1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Development of flood risk map for ho chi minh city using integrated approach

60 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu của đề tài này nhằm dự báo hiểm họa ngập lụt thông qua việc xây dựng các bản đồ ngập lụt tại thành phố Hồ Chí Minh dưới tác động của triều cường và lưu lượng lũ được

Trang 1

Tóm tắt v

Abstract vi

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt vii

Danh mục các bảng viii

Danh mục các hình vẽ, các đồ thị ix

Lời cảm ơn x

Chương 1 Mở đầu 1

1.1 Tổng quan 1

1.2 Mục tiêu 2

1.3 Nội dung 3

Chương 2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội 5

2.1 Điều kiện tự nhiên 5

2.1.1 Vị trí địa lý 5

2.1.2 Địa hình 6

2.1.3 Khí hậu 6

2.1.4 Thủy văn 8

2.1.5 Địa chất 9

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 10

2.2.1 Dân số 10

2.2.2 Kinh tế 10

2.2.3 Xã hội 11

2.3 Định hướng phát triển kinh tế TP HCM 13

Chương 3 Hiện trạng ngập lụt đô thị 16

3.1 Hiện trạng hệ thống thoát nước tại TP HCM 16

3.1.1 Mạng lưới kênh, rạch, ao hồ thoát nước tự nhiên 16

3.1.2 Hệ thống cống thoát nước đô thị 17

3.1.3 Đánh giá hiện trạng và nhu cầu nâng cấp, phát triển hệ thống thoát nước 17

3.2 Tình trạng ngập lụt tại TP HCM 18

3.2.1 Ngập do mưa 20

3.2.2 Ngập do triều cường 20

3.2.3 Ngập do tổ hợp bất lợi khi mưa kết hợp triều cường 21

Chương 4 Phương pháp nghiên cứu 23

Trang 2

4.1.1 Giới thiệu mô hình TELEMAC 23

4.1.2 Cơ sở lý thuyết của mô hình TELEMAC2D 24

4.1.3 Các tập tin dữ liệu trong mô hình TELEMAC2D 26

4.2 Phương pháp phân tích xác suất 26

4.3 Thiết lập mô hình thủy lực 27

4.4 Sơ đồ tính toán thủy lực 29

4.5 Hiệu chỉnh mô hình 30

4.6 Rủi ro ngập lụt 32

4.6.1 Phân loại thiệt hại ngập lụt 32

4.6.2 Đánh giá thiệt hại hàng năm 33

4.6.3 Sơ đồ tính toán thiệt hại ngập lụt 34

Chương 5 Bản đồ ngập lụt 36

5.1 Độ sâu ngập theo tần suất ngập 36

5.2 Phạm vi ảnh hưởng ngập lụt 39

Chương 6 Bản đồ rủi ro ngập lụt 41

6.1 Thiệt hại ngập lụt theo tần suất 41

6.2 Thiệt hại dự kiến hàng năm 44

Chương 7 Kết luận và kiến nghị 47

7.1 Kết luận 47

7.2 Nhận xét 47

7.3 Kiến nghị 48 Tài liệu tham khảo

Phụ lục chuyên môn

Trang 3

Nội dung nghiên cứu của đề tài này nhằm dự báo hiểm họa ngập lụt thông qua việc xây dựng các bản đồ ngập lụt tại thành phố Hồ Chí Minh dưới tác động của triều cường và lưu lượng

lũ được xả từ các hồ chứa thượng lưu Miền tính toán được mô phỏng bởi mô hình thủy động lực học TELEMAC2D bằng hệ phương trình dòng chảy mặt hai chiều theo phương mặt phẳng nằm ngang Kết quả tính toán thể hiện phạm vi bị ảnh hưởng ngập trong thành phố do một sự kiện ngập lụt ứng với các chu kỳ lặp lại gây ra thể hiện qua đặc trưng về độ sâu ngập và diện tích ngập Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, Huyện Nhà Bè và Quận 2 bị ảnh hưởng ngập ở mức độ thường xuyên

và nghiêm trọng nhất, ngoài ra khi tần suất gia tăng, Quận Bình Thạnh và Quận 4 sẽ có phạm vi ảnh hưởng ngập tăng lên đáng kể Nghiên cứu này cũng sử dụng các loại bản đồ của TP HCM như hành chính, địa hình, sơ đồ thủy hệ, các số liệu thủy văn để tính toán tạo ra các bản đồ ngập lụt theo phương pháp phân tích xác suất

Hơn nữa, nội dung nghiên cứu thứ hai được trình bày trong đề tài này là nhằm đưa ra phương pháp ước tính thiệt hại hàng năm (Expected Annual Damage – EAD) do ngập lụt của TP HCM thông qua việc phân tích và đánh giá mức độ thiệt hại theo độ sâu ngập của loại thiệt hại trực tiếp mang tính hữu hình, liên quan đến các loại tài sản về nhà cửa, nội thất và đường xá Giá trị thiệt hại theo từng tần suất được tính toán dựa vào kết quả dự báo ngập lụt của TP HCM dưới tác động của triều cường và lưu lượng lũ được xả từ các hồ chứa thượng nguồn và đường cong quan hệ ngập – thiệt hại của từng loại tài sản Hai phương pháp ước tính EAD bằng việc tích phân thiệt hại trên toàn miền tần suất được nêu ra trong nghiên cứu là theo quy luật hình thang và theo quan hệ tuyến tính – logarit Kết quả là, trong điều kiện đầu vào của nghiên cứu, EAD hay rủi ro ngập của khu vực nghiên cứu ước tính tiêu hao khoảng 3,4 ngàn tỷ VNĐ (tương đương 160 triệu USD), trong đó thiệt hại nhà cửa chiếm 73% EAD, nội thất là 26% và đường xá là 1% Xét theo đơn vị hành chính, Quận 8, Huyện Bình Chánh và Quận 7 là các quận/huyện ước tính có giá trị thiệt hại ước tính hàng năm cao nhất với trên 380 tỷ VNĐ (mỗi quận/huyện chiếm trên 10% EAD toàn khu vực khảo sát), do bởi các quận/huyện này nằm trong vùng có địa hình trũng thấp, thường xuyên bị ngập lụt nên mức độ rủi ro ngập cao hơn so với các khu vực khác

Các bản đồ ngập lụt và thiệt hại ngập lụt được xây dựng trong nghiên cứu này sẽ là cơ sở

để cảnh báo về khu vực dễ bị tổn thương và đánh giá rủi ro ngập lụt có ý nghĩa hơn đối với con người và tài sản trong khu vực, góp phần nâng cao chiến lược quản lý ngập lụt tổng hợp trên đại bàn TP HCM

Từ khóa: Bản đồ ngập lụt, triều cường, lũ thượng lưu, TELEMAC2D, phân tích xác suất,

thiệt hại hàng năm ước tính, bản đồ thiệt hại ngập lụt, đường cong ngập – thiệt hại

Trang 4

The research proposes a typical approach in order to forecast inundation hazard displayed

in inundation maps by the impacts of the rising tide and the upstream discharges in Ho Chi Minh City (HCMC) The study area is simulated by TELEMAC2D model which is a hydrodynamic module to model free-surface flows in two dimensions of horizontal space The results indicate the inundated areas of a hypothetical flood event with a specific return period (e.g once every 100 years) via inundation depth In particular, Nha Be District and District 2 are influenced by inundation in a most serious and frequent way, besides that, Binh Thanh and District 4 increase significantly inundated areas when rising flood frequencies The study also uses HCMC topographic map, Sai Gon – Dong Nai river system and hydrological data to create flood hazard maps

Also, the research proposes aproaches to estimate expected annual damage (EAD) due to inundation in HCMC by analysing and assessing flood damages based on levels of the tangible – direct damage relating to residence, furniture and road The damage value in each frequency is calculated based on results of forecasting inundation hazard in HCMC due to the impacts of spring tide and flood from upstream reservoirs, and stage – damage curves of analysed assets The two approaches mentioned through integrating damage over all frequencies of inundation are the trapezoidal rule and the log-linear relation As a result, in research condition, EAD or flood risk in study area costs about 3,4 trillion VND (approximately 160 million USD), of which residence occupies 73% EAD, furniture 26% and road 1% Considering the administrative unit, District 8, Binh Chanh and District 7 are the counties which have the highest EAD values, above 300 billion VND (each obtains over 10% EAD all surveyed districts), because these districts are located in the wetland areas, usually impacted by inundation thus flood risk is higer than others

Such inundation maps and flood damage maps would probably be scientific documents in mitigating more significantly inundation damages people as well as properties and contribute to enhance the integrated urban flood risk management strategy in HCMC

Keywords: Inundation map, spring tide, upstream discharge, TELEMAC2D, probability

analysis, Expected Annual Damage, flood damage map, stage – damage curve

Trang 5

BĐKH : biến đổi khí hậu

MNBD : mực nước biển dâng

TP HCM : thành phố Hồ Chí Minh

KTTĐPN : kinh tế trọng điểm phía Nam

GDP : tổng sản phẩm nội địa (Gross domestic product)

KCN : khu công nghiệp

Trang 6

Bảng 2.1 Giá trị trung bình nhiều năm của các yếu tố khí hậu đặc trưng 8

Bảng 2.2 Các KCN/KCX tại TP HCM 13

Bảng 3.1 Thống kê mạng lưới kênh rạch theo vùng 16

Bảng 3.2 Danh mục dự án đầu tư ngành thoát nước đến năm 2025 18

Bảng 4.1 Mực nước triều Biển Đông và lưu lượng lũ trên các sông theo từng chu kỳ lặp lại 29

Bảng 4.2 Mực nước tính toán và lưu lượng (H và Q) 29

Bảng 4.3 Phân loại thiệt hại ngập lụt 32

Bảng 4.4 Đơn giá thiệt hại và hệ số thiệt hại tương ứng với độ sâu ngập 35

Bảng 5.1 Diện tích ngập lụt theo tần suất ngập lụt 39

Bảng 5.2 So sánh diện tích ngập lụt theo từng mức ngập 40

Bảng 6.1 Giá trị thiệt hại theo từng mức ngập và từng tần suất ngập 41

Bảng 6.2 Giá trị thiệt hại ước tính hàng năm tính toán theo quy luật hình thang 44

Bảng 6.3 Giá trị thiệt hại theo tần suất và ước tính hàng năm của loại tài sản 45

Trang 7

Hình 1.1 Phạm vi nghiên cứu 3

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí địa lý của TP HCM 5

Hình 3.1 Biểu đồ thống kê số lượng điểm ngập từ năm 2009 đến 2013 19

Hình 4.1 Miền tính toán khu vực nghiên cứu 28

Hình 4.2 Sơ đồ tính toán thủy lực theo mô hình nghiên cứu 30

Hình 4.3 So sánh kết quả mực nước giữa thực đo và mô phỏng tại trạm đo Nhà Bè 31

Hình 4.4 So sánh kết quả mực nước giữa thực đo và mô phỏng tại trạm đo Phú An 31

Hình 4.5 So sánh kết quả mực nước giữa thực đo và mô phỏng tại trạm đo Biên Hòa 32

Hình 4.3 Mối quan hệ kết hợp giữa xác suất, lưu lượng, mực nước và thiệt hại 33

Hình 4.4 Đường cong quan hệ giữa hệ số thiệt hại và độ sâu ngập 34

Hình 4.5 Sơ đồ các bước tính toán trong ước tính thiệt hại ngập lụt 35

Hình 5.1 Biểu đồ đường tần suất độ sâu ngập tại trạm đo Nhà Bè 36

Hình 5.2 Bản đồ hiểm họa ngập lụt tại TP HCM ở tần suất 1/1 37

Hình 5.3 Bản đồ hiểm họa ngập lụt tại TP HCM ở tần suất 1/10 37

Hình 5.4 Bản đồ hiểm họa ngập lụt tại TP HCM ở tần suất 1/100 38

Hình 5.5 Bản đồ hiểm họa ngập lụt tại TP HCM ở tần suất 1/1000 38

Hình 5.6 Biểu đồ so sánh % diện tích đất ngập nước theo các tần suất ngập 40

Hình 6.1 Bản đồ thiệt hại ngập lụt tại TP HCM theo tần suất 1/1 42

Hình 6.2 Bản đồ thiệt hại ngập lụt tại TP HCM theo tần suất 1/10 42

Hình 6.3 Bản đồ thiệt hại ngập lụt tại TP HCM theo tần suất 1/100 43

Hình 6.4 Bản đồ thiệt hại ngập lụt tại TP HCM theo tần suất 1/1000 43

Hình 6.5 Biểu đồ đường cong quan hệ tần suất và tổng thiệt hại 44

Hình 6.6 Bản đồ thiệt hại ngập lụt dự kiến hàng năm tại TP HCM 46

Trang 8

Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ kinh phí cho chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài mã số C2013-48-

03

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Trung tâm điều hành chương trình chống ngập nước TP HCM đã nhiệt tình ủng hộ nhóm nghiên cứu trong việc thu thập số liệu về địa hình, địa chất, thủy văn, tình trạng ngập lụt của khu vực nghiên cứu

Chúng tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ viên chức Trung tâm Quản lý nước

và Biến đổi khí hậu – Đại học Quốc gia TP HCM đã hỗ trợ thực hiện nghiên cứu đề tài cũng như hướng dẫn chúng tôi thực hiện các thủ tục cần thiết trong việc nghiệm thu đề tài này

Trân trọng cảm ơn./

Trang 9

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1.1 Tổng quan

Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai,

có dạng kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, diện tích tổng cộng là 2.095 km2 TP HCM nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Địa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Nhìn chung, địa hình TP HCM không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt (Điều kiện tự nhiên, 2011) Xét theo sơ đồ thủy hệ, thượng lưu TP HCM chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc xả lũ từ hai

hồ chứa nước lớn là hồ Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn và hồ Trị An trên sông Đồng Nai Ngoài ra, tình hình lũ lụt ở TP HCM còn bị tác động bởi lưu lượng lũ từ đồng bằng sông Cửu Long theo hai nhánh sông Vàm Cỏ ở phía Tây – Nam thành phố Về phía hạ lưu, triều Biển Đông tác động vào khu vực thành phố theo hai hướng cửa sông chính là Soài Rạp và Lòng Tàu

TP HCM là trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam và là một thành phố đông dân với hơn 7,9 triệu người (Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh, 2014) Với kết cấu hạ tầng đô thị được xây dựng từ trước 1975, tuy nhiên dưới áp lực dân số, diện tích xây dựng ngày càng tăng, diện tích thấm tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, các kênh rạch bị lấn chiếm, cốt nền một số nơi bị sụt lún, TP HCM đang đối mặt với nguy cơ ngập lụt trầm trọng Hệ thống thoát nước đô thị của TP HCM được thiết kế với các thông số mưa và mực nước chưa xét đến tác động của BĐKH Hiện nay dưới tác động của BĐKH và quá trình đô thị hóa dẫn đến lượng mưa gia tăng, mực nước tại tuyến cửa

ra cũng gia tăng theo thời gian Sự gia tăng lượng mưa và mực nước làm cho hệ thống thoát nước tại khu vực TP HCM bị quá tải, dẫn đến tình trạng ngập lụt ngày càng nghiêm trọng hơn Chính

vì vậy, việc kiểm soát ngập lụt đô thị đã và đang là vấn đề cấp thiết của các đô thị trên thế giới nói chung và của TP HCM nói riêng

Để giải quyết vấn đề này, đã có một số giải pháp được thực hiện là nâng cấp hoặc mở rộng

hệ thống thoát nước hiện có, xây dựng đê hoặc lắp thêm bơm và cổng ngăn triều để kiểm soát lũ lụt Tuy nhiên BĐKH sẽ ngày càng làm cho các biến cố cực đoan trở nên phổ biến hơn, giải pháp này chỉ mang tính đối phó và đặc biệt các thông số thiết kế thường được dựa trên số liệu lịch sử

để ứng phó với các diễn biến trong tương lai, do đó, các thành phố vẫn có nguy cơ bị ngập bởi các hiện tượng thời tiết bất thường như mưa lớn và triều cường Từ đó các quan điểm truyền thống về kiểm soát ngập lụt sẽ không còn đơn thuần là các giải pháp kỹ thuật mà cần phải kết hợp với các giải pháp thích nghi cũng như nâng cao khả năng chống chọi của cộng đồng

Để chủ động đối phó với tình trạng ngập lụt, TP HCM đã và đang thực hiện nhiều dự án chống ngập như dự án Vệ sinh môi trường thành phố (lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè), dự án Nâng cấp đô thị (lưu vực Tân Hóa – Lò Gốm), dự án Cải thiện môi trường nước (lưu vực Tàu Hủ – Bến Nghé – Kênh Đôi – Kênh Tẻ)… nhằm tăng khả năng tiêu thoát nước cho hệ thống cống rãnh trong thành phố, phát huy khả năng trữ nước của hệ thống kênh rạch, hồ chứa và các khu thấp trũng, bảo

vệ các khu dân cư và khu công nghiệp trong đô thị bằng hàng ngàn km đê bao, bờ bao Vì vậy, các công trình đã góp phần vào việc giảm đáng kể số lượng các điểm ngập từ 96 điểm ngập (năm 2009) còn 06 điểm (năm 2014) khi mưa lớn kết hợp với triều cường (TTCN, 2015)

Bên cạnh đó, nguy cơ ngập lụt (NCNL) theo quan niệm hiện đại không phải chỉ là các thông số về ngập lụt (diện tích ngập, độ sâu ngập, vận tốc dòng chảy) mà còn bao hàm những thiệt hại tiềm tàng có thể gây ra do ngập lụt và khả năng hồi phục sau ngập lụt (de Moet & nnk, 2009) Các đánh giá về nguy cơ ngập lụt cho phép có một góc nhìn rộng hơn về nguyên nhân, thiệt hại và công tác ứng phó Đây là một xu hướng được sử dụng phổ biến trên thế giới trong những năm gần

Trang 10

đây để thay thế cho bản đồ chỉ đơn thuần mô tả phạm vi ngập lụt và độ sâu ngập Tuy nhiên những

áp dụng của phương pháp này vẫn chưa được phổ biến ở Việt Nam

Theo báo cáo IPCC (Solomon & nnk, 2007), Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia

dễ bị ảnh hưởng nhiều bởi tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và mực nước biển dâng (MNBD), cùng với quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng trong những năm gần đây nên gây ra các tác động bất lợi đến sự phát triển kinh tế-xã hội, đời sống sinh hoạt và sức khỏe của người dân Một trong các hệ quả tiêu cực thường xuyên xảy ra chính là ngập lụt đô thị Trong các báo cáo tại Hội thảo về cuộc sống đô thị C40 (ARUP, 2010), TP HCM nằm trong khu vực dễ bị tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) và có nguy cơ hứng chịu những hiện tượng khí hậu cực trị (tổ hợp các yếu tố bất lợi như: bão, lũ thượng nguồn và mưa lớn vượt tần suất thiết kế) Bộ Tài nguyên và Môi trường

đã công bố kịch bản dự báo tác động của BĐKH đối với khu vực TP HCM giai đoạn 2020-2100 tương ứng với kịch bản phát thải trung bình (B2) (Bộ TN&MT, 2012)

Theo một số nghiên cứu gần đây (Hồ Long Phi, 2007 & 2013), ảnh hưởng từ việc xả lũ ở thượng nguồn đối với mực nước cao nhất hằng năm trên các sông trong khu vực TP HCM ít quan trọng hơn tác động bởi triều cường từ Biển Đông Mực nước cao nhất hằng năm tại các trạm quan trắc thủy văn bên trong nội địa đều có tương quan rất chặt chẽ với mực nước biển quan sát tại trạm Vàm Kênh (Hồ Long Phi, 2013) Theo số liệu quan trắc từ Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam

Bộ, mực nước đỉnh triều tại trạm Nhà Bè (kênh Đồng Điền) đang gia tăng từ +1,55 m (2010) lên đến +1,68 m (2013) (vượt mức báo động III từ 0,05 m đến 0,18 m), đây là mức cao nhất trong chuỗi quan trắc Trong thời gian triều cường, nước sẽ tràn vào các con kênh ở khu vực đô thị thấp trũng chưa có hệ thống đê bao gây ra những đợt ngập định kỳ tại những khu vực này

Với xu thế khí hậu ngày càng khắc nghiệt như hiện nay, tình trạng ngập lụt vẫn tiếp tục diễn ra với các điểm tái ngập và các điểm ngập mới, các sự cố vỡ đê bao, bờ bao khi triều cường, mưa lớn… Ngoài ra, đáng chú ý là TP HCM đang phải đối mặt với nguy cơ mực nước biển dâng, theo đó nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng trên 20% diện tích TP HCM, trên 11% chiều dài quốc lộ, gần 9% tỉnh lộ, khoảng 4% đường sắt có nguy cơ bị ngập và khoảng 7% dân số TP HCM bị ảnh hưởng trực tiếp (Bộ TN&MT, 2012) Như vậy, thiệt hại về kinh tế - xã hội do ngập lụt đô thị sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn và cần có các đánh giá thiệt hại toàn diện và đầy

đủ, giúp hỗ trợ ra quyết định đầu tư các công trình chống ngập tại những khu vực thiệt hại nhiều

Với các tồn tại và hiện trạng nêu trên, đề tài nghiên cứu được tiến hành nhằm thiết lập bản

đồ NCNL cho TP HCM để có thể đề xuất định hướng ưu tiên cho việc phân bổ đầu tư cho công tác kiểm soát ngập cũng như chuẩn bị cơ sở cho việc xây dựng hệ thống ứng phó với thiên tai đô thị Dựa trên kết quả nghiên cứu sẽ đề xuất phối hợp các giải pháp kiểm soát ngập lụt bền vững cho thành phố cũng như tiến độ đầu tư bổ sung các giải pháp giảm nhẹ ngập lụt trong tương lai nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư

1.2 Mục tiêu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm dự báo hiểm họa ngập lụt trên địa bàn TP HCM với các tần suất xuất hiện khác nhau từ sự kiện bình thường với tần suất 1/1 hay 1/10 (1 năm xảy ra 1 lần, 10 năm xảy ra 1 lần), sự kiện trung hạn với tần suất 1/100 (100 năm mới xảy ra 1 lần) đến sự kiện cực hạn với tần suất 1/1000 (1000 năm mới xảy ra 1 lần) Các tần suất này phản ánh khả năng xuất hiện ngập lụt tại TP HCM dưới tác động của triều cường kết hợp vận hành xả lũ từ các hồ chứa nước ở thượng lưu Kết quả tính toán được trình bày thông qua việc xây dựng bản đồ ngập lụt theo các tần suất thiết kế tương ứng Bản đồ ngập lụt thể hiện mức độ ngập và phạm vi ảnh hưởng ngập lụt trong khu vực nghiên cứu Đây là tài liệu cơ bản, làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch phòng tránh lũ lụt, lựa chọn các biện pháp, thiết kế các công trình khống chế lũ, là thông tin

Trang 11

cần thiết để thông báo cho nhân dân về hiểm họa do lũ lụt gây ra ở nơi họ cư trú và hoạt động (de Moet H & nnk, 2009)

Mục tiêu thứ hai của nghiên cứu này là đề ra phương pháp nhằm ước tính thiệt hại hàng năm (Expected Annual Damage – EAD) do ngập lụt gây ra trên địa bàn TP HCM dựa trên việc phân tích và đánh giá mức độ thiệt hại của một số loại tài sản khi ngập xảy ra Giá trị thiệt hại của từng tần suất được tính toán dựa vào kết quả dự báo ngập lụt của TP HCM dưới tác động của triều cường và lưu lượng lũ được xả từ các hồ chứa thượng nguồn và đường cong quan hệ ngập – thiệt hại của từng loại tài sản bị ảnh hưởng do ngập Bên cạnh đó, bài báo cũng xây dựng các bản đồ thiệt hại ngập lụt theo các tần suất ngập đã tính toán trong khu vực nghiên cứu nhằm cảnh báo về khu vực dễ bị tổn thương và đánh giá rủi ro ngập lụt đối với con người và tài sản trong khu vực, góp phần nâng cao chiến lược quản lý ngập bền vững trên địa bàn TP HCM

Phạm vi nghiên cứu của bài báo này là khu vực đô thị hóa của TP HCM (không bao gồm Huyện Củ Chi và Huyện Cần Giờ) được thể hiện trong hình 1.1 Tổng diện tích khu vực nghiên cứu là 95.700ha

Hình 1.1 Phạm vi nghiên cứu

1.3 Nội dung

Đề tài nghiên cứu bao gồm các nội dung sau đây:

Chương 1 Mở đầu: giới thiệu tổng quan, khái quát về hiện trạng TP HCM đồng thời

nêu lên tính cấp thiết, mục tiêu và nội dung sơ lược của đề tài nghiên cứu

Chương 2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội : giới thiệu về điều kiện tự nhiên,

điều kiện kinh tế - xã hội của TP HCM và nêu ra định hướng phát triển trong tương lai

của TP HCM

Trang 12

Chương 3 Hiện trạng ngập lụt đô thị: phân tích, đánh giá hiện trạng ngập lụt đồng

thời đề cập các yếu tố gây ảnh hưởng và tác động đến tình trạng ngập lụt tại TP HCM

Phân tích các kịch bản ảnh hưởng của BĐKH đối với TP.HCM

Chương 4 Phương pháp nghiên cứu: giới thiệu và diễn giải các phương pháp và

thuật toán dùng trong việc nghiên cứu của đề tài

Chương 5 Bản đồ ngập lụt: dự báo và đánh giá phạm vi ảnh hưởng ngập lụt trong

khu vực nghiên cứu trước nguy cơ triều cường kết hợp với vận hành xả lũ các hồ chứa

thượng lưu theo các chu kỳ lặp lại

Chương 6 Bản đồ rủi ro ngập lụt: phân tích, đánh giá các bản đồ rủi ro ngập lụt TP

HCM từ các bản đồ độ sâu ngập đã tính toán trong chương 5 theo phương pháp tích

hợp

Chương 7 Kết luận và kiến nghị: tóm tắt và nhận xét kết quả từ nghiên cứu, nêu các

đề xuất và kiến nghị đối với cấp quản lý nhằm làm giảm rủi ro ngập lụt cho TP HCM trong tương lai

Trang 13

CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI 2.1 Điều kiện tự nhiên

và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang (Điều kiện tự nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011) Hình 2.1 thể hiện vị trí địa lý của TP HCM giữa các tỉnh vùng Đông Nam Bộ

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí địa lý của TP HCM

Trang 14

2.1.2 Địa hình

TP HCM nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Ðịa hình tổng quát phần lớn bằng phẳng, có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây, có một ít đồi gò ở phía Bắc và Đông Bắc Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình (Điều kiện tự nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011):

 Vùng cao nằm ở phía Bắc – Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc Huyện Củ Chi, đông bắc Quận Thủ Ðức và Quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình từ

10 ÷ 25m và xen kẽ có những đồi gò có độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình (Quận 9)

 Vùng thấp trũng ở phía Nam – Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) Vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m

 Vùng trung bình, phân bố ở khu vực trung tâm thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ Quận 12 và Huyện Hóc Môn Vùng này có độ cao trung bình từ 5 ÷ 10m

Nhìn chung, địa hình TP HCM không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt

2.1.3 Khí hậu

TP HCM nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Cũng như các tỉnh ở Nam Bộ, đặc điểm chung của khí hậu – thời tiết TP HCM là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô, làm chi phối môi trường cảnh quan sâu sắc (Điều kiện tự nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011):

 Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11 (khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao mưa nhiều)

 Mùa khô được bắt đầu từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau (khí hậu khô mát, nhiệt độ cao vừa mưa ít đôi khi không mưa)

 Nhiệt độ không khí trung bình năm: 28,2oC

 Nhiệt độ không khí tối đa: 29,5oC

 Nhiệt độ không khí tối thiểu: 27,2oC

 Nhiệt độ không khí tháng nóng nhất (tháng 4): 29,5oC

 Nhiệt không khí tháng lạnh nhất (tháng 1): 27,2oC

Trang 15

c Lượng bốc hơi

Tổng lượng bốc hơi trung bình năm là 1.130mm Tổng lượng bốc hơi các tháng mùa khô cao hơn các tháng mùa mưa Tổng lượng bốc hơi tháng cao nhất là 168,6mm vào tháng 3 và tổng lượng bốc hơi thấp tháng thấp nhất là 63,7mm vào tháng 10

d Độ ẩm

Độ ẩm không khí trung bình nhiều năm là 79,5% Mùa khô độ ẩm thay đổi trong khoảng

từ 68 ÷ 73%, bình quân 74,5% và có xu hướng giảm từ đầu mùa đến cuối mùa Mùa mưa độ ẩm thay đổi trong khoảng từ 76 ÷ 82%, bình quân 80% và có xu hướng tăng đến giữa mùa và giảm dần đến cuối mùa

Độ ẩm trong ngày thay đổi trong khoảng từ 63 ÷ 88% Trong đó, mức độ chênh lệch độ ẩm giữa buổi sáng và buổi tối khoảng từ 21 ÷ 29% trong mùa khô và khoảng từ 18 ÷ 21% trong mùa mưa

e Lượng mưa

Chế độ mưa cũng ảnh hưởng đến chất lượng không khí Khi mưa, các chất lơ lửng và các chất gây ô nhiễm không khí khác trong không trung được nước mưa rửa sạch Nồng độ chất gây ô nhiễm giảm hẳn trong khí quyển

Lượng mưa trung bình của TP HCM theo số liệu nhiều năm khoảng 1.950mm/năm Trong

đó, năm 1908 đạt cao nhất 2.718mm và thấp nhất là 1.392mm vào năm 1958 Mùa khô không có hoặc ít mưa với lượng mưa cao nhất từ 10 ÷ 50mm (thường xu hướng giảm đến giữa mùa và tăng trở lại đến cuối mùa) Ngược lại, trong các tháng mùa mưa lượng mưa gia tăng trong khoảng từ

110 ÷ 340mm Lượng mưa cao kỷ lục của một tháng trong khoảng 100 năm qua là 680mm

Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa Số ngày mưa chỉ khoảng 1,0 đến 6,7 ngày trong mùa khô Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng

5 đến tháng 11, trong đó hai tháng 6 (khoảng 310mm) và tháng 9 (trung bình từ 320 ÷ 500mm) thường có lượng mưa cao nhất Các tháng 1, 2, và 3 mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể Mưa thấp nhất vào tháng 2 (45mm)

Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam – Ðông Bắc Ðại bộ phận các quận nội thành và các huyện phía Bắc thường

có lượng mưa cao hơn các quận/huyện phía Nam và Tây Nam Về không gian, lượng mưa có xu thế tăng dần từ Tây Nam lên Đông Bắc: ở các huyện Cần Giờ, Nhà Bè, và Nam Bình Chánh, mưa

từ 1.200 đến 1.500mm, trong khi ở nội thành, Quận 9, Huyện Hóc Môn, và Củ Chi lượng mưa từ 1.800 ÷ 1.900mm

f Gió

TP HCM chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính:

 Gió mùa Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương thổi vào phổ biến trong mùa mưa khoảng

từ tháng 6 đến tháng 10, tốc độ trung bình khoảng 3,6m/s và gió thổi mạnh nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4,5m/s

 Gió mùa Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông thổi vào phổ biến trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 2, tốc độ trung bình 2,4m/s

Trang 16

Ngoài ra còn có gió tín phong theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng từ tháng 3 tới tháng 5 có vận tốc trung bình 3,7m/s Tuy nằm trong khu vực bão nhiệt đới Thái Bình Dương nhưng thành phố ít bị ảnh hưởng, từ một vài cơn bão cuối mùa (tháng 11 và tháng 12) Những cơn dông nhiệt đới mùa hè có gió xoáy tới 20m/s có lúc tới 36 m/s

Bảng 2.1 thể hiện giá trị trung bình nhiều năm của các yếu tố khí hậu đặc trưng của TP HCM bao gồm lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, gió và số giờ nắng

Bảng 2.1 Giá trị trung bình nhiều năm của các yếu tố khí hậu đặc trưng

Các yếu tố

khí hậu Trung

bình nhiều năm

kỷ lục 2.710 110 50 120 230 560 520 590 500 680 600 280 300 Ngày

15 tỷ m3 nước và là nguồn nước ngọt chính của TP HCM Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua thành phố Thủ Dầu Một – tỉnh Bình Dương đến thành phố với chiều dài 200km

và chảy dọc trên địa phận thành phố với chiều dài 80km Hệ thống các chi lưu của sông Sài Gòn rất nhiều và có lưu lượng trung bình vào khoảng 54m3/s Sông Ðồng Nai nối thông qua sông Sài Gòn ở phần nội thành mở rộng, bởi hệ thống Rạch Chiếc Sông Nhà Bè hình thành từ chỗ hợp lưu của sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn, cách trung tâm thành phố khoảng 5km về phía Ðông Nam

Nó chảy ra biển Ðông bằng hai ngả chính: ngả Soài Rạp dài 59km, bề rộng trung bình 2km, lòng

Trang 17

sông cạn, tốc độ dòng chảy chậm; ngả Lòng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái, dài 56km, bề rộng trung bình 0,5km, lòng sông sâu, là đường thủy chính cho tàu bè ra vào bến cảng Sài Gòn

Ngoài trục các sông chính kể trên, thành phố còn có mạng lưới kênh rạch chằng chịt, như

ở hệ thống sông Sài Gòn có các rạch Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Bến Nghé, Tân Hóa – Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi và ở phần phía Nam Thành phố thuộc địa bàn các huyện Nhà Bè và Cần Giờ mật độ kênh rạch dày đặc Cùng với hệ thống kênh cấp 3 và 4 của kênh Ðông – Củ Chi và các kênh đào An Hạ, kênh Xáng, Bình Chánh, hệ thống kênh rạch ở TP HCM đã giúp cho việc tưới tiêu đạt hiệu quả cao, giao thông thủy thuận lợi và đang dần dần từng bước thực hiện các dự án giải tỏa, nạo vét kênh rạch, chỉnh trang ven bờ, tô điểm vẻ đẹp cảnh quan sông nước, phát huy lợi thế hiếm có đối với một đô thị lớn

Về thủy văn, hầu hết các sông rạch ở TP HCM đều chịu ảnh hưởng dao động bán nhật triều của Biển Ðông Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều xâm nhập sâu vào các kênh rạch trong thành phố, điều này gây nên tác động không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành Mực nước triều bình quân cao nhất là 1,10m Các tháng có mực nước cao nhất là tháng 10 và 11, thấp nhất là các tháng 6 và 7 Về mùa khô, lưu lượng đầu nguồn các sông nhỏ, độ mặn 4% có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến quá Lái Thiêu,

có năm đến đến tận Thủ Dầu Một và trên sông Ðồng Nai đến Long Ðại Mùa mưa lưu lượng của nguồn lớn, nên mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị pha loãng đi nhiều

Từ khi có các công trình thủy điện Trị An và thủy lợi Dầu Tiếng ở thượng nguồn, chế độ chảy tự nhiên chuyển sang chế độ chảy điều tiết qua tuốt bin, đập tràn và cống đóng – xả, nên môi trường vùng hạ du từ Bắc Nhà Bè trở lên chịu ảnh hưởng của thượng nguồn, nói chung đã được cải thiện theo chiều hướng ngọt hóa Dòng chảy vào mùa kiệt tăng lên, đặc biệt trong các tháng từ tháng 2 đến tháng 5 tăng 3 ÷ 6 lần so với tự nhiên Vào mùa mưa, lượng nước được điều tiết giữ lại trong hồ chứa, làm giảm thiểu khả năng úng lụt đối với những vùng trũng thấp; nhưng ngược lại, nước mặn lại xâm nhập vào sâu hơn Tuy nhiên, nhìn chung, đã mở rộng được diện tích cây trồng bằng việc tăng vụ mùa canh tác Ngoài ra, việc phát triển các hệ thống kênh mương, đã có tác dụng nâng cao mực nước ngầm trên tầng mặt lên từ 2 ÷ 3m, tăng thêm nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của thành phố

lệ 23,4% diện tích đất thành phố

 Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố, trầm tích này có nhiều nguồn gốc như ven biển, vũng vịnh, sông biển, aluvi lòng sông, bãi bồi nên đã hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa có diện tích 15.100 ha (7,8%), nhóm đất phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn mặn 45.500 ha (23,6%) Ngoài ra có một diện tích

Trang 18

nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò

Ở TP HCM, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc màu; đất xám có tầng loang lổ

đỏ vàng và đất xám gley; trong đó, hai loại đầu chiếm phần lớn diện tích Ðất xám nói chung có thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém; mực nước ngầm tùy nơi và tùy mùa biến động sâu từ 1 ÷ 15m Ðất chua, độ pH khoảng 4 ÷ 5 Ðất xám tuy nghèo dinh dưỡng, nhưng đất có tầng dày, nên thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp, có khả năng cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh, thâm canh tốt Nền đất xám, phù hợp đối với sử dụng bố trí các công trình xây dựng cơ bản

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.1 Dân số

Dân số bình quân trên địa bàn thành phố năm 2013 ước tính hiện có 7,99 triệu người, tăng 2,5% so với năm 2012; khu vực thành thị là 6,59 triệu người, chiếm 82,5% trong tổng dân số, tăng 2,7% so năm trước Tỷ lệ tăng dân số cơ học 15,42‰, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 10,04‰ (Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh, 2014) Trong hai thời kỳ từ 1979 ÷ 1989 và từ 1989 ÷ 1999 dân số thành phố tăng chủ yếu do yếu tố tăng tự nhiên thì trong 10 năm trở lại đây dân số thành phố tăng chủ yếu là do yếu tố cơ học

Sự phân bố dân cư ở TP HCM không đồng đều, ngay cả các quận nội ô Trong khi các quận 3, 4, 5, 10, hay 11 có mật độ lên tới trên 40.000người/km² thì các quận 2, 9, và 12 chỉ khoảng 2.000 tới 7.000người/km² Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chỉ có 103người/km²

Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng KTTĐPN và trung tâm đối với vùng Nam Bộ Với mức đóng góp GDP là 66,1% trong vùng KTTĐPN và đạt mức 30% trong tổng GDP của cả khu vực Nam Bộ

Theo số liệu của “Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội TP Hồ Chí Minh tháng 12 và năm 2013” (Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh, 2014), GDP trên địa bàn cả năm tăng 9,3% so năm trước, cao hơn mức tăng 9,2% của năm 2012 Giá trị tăng thêm khu vực nông lâm thủy sản đạt 7.769 tỷ đồng, chiếm 1,02% GDP, tăng 5,6% Giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 310.641 tỷ đồng chiếm 40,6% GDP, tăng 7,4% Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ đạt 446.151 tỷ đồng chiếm 58,4% GDP tăng 10,7% Mức tăng chỉ số công nghiệp cả năm 2013 ước đạt 6,35%

so năm 2012 Giá trị sản xuất xây dựng cộng dồn cả năm theo giá thực tế ước thực hiện 152.556,2

tỷ đồng, tăng 5,8% so với năm trước Tổng vốn đầu tư trên địa bàn năm 2013 ước thực hiện 227.033 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 4,7% Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn 12 tháng ước thực hiện 197.684 tỷ đồng, bằng 92,3% kế hoạch năm; tăng 4,6% so với năm 2012 Vốn

Trang 19

đầu tư xây dựng và sửa chữa lớn thuộc ngân sách thành phố: 12 tháng ước thực hiện 18.941,9 tỷ đồng, đạt 90,4% kế hoạch năm, tăng 11,2% so với cùng kỳ Tính đến ngày 30/11, toàn thành phố

đã cấp 38.344 giấy phép xây dựng và sửa chữa lớn, với diện tích sàn 6.619,8 ngàn m2 Từ đầu năm đến ngày 15/12, đã có 440 dự án có vốn nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn thành phố với tổng vốn đăng ký đạt 963,1 triệu USD (vốn điều lệ 664,5 triệu USD) Vốn đầu tư bình quân một dự án đạt 2,2 triệu USD

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2013 đạt 14.633,5 tỷ đồng, tăng 5,7%

so với năm trước Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 10.742,1 tỷ đồng, tăng 4,6%; trong đó trồng trọt tăng 5,4%, chăn nuôi tăng 4% Diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 44.371 ha, tăng 6,7% so năm trước Giá trị sản xuất lâm nghiệp 132,1 tỷ đồng,tăng 5,6% Tổng diện tích đất lâm nghiệp 36.727 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 34.411 ha, đạt tỉ lệ che phủ là 16,4% Sản lượng

gỗ khai thác 19.825 m3, tăng 22,1%; sản lượng củi 3.871 Ste Giá trị sản xuất thuỷ sản ước đạt 3.759 tỷ đồng, tăng 9,6% Sản lượng thuỷ sản ước đạt 52.163,5 tấn tăng 5,3%

Ước tính cả năm, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 606.978,9 tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ Doanh thu khách sạn và dịch vụ du lịch lữ hành cả năm ước đạt 21.469

tỷ đồng, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước Trong đó doanh thu khách sạn tăng 10,2%, dịch

vụ du lịch lữ hành tăng 24,6% Chỉ số giá tiêu dùng bình quân của cả năm 2013 (so với giá bình quân 2012) tăng 3,67% Chỉ số giá bình quân của vàng giảm 8,48% so với năm trước, tỷ giá USD bình quân tăng 1,2% Ước tính năm 2013, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 26.575,1 triệu USD, giảm 6% so năm trước Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 25.879,6 triệu USD, tăng 14,9% so năm trước Tổng doanh thu vận tải ước tính năm 2013 đạt 54.854,4 tỷ đồng, tăng 15,6% so năm trước Doanh thu vận tải hàng hóa đạt 38.067,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 69,4% trong tổng doanh thu vận chuyển, tăng 16,6% so năm trước; Khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 134.254 nghìn tấn, tăng 11,7%

so năm trước Khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 55.533,5 triệu tấn.km, tăng 5,7% Doanh thu vận tải hành khách tháng đạt 16.787,2 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 30,6% trong tổng doanh thu vận chuyển, tăng 13,6%

so năm trước Số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 765.176 nghìn lượt người, tăng 5,2% so năm trước Hành khách luân chuyển đạt 15.652,7 triệu lượt người.km, tăng 3,8% Khối lượng hàng hóa thông qua cảng đạt 73.072,2 nghìn tấn, tăng 9,2% so với năm trước; trong đó hàng hoá xuất khẩu 28.011,1 nghìn tấn, chiếm 38,3%, tăng 8,3%; hàng nhập khẩu 32.556,6 nghìn tấn, chiếm 44,6%, tăng 11,2%; hàng nội địa 12.417,4 ngàn tấn, tăng 5,5%

Tổng thu cân đối ngân sách Nhà nước 12 tháng ước thực hiện 229.514 tỷ đồng, đạt 100%

dự toán, tăng 8,2% so cùng kỳ Thu ngân sách nhà nước địa phương ước 59.684,5 tỷ đồng, vượt 37,6% dự toán, tăng 3,4% so cùng kỳ Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 46.574,2 tỷ đồng, vượt 7,4% dự toán, giảm 22,5% so cùng kỳ Chi đầu tư phát triển ước thực hiện 20.413,5 tỷ đồng, tăng 4,2% so cùng kỳ Tổng chi ngân sách nhà nước địa phương kể cả tạm ứng 12 tháng ước 69.357,2 tỷ đồng, vượt 59,9% dự toán, tăng 15,4% so cùng kỳ Tổng vốn huy động trên địa bàn thành phố đến đầu tháng 12/2013 đạt 1.127,9 ngàn tỷ đồng, tăng 10,2% so cuối năm 2012 Tổng

dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố đạt 931,1 ngàn tỷ đồng, tăng 6,5%

2.2.3 Xã hội

a Y tế

Năm 2013, thành phố vẫn tiếp tục tập trung chỉ đạo khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, xử lý nước thải, chất thải nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, chống và dập các loại dịch bệnh nguy hiểm, tiếp tục công tác kiểm tra, giám sát phòng chống dịch tại các phường/xã có số ca mắc cao và hỗ trợ phun thuốc phòng chống dịch tại các quận/huyện Đồng thời tăng cường công tác

Trang 20

phòng chống dịch thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và tổ chức tuyên truyền trong các trường học

Kiểm soát bệnh trong các trường mầm non, nhóm trẻ gia đình và các ca bệnh ở cộng đồng đông dân cư, nhất là ở các khu nhà trọ, xử lý triệt để các ca bệnh và ổ dịch theo hướng dẫn của Trung tâm Y tế Dự phòng (Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh, 2014)

b Giáo dục

Tình hình giáo dục đầu năm học 2013 – 2014 (Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh, 2014):

 Mầm non: toàn thành phố có 877 trường mẫu giáo, mầm non tăng 9,6% (tăng 77 trường)

so với năm học trước Số phòng học 12.446 phòng, tăng 11,4% Số lớp học 11.048 lớp, tăng 11,8% (tăng 1.170 lớp) Số giáo viên 17.956 người, tăng 10,1% (tăng 1.647 người)

Số trẻ em đi nhà trẻ, mẫu giáo 325.284 em, tăng 11,1% (tăng 32.379 em) so với năm học trước

 Phổ thông: toàn thành phố có 922 trường phổ thông, tăng 5 trường so với năm học trước Số phòng học 26.017 phòng, tăng 2% (tăng 509 phòng) Số lớp học là 27.096 lớp, tăng 2,2% (tăng 583 lớp) Số giáo viên 46.988 người, tăng 4,2% (tăng 1.873 giáo viên) Tỷ lệ cán bộ quản lý và giáo viên của thành phố đạt chuẩn giáo dục là trên 99,1%

Số học sinh đầu năm học 1.083,3 ngàn học sinh, tăng 3,5%; trong đó số học sinh trẻ 6 tuổi vào lớp 1 là 116,3 ngàn, sĩ số bình quân 40 học sinh/lớp

c Công tác xóa đói giảm nghèo

Tính đến 30/11, trên địa bàn thành phố còn khoảng 18.542 hộ nghèo (theo chuẩn thu nhập dưới 12 triệu đồng/người/năm) với 81.709 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 1,02% tổng số hộ dân, ước cả năm 2013 tỷ lệ này đạt 0,8% Theo chuẩn quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 về hộ nghèo và cận nghèo, thành phố không còn hộ nghèo, hộ có thu nhập trong chuẩn hộ cận nghèo còn 1.886 hộ, với 7.200 nhân khẩu, chiếm 0,001% tổng hộ dân thành phố

Quỹ giảm nghèo đến ngày 30/11 có 260,1 tỷ đồng, đang trợ vốn cho 31.519 hộ nghèo và

165 cơ sở sản xuất kinh doanh thu nhận 1.820 lao động nghèo với tổng số tiền 214,2 tỷ đồng Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội cho người nghèo – hộ nghèo, các ngành chức năng của thành phố đã lập danh sách và cấp phát 103.120 thẻ BHYT cho người nghèo – người cận nghèo (theo chuẩn nghèo của thành phố), hỗ trợ 1,13 tỷ đồng cho 1.214 học sinh thuộc diện hộ nghèo Đào tạo nghề cho 1.920 lao động nghèo và giới thiệu việc làm cho 12.441 lao động nghèo và 23 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Phát 63.182 phần quà với kinh phí 28,8 tỷ đồng chăm lo tết trong dịp Tết Nguyên Đán 2013… (Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh, 2014)

d Giải quyết việc làm

Đến tháng 12/2013 các khu vực kinh tế trên địa bàn thành phố đã thu hút và giải quyết việc làm cho 28,3 ngàn lượt lao động, trong đó lao động có việc làm ổn định là 21,3 ngàn người, số chỗ việc làm mới tạo ra là 12,5 ngàn chỗ Như vậy, năm 2013 thành phố đã thu hút lao động, giải quyết việc làm 293,2 ngàn lượt người, vượt 10,6% kế hoạch năm, tăng 1,47% so với năm 2012

Tỷ lệ số người thất nghiệp năm 2013, trên cơ sở theo dõi kết quả thu thập, ghi chép thông tin về tình trạng giải quyết việc làm của người từ 15 tuổi trở lên của lao động thành phố là 4,83% (Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh, 2014)

e Tình hình thực hiện bảo hiểm thất nghiệp

Trong năm 2013 (tính từ 02/01 đến 06/12), trên địa bàn thành phố có 117,6 ngàn người lao động đến Trung tâm giới thiệu việc làm thành phố đăng ký thất nghiệp, giảm 15,6% so với năm

Trang 21

2012 Có 104,9 ngàn người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp 104,2 ngàn người đã nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 12,9% so cùng kỳ, số tiền chi trả trợ cấp thất nghiệp

là 1.174 tỷ đồng Số người được tư vấn, giới thiệu việc làm là 154,8 ngàn người Số người được

hỗ trợ học nghề là 4,9 ngàn người, với số tiền hỗ trợ 870 triệu đồng

Thành phố đã thu hút lao động, giải quyết việc làm 293,2 ngàn lượt người, vượt 10,6% kế hoạch năm, tăng 1,47% so với năm 2012 Số chỗ việc làm mới được tạo ra trong năm là 123 ngàn, vượt 2,5% kế hoạch năm, tăng 0,06% so với năm trước (Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh, 2014)

2.3 Định hướng phát triển kinh tế TP HCM

Trong tương lai thành phố phát triển các ngành kinh tế chủ lực, là địa phương đầu tiên tập trung phát triển các ngành cơ khí gia dụng, sản xuất phương tiện vận tải, chế tạo máy, các ngành công nghệ cao… vẫn là đầu mối xuất nhập khẩu, du lịch của cả nước với hệ thống cảng biển phát triển Việc hình thành các hệ thống giao thông như đường Xuyên Á, đường Đông Tây… sẽ tạo điều kiện cho kinh tế thành phố tăng trưởng mạnh mẽ

Định hướng quy hoạch xây dựng công nghiệp trong quy hoạch chung của TP HCM đến năm 2020 theo quyết định 123/1998/TTg chưa quan tâm đến việc bố trí các KCN gắn với các khu dân cư, đặc biệt dân cư nông thôn nhằm thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Chính sách giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân các KCN chưa đồng bộ Đặc biệt chương trình di dời các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm trong nội thành vào các KCN, cụm công nghiệp tập trung đã làm phát sinh thêm nhu cầu sử dụng đất tại các nơi này

Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020, TP HCM sẽ có 22 KCX, KCN với tổng diện tích khoảng 5.809 ha (theo bảng 2.2)

8 KCN Tân Bình (GĐ1&GĐ2) Q Tân Phú và Q Bình

Trang 22

17 KCN Phú Hữu Quận 9 114

Các hạng mục hạ tầng đường bộ được quy hoạch chính là:

 Cải thiện và nâng cấp các quốc lộ xuyên tâm hiện tại (Quốc lộ 1, 1K, 13 và 22)

 Cải thiện các con đường tỉnh lộ hiện có để hỗ trợ các quốc lộ xuyên tâm

 Xây dựng đường vành đai: 1, 2, 3 và 4 kết nối TP HCM với các đô thị vệ tinh

 Xây dựng và cải thiện các con đường nội đô chính

 Xây dựng 4 con đường trên cao

 Tạo ra các nút giao thông giữa đường vành đai với đường trục, đường xuyên tâm với các con đường nội đô chính Đã có kế hoạch cải thiện và xây mới 80 nút giao thông chính thuộc các cấp độ khác nhau nằm trên đường vành đai, đường trục, đường xuyên tâm và đường nội đô, và 33 nút chính cùng cấp độ

 Xây dựng cầu và hầm giao thông: 52 cầu lớn trong thành phố (21 cây cầu hiện tại và

31 cầu xây mới) và 2 hầm giao thông

 Hệ thống nhà ga và chỗ đậu xe: tổng diện tích cho đậu xe và bến bãi khoảng 1.141 ha (2,6% diện tích đất đô thị)

 Mạng lưới giao thông công cộng được mở rộng và củng cố mạnh mẽ, bao gồm:

 Các tuyến đường trong khu vực được củng cố thêm bằng cách sắp xếp lại tuyến đường sắt hiện có hoặc xây mới, đặc biệt là các tuyến tới:

 Khu vực Bình Dương – Biên Hòa và khu vực Vũng Tàu, đây là những khu vực phát triển công nghiệp và gia tăng dân số nhanh

Trang 23

 Khu vực Tân An – Mỹ Tho, gắn kết chặt chẽ với TP HCM và có mật độ dân cư cao

 Các tuyến đường sắt quốc gia xuyên tâm vận hành các đoàn tàu ngoại thành và xây dựng hai tuyến đường sắt hạng nhẹ phục vụ cho các KCN và sân bay quốc tế:

 Tân Thới Hiệp – Trảng Bàng

 Thủ Thiêm – Nhơn Trạch – Sân bay quốc tế Long Thành

 Mạng tàu điện ngầm nối trung tâm thành phố với các vùng phụ cận và các cơ sở giao thông chính khác Có 6 tuyến tàu điện ngầm sẽ được xây dựng theo kế hoạch Một trong

số đó là tuyến 1 (Bến Thành - Suối Tiên) đang được xây dựng Những tuyến khác là:

 Tuyến 2: Ga Tây Ninh – Thủ Thiêm

 Tuyến 3: Quốc lộ 13, Bến xe Miền Đông – Bến xe Miền Tây, Tân Kiên

 Tuyến 4: Cầu Bến Cát – Nguyễn Văn Linh

 Tuyến 5: Trạm Cần Giuộc mới – ga cầu Sài Gòn

 Tuyến 6: Bà Quéo – nút giao lộ Phú Lâm

 Xây dựng 3 tuyến đường một ray, bao gồm:

 Tuyến 1: Sài Gòn – Chợ Lớn – Bến xe miền Tây

 Tuyến 2: Nguyễn Văn Linh (từ Quốc lộ 50, Quận 8) – Quận 2

 Tuyến 3: nút giao lộ Gò Vấp (ngã 6) – Công viên phần mềm quang Trung

 Mạng lưới xe buýt được cải thiện

 Các tuyến giao thông đường biển dọc theo sông Lòng Tàu sẽ được nâng cấp và khoảng 60km dọc theo sông Soài Rạp sẽ được nạo vét, sẽ không xây dựng thêm các cảng biển trên sông Sài Gòn nhưng sẽ di dời các cảng hiện tại Sự phát triển của cụm cảng Cát Lái trên sông Đồng Nai và cụm cảng Hiệp Phước trên sông Soài Rạp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc di dời cũng như đáp ứng được nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa trong khu vực Cụm cảng Nhà Bè trên sông Nhà Bè sẽ được sử dụng chủ yếu cho nhu cầu nhập khẩu xăng dầu của TP HCM và các vùng lân cận, với cảng chính phục vụ KCN Nhà Bè trong tương lai Một cảng hành khách công suất 50.000GRT cũng đã được lên kế hoạch xây dựng ở khu vực Nhà Rồng – Khánh Hội

 Sân bay Tân Sơn Nhất sẽ được nâng cấp đến công suất 20 triệu đến năm 2020

Trang 24

CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG NGẬP LỤT ĐÔ THỊ 3.1 Hiện trạng hệ thống thoát nước tại TP HCM

Hệ thống thoát nước trên địa bàn TP HCM bao gồm mạng lưới sông kênh rạch, ao-hồ điều tiết và hệ thống cống thoát nước Hiện nay, tại thành phố có khoảng 2.008km sông, kênh rạch với khoảng 1.050km đê bao, bờ bao (trong đó còn khoảng 200km bờ bao chưa kiên cố, thường gặp sự

cố khi triều cường) Riêng khu vực nội thành có hơn 100km kênh rạch làm trục thoát nước chính với hơn 800 cửa xả với mực nước thiết kế sau cống trung bình khoảng 1,3m nên khó tiêu thoát nước mưa và gây ngập trên nhiều tuyến đường liền kề khi xuất hiện triều cường

Hệ thống thoát nước của TP HCM được xây dựng qua nhiều thời kỳ khác nhau, có thể chia làm 3 giai đoạn chính: trước năm 1954, từ năm 1954 đến năm 1975 và từ năm 1975 đến nay Thời kỳ từ năm 1870 đến 1954: xây dựng khoảng 113km cống, tập trung ở khu vực các quận 1 và

5 với chủ yếu là các loại cống vòm xây gạch Thời kỳ từ năm 1954 đến 1975: hệ thống thoát nước được mở rộng trong khu vực nội thành cũ; chủ yếu là các loại cống tròn Thời kỳ sau năm 1975 đến nay, chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 1975 đến 2000: hê thống thoát nước không có đầu

tư đáng kể ngoại trừ một số hệ thống kênh mương bờ bao phục vụ thủy lợi Sau khi Quy hoạch tổng thể thoát nước TP HCM được phê duyệt năm 2001 (JICA, 2001), một số dự án nâng cấp đô thị, cải thiện môi trường nước đã được thực hiện như: Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Tân Hóa – Lò Gốm, Tàu Hủ – Bến Nghé, Tham Lương – Bến Cát… và một số tiểu dự án khác đã được tiếp tục đầu tư xây dựng ở khu vực nội thành và các khu vực ngoại thành đã phát triển Do quá trình xây dựng không đồng bộ với quá trình đô thị hóa, cũng như đầu tư chưa đúng mức do còn khó khăn về kinh

tế nên đến nay phần lớn hệ thống thoát nước đã xuống cấp, hư hỏng nhiều, tiết diện nhỏ và mật độ xây dựng thấp Mạng lưới cống thoát nước, cửa xả bị lấn chiếm nhiều nơi gây khó khăn trong duy

tu, bảo dưỡng Nhiều khu vực trũng thấp có tác dụng điều tiết nước cũng đã bị lấn chiếm san lấp nghiêm trọng

3.1.1 Mạng lưới kênh, rạch, ao hồ thoát nước tự nhiên

Theo Quy hoạch tổng thể thoát nước (JICA), hệ thống kênh rạch thoát nước TP HCM được phân thành 6 vùng, đóng vai trò tiêu thoát cho từng vùng, bao gồm:

Bảng 3.1 Thống kê mạng lưới kênh rạch theo vùng

chính

Tổng diện tích lưu vực (km 2 )

Tổng chiều dài (km)

1 Vùng Trung

tâm

Quận 1, 3, 4, 5, 7, 10, 11, Phú Nhuận và một phần các quận Gò Vấp, Tân Bình, Bình Chánh, và Bình Thạnh

2 Vùng phía

Bắc

Một phần các quận 12, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, Bình Chánh và Huyện Hóc Môn 4 173,1 38,5

Mạng lưới sông rạch chiếm vị trí quan trọng trong việc tiêu thoát nước mưa, tưới tiêu phục

vụ nông nghiệp Tuy nhiên do ảnh hưởng thủy triều khá mạnh và tình trạng bồi lắng nên thường gây ngập úng cho các vùng ven bờ sông, kênh rạch Ngoài ra hiện nay, do quá trình đô thị hóa

Trang 25

thiếu kiểm soát và ý thức của doanh nghiệp, người dân, đã xảy ra tình trạng lấn chiếm kênh rạch,

xả rác, chất thải làm hẹp dòng chảy trên kênh rạch, làm giảm khả năng tiêu thoát nước

Tại TP HCM trước đây có nhiều ao, hồ điều tiết nhân tạo và tự nhiên giúp điều tiết nước mưa và nước triều, tuy nhiên hiện nay đa số đã bị san lấp, phục vụ xây dựng và phát triển đô thị

Số liệu thống kê cho thấy quá trình đô thị hóa từ 2000 đến 2010 đã biến khoảng 15.321 ha đất nông nghiệp, ao hồ, kênh rạch thành đất xây dựng Việc này đã làm mất đi diện tích rất lớn các không gian trữ nước và các vùng đệm vốn là nơi chứa nước mưa và nước triều Tuy nhiên do thành phố chưa có các quy định cụ thể và thực hiện quản lý chặt chẽ nên đa số các dự án mới thường không có các giải pháp xây dựng các không gian để trữ nước mới bù vào phần diện tích mặt nước

đã san lấp, bê tông hóa Đây là nguyên nhân quan trọng làm giảm diện tích, khả năng thấm nước

3.1.2 Hệ thống cống thoát nước đô thị

Hệ thống cống thoát nước của thành phố hiện nay về cơ bản là hệ thống cống chung, vừa thu nước thải (sinh hoạt và công nghiệp) vừa thu nước mưa, được xây dựng qua nhiều giai đoạn, đến nay đã quá cũ kỹ, phần lớn có tuổi thọ trên 40 năm Đến nay nhiều cống và cửa xả bị hư hỏng nặng, hệ thống cống không đủ năng lực tiêu thoát nước do tốc độ đô thị hóa quá nhanh Tổng chiều dài cống thoát nước (cấp 2, cấp 3 và cấp 4) trên toàn TP HCM hiện nay có trên 2.042km, trong

đó khoảng 1.140km cống thoát nước cấp 2, cấp 3

Theo số liệu báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP HCM đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2025 (Quy hoạch tổng thể TP HCM, 2013), từ năm 2005, nhờ việc thực hiện các dự án ODA để cải tạo, nâng cấp hệ thống cống thoát nước tại các lưu vực, tổng chiều dài cống thoát nước cấp 2, cấp 3 trên địa bàn thành phố đã tăng gấp 2 lần (từ 516 km vào năm

2001 tăng lên 1.140km vào năm 2010) và số cửa xả tăng gấp 3,6 lần (từ 228 cửa xả vào năm 2001 tăng lên 816 cửa xả vào năm 2010) Ngoài ra, song song với các dự án ODA, tính đến năm 2010,

TP HCM đã hoàn thành 68 dự án cải tạo, lắp đặt mới hệ thống thoát nước bằng nguồn vốn ngân sách

Mật độ cống thoát nước tính trên diện tích đất phi nông nghiệp trên toàn địa bàn TP HCM (không tính diện tích mặt nước) là 2,7 km/km2, khu vực các quận nội thành cũ có mật độ khá cao, khoảng 7,3 km/km2, trong khi các quận nội thành phát triển chỉ có 2 km/km2 và ngoại thành là 0,8 km/km2 Hiện nay, hệ thống thoát nước chỉ mới phục vụ cho khoảng 70% dân số đô thị

3.1.3 Đánh giá hiện trạng và nhu cầu nâng cấp, phát triển hệ thống thoát nước

Với tổng chiều dài 1.140 km cống thoát nước (cấp 2,3), hệ thống thoát nước hiện nay vừa thiếu về số lượng (chỉ bằng 1/6 chiều dài cần thiết và chỉ phục vụ khoảng 10% diện tích dự kiến, xây dựng, phát triển của thành phố) và kém về chất lượng (đa số đã xuống cấp, hư hỏng, tiết diện nhỏ) Bên cạnh đó, hệ thống thoát nước đô thị trong giai đoạn vừa qua phát triển mang tính chắp

vá và phân bố không đều trên địa bàn, tập trung ở các quận trung tâm Hệ thống thoát nước không được nạo vét đồng bộ, không phát huy tối đa hiệu quả thoát nước của toàn hệ thống

Mặt khác, tại các khu vực dự án dân cư mới, mặc dù đều có quy hoạch hệ thống thoát nước thải tách biệt nhưng hầu hết đều xây dựng không đúng theo quy hoạch do các đơn vị quản lý không giám sát chặt chẽ Vì vậy hệ thống thoát nước ở các khu vực mới này hiện nay vẫn là hệ thống cống chung hoặc là hệ thống cống hỗn hợp, nghĩa là xây dựng một số tuyến cống nhánh thoát nước thải tách biệt nhưng vẫn nối vào các tuyến cống chính thoát nước mưa Điều này sẽ gây khó khăn cho việc kết nối thành hệ thống thoát nước bẩn hoàn chỉnh khi thành phố đầu tư xây dựng nhà máy

xử lý tập trung Riêng khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng và khu Trung Sơn thuộc Khu Đô thị Nam Sài Gòn đã hình thành hệ thống thu gom và thoát nước thải bẩn tương đối hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn

Trang 26

xây dựng Tuy nhiên các khu này vẫn chưa có khu nào xây dựng trạm xử lý nước thải, hầu hết hệ thống cống thu nước thải vẫn nối vào cống thoát nước mưa và xả ra các kênh rạch

Ngoài ra, như đã trình bày ở trên, quá trình đô thị hóa đã làm cho các khu vực trước đây là đất trống có nhiều diện tích ao hồ, kênh rạch có chức năng như là các khu điều tiết tự nhiên khi xảy ra mưa đã bị san lấp phục vụ phát triển kinh tế xã hội Việc làm này dẫn đến các khu trữ và dòng thoát nước tự nhiên bị thu hẹp nên khi có mưa xảy ra sẽ không tiêu thoát nước kịp thời gây nên hậu quả ngập tại chỗ và tràn xuống các khu lân cận có cao trình thấp hơn Tình trạng này phổ biến ở một số khu vực như: ngã tư Bốn Xã – Quận Bình Tân, kênh Ba Bò - Quận Thủ Đức, Quận

9, Quận 6, Quận 11, Quận 12 …

Bên cạnh đó, hiện nay còn tồn tại bất cập trong cơ chế quản lý, duy tu bảo dưỡng hệ thống thoát nước Việc phân cấp một phần hệ thống thoát nước cho quận/huyện quản lý nhưng chưa quan tâm đầu tư đúng mức về nhân lực và kinh phí, kỹ thuật trang thiết bị đã làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả, chủ trương phân cấp, làm mất đi tính liên thông và đồng bộ của một hệ thống thống nhất

từ cống nội bộ nhà dân, cống hẻm (cấp 4) đến cống cấp 3, cấp 2, cửa xả và kênh rạch (cấp 1)

Để thực hiện Chương trình giảm ngập giai đoạn 2011 – 2025, theo Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tầm nhìn đến năm 2025, thành phố đã xác định cần thực hiện rất nhiều dự án nhằm cải tạo, xây dựng mới hệ thống thoát nước với mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ diện tích phục

vụ bởi hệ thống thoát nước lên hơn 90% và xóa hẳn không còn điểm ngập

Theo đó trong giai đoạn 2011- 2015, thành phố sẽ thực hiện khoảng hơn 100 dự án cải tạo ống thoát nước cũ, xuống cấp, có nguy cơ sụp cao, với tổng chiều dài cải tạo 95.575m; 11 dự án cải tạo cống nhỏ, không đủ tiết diện với tổng chiều dài 18.400m Giai đoạn 2016 -2025 sẽ tập trung thực hiện 48 dự án xây dựng mới hệ thống thoát nước tại các lưu vực trung tâm, vùng Tây, vùng Bắc, vùng Đông Nam, vùng Đông Bắc và vùng Nam, với tổng chiều dài 97.130m và nhóm dự án cải tạo, nạo vét và mở rộng hệ thống cống nhằm tăng khả năng thoát nước, đồng thời hoàn chỉnh

hệ thống đê thuộc Quyết định số 1547 của Thủ tướng chính phủ về Quy hoạch thủy lợi chống ngập (năm 2008) với tổng vốn đầu tư khoảng 175.733 tỷ đồng (tương đương 8,3 tỷ USD) Cụ thể danh

mục kinh phí đầu tư phân theo 3 nhóm dự án của ngành thoát nước như sau:

Bảng 3.2 Danh mục dự án đầu tư ngành thoát nước đến năm 2025

1 Nhóm dự án cải tạo và nâng cấp hệ

2 Nhóm dự án đầu tư hệ thống thu gom và

Trang 27

 Nhóm yếu tố khí hậu:

 Do mưa lớn tạo ra dòng chảy tràn vượt quá khả năng thoát nước của hệ thống cống rãnh

 Do mực nước trong hệ thống sông rạch liên tục gia tăng trong thời gian vừa qua

 Do xả lũ từ các hồ chứa thượng lưu

 Nhóm yếu tố phi khí hậu:

 Do cơ sở hạ tầng không theo kịp với tốc độ đô thị hóa quá nhanh;

 Do bê tông hóa dẫn đến gia tăng dòng chảy mặt;

 Do cao trình mặt đất bị lún;

 Do các ao hồ sông rạch, các vùng trũng thấp tự nhiên đã bị san lấp để phục vụ phát triển KTXH;

 Do quy hoạch và phát triển các khu dân cư chưa hợp lý;

 Do người dân thiếu ý thức trong việc bảo vệ và giữ gìn hệ thống thoát nước như xả rác, bùn cát bừa bãi vào cống, tự ý ngăn kín các cửa thu nước tại các hố ga,…

Úng ngập gây cản trở giao thông, làm xấu đi cảnh quan đô thị, thiệt hại về kinh tế và ô nhiễm môi trường trầm trọng Tình trạng ngập nước trên địa bàn TP HCM tăng dần từ năm 2003 (62 điểm ngập) đến năm 2009 (96 điểm ngập) và giảm dần đến năm 2013 (còn 11 điểm ngập) Số liệu này cho thấy các công trình đầu tư xóa giảm ngập lụt đã bắt đầu phát huy tác dụng Nhiều điểm ngập đã được xóa giảm trong thời gian vừa qua Hình 3.1 trình bày biểu đồ thống kê vị trí ngập nước tại các quận vùng trung tâm và các quận vùng ngoại thành thuộc khu vực TP HCM từ năm 2009 đến 2013

(Nguồn: Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập)

Hình 3.1 Biểu đồ thống kê số lượng điểm ngập từ năm 2009 đến 2013

Trang 28

Kết quả thống kê số điểm ngập do mưa và triều cho đến cuối năm 2013 của Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước TP HCM như sau

3.2.1 Ngập do mưa

Số điểm ngập đến cuối năm 2010 là 58 điểm, hiện nay (2013) đã xóa giảm ngập được 47/58 điểm ngập, còn lại 11 điểm ngập và giảm 91,27% so với năm 2008 (đến 126 điểm ngập) Vùng trung tâm (mục tiêu quan trọng của Chương trình đột phá) không còn điểm nào so với 31 điểm ngập vùng Trung tâm của cuối năm 2010, giảm 100% và so với 69 điểm ngập vùng Trung tâm của cuối năm 2009, giảm 98,55% Cụ thể như sau:

(*: số điểm ngập phát sinh mới đã tính trong tổng số điểm ngập)

Đối với vùng Trung tâm thành phố (mục tiêu giảm ngập trong chương trình đột phá giai đoạn 2011 – 2015):

Trang 29

Theo UBND TP HCM, trong ba năm 2011-2013 thành phố đã hoàn thành các công trình chống ngập lớn như cống kiểm soát triều Nhiêu Lộc – Thị Nghè, xây dựng gần 335km cống thoát nước, lắp đặt 1.077 van ngăn triều và 30 trạm bơm cố định và di động ứng cứu… để góp phần giảm ngập, trong khi chờ dự án thuộc Quyết định 1547 thực hiện, tình hình ngập triều được cải thiện như sau:

Năm xuất

hiện Đỉnh triều (m)

Số ngày triều gây ngập

Số tuyến đường bị ngập nặng Tổng số Vùng trung tâm Vùng ngoại vi

 Đường Phú Định (Quận 8): Ủy ban nhân dân Quận 8 đang thực hiện dự án xây dựng bờ

kè tạm dọc kênh Tàu Hủ theo chỉ đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố

 Đường Huỳnh Tấn Phát (Quận 7): Sở Giao thông vận tải đang triển khai dự án nâng cấp đường Huỳnh Tấn Phát

 08 điểm ngập nhẹ: Diện tích ngập nhỏ (diện tích ngập từ 50m2 đến 1.000m2): Nguyễn Văn Hưởng, Kha Vạn Cân, Thảo Điền, Hồ Học Lãm, Trần Đại Nghĩa, Bình Quới, An Dương Vương, và Quốc lộ 50

3.2.3 Ngập do tổ hợp bất lợi khi mưa kết hợp triều cường

Hiện nay, đã có chuyển biến tích cực khi gặp tổ hợp bất lợi mưa to cùng lúc với triều cường: Chỉ có 16 đến 18 điểm ngập trong 03 đợt mưa có vũ lượng từ 28,9mm ÷ 45,9mm diễn ra trên diện rộng cùng lúc với đỉnh triều cao từ +1,61m ÷ +1,68m trong 03 ngày giữa tháng 10 (tương tự, năm

2010 bị ngập từ 44 đến 88 điểm) Cụ thể như sau:

 Năm 2010: Trong các ngày 5, 6, 7 tháng 11 năm 2010 (nhằm ngày 29/9, 1/10 và 2/10

Âm lịch) mưa với vũ lượng tương ứng 19mm, 77mm và 90mm kết hợp với triều cường tương ứng +1,48m, +1,55m và +1,55m đã gây ngập với số điểm ngập tương ứng 44 điểm, 58 điểm và 88 điểm

 Năm 2011: Trong các ngày 29/10 năm 2011 (nhằm ngày 3/10 Âm lịch) mưa với vũ lượng 30mm kết hợp với triều cường tương ứng +1,57m đã gây ngập 28 điểm Trong các ngày 10/11 và 11/11 năm 2011 (nhằm ngày 15, 16 tháng 10 Âm lịch) mưa với vũ lượng 98,4mm và 76,3mm kết hợp với triều cường +1,41m và +1,5m đã gây ngập 16 điểm và 25 điểm

 Năm 2012: Trong các ngày 01, 03, 05 và 16 tháng 10 năm 2012 (nhằm ngày 16/8, 18/8, 20/8 và 02/9 Âm lịch) mưa với vũ lượng tương ứng 143,1mm, 113,8mm, 122,2mm và 44,6mm kết hợp với triều cường +1,50m, +1,37m, +1,30m và +1,34m đã gây ngập 19

Trang 30

điểm, 21 điểm, 12 điểm và 09 điểm

 Năm 2013: Trong các ngày 19, 20 và 21 tháng 10 năm 2013 (nhằm ngày 15/9, 16/9 và 17/9 Âm lịch) mưa với vũ lượng tương ứng 45,9mm, 28,9mm và 38,5mm kết hợp với triều cường +1,62m, +1,68m và +1,61m đã gây ngập 16 điểm, 19 điểm và 18 điểm Các khu vực bị ngập do triều thường nằm gần sông rạch và có cao độ nền đất thấp dưới mực nước triều cao (cao độ nền đất thường thấp dưới +1,5m), các khu vực này bị ngập theo chu

kỳ 2 lần trong tháng tương ứng với thới kỳ triều cường (từ ngày 27 tháng trước đến ngày 5 tháng sau và từ ngày 13 đến ngày 18 âm lịch), ngập nặng nhất là các tháng cuối năm (từ tháng 10 năm trước đến tháng 1 năm sau )

Tuy nhiên có một điều đáng lưu ý là hầu hết khu vực vùng ven hoặc ngoại thành có cao độ nền đất rất thấp thậm chí thấp dưới cao độ 0,0m (Nhị Bình, Bình Mỹ, Tân Phú Trung, Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai, Thạnh Xuân, An Phú Đông, Tân Nhật, Tân Kiên, Tân Túc, Đa Phước, Phong Phú, Tân Quý Tây, Hưng Long, Bình Hưng, Phước Kiểng, Hiệp Bình Phước, Hiệp Bình Chánh…) tuy vẫn chịu ảnh hưởng nặng của thủy triều nhưng được bảo vệ không ngập úng nhờ vào các công trình đê bao, cống bọng, cống điều tiết do người dân hay do các cơ quan chức năng xây dựng Các khu vực bị ngập do triều chủ yếu ở các khu vực có nền đất thấp khu vực nội thành, nội thành mở rộng, các nơi mà mà điều kiện cải tạo, tôn cao nền đất trở nên quá khó khăn do mật độ xây dựng dày đặc (khu vực Mễ Cốc,Thanh Đa ) hoặc là đất nông nghiệp nhưng vướng các dự án chậm triển khai (khu vực Bình Quới…)

Các khu vực bị ngập do mưa thường có nền đất khá cao nhưng do nhiều nguyên nhân không thoát được nước gây ngập Các khu vực bị ngập do kết hợp cả triều cao và mưa là vùng chuyển tiếp của 2 khu vực nêu trên, thường có cao độ mặt đất từ 1,5m đến 2,5m

Ngày đăng: 23/01/2021, 09:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN