Trọng tâm của chương này là không đi sâu vào cơ sở vật lý của quá trình biến dạng dẻo kim loại mà chủ yếu tìm hiểu về cơ sở cơ học của quá trình biến dạng dẻo như: sự phân bố ứng suất và
Trang 1CHƯƠNG II
LÝ THUYẾT VỀ CÔNG NGHỆ UỐN NGUỘI
trong các lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải Tuy nhiên việc gia công chế tạo
vòm ống thép nhồi bê tông chưa được nghiên cứu nhiều Quá trình tạo được hình
dáng vòm cong như vậy là nhờ có hiện tượng chảy dẻo của kim loại
Trọng tâm của chương này là không đi sâu vào cơ sở vật lý của quá trình
biến dạng dẻo kim loại mà chủ yếu tìm hiểu về cơ sở cơ học của quá trình biến
dạng dẻo như: sự phân bố ứng suất và biến dạng theo chiều dày phôi thép, lực và
mômen uốn, tính dẻo và trở lực biến dạng, ma sát giữa kim loại và trục uốn Mục
đích nghiên cứu để ứng dụng vào quá trình gia công và chế tạo vòm trong xây
dựng cầu vòm ống thép nhồi bê tông
2.1 Khái quát về gia công biến dạng dẻo kim loại
Ngày nay, các phương pháp gia công kim loại dựa trên sự biến dạng dẻo
của vật liệu ( còn gọi là gia công biến dạng dẻo hay gia công áp lực) đã chiếm một
ví trí quan trọng trong sản xuất cơ khí, luyện kim, đặc biệt trong ngành xây dựng
ở nước ta hiện nay rất được quan tâm là vì tính thanh mảnh, nhẹ của kết cấu thép,
việc gia công được thực hiện trong công xưởng, do đó sẽ giảm giá thành cho công
trình xây dựng nói chung và công trình cầu nói riêng Gia công biến dạng dẻo đã
trở thành một công nghệ khá phổ biến và được phát triển nhanh chóng là vì chúng
có những ưu điểm nổi bật, đó là tiết kiệm nguyên vật liệu, năng suất cao và đặc
biệt là không chỉ tạo ra sản phẩm có hình dáng, kích thước như mong muốn mà
thông qua đó nó còn cải thiện tính chất của vật liệu kim loại.[2]
Hiện nay các công trình xây dựng, đặc biệt là xây dựng cầu vòm ống thép
nhồi bê tông đang được quan tâm Trong các cầu vòm đã xây dựng ở thành phố
Hồ Chí Minh như cầu Ông Lớn, Cầu Xóm Củi, cầu Cần Giuộc, cầu Công Lý …
Phần lớn khi gia công và chế tạo vòm ống thép người ta thường dùng thép tấm
Trang 2uốn lại thành ống rồi tổ hợp chúng lại thành một cung vòm hoàn chỉnh, hoặc có
thể dùng ống thép nguyên có chiều dài tới 12m hoặc lớn hơn được đúc sẵn trong
nhà máy rồi dùng máy uốn 3 trục để uốn ống thép tạo thành cung vòm Quá trình
gia công ống thép như vậy là dựa trên hiện tượng biến dạng dẻo của kim loại và
được trình bày chi tiết ở phần dưới.[2]
2.2 Các vấn đề cần xem xét đối với một quá trình biến dạng[4]
Trên thực tế có rất nhiều phương pháp biến dạng khác nhau, tuy nhiên dù
một quá trình biến dạng nào cũng hàm chứa 6 khu vực như hình 2.1
Hình 2.1 Hệ thống vấn đề cần xem xét đối với một quá trình biến dạng
Khu vực 1: là vùng (ổ) biến dạng, nghiên cứu ứng xử của vật liệu trong trạng
thái dẻo, xác định ứng suất, biến dạng, tốc độ biến dạng, dòng chảy kim loại, sự
phân bố nhiệt độ
Khu vực 2: tính chất của vật liệu trước khi biến dạng như thành phần hoá học,
cấu trúc tinh thể, các tính chất cơ học, chất lượng bề mặt của vật liệu Những vấn
đề này có ảnh hưởng rất lớn đến ứng xử của vật liệu trong vùng biến dạng và tính
chất của sản phẩm
Khu vực 3: bao gồm các vấn đề chất lượng của sản phẩm sau khi biến dạng, ví
dụ như tổ chức và các tính chất cơ học, chất lượng bề mặt và chất lượng của sản
phẩm
Trang 3Khu vực 4: là vùng ranh giới giữa vật thể bị biến dạng và dụng cụ biến dạng,
bởi vậy để giải quyết vấn đề này điều cần phải là làm giảm ma sát bằng cách bôi
trơn
Khu vực 5 : để thực hiện quá trình biến dạng dẻo không thể không có dụng
cụ biến dạng, do đó vấn đề về kết cấu, vật liệu, độ chính xác của việc chế tạo dụng
cụ là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng làm việc, tuổi thọ của
dụng cụ, chất lượng bề mặt và độ chính xác của sản phẩm tạo ra
Khu vực 6: vùng này có thể xảy ra những phản ứng giữa bề mặt vật thể bị
biến dạng và môi trường xung quanh
2.3 Sự thay đổi tính chất của thép theo thời gian và trong quá trình gia công
Khi uốn nguội tính chất của thép sẽ bị thay đổi, sở dĩ như vậy là trong quá
trình biến dạng dẻo nguội sẽ làm cho cấu trúc tinh thể thay đổi, mật độ khuyết tật
tăng lên dẫn đến độ bền kim loại tăng lên, kích thước và hình dạng của hạt kim
loại cũng như hướng trục của tinh thể thay đổi làm phát sinh ứng suất dư và xuất
hiện những mặt trượt kích thích quá trình hóa già của kim loại
2.3.1 Sự hóa già do biến dạng[6]
Hệ quả của sự hóa già kim loại là làm giảm tính dẻo và nâng cao tính bền
của kim loại (trở lực biến dạng, giới hạn chảy và độ cứng tăng) Vì vậy kim loại
sẽ bị giòn và kém dẻo Xu hướng của sự già hóa này khi biến dạng tùy thuộc vào
thành phần Nitơ tự do chứa trong thép và đặc biệt là cacbon trong nền cứng
(pherit) Trong quá trình già hóa, các nguyên tử cacbon và Nitơ khếch tán và tập
trung vào các vùng biến dạng của mạng tinh thể, xung quanh lệch Điều đó sẽ cản
trở sự di chuyển của lệch và gây khó khăn cho quá trình biến dạng dẻo Sự hóa già
biến dạng xảy ra không đồng đều, trước tiên nó làm tăng độ cứng kim loại tại
vùng có mật độ nguyên tử nitơ và cacbon cao, chủ yếu là ở mặt trượt, tại đây đặc
biệt có nhiều lệch
Trang 4Với thép cacbon thấp, sự già hóa xảy ra mãnh liệt hơn sau khi biến dạng
dẻo nguội, cường độ của nó tỷ lệ thuận với mức độ biến dạng, nhiệt độ môi
trường xung quanh và thời gian Vì vậy đối với thép cán nguội và ngay cả những
bán thành phẩm, không nên để quá lâu ở trong kho hoặc ở trong công xường, đặc
biệt là khi nhiệt độ tăng lên
Hiện nay người ta đã dùng loại thép không hóa già, những loại thép này
được khử oxy bởi nhôm hoặc chất phụ gia vanadi ( ví dụ: thép 08IO, 08K,
08CIO ) người ta đã chứng minh rằng sự ổn định của loại thép này là do các
liên kết của các nguyên tử nitơ dưới dạng nitơrua bền vững Chính vì vậy, sau khi
uốn nguội sự già hóa do biến dạng hầu như không xảy ra
2.3.2 Mặt trượt [6]
Đối với các chi tiết có yêu cầu cao chất lượng bề mặt, đều đó có nghĩa
quan trọng là khả năng của kim loại giữ được bề mặt bằng phẳng trong quá trình
uốn, không có những mặt trượt là những dấu vết vật lý do biến dạng dẻo cục bộ
gây ra
Mặt trượt xuất hiện trên bề mặt của các chi tiết, như vậy có liên quan đến
tính chất cơ học không đồng đều của phôi thép Sự không đồng đều này là do sự
hóa già trong quá trình biến dạng gây ra Trên bề mặt của chi tiết sau khi uốn có
thể quan sát thấy những phần lồi lõm tương ứng với các mặt trược
Một trong những phương pháp rộng rãi nhất được sử dụng để ngăn ngừa
khả năng xuất hiện của các mặt trượt là tiến hành ép nguội theo chiều dày tấm
thép một lượng biến dạng nhỏ Trị số ép này tùy thuộc vào chiều dày thép tấm
Do các thép tấm ép nguội với lượng ép nhỏ, lệch bị tách khỏi các nguyên
tử nitơ và cacbon đồng thời xảy ra hình thành lệch mới Điều đó làm giảm trở lực
biến dạng của các tinh thể trên bề mặt trượt dẫn đến sự phân bố ứng suất không
đồng đều hơn theo chiều dày của tấm thép, do đó sự chảy của kim loại bắt đầu với
lực nhỏ hơn so với mẫu trước khi ép Tác dụng của việc ép nguội thường rất ngắn,
Trang 5do đó cần phải tiến hành uốn ngay sau khi ép, vì sau khi ép một thời gian ngắn sẽ
xảy ra sự hóa già biến dạng với cường độ lớn Nếu không tiến hành ngay sẽ làm
mất đi hiệu quả của việc ép
2.3.3 Phát sinh hiện tượng ăn mòn (rỉ)[6]
Trong quá trình biến dạng dẻo nguội kim loại xảy ra sự hóa bền Sự hóa
bền cùng với một số hiện tượng khác là khả năng chống ăn mòn của kim loại
giảm đi
Tuy vậy, do những điều kiện không giống nhau, sự thay đổi hình dạng của
các vùng phôi kề nhau sau khi thôi tác dụng sẽ phát sinh thêm ứng suất tế vi loại
một Những ứng suất dư này khi có sự ăn mòn sâu vào các tính thể sẽ làm suy yếu
liên kết ở biên giới giữa các hạt và có thể gây ra hiện tượng giòn tự phát
2.4 Tính dẻo và trở lực biến dạng của vật liệu kim loại[4]
Trong phần lớn các phương pháp gia công kim loại bằng áp lực, sự làm
việc của thiết bị cùng với các công cụ biến dạng gắn trên nó được thực hiện một
chuyển động thằng đứng Lực do thiết bị sinh ra tác dụng lên vật thể kim loại
thông qua công cụ biến dạng chủ yếu để khắc phục trở lực biến dạng của phôi và
lực ma sát Nếu chúng ta biết được lực biến dạng thì dễ dàng chọn một phương
pháp gia công nào đó thích hợp
Để xác định lực biến dạng cần phải biết trị số và quy luật phân bố ứng suất
trên bề mặt tiếp xúc giữa công cụ biến dạng và vật thể biến dạng Giả sử trong
một phương pháp gia công nào đó trên hình 2.1, AB là mặt tiếp xúc giữa công cụ
biến dạng và vật thể biến dạng, trên bề mặt đó lực biến dạng đặt lên vật thể theo
hướng chuyển động của công cụ biến dạng (hướng c), ứng suất pháp n phân bố
trên bề mặt tiếp xúc theo sơ đồ ab Xét một phân tố diện tích vô cùng nhỏ bất kỳ
trên bề mặt tiếp xúc dFk , lực vuông góc trên phân tố đó là dPn
dPn n dFk hay P n dF ( 2.1 )
Trang 6Việc xác định lực biến dạng có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tế và là
nhiệm vụ chủ yếu của việc phân tích các quá trình biến dạng Như trình bày ở
công thức trên ta có thể xác định được lực biến dạng nếu như biết trị số và quy
luật phân bố ứng suất trên bề mặt tiếp xúc Nhưng vấn đề này hết sức phức tạp, để
giải được bài toán trên có rất nhiều phương pháp khác nhau như: dựa vào phương
trình vi phân cân bằng kết hợp với điều kiện dẻo, phương pháp đường trượt,
phương pháp trở lực biến dạng, phương pháp cân bằng công, phương pháp định
trị, phương pháp phần tử hữu hạn Ngày nay với sự hổ trợ của máy tính thì việc
này có thể dễ dàng xác định một cách khá chính xác
2.5 Ma sát học giữa vật thể kim loại và con lăn của trục máy uốn[5]
Như đã trình bày ở trên, trong quá trình gia công biến dạng kim loại (hình
2.3) một phần bề mặt kim loại tiếp xúc với con lăn của trục máy uốn, kết quả tạo
ra cặp ma sát tiếp xúc cản trở quá trình chuyển vị của các phần tử kim loại Ma sát
này gọi là ma sát lăn
Lực ma sát phụ thuộc vào chất lượng, đặc tính và trạng thái bề mặt như độ
bằng phẳng Bề mặt còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ sinh ra trong quá trình ma
sát lăn Ma sát vừa là tích cực vừa là tiêu cực, nhờ có ma sát nên khi uốn bề mặt
phôi không bị nhăn, nhưng ma sát làm cản trở vật liệu biến dạng Từ đó nó làm
Trang 7thay đổi trạng thái ứng suất và gây biến dạng không đều Sự biến dạng không đều
này sẽ phá hủy tính đồng nhất của vật liệu về cấu trúc và tính chất, kể cả quá trình
biến cứng và khử biến cứng
Ngoài ra ma sát còn có những nhược điểm sau : do phải tăng năng lượng để
khắc phục ma sát nên áp lực đơn vị cũng tăng lên, ma sát sẽ làm mài mòn bề mặt
con lăn của máy uốn và phát sinh ra nhiệt độ làm giảm tuổi thọ của dụng cụ biến
dạng Cách xác định lực ma sát cần tham khảo thêm tài liệu kỹ thuật chuyên
ngành
2.6 Sự phân bố ứng suất và biến dạng theo chiều dày phôi uốn [6]
rộng
Uốn là một nguyên công nhằm làm biến đổi từ hình dáng (ban đầu) thẳng
thành một hình dáng cong như mong muốn Nguyên công uốn được thực hiện trên
máy ép trục khuỷu, máy ép thủy, máy uốn tấm chuyên dùng để uốn có kéo và các
máy uốn tự động vạn năng Ta có thể xem sơ đồ uốn trên máy ép trục khuỷu như
hình 2.4
Lực P và Q sẽ tạo ra mômen uốn làm thay đổi hình dáng của phôi Trong
quá trình uốn cong như vậy, các lớp kim loại ở mặt ngoài góc uốn sẽ bị kéo còn
các lớp bên trong thì bị nén lại Khi thực hiện giảm bán kính uốn, biến dạng dẻo
sẽ bao trùm toàn bộ chiều dày phôi Hình dạng của vùng biến dạng dẻo và độ dài
của nó khi uốn một góc = 90o gần bằng L/4 tay đòn uốn, ta có thể xem hình
dạng và kích thước sau khi uốn của phôi trên hình 2.4
Trang 8Khi uốn các phôi dải hẹp có tiết diện ngang hình chữ nhật (bề rộng nhỏ) thì
sau khi uốn tiết diện ngang của phôi tại vùng uốn sẽ bị biến dạng và trở thành
hình thang (Hình 2.5) Khi đó chiều dày phôi tại vùng uốn sẽ giảm đi S < S0và khi
bán kính uốn càng nhỏ thì tiết diện ngang của phôi tại vùng uốn có độ cong
ngang
Khi uốn phôi dải rộng (b >> 3S) hoặc có dạng tấm thì tiết diện ngang của
phôi hầu như không thay đổi mà chỉ giảm chiều dày đi một chút (Hình 2.5)
Trạng thái ứng suất tại vùng uốn đặc trưng bởi ứng suất pháp theo
hướng tiếp tuyến và theo hướng bán kính Ứng suất do các thớ dọc phôi ép
lên nhau Ngoài ra còn thành phần Z theo hướng trục khi uốn phôi rộng, ứng suất
này xuất hiện là do biến dạng đàn hồi theo phương ngang (bề rộng) của phôi Khi
uốn phôi dải rộng hầu như biến dạng đàn hồi theo phương ngang không đáng kể
do trở lực theo phương này rất lớn Vì vậy khi đó trạng thái ứng suất là khối còn
trạng thái biến dạng là phẳng
Thành phần ứng suất Z là ứng suất kéo khi ở trong vùng kéo, còn ở vùng
nén nó là ứng suất nén Bề mặt phân chia giữa hai vùng trên gọi là mặt trung hoà
ứng suất Khi uốn phôi dải hẹp thành phần Z 0 (vì biến dạng đàn hồi theo bề
rộng rất nhỏ có thể bỏ qua) Do đó có thể coi là trạng thái ứng suất phẳng
Giá trị và sự phân bố ứng suất trong vùng biến dạng dẻo tuỳ thuộc vào bán
kính uốn phôi, khi bắt đầu uốn thì bán kính lớn nên phôi chỉ biến dạng đàn hồi và
giai đoạn này gọi là giai đoạn uốn đàn hồi được chỉ rõ ở hình 2.6.a
Trang 9Hình 2.6 Biểu đồ phân bố ứng suất theo chiều dày phôi ở các giai đoạn
Khi chúng ta tiếp tục uốn với bán kính giảm dần thì các lớp kim loại ở xa
tâm phôi bắt đầu biến dạng dẻo Lúc đó ứng suất tiếp tuyến trong lớp này đạt
đến giá trị ứng suất chảy, giai đoạn này gọi là giai đoạn uốn đàn hồi - dẻo (xem
hình 2.6.b) Quá trình uốn vẫn tiếp tục thì vùng biến dạng dẻo sẽ tăng lên còn
vùng biến dạng đàn hồi giảm đi, khi tỷ số r/S 5 thì hầu như toàn bộ tiết diện
ngang của phôi ở trạng thái dẻo và bắt đầu giai đoạn uốn dẻo hoàn toàn Ở giai
đoạn này xuất hiện rõ rệt sự dịch chuyển của lớp bề mặt trung hoà ứng suất về
phía bị nén của phôi, sự dịch chuyển này càng tăng khi uốn phôi với bán kính
càng nhỏ dần Biểu đồ phân bố ứng suất xem hình 2.6.b
Ở giai đoạn uốn dẻo hoàn toàn do có sự dịch chuyển của lớp trung hoà ứng
suất, vùng biến dạng sẽ tồn tại một vùng biến dạng không đơn điệu Nghĩa là có
những lớp kim loại ở thời điểm trước đó thuộc vùng nén nhưng sau đó lại là vùng
chịu kéo Giữa các lớp này sẽ tồn tại một lớp mà biến dạng nén trước đó sẽ bằng
biến dạng kéo tại thời điểm đang xét, bề mặt trùng với lớp này gọi là mặt trung
hoà biến dạng (hay lớp trung hoà biến dạng) Đặc điểm của lớp trung hoà biến
dạng này là có độ dài bằng độ dài của phôi ban đầu, vì vậy đây là cơ sở tốt nhất để
xác định chiều dài phôi khi uốn
Hình 2.7 Vị trí của lớp trung hoà biến
dạng
Hình 2.8 Sơ đồ xác định moment uốn
Trang 10Bán kính cong của lớp trung hoà (hình 2.7) được xác định tuỳ thuộc vào
mức độ biến dạng và loại vật liệu khi uốn Những đặc trưng về năng lượng khi
uốn (như mômen uốn, lực biến dạng ) cũng như biến dạng đàn hồi của phôi (xuất
hiện sau khi dỡ tải tác dụng) được xác định một cách gần đúng, với một giai đoạn
nhất định của quá trình uốn có liên quan đến mức độ thay đổi bán kính uốn là
trạng thái ứng suất biến dạng của ổ biến dạng (con lăn máy uốn), trị số ứng suất
và bán kính uốn cong của bề mặt trung hoà
2.7 Mômen uốn [6]
2.7.1 Uốn dẻo hoàn toàn
Mômen cần thiết để uốn phôi được xác định bằng tổng mômen sinh ra tại
vùng kéo và vùng nén do các ứng suất tiếp đối với tâm uốn (hình 2.8)
us
k
.)(
) ( 2.2 ) Trong đó:
b: bề rộng của phôi thép
R, r : bán kính ngoài và bán kính trong của phôi thép tại góc uốn
us: bán kính cong của lớp trung hoà ứng suất
Nếu giả thiết rằng ở giai đoạn uốn dẻo hoàn toàn với phôi dải rộng, ứng
suất tại vùng kéo và vùng nén không đổi trên toàn bộ chiều dày phôi thép và
do đó:
us r + 0,5.S 0,5(R+r), khi đó mômen uốn sẽ là:
Trang 11M .b S
S r
)(
W: mômen chống uốn của phôi thép
s : ứng suất chảy dẻo của phôi thép
1 1,15 hệ số quy đổi tính đến ảnh hưởng của ứng suất trung bình đến
bước chuyển quy ước của kim loại ở trạng thái dẻo, hệ số này đạt giá trị lớn nhất ở
trạng thái biến dạng phẳng
Ở giai đoạn uốn dẻo hoàn toàn với trạng thái biến dạng khối thì ứng suất
thay đổi trên chiều dày của phôi thép và bề mặt trung hoà ứng suất dịch chuyển về
thớ nén Tuy nhiên mômen uốn vẫn không thay đổi và được xác định theo công
thức (2.3), do đó trạng thái ứng suất tại ổ biến dạng khi uốn cũng như vị trí của
lớp trung hoà ứng suất sẽ không ảnh hưởng đến giá trị của mômen uốn Trong giai
đoạn này xảy ra sự giảm đi chiều dày thép ở tại vùng biến dạng, điều đó có nghĩa
là sẽ làm giảm giá trị mômen uốn Mức độ càng giảm khi uốn với bán kính nhỏ
Nếu r S thì mômen uốn sẽ giảm khoảng 10%
Công thức để xác định mômen uốn khi uốn dẻo hoàn toàn với trạng thái
biến dạng khối và nếu tính đến sự hoá bền của kim loại thì ta có công thức tính
2 2 2
2 2
r R r
R r
R r
R
b s
Trong đó là môđun hoá bền, nếu uốn kim loại không hoá bền 0 thì
công thức trên trở thành công thức ( 2.4 )
2.7.2 Uốn đàn hồi - dẻo
Giai đoạn uốn đàn hồi – dẻo (hình 5a) khi vùng biến dạng đàn hồi đáng kể (có tính khả ước) so với vùng biến dạng dẻo thì mômen tác dụng
tại vùng đàn hồi và vùng dẻo như sau: