ cấy lúa xuân sớm và gieo mạ xuân muộn nên đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất Tổng hợp từ 16 tỉnh, thành phố khu vực miền Bắc cho biết, đến nay đã có khoảng 53.000 ha lúa và trên 5.000 ha mạ bị chết rét Cục Chăn nuôi cũng cho biết, rét kéo dài đã làm cho nhiều gia súc bị chết Những tỉnh có nhiều trâu, bò chết do rét và đói thường tập trung ở các vùng cao, hộ nông dân nghèo, chăn nuôi theo tập quán thả rông gia súc Các tỉnh bị thiệt hại nhiều nhất là Hà Giang 2.000 con, Sơn La 1.458 con, Lạng Sơn 1.000 con… Hiện nay, nông nghiệp, nông thôn nước ta đang và sẽ là lĩnh vực chịu ảnh hưởng của tác động biến đổi khí hậu nặng nề nhất
Nguồn: VNEP, tháng 4/2008.
Trong những nguyên nhân trên, đáng chú ý là tốc độ tăng giá các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp lại cao hơn đáng kể tốc độ tăng giá đầu ra (lương thực và thực phẩm) (Bảng 2) Kết quả là, tuy giá của lương thực, thực phẩm tăng nhưng người nông dân không có lợi, thậm chí còn rơi vào tình trạng thua lỗ
Bảng 2 Tỷ lệ tăng giá của lương thực, thực phẩm và các yếu tố đầu vào trong sản xuất nông nghiệp (%)
Lương thực
Thực phẩm
Phân bón
Thức ăn gia súc
và nguyên phụ liệu
Thuốc trừ sâu Năm 2007 15,4 21,16 19,2 30 – 40 20
Trang 14Cửu Long mua gạo ngoài chợ với giá luôn cao hơn giá gạo xuất khẩu Kênh phân phối nhiểu tầng, nấc đã đẩy giá gạo nội địa lên cao hơn giá xuất khẩu Lúa hàng hóa của nông dân hiện nay từ đồng ruộng đến xuất khẩu phải trải qua nhiều khâu: thương nhân nhỏ - chủ vựa lúa – nhà máy xây xát nguyên liệu – nhà máy lau bóng – doanh nghiệp xuất khẩu Lúa gạo sau khi qua tay trung gian đã bị đẩy giá lên quá cao so với giá mua tại ruộng của nông dân Nhiều sản phẩm khác cũng xảy ra tình trạng tương tự
- Thứ ba, lạm phát tăng cao làm tăng nguy cơ tái nghèo của các hộ nông dân Lạm phát cao đã không chỉ làm giảm chất lượng cuộc sống, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, mà còn làm cho nguy cơ tái nghèo của các hộ nông dân tăng cao Trên cơ sở tổng chi phí cho một rổ hàng hóa tiêu dùng lương thực và phi lương thực, cung cấp đủ 2.100 kcalo/người/ngày, chuẩn nghèo năm 2005 được ban hành áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 là 200.000 đồng/người/tháng với khu vực nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị Tuy nhiên, theo một tính toán, với tốc độ tăng giá như cuối năm 2007 và những tháng đầu năm 2008, để đạt được 2.100 Kcalo/người/ngày, phải chi tiêu 383.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị và 310.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn Do tác động của lạm phát, đặc biệt là do giá lương thực, thực phẩm tăng cao, số hộ nghèo của cả nước cuối năm 2007 đã tăng thêm khoảng 335.000
hộ so với thời điểm năm 2006, trong đó có trên 245.000 hộ gia đình nông thôn
- Thứ tư, lạm phát tăng cao góp phần gia tăng sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm dân cư trong xã hội Giá cả tăng tác động đến mọi người dân nhưng tác động mạnh nhất tới người nghèo, trong đó phần lớn là nông dân Vì những người nghèo phải sử dụng hầu hết thu nhập cho những chi tiêu hàng ngày, nên giá cả leo thang khiến cuộc sống của người nghèo ngày càng khó khăn và làm cho quá trình phân hóa giàu - nghèo, khoảng cách nông thôn - thành thị ngày càng
mở rộng Xu hướng này bị làm trầm trọng thêm bởi thực tế là lạm phát ở khu vực nông thôn cao hơn ở thành thị trong những tháng vừa qua (Bảng 3)
Bảng 3 CPI khu vực nông thôn và thành thị 7 tháng đầu năm 2008 (%)
Thành thị 2,19 3,66 2,58 2,06 3,9 2,2 1,1
Nguồn: Tổng cục thống kê
2- Các chính sách và biện pháp trợ giúp
Trang 15Trước những khó khăn người nông dân gặp phải trong tình hình lạm phát cao, thời gia qua, Nhà nước, các cấp, các ngành đã có các chính sách, biện pháp trợ giúp nông dân nghèo để ổn định cuộc sống và phát triển sản xuất Có thể kể một số chính sách và biện pháp như: cấp học bổng theo mức 1/3 lương tối thiểu cho học sinh dân tộc các trường nội trú; hỗ trợ học sinh mẫu giáo, học sinh phổ thông bán trú con các hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc khu vực II, theo mức 70.000 đồng/tháng/học sinh mẫu giáo, 140.000 đồng/tháng/học sinh phổ thông bán trú Năm 2008, nâng mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo từ 80.000 đồng/người/năm, trẻ em dưới 6 tuổi từ 108.000 đồng/người/năm lên 130.000 đồng/người/năm; hỗ trợ người cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện với mức bằng 50% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế; hỗ trợ dầu thắp sáng cho đồng bào dân tộc thiểu số (Hộp 4)
Hộp 4 Mức hỗ trợ của Nhà nước khi xăng dầu lên giá
Nhà nước tiếp tục hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, cận nghèo và ngư dân Cụ thể, tiếp tục cấp bằng tiền tương đương 5 lít dầu hỏa/năm (dầu thắp sáng) theo giá mới cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách và hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới
Điều chỉnh tăng thêm mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo và cận nghèo (từ 2% lương tối thiểu lên 3%); nâng mức hỗ trợ ngư dân theo mặt bằng giá mới Tiếp tục nghiên cứu ban hành các chính sách hỗ trợ mới như bảo hiểm thất nghiệp, chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, chính sách hỗ trợ cho 60 huyện, điểm nghèo nhất thuộc 19 tỉnh
Đặc biệt, đối với ngư dân khai thác hải sản, ngay trong ngày điều chỉnh giá bán xăng, dầu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định tăng hỗ trợ về dầu đối với ngư dân là chủ sở hữu tàu đánh bắt hải sản hoặc tàu cung ứng dịch vụ cho hoạt động khai thác hải sản từ 1 - 2 triệu đồng cho một chuyến đi đánh bắt hải sản
Đối với tàu có công suất máy từ 90CV trở lên, mức hỗ trợ tăng từ 8 triệu đồng lên 10 triệu đồng cho 1 chuyến đi đánh bắt hải sản; với tàu từ 40 - 90 CV, tăng từ 5 triệu đồng lên 6,5 triệu đồng; với tàu dưới 40 CV, tăng từ 3 triệu đồng lên 4 triệu đồng Việc hỗ trợ được thực hiện trong năm 2008
Nguồn: Vietnamnet.
Mặc dù đã được hưởng những biện pháp trợ giúp như trên, nhưng nhìn chung đời sống của phần đông những người nông dân nghèo không được cải thiện là mấy Họ vẫn là những người chịu tác hại nặng nề nhất của lạm phát Thực
tế này đặt ra yêu cầu Nhà nước, các cấp, các ngành cũng như toàn xã hội phải có các biện pháp thực sự có hiệu quả trợ giúp những đối tượng này
2.1 Hỗ trợ sản xuất và đời sống của nông dân nghèo
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn và nhất quán của Đảng và Nhà nước nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc Thành tựu
Trang 16xóa đói giảm nghèo vừa qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu nghèo giữa các nhóm dân cư chưa được thu hẹp, đặc biệt là ở những huyện có tỷ lệ nghèo cao1
Để thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững cho các huyện nghèo là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài đòi hỏi phải có sự chỉ đạo tập trung và thiết thực, thể hiện rõ trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với người nghèo mà phần lớn là nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số Ngày 27/12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tập trung chỉ đạo thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở những địa bàn khó khăn nhất của cả nước
Trước mắt cũng như lâu dài, giải pháp cơ bản là cần tập trung nguồn lực của Trung ương hỗ trợ cho các huyện nghèo nhất của cả nước, hầu hết các huyện này có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% và thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu và các điều kiện
cơ bản để phát triển sản xuất và các dịch vụ xã hội cơ bản, nhiều vùng nông thôn hàng năm vẫn trong tình trạng thiếu lương thực từ 3– 4 tháng Chính phủ cần thiết lập một chương trình giảm nghèo toàn diện cho các huyện này với cơ chế hỗ trợ riêng Các địa phương cần sử dụng nguồn ngân sách địa phương ưu tiên cho các
xã có tỷ lệ nghèo đói cao, kết hợp với sự hỗ trợ từ ngân sách trung ương
- Chính sách đầu tư: Theo các số liệu thống kê 5 năm (2003 - 2007), Việt Nam đầu tư cho phát triển nông nghiệp chỉ đạt 113 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,7% vốn đầu tư nhà nước và mới chỉ đáp ứng 17% nhu cầu của khu vực nông nghiệp Bảo hộ nông nghiệp mới chỉ ở mức 4% (260 triệu USD) trong khi cam kết với WTO là 10% (650 triệu USD) so với giá trị sản lượng nông nghiệp Đầu tư cho khuyến nông chỉ là 0,13% GDP (trong khi các nước khác tỷ lệ này là 4%) Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào nông nghiệp, nông thôn mới chiếm 3% tổng nguồn FDI… Đây là đầu tư chưa tương xứng với sự đóng góp của nông nghiệp vào tăng trưởng kinh tế, không đáp ứng được yêu cầu phát triển mới của nông nghiệp
Để phát triển nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ nông dân nghèo…, Nhà nước cần: tăng mức đầu tư cho nông nghiệp nông thôn từ 15 - 17% trong các năm qua lên 25 – 30% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, cùng với việc dành toàn bộ các nguồn vốn hỗ trợ trước đây cho khuyến khích xuất khẩu nông sản để đầu tư
1 Đến cuối năm 2006, cả nước có 61 huyện nghèo (gồm 797 xã và thị trấn) thuộc 20 tỉnh có tỷ
lệ hộ nghèo trên 50%.
Trang 17phát triển thủy lợi, giao thông nông thôn…; hỗ trợ việc xây dựng hệ thống kho tàng, các cơ sở bảo quản, phơi sấy nhằm giảm hao hụt, tạo điều kiện điều tiết lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường nhằm ổn định giá cả, phát triển chợ nông thôn; đầu tư mạnh vào việc phát triển, cải tạo các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt để cung cấp cho nông dân có sự hỗ trợ giá từ ngân sách nhà nước; phát triển và tổ chức lại hệ thống khuyến nông trên cả 4 cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã và hợp tác xã); nghiên cứu để hình thành cơ chế gắn việc thu hút lao động trong nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, xuất khẩu lao động với việc chuyển giao, cho thuê lại ruộng đất để đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất
- Chính sách về ruộng đất: Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đề xuất với Chính phủ phải bảo vệ đất nông nghiệp, kiên quyết giữ bằng được diện tích đất trồng lúa, đảm bảo diện tích canh tác Quốc hội cũng có ý kiến, phải giữ 3,8 triệu ha đất trồng lúa, kiên quyết không cho khu công nghiệp vào những vùng đất này Phát triển khu công nghiệp tập trung phải đưa vào vùng đất xa, đất xấu và vùng sâu, vùng xa, tránh lấy vào đất tốt Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt của nông dân Do đó cần phải gấp rút cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất lâu dài để cho họ yên tâm, tập trung đầu tư thâm canh khoa học kỹ thuật Có thể nói, đây là chính sách có vị trí quan trọng hàng đầu để tự cứu – tự xóa đói giảm nghèo của các hộ nông dân nghèo Tuy nhiên, trong nhiều năm qua và cả hiện nay, ở một số địa phương đã thực hiện chưa đúng chính sách này
Hiện cả nước có nửa triệu hộ nông dân nghèo không có hoặc thiếu ruộng đất để sản xuất Trong khi đó có những người giàu có là dân đô thị, là cán bộ đến chiếm hoặc mua rẻ đất để lập nhiều đồn điền quy mô lớn đến hàng trăm, hàng nghìn ha Để giải quyết vấn đề này, các địa phương cần rà soát lại quỹ đất hiện có
và có biện pháp thu hồi số diện tích giao sai, lấn chiếm của không ít cán bộ hoặc đất sử dụng không hiệu quả của các chủ đồn điền, các nông, lâm trường… để giao trả lại cho hộ nông dân nghèo sử dụng để các hộ này canh tác, tự bảo đảm cuộc sống và giảm nghèo bền vững Mặt khác, Ngân hàng Chính sách Xã hội cần cho nông dân vay đủ số vốn để chuộc lại ruộng đất mà họ đã bán (nếu có nhu cầu) và cho vay sản xuất, để nhận thêm đất hoang, đất đồi, rừng, mở rộng diện tích canh tác và giảm nghèo
- Chính sách lao động – việc làm: Đẩy mạnh chương trình đào tạo việc làm cho nông dân và hộ nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn gắn liền với chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa kinh tế nông nghiệp và nông thôn Thực hiện chính sách “ly nông bất ly
Trang 18hương” gắn với chính sách khuyến khích nông dân, bao gồm cả nông dân nghèo, phấn đấu trở thành các doanh nhân, lập các trang trại, các doanh nghiệp nhỏ, phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, công ty cổ phẩn… Đồng thời, có các chính sách khuyến khích đầu tư dạy nghề để từng bước rút một phần lực lượng lao động
từ nông thôn đáp ứng nhu cầu của những trung tâm công nghiệp lớn, thành phố công nghiệp và một phần cho xuất khẩu lao động… Bảo đảm mục tiêu mọi người lao động ở nông thôn, nhất là hộ nghèo, đều có việc làm, có thu nhập và có đời sống ngày càng tăng; tạo điều kiện xích gần khoảng cách thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa hộ giàu và hộ nghèo
Chú trọng phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn Đây là một giải pháp lâu dài và hữu hiệu để thực hiện chủ trương tạo việc làm cho lao động nông thôn Nhà nước cần phải tạo điều kiện thuận lợi tối đa về mặt thủ tục để cơ
sở sản xuất đăng ký thành lập doanh nghiệp được dễ dàng Bên cạnh đó, khuyến khích các doanh nghiệp bằng các biện pháp như cho vay vốn ưu đãi, miễn giảm thuế, hỗ trợ tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm,…
- Chính sách tài chính – tín dụng: Nâng cao hiệu quả chính sách đầu tư cho vùng nghèo và tín dụng đối với hộ nghèo Nhà nước cần kết hợp chính sách ưu tiên và sự dụng vốn của Nhà nước cho phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa cao hơn nữa với chính sách đầu tư cho vùng nghèo, xã nghèo, hộ nghèo một cách hợp lý Tăng cường các biện pháp giám sát, quản lý nguồn vốn tín dụng, tránh để xảy ra tình trạng tham nhũng Cần thống nhất quản lý các nguồn vốn cho hộ nghèo vay vào một đầu mối, tránh tình trạng như hiện nay có hơn 10 đầu mối, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng Có chính sách công khai mọi chương trình, dự án, mọi nguồn vốn, cách thức đấu thầu, đầu tư xây dựng các công trình của đất nước để người dân được biết và có thể tham gia chống tham nhũng có hiệu quả Nên thống nhất mức lãi suất cho người nghèo vay qua ngân hàng khi người nghèo có nhu cầu vay thêm vốn cho sản xuất, đồng thời hạn chế tình trạng người khá giả thông đồng với một số cán
bộ để được vay nhiều vốn hơn và hưởng chênh lệch lãi suất
Hộp 5 Thêm 10.000 tỷ đồng vốn phục vụ nông thôn
Ngày 5/8, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) đã ra quyết định bổ sung 10.000 tỷ đồng vốn tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, chủ yếu là cho hoạt động thu mua lương thực, nôngsản, thủy sản, phân bón và phát triển kinh doanh của các hộ sản xuất
Theo thống kê của Agribank, 70% trong tổng số 252.000 tỷ đồng dư nợ hiện nay của ngân hàng là dành cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân