Cách tiếp cận đa ngành và liên ngành của nhiều chuyên gia nghiên cứu sâu về một lĩnh vực trên một địa bàn được xác định cụ thể, tạo điều kiện cho việc hiểu biết toàn diện về các điều kiệ
Trang 1MỤC LỤC
TÓM TẮT:
ABSTRACT:
BÁO CÁO TÓM TẮT R05:
LỜI CẢM ƠN:
DANH MỤC HÌNH:
DANH MỤC BẢNG:
MỞ ĐẦU 1
Xuất xứ đề tài 1
Tính cấp thiết về địa bàn nghiên cứu 2
Nội dung và phạm vi nghiên cứu 4
Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
Những kết quả chính đã đạt được 6
CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về khoa học phát triển và phát triển bền vững cấp huyện 10
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững (Sustainable development, Development duerable) 10
1.1.2 Lý thuyết về cấp độ phát triển bền vững 18
1.1.3 Lý thuyết về phát triển cộng đồng bền vững 19
1.1.4 Các mô hình phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới 20
1.1.5 Lý thuyết về phát triển bền vững ở Việt Nam 25
1.1.6 Tình hình nghiên cứu về phát triển bền vững cấp huyện 31
1.1.7 Các nhân tố chính tác động đến sự phát triển bền vững 32
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu khu vực Thoại Sơn - An Giang 32
1.3 Tổng quan các quan điểm, các bước nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu áp dụng cho thực hiện đề tài 35
1.3.1 Các bước nghiên cứu và phương pháp áp dụng cho thực hiện đề tài 35
1.3.2 Quan điểm phát triển bền vững: Đi tìm một mô hình phát triển bền vững cho Thoại Sơn? 40
Trang 2CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ CỘNG ĐỒNG DÂN
CƯ VÙNG ĐẤT THOẠI SƠN 42
2.1 Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Thoại Sơn 42
2.1.1 Vương quốc Phù Nam và sự hình thành vùng đất Thoại Sơn 42
2.1.2 Thoại Sơn từ giữa thế kỷ VII đến năm 1757 51
Thoại Sơn trong thời kỳ hậu Phù Nam 52
2.1.3 Thoại Sơn từ sau năm 1757 đến nửa sau thế kỷ XIX 55
2.1.4 Thoại Sơn từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay 69
2.2 Quá trình hình thành và phát triển cộng đồng dân cư vùng đất Thoại Sơn 79
2.2.1 Quá trình hình thành cộng đồng dân cư (tích hợp) 79
2.2.2 Thực trạng dân số, phân bố dân cư và nguồn nhân lực 89
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 96
3.1 Vị trí địa lý và vị thế 96
3.1.1 Vị trí địa lý 96
3.1.2 Ý nghĩa của vị trí địa lý 96
3.2 Nền địa chất và địa mạo 99
3.2.1 Nền địa chất 99
3.2.2 Tài nguyên kháng sản 102
3.2.3 Các dạng địa hình 104
3.3 Đặc điểm khí hậu và ý nghĩa của nó đối với sản xuất và đời sống 109
3.3.1 Đặc điểm các yếu tố khí hậu 109
3.3.2 Vai trò của khí hậu đối với các hợp phần tự nhiên khác, đối với sản xuất và đời sống 111
3.4 Thủy văn và tài nguyên nước 113
3.4.1 Mạng lưới thủy văn và thủy chế 113
3.4.2 Tài nguyên nước mặt, nước ngầm 113
3.4.3 Ảnh hưởng của thủy văn đến đời sống và sản xuất – mùa nước nổi 115
3.5 Đặc điểm thổ nhưỡng – sinh vật 117
Trang 33.5.1 Đặc điểm thổ nhưỡng 117
3.5.2 Tài nguyên sinh vật 118
3.6 Thực trạng và xu thế diễn biến môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu 119
3.6.1 Thực trạng môi trường 119
3.6.2.Xu thế biến đổi môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu 139
3.7 Tai biến thiên nhiên 141
3.7.1 Các dạng tai biến thiên nhiên 141
3.7.2 Biến đối khí hậu và hệ quả đối với sản xuất và đời sống 157
CHƯƠNG 4 KINH TẾ HUYỆN THOẠI SƠN 166
4.1 Tình hình ruộng đất và kinh tế truyền thống 166
4.2 Thực trạng tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế 186
4.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 189
4.4 Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 218
4.5 Cơ cấu kinh tế lãnh thổ 231
4.6 Sinh kế người dân Thoại Sơn 238
4.6.1 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu sinh kế 239
4.6.2 Các nguồn lực sinh kế của người dân huyện Thoại Sơn 241
4.6.3 Thực trạng sinh kế của người dân huyện Thoại Sơn 247
4.6.4 Tác động của sinh kế đến chất lượng đời sống của người dân Thoại Sơn 252 4.6.5 Một số giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư huyện Thoại Sơn 258
4.6.7 Thực trạng xây dựng nông thôn mới 261
4.7 Phân tích thực trạng kinh tế theo quan điểm phát triển bền vững 265
CHƯƠNG 5 VĂN HÓA ÓC EO QUA DI TÍCH, DI VẬT TRÊN VÙNG ĐẤT THOẠI SƠN 270
5.1 Những nghiên cứu văn hóa Óc Eo 270
5.1.1 Những nghiên cứu trước năm 1975 270
5.1.2 Những nghiên cứu sau năm 1975 272
Trang 45.2 Di tích, di vật văn hóa Óc Eo trên đất Thoại Sơn 287
5.2.1 Di tích cư trú 287
5.2.2 Di tích kiến trúc 289
5.2.3 Di vật văn hóa Óc Eo 291
CHƯƠNG 6 VĂN HÓA HUYỆN THOẠI SƠN 311
6.1 Văn hóa và giao lưu văn hóa tại huyện Thoại Sơn trong lịch sử 311
6.2 Tín ngưỡng và tôn giáo 317
6.2.1 Thoại Sơn trong bức tranh tín ngưỡng - tôn giáo Nam bộ 317
6.2.2 Các loại hình tín ngưỡng ở Thoại Sơn 326
6.2.3 Các loại hình và sinh hoạt tôn giáo ở Thoại Sơn 346
6.2.4 Đặc điểm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Thoại Sơn xưa và nay 359
6.3 Các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể 368
6.3.1 Văn hóa ẩm thực ở Thoại Sơn 368
6.3.2 Trang phục 376
6.3.3 Nhà ở 384
6.3.4 Phương tiện di chuyển 390
6.3.5 Công cụ sản xuất và dụng cụ sinh hoạt truyền thống 393
6.3.6 Văn học 398
6.3.7 Các loại hình nghệ thuật 423
6.4 Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 443
CHƯƠNG 7 CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI HUYỆN THOẠI SƠN 456
7.1 Tình hình chính trị, xã hội và an ninh 456
7.2 Tình hình xã hội và an ninh 503
7.2.1 Tình hình xã hội 503
7.2.2 Tình hình an ninh 507
7.3 Giáo dục 521
7.3.1 Hệ thống giáo dục 521
7.3.2 Vấn đề xã hội hóa giáo dục 525
7.3.3 Thành tựu, hạn chế và giải pháp phát triển 526
Trang 57.4 Y tế và sức khỏe cộng đồng 537
7.4.1 Hệ thống tổ chức y tế và sức khỏe cộng đồng 537
7.4.2 Sự kết hợp đông - tây y trong chuẩn đoán, điều trị 551
7.4.3 Thành tựu, hạn chế và giải pháp phát triển 553
CHƯƠNG 8 NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN VÀ LỢI THẾ SO SÁNH CỦA HUYỆN THOẠI SƠN 567
8.1 Phân tích các nguồn lực phát triển 567
8.1.1 Khái quát về nguồn lực phát triển 567
8.1.2 Nguồn lực tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 568
8.1.3 Nguồn lao động 575
8.1.4 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 584
8.1.5 Nguồn vốn đầu tư 594
8.1.6 Nguồn lực văn hóa – xã hội 606
8.1.7 Nguồn lực chính sách 614
8.1.8 Đánh giá tổng hợp 632
8.2 Phân tích các lợi thế so sánh và đánh giá tổng hợp huyện Thoại Sơn 638
8.2.1 Vị thế của Thoại Sơn trong tỉnh An Giang 638
8.2.2 Vị thế so sánh của huyện Thoại Sơn trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước 661
8.2.3 Mối liên hệ kinh tế và trao đổi văn hóa giữa Thoại Sơn với TP Cần Thơ, TP Long Xuyên, TP Hồ Chí Minh và các địa phương khác 666
8.2.4 Phân tích SWOT về ưu thế, hạn chế so sánh và cơ hội, thách thức đối với sự phát triển của huyện Thoại Sơn 670
CHƯƠNG 9 ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 677
9.1 Cơ sở của việc định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường huyện Thoại Sơn 677
9.1.1 Cơ sở lý thuyết 678
9.1.2 Cơ sở thực tiễn 680
Trang 69.1.3 Quan điểm và nguyên tắc định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế
và bảo vệ môi trường huyện Thoại Sơn 681
9.1.4 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện Thoại Sơn đến năm 2020 684
9.1.5 Lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu trong định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế xã hội 686
9.2 Phân tích xu thế biến đổi dân cư và dự báo phát triển kinh tế xã hội 687
9.2.1 Xu thế biến đổi dân cư 687
9.2.2 Dự báo phát triển kinh tế xã hội 689
9.3 Định hướng không gian phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường 691
9.3.1 Các không gian ưu tiên phát triển kinh tế xã hội 691
9.3.2 Định hướng phát triển đô thị và nông thôn 693
9.3.3 Định hướng phát triển nông nghiệp 696
9.3.4 Định hướng phát triển công nghiệp và xây dựng 728
9.3.5 Định hướng phát triển các ngành dịch vụ chính 731
9.3.6 Định hướng phát triển cơ cấu hạ tầng 734
9.3.7 Định hướng phát triển xã hội 738
9.3.8 Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu 740
9.4 Các giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững 744
9.4.1 Các giải phát tổng thể cho phát triển bền vững 744
9.4.2 Một số giải pháp phát triển bền vững mô hình sản xuất nông nghiệp 749
9.4.3 Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu 752
KẾT LUẬN 754
TÀI LIỆU THAM KHẢO 762
PHỤ LỤC CHUYÊN MÔN:………
PHỤ LỤC SẢN PHẨM: ……….………
PHỤ LỤC HÀNH CHÍNH: ………
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ minh họa các thành tố trong phát triển bền vững 17
Hình 1.2 Sơ đồ minh họa các thành tố trong phát triển bền vững 18
Hình 1.3 Sơ đồ minh họa các thành tố trong phát triển bền vững 18
Hình 2.1 An Giang thời nhà Nguyễn Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia 82
Hình 2.2 Dân số trung bình của các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh An Giang năm 2011 89
Hình 2.3 Dân số trung bình huyện Thoại Sơn từ năm 1990 đến năm 2010 90
Hình 2.4 Thành phần tôn giáo huyện Thoại Sơn 91
Hình 2.5 Dân số trung bình các xã, thị trấn của huyện Thoại Sơn trong năm 2011 93
Hình 2.6 Tháp tuổi dân số huyện Thoại Sơn năm 2010 95
Hình 2.7 Tháp tuổi dân số huyện Thoại Sơn khảo sát 2013 95
Hình 3.1 Các cuộc khai quật ở Oc Eo- Ba Thê những năm 1997 – 2006 107
Hình 2.2 Biểu đồ lượng mưa (mm) và nhiệt độ (°C ) ở tỉnh An Giang 109
Hình 3.3 Lịch thời vụ đối với sản xuất 3 vụ huyện Thoại Sơn 112
Hình 3.4 Hàm lượng COD (mg/l) trong nước tại thị trấn Núi Sập qua các đợt quan trắc 121
Hình 3.5 Hàm lượng BOD5 (mg/l) trong nước tại thị trấn Núi Sập qua các đợt quan trắc 121
Hình 3.6 Hàm lượng TSS (mg/l) trong nước tại thị trấn Núi Sập qua các đợt quan trắc 121
Hình 3.7 Hàm lượng Nitơ tổng (mg/l) tại thị trấn Núi Sập qua các đợt quan trắc 122
Hình 3.8 Hàm lượng Tổng dầu mỡ (mg/l) trong nước tại thị trấn Núi Sập qua các đợt quan trắc 122
Hình 3.9 Hàm lượng NO3- (mg/l) trong nước tại thị trấn Núi Sập qua các đợt quan trắc 122
Hình 3.10 Hàm lượng Coliforms (MPN/100ml) trong nước tại thị trấn Núi Sập qua các đợt quan trắc 123
Hình 3.11 Biểu diễn DO trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên qua 3 đợt quan trắc 126
Hình 3.12 Biểu diễn DO trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên từ 2009 đến 2011 127
Hình 3.13 Biểu diễn BOD5 trên kênh Rạch Giá-Long Xuyên qua 3 đợt quan trắc 127
Trang 8Hình 3.14 Biều đồ biểu diễn BOD5 trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên từ 2009 đến
2011 128
Hình 3.15 biểu diễn TSS trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên qua 3 đợt quan trắc 128
Hình 3.16 Biểu diễn TSS trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên từ 2009 đến 2011 129
Hình 3.17 Hàm lượng DO tại khu vực ao nuôi huyện Thoại Sơn 130
Hình 3.18 Hàm lượng TSS tại khu vực ao nuôi hầm huyện Thoại Sơn 130
Hình 3.19 Hàm lượng BOD5 tại khu vực ao nuôi huyện Thoại Sơn 131
Hình 3.20 Hàm lượng NO3- tại khu vực ao nuôi hầm huyện Thoại Sơn 131
Hình 3.21 Hàm lượng PO43- tại khu vực nuôi ao, hầm huyện Thoại Sơn 132
Hình 3.22 Hàm lượng Coliforms tại khu vực ao nuôi hầm huyện Thoại Sơn 132
Hình 3.23 Biểu diễn NH3 các khu, cụm công nghiệp năm 2010 – 2011 135
Hình 3.24 Biểu đồ biểu diễn H2S các khu, cụm công nghiệp năm 2010 – 2011 135
Hình 3.25 Biểu diễn CO các khu, cụm công nghiệp năm 2010 – 2011 135
Hình 3.26 Biểu diễn SO2 các khu, cụm công nghiệp năm 2010 – 2011 136
Hình 3.27 Biểu diễn NO2 các khu, cụm công nghiệp năm 2010 – 2011 136
Hình 3.28 Biểu diễn lượng mưa cao nhất, lượng mưa thấp nhất và số ngày mưa trong năm 142
Hình 3.29 Tần suất (%) hạn khí tượng tuần theo tiêu chí R≤30mm 143
Hình 3.30 Tần suất hạn khí tượng theo tiêu chí R ≤ 10mm 144
155
Hình 3.31 Mực nước triều mùa kiệt vùng tứ giác Long Xuyên 155
Hình 3.32 Diễn biến nhiệt độ qua các năm tại trạm Châu Đốc 157
Hình 3.33 Kết quả diễn biến lượng mưa trung bình 158
Hình 3.34 Kết quả diễn biến lượng mưa quan trắc được tại các Trạm ở An Giang 159
Hình 3.35 Diễn biến mực nước quan trắc tại các trạm 160
Hình 3.36 Phạm vi ngập khu vực tỉnh An Giang theo kịch bản nước biển dâng 75cm 161
Hình 3.37 Phạm vi ngập tỉnh An Giang theo kịch bản nước biển dâng 100cm 162
Hình 4.1 Tổng giá trị tăng thêm Huyện (giá so sánh 1994) (Đơn vị tính: tỷ đồng) 188
Hình 4.2 Cơ cấu kinh tế Huyện Thoại Sơn giai đoạn 2000-2012 188
Hình 4.3 Diện tích trồng lúa của huyện Thoại Sơn phân theo địa phương năm 2011 193
Hình 4.4 Diện tích và sản lượng lúa của huyện Thoại Sơn từ năm 1984-2011 193
Trang 9Hình 4.5 Năng suất lúa của huyện Thoại Sơn từ năm 1984 - 2011 194
Hình 4.6 Số HTX ở Thoại Sơn giai đoạn 2005-2012 206
Hình 4.7 Sự phân bố diện tích lúa của huyện Thoại Sơn năm 2010 232
Hình 4.8 Sự phân bố số lượng heo trên địa bàn huyện Thoại Sơn năm 233
Hình 4.9 Phân tích khung sinh kế của DFID (2001) 241
Hình 4.10 Biểu đồ ô nhiễm môi trường địa phương gặp phải 246
Hình 4.11 Biểu đồ loại nhà ở của người dân (%) 254
Hình 4.12 Biểu đồ mức sống của hộ gia đình 255
Hình 4.13 Biểu đồ mức sống của hộ gia đình hiện nay so với trước năm 2000 256
Hình 6.1 Trang phục dân tộc Kinh – Khmer - Hoa ngày nay 382
Hình 6.2 Đánh trống khai mạc lễ hội 454
Hình 7.1 Bộ máy tổ chức phòng giáo dục và đào tạo huyện Thoại Sơn 523
Hình 8.1: Số lượng tàu thuyền có động cơ các huyện, thị xã, thành phố tỉnh An Giang năm 2012 654
Hình 8.2: Số lượng tàu thuyền không có động cơ các huyện, thị xã, thành phố tỉnh An Giang năm 2012 654
Hình 9.1 Định hướng cơ cấu các ngành kinh tế huyện Thoại Sơn năm 2015 và 2020 686
Hình 9.2 Dự báo chuyển dịch cơ cấu lao động huyện Thoại Sơn 689
Hình 9.3 Định hướng không gian phát triển đô thị và các khu định cư nông thôn huyện Thoại Sơn 696
Hình 9.4 Tình hình sản xuất lúa các hộ gia đình ở Thoại Sơn trước năm 2000 và hiện nay 700
Hình 9.5 Công cụ sử dụng để làm nông nghiệp (%) 701
Hình 9.6 Diện tích nuôi tôm của các hộ gia đình 704
Hình 9.7 Mô hình trồng lúa kết hợp nuôi cá 705
Hình 9.8 Lĩnh vực người dân thường liên kết trong sản xuất nông nghiệp (% 719
Hình 9.9 Cấu trúc kênh tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp huyện Thoại Sơn 723
Hình 9.10 Sơ đồ định hướng không gian phát triển các mô hình kinh tế nông nghiệp huyện Thoại Sơn 728
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phổ hệ các vua Phù Nam 43
Bảng 3.1 Phân tích sức hút Gravity của các huyện trong tỉnh An Giang 98
Bảng 3.2 Độ cao, chu vi của một số ngọn núi của huyện Thoại Sơn 104
Bảng 3.3 Kết quả quan trắc chất lượng nước khu vực thị trấn Núi Sập 120
Bảng 3.4 Kết quả các thông số quan trắc nước giếng tầng sâu khu vực Phú Hòa 124
Bảng 3.5 Kết quả quan trắc chất lượng nước cụm công nghiệp Phú Hòa 124
Bảng 3.6 Giá trị trung bình trên kênh Rạch Giá – Long Xuyên qua các vị trí quan trắc 125
Bảng 3.7 Kết quả các thông số quan trắc môi trường không khí CCN Phú Hòa 133
Bảng 3.8: Tần suất (%) hạn khí tượng tháng theo tiêu chuẩn R≤30mm 142
Bảng 3.10 Danh sách trạm khí tượng thủy văn kiểm kê và quan trắc hạn kiệt 146
Bảng 3.11 Biên độ triều (cm), thời gian triều (giờ) nội đồng tứ giác Long Xuyên thời kỳ kiệt nhất năm 1998 153
Bảng 3.12 Phạm vi ngập theo kịch bản nước biển dâng 75 cm 161
Bảng 3.13 Phạm vi ngập theo kịch bản nước biển dâng 100 cm 162
Bảng 4.1 Diện tích đất canh tác của các tổng trong huyện Tây Xuyên 168
Bảng 4.2 Diện tích đất tư và đất công từ địa bạ nhà Nguyễn năm 1836 169
Bảng 4.3 Thống kê lúa gạo Nam kỳ xuất khẩu trong khoảng 40 năm (1860-1900) (tính số tròn) 177
Bảng 4.4 Hiện trạng giao thông đường bộ huyện Thoại Sơn năm 2010 218
Bảng 4.5 Số lượng cống, trạm bơm ở huyện Thoại Sơn năm 2012 222
Bảng 4.6 Sự phân bố chủ yếu của các loại cây trồng, vật nuôi 234
Bảng 4.7 Nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình hiện nay và trước năm 2000 (%) 253
Bảng 6.1 Số lượng tín đồ và tỷ lệ phần trăm các tôn giáo 324
Bảng 6.2 Sơ đồ Cụm miếu Đá Nổi 340
Bảng 8.1 Thống kê dân số trung bình huyện 575
Bảng 8.2 Thống kê dân số, lao động các xã của huyện Thoại Sơn năm 2010 575
Bảng 8.3 Lao động phân theo ngành kinh tế 578
Bảng 8.4 Số lao động trong các ngành kinh tế ở huyện Thoại Sơn năm 2011 580
Trang 11Bảng 8.5: Hiện trạng giao thông đường bộ huyện Thoại Sơn 585 Bảng 8.6: Thống kê số lượng máy móc thiết bị dùng trong nông nghiệp ở huyện Thoại Sơn (tính đến 01/07/2011) 593 Bảng 8.7 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Huyện 594 Bảng 8.8 Danh mục các dự án ưu tiên đầu tư trên địa bàn huyện Thoại Sơn giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020 595 Bảng 8.9 Tính toán các chỉ tiêu phát triển kinh tế Phương án II 620 Bảng 8.10 Các chỉ tiêu chủ yếu của huyện Thoại Sơn so với tỉnh An Giang 641 Bảng 8.11 Thống kê diện tích đất nông nghiệp tỉnh An Giang theo đơn vị hành chính 643 Bảng 8.12 Diện tích, năng suất và sản lượng các vụ lúa của An Giang và huyện Thoại Sơn năm 2012 644 Bảng 8.13 Tổng hợp số lượng máy gặt lúa hiện có của tỉnh An Giang, phân theo địa bàn 646 Bảng 8.14 Tổng hợp số lượng máy sấy hiện có của tỉnh An Giang, phân theo địa bàn 647 Bảng 8.15 Số lượng đàn heo (không kể đàn heo sữa) và gia cầm của tỉnh An Giang, phân theo huyện, thị xã, thành phố 649 Bảng 8.16 Kết quả sản xuất thủy sản tỉnh An Giang năm 2012, phân theo địa bàn 650 Bảng 8.17 Sản lượng thủy sản nuôi trồng của tỉnh An Giang năm 2012, phân theo địa bàn 652 Bảng 8.18 Diện tích và sản lượng lúa cả năm của cả nước và các địa phương 661 Bảng 8.19 Diện tích và sản lượng lúa đông xuân của cả nước và các địa phương 662 Bảng 8.20 Diện tích và sản lượng lúa hè thu của cả nước và các địa phương 663 Bảng 9.1 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế huyện Thoại Sơn 685 Bảng 9.2 Dự báo dân số và lao động huyện Thoại Sơn 687 Bảng 9.3 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội huyện Thoại Sơn và tỉnh An Giang 690 Bảng 9.4 Diện tích và sản lượng một số cây trồng chủ yếu 698 Bảng 9.5 Diện tích nuôi cá của các hộ gia đình 706 Bảng 9.6 Khó khăn gia đình gặp phải khi nuôi trồng thủy sản 707 Bảng 9.7 Đánh giá của người dân về thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản 719
Trang 12lý thuyết đầy đủ về khu vực học và khoa học phát triển, các định hướng phát triển chưa gắn liền với các nhận thức về khu vực học có được Bên cạnh đó, việc áp dụng lý thuyết khu vực học vào nghiên cứu một không gian cụ thể lại phụ thuộc rất nhiều vào quy mô lãnh thổ và mục đích nghiên cứu, không thể có một hệ phương pháp cố định cho các nghiên cứu khu vực khác nhau Chính vì thế, việc nghiên cứu một không gian văn hóa cụ thể hướng tới phát triển bền vững dựa trên cơ sở lý luận khu vực học đầy
đủ và các bài học kinh nghiệm thực tế không những góp phần giải quyết một nhu cầu thực tiễn lớn ở các địa phương mà còn khẳng định vai trò của các nghiên cứu liên ngành hiện nay
Là hai đơn vị triển khai đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành, liên ngành hàng đầu cả nước, ĐHQG Hà Nội và ĐHQG TP Hồ Chí Minh đã có nhiều hợp tác trong nhiều lĩnh vực Nhưng thực tế cho thấy rằng những hợp tác mang tính chất phát huy được tối đa vai trò và lợi thế của mỗi đơn vịvẫn còn vắng bóng Ý tưởng về việc liên kết trong nghiên cứu khoa học theo hướng tiếp cận liên ngành khu vực học và khoa học phát triển được xuất phát từ thực tiễn đó Để thực thi hóa ý tưởng này và để đảm bảo tính khả thi, chúng tôi đã lựa chọn địa bàn nghiên cứu là không gian cấp huyện tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long Đề tài được thực hiện trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu có sự tham gia của cả hai đơn vị nói trên, đặc biệt là kết quả các đề tài trong đề án KHCN cấp Nhà nước: "Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ" Nhóm nghiên cứu của thuộc Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển (ĐHQG Hà Nội) và Trường ĐH KHXH và NV (ĐHQG Hà Nội) đã chọn khu vực huyện Thoại Sơn làm đối tượng nghiên cứu và đề xuất đề tài liên kết nghiên cứu khoa
học cấp ĐHQG “Nghiên cứu tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hộivà giá trịlịch
sử - văn hóa phục vụ phát triển bền vững huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang”
Trang 132
Tính cấp thiết về địa bàn nghiên cứu
Thoại Sơn là một huyện thuộc tỉnh An Giang, là địa bàn chiến lược, quan trọng
cả về lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái Về lịch sử, Thoại Sơn gắn liền với văn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam, nơi giới khoa học lịch sử và khảo cổ trên toàn thế giới biết đến với hệ thống di chỉ khảo cổ dầy đặc, như núi Ba Thê, xã Vọng Thê, cánh đồng Ba Thê,… Đặc biệt là di chỉ Óc Eo, di chỉ khảo cổ học đầu tiên thuộc nền văn hóa này được phát hiện và đã trở thành tên gọi chung cho cả một nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng trên toàn thế giới Khu di tích Óc Eo là nơi có thể
đã từng tồn tại một hải cảng sầm uất của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ 1 đến thế
kỷ thứ 7 Bên cạnh đó, trong chiều dài lịch sử, vùng đất này luôn có sự khai phá, mở mang của các cộng đồng dân cư người Việt, người Hoa, người Khơme,… cùng những chính sách khuyến khích khai hoang lập làng của các vương triều phong kiến Việt Nam, đặc biệt là dưới thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn sau này Về văn hóa, An Giang là tỉnh tập trung hầu hết cư dân các dân tộc trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, như: Việt, Chăm, Hoa, Khơme,… Sự tụ cư của các nhóm cư dân khác nhau trong cùng một khu vực đã tạo nên một không gian văn hoá đặc thù với sự đa dạng về văn hóa và tín ngưỡng, tôn giáo Về kinh tế - xã hội, Thoại Sơn là vựa lúa của tỉnh An Giang, tỉnh trọng điểm về canh tác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (vùng đóng góp hơn 50% tổng sản lượng lương thực và khoảng 60% sản lượng thủy sản của cả nước) Tuy vậy đời sống nông dân còn đối mặt với nhiều khó khăn như trình độ sản xuất và giáo dục thấp, số hộ không có đất và ít đất chiếm tỉ lệ cao Tích lũy để tái đầu tư sản xuất thấp vì chi phí cho chi tiêu gia đình, cho vật tư, cho lãi suất ngân hàng, và giao tế xóm làng cao Về môi trường sinh thái, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang và đồng bằng sông Cửu Long được dự báo là nơi chịu tác động lớn nhất của tình trạng nước biển dâng và biến đổi khí hậu toàn cầu, rất cần có những nghiên cứu tổng thể về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường để tìm ra phương án hợp lý nhất giúp chính quyền và cư dân nơi đây có thể ứng phó và thích nghi được với tình trạng nước biển dâng và biến đổi khí hậu toàn cầu
Trong quá khứ, huyện Thoại Sơn đã được nhiều thế hệ các nhà khoa học trong
và ngoài nước quan tâm nghiên cứu trên nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau với nhiều thành tựu ở các góc độ và các mức độ khác nhau, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Việc tiến hành nghiên cứu khu vực huyện Thoại Sơn (tỉnh An Giang) chủ yếu được tiến hành trên lĩnh vực Khảo cổ học về văn hoá Óc Eo Điều cần ghi nhận đầu tiên là những phát hiện về nền văn hóa rực rỡ này được triển khai đầu tiên bởi các nhà khoa học người Pháp Mặc dù đã có những ghi chép cũng
Trang 143
như những nghiên cứu phát hiện từ sớm, nhưng những nghiên cứu về văn hoá Óc Eo,
về quốc gia Phù Nam của các học giả nước ngoài vẫn chỉ dừng lại ở mức tập hợp các
tư liệu ghi chép và tư liệu khai quật khảo cổ Điều kiện tự nhiên, dân cư cùng sự đa dạng, phức tạp về văn hoá ở khu vực vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức Và tất nhiên, huyện Thoại Sơn cũng chỉ được biết đến qua những phát hiện khảo cổ học
về văn hoá Óc Eo Những nghiên cứu mang tính chất Khu vực học hoàn toàn thiếu vắng ở đây
Các công trình chuyên khảo tổng hợp, toàn diện đầu tiên về khu vực nghiên cứu
có thể kể đến là hệ thống các sách địa phương chí, địa chí An Giang (1959, 1967,
1973, 2003), địa chí Đồng Tháp Mười (1999), lịch sử An Giang (1988), Thoại Sơn 50
năm đấu tranh và xây dựng 1945-1995 (1997),… Đặc biệt kết quả các cuộc điều tra cơ
bản về đồng bằng sông Cửu Long: 6002 (1979-1981), 6003 (1982-1984), VIE86.031,… trong đó có 6002: Điều tra cơ bản tài nguyên sinh vật, điều tra cơ bản địa chất công trình, vật liệu xây dựng và điều tra cơ bản thổ nhưỡng An Giang; Chương trình điều tra cơ bản Đồng bằng sông Cửu Long: Tài nguyên, môi trường, phát triển bền vững (năm 1990); các bộ bản đồ tổng hợp về khu vực trong đó có Thoại Sơn…
Ở thời điểm hiện tại, do nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, huyện Thoại Sơn nói riêng và tỉnh An Giang nói chung, vẫn đang thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau, như: Khảo cổ học, Lịch sử, Dân tộc học, Xã hội học, kinh tế, môi trường sinh thái,… Tuy vậy, một nghiên cứu Khu vực học mang tính tổng thể về một không gian kinh tế - xã hội - văn hóa Óc Eo - Thoại Sơn vẫn chưa được quan tâm đầy đủ Ngay việc nghiên cứu khu vực theo từng lĩnh vực cụ thể tuy có những thế mạnh, nhưng cũng bộc lộ nhiều điểm yếu Hiện nay, việc phối hợp các ngành Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội trong việc nghiên cứu một vùng đất cụ thể, một không gian xã hội - văn hoá cụ thể trong mối tác động qua lại giữa tự nhiên với con người và môi trường văn hoá chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều Trong điều kiện như vậy, việc tiến hành nghiên cứu một khu vực cụ thể trong chiều sâu lịch sử về tất cả các mặt tự nhiên, lịch sử, văn hoá, dân cư, kinh tế… cần được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học khác nhau, của nhiều chuyên gia thuộc các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Cách tiếp cận đa ngành và liên ngành của nhiều chuyên gia nghiên cứu sâu về một lĩnh vực trên một địa bàn được xác định
cụ thể, tạo điều kiện cho việc hiểu biết toàn diện về các điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hoá, tiềm năng phát triển kinh tế, chính sách phục vụ phát triển bền vững cho một vùng đất cụ thể như huyện Thoại Sơn
Trang 154
Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu:
Đề tài có mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, các giá trị lịch sử - văn hóa của huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang theo hướng tiếp cận tổng hợp Trên cơ sở đó phân tích các nguồn lực phát triển, xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn cho tổ chức hợp lý lãnh thổ, phát triển bền vững huyện Thoại Sơn Các nội dung nghiên cứu chính bao gồm:
- Thu thập và hệ thống hóa tài liệu trong và ngoài nước về huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang;
- Nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển bền vững huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang;
- Nghiên cứu văn hóa Óc Eo và quá trình phát triển vùng đất Thoại Sơn;
- Nghiên cứu đánh giá điều kiện dân cư và kinh tế phục vụ phát triển bền vững huyện Thoại Sơn;
- Nghiên cứu đánh giá các giá trị văn hóa xã hội phục vụ phát triển bền vững huyện Thoại Sơn;
- Nghiên cứu xây dựng định hướng tổ chức không gian lãnh thổ và phát triển bền vững huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang;
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống dữ liệu về tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi lãnh thổ: Khu vực huyện Thoại Sơn hiện nay Khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển vùng đất Thoại Sơn, đề tài đặt Thoại Sơn trong bối cảnh lịch sử của khu vực đồng bằng sông Cửu Long
- Phạm vi khoa học: Đề cập tương đối toàn diện đến các khía cạnh lịch sử, địa
lý, kinh tế và văn hóa của vùng đất Thoại Sơn
- Phạm vi thời gian: cố gắng khai thác, hệ thống hóa tài liệu từ truyền thống đến hiện tại, phân tích hiện trạng chủ yếu dựa trên các nguồn tài liệu thống kê từ năm 2000 đến 2012
Trang 165
Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên hai quan điểm tiếp cận chủ yếu là khu vực học và khoa học phát triển Tiếp cận khu vực học lấy không gian xã hội – văn hóa, bao gồm các lĩnh vực hoạt động của con người và quan hệ tương tác giữa con người và điều kiện tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở đó, nhà nghiên cứu sẽ đạt được những nhận thức tổng hợp về một không gian xã hội văn hóa, tìm ra được những đặc điểm về tự nhiên và đời sống của con người trong không gian xã hội – văn hóa đó Nội dung nghiên cứu khu vực học bao trùm các đặc trưng về lịch sử, chính trị học, xã hội học, nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ, địa lý, văn học, của khu vực nghiên cứu Trong
đề tài nghiên cứu này, huyện Thoại Sơn sẽ đuợc xem xét như là một không gian xã hội – văn hóa, từ đó xác định được các giá trị đặc trưng của không gian xã hội – văn hóa này Nghiên cứu khu vực chính là cách tốt nhất để thấu hiểu một cách tổng thể và sâu sắc về chính Thoại Sơn, làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của khu vực Phương pháp nghiên cứu cơ bản của khu vực học là phương pháp liên ngành, đa ngành và xuyên ngành, dựa trên thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau để khám phá đối tượng Liên ngành trong các nghiên cứu khu vực, không hoàn toàn giống nhau và không theo một mô hình chung duy nhất, nó phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng nghiên cứu Đề tài này là sự thể nghiệm nghiên cứu liên ngành về tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội khu vực Thoại Sơn
Tiếp cận khoa học phát triển không thể tách rời với tiếp cận khu vực học Phát triển hay phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống vật chất và tinh thần của người dân bằng phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi quan hệ sản xuất, quan
hệ xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa Khoa học phát triển là các lĩnh vực khoa học nghiên cứu cơ sở lý luận - thực tiễn và các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội ở các quy mô lãnh thổ khác nhau.Khoa học phát triển là những lĩnh vực khoa học nghiên cứu cơ sở lý luận - thực tiễn của sự phát triển, góp phần hoạch định các chiến lược, chính sách, kế hoạch và các giải pháp thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Nghiên cứu phát triển bao gồm nghiên cứu những vấn đề lý luận và triển khai như triết lý phát triển, mô hình phát triển, đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp cùng các bước đi thích hợp trong tiến trình phát triển của đất nước Khoa học phát triển là lĩnh vực còn tương đối mới ở nước ta, nhưng có ý nghĩa hết sức sâu sắc đối với sự phát triển kinh tế
xã hội của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập và phát triển hiện nay Cũng như hướng tiếp cận khu vực học, tiếp cận theo hướng khoa học phát triển cũng dựa trên các phương pháp nghiên cứu liên ngành trong việc chú trọng phân tích các nguồn lực phát triển và mối liên hệ giữa chúng
Trang 176
Bên cạnh đó, đề tài được thực hiện dựa trên các cách tiếp cận khác như tiếp cận lịch sử, tiếp cận hệ thống và tiếp cận tổng hợp Dựa trên cách tiếp cận trên, hệ phương pháp và các kỹ thuật sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài bao gồm:
Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp thống kê (xử lý định lượng các số liệu về dân cư và lao động, kinh
lý giải, đánh giá khách quan các sự vật, hiện tượng trong những điều kiện lịch sử cụ thể
Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra và phỏng vấn dân cư, cán bộ địa phương nhằm thu thập các thông tin về tình hình sử dụng tài nguyên, kinh tế hộ gia đình, cơ cấu thu nhập và mức sống, tập quán sản xuất, tình hình triển khai thực hiện và hiệu quả của các chính sách về phát triển kinh tế xã hội
Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý: Phương pháp bản đồ được sử dụng
để thể hiện các khu vực đã được nghiên cứu, hệ thông tin địa lý giúp cho việc xử lý, hệ thống hoá và cập nhật thông tin về nghiên cứu khu vực
Những kết quả chính đã đạt được
+ Các kết quả chính:
- Tổng quan các vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu;
- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển vùng đất Thoại Sơn;
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển bền vững huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang;
Trang 18- Các giải pháp và mô hình phát triển bền vững huyên Thoại Sơn;
- Hệ thống dữ liệu tổng hợp và toàn diện về huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
+ Các công trình đã công bố:
Stt Tên bài công bố Tên tác giả Tên sách/tạp chí/hội thảo
PHÍA ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1
Thực trạng và giải pháp đảm
bảo sinh kế bền vững cho
cộng đồng dân cư huyện
Thoại Sơn, tỉnh An Giang
GS.TS Trương Quang Hải, Ths Bùi Văn Tuấn
Tạp chí Khoa học xã hội tại
TP Hồ chí Minh, dự kiến đăng vào tháng 2 năm 2015, số 2 (198)-2005
2
Phân tích mối liên hệ giữa sử
dụng đất với phát triển kinh tế
xã hội huyện Thoại Sơn, tỉnh
An Giang
GS.TS Trương Quang Hải, Ths Giang Văn Trọng
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, dự kiến đăng số 4 (tháng 12) năm 2014
3 Óc Eo – Ba Thê trong vương
quốc Phù Nam
Đặng Văn Thắng
Tạp chí Khảo cổ học, tháng 03 năm 2013
4 Nguồn lực sinh kế của hộ gia đình tại huyện Thoại Sơn,
tỉnh An Giang
Trương Quang Hải, Bùi Văn Tuấn
Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ, Đại học Quốc gia
Hồ Chí Minh
5
Phân tích SWOT đối với phát
triển nông – ngư nghiệp
huyện Thoại Sơn, tỉnh An
Giang
Trương Quang Hải, Nguyễn Thị
Hà Thành
Tuyển tập báo cáo khoa học Hội nghị Khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ 8, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014
6
Tiếp cận liên ngành trong
phân tích sử dụng tài nguyên
thiên nhiên huyện Thoại Sơn,
tỉnh An Giang
Giang Văn Trọng, Trương Quang Hải, Trần Thanh Hà
Khoa học Địa lý phục vụ chiến lược phát triển kinh tế
xã hội các vùng lãnh thổ và biển đảo Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên, năm 2013
7
Phân tích SWOT đối với phát
triển ngành sản xuất lúa gạo
huyện Thoại Sơn, tỉnh An
Giang
Nguyễn Thị Hà Thành, Trương Quang Hải
Tuyển tập các công trình Khoa học Hội nghị Khoa học Địa lý – Quản lý tài nguyên năm
2014
Trang 198
8
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp huyện Thoại
Sơn, tỉnh An Giang giai đoạn
2000-2012
Trần Thanh Hà, Trương Quang Hải
Khoa học Địa lý phục vụ chiến lược phát triển kinh tế
xã hội các vùng lãnh thổ và biển đảo Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên, năm 2013
9 Không gian văn hóa Óc Eo – Ba Thê dưới góc nhìn Địa –
Khảo cổ học
Phạm Đức Mạnh Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 4, năm 2012
Phía Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh
1 Nam Bộ của Việt Nam trong
thời kỳ hội nhập quốc tế
Võ Văn Sen, Trần Nam Tiến
Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ: Khoa học xã hội
và nhân văn, tập 16, số 1, năm
2013
2 Bất ổn sinh kế người Khơ-me
ở đồng bằng sông Cửu Long
Ngô Thị Phương Lan
Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 4, năm 2012, tập
5
Sản xuất lúa gạo ở đồng bằng
sông Cửu Long hiện nay và
vấn đề sản xuất bền vững
Ngô Thị Phương Lan
Bài in trong sách: Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh
Trang 20trong di sản đình miếu – lăng
tẩm nữ quý tộc thời cận đại
Phạm Đức Mạnh
Bài in trong sách: Trích trong sách: Tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ Bản sắc và giá trị, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh Tác giả: Võ Văn Sen, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Văn Lên
8
Dung hợp đa văn hóa qua tín
ngưỡng thời thiên hậu Nam
Bộ Việt Nam
Nguyễn Ngọc Thơ, Trịnh Xuân Tuyết
Bài in trong sách: Trích trong sách: Tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ Bản sắc và giá trị, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh Tác giả: Võ Văn Sen, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Văn Lên
9
The significant of Vietnam –
India Cultural Exchanges for
India ASEAN Development
Vo Van Sen
Civilizational Dialogue (Asian Inter –connections and cross cultural Exchanges, ISBN: 978-93-5098-006-4
10
Vùng đất Nam Bộ Việt Nam
trong tiến trình “Ấn Độ hóa”
ở khu vực Đông Nam Á thời
kỳ cổ đại
Trần Nam Tiến
Kỷ yếu Hội thảo Dấu ấn Ấn
Độ trong tiếp biến văn hóa ở Việt Nam và Đông Nam Á
11 Trung tâm tôn giáo Óc Eo –
Ba Thê (An Giang)
Đặng Văn Thắng, Hà Thị Sương
Tạp chí Khảo cổ học, số 1
-2013
Trang 2110
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về khoa học phát triển và phát triển bền vững cấp huyện
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững (Sustainable development, Development duerable)
Sau năm 1945, khi Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, các quốc gia trên thế giới bắt đầu quá trình khắc phục các tổn thất trong thời chiến, phục hồi khả năng cạnh tranh của nhiều nền kinh tế Quá trình xây dựng, củng cố nội lực không chỉ được thực hiện một cách đồng loạt mà còn diễn ra với tốc độ cao khi các rào cản về ý thức hệ đã phân định một chiến tuyến mới giữa các quốc gia tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa
Trong thập niên 1970, xu thế chạy đua tăng trưởng của nhiều quốc gia lớn đã gây ra một loạt các thảm họa về môi trường ở khắp nơi trên thế giới có nguồn gốc từ những tai nạn công nghệ như vụ rò rỉ khí độc ở Bhopal - Ấn Độ (1984), vụ nổ nhà máy hóa chất ở Seveso – Ý (1986) hay vụ nổ nhà máy năng lượng hạt nhân Tchernobyl ở Ukraina lúc này còn thuộc Liên bang Xô Viết (1986) Những thảm họa sinh thái trước
đó từ vụ tràn dầu của tàu Torrey Canyon (1968) trên vùng biển Tây nam của Anh và một loạt các vụ tràn dầu tương tự như Acomo Cadiz (1978), Atlantic Empress (1979), Ixtoc (1979), Nowruz (1983) khiến thực trạng ô nhiễm môi trường biển càng trở nên trầm trọng Từ đó, làn sóng dư luận chống lại mặt trái của việc chạy đua tăng trưởng kinh tế dần dần hình thành và lan rộng ra toàn cầu, đòi hỏi sự thay đổi của các quốc gia trong nhận thức về mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và khả năng bảo vệ chất lượng của môi trường sống
Như vậy, để đáp ứng cho các nhu cầu ngày càng tăng của con người, một hệ quả không thể tránh khỏi là tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái và chất lượng môi trường ngày càng xuống cấp Vì thế, phát triển là một quy luật tất yếu của nhân loại trong mọi thời đại
“Phát triển bền vững” là một khái niệm được hình thành trong bối cảnh nhận thức chung của các quốc gia trên thế giới về các hiểm hoạ môi trường được nâng cao một cách đồng loạt do hậu quả của quá trình khai thác không giới hạn các loại tài nguyên thiên nhiên trên Trái đất Khái niệm này có tiền đề từ bài nghiên cứu của nhà
Trang 2211
sinh thái học người Mỹ Garrett Hardin đăng trên tạp chí Science năm 1968, đề cập đến thuật ngữ kinh tế học “bi kịch sản phẩm chung (tragedy of the commons)”1 biểu trưng
sự xuống cấp của môi trường do nhiều người sử dụng một tài nguyên chung mà không
có giới hạn cụ thể về sản lượng nhằm phục vụ tối đa cho thời kỳ công nghiệp hoá2 Tuy nhiên, quan điểm này gặp phải sự đối đầu của các học giả theo trường phái lạc quan sinh thái (eco – optimist) luôn lạc quan về khả năng cung cấp tài nguyên vô hạn của Trái Đất Khi học thuyết Gaia của James Lovelock ra đời, gần như đã nhận được
sự ủng hộ đông đảo của giới khoa học trong thập niên 1970 Học thuyết này cho rằng Trái Đất là một hệ thống phức tạp tự điều tiết, do đó toàn bộ các chất liệu của Trái Đất đều hoạt động như một cơ thể sống có khả năng thích nghi cũng như biến đổi để giữ cân bằng sinh thái, và con người với chỉ là một bộ phận của tự nhiên, và phải tương tác phù hợp để duy trì sự cân bằng sinh thái đó3
Hội nghị Stockholm 1972 về Môi trường nhân loại lần đầu tiên thừa nhận xung đột giữa môi trường và phát triển Sự thành lập của nhóm chuyên gia liên chính phủ về biến đổi khí hậu năm 1986 từ hơn 170 quốc gia thành viên của Chương trình Liên Hợp Quốc về Môi trường (PNUE) với nhiệm vụ “giám định thông tin khoa học, kỹ thuật và kinh tế - xã hội có liên quan đến nguy cơ gây biến đổi khí hậu do con người chế tạo ra”4…
Rất nhiều định nghĩa về phát triển bền vững đã được đưa ra, nhưng khái niệm phổ biến và được chấp nhận rộng rãi nhất là khái niệm do Thủ tướng Na Uy thời đó, Gro Harlem Brundtland, làm Chủ tịch Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển, đề
xuất Trong báo cáo Our Common Future (1987), còn được gọi là Báo cáo
Brundtland, định nghĩa phát triển bền vững như “một sự phát triển cho phép thỏa mãn
những nhu cầu hiện nay mà không làm phương hại đến khả năng của những thế hệ mai sau thỏa mãn các nhu cầu của họ” (“meeting the needs of the present generation without compromising the ability of future generations to meet their own needs”) Thành viên của Ủy ban chia thành 2 khối nước: phát triển và đang phát triển, từ đó Ủy ban bắt đầu nhiệm vụ cam kết cho sự thống nhất giữa môi trường và phát triển Rất nhanh, thuật ngữ “phát triển bền vững” đã trở thành một thành công kỳ diệu đến độ là, ngay từ năm 1989, Pezzey có thể đếm hơn 60 định nghĩa5 và đến 1996, Dobson đếm được 300 định nghĩa Một sự phong phú như thế hiển nhiên là dấu hiệu của những
1 Garrett Hardin (1968), “The Tragedy of the Commons”, Tạp chí Science, Quyển 162, Số 3859, tr 1243-1248
2 Garrett Hardin (1968), “The Tragedy of the Commons”, Tạp chí Science, Quyển 162, Số 3859, tr 1243-1248
3 Yves Sciama (2010), bản dịch của Thuý Quỳnh, Larousse – Biến đổi khí hậu: Một thời đại mới trên Trái đất,
Nxb Trẻ, Tp.HCM, tr.183
4 Yves Sciama (2010), sđd, tr.29
5 Pezzey, R (1989), Economic Analysis of Sustainable Growth and Sustainable Development, Working Paper
15, Worldbank, Environment Department
Trang 23Năm 1992, được xem như bước tiếp nối của Hội nghị thế giới về Môi trường diễn ra tại Stockholm (1972), Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất (The Earth Summit) Rio (03/06 – 14/06/1992) đã cụ thể hóa những mong muốn tiến bộ thành 3 văn kiện cụ thể: Chương trình khung về biến đổi khí hậu (UNFCCC), Công ước về đa dạng sinh học (CBD) và một kế hoạch môi trường toàn cầu được phân tích kỹ càng trong Nghị trình
21 (Agenda 21) Những hiệp định và văn kiện này đã tạo nền tảng cho một loạt các điều ước về sau, định hướng chính sách cho các quốc gia trong “ngôi làng toàn cầu”
mà những tổn hại về môi trường từ một quốc gia dễ dàng lan rộng sang các quốc gia khác Công ước CBD về đa dạng sinh học trong năm 2000 đã thông qua Nghị định thư Cartagena (hiệu lực từ 2003) thành lập Tổ chức Liên chính phủ về An toàn sinh học (ICCP) Và chương trình UNFCCC chính là nền tảng cho sự ra đời của Nghị định thư Kyoto (1997) kêu gọi các quốc gia cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính
Từ sau Hội nghị Rio năm 1992, chính phủ các nước đã nhanh chóng đưa khái niệm “phát triển bền vững” vào “Nghị trình thế kỷ 21” của nước mình Cùng đó, một
số nước và tổ chức quốc tế đã thí điểm “chỉ tiêu phát triển bền vững” Thành công của Hội nghị Rio là đã hòa hoãn thành công xung đột giữa các nước phát triển kêu gọi bảo
vệ môi trường với các nước đang phát triển bảo vệ quyền lợi phát triển
Sau 10 năm thực hiện, “thập kỷ Rio” được tổng kết và hoạch định lộ trình mới tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất lần thứ 2 (còn gọi là Hội nghị Thượng đỉnh vì phát triển bền vững – WSSD hay Rio+10), tổ chức tại Johannesburg – thành phố lớn nhất của Nam Phi từ 26/08 – 04/09/2002 Được tổ chức quy mô với sự tham dự của các đại biểu đến từ 192 quốc gia và 55 tổ chức quốc tế, Hội nghị Johannesburg là bước tái khẳng định những cam kết của Hội nghị Rio trước đó Các bên tham gia đã nhìn lại những việc đã làm trong 10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên bố Rio và Chương trình nghị sự 21 đã vạch ra, đồng thời tiến hành với một số mục tiêu ưu tiên như: xóa đói giảm nghèo, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế những sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đã đề cập đến chủ đề Toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên
1 Philippe Bomtems – Gilles Rotillon (2008), sđd, tr.164 - 166
Trang 2413
quan đến sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia Hội nghị cũng
đã cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước 2005
Phát triển bền vững phải dựa trên sự phát triển bền vững đồng thời của 3 yếu tố
cơ bản: kinh tế, xã hội và môi trường
- Bền vững về phát triển kinh tế (phát triển bền vững về kinh tế)
- Bền vững về phát triển xã hội
- Bền vững về phát triển môi trường
Quan điểm bền vững: phát triển nhưng phải đảm bảo sự ổn định nền kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường của địa phương, vùng và quốc gia và lợi ích cho nhu cầu của các thế hệ tương lai Tính bền vững về môi trường, về kinh tế, về xã hội vừa có tính độc lập riêng lẻ, vừa có quan hệ nhân quả
Phát triển bền vững nhấn mạnh phát triển là “đáp ứng nhu cầu của con người”, lấy nâng cao chất lượng cuộc sống làm mục tiêu, vì thế “bền vững” ở đây không đơn thuần chỉ là thỏa mãn sinh tồn đơn giản của nhân loại Trong đó, để đảm bảo về phát triển kinh tế thì yếu tố tác động đến môi trường sinh thái phải đặt song song (gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội)
Phát triển bền vững là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển tốt và đảm bảo cho nguồn tài nguyên thiên nhiên không bị cạn kiệt và đảm bảo được vấn đề bảo vệ môi trường Phát triển bền vững trở thành một vấn đề nóng bỏng, trở thành “tiêu thức của ý thức thời đại Con đường phát triển bền vững là lựa chọn tất yếu của nhân loại khi bước vào thế kỷ 21”1
Hội nghị Rio+20 được tổ chức trong 3 ngày từ 20/6 – 22/6/2012 đã diễn ra trong một bối cảnh quốc tế biến động hơn hẳn hai kỳ đại hội trước với những cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương đang dần đạt cao trào tại hàng loạt các điểm nóng trên thế giới Sau hai thập kỷ phát triển, các quốc gia trên thế giới đã đạt được những bước tiến ngoài mong đợi với sự ra đời của một loạt thể chế tài chính quốc tế và các tổ chức khu vực hỗ trợ cho công cuộc phát triển chung Tuy nhiên, sự phát triển luôn đi kèm với những giá trị đánh đổi Theo số liệu thống kê, do những xáo trộn về môi trường do ô nhiễm con người gây ra, chỉ trong thập kỷ đầu thế kỷ 21, đã có gần 4.000 thảm họa tự nhiên, ảnh hưởng đến cuộc sống của gần 2 tỷ người trên Trái Đất
1 Hứa Minh (2003), “Vấn đề phát triển bền vững: Chúng ta lo lắng còn chưa đủ”, (trong Giờ phút then chốt), tr.131
Trang 25Trong khi đó, những văn kiện nền tảng cho chiến lược toàn cầu vì môi trường lại đang lung lay tận gốc, khi xuất hiện thêm nhiều quốc gia muốn rút khỏi các Nghị định thư do không đảm bảo được chỉ tiêu môi trường của mình Do tính ràng buộc không cao, nên việc rút khỏi một Nghị định thư quốc tế như thế này không cần phải lao tâm khổ trí như việc các thành viên EU muốn rút khỏi khối Euro Zone để tránh cuộc khủng hoảng
Với thành phần tham gia gồm các nguyên thủ đến từ 130 quốc gia, 50.000 đại biểu của các nhóm hoạt động vì môi trường, các doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế, được Tổng thư ký Liên Hiệp quốc Ban Ki-moon nhìn nhận như một sự kiện quan trọng nhất thế kỷ 21 và diễn ra trong bối cảnh vấn nạn môi trường đang diễn biến xấu trên toàn cầu, Hội nghị Rio+20 có đủ cơ sở để mở ra một tia sáng hi vọng hiếm hoi
Diễn ra trong bối cảnh các quốc gia đang đặt tâm điểm chính sách vào các chính sách giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế và cạnh tranh ảnh hưởng ở khắp các khu vực trên thế giới thông qua các cuộc tập trận song phương và đa phương, Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (Rio+20) ngay
từ đầu đã chịu sức ép từ các luồng dư luận trái chiều Mặc dù vẫn đặt kỳ vọng rất nhiều vào kỳ Hội nghị được đánh giá là lớn nhất trong lịch sử của Liên Hợp Quốc, nhưng nhiều chuyên gia vẫn cho rằng kỳ Hội nghị này sẽ chẳng thể gặt hái được thành tựu gì rõ rệt trong việc ràng buộc các quốc gia theo một khuôn khổ pháp lý chung – một điều thực sự đã xảy ra
Điều duy nhất Hội nghị này có thể mang lại, đó là đã tổng hợp một bức tranh toàn cục cho cán cân lực lượng giữa các luồng quan điểm hiện nay Nếu như ở kỳ Rio (1992) đầu tiên, các quốc gia với sự dẫn dắt của các nền kinh tế lớn đã định ra được Công ước về đa dạng sinh học (CBD), Chương trình khung về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và Nghị trình 21 (Agenda 21) với những ràng buộc lỏng lẻo mang đậm tính hình thức Thì ở kỳ Hội nghị Thượng đỉnh thứ 2 tại Johannesburg (2002), ngay cả
Trang 2615
trong nội bộ các nền kinh tế lớn đã bắt đầu thể hiện sự phân hóa về quan điểm một cách rõ rệt – một dấu hiệu khả quan nhằm giảm bớt sự cản trở trên tiến trình phát triển bền vững chung của thế giới Do đó, đến kỳ Hội nghị Rio+20 lần này, sau 20 năm chấp nhận đánh đổi các giá trị môi trường để phát triển, điều mà dư luận kỳ vọng nhất chính là sự hiện thực hóa từ quan điểm thành hành động của các nền kinh tế lớn – một điều đã diễn ra đúng như mong đợi
Bước vào Hội nghị Rio+20, các quốc gia thậm chí còn hạn chế bàn đến dự thảo văn kiện cuối cùng vì biết rõ trong đó không hề nhắc đến bất kỳ một cam kết cụ thể nào, vì thế không cần phải tốn thời gian vì nó Chiến lược ở đây được đưa ra chính là tận dụng tối đa thời gian Hội nghị để trình bày hàng loạt các “sáng kiến xanh” nhằm tìm kiếm sự đồng thuận của các quốc gia từ chi tiết đến toàn cục Rất nhiều ý kiến trong đó đã nhận được sự ủng hộ đông đảo của dư luận và được cụ thể hóa thành những chương trình hành động cụ thể Như “chương trình hành động vì nguồn nước sạch” của gần 50 TNCs có ảnh hưởng nhất thế giới, chương trình “phát triển hệ thống vận tải bền vững” được 8 ngân hàng phát triển đa phương lớn nhất các châu lục cam kết hỗ trợ, hay như sáng kiến về “năng lượng bền vững toàn cầu” và sáng kiến “xây dựng những khu vực không còn đói nghèo” của Liên Hợp Quốc đã nhận được một loạt các cam kết chính trị của các quốc gia v.v…
Bên cạnh đó, sự phổ biến khái niệm “kinh tế xanh” đã trở thành trọng điểm nhận được sự quan tâm mạnh mẽ từ các quốc gia ở cả hai khối các nền kinh tế Bắc – Nam Dưới sự chủ trì của nước chủ nhà Brazil, các nước Châu Âu và Nga, các cường quốc Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản cùng các nền kinh tế ở Châu Phi, Châu Mỹ Latinh đã cùng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường vai trò quản
lý cấp chính phủ đến các chương trình phát triển bền vững và bảo quản môi trường trong nước
Sự phổ biến của các sáng kiến mới chính là bước đi quan trọng trong việc thay đổi nhận thức của mỗi quốc gia về vấn đề phát triển bền vững Đây mới là nền tảng quan trọng mà “cuộc hẹn lịch sử” Rio+20 đã mang lại Các quốc gia phải có tư duy tiến bộ mới định hướng được những bước đi từ ngắn hạn sang dài hạn của thế giới theo đúng lộ trình Thiên niên kỷ được đặt ra Từ đó mới tạo ra sự chuyển biến mang tính đồng loạt, và những quốc gia không đi đúng xu thế đó sẽ sớm bị cô lập trên trường quốc tế, ngay cả khi đó là những siêu cường luôn tìm cách trốn tránh trách nhiệm
*Những lý thuyết chính về phát triển bền vững
Trang 2716
Có 2 quan điểm lớn về phát triển bền vững: đầu tiên là quan điểm của những người bảo vệ “sinh thái học sâu sắc”, gán cho thiên nhiên một giá trị độc lập với nhu cầu của con người với lập trường bảo hộ tuyệt đối dẫn đến sự đình trệ của nền kinh tế Tiếp theo là quan điểm của những nhà “sinh thái duy ngã (ecocentriste)” cho rằng bao giờ cũng có thể thay thế được những tài sản tự nhiên bằng tư bản được sản xuất, và do
đó thật ra không có sự ràng buộc gì với các nghĩa vụ bảo vệ môi trường Đối với họ thiên nhiên chỉ là một giá trị công cụ và tiến bộ kỹ thuật bao giờ cũng có những giải pháp để sửa chữa những thiệt hại trước khi chúng trở thành quá nghiêm trọng Dù hai quan điểm này đối lập nhau hoàn toàn thì đây cũng là hai quan điểm thiểu số và cuộc tranh luận chủ yếu diễn ra giữa những ai cho rằng tài nguyên thiên nhiên và những dịch vụ môi trường là một hình thức đặc biệt của tư bản, và tin là có một sự thay thế mạnh giữa tư bản tự nhiên và tư bản được sản xuất, và những ai từ chối việc thay thế này
Tìm cách để hướng đến sự “đồng thuận toàn cầu”, đó là nhiệm vụ quan trọng nhất của các kỳ Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất Tuy nhiên, đây không đơn giản chỉ là chuyện môi trường thuần túy, đây chính là phần chìm của tảng băng về những mâu thuẫn chồng chéo trong quan hệ giữa các quốc gia mà phần nhiều trong đó đều tìm cách tối đa hóa lợi ích bằng mọi cách có thể
Theo cách định nghĩa của Ủy ban quốc tế về Môi trường và Phát triển, phát triển bền vững là một khái niệm được cấu thành từ ba thành tố cơ bản sau:
- Về mặt kinh tế: Một hệ thống bền vững về kinh tế phải có thể tạo ra hàng hóa
và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ và nợ bên ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
- Về môi trường: một hệ thống phát triển bền vững phải duy trì nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường, và việc khai thác các nguồn lực không thể tái tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một các đầy đủ Điều này bao gồm việc duy trì
sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế
- Về xã hội: một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục, công bằng giới tính, sự tham gia và trách nhiệm chính trị1
1 Nguyễn Thanh Liêm (2005), “Một số vần đề lý luận về phát triển bền vững”, đăng trong Hội nhập kinh tế quốc
tế với phát triển bền vững, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.122 - 124
Trang 2817
Để đánh giá tính bền vững của một xã hội, cũng cần phải dựa trên cả 3 thành tố này
- Bền vững về kinh tế: tính bền vững về kinh tế có thể được thể hiện qua các chỉ tiêu về phát triển kinh tế phổ biến như: tổng sản phẩm trong nước (GDP), tổng sản phẩm quốc nội (GNP), tổng sản phẩm bình quân đầu người (GDP/cap), tăng trưởng của GDP và cơ cấu GDP
Hình 1.1.Sơ đồ minh họa các thành tố trong phát triển bền vững 1
- Bền vững về môi trường: môi trường bền vững là môi trường luôn làm tròn được ba chức năng: một là tạo cho con người không gian sống với phạm vi và chất lượng tiện nghi cần thiết, hai là cung cấp cho con người các tài nguyên kể cả vật liệu, năng lượng cần thiết và thông tin để sống và sản xuất; và cuối cùng là việc chứa đựng
và gạn lọc các phế phẩm do con người tạo ra trong hoạt động sinh sống và sản xuất, không để phế phẩm làm tăng ô nhiễm cho môi trường
1 Bob Willard, Three sustainability models, 20/7/2010, sustainability-models/
Trang 29http://sustainabilityadvantage.com/2010/07/20/3-18
Hình 1.2 Sơ đồ minh họa các thành tố trong phát triển bền vững 1
- Bền vững về xã hội: tình bền vững về phát triển xã hội của các quốc gia cũng thường được đánh giá qua các thông số như chỉ số phát triển con người HDI; độ đo về kinh tế thể hiện qua sức mua đầu người: PPP/ người; độ đo sức khoẻ con người thể hiện qua tuổi thọ trung bình (Longivity); độ đo về trình độ học vấn trung bình của người dân; và hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, dịch vụ, y tế, văn hoá2
Hình 1.3.Sơ đồ minh họa các thành tố trong phát triển bền vững 3
Về thực chất, khái niệm này đã đề cập đến mối tương quan giữa quá trình phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo vệ môi trường, vốn chẳng những không tách rời nhau mà còn có quan hệ tương hỗ Phát triển bền vững bao gồm 3 mục tiêu: cân bằng sinh thái, công bằng xã hội (mỗi công dân, thế hệ đều có quyền sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước mình) và cuối cùng là nâng cao hiệu quả kinh tế4
1.1.2.Lý thuyết về cấp độ phát triển bền vững
Theo Herman Daly (1989), có hai cấp độ phát triển bền vững đang tồn tại, đó là bền vững yếu và bền vững mạnh Trong đó, mô hình phát triển bền vững yếu cho rằng việc mở rộng kinh tế không giới hạn là điều không mong đợi và không thể xảy ra Mô hình này cũng cho rằng các nguồn tài nguyên không tái tạo có thể và sẽ được thay thế bằng các hình thức khác của năng lượng và vật liệu sản xuất, ví dụ như từ tái chế5
1 http://www.hsc.csu.edu.au/ind_tech/ind_study/2472/Sustain_Devt.html
2 Trương Quang Hải (2008), “Nghiên cứu phát triển ở Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển”, Kỷ yếu Hội
thảo khoa học “Khoa học phát triển: Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, Viện Việt Nam học và Khoa học phát
triển, Hà Nội, tr.238 - 239
3 http://www.swarthmore.edu/facilities-management/alumni-weekend-talk-2011.xml
4 Dương Thanh Bình (2002), Giới thiệu vài nét về phát triển bền vững, Nghiên cứu quốc tế, số 47, tr.55-60
5 Daly, H E & Cobb, J B., Jr 1989 For the Common Good: Redirecting the Economy Toward Community, the
Environment, and a Sustainable Future Boston, Beacon Presstrong Trần Thị Nhung & Võ Dao Chi (2013),
Trang 3019
Tuy nhiên, theo Baker và các cộng sự trong nhóm nghiên cứu của mình (1997), cách tiếp cận này cho phép sự suy thoái môi trường diễn ra trong sự cân bằng tổng thể của nguồn vốn tự nhiên (natural capital) và sản xuất được duy trì thông qua các lợi ích kinh tế và xã hội1 Cũng từ quan niệm này, đã xuất hiện một số luận điểm cho rằng con người có thể giải quyết các vấn đề phát triển bền vững bằng cách hợp lý hóa các quy trình hiện thời và kết hợp các tiến bộkhoa học và công nghệ mới (Davidson, 2000, 2002)2
Trong khi đó, xuất phát từ nhận thức rằng sự thay thế của vốn sản xuất cho vốn
tự nhiên là không chắc chắn, mô hình phát triển bền vững mạnh nhấn mạnh sự kéo dài, cải thiện và duy trì vốn hiện tại và tương lai Trong trường hợp này, mô hình phát triển bền vững mạnh nghiêng về hướng bảo vệ nguồn tài nguyên, đặc biệt là các thành phần quan trọng của vốn thiên nhiên (natural capital), thậm chíkhi điều này có nghĩa là phải
bỏ qua một số cơ hội phát triển3
1.1.3 Lý thuyết về phát triển cộng đồng bền vững
Hiện nay, trong nghiên cứu về sự phát triển đối với đối tượng là cộng đồng, tồn tại hai xu hướng phát triển cộng đồng, đó là “tự do” và “tiến bộ” Trong đó, phát triển cộng đồng theo hướng tự do được gọi là “phát triển kinh tế cộng đồng” Phát triển trong trường hợp này là tập trung vào việc mở rộng số lượng của nền kinh tế địa phương4 Còn phát triển cộng đồng theo hướng tiến bộ tập trung vào sửa chữa các cơ cấu xã hội của một cộng đồng Trong trường hợp này, phát triển được hình dung bằng việc cải thiện chất lượng của nguồn nhân lực của một cộng đồng nhằm gia tăng quy
mô của nền kinh tế địa phương5
Tuy nhiên, vấn đề phát triển cộng đồng bền vững lại được hiểu “như hình thức thứ ba của phát triển cộng đồng rút ra từ hai quan niệm trước, và tích hợp một thành
“Phát triển bền vững, Lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm ở Nam Bộ Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội, số
1, tr.13
1 Baker, S., Kousis, M., Richardson, D & Young, S (Eds) 1997 The Politics of Sustainable
Development.London, Routledge trong Trần Thị Nhung & Võ Dao Chi (2013), bđd, tr.13
2Davidson, C 2000 Economic Growth and the Environment: Alternatives to the Limits Paradigm BioScience: 50(5) and Davidson, S M 2002 Reviews: on Environmental Thought at the Turn of the Century Natural
Resources Journal: 42(2) trong Trần Thị Nhung & Võ Dao Chi (2013), bđd, tr.13
3 Baker, S., Kousis, M., Richardson, D & Young, S (Eds) 1997 The Politics of Sustainable
Development.London, Routledge trong Trần Thị Nhung & Võ Dao Chi (2013), bđd, tr.13
4Blakely, E J & Milano R J 2001 Community Economic Development, in: N Smelser & P Baltes (Eds) The
International Encyclopedia of the Behavioral Sciences New York, Elseviertrong Trần Thị Nhung & Võ Dao Chi (2013), bđd, tr.13
5 Fontan, J M 1993 A Critical Review of Canadian, American, and European Community Economic
evelopment Literature Vancouver, CCE/Westcoasttrong Trần Thị Nhung & Võ Dao Chi (2013), bđd, tr.13
Trang 3120
phần thứ ba là tính bền vững sinh thái”1 Trong đó, phát triển cộng đồng bền vững không tập trung vào nền kinh tế cũng như cộng đồng như là mục đích chính của hành động, mà lại tìm kiếm sự tích hợp của các yếu tố công cụ, mô hình và chiến lược sinh thái, kinh tế và chính trị Theo các lý thuyết nghiên cứu về phát triển bền vững của Maser (1997), Nozick (1993), Roseland (1998), Shuman (1998), đặc trưng của học thuyết và ứng dụng của phát triển cộng đồng bền vững bao gồm:
- Đa dạng hóa kinh tế và tự chủ
- Công bằng xã hội thông qua tiếp cận trao quyền công dân và cải thiện công tác tiếp cận giáo dục, thông tin và sự tham gia có ý nghĩa và hiệu quả;
- Sinh thái bền vững thông qua quản lý dựa vào cộng đồng và giảm thiểu tất cả các hình thức tiêu thụ và chất thải;
-Tích hợp chiến lược kinh tế, xã hội và sinh thái
Qua đó, có thể thấy là trong khi phát triển bền vững yếu sẽ thúc đẩy sự ứng dụng các mô hình phát triển kinh tế cộng đồng thì đối với vấn đề phát triển bền vững mạnh đòi hỏi phải ứng dụng các mô hình phát triển cộng đồng bền vững2
1.1.4 Các mô hình phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới
Để đạt các mục tiêu phát triển bền vững, có nhiều mô hình tiêu biểu như sau:
Một là mô hình phát triển bền vững của Hội đồng về Môi trường và phát triển bền
vững thế giới (1987) trong đó đề cập đến các lĩnh vực cụ thể có quan hệ tương hỗ như một bông hoa 7 cánh: kinh tế, chính trị, xã hội, sản xuất, hành chính, công nghệ và
quốc tế Hai là, mô hình phát triển bền vững của nhà nghiên cứu Villen (1990) tập
trung duy trì sự cân bằng giữa nông nghiệp bền vững, kinh tế, phát triển, xã hội, bảo
tồn và sinh thái Ba là, mô hình phát triển bền vững của Ngân hàng thế giới, sau được
tổ chức UNICEF sơ đồ hóa (1993) thành các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường
theothời gian và không gian Bốn là, mô hình của Jacolis và Sadler (1990) mô tả các
mối quan hệ giữa ba hệ thống chủ yếu: kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên trong các giai đoạn tiến đến phát triển bền vững3 Hiện nay, tùy theo điều kiện của mỗi quốc
1Meredith P Hamstead and Michael S Quinn 2005 Sustainable Community Development and Ecological
onomics: TheoreticalConvergence and Practical Implications Local Environment Vol 10, No 2, April 2005
Routledge, trong Trần Thị Nhung & Võ Dao Chi (2013), bđd, tr.13
2 Trần Thị Nhung & Võ Dao Chi (2013), bđd, tr.14
3 Nguyễn Đình Hoè – Nguyễn Ngọc Sinh (2012), An ninh môi trường, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr.68
– 71
Trang 32xã hội Chiến lược châu Âu 2020 đã khẳng định mô hình phát triển bền vững tập trung vào các mục tiêu tăng trưởng xanh và tiết kiệm năng lượng, gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội bền vững với vấn đề về môi trường1 Trong đó, các quốc gia thành viên
đã thống nhất mục tiêu 20/20/20: giảm mức phát thải khí nhà kính xuống 20% so với mức phát thiểu trong thập niên 90, tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo lên 20% tổng mức năng lượng sử dụng và tăng 20% hiệu quả các chính sách về năng lượng2
Phát triển bền vững dựa trên nội dung trụ cột về tiết kiệm và chuyển đổi sang năng lượng tái tạo cũng là chiến lược tăng trưởng sạch của nhiều cường quốc trên thế giới, điển hình là Trung Quốc – quốc gia có dân số đông nhất thế giới và hiện đang là nền kinh tế đứng thứ hai toàn cầu Trung Quốc đã thông qua Luật về Năng lượng tái tạo (năm 2005) nhằm cung cấp các chính sách ưu đãi tài chính kết hợp với quá trình khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch đã tạo điều kiện cho việc nâng cao sản lượng và mức độ phổ biến của các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió và năng lượng mặt trời Đến năm 2006, Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia Trung Quốc tiếp tục ban hành các cải cách về thuế và mức phí năng lượng tái tạo, tạo điều kiện giảm giá thành các loại năng lượng tái tạo với mô hình giá mang tính cạnh tranh Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011 – 2015), chính phủ Trung Quốc lần đầu tiên đề cập đến các nội dung về phát triển xanh với chủ trương “xây dựng một xã hội bảo tồn tài nguyên và thân thiện với môi trường” nhằm khắc phục những hạn chế “bốn không” của mô hình tăng trưởng cũ, đó là “không ổn định, không cân bằng, không đồng bộ và không bền vững” Năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường là hai trong 7 ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển trong chiến lược công nghiệp mới của Trung Quốc được nêu trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 123
1 Nguyễn An Hà (chủ biên) (2013), Điều chỉnh chính sách phát triển của một số quốc gia chủ chốt châu Âu –
Giai đoạn khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.91 - 93
2 http://ec.europa.eu/clima/poes/package/index_en.htm , truy cập ngày 16/06/2014
3 Phạm Thái Quốc (2013), Trung Quốc & Ấn Độ trỗi dậy – Tác động và đối sách của các nước Đông Á, Nxb
Khoa học xã hội, tr.103
Trang 33phúc lợi Bắc Âu hiện nay dựa trên ba trụ cột chính: Một là, đầu tư an sinh xã hội để
tạo nên tư duy chủ động và tích cực cho thị trường lao động, củng cố quan niệm “đóng
thuế cao để duy trì mức sống cao” của người dân các nước Bắc Âu Hai là, chú trọng
đến chính sách giáo dục để tạo nên sự phát triển bền vững, tận dụng nguồn tài nguyên chất xám cho nền kinh tế tri thức, đảm bảo gần như miễn phí ở nhiều cấp học khác nhau với tỷ lệ ngân sách dành cho các lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu cao hơn hẳn các
nước châu Âu khác Và ba là, nâng cao các tiêu chuẩn của hệ thống chăm sóc sức
khoẻ gia đình và trẻ em, hướng đến nguồn nhân lực bền vững cho tương lai1 Mô hình phát triển bền vững dựa trên các trụ cột của nhà nước phúc lợi, tập trung đảm bảo các dịch vụ an sinh xã hội, trong đó đề cao vai trò của khoa học, giáo dục và y tế đã đưa các quốc gia Bắc Âu lên vị trí dẫn đầu trong cuộc chạy đua về phát triển bền vững trên thế giới Đây cũng là mô hình tiên tiến được nhiều quốc gia châu Âu đặt mục tiêu hướng đến trong tương lai gần
Kết hợp các mô hình trên, Nhật Bản – quốc gia đã tiến hành công nghiệp hóa từ rất sớm, tạo nên hiện tượng “thần kỳ Đông Á” – lựa chọn cho mình một phương thức phát triển bền vững gần như toàn diện khi vừa thực hiện chuyển đổi các nguồn năng lượng mới, vừa tập trung vào công tác giáo dục, phát triển xã hội bền vững đồng thời đảm bảo các tiêu chuẩn về an ninh môi trường Ngay từ năm 1979, khi thế giới phải đối phó với cuộc Khủng hoảng năng lượng lần thứ hai sau cuộc Cách mạng Hồi giáo tại Iran, Luật về sử dụng hợp lý năng lượng đã được Nhật Bản ban hành Áp dụng tiêu chuẩn sử dụng tiết kiệm năng lượng từ sớm, nên đến năm 2006, mức tiêu hao năng lượng của Nhật Bản là thấp nhất so với tất cả các quốc gia khác (bằng ½ so với Mỹ, Eu; 1/13 mức bình quân của thế giới; 1/8 của Trung Quốc và 1/18 của Nga)2 Về môi trường, ngoài việc là nước chủ nhà của Nghị định thư Kyoto (1997), Nhật Bản còn là quốc gia đi đầu trong các mục tiêu giảm phát lượng khí thải nhà kính Năm 1998, Nhật Bản ban hành các đạo luật nhằm thúc đẩy các biện pháp đối phó và dự báo những biến đổi của khí hậu toàn cầu, quy định trách nhiệm liên kết từ trung ương đến địa phương,
từ các doanh nghiệp đến từng công dân Trong đó, “Kế hoạch hành động cho một xã
1 Đinh Công Tuấn (2011), Mô hình phát triển Bắc Âu, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 36 - 42
2 Trần Quang Minh (chủ biên) (2013), Đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á về biến đổi khí
hậu và các vấn đề môi trường giai đoạn 2001 – 2020, Nxb Từ điển Bách khoa, tr.68
Trang 3423
hội các-bon thấp” (2008) được thông qua với trọng tâm sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm thiểu các nguồn nhiên liệu hóa thạch, phát huy và phổ biến các nguồn năng lượng phi hoá thạch thay thế Các biện pháp giáo dục, đào tạo cũng được ứng dụng trong các mô hình xã hội hiện đại ở Nhật Bản, hướng đến các khu vực đô thị mới có khả năng giảm thiểu tác hại và thích ứng hài hòa với mọi kịch bản biến đổi khí hậu
Đối với những quốc gia có lợi thế về nông nghiệp, chiến lược tăng trưởng bền vững cũng tập trung vào các mô hình phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững Quá trình hạn chế sử dụng các sản phẩm hóa học, vô cơ, chuyển đổi sang các loại vật liệu hữu cơ trong trồng trọt, chăn nuôi theo quy tắc “lấy của thiên nhiên rồi trả lại cho thiên nhiên”1 đang là mô hình bền vững về nông nghiệp được nhiều quốc gia lựa chọn Là nhà sản xuất các sản phẩm hữu cơ lớn của thế giới, Uganda đã có những chính sách quan trọng trong việc ngăn cấm các yếu tố tổng hợp hoá học (như phân bón và thuốc trừ sâu) chuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp từ hệ thống thông thường sang thành hệ thống canh tác hữu cơ Hiện nay Uganda đang là quốc gia sử dụng ít phân bón nhân tạo nhất trên thế giới (ít hơn 1kg/ha) với kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm hữu cơ tăng gần 7 lần từ giai đoạn 2003 – 2004 (3,7 triệu USD) đến giai đoạn 2007 – 2008 (22,8 triệu USD)2 Các chính sách chuyển đổi sang nền nông nghiệp hữu cơ bền vững
đã giúp Uganda đạt được những chỉ tiêu quan trọng về tăng trưởng kinh tế, đồng thời giúp hạn chế lượng khí thải nhà kính từ các trang trại theo mô hình cũ và đảm bảo được trình độ cũng như mức sống cho người nông dân
Tiếp theo mô hình nông nghiệp hữu cơ ở Uganda là một mô hình phát triển nông nghiệp bền vững khác ở khu vực Nam Á Là một trong những nhà sản xuất nông nghiệp đứng đầu thế giới, là quốc gia tiên phong trong cuộc Cách mạng Xanh và Cách mạng Trắng, kinh tế Ấn Độ chịu chi phối bởi nông nghiệp với tỷ trọng 28% GDP, cung cấp hơn 60% việc làm cho 70% dân số sống ở nông thôn (chiếm 43,5% lãnh thổ)3 Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng nhanh và quy mô dân số quá lớn (1,2 tỷ người tính đến năm 2013), nông nghiệp Ấn Độ đang chịu nhiều thiệt hại về cơ sở hạ tầng sinh thái, không đảm bảo được an ninh sinh kế cho nông dân, từ đó gây ra nhiều nguy
cơ cho việc đảm bảo an ninh lương thực của cường quốc Nam Á này Sáng kiến Đạo
1 Mai Hồng Quyền, “Nông nghiệp hữu cơ hay hữu cơ hóa nông nghiệp”,
http://iasvn.org/upload/files/QV9JY88Z3Rnong%20nghiep%20huu%20co%20hay%20huu%20co%20hoa.pdf , truy cập ngày 21/6/2014
2 Báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP),
http://www.unep.org/greeneconomy/SuccessStories/OrganicagricultureinUganda/tabid/29866/Default.aspx , truy cập ngày 7/5/2014
3 Đoàn Lê Bách Tùng (2012), “Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế Ấn Độ”, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo
quốc tế Thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong bối cảnh mới, Nxb Từ điển Bách khoa, tr.252
Trang 3524
luật quốc gia về đảm bảo việc làm ở nông thôn Ấn Độ (đạo luật NREGA ban hành năm 2005) là một trong những điểm nhấn của cường quốc nông nghiệp này nhằm đảm bảo mức lương ổn định cho người nông dân, giúp thúc đẩy sự tăng trưởng và tăng tốc
độ phục hồi các cơ sở hạ tầng sinh thái ở nông thôn Do Bộ Phát triển nông thôn Ấn
Độ thực hiện, NREGA không chỉ đảm bảo mức sống của đông đảo nông dân, mà còn góp phần tăng cường quản lý nguồn tài nguyên nông thôn, trong đó quan trọng nhất là việc đào tạo, cung cấp việc làm cho người dân tự phát triển các giải pháp xử lý tình trạng khan hiếm nước (chiếm hơn một nửa các dự án do NREGA hỗ trợ) Năm 2007 –
2008, hơn 3000 giếng nước cùng với máy bơm tay được xây dựng, khắc phục cơ bản nạn khan hiếm nước trong nông nghiệp, đồng thời giúp tăng mức lương trung bình cho người lao động nông nghiệp hơn 25%1
Một trường hợp điển hình trong việc phát triển mô hình nông nghiệp bền vững cần phải đề cập đến là Nhật Bản Không phải là một quốc gia thuần nông với tỉ trọng ngành nông nghiệp chỉ chiếm 1% GDP, nông nghiệp bền vững đã được đầu tư ở các vùng nông thôn thông qua việc nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật nông – lâm nghiệp cho canh tác hữu cơ, đảm bảo an toàn thực phẩm, quản lý hiệu quả tài nguyên rừng nhằm tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính
Từ cuối những năm 1960 đầu những năm 1970, phong trào giảm sử dụng thuốc trừ sâu hướng đến nền nông nghiệp sinh thái có thể xem là nền tảng của phong trào phát triển nông nghiệp bền vững (Kankyo Hozengata Nogyo – hay nông nghiệp bảo vệ môi trường) hiện tại ở Nhật Bản
Năm 1999, Nhật Bản đã ban hành Luật Nông nghiệp bền vững, đánh dấu bước phát triển đột phá trong phong trào Đạo luật khuyến khích cắt giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp, thay thế bằng phân hữu cơ Năm 2006, việc thông qua Luật Nông nghiệp hữu cơ đã thúc đẩy hoạt động sản xuất nông nghiệp hữu cơ Mặc dù lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp cũng như diện tích đất canh tác ngày càng giảm, việc khuyến khích sản xuất nông nghiệp hữu cơ
đã nâng cao nhận thức của người Nhật về mối tương quan giữa nông nghiệp, bảo tồn thiên nhiên và thực phẩm Và đó cũng chính là chìa khóa cho việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững ở Nhật Bản2
1 Tổng cục Môi trường (2012), Sổ tay Hành trang Kinh tế xanh, Hà Nội, tr.41
2 joji Muramoto, Kazumasa Hidaka, and Takuya Mineta, “Japan Finding Opportunities in the Current Crisis”, trong “Conversion to Sustainable Agriculture”, tr.274
Trang 3625
1.1.5 Lý thuyết về phát triển bền vững ở Việt Nam
- Quan điểm của Chính phủ Việt Nam về phát triển bền vững
Tại Việt Nam, việc phát triển kinh tế nhanh kết hợp với khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và việc nảy sinh các vấn đề xã hội ở Việt Nam trong những năm gần đây đã đặt ra những thách thức ngày càng gia tăng cho việc duy trì một nền thịnh vượng lâu dài của đất nước, của nhân dân cũng như của môi trường Mặc dù sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ nhưng sự trong lành của môi trường cũng như sự phát triển lâu dài kinh tế - xã hội sẽ không thể duy trì được nếu thiếu đi sự quan tâm và tác động đặc biệt từ tất cả các bên liên quan Trong bối cảnh này, ở Việt Nam đã bắt đầu cân nhắc đến những biện pháp mới, duy trì được
sự tiến bộ kinh tế - xã hội trong khi vẫn đảm bảo một cách hiệu quảsự cân bằng sinh thái1
Tại Việt Nam, phát triển bền vững cũng là mục tiêu chiến lược quan trọng mà Nhà nước và Chính phủ Việt Nam quyết tâm thực hiện Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam và được thể hiện rõ nét trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia cũng như của các ngành và địa phương
Từ năm 1991, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược và được xác định là xu thế tất yếu trong sự phát triển của Việt Nam Trong thời kỳ Đổi Mới, Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường trong các phương án hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển Đây cũng là sự phát triển nhận thức về phát triển bền vững khi trong suốt một thời gian dài
từ giai đoạn trước Đổi Mới đến thời kỳ 1986 – 1991, Việt Nam đã phát triển theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp và do những lý do khác nhau cho nên nền kinh tế của đất nước bị khủng hoảng nghiêm trọng
Năm 1986, Việt Nam đã soạn thảo “Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên”, và từ 1991 – 2000 đã thực hiện “Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về phát triển bền vững” với mục tiêu duy trì các quá trình sinh thái quan trọng, đảm bảo sử dụng lâu bền tài nguyên, kế hoạch hóa tăng trưởng và phân bố dân cư Quan điểm phát triển bền vững của Việt Nam đã được khẳng định trong nhiều văn kiện của Nhà nước Việt Nam, đặc biệt rõ nét trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã
1 Trần Thanh Hà (2008), “Một số vấn đề về thực trạng và xu hướng phát triển bền vững ở Việt Nam”, Kỷ yếu
Hội thảo khoa học “Khoa học phát triển: Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, Viện Việt Nam học và Khoa học
phát triển, Hà Nội, tr.255 - 259
Trang 37Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Việt Nam là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”2 Ba mục tiêu chính được xác định cho chiến lược phát triển bền vững là: Ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm; Bảo vệ, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học; Cải thiện chất lượng môi trường đô thị, khu công nghiệp và nông thôn3
Việt Nam tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro, Brazil (1992), Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững ở Johannesburg, Nam Phi (2002), đã ký Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển, Chương trình nghị sự 21 toàn cầu… đồng thời cam kết thực hiện phát triển bền vững
Theo kịp xu thế phát triển bền vững trên toàn cầu, Việt Nam đã cùng 120 quốc gia khác xây dựng kế hoạch phát triển bền vững trong 10 năm đầu thế kỷ 214 Việt Nam đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự án Vie/01/021 “Hỗ trợ xây dựng và thực hiện chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam” bắt đầu từ 11/2001 và kết thúc vào 12/2005 nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện Vietnam Agenda 21
Trang 3827
Ngày 18/8/2004, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Định hướng
chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (còn gọi là Chương trình Nghị sự 21 -
Agenda 21) với nội dung chú trọng vào công tác “phát triển bền vững đất nước trên cơ
sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo
vệ môi trường”1 Đây là chương trình cụ thể và toàn diện nhằm đạt được sự phát triển bền vững ở Việt Nam Chương trình đã được trình lên Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg (Nam Phi) năm 2002, và được Chính phủ Việt Nam phê duyệt tháng 8/20042 Chương trình đề cập chi tiết đến các mục tiêu, nguyên tắc và những hoạt động
ưu tiên, kết hợp phát triển kinh tế nhanh với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong những năm tới, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện xuyên suốt từ cấp quốc gia đến cấp địa phương Chương trình đề cập chi tiết đến các mục tiêu, nguyên tắc và những hoạt động ưu tiên, kết hợp phát triển kinh tế nhanh với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong những năm tới, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện xuyên suốt từ cấp quốc gia đến cấp địa phương Năm 2005, quan điểm về phát triển bền vững được nêu rõ trong Luật Bảo vệ môi trường: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa, tiến bộ xã hội
và bảo vệ môi trường”3
Bên cạnh những chương trình do chính phủ đề xướng, phát triển bền vững tại Việt Nam cũng được xúc tiến ở cấp địa phương như chương trình nghị sự ở Sơn La, Thái Nguyên, Ninh Bình, Quảng Nam, Lâm Đồng và Bến Tre Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Chính phủ cũng đã nhấn mạnh “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm củaNhà nước Việt Nam4
Sau 20 năm thực hiện, đặc biệt là sau gần 10 năm triển khai Định hướng chiến
lược phát triển bền vững, Việt Nam đã tận dụng thời cơ thuận lợi, vượt qua nhiều khó
khăn, thách thức và đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế,
xã hội và môi trường Đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, kinh tế tăng
1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, Hà Nội, tr.3
2 Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển
bền vững ở Việt Nam, (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam), ban hành ngày 17/8/2004 Xem
http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=19321
3 Luật Bảo vệ Môi trường
4 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2012), Thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam, Báo cáo Quốc gia tại Hội nghị Cấp
cao của Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (Rio + 20), Hà Nội, tr 21
Trang 3928
trưởng khá nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm và có mặt được cải thiện Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để phát triển nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những thách thức mang tính toàn cầu như an ninh năng lượng, an ninh mạng thông tin, an ninh về nguồn nước và biến đổi khí hậu v.v đang là sự cản trở đối với tiến trình phát triển bền vững của Việt Nam Việt Nam sẽ phải tiếp tục nỗ lực để duy trì tính bền vững của những thành quả phát triển đã đạt được
Đánh giá thành tựu và hạn chế của hơn 20 năm thực hiện phát triển bền vững là một việc làm cần thiết không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới nhằm tổng kết những kết quả và các bài học kinh nghiệm, xác định rõ những
cơ hội, những thách thức và đưa ra những định hướng, giải pháp để tiếp tục thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững
Với nhận thức mới, quyết tâm mới và cách làm mới, Việt Nam tin tưởng rằng phát triển bền vững sẽ là con đường tất yếu và sẽ được hiện thực hóa sinh động, hiệu quả trong quá trình phát triển và hội nhập của đất nước
Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự hợp tác, hỗ trợ về nhiều mặt của cộng đồng quốc tế, nhất là các tổ chức quốc tế và các nước phát triển để vượt qua những thách thức, hướng tới một nền kinh tế xanh, hoàn thiện hệ thống thể chế, tiếp tục phát triển bền vững đất nước
Việc xác lập luận cứ khoa học và thực tiễn cho sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển bền vững vùng là vấn đề hết sức cấp thiết Đặc biệt gần đây Nhà nước Việt Nam đã phát động phong trào “cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, thực chất
là một chiến lược tổng thể phát triển bền vững đất nước cho đến năm 2020, trong đó
đã chọn huyện Thoại Sơn là trọng điểm đầu tư xây dựng mô hình phát triển chung cho
cả khu vực miền Tây Nam Bộ Điều này không chỉ xác nhận việc chọn điểm rất chính xác của chương trình quốc gia phát triển nông thôn, mà cũng khẳng định nhu cầu bức thiết của một đề tài nghiên cứu tổng thể phục vụ phát triển bền vững khu vực huyện Thoại Sơn (An Giang)
Theo Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, đã khẳng định:
- Con người là trung tâm của phát triển bền vững
Trang 4029
- Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo
vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
- Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền, các Bộ, ngành và địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mỗi người dân
- Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận những nguồn lực chung và được tham gia, đóng góp
và hưởng lợi, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho những thế
hệ mai sau Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là loại tài nguyên không thể tái tạo, gìn giữ và cải thiện môi trường sống; xây dựng xã hội học tập; xây dựng lối sống thân thiện môi trường, sản xuất và tiêu dùng bền vững
- Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho phát triển bền vững đất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất
Mục tiêu tổng quát của chiến lược này là tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến độ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ quốc gia Trong đó, tăng trưởng xanh là một nội dung của Chiến lược phát triển
bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 nhằm đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng
hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phần giảm nhẹ và phòng chống tác động của Biến đổi khí hậu trong giai đoạn hiện nay1
*Một số lý thuyết được vận dụng trong nghiên cứu phát triển bền vững ở Việt Nam Các nghiên cứu về phát triển bền vững ở Việt Nam bao quát từ các vấn đề mang tính vĩ mô, đến các vấn đề mang tính vùng, địa phương, hoặc trong từng ngành cụ thể cũng như liên ngành2 Do dễ bị tác động bởi quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, các khu vực nông thôn hiện đang được lưu tâm nghiên cứu trong vấn đề phát triển bền
vững Trong đó, mô hình “phát triển nông nghiệp bền vững” được đánh giá là “cơ sở
để bắt đầu thay đổi mô hình phát triển chung”, trong đó nhà nghiên cứu “đề cao kiến thức bản địa, tôn trọng mục tiêu và quan niệm nông dân, kết hợp khoa học xã hội và