1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

An evaluation of the current situation and suggestions for the enhancement of physical eduacation at member colleges of vietnam national university, ho chi minh city (VNU HCM

117 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện chủ trương đổi mới đó Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đề ra Chỉ thị 36/CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 1994 về việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho học sinh –

Trang 1

TÓM TẮT

Công tác GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp nói chung, các trường thuộc ĐHQG-HCM nói riêng còn rất nhiều bất cập Việc nghiên cứu đề tài này của chúng tôi mang tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất

ở các trường thành viên thuộc ĐHQG-HCM và có thể làm cơ sở khoa học cho việc cải tiến chương trình giáo dục thể chất của ngành

Xuất phát từ lý do trên chúng tôi nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất của các trường thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh”

Mục đích nghiên cứu:

Đánh giá một cách đầy đủ thực trạng công tác giáo dục thể chất (GDTC) và

đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC tại các trường thuộc Đại học Quốc gia (ĐHQG) thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)

Kết quả nghiên cứu cho các kết luận sau:

- Thực trạng công tác giáo dục thể chất tại các trường thuộc Đại học Quốc gia là:

Về cơ sở vật chất thì trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH) có tổng diện tích phục vụ cho công tác GDTC cao nhất và trường Đại học Kinh tế Luật có tổng diện tích phục vụ cho công tác GDTC thấp nhất Về trang thiết bị và dụng cụ giảng dạy thì hầu hết các trường đều đáp ứng yêu cầu chỉ có trường Đại học Kinh tế Luật là không đầy đủ

Về đội ngũ thì trường đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (ĐHKHXH&NV) có tỷ lệ giảng viên cao nhất 15 giảng viên /5.300 SV, trường Đại học Kinh tế Luật không có giảng viên TDTT biên chế Về trình độ chuyên môn có 1 tiến sĩ, 21 thạc sĩ và 8 cử nhân Về chuyên ngành đội ngũ giảng viên có chuyên ngành bóng chuyền cao nhất ở cả 3 trường; bên cạnh đó chuyên ngành cờ không có giảng viên nào

Về độ tuổi trường Đại học Bách khoa (ĐH BK) có tỷ lệ giảng viên trên 45 tuổi cao nhất là 71.24% và trường ĐH KHXH&NV thấp nhất là 13.34% Tuy nhiên trường Đại học Khoa học Tự nhiên có một giảng viên có thâm niên trên 36 năm

Về chương trình giảng dạy nội khóa trường ĐH KHXH&NV có tổng số tiết cao nhất là 150 tiết và trường Đại học Kinh tế Luật thấp nhất 75 tiết Trường Đại học Bách Khoa phân phối nội dung chương trình thành hai giai đoạn; các trường còn lại không phân ra các giai đoạn Trường ĐH BK và ĐH KHXH&NV có kiểm tra thể lực theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Về chương trình giảng dạy ngoại khóa hầu hết các trường đều chọn bóng đá

và bóng chuyền Các trường mỗi năm đều tổ chức hội thao cho sinh viên, chỉ có trường ĐH KHXH&NV hai năm mới tổ chức hội thao sinh viên 1 lần Ngoài việc tổ chức hội thao cho sinh viên thì các trường đều tham gia các giải thể thao sinh viên trong khu vực

Trường ĐH KHTN và trường ĐH KHXH&NV có qui định về giờ chuẩn giảng dạy; trong đó trường ĐH KHTN là 260 tiết và trường ĐH KHXH&NV là 400

Trang 2

tiết Lãnh đạo các trường trong khối ĐHQG đều quan tâm đến công tác giáo dục thể chất cho sinh viên; nên chế độ đãi ngộ cho giảng viên rất tốt

Giá trị trung bình chỉ số BMI của sinh viên ĐHQG-HCM 19 tuổi xếp loại bình thường theo tổ chức Y tế thế giới là (18.5 – 25)

Giá trị trung bình chỉ số công năng tim của sinh viên ĐHQG-HCM theo phân loại của Ruffier thì nam là 10.99 xếp loại trung bình và của nữ là 11.45 xếp loại kém

Thực trạng thể chất của sinh viên ĐHQG-HCM tốt hơn TBTCVN 19 tuổi ở chiều cao đứng, cân nặng, BMI (nam), công năng tim, sức mạnh nhóm cơ lưng bụng, sức mạnh chân (nữ); tương đương ở chỉ số BMI (nữ), sức mạnh chân (nam), khéo léo (nữ) và sức bền chung; kém hơn ở sức nhanh, khéo léo (nam), sức mạnh tay và độ dẻo

Thực trạng thể chất sinh viên ĐHQG-HCM tốt hơn sinh viên TP.HCM ở chiều cao đứng, cân nặng, BMI (nam), công năng tim và sức bền chung (nam); tương đương ở chỉ tiêu BMI (nữ) và sức bền chung (nữ); kém hơn ở độ dẻo, sức mạnh chân, sự khéo léo

Xếp loại thể lực nam sinh viên theo qui định của Bộ GD&ĐT: loại tốt có 131 sinh viên, chiếm tỷ lệ 22.78%; loại đạt có 128 sinh viên, chiếm tỷ lệ 22.26% và loại không đạt có 316 sinh viên, chiếm tỷ lệ 54.96%

Xếp loại thể lực nữ sinh viên theo qui định của Bộ GD&ĐT: loại tốt có 08 sinh viên, chiếm tỷ lệ 1.66%; loại đạt có 18 sinh viên, chiếm tỷ lệ 3.74% và loại không đạt có 455 sinh viên, chiếm tỷ lệ 94.59%

Đã đề xuất 18 giải pháp để nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất cho sinh viên các trường thuộc ĐHQG-HCM

Các trường thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh cần thống nhất về thời lượng của chương trình GDTC theo quy định của Bộ GD&ĐT

Cần giảm số lượng giờ chuẩn của cán bộ giảng dạy GDTC ngang với cán bộ giảng dạy các môn khác

ĐHQG-HCM cần triển khai việc thành lập Trung tâm GDTC nhằm tập trung toàn bộ lực lượng cán bộ giảng viên chuyên ngành GDTC, cũng như tận dụng được điều kiện cơ sở vật chất hiện có tại các đơn vị trực thuộc ĐHQG-HCM phục vụ cho công tác GDTC

Trang 3

ABSTRACT

Physical education in universities, colleges and technical schools in general, and the particular in Vietnam National University Ho Chi Minh City, there are many shortcomings The research, it brings to us the urgency and practical significance The research results will contribute to improve the quality of thephysical education in the universities of the National University Ho Chi Minh City and they can do scientific basis for the improvement of the program of the physical education

From the reason, we research on the subject:

“An Evaluation of the Current Situation and Suggestions for the Enhancement of Physical Education at Member Colleges of Viet Nam National University, Ho Chi Minh city (VNU-HCM)”

Research objectives:

Adequately assess the status of physical education and propose some solutions in order to contribute to improving the quality of physical education at the universities of Vietnam National University Ho Chi Minh City

- Situations of physical education at the universities of theVietnam National University are:

For the material facilities, the University of Natural Sciences has a total of the area to serve for physical education with the largest and University of Economics and Law has the area for the work with the smallest In terms of equipment and teaching aids, most universities are satisfied but the University’s Economics Law is incomplete

For staff, the University of Social Sciences and Humanities has the rate of the lecturers with the highest, (15 / 5300st) University of Economics and Law does not have fulltime lecterers in the physical education; on the professional level, the univesity has 1 doctor, 21 masters and 8 bachelors For specialized teaching, the staff has professional volleyball with the highest in all the other universities; besides, specialized teacher of Chinese chess is not

For age, Polytechnic University has the rate of lecturers in 45 years working with the highest is 71.24 percentage and the University of Social Sciences and Humanities has the lowest is 13:34 percentage However, the University of Natural Sciences has a lecturer with over 36 years in seniority

About the curriculum, University of Social Sciences and Humanities has a total of the highest period is 150 and University of Economics and Law has he lowest is 75 periods Polytechnic University distributes programming content in two phases; the remaining universities do not divide into stages Polytechnic University and the University of Social Sciences and Humanities have tests of the physical force according to the Ministry of Education and Training

For the curriculum of the extracurricular, all the universities choose soccer and volleyball The universities are held sports for students each year, but the University of Social Sciences and Humanities organizes the sports one in two years

In addition to organizing the workshops for the students, all the universities participate all the prizes of sports for student in the region

Trang 4

Univesity of Natural Sciences and the University of Social Sciences and Humanities regulate the standard of teaching hours for the teacher in a year; including, the University of Natural Sciences is 260; University of Social Sciences and Humanities is 400 Leaders of university in the National University are interested in physical education for students; remuneration should give very well for the trainers

The average value of BMI of the students in the National University is 19 years old The normal, according to the World Health Organization, is 18.5 – 25

The average values of the indicator function of the heart of the students is classified by Ruffier that the male is 10.99 and the average grading of women are classified as poor with 11:45

Physical force of the students in Vietnam National University Ho Chi Minh City is better than students in the others as height, weight, BMI (male), the heart function and general strength (male); it is equivalent in the BMI target (women) and general endurance (female); it is less than in the viscosity, leg strength, and dexterity

Sort of physically male students as prescribed by the Ministry of Education and Training, the good kind has131 students, accounting for 22.78 %; the pass has

128 students , the proportion with 22:26 %; in addition, the weak has 316 students, accounting for 54.96 %

Sort of the force of female students as prescribed by the Ministry of Education and Training, the good has 08 students, accounting for 1.66 %; the reach has 18 students, accounting for 3.74 %; the weak has 455 students, accounting for 94.59 %

We have 18 solutions to improve the quality of physical education for students of the Vietnam National University Ho Chi Minh City

The univerities of the Vietnam National University need to agree on the duration of the physical education program prescribed by the Ministry of Education and Training

It should reduce the number of the standard time of the teaching physical education to be equal with the other subjects

VNU - HCM should implement the establishment of a center of physical education to focus on entire cadre of the professional trainers, as well as taking the conditions of facilities existing in the affiliated units of VNU- HCM for service of the physical education

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG Bảng 3.1: Thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDTC tại các trường

Bảng 3.5: Bảng tổng hợp chế độ công tác đối với giảng viên

Bảng 3.6: Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên ĐHQG TP Hồ Chí

Minh

Bảng 3.9: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất nam sinh viên

ĐHQG TP.Hồ Chí Minh với nam sinh viên TP.Hồ Chí Minh 19 tuổi và TBTCVN

19 tuổi

Bảng 3.10: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ sinh viên

ĐHQG TP.Hồ Chí Minh với nữ sinh viên TP.Hồ Chí Minh 19 tuổi và TBTCVN 19 tuổi

Bảng 3.11: Đánh giá thể lực nam sinh viên ĐHQG TP HCM theo qui định

53/2008/BGD&ĐT

Bảng 3.12: Đánh giá thể lực nữ sinh viên năm thứ nhất ĐHQG TP HCM theo qui

định 53/2008/BGD&ĐT

Bảng 3.13: Kết quả phỏng vấn lựa chọn các giải pháp nâng cao chất lượng GDTC

cho sinh viên các trường thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái nam sinh viên ĐHQG-

HCM giữa các trường với nhau

Biểu đồ 3.2: Sự chênh lệch các chỉ tiêu hình thái nam sinh viên ĐHQG-HCM giữa

các trường với nhau

Biểu đồ 3.3: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu chức năng nam sinh viên

ĐHQG-HCM giữa các trường với nhau

Biểu đồ 3.4: Sự chênh lệch các chỉ tiêu chức năng nam sinh viên ĐHQG-HCM giữa

các trường với nhau

Biểu đồ 3.5: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu thể lực nam sinh viên

ĐHQG-HCM giữa các trường với nhau

Biểu đồ 3.6 Sự chênh lệch các chỉ tiêu thể lực nam sinh viên ĐHQG-HCM giữa các

trường với nhau

Biểu đồ 3.7: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái nữ sinh viên

ĐHQG-HCM giữa các trường với nhau

Biểu đồ 3.8: Sự chênh lệch các chỉ tiêu hình thái nữ sinh viên ĐHQG-HCM giữa các

trường với nhau

Biểu đồ 3.9: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu chức năng nữ sinh viên

ĐHQG-HCM giữa các trường với nhau

Biểu đồ 3.10: Sự chênh lệch các chỉ tiêu chức năng nữ sinh viên ĐHQG-HCM giữa

các trường với nhau

Biểu đồ 3.11: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu thể lực nữ sinh viên ĐHQG-HCM

giữa các trường với nhau

Biểu đồ 3.12: Sự chênh lệch các chỉ tiêu thể lực nữ sinh viên ĐHQG-HCM giữa các

trường với nhau

Biểu đồ 3.13: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái nam sinh viên

ĐHQG-HCM với TBTCVN 19 tuổi và sinh viên Tp Hồ Chí Minh

Biểu đồ 3.14: So sánh giá trị trung bình chỉ tiêu công năng tim của nam sinh viên

ĐHQG-HCM nam SV TP.HCM và TBTCVN 19 tuổi

Trang 8

Biểu đồ 3.15: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể lực của nam SV

ĐHQG TP HCM với nam SV TP.HCM và TBTCVN 19 tuổi

Biểu đồ 3.16: Sự chênh lệch các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nam sinh viên

ĐHQG-HCM nam SV TP.HCM và TBTCVN 19 tuổi

Biểu đồ 3.17: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu hình thái nữ sinh viên

ĐHQG-HCM 19 tuổi với TBTCVN 19 tuổi và sinh viên

Tp Hồ Chí Minh

Biểu đồ 3.18: So sánh giá trị trung bình chỉ tiêu công năng tim của nữ sinh viên

ĐHQG-HCM nam SV TP.HCM và TBTCVN 19 tuổi

Biểu đồ 3.19: So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể lực của nữ sinh

viên ĐHQG TP HCM nam SV TP.HCM và TBTCVN 19 tuổi

Biểu đồ 3.20: Sự chênh lệch các chỉ tiêu đánh giá thể chất của nữ sinh viên

ĐHQG-HCM nam SV TP.ĐHQG-HCM và TBTCVN 19 tuổi

Trang 9

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Khoa học và Công nghệ ĐHQG TP HCM, Ban Giám hiệu cùng với Phòng Quản lý Khoa học và Dự án trường ĐHKHXH&NV– ĐHQG TP HCM đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này

Xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm và quý Thầy Cô đồng nghiệp của các trường trong và ngoài khối ĐHQG TP HCM đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

TP.HCM, ngày 18 tháng 4 năm 2014

Chủ nhiệm đề tài

Hoàng Hà

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đảng và nhà nước luôn quan tâm, coi trọng vị trí công tác Thể dục thể thao (TDTT) đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là phát triển phong trào TDTT toàn diện và rộng khắp Giáo dục thể chất (GDTC) trong trường học là một hoạt động TDTT giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ văn hóa thể chất của dân tộc Dù bất cứ ở giai đoạn nào của cách mạng Việt Nam Đảng và Nhà nước đều đưa ra nghị quyết, chỉ thị để định hướng cho sự nghiệp phát triển TDTT, xây dựng chiến lược phát triển TDTT cho từng giai đoạn cụ thể là động lực, trung tâm của sự phát triển đầu tư cho con người là yếu tố quan trọng và quyết định đến quá trình đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước, đó là lớp người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là mục tiêu của toàn Đảng, toàn dân

và cũng là điều Bác Hồ mong ước

Con người là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là chủ thể của mọi sự sáng tạo, chủ thể của mọi của cải vật chất và văn hóa, chủ thể để xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái Như vậy, con người cần được phát triển toàn diện, phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức Chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn

xã hội nói chung, của ngành TDTT nói riêng Đó cũng là phương hướng cơ bản, quan trọng nhất của giáo dục nước ta

Trong công cuộc đổi mới của đất nước, phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy nhân tố con người Để thực hiện chủ trương đổi mới đó Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đề ra Chỉ thị 36/CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 1994 về việc đẩy mạnh

và nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho học sinh – sinh viên, trong đó nêu rõ;

“Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học, làm cho tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, thanh niên, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, cán bộ, công nhân viên chức và một bộ phận của nhân dân Phát triển rộng rãi phong trào TDTT quần chúng với khẩu hiệu: Khỏe để xây dựng

và bảo vệ tổ quốc”

Trang 11

Do đó, giáo dục thể chất và thể thao trường học thực sự có vị trí quan trọng trong sự nghiệp cải cách nền giáo dục của Đảng và Nhà nước ta Cùng với các ngành khoa học khác, GDTC và thể thao trường học thực hiện các mục tiêu về giáo dục và đào tạo, nhằm tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể lực, để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững và tăng cường an ninh, quốc phòng cho đất nước

Giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm nhằm bảo vệ, tăng cường sức khỏe, hoàn thiện thể chất, rèn luyện nhân cách và trang bị những kỹ năng vận động cần thiết cho mỗi cá nhân trong cuộc sống Thể chất và sự phát triển thể chất là một

bộ phận quan trọng của giáo dục sức khỏe Thể chất phát triển theo qui luật tự nhiên

và chịu ảnh hưởng rất lớn của giáo dục Trong đó GDTC đóng vai trò quyết định đến quá trình phát triển thể chất và tăng cường sức khỏe cho con người

ĐHQG-HCM là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học – công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nồng cốt cho hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội Hiện nay, ĐHQG-HCM gồm 06 trường đại học thành viên, 01 Viện nghiên cứu, 01 Khoa trực thuộc và một số trung tâm nghiên cứu và dịch vụ, với hơn 2.600 cán bộ giảng dạy, đang đào tạo và giảng dạy cho 51.649 sinh viên đại học chính quy

Để thực hiện tốt công tác GDTC cho các trường thuộc ĐHQG-HCM, đảm bảo cho sinh viên hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của mình, ĐHQG-HCM đã thực chương trình GDTC cho sinh viên từ nhiều năm nay, góp phần quan trọng vào việc phát triển thể chất cho sinh viên

Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, công tác GDTC ở các trường thuộc ĐHQG-HCM còn kém hiệu quả Việc thực hiện giảng dạy chương trình GDTC theo quy định của các trường còn có sự khác biệt, không thống nhất, do các điều kiện chủ quan lẫn khách quan của mỗi trường Theo thống kê của liên ngành Bộ

GD&ĐT và Tổng cục TDTT năm 2000, cho thấy: “Công tác GDTC trong nhà trường các cấp còn chưa có nề nếp, nhiều trường còn chưa tiến hành giảng dạy thể dục theo chương trình…”

Trang 12

Để góp phần đạt được mục tiêu chiến lược phát triển trên, với vị trí của mình trong sự nghiệp TDTT của đất nước, công tác GDTC trong nhà trường các cấp hiện nay cần đổi mới, từng bước hoàn thiện hệ thống tổ chức, thực hiện và nhất là cải tiến chương trình giáo dục thể chất cho phù hợp với thực tế hiện nay

Giáo dục đại học ngày nay không những trang bị khối lượng kiến thức đơn thuần mà còn có sự quan tâm đúng mức để phát triển thể chất và nhân cách cho sinh viên GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm tạo ra lớp người có năng lực, phẩm chất và có sức khỏe Đó là lớp người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức

Tuy nhiên, công tác GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp nói chung, các trường thuộc ĐHQG-HCM nói riêng còn rất nhiều bất cập Việc nghiên cứu đề tài này của chúng tôi mang tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC

ở các trường thành viên thuộc ĐHQG-HCM và có thể làm cơ sở khoa học cho việc cải tiến chương trình GDTC của ngành

Xuất phát từ lý do trên chúng tôi nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất của các trường thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh”

Mục đích nghiên cứu:

Đánh giá một cách đầy đủ thực trạng công tác giáo dục thể chất và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC tại các trường thuộc ĐHQG-HCM

Mục tiêu nghiên cứu:

- Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất (GDTC) tại các trường thuộc ĐHQG-HCM

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác GDTC tại các trường thuộc ĐHQG-HCM

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục thể chất trong trường học

Con người Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước, tinh thần lao động cần

cù sáng tạo, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học công nghệ Đây là nguồn lao động dồi dào và cũng chính là nguồn lực lớn lao của đất nước ta Ngày nay, trong điều kiện xã hội đang chuyển mình đi lên, nhu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có một thế hệ trẻ đầy năng động và sáng tạo, có phẩm chất tri thức đồng thời có năng lực vận động cao và dồi dào sức khỏe

Từ thực tiễn đó, phát triển (TDTT) nói chung và (GDTC) nói riêng là một yêu cầu khách quan và cũng là một nội dung quan trọng trong chính sách xã hội của Đảng

và Nhà nước ta

GDTC trong trường học được xem là phương tiện có hiệu quả để tăng cường sức khỏe, nâng cao thể lực cho sinh viên, những người chủ tương lai của đất nước Trong quá trình học tập, rèn luyện thân thể, cùng với sự cũng cố và phát triển các tố chất thể lực, các phẩm chất ý chí, tính tự tin, lòng dũng cảm, tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng đối thủ… cũng hình thành Chính vì vậy GDTC đã trở thành một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một

mặt giáo dục toàn diện nhằm tạo ra lớp người mới, lớp người: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”

Vào cuối tháng 3/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân tập thể dục:

“Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần sức khỏe mới thành công Mỗi một người dân khỏe mạnh, tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe Vậy nên tập luyện thể dục, bồi bổ sức khỏe, là bổn phận của mỗi một người dân yêu nước Việc đó không tốn kém, khó khăn gì, trai gái, già trẻ ai cũng nên làm

và ai cũng làm được Mỗi người lúc ngũ dậy tập ít phút thể dục, ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe Dân cường thì nước thịnh Tôi mong đồng bào ai cũng cố gắng tập thể dục Tự tôi ngày nào cũng tập”

[1] lời lẽ ngắn gọn, xúc tích nhưng nó chứa đựng những quan điểm, chủ trương,

Trang 14

đường lối cũng như tình cảm của người với non sông đất nước và đặt cơ sở nền tảng cho công tác TDTT nước nhà Vì vậy, lời kêu gọi của Bác, đã giấy lên phong

trào “Khỏe vì nước” tại nhiều nơi trong cả nước, người người cùng nhau ra sức tập

luyện thể dục thể thao

Tháng 3/1960, Bác đã tự tay viết thư gửi hội nghị cán bộ TDTT toàn miền

Bắc Người có nêu rằng: “Muốn lao động sản xuất tốt thì cần có sức khỏe, muốn có sức khỏe thì nên thường xuyên tập thể dục thể thao Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp” Đồng thời Bác còn căn dặn: “Cán bộ thể dục thể thao phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và hăng hái công tác” nhằm phục vụ sức khỏe cho nhân dân Ngoài ra người còn nhận định vai trò của thể dục thể thao trong xã hội: “Là một công tác trong những công tác cách mạng khác” [45]

Chỉ thị 48/TTg ngày 02/6/1969, nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nêu:

“Giữ gìn và nâng cao sức khỏe cho học sinh là một vấn đề lớn, phải có phương hướng và kế hoạch giải quyết toàn diện và trong thời gian dài trên cơ sở tìm hiểu đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm sinh hoạt và căn cứ vào khả năng thực tế của nước ta” [9]

Trong chỉ thị số 227/CT – TW ngày 18/11/1975 nêu: “Phấn đấu vươn lên đưa phong trào quần chúng rèn luyện thân thể vào nề nếp, phát triển công tác thể dục thể thao có chất lượng, có tác dụng thiết thực nhằm mục tiêu: Khôi phục và tăng cường sức khỏe cho nhân dân góp phần xây dựng con người mới luôn phát triển toàn diện…” [7]

Để phù hợp với giai đoạn chuyển đổi kinh tế thị trường, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Ban bí thư Trung ương Đảng đã nêu lên những đánh giá công tác TDTT trong những năm qua trong chỉ thị 36/CT – TW

ngày 24/3/1994 có nêu:“Những năm gần đây, công tác thể dục thể thao đã có nhiều tiến bộ Phong trào thể dục thể thao từng bước được mở rộng với nhiều hình thức, nhiều môn thể thao đạt thành tích đáng khích lệ, cơ sở vật chất, kỹ thuật thể dục thể thao ở một số địa phương và ngành đã được chú ý đầu tư nâng cấp, xây dựng mới Tuy nhiên, nền thể dục thể thao nước ta đang còn ở trình độ thấp, số người thường

Trang 15

xuyên tập thể dục thể thao còn rất ít, đặt biệt là thanh niên chưa tích cực tham gia tập luyện, hiệu quả giáo dục thể chất trong trường học và trong các lực lượng vũ trang còn thấp đội ngũ cán bộ thể dục thể thao còn thiếu và yếu nhiều mặt” [8]

Từ những năm nhìn nhận trên, Ban Bí Thư Trung ương Đảng đã chỉ thị Ủy ban TDTT phối hợp cùng với Bộ GD & ĐT trong việc thực hiện cải tiến chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy, đào tạo cán bộ, giáo viên TDTT cho tất cả các cấp

học Trong đó chỉ thị 36/CT – TW còn có nêu: “Mục tiêu cơ bản và lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển và tiến bộ góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa cho nhân dân Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, nhằm mục tiêu làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên” [8]

Trước tình hình mới sự nghiệp thể thao cần được phát triển đúng hướng theo những quan điểm sau: Phát triển thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân

tố con người Công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng vao năng xuất lao động xã hội và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, xây dựng nền TDTT có tính dân tộc, đồng thời nhanh chóng tiếp thu có chọn lọc những thành tựu hiện đại, phát triển phong trào TDTT

quần chúng với khẩu hiệu “Khỏe để xây dựng và bảo vệ tổ quốc”

Nhận thức sâu sắc vai trò của con người trong thời kỳ đổi mới nước ta là hết sức quan trọng, nên Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc chăm lo sức khỏe của nhân dân, và việc chăm lo cho thể chất của con người là trách nhiệm của toàn xã

hội, trong đó có nêu: “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội”

Thực hiện chỉ thị của Thủ tướng chính phủ, ngày 21/4/1997, Bộ GD & ĐT

và Tổng cục TDTT đã ký văn bản thỏa thuận, đề nghị chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển TDTT trong nhà trường giai đoạn 1996 – 2000 và định hướng đến năm 2010, trong đó có nêu rõ:

Trang 16

+ Mục tiêu của GDTC trường học từ mẫu giáo đến đại học là góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện về nhân cách, trí tuệ, thể chất, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

+ Giao cho Vụ GDTC (nay là Vụ công tác học sinh sinh viên) Bộ GD & ĐT

và Vụ TDTT (nay là tổng cục TDTT) phối hợp với các chức năng, nghiên cứu hoàn chỉnh chương trình GDTC cho các cấp học, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường, từng địa phương Do điều kiện nội khóa chưa đáp ứng được nhu cầu của GDTC Bộ GD & ĐT và Tổng cục phải chỉ đạo cho các trường học, khuyến khích, hướng dẫn học sinh, sinh viên tập luyện những môn thể thao ưa thích tại trường, gia đình và các câu lạc bộ TDTT nơi cư trú

+ Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể thao theo các cấp học, đặc biệt là hội khỏe phù đổng, phát triển mạnh các câu lạc bộ thể dục thể thao và các trung tâm làm cơ sở tập luyện nâng cao thành tích một số môn thể thao trọng tâm cho học sinh, sinh viên

Trong giai đoạn mới, đứng trước thách thức đòi hỏi ngành TDTT cũng phải tích cực thay đổi cho phù hợp Trong chỉ thị số 17/CT – TW ngày 23/2/2002 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng khóa IX và phương hướng nhiệm vụ được đại hội

Đảng khóa IX xác định: “Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao, nâng cao thể trạng

và tầm vóc người Việt Nam phát triển phong trào thể thao quần chúng với mạng lưới rộng khắp, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tích cao… đẩy mạnh xã hội hóa khuyến khích nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực, có hiệu quả các hoạt động văn hóa thể thao…” [6]

Ngày 31/3/1960, Bác Hồ viết thơ gửi Hội nghị cán bộ TDTT toàn miền Bắc Trong thơ, người dạy: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần

có sức khỏe Muốn có sức khỏe phải thường xuyên tập luyện TDTT Vì vậy, chúng

ta nên phát triển phong trào TDTT cho rộng khắp”

Nhà lão học Huphơlan, thế kỷ XVIII, đã khẳng định: “Không có kẻ lười biếng nào lại trường thọ, trái lại tất cả những người có cuộc sống hoạt động và bổ ích thường là người trường thọ” Như vậy, không phải chỉ dựa trên cơ sở làm trẻ lại

một cơ thể đã già cõi, suy nhược là đã có sức khỏe và sống lâu, mà phải tìm mọi

Trang 17

biện pháp điều hoà các hệ thống cơ quan trong cơ thể để tăng cường thể lực khi cơ thể còn non trẻ

Sự quan tâm đến thể dục tức là “quan tâm đến con người, vì con người là vốn quí của xã hội, là tài sản vô giá của quốc gia” Thể dục là biện pháp hữu hiệu đem lại sức khỏe cho mọi người Xuất phát từ những quan điểm trên mà hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại điều 41 đã qui định

những quyền cơ bản của công dân Việt Nam là “Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và ý tưởng XHCN, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ tổ quốc”

Luật giáo dục được Quốc hội khóa IX Nước CHXHCN Việt Nam thông qua

ngày 02/12/1998 qui định “Nhà nước coi trọng TDTT trường học, nhằm phát triển

và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng, GDTC là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, được thực hiện trong hệ thống quốc dân, từ mầm non đến đại học”

Pháp lệnh TDTT được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X thông qua ngày 25/9/2000, tại điều 14 chương 3 qui định “TDTT trường học bao gồm GDTC và hoạt động ngoại khóa cho người học, GDTC trong trường học là chế độ GDTC bắt buộc, nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn diện cho người học Nhà nước khuyến khích TDTT ngoại khóa trong nhà trường

Vì vậy, xây dựng chiến lược giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ cần phải coi trọng

“ sức khỏe của trẻ là tài sản quốc gia, là tương lai đất nước, là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, góp phần đào tạo ra những con người có ích cho xã hội, cho tổ quốc”

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới, thì việc chăm lo sức khỏe cho con người là trách nhiệm của toàn xã hội Trong đó GDTC có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện GDTC cho mọi tầng lớp nhân dân Với mục đích phát triển tố chất thể lực phù hợp với chức năng cơ thể, quy luật về sinh lý lứa tuổi, giới tính Ở điều 6, quy chế về tổ

chức và hoạt động của ĐHQG có nêu: “ĐHQG-HCM là trung tâm đại học, sau đại

Trang 18

học và nghiên cứu khoa học và công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội”

Để thực hiện giảng dạy GDTC trong trường học đi vào quy chuẩn, Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đã ban hành quy chế 931/RLTT về công tác giáo dục thể chất

như sau: “Các trường từ mầm non đến đại học phải đảm bảo thực hiện dạy môn thể dục theo quy định cho học sinh, sinh viên” [37] Giáo dục thể chất bao gồm nhiều

hình thức có liên quan chặt chẽ với nhau Giờ học thể dục tập luyện thể dục thể thao theo chương trình, giờ tự tập của học sinh, sinh viên, vệ sinh cá nhân Chương trình thể dục và các hình thức giáo dục thể chất khác được sắp xếp phù hợp với trình độ sức khỏe, giới tính, lứa tuổi Nhà trường phải có kế hoạch hướng dẫn học sinh, sinh viên tập luyện thường xuyên tổ chức học tập ngoại khóa ở trường, ở nhà

và tham gia các hoạt động tổ chức hội thao của Nhà trường, góp phần làm cho phong trào rèn luyện thể chất ngày càng hoàn chỉnh hơn nhằm giải quyết các nhiệm

vụ giáo dục như trang bị kiến thức, kỹ năng vận động, trang bị thể lực cho học sinh, sinh viên trước khi bắt đầu cuộc sống mới

1.2 Các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Để tiếp tục giải quyết các vấn đề nghiên cứu tiếp theo cần thiết phải làm sáng tỏ và thống nhất một số khái niệm cơ bản có liên quan

Thể dục thể thao: là một bộ phận của nền văn hóa – xã hội, TDTT là sự tổng

hợp của những thành tựu của xã hội trong sự nghiệp sáng tạo nên và sử dụng hợp lý những phương tiện, phương pháp và các biện pháp chuyên môn để nâng cao sức khỏe, bồi dưỡng thể lực, trí lực của nhân dân góp phần giáo dục và phát triển con người toàn diện TDTT là một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực [30]

Giáo dục thể chất: Nguyễn Toán đã mô tả GDTC và khái niệm: “Giáo dục

thể chất là một bộ phận của thể dục thể thao Giáo dục thể chất còn là một trong những hoạt động cơ bản, có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống

Trang 19

giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người.” [30]

Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục thể chất được hiểu là:

“Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người” Giáo dục thể chất cũng như loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh, sinh viên với nguyên tắc sư phạm [49]

Thể chất: Nguyễn Toán cho rằng “Thể chất là chỉ chất lượng thân thể con

người Đó là đặt trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (trong đó có giáo dục và rèn luyện) Thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng thích ứng” [30]

Phát triển thể chất: Là quá trình biến đổi và hình thành các tố chất tự nhiên

về hình thái và chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội Hay nói cách khác, phát triển thể chất là một quá trình hình thành biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng kể cả những tố chất thể lực và năng lực vận động [30] Phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào yếu tố tạo thành và

sự biến đổi của nó diễn ra theo quy luật di truyền và các quy luật phát triển sinh học

tự nhiên theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp phương pháp và biện pháp giáo dục cũng như môi trường sống

Năng lực thể chất: Năng lực thể chất chủ yếu liên quan tới những khả năng

chức năng của hệ thống cơ quan trong cơ thể và biểu hiện chủ yếu qua hoạt động vận động Năng lực thể chất bao gồm kỹ năng vận động kết hợp với tố chất thể lực Nói một cách ngắn gọn năng lực thể chất bao gồm: Hình thái khả năng chức năng

và khả năng thích ứng

Hoàn thiện thể chất: Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cũng đưa ra khái

niệm “Hoàn thiện thể chất là mức tối ưu (tương đối) với một giai đoạn lịch sử nhất định của trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện và phát triển thể chất cần thiết khác trong đời sống; Phát huy cao độ, đầy đủ những năng khiếu bẩm sinh về thể chất của

Trang 20

từng người; phù hợp với những quy luật phát triển toàn diện nhân cách và giữ gìn, nâng cao sức khỏe để hoạt động tích cực lâu bền và có hiệu quả” [30]

Thể lực: Là sức lực của con người Theo Nguyễn Mạnh Liên: “…thể lực là

một nội dung nằm trong định nghĩa chung về sức khỏe” Tác giả cho rằng, để đánh giá thể lực cần có các chỉ tiêu về, hình thái, giải phẫu và sinh lý con người trong đó

có hai chỉ tiêu cơ bản là chiều cao đứng và cân nặng

Sức khỏe: Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khái niệm sức khỏe như sau: “Sức

khỏe là một trạng thái thỏa mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật, cho phép mọi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả” [30]

1.3 Cơ sở khoa học của giáo dục thể chất trong trường học

TDTT trường học là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe, thể lực, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên, góp phần đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước TDTT trường học còn là môi trường thuận lợi, giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước

GDTC là một quá trình sư phạm nhằm bảo vệ, tăng cường sức khỏe, hoàn thiện tố chất, rèn luyện nhân cách và trang bị những kỹ năng vận động cần thiết cho mỗi cá nhân trong cuộc sống GDTC bản thân nó là một quá trình sư phạm, tuân thủ các nguyên tắc sư phạm, đồng thời mang những đặc điểm của GDTC

Trong các trường Đại và Cao đẳng, GDTC góp phần xây dựng mục tiêu đào tạo toàn diện đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lí kinh tế và văn hóa xã hội có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp và có khả năng vận dụng TDTT vào thực tiễn lao động sản xuất sau này Công tác GDTC trong nhà trường các cấp cũng giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển TDTT của đất nước, thể hiện qua việc Đảng và Nhà nước ta sớm đưa GDTC vào chương trình giảng dạy chính khóa trong nhà trường (từ năm 1957), đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để các trường xây dựng và phát triển phong trào thể thao ngoại khóa sâu rộng: Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng

Trang 21

ngày của hầu hết học sinh – sinh viên… Hơn nữa, GDTC cho thế hệ trẻ, thực hiện theo chương trình bắt buộc và bằng việc tổ chức các hoạt động TDTT ngoài giờ học, là một trong những bộ phận quan trọng của TDTT

Nhà trường của chúng ta với mục tiêu đào tạo học sinh, sinh viên thành những công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt, người chiến sĩ tốt có kiến thức toàn diện có sức khỏe và có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực tốt để xây dựng

và bảo vệ tổ quốc thì càng phải coi trọng GDTC

Cho nên, GDTC là biện pháp tích cực nhất nhằm bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho học sinh, sinh viên, cải tạo nòi giống, đẩy mạnh sự phát triển toàn diện, nhịp nhàng, cân đối của cơ thể, tăng cường tố chất, nâng cao khả năng vận động Cũng như lời khẳng định của Xitxô – một thầy thuốc danh tiếng của Pháp vào thế

kỷ 17 cho rằng “Vận động có thể thay thế mọi thứ thuốc nhưng mọi thứ thuốc trên đời không thể thay thế được tác dụng của vận động” Thông qua GDTC, ngoài việc

bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên những đức tính dũng cảm, ngoan cường, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết, tương trợ, xây dựng thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, đồng thời còn hướng các em vào các hoạt động giải trí, vui chơi lành mạnh, bổ ích

1.3.1 Nhiệm vụ của GDTC:

Nâng cao năng lực thể lực và sức khỏe cho học sinh, sinh viên là một trong những mục tiêu chiến lược của Đảng, Nhà nước của ngành GD&ĐT nước ta trong giai đoạn ngày nay Muốn thực hiện được mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, thì nhất thiết phải coi trọng công tác GDTC trong trường học Đặc biệt là trong khối trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Trong đó, sinh viên là những nhân tố, lực lượng nồng cốt để phát triển đất nước

Bộ GD&ĐT đã ban hành qui chế số 931/RLTC về công tác GDTC trong nhà

trường là: “các trường từ mầm non đến đại học phải đảm bảo thực hiện dạy môn thể dục theo qui định cho học sinh, sinh viên” Để đạt được mục tiêu GDTC cho thế

hệ trẻ, đặc biệt là đối tượng sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, các trường cần phải giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

Trang 22

- Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ lao động sản xuất và bảo vệ tổ quốc

- Góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển toàn diện, cân đối của cơ thể Nâng cao toàn diện các tố chất phù hợp với đời sống và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, sinh viên Rèn luyện khả năng thích ứng của cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài, không chỉ thích ứng đơn giản mà còn là sự đề kháng với bệnh tật phát sinh

- Truyền thụ một số kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động cơ bản và kỹ thuật của một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện bổ trợ cho việc rèn luyện thân thể, tham gia tích cực việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội Đặc biệt chú ý bồi dưỡng tư thế cơ bản, thói quen rèn luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh

- Góp phần duy trì và củng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho sinh viên, phát triển cơ thể cân đối, hài hòa, rèn luyện thân thể đạt được những tiêu chuẩn theo qui định

- Thông qua tập luyện TDTT, góp phần bồi dưỡng các đức tính tốt (ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong khỏe mạnh, tinh thần dũng cảm, khắc phục khó khăn…)

Có thể nói rằng: một trong những nhiệm vụ cơ bản và quan trọng của GDTC

là không ngừng nâng cao sức khỏe, củng cố và duy trì thể lực cho con người Như

Mátvêép L.P (1993) khẳng định “thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của con người, trong đó có những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình GDTC”

1.3.2 Những nguyên tắc GDTC cho sinh viên:

Nguyên tắc phát triển con người toàn diện và cân đối:

GDTC là một quá trình sư phạm nhằm bảo vệ, nâng cao sức khỏe, hoàn thiện thể chất, hình thành và củng cố kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản trong đời sống, rèn luyện tính tích cực xã hội và nhân cách con người Nó là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, một di sản quí giá của loài người, góp phần tích cực hình thành nên những mẫu người phù hợp với các tiêu chuẩn do xã hội qui định Nhà trường có

Trang 23

nhiệm vụ truyền thụ lại những di sản văn hóa sức khỏe cho học sinh, sinh viên đó là một việc làm đúng quy luật

Để phát triển con người toàn diện và cân đối, phải chú ý đảm bảo sự thống nhất giữa các mặt giáo dục Mối tương quan giữa GDTC và các mặt giáo dục khác

là mối tương quan hỗ trợ lẫn nhau Cùng với GDTC, người học cần tiếp thu các mặt giáo dục khác và đồng thời qua GDTC các mặt khác cũng được phát triển Không thể tách rời giữa GDTC với tinh thần của con người Bởi vậy, sự phân chia thành các mặt thể chất, trí tuệ, thẩm mỹ, đạo đức… chỉ có ý nghĩa tương đối, tuy chúng không đồng nhất

Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ 3 nêu rõ: “Sự nghiệp giáo dục của chúng ta phải nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người lao động làm chủ nước nhà, có giác ngộ XHCN, có văn hóa và kỹ thuật, có sức khỏe, phát triển những con người toàn diện để xây dựng xã hội mới…” Yêu cầu này bắt nguồn từ sự cần thiết chuẩn bị

thể lực toàn diện cho cuộc sống, phản ánh tính qui luật tự nhiên của sự phát triển thể

chất con người P.Létsgáp, nhà lý luận GDTC nổi tiếng người Nga đã từng nói: “Chỉ

có phát triển cân đối tất cả các cơ quan, cơ thể con người mới thực sự hoàn thiện và hoàn thành được công việc lớn nhất với sự tiêu hao ít nhất về vật chất và sức lực”

Trên cơ sở đó, ưu thế phát triển những tố chất, phẩm chất trội theo yêu cầu của hoạt động chuyên môn, đồng thời vẫn đảm bảo mối quan hệ với các tố chất, phẩm chất khác

Những nguyên tắc GDTC kết hợp với các hoạt động khác

Trong lý luận TDTT, khi bàn về nguồn gốc TDTT, đã có phần trình bày về chức năng thực dụng, phục vụ cho lao động và quốc phòng trong lịch sử loài người Đặc điểm của sự thực hiện chức năng này và ảnh hưởng của chúng đến nhân cách

con người, chủ yếu phụ thuộc vào phương thức kinh tế – xã hội “Sự tự do phát triển của con người không bao giờ chung chung, mà ngược lại, lúc nào và trước hết phải gắn với chức năng hoạt động cơ bản của họ, theo một nghề nghiệp cụ thể trong đời sống Chúng ta không đào tạo con người chỉ làm vật phụ thuộc vào cái máy, nhưng cũng không phát triển họ không theo một định hướng cụ thể nào Hiểu

về điều này, cần thấy rõ sự thống nhất biện chứng giữa chúng”

Trang 24

Khi thực hiện nguyên tắc này, cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Hoạt động TDTT trước hết phải nhằm hình thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết cho đời sống Trong việc lựa chọn các phương tiện luyện tập TDTT, nếu các điều kiện, yêu cầu khác nhau, thì ưu tiên chọn các bài tập có kỹ năng, kỹ xảo vận động thực dụng

- Hiệu quả thực dụng của hoạt động TDTT không chỉ thể hiện qua vốn kỹ năng, kỹ xảo vận động phong phú tiếp thu được, mà còn ở mức phát triển đa dạng các năng lực thể chất, trong đó tố chất thể lực có vai trò quan trọng

Tác dụng nhân cách qua hoạt động TDTT: Trước hết cần thể hiện giáo dục lao động, lòng yêu nước và trách nhiệm công dân Có thể có người tuy rất khỏe, nhưng ít có ích cho xã hội, cho đất nước, hoặc thậm chí còn làm hại xã hội, đất nước nếu họ không có định hướng tốt Đây cũng là một trong những yêu cầu quan trọng trong nguyên tắc giáo dục TDTT

1.4 Cơ sở lý luận về giáo dục thể chất cho sinh viên

1.4.1.Vai trò, vị trí công tác giáo dục thể chất đối với sinh viên:

Giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm nhằm rèn luyện tố chất thể lực cho con người, đảm bảo cho người học nền tảng thể lực, chuẩn bị kiến thức cơ bản trong rèn luyện thể chất nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ sau khi ra trường đặt biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện làm việc đòi hỏi áp lực ngày càng cao như: ngành công nghệ thông tin, hàng không, không có trình độ thể lực tốt sinh viên khó hoàn thành nhiệm vụ học tập và phát huy vai trò của mình trong tương lai

Giáo dục thể chất trong nhà trường có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phong trào TDTT quần chúng phát triển và góp phần không nhỏ vào nền tảng, cơ sở cho nền TDTT nước nhà phát triển sâu rộng, bền vững và lâu dài

GDTC là một yếu tố quan trọng góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên Giúp sinh viên cảm thấy tự tin hơn trong mối quan hệ giao lưu bạn bè, đồng thời làm cơ sở phát triển trí lực Thường xuyên tập luyện TDTT có thể cung cấp đầy đủ dưỡng khí cho đại não, làm cho thần kinh ở đại não phát triển mạnh

Trang 25

Tập luyện TDTT thường xuyên giúp cho sinh viên có thể hình cân đối, sự hoàn thiện về thể hình và tư thế làm cho ngoại hình thêm đẹp phần nào cũng phản ánh mức hoàn thiện về chức năng, thể hiện một phần bộ mặt tinh thần, văn minh của dân tộc Bên cạnh đó bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ cho sinh viên trong cách nhìn nhận về cái đẹp của cuộc sống

Hoạt động TDTT sẽ giúp học sinh, sinh viên có sân chơi lành mạnh nhằm hạn chế những thói hư, tật xấu đang ngày càng phát triển sâu rộng trong lớp trẻ như rượu chè cờ bạc, cá độ, ma túy…

Qua hoạt động thể chất làm cho sức khỏe của người học được nâng lên, giúp giải tỏa bớt những áp lực, căng thẳng sau các giờ lên lớp, có tác dụng tích cực trong việc hoàn thiện phẩm chất đạo đức nhân cách lối sống cho học sinh, sinh viên Tăng cường và phát triển thể chất phục vụ tốt cho công việc học tập, đồng thời trang bị nền tảng thể lực và kỹ năng cơ bản, cũng cố trao dồi sức khỏe góp phần xây dựng thể thao nhà trường ngày càng vững mạnh và xây dựng xã hội về sau

1.4.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục thể chất trong nhà trường đại học:

1.4.2.1.Mục tiêu:

Mục tiêu của giáo dục thể chất trong nhà trường góp phần cùng với các lĩnh vực khoa học khác nhằm đào tạo người sinh viên trở thành những người công dân tốt, người cán bộ tốt, chiến sĩ tốt trong tương lai, có kiến thức toàn diện, có sức khỏe có đủ phẩm chất năng lực để phục vụ cho sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và nhân dân Bên cạnh đó giáo dục thể chất giúp cho học sinh, sinh viên hoàn thiện phẩm chất, đạo đức của con người góp phần chuẩn bị về mặt tinh thần cho người lao động sau khi ra trường GDTC còn là biện pháp tích cực nhằm bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho sinh viên, tăng cường tố chất, nâng cao khả năng vận động và giúp họ có kiến thức cơ bản về phương pháp khoa học trong tập luyện thể chất nhằm duy trì sức khỏe sau khi ra trường và nâng cao hiệu quả lao động khi nhận công tác Đó là phương pháp chiến lược quan trọng nhất của giáo dục Đại học, trong đó đòi hỏi tất cả các mặt giáo dục phải hướng tới sinh viên phát triển toàn

Trang 26

diện ở các mặt như: Đức, trí, thể, mỹ để họ trở thành những người công dân trong

xã hội mới XHCN

1.4.2.2 Nhiệm vụ:

Một trong những nhiệm vụ giáo dục thể chất là thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện cho thế hệ trẻ có sức khỏe tốt, có nếp sống lành mạnh và làm phong phú thêm kỹ năng vận động cơ bản để học tập đạt hiệu quả cao, chuẩn bị bước vào cuộc sống Có thể nói đây là một thách thức lớn phải vượt qua nhằm bảo vệ và tăng

cường sức khỏe cho thế hệ trẻ Bác đã từng nhận định: “Sức khỏe của trẻ em là tài sản quốc gia, là tương lai của đất nước, là nguồn hạnh phúc của mọi gia đình” [1]

Như vậy, giáo dục thể chất là vì con người và góp phần giáo dục đào tạo ra những con người có ích cho xã hội, cho tổ quốc Nhiệm vụ của GDTC thể hiện ở các mặt

sau đây:

+ Nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khỏe:

- Phát triển bền vững các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp vận động,…) và năng lực vận động cơ bản (đi, chạy, nhảy, leo trèo, mang vác…) nâng cao khả năng làm việc về trí tuệ và thể lực Phát triển toàn diện các năng lực thể chất hệ thống tim mạch, hô hấp…

- Thúc đẩy sự phát triển hài hòa của cơ thể, giữ gìn và hình thành thân thể cân đối, nâng cao các chức năng của cơ thể, tăng cường quá trình trao đổi chất, cũng cố và rèn luyện hệ thần kinh vững chắc [5]

- Phát triển thể chất làm sức đề kháng của cơ thể tăng lên, khả năng chịu đựng với những ảnh hưởng bất lợi của môi trường bên ngoài với cơ thể tăng, giúp phòng chống được bệnh tật

Thân thể và tinh thần, trí tuệ của con người không tách rời nhau Thể chất cường tráng, tinh lực sung mãn, sức sống dồi dào có ảnh hưởng to lớn đến trạng thái tinh thần của con người và ngược lại Vì vậy để nâng cao sức khỏe cũng cần chú ý gắng kết “khí huyết lưu thông” và “tinh thần minh mẫn” với nhau

+ Nhiệm vụ giáo dục:

Giáo dục thể chất góp phần hình thành các thói quen đạo đức, góp phần bồi dưỡng các đức tính tốt Ý thức tổ chức kỹ luật, tinh thần dũng cảm, khắc phục khó

Trang 27

khăn, tinh thần tương thân tương ái giữa con người với nhau Phát triển trí tuệ, thẫm

mỹ, chuẩn bị thể lực cho sinh viên đi vào cuộc sống lao động sản xuất và cuộc sống sau này

+ Nhiệm vụ giáo dưỡng:

- Hình thành vốn quan trọng ban đầu về kỹ năng kỹ xảo vận động cho sinh viên, phát triển tính hứng thú và nhu cầu rèn luyện thân thể cường tráng

- Hình thành thói quen tự tập luyện TDTT hằng ngày của sinh viên, phát triển tính hứng thú và nhu cầu rèn luyện thân thể cường tráng

Có thể nói, vật chất là nguồn gốc của sự sống, cơ thể là cơ sở của tâm hồn trí tuệ, giữa vật chất và tinh thần có mối quan hệ biện chứng hai chiều rất chặt chẽ với nhau Cơ thể cường tráng nuôi dưỡng cho một tinh thần đẹp đẽ, ngược lại, tinh thần đẹp đẽ làm cho cơ thể có điều kiện tự bảo vệ và phát triển, nguyên Thủ tướng Phạm

Văn Đồng đã từng nói: “Muốn có sức khỏe phải làm nhiều việc, trong đó có việc cực kỳ quan trọng là phải có thể dục, phải có thể thao” Giáo dục thể chất là một

bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng thể, một yêu cầu tự nhiên và là nội dung không thể thiếu được của nền giáo dục toàn diện

Giáo dục thể chất và thể thao trường học duy trì và cũng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho sinh viên, rèn luyện thân thể, đạt tiêu chuẩn thể lực, trang

bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về nội dung, phương pháp tập luyện, kỹ năng vận động và kỹ thuật động tác một số môn thể thao, rèn luyện sinh viên có ý thức tổ chức kỹ luật, tinh thần tập luyện, tinh thần tập thể, xây dựng lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân thể [45]

GDTC là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, là di sản quý giá của loài người và là sự tổng hòa những thành tựu xã hội trong sự nghiệp sáng tạo và sử dụng những biện pháp chuyên môn để hoàn thiện thể chất con người, nâng cao sức khỏe, GDTC là một bộ phận của TDTT, đó còn là một trong những hình thức cơ bản, có định hướng rõ rệt GDTC là sự truyền thụ và tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý sự vận động của con người, qua đó hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết và những hiểu biết có liên quan [36]

Trang 28

Tóm lại, GDTC trường học nhằm nêu nên những người sinh viên toàn diện

“Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ của bản thân mình trong cuộc

sống hiện tại và tương lai

1.5 Sơ lược vài nét về các trường thuộc ĐHQG-HCM

ĐHQG-HCM được thành lập ngày 27 tháng 01 năm 1995 theo Nghị định 16/CP của Chính phủ trên cơ sở sắp xếp 9 trường đại học lại thành 8 trường đại học thành viên và chính thức ra mắt vào ngày 6 tháng 02 năm 1996

Năm 2001, ĐHQG-HCM được tổ chức lại theo Quyết định số TTg ngày 12 tháng 02 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ ĐHQG-HCM cũng như ĐHQG Hà Nội có Quy chế tổ chức và hoạt động riêng Theo đó, ĐHQG-HCM là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học - công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nồng cốt cho hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

15/2001/QĐ-Hiện nay, ĐHQG-HCM gồm 06 trường đại học thành viên, 01 Viện nghiên cứu, 01 Khoa trực thuộc và một số trung tâm nghiên cứu và dịch vụ: Trường Đại học Bách khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn, Đại học Quốc tế, Đại học Công nghệ Thông tin, Trường đại học Kinh tế - Luật, Viện Môi trường - Tài nguyên, Khoa Y, Khu Công nghệ phần mềm, Thư viện Trung tâm, Trung tâm Đào tạo Quốc tế, Trung tâm Quản lý Ký túc xá, Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo, Trung tâm Lý luận Chính trị, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng, Trung tâm Ngoại ngữ, Trung tâm Dịch vụ và xúc tiến đầu tư, Trung tâm Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực Ngoài ra, Trường Phổ Thông Năng Khiếu thuộc ĐHQG-HCM chịu trách nhiệm đào tạo học sinh năng khiếu thuộc các ngành Toán, Tin học, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Văn học, Tiếng Anh

Ngày 29/4/1993 BGD&ĐT đã ban hành qui chế qui định về việc thực hiện công tác GDTC cho học sinh, sinh viên: “Đối với các trường Đại học và Cao đẳng, sinh viên học hết 5 học phần trong chương trình GDTC phải thi, kiểm tra lấy chứng chỉ môn học GDTC là điều kiện bắt buộc để thi tốt nghiệp

Trang 29

Quyết định số 230/QĐ – GDTC ngày 23/01/1989 của Bộ ĐH, THCN và dạy nghề giai đoạn 1989 – 1994 và quyết định số 3244/ GD – ĐT ngày 12/9/1997 của

Bộ trưởng Bộ GD& ĐT, bao gồm 150 tiết chia thành 5 đơn vị học trình, ứng với 5 học phần cơ bản (qui định riền cho chương trình ĐH), và tùy theo điều kiện sân bãi,

cơ sở vật chất, trường chủ động chọn các môn học tương ứng

Chương trình GDTC và hoạt động TDTT theo chương trình của Bộ GD&ĐT được các trường thành viên ĐHQG-HCM chủ động triển khai tùy theo điều kiện cơ

sở vật chất của mỗi trường

Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá về công tác GDTC cho ĐHQG-HCM Nên chúng tôi mạnh dạn chọn hướng nghiên cứu này với mục đích là góp phần xây dựng và phát triển công tác giáo GDTC ngày càng tốt hơn

1.6 Tình hình sức khoẻ, thể chất của sinh viên nước ta

Chăm lo cho thế hệ trẻ về mọi mặt, là trách nhiệm của toàn xã hội, nhằm đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực tương lai cho đất nước Sự chăm lo về nhiều mặt, trong đó có mặt quan trọng và tất yếu là chăm lo về sức khỏe và thể lực, bởi vì sự cường tráng về thể chất, không những là nhu cầu của bản thân con người, mà còn là vốn quý để tạo ra những tài sản vật chất và tinh thần cho xã hội [11], [41]

Ý thức được điều này, các nước tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền công nghiệp phát triển, vấn đề giáo dục thể chất toàn dân được Nhà nước đặc biệt quan tâm Ở nước ta cũng vậy, Nhà nước đưa vấn đề giáo dục thể chất là quốc sách và duy trì giáo dục thể chất đại học bắt buộc đối với sinh viên

Theo tài liệu của các nhà chuyên môn, hiện nay sức khỏe, thể chất của sinh viên trong các trường Đại học đã khá hơn nhiều so với các kết quả điều tra trước nay [39, tr 8] Điều này được chứng minh qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước như sau:

- Theo nhóm tác giả Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải và Vũ

Bích Huệ, trong cuốn “Thực trạng phát triển thể chất của học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ XXI” đã nhận xét: sinh viên nước ta đến năm 1998, ở lứa tuổi 18 – 22,

có chiều cao ở nam là 165.16cm, ở nữ là 154.81cm So với năm 1996, của các tác

giả trong cuốn “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”,

Trang 30

thì chiều cao của sinh viên cùng lứa tuổi ở nam là 163.97cm – 164.97cm, ở nữ sinh viên là 153.2cm – 153.8cm [39]

- Theo nhóm tác giả Hoàng Công Dân, Dương Nghiệp Chí trong bài viết:

“Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 -60 tuổi ở đầu thế kỷ 21” qua điều tra thể

chất người Việt Nam trên phạm vi toàn quốc nhóm tác giả nhận định: chỉ số phát triển chiều cao, cân nặng của người Việt Nam từ 6 – 60 tuổi, nếu so sánh những số liệu với Hằng số sinh học Việt Nam (HSSHVN) năm 1975 thì, sau hơn 25 năm; nam 20 tuổi trung bình cao lên được 6cm, nặng lên được 8 kg (năm 2001 chiều cao trung bình 165.14 ± 5.62cm, cân nặng 53.19 ± 6.02 kg; năm 1975 chiều cao 159

cm, cân nặng 45 kg) [20, tr 39 -41] So sánh với các số liệu của Bộ Y Tế khi nghiên cứu giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 của thế kỷ 20 thì chiều cao nam tuổi 20 – 24 là 163.72cm, chiều cao của nữ là 153 cm

Chỉ số công năng tim (liên quan đến chức năng tim mạch), chỉ số Quetelet, BMI ở mọi lứa tuổi của ta so với chuan quốc tế đều chỉ xếp vào loại dưới trung bình

và trung bình [20, tr 41]

Kết quả đánh giá phát triển các chỉ tiêu tố chất thể lực cho thấy sinh viên hiện nay trình độ thể lực chung tốt hơn trước đây: Nằm sấp co duỗi tay ở nữ sinh viên (1998), đạt từ 8 – 13 lần, cao hơn hẳn năm 1993; lúc đó nữ sinh viên chỉ đạt từ

4 – 7 lần [39]

Theo Nghiêm Xuân Thúc (1998), Đánh giá thực trạng thể lực sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra kết luận: số sinh viên dạt tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh rất cao: bật xa ở nam đạt 92%, nữ đạt 91.1%, ở nam co tay xà đơn đạt 72.5%; nằm sấp

co duỗi tay nữ đạt 70%

Qua các số liệu trên cho thấy, thể chất của sinh viên nước ta gần đây có sự gia tăng so với các năm trước Điều này, đã phản ánh thực tế đời sống kinh tế ổn định và các điều kiện được cải thiện của đất nước và quá trình giáo dục thể chất đúng hướng ở trong các trường Đại học, cao đẳng Tuy vậy, người Việt Nam vốn đã thấp bé lại trãi qua nhiều năm chiến tranh, do đó thể chất dù có gia tăng trong những năm gần đây, thì vẫn thấp hơn các nước trong khu vực cùng lứa tuổi

Trang 31

Tóm lại: Từ việc phân tích, so sánh tình hình sức khỏe, thể chất của sinh viên nước ta, chúng tôi rút ra nhận xét sau:

- Sức khỏe, thể chất của sinh viên nước ta tuy có tiến bộ hơn trước, song vẫn

ở mức thấp, chưa đạt yêu cầu đặt ra, đặt biệt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

- Năng lực thể lực của sinh viên ở dạng tiềm ẩn, chưa có biện pháp thích hợp

để phát huy sự nỗ lực thể chất, nhằm nâng cao trình độ thể lực chung cho họ

1.7 Các yếu tố xác định thể chất sinh viên ĐHQG-HCM

Từ khái niệm ở mục 1.1.1 cho thấy: thể chất của sinh viên ĐHQG-HCM là một khái niệm đa nhân tố, được cấu thành bởi nhiều yếu tố trong mối quan hệ thống nhất với nhau Cấu trúc này phụ thuộc vào đặc điểm phát triển thể chất của từng cá thể Đó là một quá trình hình thành, biến đổi tuần tự theo qui luật trong cuộc đời của từng người về hình thái, chức năng và cả những tố chất thể lực và năng lực vận động [29]

Từ quan điểm tra cho thấy thể chất của sinh viên được xác định bằng ba yếu

tố cơ bản: Hình thái, chức năng sinh lý và chức năng vận động

1.7.1 Yếu tố hình thái: Hình thái phản ánh cấu trúc cơ thể, được xác định

bởi trình độ phát triển, những giá trị tuyệt đối về nhân trắc và tỷ lệ của những chỉ số

đó [51, tr 21]

Mặt khác, khả năng vận động của con người phụ thuộc vào đặc điểm về thể hình:

Chiều cao và khối lượng cơ thể

Tỷ lệ của cơ thể – tỷ lệ các kích thước từng phần của cơ thể (mình, chân, tay)

Đặc điểm về cấu trúc

Các tỷ lệ và kích thước cơ thể ở mọi người cơ bản là khác nhau, không bằng nhau cả về khả năng vận động Ở cùng một trình độ thể lực, những người có khối lượng cơ thể lớn sẽ có sức mạnh cơ lớn hơn Trong khi đó sức mạnh cơ tương đối (tính trên 1 kg khối lượng cơ thể) giảm đi khi các kích thước cơ thể tăng lên Khi đi

Trang 32

độ dài bước và tần số bước phụ thuộc nhiều vào kích thước cơ thể, mà trước hết là vào độ dài chân [69, tr 147 – 148]

Các chỉ tiêu hình thái chịu sự chi phối của nhiều gien Yếu tố môi trường cũng có ảnh hưởng, nhưng chủ yếu là yếu tố di truyền quyết định, tùy mức độ có khác nhau ở từng chỉ tiêu và từng giới tính Trong các chỉ tiêu thể hình, diện tích phổi, vòng ngực, vòng cánh tay, vòng đùi và trọng lượng cơ thể có độ di truyền thấp chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường, các chỉ số khác đều có độ di truyền cao [14,

tr 10]

Chỉ tiêu chiều cao có độ di truyền rất cao (nam 75%, nữ 92%), độ di truyền phụ thuộc vào chủng tộc, gia tộc Điều đó, cho thấy ngoài yếu tố rèn luyện mỗi người còn được thừa hưởng một phần thể lực nhờ di truyền từ thế hệ trước đó Ở một chừng mực nhất định, yếu tố hình thái đặc trưng, phù hợp cho từng tố chất thể lực phát triển Hình thái phát triển cân đối, cho phép các tố chất thể lực phát triển đồng đều Ngược lại, hình thái cơ thể phát triển sai lệch sẽ dẫn đến tố chất thể lực phát triển không đồng đều, không cân đối Dễ dàng nhận thấy dạng hình thái phát triển mạnh phía thân trên, tạo ưu thế cho hai tay và vai; dạng hình thái phát triển mạnh phía thân dưới, tạo ưu thế cho hai chân Ở độ tuổi đang phát triển, chỉ tiêu chiều cao thường tỷ lệ thuận với cân nặng và một số chỉ tiêu về tố chất thể lực khác

Cân nặng là chỉ tiêu có độ di truyền thấp (nam 68%, nữ 42%) Cân nặng phản ánh mức độ phát triển các tổ chức trong cơ thể, trong đó trọng lượng cơ bắp giữ vai trò chủ đạo

1.7.2 Yếu tố chức năng sinh lý:

Các yếu tố chức năng sinh lý qui định khả năng hoạt động thể lực của cơ thể Nguyễn Ngọc Cừ cho rằng: “ khả năng hoạt động thể lực là biểu hiện tập trung của năng lực hoạt động của tất cả các cơ quan trong cơ thể con người, phản ánh khả năng thích nghi của các cơ quan trong cơ thể với lượng vận động” [15, tr 19] Khả năng chức phận của các cơ quan trong cơ thể là năng lực tiềm ẩn của mỗi con người, được phát triển, hoàn thiện nhờ quá trình giáo dục, rèn luyện và bộc lộ ra bên ngoài bằng tố chất thể lực và năng lực vận động

Trang 33

Lưu Quang Hiệp cho rằng: “Những biến đổi thích nghi diễn ra bên trong cơ thể, dưới tác động của lượng vận động, nhờ hoàn thiện sự điều khiển và phối hợp vận động giữa các hệ chức năng, trên cơ sở biến đổi sâu sắc về cấu trúc, chức phận

và sinh hóa bên trong cơ thể” [28, tr 146] Mức độ thích nghi của cơ thể với các hoạt động vận động cụ thể nào đó trong quá trình giáo dục thể chất sẽ thúc đẩy quá trình phát triển, hoàn thiện thể lực và tạo nên trình độ thể lực

Các thông số đánh giá chức năng của cơ thể con người thường dùng là: huyết áp, mạch đập, công năng tim, dung tích sống, test PWC170, test Haward, test Rombeger

1.7.3 Yếu tố chức năng vận động:

Chức năng vận động được thực hiện bởi sự điều khiển hoạt động của nhiều

cơ quan và hệ thống cơ quan trong cơ thể Mức độ đạt được trong hoạt động vận động phụ thuộc vào cấu tạo và chức năng cũng như sự hoàn thiện của chúng [26, tr 347] Trong quá trình giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao, phát triển các tố chất thể lực cũng chính là phát triển và hoàn thiện các cơ quan trong cơ thể và ngược lại

sự hoàn thiện các cơ quan trong cơ thể lại là tiền đề để các tố chất thể lực phát huy mạnh mẽ

Như vậy, yếu tố chức năng vận động là biểu hiện của khả năng hoạt động vận động cụ thể của con người, khả năng hoạt động vận động được hình thành và phát triển thông qua con đường tập luyện

Chức năng vận động được biểu hiện qua năng lực vận động và các tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động (khéo léo)

Các chỉ tiêu đánh giá năng lực vận động thường được sử dụng:

- Các chỉ tiêu đánh giá sức mạnh: Bật xa tại chỗ, bật cao tại chỗ, kéo tay xà đơn, lực bóp tay, nằm sấp chống đẩy

- Các chỉ tiêu đánh giá sức nhanh: chạy 30m XPC, chạy 30m tốc độ cao, chạy 60m, chạy 80m, chạy 100m, chạy tại chỗ, nhảy dây trong 30 giây

- Các chỉ tiêu đánh giá sức bền: chạy 5 phút tùy sức, chạy 500m, chạy 800m, chạy 1.500m, chạy 3.000m, chạy 12 phút (test Cooper)

Trang 34

- Các chỉ tiêu đánh giá độ mềm dẻo: dẻo gập thân, xoặc ngang, xoặc dọc, dẻo vai

- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng phối hợp vận động (khéo léo): di chuyển nhặt bóng, chạy con thoi 4 x 10m, chạy con thoi 8 x 8m, chạy lượn vòng, chạy zích – zắt

Trang 35

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

2.1.1 Phương pháp tham khảo tài liệu:

Phương pháp này dùng để tập hợp kiến thức, tìm hiểu xu thế, thực trạng cùng động thái của vấn đề rút ra các luận cứ khoa học về phát triển thể chất cho sinh viên Phương pháp này giúp xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài; lựa chọn phương pháp nghiên cứu; lựa chọn các nội dung đánh giá thể chất và bàn luận kết quả nghiên cứu

Nguồn tài liệu nghiên cứu bao gồm các tài liệu được ban hành bởi các nhà xuất bản, tạp chí khoa học TDTT, kỷ yếu hội nghị khoa học uy tín trong và ngoài nước như Nhà xuất bản TDTT, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Nhà xuất bản Y học, Thông tin khoa học TDTT Tài liệu trên là công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học v.v, của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến giải pháp phát triển thể chất và các tài liệu mang tính lý luận phục vụ mục đích nghiên cứu Danh mục các tài liệu nêu trên được trình bày trong "Danh mục tài liệu tham khảo"

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn:

Mục đích nhằm thu thập các thông tin về thực trạng công tác GDTC, chúng tôi phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu điều tra Đối tượng phỏng vấn gồm: Cán bộ quản lý, giáo viên chuyên trách công tác TDTT và sinh viên các trường thuộc Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh

2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm:

Quan sát quá trình tập luyện của các sinh viên các trường thuộc HCM trong các giờ học nội khóa và ngoại khóa để đưa ra các giải pháp mới nhằm nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên một cách phù hợp, đồng thời tìm hiểu thái

ĐHQG-độ học tập GDTC của sinh viên trong các giờ học

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm:

Lực bóp tay thuận (kg)

Trang 36

Mục đích: Để đánh giá sức mạnh của bàn tay thuận

Dụng cụ: Lực kế bóp tay theo kiểu Collin

Cách tiến hành: Sinh viên kiểm tra đứng 2 chân bằng vai, tay thuận cầm lực

kế đưa sang bên, tạo nên góc 450 so với trục dọc của cơ thể Tay không cầm lực kế duỗi thẳng tự nhiên, song song với thân người Bàn tay cầm lực kế đồng hồ của lực

kế hướng vào lòng bàn tay Các ngón tay nắm chặt thân lực kế, bóp hết sức của bàn tay vào lực kế, gắng sức trong vòng 2 giây Không được bóp giật cục hay động tác trợ giúp khác, bóp 2 lần, nghỉ giữa quãng 15 giây Lấy kết quả lần cao nhất, chính xác đến 0,1 kg

Nằm ngữa gập bụng (số lần/30 giây)

Mục đích: Đánh giá sức mạnh bền nhóm cơ bụng

Dụng cụ, sân bãi: Thảm cao su kích thước 1m x 2m

Cách tiến hành: Sinh viên được kiểm tra ngồi trên thảm, chân co 900 ở khớp gối, bàn chân áp sát sàn thảm, lòng bàn tay áp chặt sau đầu, các ngón tay đan chéo vào nhau, khuỷu tay chạm đùi Người giúp đỡ hộ trợ bằng cách ngồi lên mu bàn chân, đối diện với sinh viên được kiểm tra, 2 tay giữ ở phần dưới cẳng chân, nhằm không cho ban chân sinh viên kiểm tra xê dịch hoặc tách ra khỏi sàn Khi có lệnh, sinh viên kiểm tra nằm ngửa, 2 bả vai chạm sàn, sau đó gập bụng chuyển thành ngồi, 2 khuỷu tay chạm đùi, thực hiện động tác gập dao động đến 900 Mỗi lần ngã người, co bụng được tính một lần Yêu cầu sinh viên làm đúng kỹ thuật, tính số lần đạt được trong 30 giây

Bật xa tại chỗ (cm)

Mục đích: Đánh giá sức mạnh bột phát đôi chân sinh viên

Dụng cụ kiểm tra: Gồm thảm cao su giảm chấn, kích thước 1x3m Đặt một thước đo dài làm bằng thanh hợp kim (3x0,3m) Thước này được đặt trên mặt phẳng năm ngang và ghim chặt xuống thảm, tránh xê dịch trong quá trình kiểm tra Kẻ vạch giới hạn, mốc 0 của thước chạm vạch xuất phát

Cách tiến hành: Sinh viên kiểm tra đứng 2 chân mở rộng tự nhiên sao cho vững vàng, ngón chân đặt sát mép vạch giới hạn, 2 tay giơ lên cao, hạ thấp trọng tâm, gấp khớp khuỷu, gập thân, hơi lao người về phía trước, đầu hơi cúi, 2 tay hạ

Trang 37

xuống dưới, ra sau; Dùng hết sức, phối hợp toàn thân, bấm mạnh đầu ngón chân xuống đất bật nhảy ra xa (đầu ngón chân chạm mép ngoài của vạch giới hạn), đồng thời 2 tay cũng vung mạnh ra trước, khi bật nhảy và khi tiếp đất 2 chân tiến hành đồng thời cùng lúc Kết quả đo được tính bằng độ dài từ vạch xuất phát đến vệt cuối cùng của gót bàn chân ( vạch dấu chân trên thảm), thực hiện 2 lần tính lần xa nhất Đơn vị tính là cm

Một kiểm tra viên ra lệnh xuất phát bằng lời hô và bằng cờ tín hiệu ở sau vạch xuất phát Số người bấm giờ phụ thuộc vào số người chạy mỗi đợt và số đồng

hồ bấm giây có được Một kiểm tra viên theo dõi và bấm giờ Người bấm giờ đứng ngang vạch đích Sinh viên kiểm tra (chạy bằng chân không hoặc bằng giầy, không chạy bằng dép, guốc), khi có hiệu lệnh “vào chỗ”, tiến vào vạch xuất phát: Đứng chân trước, chân sau cách nhau bằng một vai, trọng tâm hơi đổ về trước, hai tay thả lỏng tự nhiên, bàn chân trước ngay sau vạch xuất phát, tư thế thoải mái Khi nghe thấy “sẵn sàng”: Hạ thấp người, đổ trọng tâm vào chân trước, đầu hơi cúi, toàn thân giữ yên, tập trung chú ý, đợi lệnh xuất phát Khi có lệnh “chạy”: Lập tức lao nhanh

về phía trước, cố gắng tới đích trong thời gian ngắn nhất Thành tích chạy được xác định là 1/10s và số lẻ từng 1/100s

Chạy coi thoi 4x10m (s)

Mục đích: Dùng để đánh giá năng lực phối hợp vân vân động

Trang 38

Đường chạy có kích thước 10x1.2m, 4 góc có vật chuẩn để quay đầu Đường chạy bằng phẳng, không trơn Để an toàn 2 đầu đường chạy có khoảng trống ít nhất 2m

Dụng cụ gồm đồng hồ bấm giây, thước đo dài, 4 vật chuẩn đánh dấu 4 góc Sinh viên kiểm tra thực hiện theo khẩu lệnh “vào chỗ-sẵn sàng-chạy” giống như thao tác đã trình bày trong chạy 30m XPC Khi chạy đến vạch 10m, chỉ cần 1 chân chạm vạch, lập tức nhanh chóng quay 1800 chạy trở về vạch xuất phát và sau khi chân lại chạm vạch xuất phát thì lại quay trở lại Thực hiện lặp lại cho đến hết quãng đường, tổng số 4 lần 10m với 3 lần quay Quay theo chiều trái hay phải là do thói quen của từng sinh viên Đơn vị tính là giây (s)

Chạy 5 phút tùy sức (m)

Mục đích: Dùng để đánh giá sức bền chung (sức bền ưa khí)

Đường chạy dài ít nhất 52m, rộng ít nhất 2m, 2 đầu kẻ 2 đường giới hạn, phía ngoài 2 đầu giới hạn có khoảng trống ít nhất 1m, để chạy vòng Giữa 2 đầu đường chạy (tim đường) đặt vật chuẩn để quay vòng Trên đoạn 50m đánh dấu từng đoạn 5m để xác định phần lẻ quãng đường (±5) sau khi hết thời gian chạy Thiết bị

đo gồm có đồng hồ bấm giây, số đeo và tích – kê ứng với mỗi số đeo

Tất cả các thao tác của kiểm tra viên và sinh viên kiểm tra tương tự như

“chạy coi thoi” khi có lệnh “chạy” đối tượng kiểm tra chạy trong ô chạy, hết đoạn đường 50m, vòng (bên trái) qua vật chuẩn chạy lặp lại trong vòng thời gian 5 phút Nên chạy từ từ những phút đầu, phân phối đều và tùy theo sức của mình mà tăng tốc dần Nếu mệt có thể chuyển thành đi bộ cho đến hết giờ Mỗi sinh viên kiểm tra đeo một số ở ngực, tay cầm một tích-kê có số tương ứng, do một tổ kiểm tra viên theo dõi số vòng chạy được Khi có lệnh dừng, lập tức thả tích-kê của mình xuống ngay nơi chân tiếp đất để đánh dấu số lẻ quảng đường chạy được, sau đó chạy chậm dần

hoặc đi bộ thả lỏng, để hồi sức Đơn vị đo quãng đường chạy được là mét (m)

Dẻo gập thân (cm)

Kiểm tra dẻo gập thân để đánh giá độ mềm dẻo của cơ, khớp hông, day chằng và độ mềm dẻo của cột sống

Trang 39

Thiết bị gồm thước đo hình chữ T Phía trên có chia thang độ cm ở 2 phía Trên thước có 1 điểm 0 làm chuẩn Từ điểm 0 chia về 2 đầu thước một đầu từ điểm

0 xuống 40cm là chiều dương (+), một đầu từ điểm 0 lên trên 10cm chiều âm (-)

Cách thức kiểm tra và công nhận thành tích: Đối tượng kiểm tra đứng trên

thước (chân đất), tư thế nghiêm, hai lòng bàn chân ép sát vào thân thước, ngón tay duỗi thẳng, lòng bàn tay úp, cuối người từ từ, gối không được co Khi đã cố gắng cuối người hết mức đầu 2 ngón tay giữa dừng ở đâu thì đó là kết quả kiểm tra của

độ dẻo

Kết quả được xác định như sau: đầu ngón giữa chưa vượt qua điểm 0 thì kết quả độ dẻo là âm (-), nếu đầu ngón giữa vượt qua điểm 0 thì kết quả độ dẻo là dương (+)

Kết quả dương là độ dẻo tốt, kết quả âm là độ dẻo kém Đối tượng kiểm tra thực hiện 2 lần lấy lần cao nhất

Chỉ số BMI:

Trang 40

Để giữ cho cân nặng tương ứng với chiều cao, tổ chức Y tế thế giới (WHO)

đã đưa ra công thức tính chỉ số khối cơ thể (Body mass Index – viết tắt là BMI) Nếu gọi W là cân nặng, tính bằng kilôgam (kg) và H là chiều cao đứng tính bằng mét (m) thì trung bình cân nặng sẽ theo công thức sau:

2.1.6 Phương pháp kiểm tra y sinh:

Công năng tim: Đây là bài test có hoạt động định lượng, là phương pháp

kiểm tra y học rất có giá trị, cho ta lượng thông tin về trình độ tập luyện của vận động viên (VĐV) cũng như tuyển chọn

Trong và ngay sau khi thực hiện một lượng vận động định lượng, VĐV nào

có trình độ tập luyện tốt hơn thì nhịp tim tăng chậm hơn và khả năng hồi phục nhanh hơn Nghĩa là sau 1 đến 2 phút nhịp tim nhanh chóng trở lại sát với nhịp tim lúc nghỉ

Phương pháp tiến hành thử nghiệm

Hướng dẫn trước cho tất cả VĐV các bước sẽ phải tiến hành Từ bước lấy mạch lúc nghỉ đến động tác đứng lên, ngồi xuống sao cho đúng nhịp đếm, khi ngồi hai gót chân phải chạm mông và gốc khi đứng phải thẳng không chùng

Ngày đăng: 23/01/2021, 10:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aulic I.V 1982: Đánh giá trình độ luyện tập thể thao (Phạm Ngọc Trân dịch), Nxb. TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trình độ luyện tập thể thao
Nhà XB: Nxb. TDTT
3. Bộ giáo dục và đào tạo 1996: Hội nghị tổng kết công tác giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông các cấp 1992 - 1996, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị tổng kết công tác giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông các cấp 1992 - 1996
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
4. Bộ giáo dục và đào tạo 2001: Quy chế giáo dục thể chất và y tế trường học, Nxb. giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế giáo dục thể chất và y tế trường học
Nhà XB: Nxb. giáo dục
6. Bộ giáo dục và đào tạo 1998: Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp
Nhà XB: Nxb TDTT
7. Bộ giáo dục và đào tạo 2000: Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp
Nhà XB: Nxb TDTT
8. Bộ giáo dục và đào tạo 2001: Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, sức khỏe trong trường học các cấp
Nhà XB: Nxb TDTT
9. Bộ đại học – Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề 1989: Chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học
10. Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền 1986: Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
11. Dương Nghiệp Chí 2004: Đo lường thể thao. Nxb. TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Nhà XB: Nxb. TDTT
12. Đặng Văn Chung 1979: Sức khỏe và bảo vệ sức khỏe, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe và bảo vệ sức khỏe
Nhà XB: Nxb Y học
13. Lương Kim Chung 1998: “Suy nghĩ về sự phát triển thể chất đối với nguồn lao động tương lai”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học thể dục thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về sự phát triển thể chất đối với nguồn lao động tương lai”, "Tuyển tập nghiên cứu khoa học thể dục thể thao
Nhà XB: Nxb TDTT
14. Nguyễn Ngọc Cừ, Dương Nghiệp Chí 2001: Nâng cao tầm vóc của cơ thể người, Tài liệu chuyên đề số 1 + 2, Viện khoa học TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao tầm vóc của cơ thể người
15. Nguyễn Ngọc Cừ và các cộng sự 1998: Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao (Tài liệu dùng cho lớp bồi dưỡng nghiệp vụ HLV các môn thể thao), Viện khoa học TDTT tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao
16. Nguyễn Ngọc Cừ và các cộng sự 1998: Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao (Tài liệu dùng cho lớp bồi dưỡng nghiệp vụ HLV các môn thể thao), Viện khoa học TDTT tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao
17. Daxưorơxki V.M 1978: Các tố chất thể lực của vận động viên, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tố chất thể lực của vận động viên
Nhà XB: Nxb TDTT
18. Hoàng Công Dân, Dương Nghiệp Chí 2006: “Xây dựng tiêu chuẩn rèn luyện thân thể mới cho học sinh và sinh viên Việt Nam”, Tạp chí khoa học TDTT, Viện khoa học TDTT số 4/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng tiêu chuẩn rèn luyện thân thể mới cho học sinh và sinh viên Việt Nam”, "Tạp chí khoa học TDTT
19. Huỳnh Thị Phương Duyên 2013, Các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn giáo dục thể chất. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Công tác giáo dục thể chất:Giá trị, thực trạng và giải pháp, trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG-HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn giáo dục thể chất
20. Dương Xuân Đạm 1987: Thể dục phục hồi chức năng, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể dục phục hồi chức năng
Nhà XB: Nxb TDTT
21. Trần Nguyệt Đán 1998: Xây dựng chỉ số đánh giá trình độ phát triển thể lực cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm Nhạc họa Trung ương, Luận án Thạc sỹ giáo dục học, Bắc Ninh - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chỉ số đánh giá trình độ phát triển thể lực cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm Nhạc họa Trung ương
22. Đại hội thể thao Đông Nam Á lần thứ 22 2003: Hội nghị khoa học thể thao Đông Nam Á Việt Nam – 2003, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị khoa học thể thao Đông Nam Á Việt Nam – 2003
Nhà XB: Nxb TDTT

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w