Ở đây những người soạn chương trình tránh dùng, như tiêu đề của một học phần, khái niệm Phương pháp sáng tác hay Phương pháp nghệ thuật vốn ra đời vào những năm 30 thế kỷ trước cùng lúc
Trang 1
DẪN NHẬP
0.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ những năm 60 thế kỷ trước đến nay, dưới nhà trường xã hội chủ nghĩa, môn Lý luận văn học (LLVH) vẫn được xem là môn học quan trọng không chỉ đối với sinh viên ngành ngữ văn mà cả các ngành
có liên quan đến văn hóa nghệ thuật Môn này thường được phân bổ đều
từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, bao gồm các học phần cơ sở và các học phần chuyên đề Riêng các học phần cơ sở, việc phân bổ giờ dạy ở các trường đại học khoa học xã hội – nhân văn và đại học sư phạm khác nhau trong khoảng từ 105 tiết đến 150 tiết Từ năm học 2005, chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo quyết định số 01 ngày 12-01-2005 quy định số giờ dạy môn cơ sở LLVH thống nhất cho tất cả các trường là 135 tiết Đối với sinh viên chuyên ngành văn học, trước khi hệ tín chỉ được áp dụng ở một số trường, môn này vẫn là một trong hai môn thi tốt nghiệp, điều đó nói lên tầm quan trọng của nó Đối với học viên cao học thì LLVH là môn cơ sở trong kỳ thi tuyển sinh và
sẽ được mở rộng, đào sâu trong các chuyên đề tiếp sau
Trong các công trình LLVH được biên soạn vào những thập niên cuối thế kỷ trước, cấu trúc của chương trình LLVH thường bao gồm các
phần: 1) Nguyên lý chung (còn gọi là Nguyên lý tổng quát hay Cơ sở lý luận chung); 2) Tác phẩm văn học; 3) Loại thể văn học; 4) Phương pháp sáng tác và trào lưu văn học (có sách thêm: Trường phái văn học)
Trang 2Ở một số công trình, phần 2 và 3 được gộp chung, xem loại thể như một phương diện cấu thành của tác phẩm Cũng có công trình cơ cấu thêm
phần Phương pháp luận nghiên cứu văn học, nhằm bổ sung kiến thức
cho sinh viên, tuy đây là một bộ môn ngày càng trở nên độc lập so với LLVH
Trong bộ chương trình khung nói trên của Bộ Giáo dục và Đào
tạo, môn LLVH bao gồm 3 phần: 1) Nguyên lý LLVH (45 tiết); 2) Tác phẩm văn học và loại thể văn học (60 tiết); 3) Tiến trình văn học (30
tiết) Ở đây những người soạn chương trình tránh dùng, như tiêu đề của
một học phần, khái niệm Phương pháp sáng tác (hay Phương pháp nghệ thuật) vốn ra đời vào những năm 30 thế kỷ trước cùng lúc với khái
niệm chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; thay vào đó bằng khái niệm
Tiến trình văn học có nội hàm rộng hơn, vốn cũng là một “đặc sản” ít
nhiều được thử thách của LLVH xô-viết mà cho đến nay vẫn được sử
Hiện nay trong các trường đại học ở nước ta đang lưu hành khoảng 10 công trình LLVH, bao gồm những bộ được dịch từ tiếng Nga, những bộ của các tác giả trong nước biên soạn hai thập niên trước nay được tái bản và những bộ mới xuất bản những năm đầu thế kỷ này
1 Trong bộ sách Teorija literatury (bốn tập), do Yu Borev chủ biên (NXB IMLI RAN, Moskva, 2001-2005), tập IV lấy tên là Tiến trình văn học, nhưng trong tập I (Văn học), sau các chương
Nhập môn lý luận văn học, Thế giới thi ca, Tính siêu nghệ thuật của văn học, Các phương pháp
và phong cách văn học, Ngôn từ nghệ thuật là chương Về khái niệm phương pháp sáng tác
Trong Teorija literatury của V E Khalizev (NXB Đại học, Moskva, 1999), tác giả vẫn dùng khái niệm “tiến trình văn học”, nhưng đặt tên chương cuối là Các quy luật phát triển của văn học
Trang 3Mỗi công trình đều có những thế mạnh và ưu điểm riêng, vì vậy các giảng viên thường giới thiệu một danh mục sách tham khảo cho sinh viên học tập môn này Theo sự khảo sát chưa đầy đủ của chúng tôi, được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay trong sinh viên các trường là bộ
LLVH của Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc
Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình Bộ này được Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành lần đầu những năm 1986-1988 gồm ba tập và đã được tái bản hai lần dưới hình thức một tập khổ lớn dày hơn 700 trang Công
trình này đã kế thừa hai bộ Cơ sở LLVH khá phổ biến trước đây của các
tác giả thuộc bộ môn LLVH các trường đại học ở Hà Nội và Vinh: một
do NXB Giáo dục (bốn tập, 1970-1971), một do NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp (ba tập, 1980-1983) ấn hành Được biên soạn ngay
“đêm trước” thời kỳ đổi mới, nên bộ sách nói trên phần nào tránh được những hạn chế của những công trình mà nó chịu ơn, đồng thời đã bổ sung vào nội dung giảng dạy những vấn đề có ý nghĩa khoa học như tư tưởng LLVH cổ ở phương Đông và Việt Nam, tính quốc tế và tính nhân loại của văn học, nhà văn và quá trình sáng tác, bạn đọc và tiếp nhận văn học…
Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của bộ môn LLVH trên thế giới cũng như trước nhu cầu của một công chúng ngày càng nâng cao về kiến văn và trình độ, chính tác giả của các bộ sách công phu và dày dặn nói trên cũng thấy cần phải viết lại về những vấn đề này với những điều chỉnh và bổ sung hợp lý Nỗ lực đó được ghi nhận qua hai công trình được xuất bản trong đầu thế kỷ 21 cùng của NXB Đại học Sư
phạm Hà Nội: Lý luận văn học (Tập I: Văn học, nhà văn, bạn đọc) do Phương Lựu chủ biên (2002) và Giáo trình lý luận văn học (Tập I: Bản
Trang 4chất và đặc trưng văn học; Tập II: Tác phẩm và thể loại văn học) do
Trần Đình Sử chủ biên (2004) Một dành cho sinh viên đại học, một dành cho sinh viên cao đẳng, cả hai công trình này đều có phần câu hỏi hướng dẫn ôn tập ở cuối mỗi chương, riêng công trình thứ hai còn bổ sung phần trích yếu tư liệu và thư mục tham khảo cho từng vấn đề
So với các học phần lịch sử văn học Việt Nam và thế giới, việc dạy và học môn LLVH có những đặc điểm và yêu cầu riêng của nó Có
lẽ sau môn triết học và mỹ học, thì đây là môn học có sức khái quát và trừu tượng hơn cả Sinh viên ngữ văn hiện nay, một mặt do nền tảng học vấn các môn khoa học xã hội và nhân văn ở trường trung học có chiều hướng sa sút, mặt khác do được tuyển vào ngày càng đông, nhất là ở các đại học dân lập, nên trình độ tiếp thu không đồng đều, yếu về tư duy khái quát, về tinh thần và phương pháp tự học, tự nghiên cứu Đa số sinh viên học LLVH như một món nợ phải trả cho nhà trường, thầy dạy
gì thì học nấy, ít chịu đọc thêm sách tiếng Việt chứ chưa nói sách tiếng nước ngoài Đó là một sự thực
Nhưng còn một sự thực khác: trong từng lớp học, bao giờ cũng có khoảng 10% sinh viên yêu thích môn LLVH Họ quan tâm đến những vấn đề trừu tượng; họ có tiếng Anh để có thể dịch những đoạn văn lý luận, phê bình mà giảng viên giao cho, có thể vào các trang web để tìm các tài liệu mà người dạy không cung cấp; họ cũng mạnh dạn đặt lại những vấn đề mà giảng viên khẳng định nếu được khuyến khích trong một không khí cởi mở của lớp học Việc dạy LLVH cần phải hướng đến những sinh viên xuất sắc đó, phát hiện ra họ và từ họ mà tác động đến cái đa số thầm lặng và trì trệ kia Ở trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – ĐHQG TP HCM, những sinh viên trong lớp cử nhân tài
Trang 5năng có thể cung cấp cho giảng viên những tài liệu mà thầy, cô không
có điều kiện cập nhật, bài thuyết trình của họ được sao chụp cho cả lớp cùng đọc trở thành kiến thức bổ sung cho bài giảng, những ý kiến thắc mắc của họ khiến giảng viên phải suy nghĩ cẩn trọng hơn về bài giảng của mình cho năm học tới…
Đánh giá hoạt động LLVH hiện nay, một nhận định được nhiều người chia sẻ là LLVH chậm trễ, nếu không muốn nói là tụt hậu, so với sáng tác LLVH không những không định hướng được cho sáng tác mà còn tỏ ra lúng túng, thậm chí bất lực trong việc lý giải, tổng kết và rút ra quy luật từ những hiện tượng mới xuất hiện trong đời sống văn học Nhận định này chắc chắn có cơ sở khách quan của nó
Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi muốn nhìn thực trạng từ một góc độ khác Đó là nên chăng, chúng ta không chỉ đặt vấn đề về sự chậm trễ của LLVH so với sáng tác mà còn – và có lẽ quan trọng hơn – là đặt vấn
đề LLVH chậm trễ so với chính nó, nghĩa là so với những yêu cầu đặt ra cho nó như một bộ môn khoa học, vừa quan hệ với sáng tác, mà cũng vừa độc lập so với sáng tác Không có sáng tác hay thì khó có lý luận - phê bình sâu sắc, điều đó không sai Nhưng trong điều kiện tương tác của những yếu tố văn hóa giữa một thế giới hội nhập như hiện nay, một nền văn học chưa có nhiều sáng tác độc đáo vẫn có thể thụ hưởng những thành tựu lý luận sâu sắc
Vả chăng, chúng ta cũng chưa đủ căn cứ để khẳng định rằng hiện nay ở nước ta, về sáng tác, có những nhà văn đi tiên phong, còn về lý luận thì các nhà khoa học lại dẫm chân tại chỗ Theo thiển ý, nói một
Trang 6cách công bằng, thì cả sự "tiên phong" lẫn sự "chậm trễ" đều có mặt ở
cả hai giới sáng tác và lý luận - phê bình
Chính vì vậy, thiết nghĩ, không phải lúc nào chúng ta cũng nên xem thực tiễn sáng tác là chuẩn mực và trình độ để lý luận và phê bình soi chiếu hay vươn tới Nói lý luận gắn liền với thực tiễn, cần hiểu đó là thực tiễn đời sống nói chung, trong đó có thực tiễn văn học, mà một trong những nhân tố quan trọng là công chúng Công chúng hiện nay đang cần được thụ hưởng những tinh hoa không chỉ trên bình diện sáng tác mà cả trên bình diện lý luận - phê bình Đến lượt nó, LLVH tác động vào thực tiễn không chỉ qua trung gian của người sáng tác mà còn qua nhiều mối quan hệ phức tạp với công chúng nói chung Nâng cao trình
độ cảm thụ, thị hiếu và phán đoán thẩm mỹ của công chúng cũng là một cách tác động tích cực vào thực tiễn
Trong chiều tác động ngược lại, vai trò của người đọc đối với sự phát triển của LLVH tuy không trực tiếp như đối với sự phát triển của sáng tác, nhưng cũng có ý nghĩa rất quan trọng Trong một điều kiện và môi trường công chúng nào đó, LLVH có đẳng cấp cao sẽ trở nên lạc lõng LLVH thiếu bản lĩnh sẽ chiều theo lỗ tai của một công chúng nông nổi, hời hợt Vì vậy lỗi để xảy ra tình trạng chậm trễ về LLVH hiện nay
có một phần thuộc về bạn đọc Sở dĩ còn tồn tại một loại lý luận - phê bình văn học gàn dở, thô lậu là vì có một bộ phận bạn đọc ưa thích loại
lý luận - phê bình đó và có một số ít tờ báo, nhà xuất bản làm bà đỡ cho
nó để "phục vụ" số bạn đọc kia
Chưa có điều kiện làm một cuộc điều tra xã hội học, với sự ghi nhận còn chủ quan của mình, chúng tôi thấy rằng tỉ lệ người đọc sách LLVH đông nhất hiện nay không phải là những nhà sáng tác mà là sinh
Trang 7viên các ngành ngữ văn và văn hóa nghệ thuật Vì vậy, nâng cao chất lượng nghiên cứu và dạy học LLVH ở các trường đại học là một điều kiện, một nhân tố quan trọng để nâng cao tính tích cực xã hội của LLVH Những người sinh viên được đào tạo căn bản về LLVH sẽ góp phần sửa chữa những khiếm khuyết trong tiếp nhận văn học hiện nay và hình thành một công chúng lý tưởng cho đời sống văn học Họ không chỉ là người đọc sách mà còn là độc giả văn học, để mượn cách phân biệt của P Vjazemski Đầu tư tâm huyết, tài năng, trí tuệ và công sức cho việc nghiên cứu và giảng dạy LLVH ở đại học là một kênh đầu tư
có hiệu quả để tác động đến sự đổi mới toàn bộ hệ thống văn học của chúng ta
Những vấn đề về khuynh hướng và trào lưu văn học được trình
bày trong phần Tiến trình văn học, là một trong bốn nội dung của môn
LLVH trong nhà trường đại học hiện nay: nguyên lý LLVH, tác phẩm văn học, thể loại văn học và tiến trình văn học Trong quá trình đổi mới nội dung giảng dạy LLVH, các công trình về ba nội dung trên đã được các cơ sở đại học biên soạn lại với nhiều thay đổi về quan niệm, nhiều
bổ sung về kiến thức Riêng phần « Tiến trình văn học » với những vấn
đề về các khuynh hướng và trào lưu văn học, việc cải tiến nội dung và cấu trúc chưa được thực hiện thỏa đáng Việc này thể hiện không chỉ trong việc nghiên cứu mà còn trong thực tiễn giảng dạy
Thật vậy, việc nghiên cứu những vấn đề về khuynh hướng và trào lưu văn học hiện nay có nhiều điều cần bổ sung: việc đánh giá một số trào lưu bị xếp vào chủ nghĩa hiện đại (chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa hiện sinh ) chưa thật khách quan
Tư liệu và dẫn chứng khoa học chưa phong phú Những thông tin và
Trang 8nhận định mới về tiểu thuyết mới, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa hậu hiện đại cần được cập nhật Nhiều luận điểm khoa học, trải qua thử thách của thời gian, nên được điều chỉnh Trong nhà trường, nội dung giảng dạy các vấn đề khuynh hướng và trào lưu giảm sức thu hút đối với sinh viên, học sinh cao học và khoảng cách giữa đại học Việt Nam và đại học thế giới trong lĩnh vực này ngày càng xa Trong tình hình đó, đầu tư thời gian và sức lực cho việc nghiên cứu những vấn đề khuynh hướng và trào lưu văn học là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho nhà trường đại học
0 2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Để nghiên cứu những khuynh hướng và trào lưu văn học, hiện nay, chúng ta có thể kế thừa và tiếp thu nhiều kết quả và kinh nghiệm của những học giả ở Việt Nam và trên thế giới
Ở Việt Nam, từ đầu những năm 60 thế kỷ trước đến nay đã có hơn mười công trình nghiên cứu về khuynh hướng và trào lưu văn học đã công bố của Nguyễn Lương Ngọc (chủ biên), Phương Lựu (chủ biên),
Hà Minh Đức (chủ biên), Nguyễn Văn Trung, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử, Phùng Quý Nhâm, Đỗ Văn Khang, La Khắc Hòa, Trần Đăng Xuyền Những công trình đó đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp nghiên cứu, giảng dạy khuynh hướng và trào lưu văn học và có tác động tích cực đến đời sống văn học nói chung Tuy nhiên, đa số những công trình đó được nghiên cứu cách nay ít nhất cũng một vài thập niên, nhiều nội dung cần được bổ sung cho kịp với sự phát triển của tư tưởng lý luận và thực tiễn sáng tác hiện nay
Trang 9Ở nước ngoài, Nga là nước có thế mạnh về việc nghiên cứu các khuynh hướng và trào lưu văn học, trước đây có nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề có liên quan, đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, đã xuất bản, như các công trình của các giáo sư ở trường Đại học Quốc gia Moskva (G Pospelov, P Nikolaev, P Rudneva ), các học giả ở Viện Văn học thế giới mang tên Gorki (N Ghei, G Belaja, Yu Borev, S Botcharov ) Đầu thế kỷ này, các nhà khoa học Nga đã nghiên cứu lại những vấn đề này và cho ra mắt các công trình mới của Yu Borev (chủ biên), V Khalizev
Trung Quốc cũng là nước có nhiều đổi mới trong việc nghiên cứu những vấn đề khuynh hướng và trào lưu văn học qua các công trình xuất bản gần đây của Lý Trạch Hậu, Đồng Khánh Bính, Đồng Học Văn và Trương Vĩnh Cương
Trong khi đó, các nước phương Tây đã xuất bản một số lượng rất lớn các công trình nghiên cứu về những vấn đề khuynh hướng và trào lưu văn học (chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa tân hiện thực, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa hậu hiện đại ), trong đó có những công trình thực sự có giá trị của E Larrissy, J.-P Richard, Ch Rozen, H Zerner mà chúng ta mới có điều kiện tiếp cận gần đây Trong giai đoạn mở cửa và hội nhập quốc tế hiện nay, trên quan điểm và phương pháp luận mác-xít, chúng ta có thể tiếp thu có chọn lọc các thành tựu trong những công trình này để nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy các khuynh hướng và trào lưu văn học ở nước ta
Trang 10Trước yêu cầu đổi mới nghiên cứu và giảng dạy, việc triển khai một số đề tài nghiên cứu về những vấn đề LLVH cơ bản, trong đó đầu
tư thích đáng cho những vấn đề về khuynh hướng và trào lưu văn học,
là việc làm cần thiết Theo nhận xét của chúng tôi, trong các công trình LLVH, phần gây khó khăn và lúng túng nhất hiện nay là "Tiến trình văn học" Như trên đã nói, thuật ngữ này được khai sinh từ LLVH Xô-viết
và việc luận giải cũng chưa thật rõ ràng Nếu còn băn khoăn, ta có thể đặt tên phần này là "Các khuynh hướng và trào lưu văn học" (hay "Các
hệ thống nghệ thuật" như cách dùng của I Volkov) Nhưng điều đáng nói hơn cả là không thể chỉ dạy các trào lưu cổ điển, lãng mạn, hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa như những năm 70 về trước, mà cũng không thể đưa các trào lưu khác vào chung "các loại chủ nghĩa hiện đại" để tiện phê phán như những năm 80 về sau Theo thiển ý, sinh viên cần được tìm hiểu một cách khách quan các trào lưu đã để lại dấu
ấn trong tiến trình văn học, như những hiện tượng lịch sử có tính quy luật
0.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Về mặt lý luận, đề tài này trình bày hệ thống những luận điểm và
khái niệm then chốt để tìm hiểu các khuynh hướng và trào lưu văn học như một vấn đề của lý luận văn học ; nghiên cứu hoàn cảnh ra đời, lịch
sử hình thành và phát triển, đặc điểm và thành tựu của những khuynh hướng và trào lưu văn học chủ yếu trong lịch sử văn học thế giới và văn học Việt Nam, với những tác gia và tác phẩm tiêu biểu
- Về mặt thực tiễn, đề tài vận dụng kiến thức về khuynh hướng và trào lưu văn học vào việc phân tích, đánh giá một số hiện tượng văn học
Trang 11cụ thể; từ đó nắm được tính quy luật trong sự phát triển của văn học Việt Nam và thế giới, mối quan hệ giữa truyền thống và cách tân, tính
ổn định và tính biến đổi, tính dân tộc và tính quốc tế thông qua các hiện tượng văn học tiêu biểu
0.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Như đã xác định ở tên đề tài, công trình này nghiên cứu chủ yếu theo phương pháp loại hình Nghiên cứu các khuynh hướng và trào lưu văn học theo phương pháp loại hình vừa bảo đảm tính mới của một công trình nghiên cứu hiện đại, vừa có tính chất kế thừa những thành tựu của
lý luận văn học theo quan điểm mác-xít
Trước hết chúng tôi muốn khẳng định rằng phương châm mà chúng tôi coi trọng là "kế thừa gắn liền với đổi mới, kế thừa để đổi mới
có hiệu quả và đổi mới để kế thừa trong sáng tạo" Phương châm này liên quan đến LLVH trong nhà trường mà thực tiễn đã chứng minh rằng những gì gắn liền với lĩnh vực giáo dục nếu kế thừa thuần tuý hoặc đổi mới thuần tuý thì rất khó thành công
0.5 CẤU TRÚC CÔNG TRÌNH
Công trình gồm có phần Dẫn nhập, Kết luận và bảy chương:
- Chương 1: Tiến trình văn học – một vấn đề lý luận
Chương này trình bày và lý giải những vấn đề có liên quan đến khái niệm “Tiến trình văn học” như một phương diện của lý luận văn học: văn học như một hệ thống đang vận động và phát triển; vấn đề phân kỳ lịch sử tiến trình văn học; sự thay đổi cấu trúc tiến trình văn học trong những thời kỳ chuyển tiếp; quan điểm lịch sử và nguyên tắc
Trang 12nghiên cứu khuynh hướng và trào lưu văn học; tính cộng đồng loại hình trong sự phát triển của văn học
- Chương 2: Những khái niệm liên quan đến khuynh hướng và
trào lưu văn học
Chương này nghiên cứu và trình bày nội hàm và ngoại diên của những khái niệm có liên quan đến việc nghiên cứu các khuynh hướng
và trào lưu văn học: kiểu sáng tác (phương thức sáng tác); khuynh hướng văn học ; trào lưu văn học ; trường phái văn học ; phương pháp
- Chương ba : Những khuynh hướng và trào lưu tiền hiện
đại
Chương này này trình bày lịch sử hình thành, những đặc điểm chủ yếu và những tác gia tiêu biểu của các trào lưu tiền hiện đại: chủ nghĩa
cổ điển, chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực
- Chương bốn : Những khuynh hướng và trào lưu hiện đại Chương này này trình bày lịch sử hình thành, những đặc điểm chủ yếu và những tác gia tiêu biểu của các trào lưu hiện đại: chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa tân hiện thực
- Chương năm : Khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa và những
trào lưu tiền phong
Chương này này trình bày lịch sử hình thành, những đặc điểm chủ yếu và những tác gia tiêu biểu của khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa và các trào lưu tiền phong: chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa đa đa, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa hiện sinh
Trang 13- Chương sáu : Những khuynh hướng và trào lưu hậu hiện
đại
Chương này này trình bày lịch sử hình thành, những đặc điểm chủ yếu và những tác gia tiêu biểu của các trào lưu hậu hiện đại: tiểu thuyết mới, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa hậu hiện đại
- Chương bảy: Tính quy luật trong sự phát triển của văn
học
Chương này tổng kết quy luật trong sự phát triển của các khuynh hướng và trào lưu văn học Truyền thống và cách tân trong tiến trình văn học Quy luật kế thừa và đổi mới của văn học Tính thống nhất và
đa dạng của văn học dân tộc qua sự phát triển của các khuynh hướng
và trào lưu văn học
- Kết luận
Từ vấn đề sự tiến bộ trong văn học, dự báo hướng phát triển của các khuynh hướng và trào lưu trong tương lai
Trang 14Chương 1
TIẾN TRÌNH VĂN HỌC – MỘT VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Văn học như một hệ thống đang vận động và phát triển
Nhìn trên bề mặt, chúng ta thấy đời sống văn học của dân tộc cũng như của thế giới là một thực thể rất đa dạng với nhiều hiện tượng, nhiều sự kiện khác nhau, vừa kế tục, vừa đối nghịch, mâu thuẫn và phủ định nhau Nhưng đi sâu vào thế giới phức tạp đó, có thể khái quát thành những hệ thống nhất định với những tác gia và tác phẩm có tính chất đại diện, những khuynh hướng, trào lưu và trường phái, những loại thể và phong cách Chúng ta cũng có thể rút ra từ đó những quy luật chi phối sự vận động của văn học Khoa nghiên cứu văn học có nhiệm vụ
và có khả năng nghiên cứu phương diện sinh thành và phát triển đó của văn học
“Tiến trình văn học” là thuật ngữ lý luận văn học dùng để chỉ: (1) Đời sống văn học của một đất nước trong một thời kỳ lịch sử nhất định với toàn bộ những hiện tượng và sự kiện của nó;
Trang 15(2) Sự phát triển theo bề dày lịch sử của văn học trên quy mô toàn cầu, toàn thế giới Tiến trình văn học theo nghĩa thứ hai của thuật ngữ có thể trở thành đối tượng của khoa nghiên cứu văn học so sánh1 Như vậy là với thuật ngữ “tiến trình văn học”, lý luận văn học – với tư cách là bộ môn hợp thành của khoa nghiên cứu văn học – không tách rời với lịch sử văn học mà gắn liền một cách mật thiết với lịch sử văn học Ở đây, những khát quát lý luận là sự đúc kết từ thực tiễn văn học sinh động, đồng thời góp phần soi sáng cho những vấn đề của lịch
sử văn học
Sự sáng tạo và phát triển thuật ngữ “tiến trình văn học” là một đóng góp quan trọng của các nhà lý luận văn học ở nước Nga Trước đây, trong các công trình lý luận văn học, phần này thường được định danh là “Phương pháp sáng tác và trào lưu văn học” hay “Hệ thống nghệ thuật” Tuy nhiên khái niệm “phương pháp sáng tác” hay “phương
“hệ thống nghệ thuật” thì thiên về tính ổn định, tĩnh tại mà ít cho thấy sự vận động và phát triển của văn học
Trong các công trình xuất bản gần đây, các nhà lý luận văn học Nga thống nhất dùng thuật ngữ “tiến trình văn học” theo nghĩa như trên,
1 Borev Yu (chủ biên): Teorija literatury Literaturnyj protsess (Lý luận văn học Tiến trình
văn học) IMLI RAN, “Nasledie”, Moskva, 2001, tr
2 Xem Trần Đình Sử:
Trang 16xem như học phần quan trọng kết thúc bộ giáo trình lý luận văn học ở bậc cơ sở1
Tiến trình văn học là một bộ phận hữu cơ trong sự phát triển nghệ thuật của nhân loại Sự vận động của tiến trình văn học được hình thành
do ảnh hưởng và tác động của xã hội, nhưng nó cũng có những quy luật nội tại của nó Sự tác động của những nhân tố ngoại tại và nội tại này làm hình thành nên tiến trình văn học
Trong thế giới, cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần đều vận động và thay đổi Bản thân thế giới cũng không ngừng vận động và thay đổi, các hiện tượng của nó cũng không ngừng biến hoá Thế giới là một tiến trình mà sự vận động và phát triển lịch sử của văn hoá là một bộ phận của tiến trình đó, và đến lượt mình, tiến trình văn học là một bộ phận trong sự vận động và phát triển của văn hoá
Quan niệm văn học như một hệ thống đang vận động và phát triển cho phép chúng ta hình dung trung thực và đầy đủ về toàn cảnh sự phát triển văn hoá tinh thần của nhân loại và tạo điều kiện giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn bản chất của văn học cũng như giải thích các tác phẩm nghệ thuật một cách thuyết phục hơn
1.2 Vấn đề phân kỳ lịch sử tiến trình văn học
Nghiên cứu tiến trình văn học từ góc độ lý luận là nghiên cứu một cách lý thuyết, dưới hình thức khái quát, nhưng không tách rời với tư
Trang 17liệu cụ thể của lịch sử văn học, với những sự kiện tiêu biểu trong sự phát triển của nó Ở đây, cần phải chú ý đến sự phân kỳ tiến trình văn học, tức là chia tiến trình văn học ra thành những thời kỳ của nó, và trong mỗi thời kỳ phải xem xét các khuynh hướng và trào lưu văn học cũng như sự tác động, ảnh hưởng, tranh chấp của chúng đối với nhau Những nguyên tắc và các yếu tố hợp thành của sự phân kỳ lịch sử này
có ý nghĩa quan trọng, nó cần được miêu tả khái quát và làm sáng tỏ những đặc điểm khu biệt của từng thời kỳ nhất định
Theo Averintsev, lịch sử văn học thế giới có thể được chia thành
ba thời kỳ lớn:
- Thời kỳ cổ xưa (từ giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên trở về trước): Đây là thời kỳ của tư duy thần thoại, con người hiệp nhất với tự nhiên, nghệ thuật gắn liền với truyền thống văn hóa dân gian Văn học miêu tả thế giới định mệnh của con người như là một phần của tự nhiên Nghệ thuật đồng nhất với ma thuật và thần thoại Con người chưa phân biệt nghệ thuật với hiện thực, còn đồng nhất sự miêu tả với bản thân đối tượng được miêu tả Trong thời kỳ này, con người chưa có phản ứng đối với nghệ thuật ngôn từ, do đó, chưa có lý luận, phê bình văn học, chưa có cương lĩnh, tuyên ngôn về sáng tạo nghệ thuật
- Thời kỳ truyền thống (từ giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên đến giữa thế kỷ 18): Đây là thời kỳ đề cao những giá trị truyền thống trong ý thức nghệ thuật, trong việc xây dựng và phát triển các thể loại, phong cách Thời kỳ này gồm thời cổ đại (con người tìm hiểu tự nhiên), thời trung đại (con người hiệp thông với Thượng đế) và thời
Trang 18Phục hưng (con người khôi phục những giá trị trong văn hoá Hy-La cổ đại và khẳng định giá trị của chính mình)
Hai thời kỳ trên có đặc điểm chung là tính phổ biến của văn học gắn liền với việc thực hiện các chức năng ngoài nghệ thuật như chức năng nghi lễ và thờ cúng về tôn giáo, thông tin và lao động; sáng tác văn học truyền khẩu kết hợp với văn học viết
- Thời kỳ cận đại và hiện đại (từ giữa thế kỷ 18 đến nay): Đây là thời kỳ mà ý thức nghệ thuật gắn liền với sáng tạo cá nhân, với vai trò thi pháp của tác giả Văn học viết giữ vai trò áp đảo so với văn học truyền khẩu
Trong văn học Việt Nam cũng có thể nói đến ba thời kỳ lớn:
- Thời kỳ văn học truyền khẩu (trước thế kỷ 10): Đây là thời kỳ văn học dân gian giữ vai trò tuyệt đối, văn học viết chưa xuất hiện
- Thời kỳ văn học cổ điển (từ thế kỷ 10 đến cuối thế kỷ 19): Đây
là thời kỳ văn học viết ra đời, từng bước hình thành những giá trị truyền thống Văn tự là chữ Hán, rồi thêm sự ra đời của chữ Nôm Văn học dân gian vẫn phát triển và lưu hành bằng con đường truyền khẩu
- Thời kỳ cận đại và hiện đại (từ đầu thế kỷ 20 đến nay): Chữ quốc ngữ la-tinh hoá ra đời, bắt đầu tiến trình hiện đại hoá văn học Giao lưu văn học với thế giới từng bước được mở rộng Lý luận, phê bình văn học dần dần khẳng định vai trò của mình trong đời sống văn học
Trang 191.3 Sự thay đổi cấu trúc tiến trình văn học trong các thời kỳ chuyển tiếp
Các thời kỳ văn học kế tiếp nhau vừa có sự liên tục, tiếp nối, vừa
có sự gián đoạn, đứt quãng Nhưng giữa chúng không có một ranh giới tuyệt đối, dứt khoát Trong mỗi thời kỳ đều có dấu vết của thời kỳ trước, cũng như cái chồi, cái nụ tiên báo và chuẩn bị cho thời kỳ sau Sự chuẩn
bị này thường là một quá trình lâu dài, tạo thành một quãng đệm giữa hai thời kỳ lớn, có thể được gọi là thời kỳ chuyển tiếp hay thời kỳ quá
độ
Trong văn học phương Tây, văn học Phục hưng là thời kỳ chuyển tiếp giữa văn học trung đại và văn học cận-hiện đại Đó cũng là sự chuyển tiếp giữa văn học bị chi phối bởi ý thức hệ phong kiến và văn học bị chi phối bởi ý thức hệ tư sản Nhưng trước khi bản thân thời Phục hưng xuất hiện cũng đã có một quá trình chuẩn bị, nghĩa là một thời kỳ
chuyển tiếp nhất định Không phải ngẫu nhiên mà trong Thần khúc của
Dante và trong trơ trữ tình của Petrarca có sự đan xen, chuyển hoá của những yếu tố thần linh và những yếu tố nhân văn
Trong văn học Việt Nam, ba thập niên đầu thế kỷ 20 có thể được xem là thời kỳ chuyển tiếp giữa văn học cổ điển và văn học hiện đại Sáng tác của Tản Đà, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn,
Lê Hoằng Mưu…; khảo cứu của Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan
Kế Bính… là sự chuẩn bị tinh thần cho sự nở rộ của văn học trên quỹ đạo hiện đại hoá sau 1930 Thậm chí, có thể tính sự chuẩn bị này xa hơn, với Nguyễn Trọng Quản, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của vào cuối thế kỷ 19
Trang 20Do tính chất quá độ như vậy mà các thời kỳ chuyển tiếp luôn chứng kiến sự thay đổi trong cấu trúc của tiến trình văn học Trước hết,
đó là sự thay đổi trong cấu trúc của tư duy nghệ thuật Kế đó là sự thay đổi trong hệ thống các khuynh hướng văn học Và sau nữa là sự thay đổi trong cấu trúc các thể loại Ngoài ra, còn có thể nói đến sự thay đổi trong cấu trúc các thế hệ nhà văn và cấu trúc các loại hình người đọc Một thí dụ gần đây nhất trong văn học Việt Nam có thể chứng minh cho sự thay đổi ấy là thời kỳ chuyển tiếp từ văn học chiến tranh sang văn học đổi mới Sau 1975, tư duy sử thi tuy vẫn còn giữ vai trò nhất định trong đời sống văn học, nhưng không còn vị trí độc tôn mà dần dần nhường chỗ cho tư duy thế sự và đời tư Khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa vẫn được tiếp nối trong sáng tác của nhiều nhà văn, nhưng đồng thời có sự tái sinh của các khuynh hướng lãng mạn và hiện thực phê phán và sự manh nha của một số khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa Về mặt thể loại, vào những năm 80 những thể loại có sư giao thoa giữa yếu tố hư cấu và phi hư cấu như tiểu thuyết sự kiện, tiểu thuyết luận đề bộc phát khá mạnh mẽ, thu hút sự chú ý của người đọc
1.4 Quan điểm lịch sử như một nguyên tắc nghiên cứu tiến trình văn học
Việc nghiên cứu tiến trình văn học luôn luôn yêu cầu phải kiên trì quan điểm lịch sử: những hiện tượng văn học cần được xem xét và đánh giá gắn liền với bối cảnh lịch sử xã hội và lịch sử văn hoá khi nó ra đời
và phát triển Nếu tách hiện tượng ra khỏi hoàn cảnh và tình thế của nó, chúng ta dễ rơi vào quan điểm phi lịch sử
Trang 21D Likhatchev viết: “Nguyên tắc lịch sử trong nghiên cứu tác phẩm văn học thể hiện ở chỗ tác phẩm phải được xem xét (1) trong sự vận động riêng của nó; (2) trong mối liên hệ với sự phát triển của tác giả, như một nhân tố của tiểu sử sáng tạo; (3) với tư cách một sự biểu hiện của lịch sử văn học đang vận động, một hiện tượng trong sự phát triển văn học ở một thời kỳ nhất định”1
Các thời kỳ của tiến trình văn học dân tộc thường được xem như phụ thuộc vào các thời kỳ của lịch sử nhân loại Tuy nhiên, cần phải chú
ý một cách thích đáng đến những đặc điểm khu vực và dân tộc, nhất là đối với tiến trình văn học ở các nước phương Đông Nhà nghiên cứu văn học theo chủ nghĩa lịch sử luôn luôn có ý thức khắc phục cách nhìn
“dĩ Âu vi trung” (lấy châu Âu làm trung tâm, Eurocentrisme), vốn để lại những hệ luỵ không nhỏ trong việc làm biến dạng bức tranh văn học của các dân tộc Á-Phi
1.5 Tính cộng đồng loại hình trong sự phát triển của văn học
Mỗi nhà văn tài năng là một cá tính sáng tạo, một phong cách độc đáo Mỗi tác phẩm có giá trị là một hiện tượng độc đáo không lặp lại Tuy nhiên, yêu cầu của nhận thức khoa học đòi hỏi người nghiên cứu phân loại những hiện tượng văn học và sắp xếp nó theo một số loại hình nhất định, căn cứ trên những tiêu chí nhất quán Cơ sở lý luận của việc phân loại này là mối liên hệ nội tại, những khuynh hướng, đặc điểm và yếu tố chung tạo nên tính cộng đồng loại hình của từng nhóm hiện tượng riêng lẻ Ở đây, cái chung, cái phổ quát luôn được đặt trong mối
1 D Likhatchev: Về ngữ văn học (tiếng Nga), Vyshaia Shkola, Moskva, 1989, tr 52
Trang 22tương quan với cái riêng, cái cá biệt Nói cách khác, tính cộng đồng loại hình là cái chung, cái giống nhau được khảo sát trong mối quan hệ nội tại với cái riêng, cái dị biệt
Khi nghiên cứu một khuynh hướng văn học, ta cần chú ý những đặc điểm có ý nghĩa loại hình học, đồng thời những yếu tố mang nội dung lịch sử-cụ thể Trong mỗi khuynh hướng lại có thể phân ra thành những loại hình nhỏ hơn
Chẳng hạn, chủ nghĩa hiện thực Nga nửa đầu thế kỷ 19 có thể chia thành hai trào lưu chủ yếu:
- Trào lưu tâm lý, còn gọi là “trường phái Pushkin”, gồm các nhà văn Lermontov, Turghenev, Ghersen, Gontsarov… Trào lưu này có những tìm tòi trong phân tích tâm lý cá nhân gắn liền với việc thể hiện nội dung xã hội, đặc biệt qua việc khắc hoạ hình tượng “con người thừa”
- Trào lưu xã hội, còn gọi là “trường phái Gogol”, với các tên tuổi như Nekrasov, Tchernyshevski, Santykov-Sedrin, Pomialovski, Uspenski… Trào lưu này tập trung miêu tả tình cảnh cùng khốn của nhân dân; nêu bật nhu cầu của nhân dân và dân tộc trong thế xung đột với chế độ xã hội đang tồn tại
Còn chủ nghĩa hiện thực Nga nửa sau thế kỷ 19 thì thường được chia thành ba loại hình:
- Chủ nghĩa hiện thực tâm lý - sử thi mà đỉnh cao là L Tolstoi, có
sự kết hợp hài hoà giữa cách phân tích tâm lý theo biện chứng pháp tâm hồn với lối tự sự sử thi ở quy mô rộng lớn
Trang 23
- Chủ nghĩa hiện thực tâm lý - triết học mà đỉnh cao là F Dostoievski, miêu tả tính bi kịch, trong đó có bi kịch tha hoá, của hiện sinh con người trong sự đan kết của những yếu tố xã hội, yếu tố tâm lý
và yếu tố triết học
- Chủ nghĩa hiện thực tâm lý - đời thường mà đỉnh cao là A Tshekhov, với sự phân tích tâm lý sắc sảo và tinh tế những hiện tượng của cuộc sống thường ngày
Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam những năm
Trang 24
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giữa hai kiểu sáng tác này không có ranh giới tuyệt đối mà chúng tác động qua lại và quan hệ mật thiết với nhau, thậm chí có trường hợp cùng một nhà văn hay cùng một tác phẩm
có sự hiện diện của cả hai phương thức nói trên Chẳng hạn, nhà văn
Nam Cao trước khi trở thành nhà văn hiện thực với Chí Phèo, Sống mòn…, đã từng viết một số truyện ngắn lãng mạn Trong Đoạn trường
Trang 25tân thanh của Nguyễn Du, các nhân vật Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở
Khanh, Thúc Sinh, Hoạn Thư được xây dựng theo phương thức tái hiện, thiên về khách quan; các nhân vật Kim Trọng, Từ Hải được xây dựng theo phương thức tái tạo, thiên về chủ quan
2.2 Khuynh hướng văn học
Khuynh hướng văn học hay khuynh hướng nghệ thuật là thuật ngữ thường được sử dụng theo hai nghĩa:
- Trước hết, khuynh hướng văn học dùng để chỉ một hướng đi có tính chất tự phát nhưng bền vững trong hoạt động của một nhà văn, chẳng hạn khi nói đến một nhà văn có khuynh hướng lãng mạn hay khuynh hướng hiện thực
- Khuynh hướng văn học cũng dùng để nói đến định hướng nghệ thuật có tính chất tập thể của một nhóm nhà văn, một dân tộc hay một thời đại Khái niệm này thường được dùng trong trường hợp nói đến định hướng của một tập thể ít có tính chất tổ chức và không phải là kết quả của một sự chọn lựa có ý thức và tự nguyện Đây là đặc điểm phân biệt khuynh hướng với trào lưu Nói cách khác, so với trào lưu, khuynh hướng ít có tính chất tổ chức hơn
2.3 Trào lưu văn học
Trào lưu văn học là khuynh hướng văn học theo nghĩa hẹp, liên kết một nhóm nhà văn có chung lập trường chính trị - xã hội, chung quan điểm tư tưởng - thẩm mỹ và chung quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người Trào lưu văn học thường là một phong trào nghệ thuật hoàn chỉnh bao gồm sáng tác và lý luận, phê bình, được tổ chức
Trang 26nhằm đấu tranh cho sự thắng lợi của đường hướng văn học đã được lựa chọn
Chúng tôi quan niệm rằng trong văn học trước chủ nghĩa cổ điển ở phương Tây và trong văn học cổ điển phương Đông, có thể vận dụng thuật ngữ “khuynh hướng” một cách phổ biến hơn là thuật ngữ “trào lưu” Chẳng hạn, vào thời Phục hưng, có thể nói đến khuynh hướng hiện thực; còn trào lưu hiện thực chủ nghĩa thì thật sự chỉ hình thành trong thế kỷ 19
Trong văn học Việt Nam, khuynh hướng hiện thực đã xuất hiện từ thế kỷ 19 với Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Học Lạc; còn trào lưu hiện thực chủ nghĩa thật sự hình thành vào những năm 1930-1945
2.4 Trường phái văn học
Trong trào lưu văn học thường có một tổ chức trung tâm giữ vai trò đề ra cương lĩnh nghệ thuật với những yêu cầu về mặt lý thuyết hay
tổng kết những kinh nghiệm trong quá trình sáng tác Tổ chức trung tâm
này thường được hình thành xung quanh một tạp chí, một nhà xuất bản,
một salon (phòng khách) văn học… Khi đã có một tổ chức nòng cốt
phát huy được sức mạnh chủ đạo của nó, thì trào lưu văn học có thể được gọi là trường phái văn học Cũng có thể một trào lưu văn học bao gồm nhiều trường phái khác nhau
Trong trào lưu văn học lãng mạn 1930-1945, Tự Lực văn đoàn (với Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Trần Tiêu, Xuân Diệu…), Xuân Thu Nhã Tập (với Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn
Phú Tứ, Nguyễn Lương Ngọc) và nhóm Dạ Đài (Trần Dần, Trần Mai
Trang 27Châu, Vũ Hoàng Địch…) có thể được xem là những trường phái, tuy tầm ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau
Trong văn học cũng như trong các ngành nghệ thuật, trường phái
là khái niệm dùng để chỉ những người nghệ sĩ cùng theo đuổi một nguyên tắc sáng tạo, cùng cày xới những chất liệu thẩm mỹ và cùng sử dụng những biện pháp kỹ thuật giống nhau Giữa trường phái với trào lưu và khuynh hướng còn khác nhau ở chỗ trong khái niệm trường phái thường có ý tưởng về vai trò của một bậc thầy, người gợi ra và truyền niềm cảm hứng sáng tạo cho các môn đệ, người tiêu biểu cho một nguyên tắc và một truyền thống trong sáng tạo Tự Lực văn đoàn có thể xem là một trường phái, với những nghệ sĩ bậc thầy như Nhất Linh, Khái Hưng, với tuyên ngôn Mười điều tâm niệm của Hoàng Đạo, với
các tờ báo Phong Hóa, Ngày Nay, với nhà xuất bản Đời Nay, với giải
thưởng dành cho Tế Hanh, Anh Thơ… Trường thơ Loạn ở Bình Định với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan cũng có thể xem
là một trường phái, tuy quy mô nhỏ hơn
2.5 Phương pháp nghệ thuật
Phương pháp nghệ thuật hay phương pháp sáng tác là thuật ngữ được giới lý luận xô-viết đề xuất sau Cách mạng Tháng Mười, cùng lúc với thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa
Có thể xem phương pháp nghệ thuật là một hệ thống hoàn chỉnh gồm những nguyên tắc tư tưởng - nghệ thuật được xác định bới một thế giới quan nhất định, nhằm để lựa chọn, phản ánh, bình giá, khái quát cuộc sống bằng hình tượng Nhà văn đi theo một phương pháp nghệ thuật nào, đó là việc hoàn toàn tự giác Sự khác nhau giữa các phương
Trang 28pháp sáng tác bắt nguồn từ sự khác nhau về thế giới quan và nhân sinh quan của nhà văn, đồng thời, từ sự khác nhau về nghệ thuật điển hình hoá và xây dựng hình tượng Phương pháp sáng tác chính là lý thuyết tổng quát của một trào lưu hay trường phái văn học
Ngày nay giới lý luận ở Nga, Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây hầu như không còn sử dụng thuật ngữ “phương pháp sáng tác”, nhưng có thể xem đây như một phạm trù có tính lịch sử, mà khi nghiên cứu về văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa và lý luận văn học mác-xít không thể nhắc đến và luận giải
2.6 Phong cách và dòng phong cách
Thuật ngữ phong cách thường được hiểu theo hai cách sau đây:
- Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như về nghệ thuật thể hiện thành những phẩm chất thẩm mỹ trong sáng tác của những nhà văn ưu tú
- Phong cách là hệ thống những đặc điểm về mặt hình thức, bao gồm các thủ pháp nghệ thuật, các phương tiện diễn đạt, tạo nên tính độc đáo của một hiện tượng văn học và khu biệt hiện tượng này với hiện tượng khác
Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, cùng một trào lưu hay một trường phái, có thể có những nhà văn mang phong cách gần nhau, tạo nên một dòng phong cách, chẳng hạn dòng phong cách trữ tình trong văn xuôi sử thi Việt Nam 1945-1975 với Nguyên Ngọc, Lê Khâm, Đỗ Chu
Trang 29Chương 3
NHỮNG KHUYNH HƯỚNG VÀ TRÀO LƯU
TIỀN HIỆN ĐẠI
Như đã trình bày trong chương 1, việc phân định các thời kỳ, giai đoạn, khuynh hướng và trào lưu văn học chỉ có ý nghĩa tương đối Giữa các thời kỳ, giai đoạn, khuynh hướng và trào lưu không có ranh giới tuyệt đối mà giao thoa, thâm nhập, ảnh hưởng qua lại với nhau Không bao giờ có một khuynh hướng, trào lưu thuần nhất: ngoài những yếu tố chủ đạo, nó luôn thu hút vào trong lòng nó những yếu tố phái sinh từ các khuynh hướng, trào lưu có trước hay đồng thời, tiếp nhận và biến cải những yếu tố này thành một thực thể văn học mới, đa dạng và độc đáo Chẳng hạn, trong lịch sử phát triển của mình, chủ nghĩa lãng mạn Việt Nam tiếp thu cả những yếu tố về nội dung và hình thức của chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực…
Mặt khác, trừ một vài trường hợp cá biệt, mỗi khuynh hướng, trào lưu không bao giờ gói trọn trong một thời kỳ hay một giai đoạn mà kéo dài qua nhiều thời kỳ, giai đoạn khác nhau; thậm chí khi lịch sử phát triển của nó đã kết thúc, nó vẫn gây ảnh hưởng và có những biểu hiện hồi sinh, “phục tích” trong những hoàn cảnh mới Chẳng hạn, chủ nghĩa hiện thực nẩy sinh trong văn học Tây Âu thời Phục hưng, kéo dài đến chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỷ 19 và vẫn còn hiện diện trong đời
Trang 30sống văn học thế kỷ 20 Chủ nghĩa hiện sinh ra đời và phát triển chủ yếu trong thế kỷ 20, nhưng ngày nay vẫn còn một số nhà văn sáng tác theo quan niệm nghệ thuật về con người của trào lưu ấy
Trước tình hình phức tạp đó, việc phân định loại hình các khuynh hướng và trào lưu có thể diễn ra theo nhiều cách khác nhau mà mỗi cách đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định Trong công trình này, chúng tôi chia các khuynh hướng và trào lưu thành bốn loại hình vừa có tính độc lập tương đối, vừa ảnh hưởng qua lại với nhau:
“tiền hiện đại” cần được giới thuyết như sau Hiện nay có nhiều quan niệm xác định thời hiện đại trong văn học châu Âu và văn học Việt Nam Chúng tôi tán thành ý kiến cho rằng trong văn học châu Âu, trước Công nguyên là thời Cổ đại, từ đầu Công nguyên đến thế kỷ 13 là thời Trung đại, từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16 là thời Phục hưng, từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 18 là thời Cận đại, từ thế kỷ 19 (khoảng những năm 1830) đến thế kỷ 20 là thời Hiện đại Tuy nhiên, trong tiếng Anh và tiếng Pháp, khái niệm “cận đại” và “hiện đại” đều dùng từ “modern”, còn
“modernisation/ modernization” có nơi dịch là “cận đại hóa”, có nơi dịch là “hiện đại hóa” Để nhất quán, đối với văn học phương Tây, chúng tôi xác định thời Hiện đại chủ yếu từ thế kỷ 19 (khoảng những năm 1830) trở về sau; vì vậy những khuynh hướng và trào lưu xuất hiện trước thế kỷ 19, tuy vẫn tiếp tục hoạt động trong thế kỷ này, được gọi là tiền hiện đại Đó là chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực
Trang 31Về văn học Việt Nam, chúng tôi tán thành quan niệm xem thời Hiện đại được tính từ đầu những năm 1930 thế kỷ 20, giai đoạn chuyển tiếp từ cuối thế kỷ 19 đến 30 năm đầu thế kỷ 20 có thể xem là giai đoạn Cận đại Như vậy, do ảnh hưởng của văn học phương Tây, thời Hiện đại trong văn học Việt Nam bắt đầu muộn hơn khoảng một thế kỷ Có thể thấy các khuynh hướng chính của thời kỳ tiền Hiện đại trong văn học Việt Nam đã xuất hiện trước 1930: chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực Sau 1930 những khuynh hướng này tiếp tục phát triển, lên đến đỉnh cao, nhưng nó không còn thuần túy mang tính chất tiền hiện đại, mà đã giao thoa với các khuynh hướng hiện đại (chủ nghĩa tự nhiên) hay khuynh hướng duy hiện đại/ hiện đại chủ nghĩa (ấn tượng, tượng trưng, siêu thực…)
hướng và trào lưu xuất hiện từ 1830 ở phương Tây, từ 1930 ở Việt Nam
và phát huy ảnh hưởng trong thế kỷ 20 được xếp vào loại hình Hiện đại
Đó là chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa tân hiện thực Những khuynh hướng và trào lưu này góp phần hiện đại hóa văn học, nhưng không kéo văn học đi về chủ nghĩa hiện đại, là khuynh hướng tuyệt đối hóa tinh thần hiện đại Tất nhiên, các khuynh hướng và trào lưu hiện đại không mang đặc điểm loại hình thuần nhất cả về nội dung lẫn hình thức, nhưng đều có điểm chung: ra đời trong thời đại biến đổi sâu sắc, đề cao tính xã hội và sứ mệnh của nghệ thuật
phong Có thể xem chủ nghĩa hiện đại là giai đoạn cuối cùng hay giai đoạn đỉnh cao của loại hình hiện đại Trước đây một số nhà nghiên cứu
Trang 32Xô-viết thường quy vào chủ nghĩa hiện đại (modernism) các trào lưu phi hiện thực hay phản hiện thực của thế kỷ 20: chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa đa đa, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa biểu hiện… và đánh giá các trào lưu này hoàn toàn tiêu cực Trong khi đó, các nhà nghiên cứu phương Tây thường xem chủ nghĩa hiện đại như là một thời kỳ xuất hiện nhiều trào lưu có tính chất cách tân, gọi là chủ nghĩa tiền phong (avant-gardisme) Tất nhiên không nên đồng nhất chủ nghĩa hiện đại với chủ nghĩa tiền phong, nhưng trên thực tế nhiều trào lưu tiền phong cũng được gọi là duy hiện đại hay hiện đại chủ nghĩa: chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa đa đa, chủ nghĩa siêu thực… Đồng thời có trào lưu được xem thuộc chủ nghĩa hiện đại, nhưng không phải chủ nghĩa tiền phong (như chủ nghĩa hiện sinh); lại có trào lưu tiền phong nhưng lại vượt khỏi khuôn khổ của chủ nghĩa hiện đại để bước sang loại hình hậu hiện đại (tiểu thuyết mới, kịch phi lý) Vì vậy,
để trình bày một cách uyển chuyển, không cứng nhắc, chương 5 sẽ có nhan đề “Khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa và những trào lưu tiền phong”
hiện đại” (postmodern) như một loại hình nghệ thuật với “chủ nghĩa hậu hiện đại” (postmodernism) như một trào lưu có quan điểm tư tưởng - nghệ thuật xác định Là một loại hình, nhưng “hậu hiện đại” không tách biệt về thời gian với “hiện đại”, cũng không có nghĩa là “sau thời hiện đại” Chúng tôi xếp vào loại hình hậu hiện đại các trào lưu: tiểu thuyết mới, kịch phi lý, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và chính phẩm đại diện
là chủ nghĩa hậu hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại khác với chủ nghĩa hiện đại nhưng diễn ra gần như song hành với chủ nghĩa hiện đại, đối
Trang 33thoại và tranh chấp với nó Tất nhiên, càng tiến về thời đương đại, chủ nghĩa hậu hiện đại càng phát triển và tỏ rõ bản sắc của nó Ngày nay, chủ nghĩa hiện đại chưa hoàn tất sứ mệnh, nhưng chủ nghĩa hậu hiện đại
đã bước lên văn đàn Hai khuynh hướng này có những lúc chồng lấn lên nhau, thậm chí có những điểm gặp nhau về mặt tư tưởng và nghệ thuật, chẳng hạn giữa chủ nghĩa hiện sinh và kịch phi lý, giữa chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
Xét về mặt loại hình, các khuynh hướng và trào lưu tiền hiện đại
có những đặc điểm sau đây:
Một, đây là những khuynh hướng và trào lưu xuất hiện như những hiện tượng văn học viết có tính cộng đồng của nhân loại trong một thời đại thần quyền từng bước nhường chỗ cho thế quyền, và con người ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống và trong nghệ thuật Dù thiên
về tính ước lệ, tính khách quan hay tính chủ quan, các trào lưu này đều đặt trên niềm tin có con người và lấy con người làm chuẩn mực
Hai, đây là những khuynh hướng và trào lưu xuất hiện và hoạt động trong điều kiện khoa học và công nghệ có nhiều tiến bộ sau một thời kỳ trì trệ Chủ nghĩa nhân văn và tư tưởng Khai minh soi sáng vào đời sống tinh thần của nhân loại Đồng thời những mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc, dẫn đến những chuyển động xã hội to lớn và kết thúc bằng cách mạng mà trong đó có vai trò tham gia của văn học, nghệ thuật
Ba, đây là những khuynh hướng và trào lưu đã gây ra những cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật trong đời sống văn học, nhưng trải qua những thử thách của thời gian, đã để lại cho lịch sử văn học những
Trang 34tác gia, tác phẩm mẫu mực và những hệ quy chiếu về giá trị mà các khuynh hướng và trào lưu đến sau đều nhìn vào để hưởng ứng, đối thoại, tranh luận hay phản bác
Chương này được dành để giới thiệu bốn khuynh hướng và trào lưu là chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực
3.1 Chủ nghĩa cổ điển (Classicism)
Trong các ngôn ngữ Tây Âu, thuật ngữ “chủ nghĩa cổ điển” (classicisme/ classicism) bắt nguồn từ chữ classicus/ classes, nghĩa là
loại, hạng, lớp học Trong Nghệ thuật thi ca, Aristote có chủ ý xếp loại
và đề xuất những tác phẩm thơ văn ưu tú để đưa vào giảng dạy trong trường lớp Đó là những tác phẩm ưu tú, mẫu mực nên được gọi là tác phẩm cổ điển (classiques)
Trong văn học Pháp, vào thế kỷ 17, trái với những nhà văn phái mới (les modernes) như Evremon, Perrault, những nhà văn theo phái cũ (les anciennes) như Malherbe, Racine, Boileau chủ trương mô phỏng và học tập những tác phẩm cổ điển của văn học Hy Lạp và La Mã Chính Malherbe (1555-1628), người mở đường cho thi pháp chủ nghĩa cổ điển
ở Pháp, đã tiến hành những cuộc cải cách văn học nhằm xây dựng những quy tắc ngôn ngữ và thi ca chung cho những nhà sáng tác Từ đó xuất hiện một trào lưu văn học và nghệ thuật mà về sau, vào thế kỷ 18, được Voltaire gọi là chủ nghĩa cổ điển
Hình thành và phát triển ở Tây Âu từ cuối thế kỷ 16 đến cuối thế
kỷ 18, chủ nghĩa cổ điển có cơ sở xã hội là nhà nước phong kiến tập
Trang 35trung và cơ sở tư tưởng là triết học của Descartes, mỹ học của N Boileau
3.1.1 Cơ sở xã hội và tư tưởng
Về cơ sở xã hội, ở Pháp, từ cuối thế kỷ 16 đền cuối thế kỷ 18 là thời kỳ chế độ quân chủ chuyên chế vững mạnh nhờ sự liên kết trong thế quân bình giữa nhà nước phong kiến tập trung và giai cấp tư sản xuất hiện trước đó hai thế kỷ Hai lực lượng này tuy có mâu thuẫn với nhau nhưng lại cùng chia sẻ mục tiêu là hạn chế ảnh hưởng của giai cấp phong kiến quý tộc cát cứ ở địa phương nhằm xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền ở trung ương và mở rộng thị trường có lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Đó là nguyên nhân dẫn đến sự thỏa hiệp của giai cấp phong kiến tập quyền với giai cấp tư sản trong hai thế kỷ, trước khi mâu thuẫn của chúng trở thành xung đột không thể hòa giải, dẫn đến Cách mạng Pháp 1789 Một cách gián tiếp, dấu vết của sự thỏa hiệp này để lại trong nội dung tư tưởng của các tác phẩm cổ điển chủ nghĩa
Về cơ sở tư tưởng, chủ nghĩa cổ điển đặt nền tảng trên triết học Descartes và mỹ học Boileau
René Descartes (1596-1650), nhà triết học và mỹ học người Pháp,
tác giả các công trình Phương pháp luận, Những suy niệm siêu hình học, là linh hồn của chủ nghĩa cổ điển Ông sáng tạo ra một triết học có
tính chất duy lý, thể hiện sự thoả hiệp về thế giới quan và nhân sinh quan của giai cấp tư sản liên kết, trong thế quân bình, với vương quyền
để xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền thống nhất Mang tinh
Trang 36thần nhị nguyên, triết học Descartes xác quyết rằng vật chất và tinh thần, lý trí và tình cảm là những nhân tố độc lập
Là triết gia duy tâm đồng thời là nhà tư tưởng của chủ nghĩa duy
lý, Descartes cũng là người đặt nền móng cho triết học về khoa học Câu nói nổi tiếng của ông: “Tôi hoài nghi, vậy là tôi tư duy Tôi tư duy, vậy
là tôi hiện hữu” (Dobito ergo cogito Cogito ergo sum) Triết học Cogito của Descartes căn bản là triết học duy tâm, nhưng nó là tiền đề quan trọng để khắc phục phương pháp tư duy tư biện thời Trung cổ
Descartes đề cao hoạt động của lý trí và thái độ hoài nghi khoa học Ông cho rằng chân lý phải độc lập với tín ngưỡng và uy quyền Tuy nhiên, trong triết học Descartes, nhận thức lý tính lại tách rời khỏi kinh nghiệm thực tiễn Vì vậy, trong quan niệm của ông về cái đẹp, yếu
tố lý tính lấn át yếu tố cảm tính, tình cảm và tưởng tượng Điều đó đã chi phối quan niệm sáng tác của các nhà văn thuộc khuynh hướng cổ điển chủ nghĩa
Nicolas Boileau (1636-1711) là “nhà lập pháp” đích thực của chủ
nghĩa cổ điển Lý tính là “nhân vật trung tâm” trong tác phẩm Nghệ thuật thơ ca của ông Ông quan niệm: “Hãy yêu lý trí, tác phẩm của các
bạn phải tìm ở đấy ngọn nguồn duy nhất của sự trong sáng và giá trị của nó”; “Chỉ có cái thật mới đẹp, chỉ có cái thật mới đáng yêu”; “Tự nhiên
là chân thực, ai ai cũng có thể thể nghiệm được”; “Hãy để cho tự nhiên trở thành đối tượng nghiên cứu duy nhất” Tự nhiên không chỉ là thiên nhiên mà bao hàm cả thế giới khách quan Nhưng tự nhiên thì đầy rẫy mâu thuẫn và nghịch lý, cho nên không phải cái gì của tự nhiên cũng được phản ánh Tự nhiên cần phải được lý trí gạn lọc, sắp xếp lại Sự
Trang 37sắp xếp này thể hiện qua luật tam duy nhất (loi des trois unités) trong kịch: thống nhất về thời gian, địa điểm và hành động Boileau xem nghệ thuật cổ đại là mô hình lý tưởng của sáng tạo nghệ thuật Theo ông, những nhà thơ thời cổ đại Homère, Sophocle, Virgile là hiện thân của những tiêu chuẩn nghệ thuật phổ quát
Tinh thần duy lý này chi phối quan niệm nghệ thuật về con người
và cách xây dựng nhân vật của chủ nghĩa cổ điển Trong văn học cổ điển chủ nghĩa, quan niệm nghệ thuật về con người có tính chất chính thống, dựa trên cảm hứng công dân, niềm tin vào sức mạnh của lý trí, sự phân minh và chính xác trong đánh giá đạo đức Đó là con người của nghĩa vụ trong nhà nước chuyên chế Cảm xúc, trí tưởng tượng không
có vị trí quan trọng trong nghệ thuật vì nghệ thuật là sản phẩm chủ yếu xuất phát từ lý trí và được xây dựng trên lý tính
Trang 38Nhân vật trung tâm của chủ nghĩa cổ điển là những con người đứng trước xung đột không thể điều hòa giữa dục vọng và lý trí, giữa tình cảm cá nhân và bổn phận đối với gia đình, dòng tộc, quốc gia Họ giải quyết xung đột đó bằng cách đặt lý trí lên trên tình cảm, đè nén đam
mê và dục vọng, xem thường khát vọng cá nhân, bắt lợi ích riêng tư phải phục tùng danh dự và lợi ích của dòng tộc, quốc gia Những nhân vật ấy luôn lấy việc đấu tranh với niềm say mê và ham muốn riêng để phục vụ cho quyền lợi chung làm bổn phận và niềm vinh dự của mình Với chủ nghĩa cổ điển, cá nhân tan biến trong nguyên lý và cái cụ thể tan biến trong cái trừu tượng Không khó hiểu khi các nhân vật của trào lưu này thường suy nghĩ và phát ngôn một cách duy lý Sự tách rời tình cảm và lý trí được khúc xạ trong bi kịch của Corneille qua mối
xung đột giữa tình cảm cá nhân và nghĩa vụ xã hội Trong Le Cid của
Corneille, Rodrigue và Chimène là đôi tình nhân mà cũng là hai người cừu địch Lý trí tỉnh táo và tính phục tùng của họ cao đến mức họ không chỉ tán thành mà còn tạo điều kiện để thực hiện hành động trả thù nhắm rửa mối nhục gia đình Chimène nói với Rodrigue: “Bằng việc xúc phạm đến thiếp, chàng đã tỏ ra xứng đáng với thiếp Thiếp phải giết chàng để được xứng đáng với chàng” May thay, sau những tình tiết éo
le, trắc trở, nhờ công trạng của Rodrigue, nhà vua đã tìm cách hòa giải hai người yêu nhau, một sự kết hợp mà cũng là sự thỏa hiệp giữa lý trí
và tình cảm Có thể nói Corneille đã diễn đạt tinh thần duy lý của thời đại mình và trở thành khâu mắt xích nối liền chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng với thế kỷ Ánh sáng
- Tính chất quy phạm hóa: Tinh thần duy lý dẫn đến hệ quả là tính chất quy phạm hóa trong nghệ thuật Luật tam duy nhất là chuẩn mực
Trang 39của kịch cổ điển Thời gian dàn dựng vở kịch trên sân khấu phải thống nhất với thời gian diễn ra câu chuyện ngoài đời trong 24 giờ, vì vậy không thể dung nạp kết cấu phức tạp, đa tuyến Địa điểm trong kịch thống nhất với địa điểm xảy ra câu chuyện, thường là cung đình Hành động kịch cũng phải thống nhất chứ không được mâu thuẫn với tính cách, yêu cầu chủ đề phải đơn giản, không có chi tiết thừa Qua luật tam duy nhất, chủ nghĩa cổ điển đồng nhất “cái giống như thật” với “cái thật”, dẫn đến sự hạn chế trong sáng tạo của kịch tác gia
Vì vậy, tính cách nhân vật của chủ nghĩa cổ điển thường là những tính cách đơn nhất, trừu tượng, tĩnh tại, cố định, thiếu sinh động vì ít có
sự biến đổi Đó là sản phẩm của tư duy khái quát và trừu tượng hóa của nhà văn, được làm nổi bật và phóng đại nét bản chất, vĩnh hằng của nhân vật Nhân vật có thể đi qua nhiều môi trường và hoàn cảnh, nhưng những môi trường và hoàn cảnh đó xét cho cùng chỉ là sự triển khai của tính cách một chiều và đơn điệu Trong tính cách cổ điển chủ nghĩa, ít thấy nét riêng tây, đa dạng, sự phát triển và đột biến như trong chủ nghĩa hiện thực Độc giả và khán giả dễ ghi nhớ bản chất của nhân vật: Andromaque thủy chung, Rodrigue cao thượng, Éné oai phong, Arnophe nham hiểm, Harpagon keo kiệt, Jourdain hám danh, Agamenon kiêu ngạo, Cathos hợm hĩnh… Những nhà lý luận thiên vị chủ nghĩa hiện thực thường không đánh giá cao nghệ thuật xây dựng nhân vật của chủ nghĩa cổ điển Lessing viết: “Những nhân vật trong chủ nghĩa cổ điển là quan niệm về tính cách được nhân hóa” Còn Biélinski thì cho rằng: “Người hà tiện của Molière là sự nhân hóa có tính chất hùng biện của tính hà tiện” Nói cách khác, nghệ thuật của chủ nghĩa cổ điển có tính chất minh họa, thiên về Schiller hóa hơn là
Trang 40Shakespeare hóa, theo cách nói của F Engels Vì vậy, nghệ thuật của chủ nghĩa cổ điển không toát lên từ tình thế và hành động mà có tính chất thuyết lý và biện luận
Tuy nhiên không phải ở mọi tác giả và trong mọi tác phẩm, tinh thần duy lý và tính chất quy phạm hóa cũng được tuân thủ một cách triệt
để Với chủ trương “mô phỏng cổ đại”, các nhà văn của chủ nghĩa cổ điển như Racine, Molière, La Fontaine thường khai thác đề tài từ tác phẩm văn học cổ đại Hy Lạp – La Mã Nhưng trong một số tác phẩm bi kịch cổ điển chủ nghĩa, nhân vật vẫn chịu sự giằng xé trong tâm hồn, chứ không hoàn toàn chịu sự khống chế của định mệnh như nhân vật trong bi kịch cổ đại Corneille từng phá vỡ quy tắc của luật tam duy nhất Vả chăng, lý tính cũng mang lại một vẻ đẹp riêng trong sáng tác văn học: tính hoành tráng của hình tượng, sự hài hòa của bố cục, vẻ trang nhã của ngôn ngữ
- Tính thiếu dân chủ về mặt thể loại: Chủ nghĩa cổ điển đề cao bi kịch và anh hùng ca, được xem là những thể loại cao quý vì tái hiện những biến cố lớn lao và xây dựng những nhân vật uy quyền trong xã hội như ông hoàng bà chúa, những anh hùng hay tướng lĩnh công thần của triều đình Trong khi đó, các thể loại hài kịch, thơ trữ tình, thơ văn trào phúng, thơ ngụ ngôn thì bị xem là những thể loại “hạ đẳng” vì phản ánh đời sống của thứ dân và những người bình thường Đồng thời di sản văn hóa dân gian cũng bị xem nhẹ, và về mặt này, văn học cổ điển chủ nghĩa là một bước thụt lùi so với văn học thời Phục hưng
Trong hoàn cảnh như vậy, bản lĩnh nghệ sĩ đã giúp Corneille, Molière, La Fontaine giữ được tinh thần độc lập trong sáng tạo nghệ