1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Process of using standard basel III on banking supervision for commercial banks in vietnam

149 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 12,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, đề án xác định việc cơ cấu cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng để đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến ph

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tháng 11/2010, Hiệp ước khung về khuôn khổ pháp lý quốc tế cho các ngân hàng (International regulatory framework for banks) được biết đến với tên gọi vắn tắt là Basel III đã được G20 phê chuẩn tại Hàn Quốc Basel III là tiêu điểm của chương trình cải cách tài chính của Ủy ban quốc tế về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision) sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối thập niên 2000 Basel III đưa ra khung pháp lý không chỉ về vốn và còn cả thanh khoản trên nền tảng của Chuẩn mực quốc tế về vốn và các phương pháp đo lường vốn (International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards) – thường được gọi vắn tắt là Basel II – cũng như các chỉnh sửa, bổ sung trong giai đoạn 2007-2009 còn gọi là Basel II.5 Với rất nhiều quy định mới, chặt chẽ được đưa vào Basel II, Ủy ban Basel kỳ vọng khi các quốc gia đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của hiệp ước sẽ giảm thiểu tối đa khả năng xuất hiện một cuộc khủng hoảng tương tự như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã xảy ra Theo lộ trình của Basel III, các quốc gia bắt đầu áp dụng các tiêu chuẩn Basel III

từ 01/01/2013 và đạt được tất cả các tiêu chuẩn kể từ 01/01/2019 Mặc dù Basel III không có hiệu lực pháp lý bắt buộc các quốc gia thành viên phải áp dụng tuy nhiên các quốc gia thành viên đều đã phê chuẩn hiệp ước và thực hiện theo lộ trình – thậm chí sớm hơn – đã được đề ra

Việt Nam không phải là thành viên của Hiệp ước Basel vì vậy đương nhiên Việt Nam không có nghĩa vụ hay cam kết pháp lý bắt buộc phải phê chuẩn và thực hiện hiệp ước này Tuy nhiên, nhận thức được sự cần thiết và tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn hoạt động theo chuẩn mực của Basel, ngay từ những năm đầu thập niên 1990, sau khi Pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành các quy định nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của các ngân hàng thương mại theo những ý niệm và tiêu chuẩn mà Basel đưa ra vì tầm quan trọng, vai trò và ý nghĩa của tiêu chuẩn Basel Trải qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi theo hướng nâng dần tiêu chuẩn đảm bảo an toàn hoạt động, từ năm 2005 các quy định của Việt Nam bắt đầu được xây dựng theo hướng ngày càng bám sát, tiệm cận dần với các quy định của Basel Quan điểm này cũng đã tiếp tục được minh

Trang 2

định rõ trong Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 ban hành theo quyết định 254/2012/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, đề án xác định việc cơ cấu cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng để đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng và phải ban hành chuẩn mực giám sát vốn phù hợp với tiêu chuẩn Basel II trong các năm 2013-2014

Như vậy, có thể thấy trong lúc các nước đã triển khai áp dụng Basel III theo lộ trình thì Việt Nam chỉ mới bắt đầu đặt ra mục tiêu ban hành chuẩn mực phù hợp với Basel II Vì vậy, để đáp ứng được tiêu chuẩn Basel III đòi hỏi phải có nỗ lực lớn không chỉ từ phía các ngân hàng thương mại mà còn phải từ phía các cơ quan quản lý, cụ thể là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng kế hoạch chi tiết để triển khai áp dụng Đây cũng chính là lý do để nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu Đề tài Xây dựng lộ trình sử dụng các tiêu chuẩn giám sát của Basel III cho ngân hàng thương mại Việt Nam

2 Tổng quan về các công trình nghiên cứu trước đây

Hiệp ước Basel là chủ đề được nghiên cứu rất nhiều ở cả trong và ngoài nước

Ở trong nước, có khá nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về Basel tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến khả năng vận dụng Basel II, Basel III tại một ngân hàng cụ thể Chúng tôi chưa tìm thấy luận án tiến sĩ hoặc luận văn thạc sĩ nghiên cứu toàn diện về Basel III và xây dựng lộ trình cho việc triển khai Basel III tại Việt Nam Đối với công trình nghiên cứu khoa học, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu:

• Nguyễn Đức Trung (2015), Khả năng và điều kiện áp dụng một số khuyến nghị chính sách từ Basel III trong giám sát hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Học viện Ngân hàng

Đây là công trình nghiên cứu công phu với lợi thế của nhóm nghiên cứu là lãnh đạo Vụ dự báo, thống kê của Ngân hàng Nhà nước nên số liệu được hệ thống hoá rất phong phú Nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình stress testing

để đánh giá các ngân hàng thương mại có tầm quan trọng trong hệ thống ngân hàng nhằm kiểm tra sức chịu đựng của các ngân hàng này đối với cuộc khủng hoảng xảy ra trong tương lai Tuy nhiên, công trình này chưa

Trang 3

có sự tính toán cụ thể để đánh giá sự khác biệt trong việc tính toán các chỉ tiêu an toàn theo quy định hiện này ở Việt Nam và quy định của Basel II, Basel III và chưa đề cập các vấn đề liên quan đến trụ cột 2 và trụ cột 3 của Basel III

• BIDV (2014), Việc áp dụng những tiêu chuẩn an toàn hoạt động và quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Công trình này được nghiên cứu khá công phu tuy

nhiên chủ yếu đề cập đến Basel II và tại BIDV

• Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng (2012), Phương pháp luận đánh giá sức chịu đựng của tổ chức tín dụng trước các cú sốc trên thị trường tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Công trình này nghiên cứu ở cấp độ

quản lý và sử dụng stress testing để kiểm tra sức chịu đựng về thanh khoản

và về các loại rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng

Ở nước ngoài, Ủy ban Basel cũng thường xuyên thực hiện các nghiên cứu, đánh giá thực tế triển khai Basel ở các nước và đây được xem là tài liệu tư vấn chính thức của Ủy ban Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu của Ủy ban Basel liên quan đến Basel III ngoài các tài liệu hướng dẫn, quy định chính thức và của ngân hàng trung ương một số nước:

• Basel Committeeon Banking Supervision (2014), Impact and implementation challenges of the Basel framework for emerging market, developing and small economies, Bank for International Settlements

• Basel Committeeon Banking Supervision (2014), Basel capital framework national discretions, Bank for International Settlements

• Basel Committeeon Banking Supervision (2014), Implementation of Basel standards: A report to G20 Leaders on implementation of the Basel III regulatory reforms, Bank for International Settlements

• Basel Committeeon Banking Supervision (2013), Regulatory Consistency Assessment Programme (RCAP) Assessment of Basel III regulations in Brazil, Bank for International Settlements

Trang 4

• Basel Committeeon Banking Supervision (2013), Regulatory Consistency Assessment Programme (RCAP) Assessment of Basel III regulations - China, Bank for International Settlements

• Basel Committeeon Banking Supervision (2013), Regulatory Consistency Assessment Programme (RCAP) Assessment of Basel III regulations - Singapore, Bank for International Settlements

• Basel Committeeon Banking Supervision (2012), Basel III regulatory consistency assessment (Level 2) Preliminary report: United States of America, Bank for International Settlements

• Reserve Bank of New Zealand (2012), Regulatory impact assessment of Basel III capital requirements in New Zealand, New Zealand

• Yasheng Zou (2013), Basel III and Its Implementation in China’s Banking Industry, University of International Business and Economics Beijing

Chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu của Basel, IMF, WB, ADB hoặc của các cá nhân

và tổ chức khác ở nước ngoài nghiên cứu về khả năng triển khai Basel III ở Việt Nam

Như vậy, hướng nghiên cứu của đề tài không có sự trùng lắp với các công trình đã

công bố

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây đặc biệt là các công trình

kể trên, đề tài sẽ khắc phục những hạn chế của các đề tài đã có để thực hiện nghiên cứu toàn diện về ba trụ cột của Basel II và Basel III, đối sánh với các quy định hiện hành ở Việt Nam với các tiêu chuẩn giám sát của Basel III nhằm đánh

giá mức độ đáp ứng của Việt Nam Cụ thể như sau:

• Đối sánh các quy định ở cả ba trụ cột của Basel so với quy định của Việt Nam để đánh giá mức độ đáp của ứng tiêu chuẩn Basel II, Basel III của Việt Nam về pháp lý

Trang 5

• Đánh giá mức độ đáp ứng các chỉ tiêu an toàn qua số liệu tính toán cụ thể của các ngân hàng thương mại trên cơ sở các quy định của Việt Nam và quy định của Ủy Basel

• Đề xuất lộ trình và các gợi ý cho cơ quan quản lý để sử dụng các tiêu chuẩn giám sát của Basel III cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

Ở góc độ các quy định pháp lý, phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cơ chế giám sát, bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng của Việt Nam Thời gian nghiên cứu

từ 1990 đến 2015 trong đó tập trung nhiều vào giai đoạn 2014-2015

Ở góc độ các ngân hàng thương mại, nghiên cứu thực hiện nghiên cứu tình huống

ở hai ngân hàng thương mại cổ phần cụ thể trong đó có một ngân hàng niêm yết

và một ngân hàng chưa niêm yết Thời gian nghiên cứu từ 2012-2015 tuy nhiên các số liệu dùng để tính toán, đối sánh là số liệu thời điểm 31/12/2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua việc phân tích diễn dịch, so sánh đối chiếu và tổng hợp Cụ thể, đối với mục tiêu đánh giá mức độ đáp ứng các quy định pháp lý, đề tài sẽ đối sánh quy định của Việt Nam với quy định của Basel III Đối với mục tiêu đánh giá mức độ đáp ứng kết quả của các chỉ tiêu

an toàn, đề tài sẽ sử dụng kỹ thuật phân tích tình huống trên số liệu thực tế của hai ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (một ngân hàng niêm yết và một ngân hàng chưa niêm yết) để tính toán các chỉ tiêu an toàn theo quy định của Việt Nam

và theo quy định của Basel II, Basel III để đánh giá sự khác biệt và nguyên nhân của khác biệt

Các số liệu của hai ngân hàng được lấy từ báo cáo tài chính nội bộ và các thuyết minh có liên quan Số liệu đảm bảo độ tin cậy và chính xác Đối với thông tin về quy định pháp lý, đề tài sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam và các tài liệu được công bố chính thức Ủy ban Basel

Trang 6

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài gồm có 3 chương

• Chương 1: Tổng quan về hiệp ước Basel

• Chương 2: Đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn của Việt Nam với các tiêu chuẩn của Basel

• Chương 3: Đề xuất lộ trình triển khai sử dụng các tiêu chuẩn giám sát của Basel III cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆP ƯỚC BASEL

1.1.Khái quát về Hiệp ước Basel và Basel I

Ngân hàng thanh toán quốc tế (Bank for International Settlements – BIS) được thành lập năm 1930 tại Basel Thụy Sỹ với mục tiêu thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm tạo ra sự ổn định tài chính và tiền tệ cũng như đóng vai trò là “ngân hàng của các ngân hàng trung ương”

Thập kỷ 1970 đã chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng dẫn đến sự ra đời của Ủy ban Basel Đầu tiên là sự mở rộng đáng kể của các hoạt động ngân hàng trên phạm

vi toàn cầu, kéo theo nó là những rủi ro của hệ thống ngân hàng quốc gia trước ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tài chính đến từ bên ngoài Thứ hai, sự sụp

đổ của hệ thống tỷ giá có quản lý Bretton Woods vào năm 1973 cùng với các cuộc khủng hoảng liên tiếp sau đó đến từ ngân hàng Bankhaus Herstatt của Đức và Franklin National Bank of New York của Hoa Kỳ vào năm 1974 Nhằm ngăn chặn những cuộc khủng hoảng tương tự cũng như củng cố hệ thống tài chính quốc

tế, BIS đã thành lập Ủy ban về các quy định ngân hàng và thông lệ giám sát (Committee on Banking Regulations and Supervisory Practices), được gọi một cách ngắn gọn là Ủy ban Basel Ủy ban này hoạt động như một diễn đàn của các ngân hàng trung ương các quốc gia G101 với mục tiêu cải thiện các quy định về ngân hàng

Khi mới thành lập, Ủy ban tập trung vào việc thu hẹp sự khác biệt trong các hoạt động giám sát ngân hàng của các quốc gia thành viên nhằm i.không một cơ sở nước ngoài2 nào của ngân hàng thoát khỏi sự giám sát của các cơ quan giám sát quốc gia; và ii.hoạt động giám sát phải bao quát và nhất quán giữa các quốc gia thành viên Tài liệu có tên Thỏa ước (Concordat) đã được ban hành vào năm 1975

Trang 8

để phục vụ cho mục tiêu này Thỏa ước đề ra các nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm giám sát đối với chi nhánh, công ty con và công ty liên doanh tại nước ngoài của các ngân hàng Tháng 5/1983, Thỏa ước được sửa đổi và ban hành dưới tên gọi

Các nguyên tắc giám sát các cơ sở nước ngoài của ngân hàng (Principles for the

supervision of banks' foreign establishments)

Trước khi Basel I ra đời, tất cả các quốc gia thành viên của Basel đều đã có những quy định về tỷ lệ vốn tối thiểu đối với các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ của mình, trong đó cách thức xác định tỷ lệ vốn tối thiểu dựa trên phương pháp tính trọng số rủi ro của tài sản ngày càng trở nên phổ biến Tuy nhiên, quy định về tỷ lệ vốn tối thiểu và cách tính tỷ lệ này có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia, trong khi ý định đưa ra một quy định áp dụng cho toàn bộ các thành viên vẫn chưa xuất hiện Chính những cuộc khủng hoảng ngân hàng với những hậu quả nghiêm

trọng của nó đã dẫn đến sự ra đời của tài liệu Sự thống nhất quốc tế về đo lường

và các tiêu chuẩn vốn (International convergence of capital measurement and

capital standards) được gọi một cách không chính thức là Basel I

Hai mục tiêu cơ bản của Hiệp ước Basel I là i.củng cố sự lành mạnh và ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; và ii.giảm thiểu sự cạnh tranh không lành mạnh đang tồn tại giữa các ngân hàng quốc tế Một điểm lưu ý là khung đo lường này đưa ra quy định về mức vốn tối thiểu đối với các ngân hàng quốc tế, vì vậy các quốc gia có thể quy định các mức cao hơn mức vốn tối thiểu

Hiểu một cách đơn giản, Basel I yêu cầu các ngân hàng phải duy trì tối thiểu 8% giá trị tài sản có rủi ro của mình (các khoản cho vay, chứng khoán, v.v.) và các khoản mục ngoại bảng (tín dụng thư dự phòng, các cam kết, nghĩa vụ, v.v.) bằng các loại “vốn theo quy định” (vốn chủ sở hữu, dự phòng tổn thất cho vay, nợ thứ cấp và một số loại công cụ khác,.v.v.) Để xác định tài sản của ngân hàng, trước tiên phải phân các khoản mục nội và ngoại bảng vào một trong năm hạng mức rủi

ro, sau đó tính mức vốn cần nắm giữ cho từng khoản mục Mức vốn tối thiểu mà các ngân hàng phải nắm giữ là tổng của tất cả các khoản mục này Ba bước để xác định mức vốn tối thiểu bao gồm: i.xác định các cấu thành của vốn; ii.xác định trọng số rủi ro; và iii.xác định thừa số chuyển đổi đối với các hạng mục ngoại bảng

Trang 9

1.1.1 Các cấu thành của vốn

Vì mục đích giám sát, Ủy ban đã chia nguồn vốn thành hai cấp Vốn cấp 1 (Tier 1) bao gồm hai thành phần là vốn cổ phần và các khoản dự trữ công khai từ các khoản lợi nhuận giữ lại sau thuế (theo yêu cầu của Đức) Vốn cấp 1 phải chiếm ít nhất 50% nguồn vốn của ngân hàng Vốn cấp 2 (Tier 2) bao gồm các thành phần vốn khác (vốn bổ sung) trong đó có các công cụ nợ dài hạn cũng như dự phòng tổn thất như Pháp và Hoa Kỳ mong muốn Vốn bổ sung không được vượt quá

Bảng 1.1: Định nghĩa vốn theo Basel I Vốn cấp 1 (a) Vốn cổ phần đã thanh toán đầy đủ/ cổ phần phổ thông

(b) Dự trữ công khai

Vốn cấp 2 (a) Dự trữ không công khai

(b) Dự trữ cho các tài sản tái định giá (c) Dự phòng chung/ dự phòng tổn thất cho vay chung (d) Các công cụ vốn hỗn hợp (nợ/ vốn chủ sở hữu) (e) Nợ thứ cấp có kỳ hạn

Các giới hạn:

- Tổng vốn cấp 2 không được vượt quá 100% tổng vốn cấp 1

- Nợ thứ cấp có kỳ hạn không được vượt quá 50% tổng vốn cấp 1

- Dự trữ tổn thất cho vay không được vượt quá 1.25%

Trang 10

- Dự trữ tái định giá dưới dạng tăng giá trị chứng khoán chưa thực hiện phải được chiết khấu với mức 55%

Các giảm trừ:

- Lợi thế thương mại (giảm trừ trong vốn cấp 1)

- Các khoản đầu tư vào các chi nhánh chưa hợp nhất (giảm trừ trong vốn cấp 1 và vốn cấp 2)

Nguồn: Basel, 1988 1.1.1.2 Vốn cấp 2 (vốn bổ sung)

Dự trữ không công khai

Dự trữ không công khai hay dự trữ ẩn có thể bao gồm nhiều khoản mục tùy thuộc vào chế độ kế toán và pháp lý của các quốc gia thành viên Nhóm này chỉ bao gồm những khoản dự trữ (dù không công khai) đã được hạch toán vào tài khoản lãi lỗ được các cơ quan giám sát ngân hàng chấp thuận

Dự trữ tái định giá

Chế độ kế toán hay thông lệ kế toán của một số quốc gia cho phép một số tài sản nhất định được tái định giá nhằm thể hiện giá tri hiện tại của những tài sản này, hoặc một giá trị nào đó gần với giá trị hiện tại hơn chi phí lịch

sử Theo đó, những khoản dự trữ tái định giá này được ghi nhận vào nguồn vốn Việc tái định giá này có thể phát sinh dưới hai hình thức:

(a) Từ việc tái định giá chính thức, được hạch toán vào bảng cân đối kế toán trong khoản mục cơ sở vật chất của ngân hàng; hoặc

(b) Từ việc bổ sung một khoản vốn ước tính vào nguồn vốn có giá trị ẩn phát sinh từ thực tế nắm giữ các loại chứng khoán trong bảng cân đối kế toán được định giá theo chi phí lịch sử

Các khoản dự trữ này có thể được tính vào vốn bổ sung với điều kiện là các tài sản phải được cơ quan giám sát đánh giá là đã được định giá một cách thận trọng và việc định giá thể hiện đầy đủ khả năng biến động giá cũng như trường hợp buộc phải bán tài sản đó

Trang 11

Dự phòng chung/dự phòng tổn thất cho vay chung

Dự phòng chung hay dự phòng tổn thất cho vay chung được thiết lập để phòng ngừa khả năng tổn thất chưa xác định được Những khoản dự phòng này chỉ đủ điều kiện để tính vào vốn cấp 2 khi giá trị của tài sản tương ứng chưa có một sự suy giảm có thể xác định được

Dự phòng chung hay dự phòng tổn thất cho vay chung đủ điều kiện tính vào vốn cấp 2 như trên chỉ được chiếm tối đa 1.25% tổng tài sản có có trọng số rủi ro

Nợ thứ cấp có kỳ hạn

Theo Basel I, các công cụ nợ thứ cấp có kỳ hạn có các nhược điểm lớn để

có thể xem như một thành phần của nguồn vốn do chúng có kỳ hạn cố định

và không có khả năng bù đắp cho các tổn thất, trừ trường hợp thanh lý tài sản Do những nhược điểm này mà Basel I đã giới hạn giá trị của các công

cụ nợ thứ cấp có kỳ hạn khi tính vào vốn cơ bản Theo đó, các công cụ này

có thể tính vào vốn bổ sung nhưng không vượt quá 50% vốn lõi và có kế hoạch trả nợ phù hợp

Các khoản giảm trừ

Các khoản sau đây được giảm trừ trong nguồn vốn nhằm phục vụ cho việc tính tỷ lệ vốn có điều chỉnh rủi ro:

(i) Lợi thế thương mại, giảm trừ trong vốn cấp 1 Lợi thế thương

mại bị giảm trừ do giá trị của nó thường được định giá rất chủ

Trang 12

quan, có sự biến động mạnh và thường có giá trị thấp trong trường hợp thanh lý công ty (Balthazar, 2006)

(ii) Các khoản đầu tư vào các công ty con hoạt động trong lĩnh vực

tài chính, ngân hàng chưa được hợp nhất Theo thông lệ, các khoản này sẽ được hợp nhất nhằm đánh giá mức an toàn vốn của các tập đoàn ngân hàng

1.1.2 Trọng số rủi ro

Basel I cho rằng vốn được điều chỉnh theo trọng số rủi ro tương ứng là phương pháp phù hợp để đánh giá mức độ an toàn vốn của các ngân hàng So với phương pháp bình quân phi gia quyền, phương pháp này có những ưu điểm sau: i tạo cơ

sở để so sánh các hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới với cấu trúc khác nhau một cách công bằng hơn; ii.cho phép các rủi ro ngoại bảng được tích hợp một cách dễ dàng hơn vào việc đánh giá; và iii.không ngăn cản các ngân hàng giữ các tài sản hay có rủi ro thấp

Hệ thống trọng số được thiết kế đơn giản với 5 mức 0%, 10%, 20%, 50% và 100% Trọng số của các loại tài sản được cho là dựa trên bản chất của loại tài sản thay vì năng lực tài chính hay lịch sử tín dụng của bên vay Vì vậy, tất cả các khoản vay của các tổ chức phi ngân hàng đều có trọng số 100%, bất chấp tổ chức

đó có tình hình tài chính dồi dào như Apple, Microsoft hay chỉ là một công ty mới khởi nghiệp

Basel I cũng đưa ra trọng số rủi ro áp dụng cho các khoản mục ngoại bảng và đã

xử lý các khoản mục ngoại bảng qua hai bước: i.đưa ra thừa số chuyển đổi tín dụng (credit conversion factors - CCFs) nhằm chuyển các khoản mục ngoại bảng thành tài sản Về mặt bản chất, thừa số này là mức chiết khấu phản ánh khả năng các khoản dự phòng có thể trở thành tài sản và tạo ra các rủi ro tín dụng cho một ngân hàng Chẳng hạn một bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thừa số chuyển đổi là 50%, nghĩa là giá trị danh nghĩa của bảo lãnh này được giảm xuống 50%; và ii.sau khi được chuyển thành tài sản tương ứng, các khoản mục ngoại bảng này sẽ được phân vào các hạng mục rủi ro dựa trên loại khách hàng

Trang 13

1.1.3 Một số tu chỉnh quan trọng của Basel I

Basel I đưa ra lộ trình 4 năm để các quốc gia chuẩn bị cho việc thực hiện các quy định của Hiệp ước này Tuy nhiên Ủy ban đã có một số thay đổi nhỏ trước khi kết thúc lộ trình, theo đó các tính chất của các khoản dự phòng chung và các khoản dự phòng tổn thất cho vay được quy định rõ ràng hơn (Basel, 1991) Ủy ban cũng đã

có những thay đổi về trọng số của các hạng mục rủi ro Trong các năm 1994,

1995, Hiệp ước đã được tu chỉnh hai lần theo hướng cho phép khấu trừ nhiều hơn trong việc tính toán các rủi ro liên quan đến một số khoản mục ngoại bảng (Basel

1994, 1995) Đây là những thay đổi rất quan trọng đối với các ngân hàng có khối lượng giao dịch các công cụ phái sinh lớn

Đến năm 1996, Ủy ban đã ban hành tu chỉnh đối với Basel I (có hiệu lực từ năm 1998) nhằm tích hợp thêm các rủi ro thị trường vào việc tính toán mức vốn tối thiểu của ngân hàng Theo Basel I, rủi ro thị trường là rủi ro tổn thất trên trạng thái của các khoản mục nội và ngoại bảng phát sinh từ những thay đổi về giá cả thị trường Các loại giá cả thị trường có thể là lãi suất, giá cổ phiếu, tỷ giá hối đoái hay giá hàng hóa Nội dung chính của tu chỉnh như sau:

1 Các ngân hàng phải tính mức vốn yêu cầu cho các rủi ro tín dụng của tất cả các khoản mục nội và ngoại bảng, ngoại trừ các loại chứng khoán nợ, chứng khoán vốn trong sổ giao dịch (trading book)3 và các trạng thái giao dịch hàng hóa, nhưng bao gồm trạng thái của các công cụ phái sinh trên thị trường OTC trong sổ giao dịch vì đây là loại công cụ phái sinh có tính thanh khoản thấp

2 Tu chỉnh thừa nhận các khoản nợ thứ cấp ngắn hạn là công cụ vốn nếu chúng thỏa mãn các điều kiện sau: i.không được bảo đảm và đã được thanh toán đầy đủ; ii.có kỳ hạn gốc từ hai năm trở lên; iii.không được hoàn trả trước ngày cam kết thanh toán trừ khi được cơ quan giám sát đồng ý; và iv.phải chịu một điều khoản quy định rằng sẽ không phải trả lãi hay vốn gốc (thậm chí cả khi đáo hạn) nếu khoản thanh toán đó làm cho ngân hàng không đáp ứng được yêu cầu vốn tối thiểu hoặc vẫn tiếp tục không đáp

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

3Sổ giao dịch là danh mục các công cụ tài chính mà ngân hàng hay người môi giới đang nắm giữ

Trang 14

ứng được yêu cầu vốn tối thiểu Các khoản nợ thứ cấp ngắn hạn này được xếp vào một loại vốn mới – vốn cấp 3

Nội dung quan trọng nhất của tu chỉnh là cách tính mức vốn quy định, bao gồm phương pháp chuẩn hóa (standardized approach) và phương pháp mô hình nội bộ (internal models approach) Phương pháp chuẩn hóa dựa trên các quy tắc và các công thức chuẩn được quy định trong Hiệp ước 1988 đối với rủi ro tín dụng Phương pháp mô hình nội bộ dựa trên mức vốn yêu cầu được tính toán từ các mô hình riêng của các tổ chức với tên gọi phổ biến là mô hình Value-at-Risk (VaR)

Phương pháp chuẩn hóa

Phương pháp này được thiết kế để tích hợp hai loại rủi ro, đó là rủi ro cụ thể (specific risk) và rủi ro chung (general risk) Loại rủi ro thứ nhất phát sinh do những thay đổi về giá chứng khoán có nguyên nhân từ bên phát hành như xuống hạng tín dụng hay thắt chặt thanh khoản Loại rủi ro thứ hai là rủi ro do các tổn thất phát sinh từ những thay đổi về lãi suất hay thay đổi của thị trường như trong trường hợp cổ phiếu

Đối với rủi ro riêng, các công cụ nhạy cảm với lãi suất được tính trọng số rủi ro theo chức năng và kỳ hạn của chúng như chứng khoán chính phủ, chứng khoán đầu tư có xếp hạng, chứng khoán đầu cơ có hoặc không có xếp hạng Đối với rủi

ro chung, các loại chứng khoán được xếp vào các hạng mục khác nhau, cũng dựa trên chức năng và kỳ hạn của chúng để tính mức vốn yêu cầu Trong trường hợp này, trạng thái mua và bán cũng được xem xét

Đối với rủi ro kinh doanh cổ phiếu, mỗi trạng thái ròng của một loại cổ phiếu hay chỉ số có mức vốn yêu cầu bằng 8% trong trường hợp rủi ro riêng Trong trường hợp rủi ro chung, trạng thái ròng được xác định bằng cách tính tổng của tất cả các trạng thái mua hoặc bán của tất cả các loại cổ phiếu trên thị trường, sau đó nhân với trọng số rủi ro 8%

Đối với rủi ro kinh doanh ngoại tệ và hàng hóa, không có sự tách biệt giữa rủi ro chung và rủi ro cụ thể Các ngân hàng phải tính trạng thái mua ròng và bán ròng của từng loại tiền tệ Trạng thái nào có giá trị lớn hơn sẽ được nhân với trọng số rủi ro 8% để tính mức vốn yêu cầu Trạng thái ròng của vàng cũng có mức vốn yêu cầu 8% Có hai phương pháp để tính mức vốn yêu cầu của rủi ro kinh doanh

Trang 15

hàng hóa, trong đó phương pháp đơn giản nhất là nhân với trọng số rủi ro 15% cho các trạng thái ròng

Tu chỉnh cũng dành một chương riêng để hướng dẫn cách tính rủi ro của các hợp đồng quyền chọn

Phương pháp mô hình nội bộ

Tu chỉnh năm 1996 cho phép các ngân hàng sử dụng các mô hình nội bộ để tính rủi ro thị trường, bên cạnh mô hình chuẩn hóa Do tính chất phức tạp của mô hình này, chương này chỉ nêu những điểm chính của phương pháp này (phần trình bày chi tiết sẽ nêu ở chương 2) như sau:

- Các ngân hàng tính VaR bằng công thức có sẵn và chuyển đổi thành lượng vốn cần nắm giữ Công thức để chuyển phương pháp sử dụng mô hình nội bộ thành lượng vốn cần nắm giữ như sau:

k x VaR + Chi phí rủi ro cụ thể Trong đó, k tối thiểu bằng 3 và do các cơ quan giám sát quy định Lập luận của Ủy ban trong việc yêu cầu k tối thiểu bằng 3 là i.ngay cả những mô hình tốt nhất cũng

có những hạn chế của nó; ii.dữ liệu lịch sử không nhất thiết sẽ dự đoán đúng những thay đổi của thị trường trong tương lai; và iii.VaR theo định nghĩa của nó là những khoản tổn thất có thể mất trong một thời kỳ nhất định với một khoảng tin cậy nhất định, vì vậy những khoản tổn thất lớn hơn vẫn có thể xảy ra trong một số trường hợp hạn hữu, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng

- Các ngân hàng sử dụng các mô hình nội bộ phải tính VaR hàng ngày, tại mức ý nghĩa 1% cho một khoảng thời gian đánh giá tương ứng với 10 ngày giao dịch và giai đoạn quan sát ít nhất một năm

- Mức vốn yêu cầu đối với các ngân hàng sử dụng mô hình nội bộ là giá trị nào cao hơn giữa VaR của ngày hôm trước và bình quân của VaR tính theo ngày của

60 ngày làm việc trước đó

- Sử dụng phương pháp kiểm tra đối chiếu với quá khứ (back testing - so sánh kết quả từ mô hình và tình hình thực tế của những ngày trước đó) để tính số cộng

thêm (plus factor), sau đó nhân với hệ số k

Trang 16

- Cho phép các ngân hàng phát hành nợ thứ cấp nếu thỏa mãn số điều kiện để đáp ứng một phần rủi ro thị trường

- Cho phép chọn lựa phương pháp chuẩn thông qua sử dụng phương pháp khối hợp nhất nếu rủi ro thị trường chung và rủi ro chứng khoán riêng được tính độc lập và cộng dồn

- Các ngân hàng phải tách biệt sổ giao dịch và sổ ngân hàng (banking book)4 và tính theo giá trị thị trường tất cả các danh mục/ trạng thái trong sổ giao dịch

- Áp dụng cho cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng và các công ty chứng khoán phi ngân hàng

1.2 Hiệp ước Basel II

Để khắc phục những nhược điểm của Basel I cũng như sự xuất hiện ngày càng nhiều các công cụ tài chính và các kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tín dụng, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã nỗ lực soạn thảo một hiệp ước mới nhằm phản ánh tốt hơn những thay đổi trong cấu trúc và hoạt động thực tế của thị trường tài chính, ngân hàng Tháng 6/1999, tài liệu tham vấn đầu tiên đã được Ủy ban Basel gửi đến các bên có liên quan với ba thay đổi đáng chú ý nhất là:

- Đưa ra thêm hai trụ cột mới là quy trình kiểm tra giám sát và kỷ luật thị trường nhằm bổ sung và hỗ trợ cho các chuẩn mực vốn hiện tại;

- Cho phép các ngân hàng có hệ thống quản lý rủi ro tiên tiến sử dụng mô hình nội bộ để đánh giá rủi ro tín dụng – thay vì sử dụng các trọng số rủi ro chuẩn hóa theo quy định của Basel I;

- Cho phép các ngân hàng sử dụng xếp hạng tín dụng từ các công ty đánh giá tín dụng độc lập đối với các khoản dư nợ như dư nợ cho vay chính phủ, doanh nghiệp hay ngân hàng

Ngày 26/06/2004, Ủy ban Basel đã ban hành tài liệu Sự thống nhất quốc tế về phương pháp đo lường vốn và các tiêu chuẩn về vốn (International Convergence

of Capital Measurement and Capital Standards) – được gọi dưới tên thông dụng

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

4Bao gồm các tài sản dự định sẽ được nắm giữ đến ngày đáo hạn và không phải tính theo giá thị trường

Trang 17

hơn là Basel II Tài liệu này là bản chính thức của tài liệu tham vấn có tên Hiệp ước Basel mới (the New Basel Accord) ban hành vào tháng 4/2003 Mục tiêu của Basel II là: i.tăng cường chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng thế giới; ii.tạo ra và duy trì một sân chơi công bằng cho các ngân hàng đa quốc gia, và iii.thúc đẩy việc áp dụng các thông lệ chặt chẽ hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro Mục tiêu thứ nhất và thứ hai là hai mục tiêu cốt lõi của Basel I Tuy mới nhưng mục tiêu thứ ba đã được Ủy ban nhấn mạnh là mục tiêu quan trọng nhất Đây là dấu hiệu cho thấy sự chuyển dịch từ các quy định dựa trên các tỷ lệ sang các quy định dựa trên số liệu, thông lệ và mô hình nội bộ Sự thay đổi này được cho là giống với sự thay đổi trong các quy định về rủi ro, khi Ủy ban cho phép sử dụng các mô hình nội bộ để tính toán tỷ lệ vốn tối thiểu

Hình 1.1: Tóm tắt nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Basel II

1.2.1 Phạm vi áp dụng

Tương tự như Basel I, Basel II chỉ là một hệ thống các kiến nghị đối với các quốc gia G10 Tuy nhiên, cũng giống như Basel I, Basel II được dự báo sẽ được chuyển thành luật tại Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật và cuối cùng cũng sẽ được áp dụng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới Basel II được áp dụng trên cơ sở hợp nhất đối với các ngân hàng đa quốc gia

Các ngân hàng nội địa không thuộc phạm vi áp dụng của Basel II mặc định nằm dưới sự kiểm soát của các cơ quan giám sát trong nước trong việc duy trì mức vốn

Trang 18

tối thiểu Trên thực tế, các ngân hàng và các công ty chứng khoán nội địa trong tương lai sẽ phải tuân theo các quy định của Hiệp ước này ở cấp độ phạm vi quốc gia

1.2.2 Cấu trúc của hiệp ước

Hiệp ước Basel II được xây dựng trên ba thành phần bổ trợ cho nhau, được gọi là

ba trụ cột Các trụ cột này được thiết kế để phục vụ cho các mục tiêu ổn định tài chính và quản lý rủi ro tốt hơn:

- Trụ cột 1: Yêu cầu vốn tối thiểu đối với các rủi ro tín dụng và hoạt động

- Trụ cột 2: Hướng dẫn quy trình kiểm tra giám sát

- Trụ cột 3: Yêu cầu các ngân hàng công bố các thông tin quan trọng về đặc điểm rủi ro và tình trạng vốn hóa

So với Basel I, phạm vi áp dụng của Basel II rộng hơn, bao gồm mọi cấp độ hợp

nhất (cấp độ công ty mẹ và công ty con)

Bảng 1.2: Ba trụ cột cơ bản của Basel II Trụ cột 1: Yêu cầu vốn

tối thiểu

Trụ cột 2: Quy trình kiểm tra giám sát

Trụ cột 3: Kỷ luật thị

trường

- Rủi ro tín dụng: nhạy

cảm hơn với rủi ro

- Yêu cầu vốn đối với các

- Xử lý vốn kinh tế và kiểm tra sức kháng cự

- Quy trình đánh giá mức

an toàn vốn nội bộ

Adequacy Assessment Process – ICAAP)

- Có thể yêu cầu tăng mức

an toàn vốn

- Yêu cầu các ngân hàng công bố các thông tin về rủi ro cần thiết

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trang 19

Trụ cột 1: Yêu cầu vốn tối thiểu

Theo quan điểm của Ủy ban Basel, cách kiểm soát mức an toàn vốn dựa trên tỷ số giữa vốn theo quy định và tài sản có rủi ro vẫn được xem là hợp lý nhất do vốn là tấm đệm chủ yếu để bù đắp khi có tổn thất xảy ra

Tỷ lệ an toàn vốn 8% và tử số của công thức tính tỷ lệ an toàn vốn vẫn được giữ nguyên Tuy nhiên, mức 8% là giá trị được tính trực tiếp từ mô hình rủi ro tín dụng chuẩn đã được đơn giản hóa, thay vì ước tính khá cảm tính như trong Basel

I Thay đổi lớn nhất có thể nhận thấy đó là sự xuất hiện của rủi ro hoạt động trong mẫu số Bên cạnh đó, Basel II cũng có những thay đổi đáng kể về định nghĩa tài sản có rủi ro, cụ thể là các quy định mới trong việc xử lý rủi ro tín dụng và chứng khoán hóa Trọng số rủi ro cũng được điều chỉnh lại để nhạy cảm hơn với rủi ro

Có ba phương pháp tính tài sản có trọng số rủi ro đối với rủi ro tín dụng với các mức độ phức tạp khác nhau

Phương pháp tiên tiến nhất được thiết kế để yêu cầu một lượng vốn tối thiểu ít hơn trong khi đòi hỏi các ngân hàng phải đáp ứng nhiều hơn các tiêu chuẩn định tính

và định lượng đối với các hệ thống và quy trình nội bộ Việc này khuyến khích các ngân hàng tăng cường các hoạt động quản lý rủi ro nội bộ thực tế Ngoài quy định rõ ràng hơn về mức vốn tối thiểu trên tài sản có rủi ro, Basel II cũng chấp nhận thêm một số loại tài sản đảm bảo có khả năng bù đắp các rủi ro

Một cải tiến quan trọng khác của trụ cột 1 đó là các quy định mới về rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, tuy nhiên rủi ro tín dụng vẫn là loại rủi ro được quan tâm nhất Mức an toàn vốn cho cả ba loại rủi ro là 8%

Trụ cột 2: Quy trình kiểm tra giám sát

Trục thứ hai của Basel II dựa trên kiểm soát nội bộ và kiểm tra giám sát Trụ cột này được xây dựng trên quan điểm một ngân hàng quản lý tốt không những chỉ đáp ứng mức yêu cầu vốn tối thiểu mà còn tự đánh giá được một cách toàn diện khả năng bù đắp khi có tổn thất Các ngân hàng cũng phải tính các loại rủi ro không được nêu hoặc không được nêu đầy đủ trong Hiệp ước như rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược, rủi ro tập trung tín dụng, rủi ro lãi suất trong sổ sách ngân hàng

Trang 20

Bảng 1.3: So sánh yêu cầu vốn của Basel I và Basel II

- Phương pháp đo lường rủi ro tín

dụng đơn giản

- Không nhạy cảm với rủi ro

- Không có quy định cụ thể đối với

rủi ro hoạt động

VốnRủi!ro!tín!dụng + !Rủi!ro!thị!trường

= !Tỷ!lệ!an!toàn!vốn!

≥ !8%

- Cho phép ngân hàng sử dụng mô hình nội

bộ để tính các thông số rủi ro đối tác

- Thay đổi đáng kể về các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng

- Linh hoạt hơn

- Tăng mức độ nhạy cảm với rủi ro

- Đưa ra các quy định cụ thể về yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động

VốnRR!tín!dụng + !RR!thị!trường + !RR!hoạt!động

= !Tỷ!lệ!an!toàn!vốn! ≥ !8%

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Hình 1.2: Các lựa chọn để tính yêu cầu vốn đối với tài sản có rủi ro

Trang 21

Trụ cột 3: Kỷ luật thị trường

Trụ cột này có liên quan đến kỷ luật thị trường, và các yêu cầu liên quan đến việc công khai số liệu Các ngân hàng phải báo cáo đầy đủ về hệ thống quản lý rủi ro nội bộ và công bố ít nhất hai lần một năm Mặc dù việc này có thể dẫn đến một số vấn đề về bảo mật vì danh mục các nội dung cần công bố khá nhạy cảm, chẳng hạn mô tả các mục tiêu và chính sách quản lý rủi ro; các tổn thất nội bộ theo xếp loại rủi ro; chính sách quản lý tài sản đảm bảo; rủi ro theo thời gian đáo hạn, theo ngành và vị trí địa lý Mục tiêu là để thị trường gây áp thêm áp lực cho các ngân hàng trong việc cải thiện các hoạt động quản lý rủi ro thực tế Trụ cột này được xem là đặc biệt quan trọng do theo quy định của Basel II, các ngân hàng được phép sử dụng các mô hình nội bộ để ước tính rủi ro, vì thế các ngân hàng hoàn toàn có thể tự xác định mức vốn cần duy trì của mình

1.2.3 Trụ cột 1: Yêu cầu vốn tối thiểu

Trụ cột 1 là trụ cột quan trọng nhất của Basel II, được xây dựng dựa trên Basel I với mục tiêu tăng mức độ rủi ro trong các yêu cầu về mức vốn tối thiểu cũng như ước lượng sát hơn các rủi ro thực tế của các ngân hàng, bao gồm:

- Rủi ro tín dụng: là các rủi ro tổn thất phát sinh từ việc bên đi vay không có khả năng thực hiện nghĩa vụ chi trả của mình;

- Rủi ro hoạt động: là các rủi ro tổn thất phát sinh từ lỗi xử lý nội bộ, con người,

hệ thống hoặc từ các sự kiện bên ngoài;

- Rủi ro giao dịch thị trường: là các rủi ro tổn thất liên quan đến việc nắm giữ các công cụ tài chính cho các mục đích giao dịch hoặc do biến động giá trên thị trường như lãi suất, tỷ giá ngoại hối và giá cổ phiếu; và

- Rủi ro chứng khoán hoá: là các rủi ro tổn thất liên quan đến việc mua hay bán các loại chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản

Nhận thức được rằng các ngân hàng, các định chế tài chính có một sự khác biệt rất lớn về đặc điểm rủi ro, Basel II đã chuyển từ áp dụng phương pháp “một cỡ vừa cho tất cả” (one size fits all) sang áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, chi tiết hơn và phù hợp hơn với thực tế quản trị rủi ro và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và các định chế tài chính Basel II đưa ra phương pháp chuẩn và

Trang 22

phương pháp mô hình nội bộ cho từng loại rủi ro đồng thời nhấn mạnh giữa hai phương pháp này, không có phương pháp nào được xem là ưu việt hơn so với phương pháp còn lại

Basel II hướng dến việc cải thiện quy trình quản trị rủi ro của các ngân hàng thông qua việc khuyến khích các ngân hàng này phát triển các hệ thống đo lường rủi ro phức tạp hơn nếu điều kiện tài chính cho phép Thực tế khi các quy trình quản trị rủi ro được cải thiện, các ngân hàng có thể chỉ cần duy trì một mức vốn tối thiểu thấp hơn

1.2.3.1 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng mà hầu hết các ngân hàng phải kiểm soát trong quá trình cho vay và bảo lãnh tín dụng Một trong những cải tiến quan trọng của Basel II đó là các ngân hàng được phép lựa chọn một trong hai phương pháp sau

để tính mức vốn yêu cầu đối với các rủi ro tín dụng:

- Phương pháp chuẩn hóa (Standardized Approach - SA) Phương pháp này

sử dụng xếp hạng tín dụng của các công ty xếp hạng tín dụng độc lập;

- Phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ (Internal-Ratings Based Approach– IRBA), được chia nhỏ thành phương pháp cơ bản (Foundation) và phương pháp tiên tiến (Advanced) Các ngân hàng chỉ được phép sử dụng phương pháp này khi có sự chấp thuận của các cơ quan giám sát

1.2.3.2 Rủi ro thị trường

Rủi ro thị trường được định nghĩa là rủi ro tổn thất của các trạng thái nội bảng và ngoại bảng phát sinh do biến động của giá thị trường Basel II tập trung vào 5 nhóm rủi ro chính, bao gồm: rủi ro lãi suất; rủi ro trạng thái vốn cổ phần; rủi ro ngoại hối và rủi ro hàng hóa

1.2.3.3 Rủi ro hoạt động

Rủi ro hoạt động là rủi ro nghiêm trọng đối với các ngân hàng Trong nhiều trường hợp, các ngân hàng cần một nguồn vốn cao hơn để bù đắp tổn thất rủi ro hoạt động so với rủi ro tín dụng Với mong muốn tăng mức độ nhạy cảm đối với rủi ro, Ủy ban đã áp dụng mức vốn yêu cầu đối với rủi ro này Rủi ro hoạt động là

Trang 23

rủi ro tổn thất trực tiếp hay gián tiếp từ sai sót của quy trình nội bộ, lỗi hệ thống hoặc con người hay từ các sự kiện bên ngoài Các ví dụ về rủi ro hoạt động được Basel tính đến bao gồm gian lận nội bộ hoặc bên ngoài, rủi ro pháp lý, thiệt hại về tài sản hữu hình, gián đoạn kinh doanh bên cạnh một số rủi ro khác chưa được tính đến như rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược

Bảng 1.3: Tóm tắt các phương pháp tính rủi ro hoạt động

Nội dung Phương pháp chỉ

số cơ bản

Phương pháp chuẩn

hóa

Phương pháp đo lường tiên tến Các tham

số/ mô

hình

Các tham số do các cơ quan giám sát quy định

Các tham số do các cơ quan giám sát quy định

Các mô hình do ngân hàng lựa chọn

Cấp độ đo

lường

Đo lường cho tất

cả hoạt động của ngân hàng

Đo lường theo lĩnh vực kinh doanh

cơ quan giám sát quy định

Đáp ứng các tiêu chuẩn về đánh giá

và quản trị rủi ro hoạt động do các cơ quan giám sát quy định

Đối tượng

áp dụng

Các ngân hàng có rủi ro hoạt động thấp

Tất cả ngân hàng Các ngân hàng rủi

ro hoạt động lớn

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Ba phương pháp tính rủi ro hoạt động, xếp theo mức độ phức tạp là:

Trang 24

- Phương pháp chỉ số cơ bản (Basic Indicator Approach – BIA): sử dụng một chỉ số rủi ro hoạt động cho toàn bộ hoạt động của ngân hàng

- Phương pháp chuẩn hóa (Standardized Approach – SA): sử dụng các chỉ số khác nhau cho các lĩnh vực hoạt động khác nhau

- Phương pháp đánh giá nội bộ (Internal Measurement Approach – IMA): sử dụng các dữ liệu tổn thất nội bộ để ước tính mức vốn cần thiết

1.2.4 Trụ cột 2: Quy trình kiểm tra giám sát

Trụ cột 1 của Basel II quy định về các rủi ro chính mà các ngân hàng gặp phải như rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường còn trụ cột 2 phục vụ cho mục đích bảo đảm các ngân hàng có đủ vốn để hỗ trợ cho tất cả các rủi ro quan trọng khác trong hoạt động kinh doanh của mình Trụ cột 2 có thể được tóm tắt bằng

yêu cầu của Ủy Ban: “Hãy ước tính tất cả các rủi ro của mình, bảo đảm cho chúng chúng bằng nguồn vốn, và chúng tôi sẽ kiểm tra tổ chức của bạn đã làm gì”(Basel, 2006 )

Các nguyên tắc của trụ cột 2 rõ ràng không thể xác định một cách chính xác vì những gì Ủy Ban muốn đó là các ngân hàng phải xác định tất cả các loại rủi ro không được đề cập hoặc đề cập không đầy đủ trong trụ cột 1 và ước tính mức độ rủi ro của chúng Tuy nhiên, dường như Ủy ban vẫn chưa có một ý tưởng chính xác về danh sách các loại rủi ro có liên quan (các rủi ro này có thể khác nhau đối với từng ngân hàng, tùy thuộc vào đặc điểm rủi ro) Theo nghiên cứu của PWC về trụ cột 2 tại Châu Âu (PriceWaterhouseCoopers, 2003), 37% các ngân hàng được khảo sát cho rằng các nhà lập pháp không có đủ năng lực và 75% cho rằng các ngân hàng không có đủ nguồn lực để thực hiện đầy đủ trụ cột 2 một cách hiệu quả Việc này cho thấy một vài trang trong Hiệp ước Basel II về trụ cột 2 còn ẩn chứa nhiều yêu cầu liên quan đến mô hình và quy trình để quản lý các rủi ro không được đề cập trong trụ cột 1, cho dù các rủi ro này cũng nghiêm trọng hoặc thậm chí nghiêm trọng hơn các rủi ro được đề cập trong trụ cột 1, đặc biệt đối với các tập đoàn ngân hàng lớn, có nhiều hoạt động phức tạp

Theo quy định của trụ cột 2, các cơ quan giám sát phải đảm bảo rằng các ngân hàng sử dụng phương pháp IRB và AMA phải đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về định tính và định lượng

Trang 25

Các nguyên tắc

Quy trình kiểm tra giám sát được xây dựng trên bốn nguyên tắc chủ yếu

Nguyên tắc 1: Các ngân hàng phải có một quy trình đánh giá mức độ an toàn vốn tổng quát phù hợp với đặc điểm rủi ro của mình, và một chiến lược duy trì mức vốn này

Nguyên tắc 2: Các cơ quan giám sát phải xem xét và đánh giá mức độ an toàn vốn nội bộ và chiến lược của các ngân hàng, cũng như khả năng của các ngân hàng nhằm giám sát và đảm bảo việc tuân thủ các tỷ lệ vốn pháp định Các cơ quan giám sát phải thực hiện các biện pháp phù hợp nếu không thỏa mãn với kết quả của quy trình này

Nguyên tắc 3: Các cơ quan giám sát phải yêu cầu các ngân hàng hoạt động với mức vốn đảm bảo tỷ lệ vốn tối thiểu theo quy định và phải có khả năng yêu cầu các ngân hàng duy trì mức vốn vượt mức vốn tối thiểu

Nguyên tắc 4: Các cơ quan giám sát phải nỗ lực can thiệp sớm nhằm ngăn chặn mức vốn xuống thấp hơn mức tối thiểu cũng như phải yêu cầu các hành động khắc phục kịp thời nếu mức vốn tối thiểu không được duy trì hoặc khôi phục như ban đầu

Các nhà lập pháp có thể yêu cầu các hành động như sau: tăng cường giám sát ngân hàng; hạn chế chi trả cổ tức; yêu cầu ngân hàng chuẩn bị hoặc thực hiện các

kế hoạch khôi phục mức vốn tối thiểu; và yêu cầu ngân hàng ngay lập tức tăng thêm vốn Các cơ quan giám sát sẽ tùy ý quyết định công cụ phù hợp nhất cho từng trường hợp và môi trường hoạt động của ngân hàng

Theo quy định của quy trình kiểm tra giám sát, các nhà lập pháp phải bảo đảm:

- Rủi ro lãi suất được quản lý một cách đúng đắn thông qua việc ban các nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro lãi suất để hướng dẫn quản lý rủi ro lãi suất

- Liên quan đến rủi ro tín dụng, định nghĩa về mất khả năng thanh toán, kiểm tra sức kháng cự đối với IRB theo quy định của trụ cột 1, rủi ro tập trung

Trang 26

quá mức, rủi ro còn lại (các rủi ro gián tiếp có liên quan đến các kỹ thuật giảm thiểu rủi ro) được áp dụng và quản lý đúng

- Rủi ro hoạt động được quản lý đúng thông qua việc ban hành các thông lệ hợp lý trong quản lý rủi ro hoạt động

- Các cải tiến trong thị trường chứng khoán hóa được bảo đảm đúng bằng các quy định về nguồn vốn

- Các rủi ro của các tài sản được chứng khoán hóa của ngân hàng được chuyển đổi hiệu quả cho bên thứ ba và không có hỗ trợ giám tiếp nào từ phía ngân hàng ban đầu

1.2.5 Trụ cột 3: Kỷ luật trị trường

Nếu trụ cột 1 tập trung vào hệ thống kiểm soát rủi ro của ngân hàng, trụ cột 2 mô

tả cách thức các cơ quan giám sát được yêu cầu để kiểm soát rủi ro của các ngân hàng, thì trụ cột 3 yêu cầu các thành phần tham gia thị trường chủ động giám sát các ngân hàng mà họ có lợi ích Nói một cách khái quát, trụ cột 3 là hệ thống các yêu cầu liên quan đến việc công khai số liệu nhằm tạo điều kiện cho các thành phần tham gia thị trường tiếp cận với các thông tin cụ thể về phạm vi áp dụng, nguồn vốn, quy trình đánh giá rủi ro cũng như mức an toàn vốn của tổ chức Các nhà đầu tư vì vậy sẽ có thể phản ứng hiệu quả hơn khi sức khỏe tài chính của ngân hàng suy giảm, việc này buộc ban quản trị của các ngân hàng phản ứng để cải thiện tình hình

Các công khai được quy định trong trụ cột 3 phải được thực hiện hai lần một năm, ngoại trừ:

- Các công bố định tính cung cấp một tóm tắt chung về các mục tiêu quản lý

và chính sách rủi ro của ngân hàng, hệ thống báo cáo và các định nghĩa có thể công khai một năm một lần

- Khi ghi nhận mức độ nhạy cảm rủi ro tăng thêm và khuynh hướng chung đối với việc báo cáo thường xuyên hơn trong thị trường vốn, các ngân hàng

đa quốc gia lớn và các ngân hàng quan trọng khác (cũng như các chinh nhánh ngân hàng quan trọng của nó) phải công bố tỷ lệ vốn cấp 1 và tỷ lệ

an toàn vốn tổng thể cũng như các thành phần của nó theo từng quý

Trang 27

1.2.6 Đánh giá về Basel II

Trụ cột 1 – Yêu cầu vốn tối thiểu

- Các quy định về tỷ lệ an toàn vốn quá phức tạp Basel II được đánh giá là

phức tạp đến mức làm mụ mị đầu óc (mind-numbing) như nhận xét của Giám đốc văn phòng kiểm soát tiền tệ của Bộ Ngân khố Hoa kỳ5 Nhận xét này hoàn toàn không cường điệu và có thể thấy từ những phương pháp,

công thức và quy định tính mức yêu cầu vốn trong các phần trước Sự phức

tạp này vừa cản trở việc tuân thủ của các ngân hàng, vừa gây khó khăn cho

công tác kiểm tra giám sát của các cơ quan giám sát

- Sự phụ thuộc vào các ECAI Phương pháp chuẩn hóa cho phép các ngân

hàng sử dụng các xếp hạng độc lập để xác định trọng số rủi ro của khoản vay Đây chắc chắn là một cải tiến vượt bậc của Basel II so với Basel I vì

nó cho phép phân loại và phản ánh chính xác hơn mức độ rủi ro của các khoản vay Tuy nhiên, ECAI thực sự chỉ phổ biến ở các nước có hệ thống tài chính rất phát triển như Anh, Hoa Kỳ Vì vậy, việc này có thể dẫn đến tình trạng nhiều quốc gia không thể sử dụng phương pháp chuẩn hóa, thay vào đó phải sử dụng các phương pháp phức tạp hơn như phương pháp IRB

cơ bản (thông qua các mô hình nội bộ, sử dụng xác suất vỡ nợ để tính rủi ro tín dụng) hoặc các phương pháp đơn giản hơn như sử dụng chính trọng số

do Ủy ban quy định (tương tự như các tính của Basel I)

- Cách xác định và ước tính rủi ro hoạt động không rõ ràng Theo phương

pháp chỉ số cơ bản, các ngân hàng sẽ tính mức vốn yêu cầu cho các rủi ro hoạt động dựa trên tổng thu nhập của ngân hàng, nói cách khác ngân hàng càng lớn, rủi ro hoạt động càng lớn Rõ ràng phương pháp này vừa không thuyết phục, vừa không khuyến khích các ngân hàng tăng cường hệ thống quản lý rủi ro hoạt động do bất kể ngân hàng có quản lý rủi ro hoạt động tốt thế nào, mức vốn mà ngân hàng phải duy trì cho các rủi ro này cũng không

giảm

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

5 Diễn văn của John D Hawke tại Viện Hàn Lâm Mỹ tại Berlin issuances/speeches/2003/index-2003-speeches.html

Trang 28

http://www.occ.treas.gov/news Khả năng làm tăng rủi ro hệ thống Các phương pháp tính mức an toàn vốn

dựa trên đánh giá nội bộ (IRB) của Basel II được thiết kế cho dài hạn, tuy nhiên bản thân nó hàm chứa những yếu tố có thể làm nghiêm trọng thêm tính đồng chu kỳ (procycliality) của hệ thống kinh tế tài chính Các nguyên nhân chính có thể kể ra là: i.hai trong số các tham số của phương pháp IRB

là xác suất vỡ nợ (PD) và dư nợ ước tính khi vỡ nợ (LGD) thường tăng cao khi thị trường suy thoái hay rơi vào khủng hoảng; và ii.các trọng số rủi ro được xác định theo đánh giá của các công ty xếp hạng tín dụng bên ngoài, nghĩa là khi thị trường xảy ra bất ổn, xếp hạng tín dụng cũng có khuynh hướng thay đổi đồng loạt theo chiều hướng xấu đi

Trụ cột 2 – Quy trình kiểm tra, giám sát

- Thiếu các quy định cụ thể: Trụ cột 2 quy định các cơ quan giám sát phải

kiểm tra và giám sát các hoạt động quản trị rủi ro của ngân hàng Việc này bao gồm i.đánh giá tính hợp lý của các phương pháp, mô hình; ii.kiểm tra việc ghi nhận, theo dõi và xử lý các thông tin quản trị rủi ro có liên quan, từ cấp độ ban lãnh đạo đến các cấp thấp hơn, đặc biệt là quy trình ra quyết định và thực hiện các hoạt động quản trị rủi ro Đây là những công việc không hề đơn giản và cần rất nhiều nguồn lực Tuy nhiên, các quy định của Basel II được cho là khá chung chung, không có các quy định cụ thể để hướng dẫn các cơ quan giám sát hoàn thành nghĩa vụ khó khăn này của mình

- Xung đột giữa ngân hàng và cơ quan giám sát: Như đã trình bày ở các

phần trước, Basel II cho phép các ngân hàng sử dụng chính các mô hình nội bộ của mình để tính tỷ lệ an toàn vốn Các mô hình này tất nhiên sẽ phản ánh chiến lược kinh doanh của các ngân hàng (bao gồm cả chiến lược quản trị rủi ro) Tuy nhiên, tính đúng đắn của một chiến lược thường phụ thuộc vào quan điểm, không thể đánh giá dựa trên các tiêu chí kỹ thuật cứng nhắc Trong khi đó, Ủy ban Basel trao cho các cơ quan giám sát những quyền hạn đáng kể như chấp nhận hoặc bác bỏ các mô hình hay chiến lược mà ngân hàng đang sử dụng mà không đưa ra các tiêu chí cụ thể Việc này có thể dẫn đến hai thái cực đáng lo ngại Ở một thái cực, các

cơ quan giám sát sẽ trở nên chuyên chế hay bảo thủ, tạo ra các gánh nặng không cần thiết đối với các ngân hàng Ở thái cực còn lại, các cơ quan giám

Trang 29

sát dễ dãi hay thiếu năng lực có khả năng sẽ chấp thuận tất cả các mô hình/ chiến lược của ngân hàng, nhất là những ngân hàng lớn, sử dụng các mô hình phức tạp

- Mục tiêu tạo một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng bị ảnh hưởng

Quay trở lại với quyền hạn đáng kể của các cơ quan giám sát trong việc tùy

ý điều chỉnh và áp dụng các quy định của Basel II Sự linh động này, đặt trong điều kiện khác biệt về quan điểm và hệ thống pháp luật sâu sắc giữa các quốc gia, cũng sẽ tạo ra hai thái cực: giảm càng thấp càng tốt mức yêu cầu vốn để tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thuộc quyền hạn của mình hay tuân thủ đúng mức vốn mà Basel II yêu cầu Chẳng hạn, Anh được xem là quốc gia có các quy định rất linh động so với các quốc gia khác, trong khi đối với Hoa Kỳ, việc hạ thấp mức an toàn vốn phải được quốc hội thông qua Do đó, mục tiêu tạo ra một sân chơi bình đẳng có nguy

cơ bị tổn hại với những quy định mới của Basel II

- Yêu cầu cao về năng lực và nguồn lực đối với các cơ quan giám sát: Sự

phát triển ngày càng nhanh và phức tạp của thị trường tài chính đòi hỏi các

cơ quan giám sát phải liên tục cập nhật kiến thức, kỹ năng (như trong việc

dự báo giá và biến động của các tài sản) đồng thời phải thực hiện các công tác kiểm tra giát theo quan điểm dự tính trong tương lai (forward-looking) Đây là yêu cầu rất khó, chưa kể đến khối lượng công việc phải thực hiện theo Basel II vượt ngoài nguồn lực (nhân sự, tài chính) của phần lớn các cơ quan giám sát

Trụ cột 3 – Kỷ luật thị trường

- Giả định thị trường hiệu quả của trụ cột 3 không thực tế Trụ cột 3 cho

rằng việc công khai các thông tin cần thiết và kỷ luật thị trường sẽ trừng phạt các ngân hàng có hoạt động quản lý rủi ro yếu kém, nói cách khác là thị trường sẽ vận hành hiệu quả Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 xuất phát từ những khoản vay dưới chuẩn cho thấy đã có những bất cân xứng về thông tin cũng như giá tài sản đã phản ánh thiếu chính xác dòng tiền trong tương lai

Trang 30

1.2.7 Việc thực hiện Basel tại các quốc gia đang phát triển

Basel II đã có những cải tiến đáng kể trong việc tăng mức độ nhạy cảm của các tài sản có rủi ro khi tính mức vốn yêu cầu Trọng số rủi ro cũng được thiết kế để khuyến khích các ngân hàng chuyển sang các phương pháp quản lý rủi ro tiên tiến, thể hiện qua mức vốn yêu cầu thấp hơn so với các phương pháp truyền thống Basel II cũng cho phép các cơ quan giám sát linh động khi áp dụng các quy định của hiệp ước tại nước mình Mặc dù chỉ bắt buộc đối với các ngân hàng đa quốc gia được thành lập tại các quốc gia G10 và/ hoặc các quốc gia thành viên của EU, Basel II thực tế đã trở thành chuẩn mực toàn cầu Theo khảo sát của Viện Ổn định Tài chính (Financial Stability Institute), hơn 88 quốc gia không thuộc thành viên của Ủy ban Basel đã bày tỏ ý định áp dụng Basel II chỉ sau một vài năm hiệp ước này được ban hành (Basel, 2004) Thực tế, các quốc gia này đang đối mặt với áp lực phải thực hiện Basel II Hai nguyên ngân chính là: i.sự hiện diện rộng rãi của các ngân hàng đa quốc gia thuộc các nước đã áp dụng Basel II; và ii.lợi thế của các quốc gia này khi được công nhận đã tuân thủ luật chơi quốc tế - trong trường hợp này là Basel II

Đã có rất nhiều nghiên cứu của cả Ủy ban Basel lẫn các tổ chức khác về tác động của việc áp dụng Basel II tại các quốc gia và vùng lãnh thổ Hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào các gia G10 Dưới đây là một số tác động của việc thực hiện các quy định của Basel II tại các quốc gia đang phát triển

Thách thức lớn nhất liên quan đến việc thực hiện Basel tại các nước đang phát triển chính là phạm vi áp dụng và các điều kiện tiên quyết Cụ thể, việc áp dụng Basel II đòi hỏi phải nâng cao cơ sở hạ tầng tài chính (thay vì chỉ là các hoạt động giám sát ngân hàng) và sự tham gia tích cực của một bộ phận các ngân hàng và các định chế quan trọng Đơn cử một số yêu cầu của trụ cột 2 như các hoạt động điều chỉnh kịp thời, yêu cầu gia tăng mức mốn, kiểm tra báo cáo tài chính hiệp nhất và trụ cột 3 vượt quá quyền hạn của nhiều cơ quan giám sát Để đáp ứng được các yêu cầu này đòi hỏi các quốc gia phải thay đổi hệ thống pháp lý của mình Ngoài ra, sự xuất hiện ngày càng nhiều của các công ty xếp hạng tín dụng đòi hỏi cao về cơ chế giám sát báo cáo và giám sát doanh nghiệp, các nguyên tắc kiểm toán bên ngoài và hệ thống thông tin về các bên đi vay Việc tính LGD đã cho thấy sự cần thiết của việc đăng ký, quản lý và thanh lý tài sản đảm bảo

Trang 31

Những yêu cầu này nằm ngoài trách nhiệm giám sát và quyền hạn thực hiện của các cơ quan giám sát

Basel II, đặc biệt là phương pháp IRB, ở một góc độ nào đó buộc các ngân hàng tại các nước đang phát triển phải thay đổi trong cách quản lý, cụ thể là những thay đổi về các khái niệm và các công cụ đo lường rủi ro tín dụng đã được các ngân hàng tại các nước đã phát triển áp dụng từ rất lâu như các khái niệm về vốn kinh

tế, lợi nhuận có điều chỉnh rủi ro – RAROC cho phép ban lãnh đạo sử dụng các

mô hình định lượng để đánh giá hoạt động của các ngân hàng và so sánh các lĩnh vực kinh doanh tốt hơn so với phương pháp truyền thống như ROE – phương pháp được cho là không phản ánh đầy đủ các loại rủi ro Ở cấp độ doanh nghiệp, những công cụ này giúp đơn giản hóa quy trình phân tích tín dụng, giảm thiểu tính chủ quan trong quy trình phê duyệt các khoản vay và đưa ra hướng dẫn về định giá có tính đến rủi ro Các ngân hàng tại các quốc gia đang phát triển hiện đang sử dụng các mô hình định lượng truyền thống được dự đoán sẽ cần nhiều thời gian để chuyển sang các mô hình định lượng mới có tích hợp các khái niệm rủi ro tín dụng mới do các mô hình này khá phức tạp

Chi phí thực hiện: mặc dù có sự khác biệt về kết quả đánh giá hiệu quả - chi phí tại các nước đang phát triển, các yêu cầu về mặt hoạt động, nhất là đối với phương pháp IRB được dự đoán sẽ rất cao và có chi phí lớn, nhiều khả năng một số quốc gia không thể đáp ứng Các cơ quan giám sát sẽ phải cân nhắc giữa việc duy trì sân chơi bình đẳng cho tất cả các ngân hàng, áp dụng các tiêu chuẩn về vốn ít tiên tiến hơn, hay chỉ cho phép một số ngân hàng áp dụng phương pháp IRB Chẳng hạn các cơ quan giám sát Hoa Kỳ đã công bố không áp dụng phương pháp chuẩn hóa và phương pháp IRB cơ bản và chỉ các ngân hàng lớn với các hoạt động phức tạp áp dụng phương pháp IRB tiên tiến

Sự thiếu năng lực của các cơ quan giám sát: Trách nhiệm nặng nề và vai trò đưa

ra các quyết định như được quy định trong trụ cột 1 (như đánh giá các mô hình và trụ cột 2 (xử lý các rủi ro khác) sẽ yêu cầu nhiều nguồn lực hơn và đòi hỏi phải nâng cao năng lực cũng như hệ thống công nghệ thông tin Ngoài ra, các cơ quan giám sát phải có khả năng thực hiện các phân tích mức độ ảnh hưởng trước khi ban hành các quy định Ngay cả khi nhân viên của các cơ quan giám sát đã nâng cao trình độ, rất nhiều khả năng tình trạng chảy máu chất xám sẽ xảy ra do các ngân hàng nội địa sẵn sàng trả lương cao hơn để thu hút những nhân viên này

Trang 32

Đây có thể coi là tác động không mong muốn vì các cơ quan giám sát tại các nước đang phát triển thường là bộ phận thúc đẩy đổi mới, thay vì phản ứng trước những đổi mới của thị trường

Tác động đối với hệ thống ngân hàng vẫn đưa được hiểu biết đầy đủ: Việc Ủy ban Basel đưa ra nhiều lựa chọn khác nhau thực tế đã không còn tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng tại cùng một quốc gia/ vùng lãnh thổ Trước tiên, sẽ

có một sự phân phối lại mức vốn yêu cầu trong cùng một ngân hàng và giữa các ngân hàng với nhau, tùy thuộc vào khác hàng, sản phẩm, danh mục đầu tư Thứ hai, chi phí xây dựng và sử dụng các hệ thống đánh giá nội bộ thường rất đắt đỏ

và chỉ có các ngân hàng lớn mới có khả năng chi trả Mức an toàn vốn tính theo phương pháp đánh giá nội bộ đã được chứng minh là thấp hơn so với mức an toàn vốn tính theo phương pháp chuẩn hóa Kết quả là các ngân hàng nhỏ, nội địa vốn

đã thiếu khả năng cạnh tranh càng trở nên thiếu cạnh tranh hơn, đồng thời dễ mắc các rủi ro đạo đức hơn (chấp nhận rủi ro cao hơn) Thứ ba, khi các ngân hàng nước ngoài có quy mô nhỏ đang không vận hành theo khung vốn kinh tế có thể sẽ cắt giảm hoạt động hoặc chuyển hướng kinh doanh hay thiết lập trụ sở tại một số quốc gia đang phát triển để phản ứng lại trước những thay đổi về yêu cầu vốn, cũng như tận dụng hệ thống giám sát lỏng lẻo tại các quốc gia này

Sự phối hợp giám sát: Do sự hiện diện đáng kể của các ngân hàng thuộc G10 tại các quốc gia đang phát triển và quyền lựa chọn của các cơ quan giám sát quốc gia, việc phối hợp giữa các ngân hàng là cần thiết để bảo đảm sự nhất quán giữa các quốc gia/ vùng lãnh thổ Sự phối hợp này phải giải quyết được sự bất cân xứng về

vị thế, chẳng hạn các chi nhánh hoặc công ty con tại nước sở tại thường nhỏ so với tổng quy mô của ngân hàng đa quốc gia nhưng lại lớn hơn tương đối so với các ngân hàng nội địa của các nước đang phát triển

Trụ cột 3 thiếu hiệu quả: Bên cạnh những vấn đề rộng hơn về công khai thông tin cho các thành phần tham gia thị trường, trụ cột này không thực sự thiết thực tại các quốc gia mà thị trường tư nhân chiếm tỷ trọng khiêm tốn hoặc bên cho vay không thực sự cần thiết trong việc giám sát các ngân hàng (do có sự bảo lãnh ngầm của nhà nước, chẳng hạn như lưới an toàn) Ngoài ra, trụ cột này có thể không thể áp dụng được tại các quốc gia mà các ngân hàng nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn do các ngân hàng nước ngoài nhiều khả năng sẽ thâm nhập thị trường bằng cách mua lại các ngân hàng trong nước, sau đó ngừng niêm yết trên thị

Trang 33

trường chứng khoán Điều này có nghĩa là các ngân hàng này không cần phải công khai thông tin về các hoạt động của mình tại những quốc gia như trên (trừ khi được các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu)

Như đã trình bày ở các phần trên, Basel II là kết quả của một quá trình tham vấn kéo dài nhiều năm và là phiên bản cuối cùng của ba tài liệu tham vấn được đánh

số từ 1 đến 3 Tài liệu tham vấn thứ nhất ban hành vào tháng 1/2001 có tên Tổng quan về Hiệp ước vốn Basel mới (Overview of the New Basel Capital Accord)

cung cấp những nội dung chính và sơ bộ của Basel II Trong tài liệu này, Ủy ban Basel đã quy định thời gian thực hiện bắt đầu từ năm 2004 với đối tượng áp dụng

là tất cả các ngân hàng đa quốc gia của các nước G10, ở mọi cấp độ trong tập đoàn ngân hàng Ủy ban cũng đưa ra thời gian chuyển đổi 3 năm từ thời điểm áp dụng (2004) đối với các quốc gia không bắt buộc phải thực hiện hiệp ước này Đối với phương pháp IRB, nhận thức được những khó khăn mà các ngân hàng sẽ gặp phải trong việc tuân thủ các yêu cầu về dữ liệu, Ủy ban đã đề xuất thời gian chuyển đổi 3 năm Trong thời gian này, các ngân hàng không cần phải tuân thủ hoàn toàn các yêu cầu tối thiểu về dữ liệu đối với các khoản cho vay doanh nghiệp, ngân hàng và chính phủ khi tính mức yêu cầu vốn theo phương pháp IRB

cơ bản Tuy nhiên, các ngân hàng phải chứng minh với các cơ quan giám sát quốc gia tính hợp lý của phương pháp IRB cơ bản mà ngân hàng đang áp dụng cũng như tiến độ tuân thủ hoàn toàn các yêu cầu của hiệp ước nhằm đảm bảo lộ trình như quy định của Ủy ban Basel

Trang 34

Cũng trong tháng 1/2001, tài liệu tham vấn thứ hai cũng được ban hành và sau đó được thay thế vởi tài liệu tham vấn thứ ba tháng 4/2003 Tuy nhiên, trước phản hồi của các quốc gia và các ngân hàng về thời gian áp dụng quá gấp gáp, Ủy ban Basel đã dời thời gian thực hiện từ năm 2004 đến cuối năm 2006 Đối tượng áp dụng của Hiệp ước là các ngân hàng đa quốc gia và các ngân hàng quan trọng mà các cơ quan giám sát quốc gia nhận thấy cần phải áp dụng Tại các quốc gia G10, Basel II sẽ được thực hiện trên toàn hệ thống ngân hàng Các ngân hàng thuộc các quốc gia G10 sẽ phải tuân thủ các quy định về an toàn vốn theo quy định của các

cơ quan giám sát quốc gia Đối với các quốc gia không thuộc G10 – những quốc gia được phép lựa chọn áp dụng hay không Basel II, Ủy Ban Basel cho phép các quốc gia này được linh hoạt áp dụng Basel II theo lộ trình riêng của mình Các quốc gia này cũng được phép áp dụng những quy định chính về quy trình kiểm tra giám sát (trụ cột 2) và kỷ luật thị trường (trụ cột 3) mà không cần phải tuân thủ các quy định về mức an toàn vốn tối thiểu sau năm 2006

Sự thống nhất quốc tế về đo lường và các tiêu chuẩn vốn – kết quả của ba tài liệu

tham vấn – ban hành vào tháng 6/2004 cũng có các quy định linh hoạt hơn, đồng thời một lần nữa nới lỏng thời hạn áp dụng Basel II nhằm đáp ứng yêu cầu của một số quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề vĩ mô trước khi áp dụng cũng như thực hiện các nghiên cứu ảnh hưởng định lượng (Quatitative impact studies – QIS) Ủy ban Basel đã thực hiện 5 nghiên cứu ảnh hưởng định lượng đối với Basel II Nghiên cứu cứu ảnh hưởng định lượng cuối cùng – QIS 5 đã được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 12/2005 (Basel, 2004) Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá những thay đổi về mức yêu cầu vốn tối thiểu khi các quốc gia tiến đến đáp ứng hoàn toàn Basel II Nghiên cứu được thực hiện trên bộ dữ liệu thu thập từ 32 quốc gia (tất cả các quốc gia G10 và 19 quốc gia không thuộc G10), bao gồm 56 ngân hàng nhóm 1 và 146 ngân hàng nhóm 2 thuộc G10 và 155 ngân hàng thuộc các quốc gia khác Các ngân hàng thuộc nhóm

1 là các ngân hàng có vốn cấp 1 trên 3 tỉ Euro, có các hoạt động kinh doanh đa dạng và là ngân hàng đa quốc gia

1.3 Hiệp ước Basel III

1.3.1 Quá trình hình thành

Trang 35

Hiệp ước Basel II ra đời năm 2005 với mục tiêu giải quyết những rủi ro mới xuất hiện trong ngành ngân hàng Tuy nhiên, Hiệp ước này đã cho thấy những yếu kém trong việc phản ánh và xử lý các hoạt động rủi ro quá mức mà các ngân hàng tham gia mà hậu quả của nó là sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng vào năm 2008 Xuất phát từ những kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Ủy ban Basel nhận thấy sự cần thiết phải ban hành một hiệp ước mới Nhằm ngăn chặn khủng hoảng tái diễn, BIS đã nghiên cứu và kết luận các nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng như sau: i.đòn bẩy quá mức của các khoản mục nội – ngoại bảng; ii.sự suy giảm mức độ và chất lượng vốn; và iii.sự mất thanh khoản của các ngân hàng Basel III được ban hành với mong muốn khắc phục những yếu kém của Basel II, thông qua việc củng cố các nguyên tắc về vốn và tính thanh khoản trên toàn cầu với mục tiêu tăng sức chống chọi cho hệ thống ngân hàng Mỗi thay đổi trong Basel III phải trải qua một quá trình tham vấn, phản biện và thời gian áp dụng riêng Vì vậy, so với Basel II, Basel III được xem

là linh động, phức tạp hơn

Basel III là một hệ thống các biện pháp cải tiến toàn diện do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng xây dựng với mục đích củng cố các quy định, các hoạt động giám sát và quản lý rủi ro đối với hệ thống ngân hàng Hai tài liệu quan trọng nhất

của Basel III là Basel III: Khung quy định toàn cầu hướng đến các ngân hàng và

hệ thống ngân hàng vững mạnh hơn (Basel III: A global regulatory framework for more resilient banks and banking system – ban hành vào tháng 06/2011) và Basel III: Khung quy định quốc tế về đo lường, chuẩn mực và giám sát rủi ro thanh khoản (Basel III: International framework for liquidity risk measurement, standards, and monitoring ban hành vào tháng 01/2013) Mục tiêu của các cải tiến

này là: i.cải thiện khả năng chống chọi của hệ thống ngân hàng trước những cú sốc từ các cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính; ii.cải thiện các hoạt động giám sát

và quản trị rủi ro; và iii.tăng cường tính minh bạch và công bố thông tin của các ngân hàng Trong khi đó, các cải tiến hướng tới hai cấp độ:

- Cấp độ ngân hàng hoặc vi mô: các qui định nhằm tăng khả năng chống chọi của từng ngân ngày trong giai đoạn khủng hoảng

- Cấp độ vĩ mô: các rủi ro trên toàn hệ thống ngân hàng cũng như cộng

hưởng từ các chu kỳ kinh tế

Trang 36

Hai cấp độ giám sát này bổ trợ lẫn nhau vì khi các ngân hàng có sức kháng cự tốt hơn, hệ thống ngân hàng cũng sẽ chống chọi tốt hơn trước các cú sốc kinh tế, tài chính Để đạt được những mục tiêu này, Basel III đã được chia thành ba phần chính: i.cải tiến về vốn (bao gồm số lượng và chất lượng vốn, mức độ bảo hiểm rủi ro, tỷ lệ đòn bẩy và đưa ra hai loại vốn đệm: vốn đệm bảo toàn vốn và vốn đệm nghịch chu kỳ); ii cải tiến về tính thanh khoản (các tỷ lệ ngắn và dài hạn); và iii.các thành phần khác có liên quan đến việc cải thiện mức độ ổn định của hệ

thống tài chính

Hình 1.5: Các thành phần của Basel III

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

1.3.2 Nội dung của Basel III

1.3.2.1.Khác biệt cốt lõi của Basel III so với Basel II

Trang 37

Bảng 1.8: Các cải tiến của Basel III so với Basel II

A Đối với tất cả các ngân hàng

Mức vốn tối thiểu được

tăng lên 4.5% tài sản có

rủi ro sau khi khấu trừ

Tỷ lệ đòn bẩy

Tỷ lệ đòn bẩy không dựa trên rủi ro bao gồm rủi ro của các khoản mục ngoại bảng nhằm củng cố cho các yêu cầu vốn dựa trên rủi ro

Tỉ lệ này cũng nhằm kìm hãm việc sử dụng đòn bẩy quá mức trên toàn hệ thống

Bổ sung các yêu cầu đối với trụ cột 2

Giải quyết các vấn đề

về quản lý và giám sát rủi ro ở cấp độ toàn công ty; phản ánh được rủi ro của các khoản mục ngoại bảng và các hoạt động chứng khoán hoá; quản lý tập trung rủi ro; đưa ra các

Kỷ luật thị trường Sửa đổi các yêu cầu về công bố thông tin

Các yêu cầu này được đề xuất nhằm kết nối các rủi ro chứng khoán hoá và tài trợ các công cụ ngoại bảng Mở rộng công bố thông tin về các chi tiết

Trang 38

khoản cho phép – theo

quyết định của các cơ

quan có thẩm quyền –

xóa nợ hay chuyển thành

cổ phiếu thường nếu

ngân hàng được xác định

là không còn khả năng

hoạt động Nguyên tác

này tăng sự đóng góp

của khu vực tư nhân vào

việc giải quyết các cuộc

khủng hoảng ngân hàng

trong tương lai và vì vậy

giảm thiểu rủi ro đạo

đức

Vốn đệm bảo toàn vốn

Bao gồm vốn chủ sở hữu

thường tương đương với

2.5% tài sản có rủi ro,

nhằm giảm thiểu tính đồng chu kỳ Yêu cầu mức vốn đối với các rủi

ro tăng thêm – là rủi ro ước tính khả năng vỡ nợ

và rủi ro xuống hạng của các sản phẩm tín dụng phi chứng khoán hóa và bao gồm cả khả năng thanh khoản

Rủi ro tín dụng của đối tác

động cơ nhằm khuyến khích các ngân hàng quản lý rủi

ro và lợi nhuận trong dài hạn; các hoạt động lương thưởng lành mạnh; các hoạt động định giá; kiểm tra sức kháng cự; các tiêu chuẩn kế toán đối với các công cụ tài chính; quản trị doanh nghiệp và các cơ quan giám sát

của các thành phần vốn theo quy định; yêu cầu đối chiếu các tài khoản báo cáo, bao gồm giải thích đầy đủ về cách ngân hàng tính

tỷ lệ vốn theo quy định

Trang 39

rủi ro, áp dụng khi các

cơ quan giám sát nhận

thấy tăng trưởng tín

dụng đang tạo ra rủi ro

hệ thống

Tăng cường đáng kể khung quy định về rủi ro tín dụng của bên đối tác, bao gồm yêu cầu chặt chẽ hơn trong việc tính toán rủi ro; đưa ra các động cơ để các ngân hàng sử dụng bên đối tác là các trung tâm thanh toán bù trừ; yêu cầu vốn cao hơn đối với rủi ro liên ngành tài chính

Rủi ro của ngân hàng đối với các trung tâm thanh toán bù trừ (CCP)

Ủy ban đã đề xuất trọng

số rủi ro 2% đối với các rủi ro giao dịch từ các trung tâm thanh toán bù

Trang 40

trừ đủ tiêu chuẩn Rủi ro

vỡ nợ của các trung tâm thanh toán bù trừ đủ tiêu chuẩn sẽ được tính theo các phương pháp dựa trên rủi ro có thể ước tính nhất quán và đơn giản rủi ro phái sinh từ việc vỡ nợ đó

- Thanh khoản: Tiêu chuẩn thanh khoản toàn cầu và thanh tra giám sát

Tỉ lệ bảo hiểm thanh khoản

Tỉ lệ bảo hiểm thanh khoản (LCR) yêu cầu các ngân hàng phải có đủ các tài sản có tính thanh khoản cao để bù đắp tổn thất trong thời gian 30 ngày theo quy định của các cơ quan giám sát

Ngày đăng: 23/01/2021, 10:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Federal Reserve Bulletin (2003), Capital standards for banks: the evolving Basel Accord, , issue Sep, pages 395-405 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Capital standards for banks: the evolving Basel Accord
Tác giả: Federal Reserve Bulletin
Năm: 2003
2. Balta (2009), Basel II Operational Risk Modeling Implementation & Challenges, National Institute of Statistical Sciences, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basel II Operational Risk Modeling Implementation & "Challenges
Tác giả: Balta
Năm: 2009
4. Basel Committee on Banking Supervision (1988), International Convergence Of Capital Measurement And Capital Standards (July 1988, updated to April 1998), Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Convergence Of Capital Measurement And Capital Standards
Tác giả: Basel Committee on Banking Supervision
Năm: 1988
5. Basel Committee on Banking Supervision (1991), Amendment of the Basel capital accord in respect of the inclusion of general provisions/general loan- loss reserves in capital, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amendment of the Basel capital accord in respect of the inclusion of general provisions/general loan-loss reserves in capital
Tác giả: Basel Committee on Banking Supervision
Năm: 1991
6. Basel Committee on Banking Supervision (1994a), Basel Capital Accord: the treatment of the credit risk associated with certain off-balance-sheet items, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basel Capital Accord: the treatment of the credit risk associated with certain off-balance-sheet items
7. Basel Committee on Banking Supervision (1994b), Basel Capital Accord: treatment of potential exposure for off-balance-sheet items, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basel Capital Accord: "treatment of potential exposure for off-balance-sheet items
8. Basel Committee on Banking Supervision (2004), Implementation of the new capital adequacy framework in non-Basel Committee member countries, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implementation of the new capital adequacy framework in non-Basel Committee member countries
Tác giả: Basel Committee on Banking Supervision
Năm: 2004
9. Basel Committeeon Banking Supervision (2005), International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards
Tác giả: Basel Committeeon Banking Supervision
Năm: 2005
10. Basel Committeeon Banking Supervision (2006a), International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards
11. Basel Committee on Banking Supervision (2006b), International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards - A Revised Framework, Comprehensive Version, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards - A Revised Framework, Comprehensive Version
12. Basel Committeeon Banking Supervision (2009a), Enhancements to the Basel II framework, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enhancements to the Basel II framework
13. Basel Committeeon Banking Supervision (2009b), Revisions to the Basel II market risk framework, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Revisions to the Basel II market risk framework
14. Basel Committee on Banking Supervision (2010), Basel III: A global regulatory framework for more resilient banks and banking system (December 2010, Rev June 2011), Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basel III: A global regulatory framework for more resilient banks and banking system (December 2010, Rev June 2011)
Tác giả: Basel Committee on Banking Supervision
Năm: 2010
15. Basel Committeeon Banking Supervision (2012), Basel III regulatory consistency assessment (Level 2) Preliminary report: United States of America, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basel III regulatory consistency assessment (Level 2) Preliminary report: United States of America
Tác giả: Basel Committeeon Banking Supervision
Năm: 2012
16. Basel Committeeon Banking Supervision (2013a), Regulatory Consistency Assessment Programme (RCAP) Assessment of Basel III regulations in Brazil, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Regulatory Consistency Assessment Programme (RCAP) Assessment of Basel III regulations in Brazil
17. Basel Committeeon Banking Supervision (2013b), Regulatory Consistency Assessment Programme (RCAP) Assessment of Basel III regulations - China, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Regulatory Consistency Assessment Programme (RCAP) Assessment of Basel III regulations - China
18. Basel Committeeon Banking Supervision (2013c), Regulatory Consistency Assessment Programme (RCAP) Assessment of Basel III regulations - Singapore, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Regulatory Consistency Assessment Programme (RCAP) Assessment of Basel III regulations - Singapore
19. Basel Committee on Banking Supervision (2014a), Basel III: the net stable funding ratio, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basel III: the net stable funding ratio
20. Basel Committeeon Banking Supervision (2014b), Basel capital framework national discretions, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basel capital framework national discretions
21. Basel Committeeon Banking Supervision (2014c), Impact and implementation challenges of the Basel framework for emerging market, developing and small economies, Bank for International Settlements Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact and implementation challenges of the Basel framework for emerging market, developing and small economies

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm