Ở chương thứ nhất, chúng tôi tập trung vào dòng chảy cuộc đời như một đối tượng và phương pháp nghiên cứu, đặc biệt trong các chuyên ngành nhân học, xã hội học, tâm lý và sử học.. Nếu tr
Trang 1BÁO CÁO THANH LÝ ĐỀ TÀI KH&CN
(Do CQ quản lý ghi)
Tham gia thực hiện
TT Học hàm, học vị,
Họ và tên
Chịu trách nhiệm
1 TS Phạm Văn Quang Chủ nhiệm 01698416667 quangpv@hcmussh.edu.vn
Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh
h
Trang 2BÁO CÁO THANH LÝ
Trang 3TÓM TẮT
Báo cáo tổng kết nghiên cứu dưới đây bao gồm hai phần chính chia thành bốn chương
Phần thứ nhất là sự tổng hợp phân tích các khía cạnh lý thuyết của dòng chảy cuộc
đời Đây cũng là công việc nằm trong giai đoạn thứ nhất của đề tài nghiên cứu, cần phải được hoàn thiện với giai đoạn thứ hai dành cho nghiên cứu cứ liệu văn học Việt Nam Pháp ngữ Ở chương thứ nhất, chúng tôi tập trung vào dòng chảy cuộc đời như một đối tượng và phương pháp nghiên cứu, đặc biệt trong các chuyên ngành nhân học, xã hội học, tâm lý và sử học Qua đó, chúng tôi chứng minh dòng chảy cuộc đời như một khái niệm trung tâm của nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn Khoa học luận của dòng chảy cuộc đời liên quan đến các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn còn được khai triển qua lăng kính của xã hội học thi pháp trong chương thứ hai Đặt trọng tâm vào tiến trình hình thành thể loại dòng chảy cuộc đời, chương này trình bày những biến thể lịch sử và xã hội của các phạm trù liên quan đến dòng chảy cuộc đời, cả trên bình diện xã hội học và văn học Cách thức đặt vấn đề chung của chúng tôi xuyên suốt từ các quan niệm truyền thống với Thánh Augustin, Jean-Jacques Rousseau, Philippe Lejeune, qua suy tưởng triết học và đạo đức học hiện đại của Georges Gusdorf, đến những diễn giải hậu hiện đại của Robbe-Grillet Tất cả những nghiên cứu tổng hợp trình bày trong hai chương này cho phép chúng tôi định hình một khoa học luận về dòng
chảy cuộc đời Phần thứ hai dành cho việc phiên giải các hình thái của dòng chảy cuộc
đời trong kho tàng văn học Việt Nam Pháp ngữ Chúng tôi đã xem xét một cách hệ thống các hình thức diễn đạt chủ thể trong các tác phẩm khác nhau của văn học này, nhằm chứng minh vị thế của chủ thể trong xã hội đương đại, một không gian chuyển di
và biến động Diễn ngôn văn học của các tác giả Việt Nam pháp ngữ tham gia vào khuynh hướng chọn lựa lối viết về cái tôi, về cuộc đời như một chọn lựa của thời đại Nhưng quan trọng hơn, chúng tôi đã chứng minh nguyên nhân và hệ quả của chọn lựa
đó từ thực tế cá nhân các tác giả đã trải nghiệm Vì thế các hiện tượng quen thuộc gắn với lối viết này là chủ thể trong tiến trình khẳng định mình, chủ thể trong giai đoạn tái thiết căn cước Thêm vào đó là các vấn đề chủ thể trong bối cảnh lưu đày và đi tìm lời chứng cho sự phán quyết lịch sử cá nhân và lịch sử xã hội Trong mọi trường hợp, chủ thể cá nhân phải đi vào một cuộc tôi luyện hết sức khắc nghiệt, một cuộc tôi luyện ngôi
vị và ngôn từ để làm nảy sinh một lối viết mới
Trang 4RÉSUMÉ
Quatre chapitres qui composent ce rapport de recherche sont une synthèse analytique des aspects théoriques du récit de vie et des niveaux pratiques du discours littéraire par
les auteurs vietnamiens Le chapitre 1, consacré au récit de vie comme objet et méthode
de recherche, est placé sous l’égide de l’anthropologie, de la sociologie, de la psychologie et de l’histoire, ce qui amène à une observation de la dimension interdisciplinaire du récit de vie Cette épistémologie des sciences sociales et humaines
se prolonge dans le chapitre 2 par la réflexion sur la question sociopoétique du récit de
vie Encadré dans une interrogation sur le processus du genre de récit de vie, ce chapitre cherche à montrer des transformations historiques et sociales des conceptions relatives
au récit de vie, du point de vue sociologique et littéraire La problématique commune court à travers les conceptions traditionnelles avec Saint Augustin, Rousseau, Philippe Lejeune, les interprétations philosophique et éthique modernes avec Georges Gusdorf, les herméneutiques postmodernes avec Robbe-Grillet Toutes ces réflexions réparties dans les deux chapitres permettent de mettre en évidence une incontournable
épistémologie du récit de vie Le chapitre 3 met en question l’essor des récits d’auteurs
vietnamiens francophones comme un phénomène de l’écriture contemporaine, et particulièrement l’avènement du sujet individuel dans son processus d’affirmation La position du sujet individuelle dans les récits doit être examinée dans le rapport avec le langage, ce qui signifie que le langage est considéré comme élément de mise en scène
du sujet d’écriture Le dernier chapitre s’interroge sur les récits comme l’espace ó se
révèlent les sujets essentiellement exilés en quête des témoignages Aussi les récits de vie se fondent sur le discours de témoignages qui permettent d’éclairer des faits du passé individuel et collectif Dans tous les cas, le sujet doit vivre une sorte d’alchimie
des paroles pour en révéler l’image d’un je transpersonnel
Trang 5ABSTRACT
The four chapters in this research report is an analytical synthesis of the theoretical aspects of the life story It is also the first step of our project should be completed by the
second step for the research corpus of Vietnamese Francophone literature Chapter 1,
devoted to the life story as a search object and method, is under the auspices of anthropology, sociology, psychology and history, which leads to an observation of interdisciplinary dimension The epistemology of the social sciences and humanities
continues in chapter 2 by reflection on the question of sociopoetics life story Framed in
a question on the process of life story genres, this chapter seeks to show the historical and social transformations in conceptions of the life story, from a sociological and literary point of view The common questioning runs through the traditional conceptions with Saint Augustine, Rousseau and Philippe Lejeune, the modern philosophical and ethics interpretations with Georges Gusdorf, the postmodern hermeneutics with Robbe -Grillet All these reflections at the two chapters allow to construct an essential epistemology life story Chapter 3 puts into question the development of life stories of
Vietnamese Francophone authors as a phenomenon of contemporary writing, and especially the advent of the individual subject in its affirmation process The position of the individual subject in the stories must be examined in relation to the language, which
means that the language is considered staging element of the subject of writing The
final chapter examines the stories as the space where the subjects appear as exiles in search of testimonies Also the life stories are based on the testimony discourse which shed light on the facts of individual and collective past In all cases, the subject has to
live a kind of alchemy words to reveal the image of a transpersonal Ego
Trang 6MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
RÉSUMÉ 3
ABSTRACT 5
BÁO CÁO TÓM TẮT 7
MỤC LỤC 13
LỜI CẢM ƠN 15
DẪN NHẬP 17
PHẦN 1: KHÁI LƯỢC VỀ KHOA HỌC LUẬN CỦA DÒNG CHẢY CUỘC ĐỜI 23
CHƯƠNG 1: DÒNG CHẢY CUỘC ĐỜI-PHƯƠNG PHÁP LIÊN NGÀNH 25
1 Cấu trúc xã hội và vị trí cá thể 27
2 Dòng chảy cuộc đời trong nghiên cứu nhân học 31
2.1 Theo dòng lịch sử 31
2.2 Hiện thực nhân học và hiện thực văn học 36
2.3 Cuộc đời tái thiết qua những thao tác 38
2.4 Dòng chảy cuộc đời giữa nhân học và văn học 40
3 Dòng chảy cuộc đời trong nghiên cứu xã hội học 43
3.1 Lịch sử dòng chảy cuộc đời trong xã hội học 44
3.2 Những cách tiếp cận tiểu sử trong xã hội học 45
4 Dòng chảy cuộc đời theo nhãn quan sử học 50
4.1 Hai thể loại dòng chảy cuộc đời 52
4.2 Các hình thức tài liệu của dòng chảy cuộc đời 53
4.3 Tiểu sử: hình thức cổ điển của dòng chảy cuộc đời 56
5 Tâm lí học và dòng chảy cuộc đời 58
5.1 Dòng chảy cuộc đời: một cảnh huống đối thoại đặc biệt 60
5.2 Diễn ngôn như là một cơ cấu xã hội 61
5.3 Yếu tố cảm xúc trong tiến trình hình thành dòng chảy cuộc đời 61
6 Một vài nhận định : văn học và khoa học 62
CHƯƠNG 2: XÃ HỘI HỌC THI PHÁP VỀ DÒNG CHẢY CUỘC ĐỜI 65
1 Các vấn đề thể loại văn học 66
1.1 Xã hội học thể loại 69
1.2 Tác phẩm và ý thức hệ 71
1.3 Vấn đề xã hội hoá văn học 77
1.4 Vấn đề thiết chế thể loại 81
2 Dòng chảy cuộc đời trong tiến trình thể loại 82
3 Những dòng đời của Georges Gusdorf 86
Trang 73.1 Đặt lại vấn đề lịch sử thể loại tự thuật 92
3.2 Nhận định tâm lý học của Georges Gusdorf 94
3.3 Hiện tượng luận và dịng chảy cuộc đời 95
3.4 Bản thể luận dịng chảy cuộc đời 96
3.5 Hiện sinh luận và dịng chảy cuộc đời 98
3.6 Đạo đức học và dịng chảy cuộc đời 100
4 Vài nhận định về ý tưởng của Georges Gusdorf 101
5 Dịng chảy cuộc đời trong bối cảnh hậu hiện đại 104
5.1 Từ Tiểu thuyết mới… 105
5.2 …đến Tân tự thuật 107
PHẦN 2: CÁC HÌNH THÁI DIỄN NGƠN DỊNG CHẢYCUỘC ĐỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM PHÁP NGỮ 115
CHƯƠNG 3: HIỆN TƯỢNG NỞ RỘ CỦA DỊNG CHẢY CUỘC ĐỜI-MỘT SỰ KHẲNG ĐỊNH CHỦ THỂ TÍNH 117
1 Chủ thể tính trong văn học Việt Nam Pháp ngữ 117
2 Viết như là phương tiện thể hiện bản thân 122
3 Viết như là hành trình khám phá bản thân 138
4 Diễn ngơn hư cấu và cái tơi với Cung Giũ Nguyên 148
CHƯƠNG 4: DỊNG CHẢY CUỘC ĐỜI : LƯU ĐÀY, CHỨNG TỪ VÀ CĂN CƯỚC CHỦ THỂ 167
1 Dịng chảy cuộc đời : lưu đày và thiết lập ký ức 168
1.1 Lưu đày : giải lãnh thổ và tiếp nối 170
1.2 Dịng chảy cuộc đời và ký ức 176
2 Những bĩng ma hồng hơn : tiểu thuyết cá nhân hay cuộc tìm kiếm căn cước 179
3 Dịng chảy cuộc đời : diễn ngơn chứng từ 186
3.1 Thuộc địa và lời chứng từ nơi khác 188
3.2 Nhân chứng giữa dịng : từ xứ sở chuơng rè đến xứ sở của Hélọse 197
4 Chủ thể siêu vị : trường hợp Linda Lê 207
KẾT LUẬN 225
THƯ MỤC THAM KHẢO 229
PHỤ LỤC 235
1 PHỤ LỤC CHUYÊN MƠN 237
1.1 DANH MỤC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 239
1.2 PHỤ LỤC SẢN PHẨM CƠNG BỐ 247
2 PHỤ LỤC HÀNH CHÍNH 283
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Đại học Quốc gia Tp Hồ
Chí Minh, là đơn vị cấp kinh phí thực hiện đề tài
Đề tài nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình của đơn vị chủ quản là Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, cùng với Phòng Quản lí Khoa học và Dự án Chúng tôi chân thành cảm ơn Ban
Lãnh đạo Nhà trường và quý Phòng Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả quý vị trong Hội đồng xét duyệt, Hội đồng đánh giá giữa kỳ và Hội đồng đánh giá
tổng kết đề tài.
Trang 9DẪN NHẬP
Những năm 1971-1972, Sartre viết tác phẩm ba tập mang nhan đề Kẻ ngốc trong
gia đình (L’idiot de la famille), là phần tiếp theo của công trình Các vấn đề phương
pháp (Questions de méthode) Ngay trong Lời tựa, tác giả đặt vấn đề : Chúng ta hiểu gì
về con người ngày nay ? Với cách đặt vấn đề này, Sartre tin tưởng rằng người ta chỉ có
được lời giải khi nghiên cứu trường hợp cụ thể, vì thế ông đi vào xem xét tiến trình cuộc đời nhà văn Gustave Flaubert Nhưng tại sao cần thiết phải tìm hiểu về con người ngày nay? Quả vậy, nếu như mỗi con người đều mang trong mình dấu vết của cả một thân phận nhân loại, thì không thể phủ nhận rằng số phận cá nhân là cánh cổng mở lối vào thẩm thấu cộng đồng nhân loại và cuộc sống tha nhân Tác phẩm của Sartre là công trình tìm hiểu con người trong tính tổng thể của nó dưới góc nhìn phân tâm và theo chủ thuyết marxisme Điểm quan trọng chúng ta thấy trong tác phẩm vừa mang tính huyền
ảo, vừa thuộc phạm vi lý luận này là, một mặt, Sartre không ngần ngại khẳng định rằng mọi con người đều có thể được nhận thức một cách toàn diện, miễn là chúng ta sử dụng những phương pháp thích hợp và có những tư liệu cần thiết ; mặt khác, ông nêu ra tầm quan trọng của bước khởi đầu các cuộc điều tra, bởi vì, “chúng ta tìm đến một kẻ chết
cũng giống như chúng ta lao vào chiếc cối xay” Kẻ ngốc trong gia đình là một “tiểu
thuyết chân thực”, như Sartre tuyên bố ; tác giả đề cập đến cuộc đời Gustave Flaubert nhưng qua đó nói về chính mình Điều này còn gợi cho chúng ta một thực tế khác : những phương pháp nghiên cứu hiện đại vẫn chưa đủ tầm mức đạt đến khả năng diễn giải về con người, đặc biệt con người trong quá khứ Người ta quay về để tạo ra một
loại hình “tiểu thuyết chân thực” có khả năng phản ánh cuộc đời Anh chàng Flaubert trong Kẻ ngốc trong gia đình có lẽ chính là hình ảnh của Sartre, và tác phẩm “tiểu
thuyết chân thực” này chẳng qua là một cuộc phiêu lưu tự thuật đã từng được gợi mở
trong tác phẩm Lời nói (Les mots) Là tiếng vọng của Lời nói, tác phẩm Kẻ ngốc trong
gia đình, cũng như những tác phẩm tự thuật khác, thuộc thể loại dòng chảy cuộc đời và
trở thành phương tiện ưu việt cho tiến trình nghiên cứu con người
Dòng chảy cuộc đời là một cách diễn đạt thể loại, trong đó một người kể lại cuộc đời mình hay một giai đoạn cuộc đời mình cho một hay nhiều người khác Sở dĩ Sartre
Trang 10“ẩn mình” dưới bóng Flaubert, là vì tác giả sử dụng một chiến thuật có tác dụng làm đặc trưng hoá các dữ kiện của cuộc đời mình Hình ảnh của nhà văn thể hiện ở chính « cái mình tạo ra », và cuộc đời được nhìn nhận như một không gian kết nối của các hành trình cá nhân và tương lai cộng đồng, là sự kết hợp của cái riêng và cái chung Là đối tượng của tri thức, dòng chảy cuộc đời trở thành phương tiện tri nhận tiến trình lịch sử
cá nhân và cộng đồng, căn tính văn hoá, tâm lý và xã hội
Dòng chảy cuộc đời được kết tinh từ những dữ kiện cuộc đời, nhưng đó cũng là biểu diện rõ nhất ý thức của con người về chính mình Ở một mức độ nào đó, nó sẽ cho phép chúng ta khám phá sự đồng nhất giữa chủ thể và ý thức về chính mình Như vậy, dòng chảy cuộc đời được nghiên cứu hiện nay như là một hiện tượng nổi bật trong việc đặt chủ thể tính trên một tầm mức giá trị ưu tiên Nếu trong duy vật biện chứng chủ thể tính chỉ được nhìn nhận như một hình thức phản chiếu và biểu hiện vị trí giai cấp, khiến cái chủ thể bị xoá nhòa trong cái khách thể, khiến con người bị bó hẹp trong vị trí của các nhân vật bất ổn và là hiện thân của những cơ cấu phi nhân cách vĩ mô, thì sự ra đời của trào lưu nghiên cứu dòng chảy cuộc đời khẳng định yếu tố chủ thể tính luôn đóng vai trò nổi bật trong tiến trình tri thức về xã hội Cũng chính Satre, trong một cuộc tọa đàm tại Viện Gramsci (Roma) năm 1961 đã nêu ra tầm quan trọng của chủ thể thuyết
với nhan đề bằng một câu hỏi Chủ thể tính là gì ? Bài diễn thuyết này mới được in
thành sách cùng nhan đề Trong đó tác giả nêu ra một phương pháp tiếp cận đặc trưng nhằm xác định chính xác nhất đối tượng nghiên cứu và thông qua các hình thức phân tích trường hợp cụ thể Nắm bắt được chủ thể tính là hiểu được những điều kiện khách quan được nội tại hoá và trải nghiệm như thế nào, đó cũng là tạo khả năng diễn giải sự hình thành các hình thái hoạt động thực tế của cộng đồng Như vậy chủ thể tính chính là một hình thức “đặc trưng phổ quát”, là sản phẩm của lịch sử, là cấu trúc thiết yếu của lịch sử và là sự phát hiện của những khả thể Nghiên cứu dòng chảy cuộc đời phải được xem là cơ sở cho tiến trình khai thác chủ thể tính
Mục tiêu nghiên cứu
Như tên gọi của đề tài đã cho thấy, mục đích nghiên cứu của chúng tôi là giới thiệu lý thuyết và phương pháp tiếp cận dòng chảy cuộc đời trong văn học tự thuật, đặc biệt áp dụng phân tích Văn học Việt Nam Pháp ngữ Chúng tôi muốn áp dụng phương pháp này vào lĩnh vực văn học với giả định rằng nó có đặc tính ưu việt, cho phép làm sáng tỏ quãng đường xã hội của nhà văn, đồng thời giúp hiểu hơn tiến trình lịch sử xã hội được hình
Trang 11thành, chuyển tiếp như thế nào, cũng như mối tương quan của nhà văn với tư cách là chủ thể với chính mình và với cộng đồng xã hội
Mục tiêu khoa học: Xác định vai trò của dòng chảy cuộc đời trong lý luận và phê bình văn
học, bởi lẽ trong nghiên cứu chức năng của tác phẩm văn học trong xã hội, dòng chảy cuộc đời trở thành một phương pháp tiếp cận hữu hiệu, đồng thời cho phép xem xét mối tương quan của tác giả với tác phẩm và với xã hội-lịch sử Quan niệm hiện đại về văn học cũng có thể dẫn chúng ta đến một nhận định rằng, ngoài các tiêu chí thẩm mỹ và thiết chế, văn học
có tiêu chí “truyền đạt” hiểu theo nghĩa rộng Ý niệm truyền đạt này có thể được khai triển dưới chiều kích xã hội-lịch sử và văn hóa Chúng tôi mượn ý tưởng này của Robert Dion và Frances Fortier :
Nói về nhà văn ngày hôm nay, đó là xác tín vào sức sống của một di sản văn học có tính chuyển tiếp lịch sử và chuyển tiếp văn hóa ; đó là tái khám phá bản chất của cái tôi trong thực tế của người khác ; đó là đặt lại tri thức văn học vào giữa đời sống ; đó là, bằng mọi hiểu biết tận căn, làm cho « thánh thiêng hóa » văn học1
Dòng chảy cuộc đời xuất hiện dưới dạng tự thuật về cá nhân, nhưng nó chuyển tải các dấu vết của quá trình hình thành bản sắc và căn tính của một cộng đồng Dòng chảy cuộc đời trở thành diễn ngôn minh chứng của một thời đại trong một xã hội Xã hội Việt Nam với những biến động của các sự kiện chính trị và lịch sử, các cá nhân sống và trải nghiệm với những sự kiện đó để rồi chuyển hóa chúng trong những trang « huyền thoại » của văn học, sau cùng kết tinh thành ký ức cộng đồng
Mục tiêu thực tiễn : kết quả của nghiên cứu sẽ cho phép góp phần xây dựng chương trình
đào tạo Sau đại học bằng những chuyên đề cụ thể và phổ biến một lịch sử tri thức đến đại chúng, đặc biệt trong môi trường đại học
Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận tiểu sử học và tự thuật đã được áp dựng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Là một cách tiếp cận mới, nó cho phép nhà nghiên cứu nắm bắt tri thức xã hội học Trong phân tích diễn ngôn văn học, việc sử dụng dòng chảy cuộc đời vừa như đối tượng vừa như phương tiện nghiên cứu sẽ giúp khai thác một cách tốt nhất những hành trình cá nhân nhà văn và lịch sử cộng đồng Ứng dụng vào văn học Việt
Trang 12
Nam Pháp ngữ, chúng tôi thực hiện phương pháp điều tra cứ liệu các tác phẩm được viết từ đầu thế kỷ XX đến nay Sau khi thu thập cứ liệu, chúng tôi sẽ xếp loại và phân tích chi tiết các tác phẩm theo từng nội dung đã xác định Cũng cần nhấn mạnh rằng, vì đặc điểm của
đề tài gắn với đối tượng là con người, đề tài tuân thủ phương pháp định tính trong phần lớn quá trình nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Trong tổng thể đề tài nghiên cứu như đã trình bày trong thuyết minh đề cương, chúng tôi sắp xếp các vấn đề nghiên cứu thành hai phần lớn, ứng với mỗi giai đoạn nghiên cứu Giai đoạn thứ nhất dành cho việc hình thành cơ sở lý thuyết; chúng tôi đặt
tên cho phần này là Khái lược về khoa học luận của dòng chảy cuộc đời Giai đoạn
thứ hai sẽ tập trung khảo sát và nghiên cứu phân tích các tác phẩm văn học Việt Nam
Pháp ngữ trong phạm vi thể loại dòng chảy cuộc đời, với nhan đề Các hình thái diễn
ngôn của dòng chảy cuộc đời trong văn học Việt Nam Pháp ngữ
Về cấu trúc của báo cáo tổng kết, tương ứng với mỗi giai đoạn của đề tài, chúng tôi sắp xếp theo trình tự như sau:
Chương 1: Dòng chảy cuộc đời-một phương pháp liên ngành Trong chương
này, báo cáo sẽ trình bày các phương pháp khác nhau của dòng chảy cuộc đời Mục đích
là làm nổi bật khía cạnh thực hành và vị trí đối tượng nghiên cứu của dòng chảy cuộc đời Các lĩnh vực chuyên ngành được đề cập là nhân học, xã hội học, tâm lý học, và lịch
sử Mỗi lĩnh vực sẽ được xem xét trong tương quan với đời sống văn học
Chương 2: Xã hội học thi pháp về dòng chảy cuộc đời Chương này được xem là
phần cơ bản liên quan trực tiếp đến khía cạnh thể loại văn học và văn học tự thuật Các vấn đề chung về thể loại, thể loại theo nhãn quan xã hội học, tác phẩm văn học và ý thức hệ, tự thuật trong quá khứ và hiện tại, sẽ lần lượt được trình bày Chúng tôi đặc biệt nêu ra một số lý thuyết gia đại diện của văn học tự thuật: từ Lejeune, Gusdorf cho đến Robbe-Grillet Với những quan điểm của các chuyên gia này, chúng tôi xây dựng một
cơ sở lý thuyết cho tiến trình xác định và nghiên cứu dòng chảy cuộc đời trong văn học Việt Nam Pháp ngữ
Chương 3: Hiện tượng nở rộ của dòng chảy cuộc đời – một sự khẳng định của chủ thể tính Chúng tôi phân tích khái niệm chủ thể theo các chiều kích khác nhau
trong các tác phẩm cụ thể Trước tiên phải nhìn nhận vị thế và tầm ảnh ảnh hưởng của
Trang 13khái niệm chủ thể và chủ thể tính trong các hình thức diễn ngôn hiện đại thuộc lĩnh vực triết học và trong phạm vi văn học nói chung Từ đó chúng tôi phân định các giai đoạn khác nhau của tiến trình chủ thể (nhân vật/ tác giả) ứng xử với chính mình Văn học Việt Nam Pháp ngữ cho thấy ở thời kỳ đầu thế kỷ XX, các nhà văn tham gia tích cực vào việc tìm khẳng định hay thể hiện cá nhân như một chủ thể độc lập – huynh hướng này được xem như phát xuất từ những ảnh hưởng của văn học phương Tây, đặc biệt văn học Pháp Tiếp theo chúng tôi muốn đề cập đến hình ảnh các tác giả trên hành trình khám phá mình như một chủ thể suy tư, ẩn mình trong cái tôi đặc thù, cái tôi tự phản tỉnh Mục cuối của chương này xem xét đặc biệt những trường các tác giả thể hiện tương quan giữa chủ thể và ngôn ngữ Các phân tích chủ yếu nghiêng về cách diễn giải phân tâm học
Chương 4: Lưu đày, chứng từ và căn cước chủ thể Chương quan trọng này có
thể xem là một phần đặc thù của nghiên cứu dòng chảy cuộc đời trong các diễn ngôn đương đại Qua các tác phẩm, chúng tôi chứng minh những hiện tượng lưu đày, vô xứ như là một hình thức giải lãnh thổ hóa để tiến đến tái thiết một căn cước mới hoặc thực hiện một sự nối tiếp Không gian cho việc tái thiết căn cước có thể là không gian địa lý
cụ thể như những quốc gia Pháp ngữ: Pháp, Canada, Bỉ, v.v Nhưng không gian xây dựng và tái thiết căn tính cũng có thể là chính tác phẩm, là không gian sáng tác, là lối viết – một đường thoát để tái thiết hình ảnh cá nhân và cộng đồng, một không gian tượng trưng và tưởng tượng Bên cạnh đó, chúng tôi tập trung phân tích các diễn ngôn chứng từ: những lời chứng cho phép cá nhân tìm về cội nguồn theo một cách thức khác, nhưng cũng dẫn đến việc hình thành một căn cước hiện tại trong tương quan với quá khứ Lời chứng hay nhiệm vụ của viết dòng chảy cuộc đời là cất lên lời chứng như là một ý chí sinh tồn, vừa mang giá trị lịch sử vừa thể hiện một nhãn quan đạo đức Cuối cùng chúng tôi dành một phần quan trọng cho các tác phẩm của Linda Lê, một nhà văn
ưu thích tìm kiếm ý nghĩa cho tác phẩm và cho cuộc đời ở “nơi khác xa lạ” Vì thế chủ thể thường gặp trong tác phẩm của cô là “chủ thể siêu vị”
Cuối cùng là phần Phụ lục, tập hợp danh mục các tác giả và tác phẩm đã khảo sát
được và các sản phẩm nghiên cứu đã công bố cùng với những hoạt động khoa học và đào tạo đã thực hiện, và những tài liệu liên quan theo yêu cầu hành chính-quản lý
Trang 14PHẦN 1
KHÁI LƯỢC VỀ KHOA HỌC LUẬN CỦA
DÒNG CHẢY CUỘC ĐỜI
Sử dụng khái niệm “khoa học luận” để mở đầu cho một báo cáo của đề tài nghiên cứu khoa học khiến người đọc cảm nhận vấn đề mang nặng chiều kích hàn lâm và học thuật Tuy nhiên, không phải là không có lý khi chúng tôi đặt khái niệm này vào một tiến trình nghiên cứu Hơn nữa, mục đích sử dụng khái niệm này trong trường hợp của chúng tôi trước tiên là nhằm xác định địa hạt đối tượng nghiên cứu Mặt khác, tự bản thân nó, khi mang ý nghĩa triết học, khái niệm ám chỉ “nghiên cứu phê bình các khoa
ý nghĩa phương pháp sư phạm, khoa học luận nói đến “lý thuyết về tri thức và tính chất hợp thức hoá của lý thuyết đó”3 Với hai ý nghĩa trên, thiết nghĩ khái niệm khoa học luận sẽ là cơ sở soi sáng chúng tôi trong các bước tiến hành nghiên cứu liên quan đến một số nguyên tắc cơ bản như : xem xét tiến trình hình thành và sản sinh tri thức, nghĩa
là các vấn đề phương pháp ; các hình thái hợp thức hoá tri thức trong cộng đồng khoa học và trong thực tế ; cơ cấu của tri thức : hệ thống các khái niệm cần thiết ; các định chế cho sự vận hành tri thức, vv Nghiên cứu dòng chảy cuộc đời nhất thiết đòi hỏi chúng tôi phải lần lượt thực hiện các bước trên nhằm đạt được những kết quả khả dĩ trên bình diện lý thuyết và thực tế
Trang 15CHƯƠNG 1
DÒNG CHẢY CUỘC ĐỜI-PHƯƠNG PHÁP LIÊN NGÀNH
Người ta nói gì và đâu là các vấn đề khoa học đã thực hiện khi đề cập đến dòng chảy cuộc đời, đặc biệt khi gắn nó với các lĩnh vực khác nhau trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ? Câu hỏi trở nên cấp thiết hơn khi chúng ta đặt vấn đề dòng chảy cuộc đời trong viễn ảnh văn học nói chung và văn học hậu hiện đại nói riêng Để lần lượt trình bày tiến trình lịch sử của dòng chảy cuộc đời, thiết tưởng chúng ta nên khởi đầu với nhận định tổng quan của Pierre Bourdieu về khái niệm mang ý nghĩa phong phú này:
Dòng chảy cuộc đời là một trong những khái niệm tầm thường đã len lỏi vào thế giới bác học Trước tiên âm thầm xuất hiện nơi các nhà dân tộc học, rồi tiếp theo và rất gần đây, rầm rộ với các nhà xã hội học Nói về dòng chảy cuộc đời, ít ra cũng giả định rằng cuộc đời là một dòng chảy, và đó không phải là vô nghĩa, giống như nhan đề tác phẩm của Maupassant, Một cuộc đời, một cuộc đời gắn kết và là một tổng thể các sự kiện của hiện hữu cá nhân được nhìn nhận như một dòng lịch sử và truyện kể của dòng lịch sử ấy4
Bourdieu đề cập đến vấn đề “ảo tưởng tiểu sử” trong bối cảnh của sự trở lại rầm rộ các phương pháp nghiên cứu định tính mới trong khoa học xã hội và nhân văn, kế thừa Trường phái Chicago Vì những phương pháp định tính đã bị phương pháp định lượng chiếm ưu thế sau thời kỳ hậu chiến Trong những cuộc tranh luận xoay quanh việc chọn lựa và áp dụng phương pháp nghiên cứu, người ta đã đặt ra nhiều vấn đề cho khái niệm
chủ thể và khái niệm căn cước Trong hoàn cảnh ấy, Bourdieu nói đến ba ảo tưởng
chính của tiểu sử học và ông đã đặc biệt nhắm đến các dòng chảy cuộc đời Các vấn đề đặt ra từ Bourdieu đều xuất phát từ quan điểm xã hội học Thứ nhất, xã hội học chỉ ra một ảo tưởng thuộc chủ thuyết cá nhân luận Theo đó có thể có những “truyện kể cá nhân” hay những truyện kể đặc thù Những ảo tưởng này có khả năng che phủ những tâm tính mang chiều kích xã hội, cái tạo ra hình ảnh như chúng ta là Thứ đến, Bourdieu
nói đến hình thức ảo tưởng cứu cánh, nhìn nhận “cuộc đời như một toàn thể, một tổng
thể cố kết và được định hướng Tổng thể ấy được hiểu như cách thức diễn đạt thống nhất về một ‘tâm ý’ chủ quan và khách quan, về một dự trình […] Cuộc đời ấy được
Trang 16
cấu trúc như một truyện kể diễn ra theo trật tự của thời gian cũng là trật tự hợp lý từ một khởi đầu, một nguồn gốc, theo hai nghĩa: xuất phát điểm, điểm khởi đầu, nhưng cũng là nguyên lý, nguyên do, căn nguyên, cho đến kết thúc cũng là cùng đích, hoàn tất […] Như vậy, một cách nào đó, chủ thể và đối tượng của tiểu sử (chuyên gia điều tra
và người được điều tra) có cùng một quan tâm là chấp nhận định đề về ý nghĩa của sự hiện hữu được kể ra”5 Cuối cùng, Bourdieu chỉ ra một loại ảo tưởng khác là ảo tưởng chủ thể thuyết về sự làm chủ ý nghĩa hiện hữu của một chủ thể tự sự, cho rằng mình có khả năng chiếm một ưu thế tối cao
Nhìn chung, khi phác thảo “ảo tưởng tiểu sử”, Bourdieu nhấn mạnh đến dòng chảy cuộc đời như đối tượng trung tâm quan sát của khoa học xã hội và nhân văn Quan trọng hơn, nhà xã hội học này đã gợi mở cách diễn giải và phân tích sự hiện hữu của cá nhân trong mối tương quan với chuỗi các sự kiện có tính liên tục, nghĩa là vị thế hiện hữu của
cá nhân trong cộng đồng, tương quan giữa dòng chảy cá nhân với dòng chảy xã hội Ngoài ra, các hình thức ảo tưởng được Bourdieu nêu ra trong một bối cảnh xã hội chuyển di có thể gợi mở cho chúng ta những cách đặt vấn đề liên quan đến hoạt động tự
sự hay các hình thức tự sự và căn cước tự sự Thực vậy, những câu hỏi có thể đặt ra như: ảo tưởng về cá nhân luận có liên quan gì đến căn cước chủ thể, căn cước tự sự hay không, khi mà căn cước tự sự lại diễn đạt các tình tiết tạo ra từ những trạng huống hay những tâm thế bền vững phản ánh hình thức vô danh hơn là một cá nhân cụ thể? Ảo tưởng cứu cánh như trình bày trên có thể đối lập với một hình thức căn cước tự sự có khuynh hướng như là căn cước bấp bênh, rạn nứt, không bền vững, và nó không những được tạo thành rồi tự huỷ tạo, nó không nhắm đến một mục đích tối hậu? Cuối cùng chúng ta giải thích thế nào về vấn đề ảo tưởng chủ thể thuyết có khả năng làm chủ ý nghĩa cuộc đời và tự cho mình chiếm hữu một vị thế tối thượng, nhưng ngược lại căn cước tự sự của chủ thể cũng như ý nghĩa hiện hữu của nó lại được xây dựng trên một nền tảng phiên giải nào đó không duy nhất? Chúng tôi ý thức được những mâu thuẫn và khó khăn của vấn đề đặt ra từ những câu hỏi này Vì thế phương cách giải quyết dung hòa chỉ có thể có được khi chúng ta không bị giới hạn trong một quan điểm duy nhất mà hướng đến một không gian rộng hơn Dòng chảy cuộc đời là một không gian rộng cần đến những diễn giải khác nhau
5
Pierre Bourdieu, 1994, tr 81-82
Trang 17kĩ thuật-kinh tế và văn hoá-xã hội, đặc biệt từ nửa sau thế kỉ XX Trên thực tế, các yếu
tố tác động đến quá trình phát triển và cải cách kinh tế-xã hội đã thực sự xuất hiện trước
đó từ lâu, chẳng hạn đỉnh điểm của cuộc cách mạng công nghiệp cần phải được nhìn nhận như một nguyên nhân của những biến đổi xã hội từ đầu thế kỉ XX Nghĩa là ngay sau Thế chiến thứ nhất xã hội đã chứng kiến những cuộc biến động lớn Điều đó chứng
tỏ rằng trong các xã hội truyền thống đã thể hiện những cấu trúc chặt chẽ, cố kết hết sức sâu sắc, ít nhất cho đến thời điểm công nghiệp Dù vậy, chúng ta không nên khẳng định chắc chắn rằng các xã hội truyền thống đều được hình thành trên những hệ thống bất biến, trơ ì Các hình thức biến đổi trong các xã hội ấy diễn ra một cách chậm trễ, và không nên hiểu những biến đổi đó ở mức độ của tư duy có ý thức
Từ đầu thế kỉ XX, những biến đổi xã hội diễn ra hết sức mạnh mẽ và chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại, nhất là trong các xã hội phương Tây Tuy nhiên, một số mô hình truyền thống vẫn còn tồn tại như các loại hình sống và các nếp nghĩ, hay những dấu ấn đặc trưng của những vùng nông thôn vẫn còn tồn tại đến những năm 1920 ở những nước phát triển công nghiệp Điều đó muốn xác định tầm quan trọng của những cấu trúc văn hoá xã hội trong việc duy trì ở mức độ chiều sâu những hệ giá trị cổ truyền Vì thế, ngày nay, trong nghiên cứu, cần thiết phải tiếp cận với những chứng nhân của các loại hình và nếp nghĩ trên như một dấu vết lịch sử Những con người sinh ra vào thời điểm đầu thế kỉ XX là thế hệ đóng vai trò chuyển tải những giá trị cổ truyền thuộc một phạm
vi văn hóa khác để tạo ra một hiện tuợng giao thoa với văn hoá duy lý hiện đại và văn hoá tri thức đương đại Tìm hiểu nguyên nhân và bối cảnh thay đổi tổng thể các trật tự trong xã hội cho phép chúng ta xác định những dòng chảy cuộc đời giữa lòng xã hội toàn cầu
Những biến đổi trên bình diện cơ cấu xã hội và các hệ giá trị văn hoá trở thành mấu chốt định vị các mối tương quan giữa cá thể và cộng đồng Tiến trình chuyển động xã
Trang 18hội được xem xét trước tiên qua hiện tượng ra đời của nguồn năng lượng, một yếu tố khác hẳn với những hình thức trước đó là sức người Chuyển đổi xã hội còn bắt nguồn
từ cuộc cách mạng truyền thông, đặc biệt ở hai chức năng, lưu trữ và tốc độ truyền đạt Như vậy, những năm 1950 ghi nhận thời kỳ bản lề và có tính bước ngoặt quyết định cho cuộc đại chuyển đổi xã hội và có vai trò tác động đến mọi hình thức biến đổi quan trọng khác :
- Cá thể độc lập : trong thực tế, ở nửa đầu thế kỷ XX, con người cá nhân vẫn tiếp tục bị
bao bọc bởi cơ cấu gia đình ; cá tính của con người cá nhân thể hiện qua hình thức liên kết dòng dõi họ tộc và con cháu Việc bảo tồn và kế thừa các di sản trở nên quan trọng Theo đó, mọi lý tưởng theo đuổi đều dựa trên thực thể gia đình Tuy nhiên, từ nửa sau thế kỉ XX, tất cả đều đi theo hướng khác : cá nhân được thừa nhận như chính mình, độc lập với mọi hình thức phục tùng; bản thân cá nhân cũng phủ nhận các hình thức tuân phục Người trẻ bắt đầu sống cho mình và sống vì mình
- Xoá bỏ hình thức đồng cư trú : cá nhân không còn sáp nhập vào một cơ cấu cộng đồng
tiếp nhận nhất định nữa, như một ngôi làng, một thành phố nhỏ, một khu phố Nghĩa là xuất hiện những hiện tượng “cạnh tranh” giữa những vùng lân cận, với những chọn lựa
cá nhân
- Các chiều kích tôn giáo thay đổi : mặc dù ở một số vùng trên thế giới vẫn xuất hiện
loại hình tôn giáo mới, nhưng ở một mức độ nào đó số lượng người “vỡ mộng” với những tôn giáo được mạc khải là tôn giáo truyền thống ngày càng tăng
- Các khuôn mẫu bị phủ nhận : phần lớn những mô hình lớn tạo ra cấu trúc xã hội trên
thế giới đang bị đặt vấn đề hoặc có khuynh hướng bị xóa nhòa ranh giới Đó là bốn mô hình cơ bản : nguyên lý “cao niên” dựa trên sự phân biệt tuổi tác ; nguyên lý “nam giới” dựa trên sự phân biệt về giới ; nguyên lý “phẩm trật” dựa trên sự phân biệt địa vị ; nguyên lý “sắc tộc” dựa trên sự phân biệt nhóm
- Xuất hiện hình thức khác biệt văn hoá : tính chất khác biệt văn hoá thể hiện qua hai
loại hình văn hoá : truyền thống và hiện đại Ý tưởng hiện đại được cho là đối lập nhưng cũng cần thiết Tính khác biệt văn hoá được đặt ra đặc biệt trong các xã hội thuộc Thế giới thứ ba, nơi người ta nhìn nhận những yếu tố đối lập xuất hiện là nguyên do của tính chất hiện đại xâm nhập từ bên ngoài Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận yếu tố khác biệt văn hoá là một hiện tượng phổ quát và xuất hiện khắp nơi, kể cả ở phương Tây
Trang 19đương đại, nghĩa là ngay trên phạm vi xã hội được xem như đã có mức độ phát triển mạnh về nhiều mặt
Một đặc điểm khác cần ghi nhận trong xã hội thời kỳ hậu công nghiệp, và có liên quan trực tiếp đến tiến trình hình thành các dòng chảy cuộc đời Đó là hiện tượng biến mất của sự kế thừa và chuyển tiếp các tri thức truyền thống từ thế hệ trước đến thế hệ sau Nguyên do của sự phá vỡ này đến từ nhiều yếu tố như đã trình bày trên Chúng hình thành đặc tính của cuộc cách mạng Một cách rõ nét nhất trong các xã hội phương Tây từ đầu thế kỷ XX, có thể kể ra ba nguyên nhân chính :
Thứ nhất, hiện tượng bất tương hợp địa hình dẫn đến tình trạng biến mất các thế hệ cùng chung sống Ngày nay, hiếm thấy những hình thức các gia đình có ba hay bốn thế
hệ cùng chung sống Con cái, cháu chắt không còn có những chia sẻ thích ứng với ông
bà, nghĩa là những cách thức và hình thức chuyển tiếp đang bị đe dọa trên thực tế
Thứ hai, môi trường đào tạo đa dạng : hình thức này đang thay thế dần vai trò gia đình trong việc kiểm soát tiến trình xã hội hóa của đứa trẻ Thực vậy, ngày nay các hệ giá trị tư tưởng, đạo đức liên quan đến con người phần lớn đang diễn ra bên ngoài môi trường gia đình và học đường Chúng bắt nguồn từ những kênh khác nhau và hết sức đa dạng như truyền thông đại chúng, những mối quan hệ với các nhóm phụ thuộc : bạn bè, đảng phái, hiệp hội, vv
Thứ ba, sự đảo lộn các khuôn mẫu cũng là một nguyên nhân : khái niệm thay đổi được ưa chuộng hơn khái niệm kế tiếp, khái niệm tương lai được quan tâm hơn khái niệm quá khứ Với tốc độ phát triển và phát minh khoa học kỹ thuật, các nhu cầu “tái
chế” liên tục dẫn đến tình trạng những người đi trước chưa hẳn là những người nắm giữ quyền lực tri thức Ngược lại có khi họ lại trở thành những người thuộc thành phần lạc hậu so với những sự kiện và hiện tượng mới phát sinh
Với tất cả những yếu tố nêu trên, chúng ta thừa nhận ít nhiều rằng, truyền thống truyền khẩu đã không còn được duy trì Con người của thế hệ trước cảm thấy mình không còn giá trị và không có khả năng “kể lại” cho thế hệ sau, thế hệ đặt các giá trị, quan niệm và thực tế cuộc sống trên những khung chuẩn mực hoàn toàn khác biệt với thế hệ quá khứ, như thể “vũ trụ thế hệ trẻ” là một thế giới khác
Nói cách khác, các hệ giá trị bao gồm mọi cơ cấu xã hội đang bị lạc hậu và ký ức về những hệ giá trị đó có nguy cơ không thể được duy trì và truyền đạt Điều đó cũng
Trang 20muốn nói rằng con người đương đại đang đối diện với những “chứng nhân cuối cùng” của một mô hình cấu trúc xã hội, một quan niệm sống, một loại hình sống, mà ký ức về chúng đang bị đe dọa sẽ biến mất cùng với những con người nắm giữ chúng
Việc xuất hiện hàng loạt những dòng chảy cuộc đời từ hơn nửa thế kỷ nay khiến chúng ta đặt vấn đề và quan tâm đến sự cần thiết của các hình thúc kế thừa và truyền đạt, nhằm xác định tính chất nhạy bén, tình cảm và tâm thức của cộng đồng Dòng chảy cuộc đời nhất thiết liên quan đến một số vấn đề trên bình diện khoa học luận và phương pháp luận cần được làm sáng tỏ
Các hệ giá trị, các khuôn mẫu, chuẩn mực, được chuyển tải và đóng vai trò định hình khung cơ cấu, thiết định xã hội và các đặc điểm của xã hội Chuyển đổi cơ cấu xã hội là chuyển đổi cơ cấu của “Đại dòng chảy”, hay nói theo thuật ngữ của Jean-François Lyotard, đó là thời điểm “lâm chung của những Đại dòng chảy” trong “điều kiện hậu hiện đại” Thay vào vị trí của những “Đại dòng chảy” chắc chắn phải là những Dòng chảy cá nhân Sự ra đời của những Dòng chảy cá nhân là một tất yếu không chỉ là phương thức hoài niệm quá khứ cộng đồng, cũng không chỉ đơn thuần để kể lại quãng đường hiện hữu của cá nhân giữa cộng đồng, mà còn là một hiện tượng khẳng định vị thế cá thể Cá thể và tiểu sử của cá thể được nói đến như một tiến trình của tri thức Chúng tôi đã nêu ra khái niệm của Pierre Bourdieu về dòng chảy cuộc đời được ông đề cập đến vào năm 1986 Tác giả đưa số phận khái niệm này vào trung tâm quan sát của những lĩnh vực khác nhau nhằm khám phá nguồn gốc cũng như tiến trình hợp thức hoá
nó trong cộng đồng khoa học xã hội và nhân văn Như vậy, bên cạnh ý tưởng của Bourdieu về khái niệm dòng chảy cuộc đời, chúng ta tìm thấy những định nghĩa khác nhau trong nhiều công trình chuyên khảo, đặc biệt khởi đi từ những thập niên 1980-
1990 Pineau và Le Grand chẳng hạn, trong tác phẩm Les histoires de vie (Lịch sử cuộc
đời) xuất bản lần thứ nhất năm 1993 tại Paris, cho rằng dòng chảy cuộc đời là “cuộc tìm
kiếm và xây dựng ý nghĩa từ những sự kiện thời gian của cá nhân” Đó chính là những
sự kiện gắn với một cá nhân, dù việc xây dựng ý nghĩa và hình thành dòng chảy được thực hiện bởi chính cá nhân ấy hay bởi một hoặc nhiều người khác Định nghĩa này mang dáng dấp chủng loại hay đặc trưng nhân học, nhưng vẫn cho thấy một không gian
mở Việc giải thích các định nghĩa dòng chảy cuộc đời gắn với từng phạm vi nghiên cứu
và tiến trình lịch sử của chúng là một đòi hỏi có ý nghĩa Bởi vì “Tạo ra cuộc đời không
phải là công việc đơn giản, kiếm tìm cuộc đời cũng không dễ dàng, hiểu cuộc đời lại
Trang 21càng khó hơn Đối diện với những khó khăn này, đã có và luôn có một hình thức diễn đạt cường điệu về cái tôi Ngoài khả năng thực hành văn học mang tính nội tâm hay phương pháp thu thập thông tin, dòng chảy cuộc đời xuất hiện như một nghệ thuật tồn tại, một phương tiện hình thành ý nghĩa bắt nguồn từ những điều bất ngờ6.
2 Dòng chảy cuộc đời trong nghiên cứu nhân học
2.1 Theo dòng lịch sử
Dòng chảy cuộc đời xuất hiện và được vận dụng trước tiên trên những lục địa của các xã hội có nhiều biến đổi như chúng tôi đã trình bày trên đây Người ta thường đề cập đến vấn đề này tại Châu Mỹ và Châu Âu, cụ thể là tại Nam Mỹ và tại Pháp Chúng tôi sử dụng lại những nghiên cứu của Marc-Olvier Gonseth và Nadja Maillard về
giả đã phác thảo một cách tương đối tổng quan tiến trình tự thuật trong nghiên cứu dân tộc học từ thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX ở Mỹ và ở Pháp Những vấn đề cơ bản được bàn đến trong nghiên cứu này là mối tương quan với chủ nghĩa hiện thực trong văn học, vấn đề về một tình trạng đối lập giả trang giữa dòng chảy cuộc đời như văn bản và dòng chảy cuộc đời như dữ liệu Đồng thời hai tác giả cũng nhấn mạnh đến sự giao thoa giữa người cung cấp thông tin và người điều tra thống kê như một sự tương tác nền tảng của hoạt động nghiên cứu dân tộc học
Theo đánh giá của hai chuyên gia này, các nghiên cứu vào những thập niên 1950 trở lại đây đều chứng minh quá trình ứng dụng dòng chảy cuộc đời như một phương pháp tiếp cận phổ biến tại hai châu lục này, và đã cho phép hình thành một diễn cảnh lịch sử của phương pháp tiểu sử Nghiên cứu trưng dẫn bài báo khoa học nổi tiếng của Françoise Morin năm 19808 về các thực hành nhân học và dòng chảy cuộc đời Đây được đánh giá là một công trình cơ bản phác thảo toàn bộ quá trình thực tế ứng dụng
6
Lời giới thiệu sách của Gaston Pineau và Jean-Louis Legrand, 2002, trang bìa cuối
7
Marc-Olivier Gonseth & Nadja Maillard « L’approche biologique en ethnologie Points de vue critiques »,
in Histoires de vie Approche pluridisciplinaire Recherches et travaux 7, 1987, tr 5-46
8
Françoise Morin, « Pratiques anthropologiques et histoire de vie », Cahiers internationaux de sociologie,
Trang 22Cũng vậy, trước đó phải kể đến những công trình của Lewis Langness9 trong việc làm sáng tỏ hành trình của dòng chảy cuộc đời trong địa hạt nhân học
Trước hết tại Nam Mỹ, hình thức tiểu sử xuất hiện mạnh mẽ ở Mỹ và chủ yếu nhằm thuật lại cuộc đời của những tướng lãnh, đồng thời để ca ngợi dũng khí của “Người da đỏ” đang dần bị biến mất Tuy nhiên, theo Langness, trước năm 1925, các nhà nhân học
đã không chứng minh được lợi ích thực sự của tiểu sử như một phương tiện nghiên cứu chuyên biệt
Năm 1926, Paul Radin cho xuất bản quyển Crashing Thunder Trong đó cho thấy
các nhà nhân học đã bắt đầu sử dụng một cách có hệ thống các tư liệu cá nhân và chứng minh sự cần thiết của các thông tin tiểu sử trong nghiên cứu Mục đích của việc ứng dụng này “không phải để sở hữu những chi tiết tiểu sử về một con người cụ thể” mà vì
“một cá thể đặc trưng, về tuổi tác và những khả năng bình thường, diễn đạt cuộc đời
mình trong mối tương quan với nhóm xã hội nơi mình được lớn lên” (Xem Langness,
1965: 8) Theo cách xử lý này đối với những thông tin tiểu sử thì khía cạnh quan tâm của Radin thuộc phạm vi nghiên cứu văn hoá hơn là chiều kích tâm lí, thái độ hay tính cách cá nhân của một con người Dù vậy, nghiên cứu của Radin đã tạo được những ảnh hưởng quan trọng và có vai trò khuyến khích các nhà nghiên cứu nhân học trong việc sử dụng tư liệu tiểu sử đặc biệt trong địa hạt văn hoá và dân tộc học
Công trình của Langness cũng chỉ ra rằng, trong những thập niên 1950, cùng với việc đưa ra thực hành thể loại tự thuật (hay tiểu sử), có những khảo luận về lý thuyết diễn giải các vấn đề phương pháp luận tiểu sử Clyde Kluckhohn viết “The personal document in anthropological science” (Tư liệu cá nhân trong nghiên cứu nhân học)
thiết phải khu cảnh hoá các dòng chảy cuộc đời Nghĩa là các chất liệu của tiểu sử phải được khai thác một cách có hệ thống
Trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, người ta nhìn nhận sự phát triển đặc biệt của
tiểu sử tại Mỹ Langness dẫn ra trường hợp tác phẩm được đánh giá là thành công Sun
Trang 23Chief, một tự thuật của Don Talayesva do Leo Simmons thu thập và xuất bản năm 1942
Tác phẩm tạo ra tiếng vang và đóng góp vào việc làm sáng tỏ một số vấn đề văn hóa ảo thuật trong thế giới phù thuật Trên bình diện dân tộc học, nó chứa đựng một khối lượng thông tin đồ sộ về một xã hội đã được nghiên cứu thấu đáo Còn trên bình diện phương pháp luận khoa học, nó góp phần canh tân các kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin Cùng thời điểm này, trào lưu “Văn hoá và nhân cách” xuất hiện và tạo ra một không khí mới mẻ cho việc ứng dụng các phương pháp tiểu sử Edward Sapir, người có tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với trào lưu này, đã cố gắng kết hợp nghiên cứu liên ngành trong khoa học nhân văn Ông sử dụng những khái niệm thuộc lĩnh vực tâm thần học và tâm lý học cũng như những kỹ thuật nhân học để chứng minh mối liên hệ giữa cá nhân
và văn hoá, đồng thời cổ vũ những học trò của mình sử dụng tiểu sử trong nghiên cứu
(Xem Morin, 1981: tr 318)
Về các vấn đề phương pháp luận, sự phát triển của trào lưu Văn hoá và nhân cách hay rất nhiều công trình nghiên cứu về các hiện tượng hội nhập và chuyển đổi văn hoá tưởng chừng như đã tạo ra sức mạnh cho phương pháp dòng chảy cuộc đời Tuy nhiên,
từ những năm 1945 việc ứng dụng phương pháp này có vẻ chững lại Nguyên nhân, theo Langness, chủ yếu do “những phương tiện thu thập dữ liệu – kiểm tra tâm lý, quan sát thái độ tham gia vào những cuộc khai thác thông tin ngắn gọn, hay những cuộc phỏng vấn đơn giản” (1965: 18) Nguyên nhân của sự thiếu quan tâm này có thể vì “các chuyên ngành ưa thích chọn đối tượng nghiên cứu là các nhóm xã hội hơn là từng cá nhân riêng lẻ, và quan tâm đặc biệt những mô hình khoa học trong những cách tiếp cận theo chủ nghĩa tập tính” Giải thích này xuất phát từ nghiên cứu của David G
Năm 1960, Sidney W Mintz, trong tác phẩm Worker in cane, đã phân tích khuynh
hướng chung trong nghiên cứu nhân học ở Mỹ và trong ý thức hệ của thời đại Ông cho rằng “cho đến đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, nhân học chủ yếu chỉ quan tâm đến các dân tộc không có chữ viết, với nền kỹ thuật thô sơ, sự phân tầng xã hội ít phát triển” hay đó là những “nghiên cứu nhân học về một xã hội hiện đại và phức tạp lúc đó còn hiếm hoi, thậm chí còn bị coi như tà thuyết” Gonseth và Maillard cho rằng Mintz đã
Trang 24
mang đến cho nhân học nhiều khía cạnh canh tân, cùng với những nghiên cứu của Oscar Lewis12, trong việc vận dụng phương pháp tiểu sử
Trong khi đó ở Pháp, theo Gonseth và Maillard, thái độ đối với phương pháp tiểu sử còn mang tính nước đôi cho đến mãi những năm 1970 Nghiên cứu của Françoise Morin cho phép phác thảo những mốc quan trọng của tiến trình áp dụng phương pháp này Tác giả đầu tiên được nhắc đến chính là Marcel Mauss, ông tổ của ngành nhân học Pháp Ông được xem là người rất đồng tình với việc sử dụng dòng chảy cuộc đời như một cách tiếp cận phương pháp luận Trong bài viết có nhan đề “Bản phác thảo đại cương xã hội học miêu tả” (Fragment d’un plan de sociologie générale descriptive),
đăng trong Tập san xã hội học (Annales sociologiques) năm 1934 và đăng lại năm
Bằng những dòng chảy cá nhân này, ta có thể nhận biết các cá nhân được giáo dục ra sao, qua những nhà giáo dục nào và bằng phương pháp nào” (1969: 341) Ở chỗ khác, Mauss khẳng định: “Phương pháp tự thuật là tìm kiếm nơi một số người bản địa bản tiểu sử của họ Phương pháp đã được Radin sử dụng và cho ra những kết quả tuyệt vời”14
Bên cạnh Mauss, phải kể đến Claude Lévi-Strauss Trong bản giới thiệu sách Sun
Chief, ông tỏ ra thích thú với phương pháp tiểu sử và cho rằng từ giác độ tâm lý học và
văn học tiểu thuyết, tác phẩm này được đánh giá như một tài liệu độc đáo Giá trị dân tộc học của nó cũng không thể phủ nhận Ngoài ra, Claude Lévi-Strauss còn viết bản tổng lược giới thiệu tác phẩm của Kluckhohn, trong đó ông cho thấy quan điểm rất cụ thể đối với phương pháp tiếp cận tiểu sử Ông có những nhận định về nghiên cứu của Kluckhohn: “người ta dễ dàng đồng tình với cách phân tích thấu đáo của Kluckhohn từ các nguồn tài liệu thuộc thể loại tiểu sử: một phương tiện kiểm chứng, vượt trên cả hình thức điều tra dân tộc học; một cách tiếp cận trực tiếp và trực giác hơn, theo phong cách của từng văn hoá; một lối diễn đạt các tâm thế cá nhân và rất cụ thể trong giai tầng xã hội; một dáng mạo cuộc sống cộng đồng bản địa; một khảo cứu về các cách thế và các chiến thuật mà cá nhân trải nghiệm để hấp thụ văn hoá của nhóm mình; một kiểu thay
12
Oscar Lewis, The Children of Sanchez, New York: Random House, 1961.
13
Marcel Mauss, « Fragment d’un plan de sociologie générale descriptive », in Œuvres t.3 : cohésions
sociales et divisions de la sociologie, Paris : Minuit, 1969 tr 302-354
14
Marcel Mauss, Manuel d’ethnographie, Paris : Payot, 1947 tr 21
Trang 25thế sự kiện cuộc đời […]” Tuy nhiên, theo Claude Lévi-Strauss, người ta cũng lo ngại
về chủ trương nghiên cứu hệ thống và nghiên cứu so sánh các tư liệu cá nhân như một khả thể mở ra một kỷ nguyên mới trong các nghiên cứu dân tộc học Thực vậy, dưới nhãn quan của Claude Lévi-Strauss, dòng chảy cuộc đời chỉ “làm cho sống lại hơn là làm cho người ta thấu hiểu quá khứ Chúng không cho phép tạo ra một hệ thống lý thuyết dẫn đến xây dựng nền tảng của chân lý khoa học Diễn giải của Lévi-Strauss thiên về khuynh hướng cấu trúc luận, và nhìn nhận các sự kiện xã hội phải được nghiên cứu như các sự vật, mà các sự vật thì không thể bị quy đọng lại chỉ trong kinh nghiệm
cá nhân Vì thế những tư liệu cá nhân như tiểu sử hình thành trên những trải nghiệm, theo ông, không thể cho phép tạo ra một nghiên cứu khoa học
Cũng vậy, trong phần bài tựa ông viết cho quyển Sun Chief khi được dịch sang
tiếng Pháp năm 1959, Lévi-Strauss đồng thời thừa nhận giá trị của dòng chảy cuộc đời trên bình diện phương pháp luận và phân tích theo cách của Kluckhohn, nhưng phủ nhận sử dụng một cách có hệ thống các tư liệu cá nhân, bởi vì kinh nghiệm sống không phải đối tượng khoa học Như vậy, xét ở mức độ nào đó, quan điểm cấu trúc luận trong nghiên cứu nhân học, đặc biệt tại Pháp, khó tán thành với phương pháp tiểu sử Người
ta cũng không khó nhận thấy rằng trong những thập niên 1960-1970 cấu trúc luận đang chiếm lĩnh vị trí vượt trội trên diễn đàn khoa học nói chung và nhân học nói riêng tại Pháp
Một số công trình khác có ý nghĩa tạo ra bức tranh chung cho tiến trình ứng dụng dòng chảy cuộc đời Các tác giả có thể dành một chương cho vấn đề xây dựng định chế
phương pháp dòng chảy cuộc đời Năm 1974, trong công trình có nhan đề Phê bình và
chính sách của nhân học (Critiques et politiques de l’anthropologie), Jean Copans dành
một chương để đặt vấn đề về dòng chảy cuộc đời, một chủ đề hay một phương pháp Ông chống lại quan điểm của Langness cho rằng “trên thực tế mọi nhân học bản chất của nó đều là hình thức tiểu sử”, hoặc “tất cả các dữ liệu nhân học về cơ bản là tiểu sử” Theo ông, những tuyên bố này không có gì đặc biệt cả, vì đó là điều dĩ nhiên, nhưng có thể dẫn đến sai lầm về lý thuyết Vấn đề cốt lõi là làm sao có thể xây dựng từ những dữ liệu cá nhân ấy một đối tượng nghiên cứu nhân học, nghĩa là phải chứng minh ý nghĩa
và những hạn chế khách quan của nó Copans kết luận về những ứng dụng và những giới hạn của dòng chảy cuộc đời như sau:
Trang 26Dòng chảy cuộc đời chỉ có thể là một hình thức minh họa cho sự vận hành của một xã hội
và, như vậy, nó phản ánh trước hết sự phân tích chính xác nhất về các cấu trúc, các sản phẩm vật chất và tinh thần của xã hội đó Theo chúng tôi, nó cũng thể hiện mục đích khác: làm cho những người không chuyên nghiệp hay thậm chí cho đại công chúng nhận biết được bản chất của xã hội Dòng chảy cuộc đời có thể cho phép phổ biến những dữ liệu nhân học, và vì thế người ta không thể ngăn cấm các nghiên cứu văn học chọn nó làm đối tượng Ngược lại, có tham vọng tạo ra từ dòng chảy cuộc đời một cách khác lạ, kêu gọi sinh viên và các nhà nghiên cứu chú tâm đặc biệt vào đó, chúng tôi thấy có vẻ như đó là điều hão huyền15
Thêm vào bức tranh tổng quan dòng chảy cuộc đời trong nghiên cứu nhân học, chúng tôi thấy cần thiết kể đến công trình chung của các tác giả Jean Poirier, Simone
Clapier-Valladon và Paul Raybaut Nghiên cứu mang nhan đề Các dòng chảy cuộc đời
Lý thuyết và thực hành (Les récits de vie Théorie et pratique) (1983, tái bản năm 1994)
Trong phần nghiên cứu lý thuyết, các tác giả đã dành chương IV đề cập đến “Nguồn truyện kể trực tiếp như một nghệ thuật phỏng đoán xã hội” Điểm mới trong công trình này là các tác giả đã sử dụng khái niệm « tiểu sử dân tộc học » (ethnobiographie)16 Theo đó, tiểu sử dân tộc học có tham vọng vượt ra ngoài cuộc phiêu lưu thuần tuý cá nhân chủ thể để hướng đến tìm kiếm những mô hình văn hoá của nhóm, đồng thời khuyến khích quan điểm phê bình của chính cá nhân, tương đối hoá thông tin thu thập được từ những cuộc điều tra, xử lý thông tin ấy bằng những phương pháp thích hợp Như vậy, đối với các tác giả này, dòng chảy cuộc đời không phải là một sản phẩm hoàn chỉnh như nó vẫn thường được hiểu, mà chỉ như một sản phẩm thô cần sự kết hợp Việc đối chiếu phân tích giữa các dòng chảy cuộc đời gọi là dòng chảy cuộc đời giao nhau, sẽ cho phép xác định tính khả thi của thông tin thu thập được
2.2 Hiện thực nhân học và hiện thực văn học
Nói đến dòng chảy cuộc đời là nói đến chủ thể của những dòng chảy đó Cuộc đời chỉ có thể được thẩm thấu qua các hình thể, trong khi đó hình thể có nguy cơ bị biến dạng Vì lẽ đó, việc xem xét tất cả các hình thể cho phép xây dựng dòng chảy cuộc đời
là cần thiết, đặc biệt liên quan đến chủ thể truyện kể
Trang 27Chúng tôi sẽ bàn đến một cách thấu đáo hơn ở phần sau về vấn đề xã hội học thi pháp của dòng chảy cuộc đời Ở đây chỉ xin nêu ra những nhận định bắt nguồn từ nhân học với cấu trúc thể loại văn học liên quan đến thể loại dòng chảy cuộc đời
Bài viết của Claude Abastado năm 1983 về cơ cấu thể loại dòng chảy cuộc đời đã ghi nhận tầm ảnh hưởng của “văn học bác học” của các hiệp hội địa lý, phổ biến những cuốn sách lịch bán rong, những tuyển tập dân gian, những câu truyện của những người
du hành, khai thác, truyền giáo Theo Claude Abastado, “khi thay thế hay đi kèm theo các thể loại truyền thống, dòng chảy cuộc đời phải chịu tác động bởi những thể loại đó : nội dung và chức năng tương tự sẽ kéo theo những tương đồng về hình thức Hành động viết đi đôi với việc chăm chút viết hay, nghĩa là văn học vận hành như một địa cực hấp dẫn Thế thì, trong dòng chảy cuộc đời, diễn ngôn chứng từ dừng lại ở chỗ nào ? và văn học bắt đầu từ đâu ? Chính sự mập mờ này tạo ra mô hình và duy trì thể loại dòng chảy cuộc đời”17
Tìm hiểu về lịch sử thể loại dòng chảy cuộc đời, Claude Abastado còn cho rằng ảnh hưởng của bảng điều tra tác động trực tiếp vào thể loại này Chẳng hạn, các mục về ngày sinh, nơi sinh, dòng tộc, học hành, nghề nghiệp và thời gian lao động, vv Tất cả những yếu tố đó cho phép xây dựng mô hình hành chính liên quan đến cá nhân Ngoài
ra Abastado cũng nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng của thể loại phóng sự với mục đích nghiên cứu nhân học hay xã hội học
Về đặc trưng trần thuật trong dòng chảy cuộc đời, cho đến nay vẫn chưa thấy nghiên cứu nào chứng minh được sự thống nhất về kỹ thuật trần thuật hay cách thức dẫn vào hành động viết Như đã nêu ra trên đây, Gonseth và Maillard dẫn giải những đặc trưng giống nhau của phần lớn các dòng chảy cuộc đời là mang đặc trưng của văn học hiện thực hay còn gọi cách khác là hiện thực nhân học Nhưng cuối cùng độc giả vẫn nhận ra ở đó một sản phẩm pha trộn Sản phẩm pha trộn này thường có những đặc điểm sau : 1/ Một hình thức trình bày tổng quan các sự kiện khiến độc giả cảm nhận ở đó có
“một ý nghĩa của câu truyện”, có một tổng thể cố kết, nghĩa là dòng chảy cuộc đời có khía cạnh cứu cánh của nó ; các sự kiện sau tạo ra ý nghĩa cho các sự kiện trước ; những điểm nhìn về quá khứ trùng hợp với diễn biến cuộc đời Tức là cuộc đời được diễn ra có khởi đầu và kết thúc Đây được xem là “ảo tưởng tiểu sử”, theo nghĩa của Bourdieu 2/
Trang 28
Người kểthường có khuynh hướng xóa bỏ hệ thống các nghi vấn trong quá trình kể, và chú trọng đến hình ảnh một cái “tôi” của truyện kể như là yếu tố kết cấu cơ bản, dấu vết xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm 3/ Trong hành trình tái cấu trúc lịch sử cuộc đời, người kể thường tạo cho người đọc ảo tưởng như đang chứng kiến cuộc đời hiện hữu của tác giả ; tác giả sắp xếp rải rác trong tác phẩm những dấu ấn thực, khiến cho độc giả
có cảm giác về một “hiện thực” nguyên sơ của các sự kiện được kể 4/ Một số dòng chảy được viết ra dưới hình thức các giai thoại, các diễn cảnh mỹ miều hay mang tính điển hình, trình bày một tập hợp các chi tiết có ý nghĩa 5/ Có nhiều loại mức độ diễn ngôn được vận dụng : đối thoại, kể, miêu tả, suy tư, phán đoán suy luận Tuy nhiên trong tất cả những hình thức ấy, ta chỉ cảm nhận một cái “tôi” duy nhất hiện hữu
Nghiên cứu nhân học hình như chỉ chú trọng đến người kể như một hình thức người thu thập dữ liệu hay người điều tra Trong khi đó, chủ thể của/ trong dòng chảy cuộc đời không chỉ là người cung cấp các thông tin của chính cá nhân mình và môi trường hiện hữu của mình, mà bao gồm cả hình ảnh người kể trong tư cách là người thu thập thông tin Dòng chảy cuộc đời diễn đạt một “hành động” khám phá, và có thể xuất hiện dưới tên gọi là “tự thuật gián tiếp”18
2.3 Cuộc đời tái thiết qua những thao tác
Vẫn theo Gonseth và Maillard, các bước tiến hành của tiểu sử nhân học cần phải được xác định Dù nghiên cứu nhân học, các tác giả vẫn khởi đi từ ý tưởng lý thuyết văn
chương của Philippe Leujene trong công trình Tôi là kẻ khác (1980)
Trước hết phải đặt vấn đề chọn lựa người cung cấp thông tin về cuộc đời họ Tự thuật gián tiếp, hay nói cách khác tự thuật của những người không viết, khác với tự thuật của những vĩ nhân theo quan niệm truyền thống Vì thế, “một sự trở về với người cung cấp thông tin” là cần thiết ngay lúc đầu hình thành mối tương quan điều tra “Cuộc trở về” này tốt nhất phải chuyển tải quan điểm của hai người đối thoại trong bối cảnh điều tra
Kế tiếp là các tương tác, giao thoa và thông tin, nghĩa là khung cảnh điều tra với những mức độ và hình thức giao tiếp cử chỉ hay không lời: “Không thể bỏ qua – đặc biệt trong tương quan diện đối diện – vẻ hài lòng hay không hài lòng của chúng ta đối
18
Xem Jean Poirier, Simone Clapier-Valladon và Paul Raybaut, 1983, 1996
Trang 29với phát ngôn của người khác […] Làm sao tránh được việc chủ thể vận dụng những cảm xúc thích hay không thích như những chỉ dẫn và nguyên tắc thực sự trong việc xây dựng diễn ngôn của mình, dựa vào phạm vi mô phỏng và tùy thuộc hay dựa vào phạm
vi đối kháng và đối thuộc?” (Chabrol 1983: 77-78)19
Một khía cạnh khác liên quan đến việc nhìn nhận ký ức Trong phạm vi dòng chảy cuộc đời, hành động tái tạo ký ức thể hiện ở mức độ cá nhân người được hỏi và dự định của cá nhân người điều tra Sự khác biệt khi nhìn nhận ký ức được Lejeune chỉ rõ như sau:
Những cách biệt cho thấy rằng, người làm công tác điều tra chủ yếu xem xét ký ức theo mô hình đồng thời như là thực địa nghiên cứu và cũng như một rào cản cho nhận thức Họ sẽ gặp phải kiểu phản ứng như: ký ức có một hình dạng, nó chứa đựng những hình thức hưng cảm và một chiến thuật, nó không phải là bất biến, ngay cả khi nó chưa được diễn đạt hay còn tiềm ẩn20
Rõ ràng, ở người nghiên cứu có nguy cơ xuất hiện khuynh hướng chủ quan Tuy nhiên, đối với dòng chảy cuộc đời là hình thức gián tiếp, chúng ta nhận thấy một kiểu tư tưởng tiểu sử, nó làm cụ thể hoá tham vọng tìm ra một sự thống nhất, một ý nghĩa cho cuộc đời Và ý tưởng này đều lộ diện ở cả người nghiên cứu điều tra lẫn đối tượng được hỏi
Bước tiếp theo trong tiến trình tái thiết cuộc đời đối với nhà nghiên cứu là xử lý các
dữ liệu Đây là giai đoạn vận dụng các phương pháp thao tác và mã hoá các dữ liệu tiểu
sử Tuy nhiên đây không phải công việc đơn giản, mà được xem như một bước tái tạo Theo Philippe Lejeune, có ba hệ thống viết lại: thứ nhất là viết lại nhưng giữ nguyên vẹn gần như những đặc tính của ngôn ngữ nói Tuy nhiên việc chuyển từ ngôn ngữ nói sang ngôn ngữ viết cần phải thích ứng một cách khéo léo và cẩn thận Thứ hai là giữ một khoảng cách trung bình Ở mức độ này, chép lại là điều chỉnh diễn ngôn, loại bỏ
những yếu tố lặp lại, lời nói do dự, vv Như vậy, “lời nói xuất hiện như được sấy khô”
Cách thức này tạo cho dòng chảy cuộc đời những lợi ích trong việc phổ biến nó nơi cộng đồng khoa học cũng như với công chúng rộng rãi Tuy nhiên, xét về phạm vi nghiên cứu xã hội học ngôn ngữ, thì nó thể hiện những hạn chế, nhất là trong việc xem
19
Claude Chabrol, «Psycho-socio-sémiotique : récits de vie et sciences sociales », Revue des sciences humaines, 191, 1983, tr 71-85
Trang 30xét nghệ thuật thi pháp của truyện kể Hệ thống thứ ba là thao tác văn học Tạo ra từ truyện kể cuộc đời một diễn ngôn trau chuốt và có khả năng dẫn độc giả đến viễn ảnh của thế giới hư cấu Đến đây, vấn đề đặt ra đối với văn học là sự bất khả phê bình : ai là tác giả của truyện kể ? Nếu phê bình văn học chỉ tập trung vào yếu tố văn bản, thì vấn
đề sẽ dễ dàng được giải quyết, nhưng nghiên cứu dòng chảy cuộc đời không thể phủ nhận hình ảnh con người trong văn bản và con người tạo ra văn bản Như vậy, ở một mức độ nhất định, nhà nghiên cứu và phê bình văn học sẽ khác biệt với một nhà nghiên cứu nhân học hay xã hội học
2.4 Dòng chảy cuộc đời giữa nhân học và văn học
Hiện tượng bùng phát của thể loại dòng chảy cuộc đời gắn liền với trào lưu hết sức
vĩ mô trong những năm 1970 được gọi tên là “chủ nghĩa nông thôn mới” ở Pháp Sự quan tâm đối với dòng chảy cuộc đời, theo nghiên cứu của Franch Elegeot, đó là vào khoảng “những năm bản lề khi người ta ý thức phải vĩnh viễn từ dã cả một thế giới, thế giới nông thôn của Pháp với các hoạt động, niên lịch riêng, các hình thức tương quan
những tương quan tồn tại giữa con người với môi trường cuộc sống-xã hội
Dòng chảy cuộc đời không chỉ là một hiện tượng trong những phương pháp nghiên cứu nhân học, mà còn được xem như một hiện tượng trong các thiết chế văn hoá – chúng tôi sẽ đề cập chi tiết hơn ở phần sau – nhất là đối với hệ thống xuất bản, và bắt đầu khiến công chúng liên tưởng nhiều hơn đến một loại hình văn học Dòng chảy cuộc đời được ví như một cuộc đời con người cá nhân, nó chứa đựng cả một quá trình căn tính cá nhân và cộng đồng Như vậy nó tạo ra một chân trời chờ đợi nơi công chúng Thuộc phạm vi ngôn từ, dòng chảy cuộc đời có vị thế trung chuyển giữa nhân học và văn học, vì một đằng, tạo ra phương pháp tiếp cận nhân học, đằng khác cho phép hình thành tiếp cận báo chí hay tiểu thuyết Trong mọi trường hợp, khoa học xã hội và nhân văn đã nhìn nhận ở dòng chảy cuộc đời một hình thức thực hành phương pháp luận Rất khó để xác định thể loại của dòng chảy cuộc đời trong khung định chế thể loại văn học, cũng như thể loại diễn ngôn nhân học Gonseth và Maillard đã nêu ra các đặc tính của văn học hiện thực để tham chiếu dòng chảy cuộc đời, cũng như những đặc tính
21
Franch Elegeot, « Mémoire de France : aperçu provisoire dé recherches en cours », Ethnologie française, 8
(4), 1978, tr.337-342
Trang 31của diễn ngôn nhân học hiện thực Kết luận của các nhà nghiên cứu là không có sự đối nghịch giữa hiện thực nhân học với tiểu thuyết hiện thực cũng như với dòng chảy cuộc đời Vấn đề là, khi nghiên cứu, chúng ta đối diện với một hình thức diễn ngôn được mã hoá, nên cần thiết phải chú trọng đến các phương pháp chuyên biệt trước khi khẳng định
về nội dung được chuyển tải
Ở một mức độ nào đó, dòng chảy cuộc đời thể hiện như một hình thức diễn ngôn nghịch biện Chúng tôi sẽ bàn đến vấn đề thể loại hay xã hội học thi pháp một cách chi tiết ở chương sau Ở đây, vì những vấn đề được Gonseth và Maillard nêu ra liên quan đến diễn ngôn thể hiện qua dòng chảy cuộc đời, nên cũng cần thiết dừng lại một chút để xem xét kỹ hơn vấn đề Như đã nêu trên, giá trị nhân học rút ra từ dòng chảy cuộc đời là không thể phủ nhận, vì đó là cuộc đời cá nhân con người và tổng thể những sự kiện xung quanh cuộc đời cũng như những kinh nghiệm của cá nhân Đó là thực tế Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cuộc chinh phục tính chân thực chủ quan và một sự toàn diện hoá
cá nhân có khả năng gây mất tác dụng hoặc làm nản lòng nghiên cứu khoa học Cũng vì
lý do đó Lévi-Strauss không tin tưởng có thể tìm thấy nơi kinh nghiệm cá nhân một đối tượng khoa học Những thông tin sử liệu và những suy tư về mặt khoa học luận từ những nghiên cứu trình bày trên đã chứng tỏ phần nào tính đặc thù của cách tiếp cận tiểu sử trong nhân học Tiểu sử hay dòng chảy cuộc đời trong nghiên cứu nhân học dĩ nhiên được xác nhận như một dạng thức khoa học Nhưng điều đó không nhất thiết loại trừ “tính chất văn học” được chuyển tải trong diễn ngôn dòng chảy cuộc đời Hơn nữa,
sẽ là vô lý nếu cho rằng bản chất của văn học không phải là một tri thức khả thể và có khả năng lưu truyền Điều quan trọng nằm ở chỗ dòng chảy cuộc đời là một thực tế tạo
ra một tri thức đặc biệt cho khoa học nhân văn Có chăng chúng ta nên đặt vấn đề về tính chất tiêu biểu của các nghiên cứu Tính chất tiêu biểu thì cuối cùng phụ thuộc vào một sự giải thích chính đáng về quan điểm của nhà nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu
Từ phương pháp tiểu sử trong nghiên cứu nhân học, chúng tôi nhận định rằng việc vận dụng dòng chảy cuộc đời ngày nay nói chung đã trở thành một bảo chứng cho khoa học xã hội và nhân văn Dòng chảy cuộc đời – ở đây bao gồm cả tiểu sử và tự thuật – tìm lại được vị trí vững chắc của nó trong phạm vi phương pháp luận Việc đặt câu hỏi: Dòng chảy cuộc đời thuộc loại diễn ngôn khoa học hay diễn ngôn hư cấu ? Như đã nói, không hề đơn giản để đưa ra một lời đáp thích đáng khi, trên thực tế, ở nhiều chuyên
Trang 32ngành, cũng như những gì Bourdieu đã khẳng định, dòng chảy cuộc đời đã được ứng dụng Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó, có những khoa học luận về khoa học xã hội ngày nay đặt trọng tâm vào những đặc tính viễn tưởng của những phát ngôn khoa học Bản thân chủ nghĩa khoa học cũng được coi như là một trong những hình thức viễn tưởng Louis Althusser, người theo chủ thuyết marxisme, đã xác định trong tác phẩm
Tương lai dài lâu (1992), một tác phẩm trần tình về con đường của nhà triết học, rằng,
tác phẩm của ông “không phải là nhật ký, cũng không phải hồi ký hay tự thuật” mà chỉ
là sự liên kết “tiếp xúc của những xúc cảm đã từng ghi dấu cuộc đời tôi và tạo cho cuộc đời tôi một hình thể”22 Ông nói thêm :
Người ta có tin tôi hay không thì tuỳ, nhưng tôi không thực hiện trong quyển sách này, cũng như ở bất cứ chỗ nào khác, một sự “ tự phân giải”, mà dành công việc này cho tất
cả những kẻ tinh quái nhỏ nhoi của một “lý thuyết phân tích”, tùy vào mức độ ám ảnh và
ảo tưởng của họ về chính họ Tôi chỉ kể lại những ‘cảm xúc’ khác nhau đã biểu hiện con người tôi suốt đời, trong hình thể khai sinh của chúng và trong mối quan hệ của chúng sau đó23
Trường hợp của Louis Althusser cho chúng ta thấy sự giằng co trong chính con người ông giữa diễn ngôn khoa học và diễn ngôn hư cấu Phủ nhận các hình thức tự thuật hay tự phân tích trong tác phẩm của mình, Althusser đặt vào trọng tâm quan sát của ông bản thân con người đam mê để tạo ra từ con người đó một chủ thể khoa học Người ta không ngạc nhiên khi trong cả cuộc đời, Althusser luôn có cảm giác bị lừa gạt
và ông đã từng nghĩ đến một hình thức vô danh Thậm chí Althusser còn cho rằng sự
“lừa gạt” đã được định chế hóa, theo quan điểm thần học của thánh Thomas, và nó đặt mọi con người sản sinh tri thức trong những logic của sự thống trị, để bắt đầu bằng việc thống trị bản thân khỏi những bản thể hư cấu, nhờ đó ta có thể xác định cái tôi tri thức của mình
Dẫn chứng trường hợp của Althusser để thấy rằng những bàn luận về phương pháp luận liên quan đến dòng chảy cuộc đời là những vấn đề cần phải thực sự được nghiên cứu Những đóng góp về mặt phương pháp luận và khoa học luận về dòng chảy cuộc đời hiện nay rất phong phú như chúng tôi đã trình bày trên đây
Trang 333 Dòng chảy cuộc đời trong nghiên cứu xã hội học
Phương pháp dòng chảy cuộc đời đã thực hiện một cuộc phiêu lưu tuyệt vời trong các địa hạt phong phú Âm thầm đến với dân tộc hay nhân học, như nhận xét của Bourdieu, để khai mở một lộ trình mới cho khám phá bản chất con người và tạo ra một căn cứ cho việc hình thành tri thức Cũng vậy, xã hội học tiếp nhận dòng chảy cuộc đời trong một bối cảnh rất đặc thù khi bầu khí khoa học xã hội đặt lại vấn đề phương pháp luận thực nghiệm một thời thống trị trên lục địa châu Âu Dòng chảy cuộc đời tham dự vào ngày hội lớn của khoa học xã hội và nhân văn cùng với những trào lưu mới như tương tác luận biểu tượng, một trào lưu khởi nguồn từ xã hội học Mỹ những năm 1930, hay với phương pháp luận dân tộc học, một nhánh của xã hội học do nhà xã hội học Mỹ Harold Garfinkel tạo ra vào những năm 1950 và đặc biệt phát triển vào những năm
1960 Những trào lưu này ra đời đòi hỏi một sự thay đổi đáng kể trong xã hội học : từ viễn ảnh xã hội học có sắc điệu toàn thể sang một xã hội học có âm vang nguyên tử Thực vậy, trong viễn ảnh của xã hội học toàn thể, quan tâm chính của các nhà nghiên cứu là các cơ cấu xã hội, những bộ máy tổ chức và các thiết chế Ý niệm về con người theo hình thức xã hội học vĩ mô này dựa theo quyết định luận, nhìn nhận con người như đối tượng “bị chi phối” hầu như toàn diện Trong khi đó, xã hội học theo hướng nguyên
tử chú tâm đặc biệt đến viễn ảnh chủ nghĩa cá nhân hiện đại Lăng kính xã hội học vi
mô này ưu tiên nghiên cứu cá nhân và các nhóm sơ khởi, nhìn nhận những đối tượng này như các thành tố, nguyên tử cơ bản của mọi cấu trúc xã hội, như các tác nhân và động lực của tổ chức xã hội Hình thức xã hội học này loại bỏ mọi quyết định luận máy móc để ưu tiên cho một phương pháp mới có sự tham gia của cá nhân Đây là cơ hội cho phương pháp tiểu sử thể hiện hiệu năng của nó, vì nó có khả năng giúp tiến hành một quan niệm chủ nghĩa cá nhân, đồng thời khai thác các tương quan cá nhân và xã hội Như chúng tôi đã trình bày trên, dòng chảy cuộc đời nói chung hay tiểu sử nói riêng
ra đời và chứng minh hiện hữu cá nhân, là dấu hiệu của việc con người cá nhân bước vào một tiến trình mới, tiến trình khẳng định vị trí trung tâm Dòng chảy cuộc đời có thể được xem như kết quả của tiến trình này Về vấn đề này, Maurizio Catani và Suzane Mazé cho rằng “chất liệu tiểu sử viết hay được truyền khẩu [ ] là biểu hiện đặc biệt của Chủ nghĩa cá nhân phương Tây Nó được diễn đạt trên cả bình diện tâm lý và xã hội
Trang 34bằng việc giá trị hóa bắt buộc của chủ thể tính như một dạng thức trong hệ giá trị của chúng ta”24
3.1 Lịch sử dòng chảy cuộc đời trong xã hội học
Giới nghiên cứu xã hội học đều thừa nhận đóng góp của các nhà nghiên cứu thuộc trường phái Chicago Cụ thể, hai tác giả William Thomas và Florian Znaniecki là hai nhà tiên phong về cách tiếp cận dòng chảy cuộc đời trong xã hội học William Thomas
là giáo sư Đại học Chicago, ông cùng với Florian Znaniecki, thi sỹ và triết gia người Ba Lan, đã thực hiện thành công một công trình nghiên cứu trong suốt hai năm (1918-
1920) và cho công bố với nhan đề Người nông dân Ba Lan ở Châu Âu và Châu Mỹ (The
Polish peasant in Europe and America) Công trình tập trung nghiên cứu hiện trạng tan
rã xã hội và cá nhân do tình trạng nhập cư của những người nông dân Ba Lan vào Mỹ Các tác giả thu thập một khối lượng tư liệu khổng lồ dưới các thể loại khác nhau như thư cá nhân, thư tín độc giả của báo chí, văn khố của giáo xứ, các báo cáo của cảnh sát,
và đặc biệt có một tự thuật dài của một thanh niên nhập cư Tiếp sau đó họ đưa vào phân tích các tài liệu đã thu thập được nhằm chứng minh thái độ cá nhân và các giá trị dành riêng cho những người nhập cư được khảo sát Theo các tác giả này, giải thích xã hội học chỉ trọn vẹn khi nó phải đề cập đến các sự kiện xã hội và những động cơ cá nhân
Sau một thời gian vắng bóng vì sự lấn lướt của các phương pháp điều tra bảng hỏi cũng như tính chất tộc quyền của lý thuyết hình thức và phương pháp định lượng trong nghiên cứu xã hội học, phương pháp tiểu sử trở lại vào những năm 1970 trong lĩnh vực
xã hội học cũng như trường hợp nhân học nêu trên Sự xuất hiện trở lại của phương pháp tiểu sử đã góp phần canh tân tiến trình nghiên cứu xã hội học liên quan trực tiếp đến các vấn đề khoa học luận, quan niệm chủ nghĩa cá nhân, vấn đề sử dụng và lưu trữ
tư liệu và các tác phẩm cá nhân
Sự trở lại của dòng chảy cuộc đời không chỉ chứng minh hiện tượng khao khát các hình ảnh và chứng từ, đặc biệt trong những xã hội có hệ thống truyền thông phát triển
Nó còn thúc đẩy trách nhiệm của các nhà nghiên cứu quan tâm hơn đến vai trò thiết yếu của nó Sự cần thiết để nghiên cứu “những chứng nhân cuối cùng của loại hình sống,
24
Maurizio Catani & Suzane Mazé, 1982, tr 17-18
Trang 35của những nếp nghĩ”, sự cần thiết để hiểu “những con người sinh ra trong những thập niên đầu của thế kỷ (thế kỷ XX) ; những con người ấy là những lưu chứng các giá trị lịch sử của một nền văn hoá mà ta thường gọi là văn hoá truyền thống” Đó là khẳng
tổng thể những thay đổi lạ thường trong tất cả các lĩnh vực (kinh tế-kỹ thuật và văn
hoá-xã hội), những thay đổi ấy tác động đến tất cả các hoá-xã hội phương Tây [ ] từ nửa sau thế
kỷ XX”26 Theo Franco Ferrarotti27, việc quan tâm đến dòng chảy cuộc đời trong ứng dụng xã hội học sẽ đáp ứng cho hai đòi hỏi cơ bản : thứ nhất, nó đáp ứng nhu cầu canh tân phương pháp luận đang bị khủng hoảng phổ biến vì những công cụ tầm cứu xã hội học ; phương pháp luận cổ điển của khoa học xã hội không còn vị trí ưu tiên nữa Thứ đến, nó đáp ứng đòi hỏi của một hình thức nhân học mới – như đã trình bày trên – xuất hiện trong bối cảnh của chủ nghĩa tư bản “tiến bộ” Ferrarotti nhắm đến khả năng phân tích các cấu trúc xã hội trên bình diện các hành vi ứng xử cá nhân và xã hội trong phạm
vi vi mô Dòng chảy cuộc đời cho phép thực hiện một cách thông diễn xã hội về mặt tâm lý cá nhân
3.2 Những cách tiếp cận tiểu sử trong xã hội học
Nói đến những cách tiếp cận tiểu sử có nghĩa là không có một cách tiếp cận duy nhất Phương pháp tiểu sử là phương pháp đa dạng, vì xuất phát từ những trường phái
và trào lưu khác nhau hết sức phong phú Chẳng hạn Ferrarotti với tư tưởng marxisme của Sartre, Bertaux thiên về cấu trúc luận, Catani theo tương tác luận của Max Weber hay của Louis Dumont, vv Mặt khác, một vấn đề cơ bản là các đối tượng nghiên cứu được chọn lựa tùy theo mỗi nhà nghiên cứu Kellerhals, Lazega và Troutot28, khi đặt trọng tâm vào vấn đề mức độ thực tế khả dĩ trong việc khai thác dòng chảy cuộc đời, đã đưa ra năm mức độ khác nhau:
- Xác định đặc tính xã hội của cá nhân, nghĩa là những thái độ và phẩm giá của một con người ;
- Tiếp cận được thông tin chuyên biệt ưu tiên về một thời đại, một nhóm, một không gian ;
Trang 36- Sở hữu một phương pháp lĩnh hội độc đáo về yếu tố xã hội, trong đó sự tham gia của tác nhân là cần thiết ;
- Xác định phương pháp mang tính chủ quan về tái thiết thời gian và không gian ;
- Đặc trưng hoá biểu hiện bản thân như người đối thoại Tìm hiểu cách thức chủ thể
tự xây dựng một căn tính “vì kẻ khác”, như thể anh ta biểu diễn trong kịch thoại Quan điểm này có thể gặp nơi Goffman
3.2.1 Vấn đề phương pháp luận
Các vấn đề phương pháp luận dòng chảy cuộc đời trong nghiên cứu xã hội học
thường được đặt ra liên quan đến việc phân biệt hai khái niệm : tự thuật và tiểu sử
Trong phạm vi phân biệt này, Nicolas Querloz nhìn nhận tự thuật trên cả phương diện nghĩa hẹp và nghĩa rộng của khái niệm Theo ông, tự thuật trong nghĩa hẹp là dòng chảy cuộc đời dựa trên một quyết định cá nhân và thường mang tính đơn lập Ở nghĩa mở rộng, tự thuật lại được xem như một nhu cầu cấp thiết của người làm công tác điều tra Trong khi đó, tiểu sử khi được khai thác thường mang dấu ấn của sự tương tác giữa chủ thể hoặc người kể và người điều tra hoặc người nghe
Những phân biệt trên làm ta liên tưởng đến cách đặt vấn đề của Bertaux29 khi chỉ ra
hai khái niệm récit de vie (life story) và histoire de vie (life history) Récit de vie là “câu chuyện của một cuộc đời như là một người đã sống và kể lại”, còn Histoire de vie như
là một nghiên cứu trường hợp “về một con người cụ thể, và bao gồm không chỉ cuộc đời riêng của họ mà còn tất cả những loại tư liệu khác như hồ sơ sức khỏe, hồ sơ tư pháp, kiểm tra tâm lý, các lời chứng của những người thân, vv.” Quan điểm phương pháp luận dựa trên sự phân biệt này nhằm xác định mức độ chất liệu hình thành tiểu sử : chất liệu nền tảng được xem như dòng chảy cuộc đời thuần túy đúng nghĩa và chất liệu thứ cấp bao gồm những loại tư liệu khác nhau của cá nhân
3.2.2 Nhà xã hội học và dòng chảy cuộc đời
Thu thập hay tập hợp các dòng chảy cuộc đời rồi phân loại chúng là nhằm mục đích thẩm thấu toàn diện những biểu diện khác nhau tạo nên con người cá nhân Quá trình thẩm thấu này được thực hiện từ những sự kiện được trải nghiệm và suy gẫm Trào lưu
29
Daniel Bertaux, 1980, tr 200
Trang 37di dân diễn ra mạnh mẽ đã gợi mở con đường nghiên cứu và sưu tầm các dòng chảy cuộc đời nơi các nhà xã hội học Họ muốn chứng minh quá trình hiện tại hóa tương lai
cá nhân hay các điều kiện và bối cảnh đương đầu của người di cư trước những hệ giá trị
xã hội mới cũng như cách thức cá nhân hội nhập vào những hệ giá trị đó
Như vậy, mục đích chính của nhà xã hội học là nêu ra mối quan hệ biện chứng về yếu tính xã hội, nghĩa là mối tương quan phức tạp giữa trải nghiệm của cá nhân hay của một nhóm với các điều kiện khách quan của thực tế xã hội, được xem như những tất định xã hội học và xã hội Đây là mối tương quan giữa thế giới trải nghiệm và các giá trị sống với thế giới của những cơ cấu xã hội tổng thể Về vấn đề này, Franco Ferrarotti xác định như sau :
Đòi hỏi ban đầu […] của một lý thuyết về nhân cách […] có khả năng cung cấp những điểm tham chiếu chính để, theo nghĩa thông diễn học thuần túy, miêu tả và hiểu hiện tượng xen lẫn phức tạp của những tương quan phát sinh giữa tiểu sử cá nhân, những đặc tính cơ bản của nhân cách […], nhóm gia tộc, những nhóm khác mà người ta muốn gắn kết, và cuối cùng là khung cảnh chung của xã hội với các chuẩn mực và những cơ cấu thiết chế của nó30
Cách tiếp cận dòng chảy cuộc đời cho phép nhà xã hội học xây dựng một lý thuyết
và một hình thức phân loại các yếu tố trung gian xã hội Xã hội học có khả năng giải thích hai lộ trình Thứ nhất, lộ trình từ cá nhân đến xã hội tổng thể thông qua trung gian các nhóm phụ thuộc và thông qua trung gian của những khung cảnh xã hội cũng như những cấu trúc tổ chức khác Lộ trình thứ hai đi theo chiều ngược lại, từ xã hội tổng thể đến cá nhân
Ngoài ra, cách tiếp cận dòng chảy cuộc đời, đặc biệt phương pháp tiểu sử đã giúp các nhà xã hội học trong việc tìm kiếm tham chiếu cho các cuộc điều tra Theo đó, dòng chảy cuộc đời là một hình ảnh mà người kể tự phác thảo từ cuộc đời thường của mình
và là hình ảnh chính họ cung cấp cho những ai cùng tham gia vào dòng chảy Như vậy, một mặt, dòng chảy cuộc đời thuộc một loại hình diễn đạt như kiểu dàn diễn kịch phẩm, trong đó người kể biểu diễn trong màn kịch với tất cả những đặc tính và hệ quả của diễn
trình Erving Goffman trong tác phẩm Diễn cảnh đời thường (La mise en scène de la vie
quotidienne, 1973-1979) đã nghiên cứu hết sức tỉ mỷ những tình tiết biểu diễn này của
người kể Mặt khác, dòng chảy cuộc đời xuất hiện như cách diễn đạt lược đồ của một
Trang 38
hiện tượng xã hội Trong viễn ảnh này, dòng chảy cuộc đời đối với nhà nghiên cứu xã hội học có một lợi ích khoa học quan trọng, không chỉ trên bình diện tiến trình kể về một cuộc đời, mà đặc biệt nó trở thành một sản phẩm của hệ thống diễn đạt và của các
hệ giá trị hiện hành trong xã hội liên quan đến những hoạt động thực tế hằng ngày Từ
đó, cũng như các nhà nghiên cứu nhân học, các chuyên gia xã hội học đã có thể đưa ra
đó, để hành động, cá nhân cần thiết tự xây dựng một hình ảnh về môi trường sống, tự xác định cho mình môi trường đó, và để hiểu cũng như đánh giá hành động của mình hay điều chỉnh hành động cho tương lai, anh ta cũng phải tạo ra từ môi trường một hình
ảnh, thậm chí còn truyền đạt hình ảnh đó cho người khác Như vậy, nguyên lý Hình
ảnh-Hành động đòi hỏi một tiến trình phân tích theo ba chiều kích :
- Chiều kích xã hội : con người sáp nhập vào xã hội và từ đó thực hiện các mối tương
quan đa dạng với chính mình, với người khác một cách trực tiếp hay gián tiếp, đồng thời lập định xã hội, nghĩa là xác định những hợp tổng xã hội trong đó chủ thể được thể hiện ;
- Chiều kích thời gian : con người sống trong thời gian và có tương quan với thời
gian cuộc đời mình Ở đây điều nhấn mạnh là chiều hướng của chủ thể về một giai đoạn đặc biệt trong lý lịch đời mình như quá khứ, hiện tại hay tương lai Bên cạnh
đó, con người thể hiện tương quan với lịch sử tính, nghĩa là với thời gian tính của
xã hội hoặc của thế giới chủ thể hiện hữu trong hiện tại ;
- Chiều kích không gian tưởng tượng : được kết tụ từ thực tế vì đã sống hay từ những
ước muốn, những khát vọng và cả sợ hãi
Ở một phạm vi khác, các nhà nghiên cứu tiến hành áp dụng phương pháp tiếp cận tiểu sử trong lĩnh vực xã hội học chính trị Năm 1984 Matthias Finger đặt vấn đề về « sự hình thành ý thức chính trị : những khả năng và giới hạn của nó trong xã hội hiện tại » Nghiên cứu khởi đi từ phương pháp tiểu sử Tác giả cho thấy sự nở rộ của các ý thức chính trị cá nhân, từ đó tìm hiểu các hình thức và nội dung của chúng cũng như những cách tiếp cận khoa học luận và phương pháp luận cho phép khu biệt các vấn đề đó Mục
31
Xem Nicolas Queloz, 1983, tr 171
Trang 39đích cụ thể là xác định tiến trình hình thành ý thức chính trị cá nhân thông qua các cuộc phỏng vấn tiểu sử
3.2.3 Dòng chảy cuộc đời và giá trị tri thức xã hội học
Đâu là giá trị xã hội học thông qua dòng chảy cuộc đời? Trước tiên chúng ta nghe Daniel Bertaux nhận định vấn đề như sau:
Phân tích con người không còn phải như một đối tượng để quan sát, đo tính, mà như một người truyền tin, và qua xác định như một người truyền tin nắm bắt nhiều thông tin hơn
cả nhà xã hội học điều tra về con người ấy, đó là đặt vấn đề về sự độc quyền thể chế của chúng ta về tri thức xã hội học, đó cũng là từ bỏ tham vọng về một xã hội học muốn trở thành một khoa học chính xác32
Như vậy, viễn ảnh phương pháp tiếp cận xã hội học đã bị đảo lộn khi đặt tầm quan trọng về tính chất xã hội học và giá trị tri nhận cho kinh nghiệm con người Vấn đề đặc
ra là làm sao nhận biết được tính chủ quan trong các dòng chảy cuộc đời lại có thể trở thành một tri thức khoa học Chúng ta tìm thấy lời đáp nơi nhận định của Ferrarotti :
Mỗi việc kể mang tính tự thuật đều phác họa lại một thực tế con người Trong khi đó […] mọi thực tế cá nhân của con người đều là một hoạt động tổng hợp, tổng hợp mọi bối cảnh
xã hội Một cuộc đời là một thực hành ứng với những mối tương quan xã hội (cấu trúc xã hội), nội tại và chuyển hoá chúng thành những cấu trúc tâm lý [ ] Toàn bộ hệ thống xã hội của chúng ta nằm trong tất cả những hành động, những mơ ước, hoang tưởng, công trình, thái độ của chúng ta, và toàn bộ lịch sử của hệ thống này nằm trong lịch sử cuộc đời cá nhân chúng ta33
Dù vậy, tác giả cho rằng mối tương quan cá nhân-xã hội không nên được xây dựng trên nền tảng quyết định luận máy móc Theo đó, cá nhân không phải là một hiện tượng
xã hội Nhìn từ góc độ tương quan với những thiết chế và lịch sử của một xã hội, cá nhân cho mình như một địa cực linh hoạt Thay vì phản ánh xã hội, cá nhân thích ứng vào xã hội, trung chuyển xã hội và phản chiếu nó trong một chiều kích khác, đó chính là chiều kích của chủ thể tính
32
Daniel Bertaux, 1980, tr 219
Trang 403.2.4 Tính xác thực của dòng chảy cuộc đời theo quan điểm xã hội học
Xây dựng một xã hội học mới trên nền tảng các dòng chảy cuộc đời cá nhân có trở thành một tham vọng hoang tưởng hay không khi chúng ta đều thừa nhận rằng ký ức con người đều có thể phai mờ, và con người thường có khuynh hướng chọn lựa các sự kiện sống và sắp đặt lại cuộc đời mình bằng cách loại trừ những khoảnh khắc không mấy tốt đẹp để tôn vinh ? Đây là câu hỏi quan trọng, đặc biệt được các nhà xã hội học thực nghiệm quan tâm trong các hoạt động phê bình của họ
Dưới nhãn quan xã hội học, chủ thể chắc chắn có thể bỏ quên một số sự kiện cuộc đời để tái thiết quá khứ Tuy những điểm nổi bật trong dòng chảy cuộc đời đều được hình thành trên sự thống nhất của những chọn lựa mang tính xã hội đã thực hiện Vì cơ cấu đời sống xã hội của chủ thể được hình thành từ những hình thức tái diễn thường trực Chính những tái diễn này cho phép phác thảo một lối sống, một nền giáo dục, những giá trị, tất cả đều qua kiểm chứng từ những chọn lựa của chủ thể Đây chính là hình thức kiểm chứng đầu tiên của những dòng chảy cuộc đời Tiếp theo, có thể có một khả năng kiểm chứng khác thông qua những cuộc phỏng vấn của các nhà nghiên cứu với người kể Sau đó, khả năng kiểm chứng còn được thực hiện bằng những quan sát của người làm công tác điều tra trong môi trường sống của chủ thể
Việc xác định tính chính xác hay xác thực của dòng chảy cuộc đời thường được đề cập trong thể loại chuyện kể chứng từ Tuy nhiên, khó có thể so sánh các dòng chảy cuộc đời với các tư liệu lịch sử Chúng ta cũng không thể đòi hỏi tính xác thực của chúng như trong những khoa học lịch sử
4 Dòng chảy cuộc đời theo nhãn quan sử học
Trong phạm vi nghiên cứu và vận dụng phương pháp dòng chảy cuộc đời, các nhà
sử học cũng góp phần tích cực không kém Chúng tôi nêu ra đây nghiên cứu của Pierre Jelmini như một trường hợp điển hình và tính khái lược của nghiên cứu Tác giả nhận thấy trong phương pháp dòng chảy cuộc đời một phương tiện ưu tuyển của sự tiếp xúc trực tiếp và gắn kết với những nhân vật được đề cập Từ lý thuyết đến kinh nghiệm
Jean-và tiếp xúc với giới sử gia, tác giả có tham vọng giới thiệu tình hình hiện tại của tư tưởng các nhà sử học về dòng chảy cuộc đời Đồng thời ông chứng minh sự chuyển đổi sâu sắc của khoa học lịch sử trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX