1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Competitive position in international trade of vietnam in vietnam in ASEAN case studies of key export items in vietnam

131 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

viii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT AFTA: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN APEC: Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á -Thái Bình Dương ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á COMTRADE: Thống kê Liên hợp q

Trang 1

ii

MỤC LỤC

Mục lục i

Danh mục bảng iv

Danh mục hình vi

Danh mục từ viết tắt vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Tổng quan nghiên cứu 3

6 Kết cấu của đề tài 9

7 Ý nghĩa và hạn chế của đề tài 9

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích của đề tài 10

1.1 Lý thuyết về lợi thế của quốc gia 10

1.1.1 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo 10

1.1.2 Lý thuyết về các yếu tố của Hechscher – Ohlin 11

1.1.3 Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michel Porter 12

1.2 Các mô hình xác định lợi thế so sánh của quốc gia 13

1.2.1 Mô hình của Liesner (1958) 13

1.2.2 Mô hình của Balassa (1965) 14

1.2.3 Mô hình của White (1987) 15

1.2.4 Mô hình của Vollarth (1991) 16

1.2.5 Mô hình của Greenaway and Milner (1993) 16

1.3 Cơ sở phân loại hàng hóa xuất khẩu theo chỉ số HS, SITC 17

1.4 Khung phân tích của đề tài 19

Chương 2: Phân tích vị thế cạnh tranh các mặt hàng chủ lực của Việt Nam so với các nước Asean 21

Trang 2

iii

2.1 Tổng quan về xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2014 21

2.1.1 Bối cảnh thương mại quốc tế của Việt Nam 21

2.1.2 Kim ngạch xuất khẩu 22

2.1.3 Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2014 23

2.1.4 Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu 24

2.2 Mối quan hệ thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN 27

2.3 Phân tích vị thế cạnh các ngành hàng chủ lực của Việt Nam so với Asean 29

2.3.1 Ngành hàng dệt may 29

2.3.1.1 Tổng quan về sản xuất và xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam 29

2.3.1.2 Chuỗi giá trị dệt may Việt Nam 32

2.3.1.3 Lợi thế so sánh ngành dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới 38

2.3.1.4 Lợi thế so sánh ngành dệt may Việt Nam tại thị trường EU và Hoa Kỳ 43

2.3.1.5 Đánh giá vị trí cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong Asean 47

2.3.2 Ngành hàng da giày 48

2.3.2.1 Tổng quan về sản xuất và xuất khẩu ngành da giày Việt Nam 48

2.3.2.2 Chuỗi giá trị da giày Việt Nam 51

2.3.2.3 Lợi thế so sánh ngành da giày Việt Nam trên thị trường thế giới 53

2.3.2.4 Lợi thế so sánh của ngành da giày Việt Nam tại thị trường EU và Hoa Kỳ 58

2.3.2.5 Đánh giá vị trí cạnh tranh của ngành da giày Việt Nam 60

2.3.3 Ngành hàng thủy sản 61

2.3.3.1 Tổng quan về sản xuất và xuất khẩu ngành thủy sản Việt Nam 61

2.3.3.2 Chuỗi giá trị thủy sản Việt Nam 64

2.3.3.3 Lợi thế so sánh ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới 66

2.3.3.4 Lợi thế so sánh của ngành thủy sản Việt Nam tại thị trường EU và Hoa Kỳ 72

2.3.3.5 Đánh giá vị trí cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam 77

2.3.4 Ngành hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 78

2.3.4.1 Tổng quan về sản xuất và xuất khẩu ngành máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Việt Nam 78

2.3.4.2 Chuỗi giá trị ngành máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Việt Nam 80

Trang 3

iv

2.3.4.3 Lợi thế so sánh ngành máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Việt Nam trên

thị trường thế giới 82

2.3.4.4 Lợi thế so sánh của ngành máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Việt Nam tại thị trường EU và Hoa Kỳ 86

2.3.4.5 Đánh giá vị trí cạnh tranh của ngành máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Việt Nam 89

2.3.5 Ngành hàng điện thoại và linh kiện 89

2.3.5.1 Tổng quan về sản xuất và xuất khẩu ngành điện thoại và linh kiện Việt Nam 89

2.3.5.2 Chuỗi giá trị ngành điện thoại và linh kiện Việt Nam 92

2.3.5.3 Lợi thế so sánh ngành điện thoại và linh kiện Việt Nam trên thị trường thế giới 92 2.3.5.4 Lợi thế so sánh của ngành điện thoại và linh kiện Việt Nam tại thị trường EU và Hoa Kỳ 96

2.3.5.5 Đánh giá vị trí cạnh tranh của ngành điện thoại và linh kiện Việt Nam 98

Chương 3: Kiến nghị một số định hướng cho hoạch định, điều chỉnh chính sách của Việt Nam đối với phát triển các ngành chủ lực 100

3.1 Nhận định cơ hội xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam 100

3.2 Nhận định những khó khăn đối với các ngành hàng chủ lực Việt Nam 103

3.3 Những kiến nghị đối với các ngành xuất khẩu chủ lực 104

3.3.1 Những kiến nghị đối với ngành dệt may 104

3.3.2 Những kiến nghị đối với ngành da dày 108

3.3.3 Những kiến nghị đối với ngành thủy sản 112

3.3.4 Những kiến nghị đối với ngành điện tử 114

Kết luận 118

Danh mục tài liệu tham khảo 123 Phụ lục

Trang 4

v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 : Mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam 24

Bảng 2.2 : Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2014 26

Bảng 2.3 : Xuất khẩu từ Việt Nam sang ASEAN giai đoạn 2001-2014 28

Bảng 2.4 : Nhập khẩu từ ASEAN vào Việt Nam 29

Bảng 2.5: Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2008-2014 30

Bảng 2.6: Kim ngạch nhập khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2008-2014 31

Bảng 2.7: Tỷ trọng nhập khẩu các nguyên liệu chính cho ngành dệt – nhuộm 36

Bảng 2.8: Kim ngạch xuất khẩu dệt may các nước Asean giai đoạn 2008-2014 38

Bảng 2.9 : Chỉ số RCA – Balassa ngành dệt may các nước Asean thị trường thế giới 40

Bảng 2.10: Chỉ số RCA – White ngành dệt may các nước Asean thị trường thế giới 42

Bảng 2.11: Kim ngạch xuất khẩu dệt may các nước tại thị trường EU và Hoa Kỳ 43

Bảng 2.12: Chỉ số RCA - ngành dệt may các nước Asean tại thị trường EU 44

Bảng 2.13: Chỉ số RCA – ngành dệt may các nước Asean tại thị trường Hoa Kỳ 46

Bảng 2.14 : Kim ngạch xuất khẩu da giày Việt Nam giai đoạn 2007-2014 50

Bảng 2.15: Kim ngạch xuất khẩu da giày Việt Nam sang thị trường EU, Hoa Kỳ 50

Bảng 2.16: Kim ngạch xuất khẩu da giày các nước Asean trên thị trường thế giới 54

Bảng 2.17: Chỉ số lợi thế so sánh ngành da giày các nước Asean thị trường thế giới 56

Bảng 2.18 : Chỉ số RCA hàng da giày các nước vào thị trường EU 59

Bảng 2.19 : Chỉ số RCA hàng da giày các nước vào thị trường Hoa Kỳ 60

Bảng 2.20: Sản lượng thủy sản Việt Nam năm 2013-2014 62

Bảng 2.21: Kim ngạch nhập khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn 2008-2014 64

Bảng 2.22: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản các nước Asean 2008-2014 67

Bảng 2.23: Chỉ số RCA – Balassa ngành thủy sản các nước trên thị trường thế giới 68

Bảng 2.24: Chỉ số RCA – White ngành thủy sản các nước trên thị trường thế giới 69

Bảng 2.25: Chỉ số RCA ngành thủy sản tại thị trường EU 74

Bảng 2.26: Chỉ số RCA ngành thủy sản tại thị trường Hoa Kỳ 76

Bảng 2.27: Kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Việt Nam 79

Trang 5

vi

Bảng 2.28: Kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Việt Nam sang thị trường EU, Hoa Kỳ 80 Bảng 2.29: Kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện các nước Asean trên thị trường thế giới 83 Bảng 2.30: Chỉ số lợi thế so sánh ngành máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện các nước Asean trên thị trường thế giới 84 Bảng 2.31 : Chỉ số RCA máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện các nước vào thị trường EU 87 Bảng 2.32: Chỉ số RCA máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện các nước vào thị trường Hoa Kỳ 88 Bảng 2.33: Chỉ số RCA máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện các nước vào thị trường Hoa Kỳ 90 Bảng 2.34: Kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện Việt Nam 91 Bảng 2.35: Kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện Việt Nam sang thị trường EU và Hoa Kỳ 91 Bảng 2.36: Kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện các nước Asean trên thị trường thế giới 92 Bảng 2.37: Chỉ số lợi thế so sánh ngành điện thoại và linh kiện các nước Asean trên thị trường thế giới 94 Bảng 2.38: Chỉ số RCA hàng điện thoại và linh kiện các nước vào thị trường EU 97 Bảng 2.39: Chỉ số RCA hàng điện thoại và linh kiện các nước vào thị trường Hoa Kỳ 98

Trang 6

vii

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2014 23

Hình 2.2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 -2013 25

Hình 2.3: Tỷ trọng xuất khẩu dệt may vào các thị trường lớn năm 2014 32

Hình 2.4: Giá trị gia tăng đóng góp vào sản phẩm trong chuỗi giá trị dệt may 32

Hình 2.5: Cấu trúc chuỗi cung ứng ngành dệt – nhuộm năm 2015 35

Hình 2.6: Cấu trúc chuỗi cung ứng phân ngành cắt may năm 2015 37

Hình 2.7: Lợi thế so sánh ngành dệt may các nước Asean năm 2014 47

Hình 2.8: Chuỗi giá trị ngành da giày Việt Nam 52

Hình 2.9: Tỷ trọng xuất khẩu theo các loại hình của hàng giày dép 53

Hình 2.10: Chỉ số RCA – Balassa ngành da giày Việt Nam, Campuchia và Indonesia 57

Hình 2.11: Kim ngạch XK da giày Việt Nam trong tổng kim ngạch Asean 58

Hình 2.12: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giai đoạn 2001-2014 63

Hình 2.13: Tỷ trọng xuất khẩu thủy sản vào các thị trường lớn năm 2014 64

Hình 2.14: Chuỗi giá trị ngành nuôi trồng thủy sản 65

Hình 2.15: Mối liên hệ các liên kết dọc trong ngành thủy sản 66

Hình 2.16: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của các nước sang EU 72

Hình 2.17: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của các nước sang Hoa Kỳ 73

Hình 2.18: Lợi thế so sánh ngành thủy sản các nước tại 3 thị trường Thế giới, EU, Hoa Kỳ năm 2014 77

Hình 2.19: Mô hình mạng sản xuất toàn cầu trong ngành công nghiệp điện tử 81

Hình 2.20: Kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Việt Nam trong tổng kim ngạch Asean 86

Hình 2.21: Kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện Việt Nam trong tổng kim ngạch Asean 96

Trang 7

viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AFTA: Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN

APEC: Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á -Thái Bình Dương

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

COMTRADE: Thống kê Liên hợp quốc

FDA: Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FSIS: Cục Thanh tra và An toàn thực phẩm Hoa Kỳ

FTA: Hiệp định thương mại tự do

GDP: Tổng thu nhập quốc dân

HS: Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hóa

SEV: Hội đồng Tương trợ Kinh tế

TPP: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

TRADEMAP:

Hệ thống cơ sở dữ liệu cập nhật về tình hình thương mại của Trung tâm Thương mại Quốc tế ITC

UAE: Tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất

UNCTAD: Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển

VASEP: Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản

VEIA: Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam

VINATEX: Tập đoàn dệt may Việt Nam

VITAS: Hiệp hội dệt may Việt Nam

WTO: Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

do hoá thương mại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoá Việt Nam xâm nhập vào thị trường khu vực và thế giới, đồng thời cũng đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của hàng hoá các nước khác

Trong bối cảnh đó, bên cạnh việc đòi hỏi tái cấu trúc nền kinh tế toàn diện và hiệu quả thì đánh giá tổng thể về hiện trạng và xu hướng lợi thế so sánh của các ngành sản phẩm chủ lực của Việt Nam là rất cần thiết cho việc định hướng trong chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam và chiến lược phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, cũng cần có một nghiên cứu về chỉ số so sánh của toàn bộ các quốc gia Asean tương ứng với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhằm xem xét vị thế của Việt Nam trong khu vực trong bối cảnh hội nhập Phân tích, đánh giá lợi thế so sánh các ngành sản phẩm của Việt Nam trên cơ sở chỉ số lợi thế so sánh (RCA) đã được các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài đề cập từ cuối những năm 1990 Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ dùng mô hình tính toán chỉ số lợi thế so sánh ban đầu do Balassa

đề xuất dựa trên các số liệu xuất khẩu mà chưa đề cập đến các số liệu nhập khẩu của mặt hàng nghiên cứu Hay nói cách khác kết quả nghiên cứu trong các trường hợp này có khả năng chưa thể hiện một cách toàn diện lợi thế so sánh của các mặt hàng của Việt Nam

Do đó, đề tài “Vị trí cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt Nam trong khối ASEAN: Trường hợp nghiên cứu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam” với phạm vi

nghiên cứu trong toàn bộ các nước Asean và tiếp cận theo mô hình tính toán chỉ số lợi

Trang 9

2

thế so sánh dựa trên cả yếu tố cung và cầu hàng hóa để có thể đánh giá tổng quát nhất về

vị thế cạnh tranh thương mại của Việt Nam đối với các mặt hàng chủ lực sẽ rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề xuất định hướng cho hoạch định, điều chỉnh chính sách phát triển của Việt Nam đối với các ngành hàng chủ lực dựa trên những kết quả về phân tích lợi thế so sánh của các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống cơ sở lý thuyết về sử dụng chỉ số lợi thế so sánh để đánh giá lợi thế cạnh tranh của các ngành và xu hướng thay đổi của lợi thế cạnh tranh các ngành sản phẩm của Việt Nam;

- Đánh giá lợi thế so sánh các ngành sản phẩm chủ lực của Việt Nam so với các nước Asean theo thời gian trên cơ sở số liệu cập nhật;

- Phân tích xu hướng thay đổi lợi thế so sánh các ngành sản phẩm chủ lực của Việt Nam so với các nước Asean;

- Đề xuất định hướng cho hoạch định, điều chỉnh chính sách thương mại của Việt Nam đối với các ngành sản phẩm chủ lực;

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lợi thế so sánh của hàng hoá xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và các nước Asean Trong đó tập trung nghiên cứu chủ yếu về sự tồn tại

và thay đổi lợi thế so sánh của hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đặt trong mối quan hệ với kim ngạch xuất khẩu

Đối với các ngành hàng chủ lực được chọn để nghiên cứu, đề tài dựa trên kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong năm những năm gần đây và xác định 5 ngành hàng xuất khẩu chủ lực để nghiên cứu (trừ dầu thô) là: điện thoại các loại và linh kiện; hàng dệt, may; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; hàng da dày và hàng thủy sản

Trang 10

3

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài sử dụng các dữ liệu thứ cấp để nghiên cứu lợi thế so sánh của hàng hoá xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và các nước Asean đặt trong mối quan hệ với các yếu tố khác, giai đoạn nghiên cứu trong thời gian từ 2001 đến 2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Cụ thể như sau:

- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để hệ thống các cơ sở lý thuyết, các bài học kinh nghiệm từ các nước để làm cơ sở cho quá trình phân tích, so sánh và xây dựng các định hướng chính sách

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Đó là việc dựa vào số liệu thống kê trong quá khứ

về trị giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam và các nước Asean, từ đó làm cơ

sở cho các phân tích và nhận xét lợi thế so sánh của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua

- Phương pháp phân tích, so sánh: Nghiên cứu cũng dựa vào số liệu thống kê về xuất nhập khẩu để tính toán hệ số RCA để đo lường sự thay đổi lợi thế so sánh đối chiếu số

liệu qua các năm từ đó rút ra các nhận xét về thực trạng lợi thế so sánh của hàng hóa

xuất khẩu chủ lực Việt Nam trong thời gian qua

5 Tổng quan nghiên cứu

Thứ nhất, các nghiên cứu trên thế giới về lợi thế so sánh nhóm ngành

- Nghiên cứu đầu tiên về lợi thế so sánh được khởi xướng để đo lường khả năng cạnh tranh xuất khẩu của các quốc gia Theo Balassa (1989) đã so sánh năng lực xuất khẩu các mặt hàng nhóm ngành công nghệ của Hoa Kỳ và Nhật Bản giai đoạn 1967-

1983 bằng cách đo lường lợi thế so sánh của 20 nhóm hàng Nghiên cứu đã dùng chỉ số

BI để đo lường năng lực cạnh tranh xuất khẩu của quốc gia Đây là chỉ số được các nghiên cứu tiếp theo sử dụng phổ biến đến nay Bên cạnh đó, Balassa còn sử dụng thêm chỉ số xuất khẩu thuần, có tính đến tỷ lệ xuất siêu của mặt hàng này trên tổng kim ngạch xuất khẩu Các khái niệm phân loại sản phẩm theo tính thâm dụng các yếu tố như tài nguyên, vốn con người, tư bản cũng đã được đề cập nhằm so sánh xu hướng chuyển dịch

Trang 11

4

lợi thế so sánh của hai quốc gia Đây là một trong những nghiên cứu đặt nền móng cho việc ứng dụng phân tích lợi thế so sánh nhằm đo lường năng lực xuất khẩu của một quốc gia mặc dù mới chỉ thực hiện ở mức độ tổng quan

- Ở phạm vi nghiên cứu rộng hơn, nghiên cứu so sánh lợi thế so sánh của 19 nước trong khối OECD ở tất cả các ngành hàng xuất khẩu được thực hiện trong khoảng thời gian 24 năm của Laursen (1998) Phương pháp nghiên cứu kế thừa sử dụng chỉ số BI, và

đề xuất thêm hệ số mới đo lường lợi thế so sánh đối xứng SI Một trong những ưu điểm của nghiên cứu này đã ứng dụng phân tích hồi quy Galtonian nhằm đo lường sự phụ thuộc của giá trị lợi thế so sánh tại năm cuối giai đoạn nghiên cứu vào năm đầu giai đoạn nghiên cứu Hơn nữa, nghiên cứu cũng đã chỉ ra chỉ số đo lường khác SI có nhiều điểm tối ưu hơn chỉ số BI

- Nghiên cứu của Ana Duek (2008) giới thiệu tình hình kinh tế xã hội của các nước ASEAN, làm rõ những tiềm năng và những vấn đề tồn tại trong khối, và định hướng những ngành công nghiệp phát triển trong khối Bài nghiên cứu chưa đề cập đến vị trí cạnh tranh thương mại quốc tế của các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu của Okun (2010) mô tả xu hướng hội nhập kinh tế khu vực, lợi thế cạnh tranh và đầu tư 6 ngành công nghiệp trong các nước ASEAN: Linh kiện máy tính; dệt; gỗ; dịch vụ chăm sóc sức khỏe; linh kiện máy móc và dầu cọ Trong nghiên cứu này tác giả dùng chỉ số BI phân tích lợi thế cạnh tranh của các ngành thuộc nhiều quốc gia khác nhau trong khối ASEAN, qua đó định hướng phát triển các ngành ở khu vực Nghiên cứu chưa đánh giá và định vị vị trí cạnh tranh thương mại quốc thế của các quốc gia theo từng ngành công nghiệp

- Nghiên cứu của Sanidas và Shin (2010) đã so sánh đã so sánh 6 chỉ số đo lường lợi thế so sánh bao gồm BI, LI, SI, WI, AI, NI, sau đó kiểm tra những ưu và khuyết điểm của các chỉ số này, và mối quan hệ giữa chúng Nghiên cứu tiến hành tính toán thực nghiệm cho các nước Đông Á, cụ thể là, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Nghiên cứu sử dụng số liệu của ITC (Trung tâm Thương mại Quốc tế) giai đoạn 1995-2008 dựa trên Hệ thống hài hòa (HS) cấp độ 2 chữ số của tập hợp, trong đó bao gồm 98 phân nhóm (hoặc lĩnh vực) Kết quả phân tích cho thấy nếu như không có các phân tích định

Trang 12

5

lượng, chỉ dừng lại ở góc độ thống kê, kết quả đo lường vẫn hiển thị sự khác biệt của các chỉ số Mỗi một phương pháp đo lường đều có những ưu điểm và khuyết điểm Chỉ số NI được chứng minh là tối ưu nhất, chỉ số SI không thể dùng để so sánh các ngành và các quốc gia trong khi chỉ số NI là có thể Bên cạnh đó, nghiên cứu này ứng dụng phân tích hồi quy nhân tố nhằm đo lường mức độ phụ thuộc lợi thế so sánh ở thời điểm cuối giai đoạn nghiên cứu vào đầu giai đoạn nghiên cứu

- Nghiên cứu của Keskusteluaiheita (2005) được thực hiện với phạm vi đo lường rộng hơn, so sánh Châu Á, Châu Hoa Kỳ và Châu Âu nhằm tìm ra độ lớn và mức độ chồng chéo của lợi thế so sánh theo tính thâm dụng yếu tố sản xuất Nghiên cứu sử dụng chỉ số BI theo tiêu chí phân loại các mặt hàng xuất khẩu HS 4 chữ số Thêm vào đó, tác giả đã dùng phân loại của Neven (1995) chia các mặt hàng thành 5 danh mục hàng hóa thâm dụng lao động (lao động có kỹ năng và không kỹ năng) và tư bản (cao, trung bình

và thấp) Sau khi đo lường BI, nghiên cứu phân loại thành 5 danh mục theo thâm dụng yếu tố sản xuất, để so sánh trình độ xuất khẩu của các quốc gia, đó chính là ưu điểm của nghiên cứu này

- Nghiên cứu của Kim và Meng (2015) về sự thay đổi chuyên môn hóa xuất khẩu của Trung Quốc trong thời gian 1987-2011 Chuyên môn hóa xuất khẩu của Trung Quốc

đã thay đổi từ hàng thâm dụng lao động đến các mặt hàng thâm dụng vốn, và đã chuyển

từ các ngành công nghiệp công nghệ thấp sang các ngành công nghiệp công nghệ cao Điểm mạnh của nghiên cứu này là đã sử dụng phân tích hồi quy để so sánh mức độ chuyên môn hóa của Trung Quốc với các quốc gia khác kết hợp với phân tích thương mại nội bộ ngành Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá tổng quan, chưa phân tích cụ thể lợi thế so sánh các ngành chủ lực xuất khẩu của Trung Quốc trong thời gian qua Một nghiên cứu khác của Batra and Khan (2005) so sánh vị thế cạnh tranh xuất khẩu của Trung Quốc và Ấn Độ trên thị trường toàn cầu Từ đó, đo lường mức độ thay thế và bổ sung nhau trong thương mại quốc tế của 2 quốc gia Một số ngành xuất khẩu chủ lực của hai quốc gia được chọn làm các nội dung so sánh trực tiếp về lợi thế so sánh cũng như tính thâm dụng yếu tố sản xuất

Trang 13

6

Thứ hai, các nghiên cứu trên thế giới về lợi thế so sánh ngành hàng

- Bên cạnh các nghiên cứu tổng quan về lợi thế xuất khẩu của quốc gia hoặc nhóm hàng, hiện nay một số nghiên cứu tập trung phân tích ở cấp độ ngành Lợi thế so sánh trong ngành nông nghiệp được để cập trong nghiên cứu của Hubbard (2001) Nghiên cứu phân tích lợi thế so sánh của nông nghiệp Hungary xuất khẩu sang Châu Âu, bằng 4 phương pháp đo lường lợi thế so sánh trong giai đoạn 1992-1998 Đóng góp của nghiên cứu này đã chỉ ra các sản phẩm có lợi thế so sánh trong nông nghiệp của Hungary là động vật sống và thịt, kết quả này là trái ngược với các nghiên cứu trước đây chỉ đề cập đến ngủ cốc Đây là cơ sở đề xuất chiến lược xây dựng phát triển các ngành xuất khẩu nông nghiệp của Hungary trong thời gian tới Nghiên cứu chỉ đề cập đến vị thế xuất khẩu của Hungary tại Châu Âu, mà chưa đề cập đến vị thế xuất khẩu của các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường các sản phẩm nông nghiệp Châu Âu

- Nghiên cứu của Ishchukova el al (2013) đo lường lợi thế so sánh xuất khẩu nông nghiệp của Nga trên thị trường thế giới khi đo lường lợi thế so sánh của Nga tại các khu vực kinh tế khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn chưa đề cập đến các đối thủ cạnh tranh của Nga tại các thị trường xuất khẩu chủ lực đó

- Nghiên cứu của Liu el al.(2009) áp dụng phương pháp bốn góc phần tư để phân tích các mô hình thay đổi lợi thế so sánh sản phẩm nông nghiệp ở các nước Đông Á ở thị trường thế giới Nghiên cứu so sánh nông nghiệp các quốc gia theo tính thâm dụng lao động và đất đai Nghiên cứu chưa đề cập đến vị thế cạnh tranh của các sản phẩm này ở từng khu vực thị trường xuất khẩu chủ lực Tuy nhiên, nghiên cứu sử dụng chỉ số đo lường xuất khẩu thuần nhập khẩu để tìm lợi thế so sánh của các mặt hàng nông nghiệp, phương pháp này không phù hợp, bởi đây không phải là chỉ số đại diện cho lợi thế so sánh của các mặt hàng

- Nghiên cứu của Ilyas et al.(2010) đã đo lường mức độ cạnh tranh các nhà xuất khẩu gạo của Châu Á bằng chỉ số BI kết hợp với T-test nhằm so sánh sự khác biệt trong chuyên môn hóa xuất khẩu gạo của các quốc gia Tương tự, Oduro và Offei (2014) đã sử

Trang 14

Thứ ba, các nghiên cứu trong nước

- Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Trung (2002), phân tích chính sách thương mại của Việt Nam và đánh giá lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong thương mại quốc tế Nghiên cứu trên được tiến hành tại thời điểm mà Việt Nam chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới (trước năm 2002) Ngoài ra nghiên cứu cũng chưa xác định được vị trí cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt Nam so với các nước khác trong khu vực, và cũng chưa đưa ra được những kiến nghị chính sách để phát triển ngành trên quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại quốc tế Ngoài ra, phương pháp đo lường chỉ

sử dụng 1 chỉ số đo lường lợi thế so sánh đơn giản là BI của Balassa

- Nghiên cứu của Nguyen Manh Hai và Heidhues (2004) đã triển khai theo hướng xác định các ngành hàng có lợi thế so sánh của một quốc gia Bước quan trọng tiếp theo

mà các nghiên cứu cần triển khai chính là đi tìm các yếu tố ảnh hưởng đến lợi thế so sánh, để từ đó có cơ sở hoạch định chính sách xây dựng và hỗ trợ các ngành xuất khẩu chủ lực nhằm tìm các yếu tố ảnh hưởng đến lợi thế so sánh của xuất khẩu gạo của Việt Nam, nghiên cứu trường hợp tỉnh An Giang Nghiên cứu sử dụng phương pháp ma trận PAM kết hợp với phân tích nhân tố Tuy nhiên, phương pháp này không thể ứng dụng để phân tích lợi thế so sánh và các yếu tố ảnh hưởng đến lợi thế của 1 ngành hàng của quốc gia được

- Nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu trong ba ngành may mặc, thủy sản, và điện tử ở Việt Nam” của Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung

Trang 15

8

ương (2011) Mặc dù công trình nghiên cứu này đã chỉ tra những giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho 3 ngành mà Việt Nam có lợi thế so sánh nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo các nhóm ngành này nhưng chưa có sự so sánh cụ thể đối với các nước trong khu vực

- Nghiên cứu của Mutrap vào năm 2002,“Vietnams integration into the World Economy, Accession to the WTO and the development of Industry”, tính toán chỉ số lợi thế so sánh hiển thị RCA cho 60 nhóm sản phẩm công nghiệp của Việt Nam theo HS 4 nhằm đánh giá lợi thế so sánh của các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong nghiên cứu về triển vọng hội nhập khi Việt Nam gia nhập WTO

- Trong nghiên cứu của mình (luận án tiến sỹ) năm 2006, tác giả Mai Thế Cường

có phân tích lợi thế so sánh các ngành hàng Việt Nam trên cơ sở chỉ số lợi thế so sánh hiển thị (RCA) theo phân loại hàng hóa mã HS 2, dựa trên cơ sở số liệu năm 2005 Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc đánh giá lợi thế cạnh tranh trên cơ sở chỉ số lợi thế so sánh hiển thị tại thời điểm nghiên cứu để chỉ ra ngành nào có lợi thế so sánh hay không có lợi thế so sánh tại thời điểm nghiên cứu, và chỉ là một trong những nội dung trong nghiên cứu thực hiện

- Nghiên cứu của Lê Quốc Phong năm 2008, “Sự chuyển dịch cơ cấu lợi thế so sánh của Việt Nam: Phân tích, nhận định và khuyến nghị”, phân tích chuyển dịch lợi thế

so sánh của Việt Nam trên cơ sở chỉ số lợi thế so sánh hiển thị (RCA) vào 3 năm 1991,

1996 và 2005 theo phân loại sản phẩm ở mức SITC 3 chữ số

- Công trình nghiên cứu “Tạo năng lực thương mại, tạo giá trị và năng lực cạnh tranh” của Ủy ban quốc gia về hợp tác Kinh tế quốc tế (2013) Công trình nghiên cứu này đã phân tích năng lực xuất khẩu của Việt Nam trong suốt một thập kỷ qua, nhưng chưa đề cập đến lợi thế so sánh của toàn thể các ngành hàng của Việt Nam

Tóm lại, lược sử nghiên cứu lợi thế so sánh xuất khẩu của các quốc gia trên thế giới rất đa dạng về phương pháp và cách tiếp cận từ các nghiên cứu tổng quan đến các nghiên cứu đi sâu vào chi tiết từng ngành hàng Tuy nhiên, các nghiên cứu về lợi thế so sánh ở Việt Nam chỉ mới dừng lại ở mức độ tổng quan và phương pháp đo lường giản đơn bằng chỉ số BI của Balassa Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế đang cần hội nhập sâu

Trang 16

9

và rộng, nền kinh tế đang cần tập trung vào phát triển các ngành xuất khẩu chủ lực nhằm gia tăng lợi ích khi tham gia thương mại quốc tế Trước thực tế đó, kế thừa các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu về vị trí cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt Nam trong khối ASEAN: Trường hợp nghiên cứu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là một trong những nghiên cứu khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu trước đây của Việt Nam khi phân tích thâm nhập cụ thể vào lợi thế so sánh của các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, so sánh vị thế của ngành hàng đối với các nước xuất khẩu cạnh tranh trong khu vực ASEAN

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích của đề tài

Chương 2: Phân tích vị thế cạnh tranh các mặt hàng chủ lực của Việt Nam so với

các nước Asean

Chương 3: Kiến nghị một số định hướng cho hoạch định, điều chỉnh chính sách của

Việt Nam đối với các ngành sản phẩm chủ lực

7 Ý nghĩa và hạn chế của đề tài

Đề tài có ý nghĩa khoa học ở các khía cạnh: Tổng hợp, hệ thống cơ sở lý thuyết về đánh giá thực trạng và xu hướng của lợi thế cạnh tranh của các ngành sản phẩm trên cơ

sở phân tích chỉ số lợi thế so sánh Kết quả đánh giá về thực trạng và xu hướng thay đổi lợi thế cạnh tranh của các ngành sản phẩm là thông tin hữu ích để xác định vị thế cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực Asean, từ đó làm cơ sở cho hoạch định chính sách thương mại và chiến lược phát triển của doanh nghiệp Những đề xuất về định hướng cho hoạch định chính sách phát triển của Việt Nam đối với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực có ý nghĩa thực tiễn trong giai đoạn phát triển hiện nay Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được ứng dụng trong hoạt động giảng dạy các môn học Kinh tế quốc tế, Kinh tế đối ngoại

Trang 17

10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lý thuyết về lợi thế của quốc gia

1.1.1 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

Theo Ricardo (1772 - 1832), lợi thế so sánh là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế, khi các quốc gia tập trung chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều

cùng có lợi

Trên cơ sở quan niệm về lợi thế tuyệt đối của A Smith khẳng định sự khác biệt tuyệt đối về chi phí lao động là cơ sở để tiến hành thương mại giữa các quốc gia, theo D Ricardo, lợi thế so sánh là trạng thái phản ánh mối tương quan thuận lợi hơn về chi phí

mà trực tiếp là chi phí về lao động sản xuất các sản phẩm của các quốc gia Nếu quốc gia

có lợi thế tuyệt đối về tất cả các mặt hàng thì mặt hàng có lợi thế tuyệt đối cao nhất là mặt hàng có lợi thế so so sánh Ngược lại, một quốc gia bất lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tất cả các mặt hàng thì mặt hàng có bất lợi thế tuyệt đối nhỏ nhất là mặt hàng có lợi thế so sánh Mô hình của D Ricardo còn là mô hình gợi ý cách thức tổng quát trong xác định lợi thế so sánh dựa vào chi phí lao động với giả định đã được đơn giản hoá là một thế giới chỉ có hai quốc gia và hai mặt hang, công nghệ sản xuất không thay đổi, lao động là yếu tố sản xuất duy nhất chỉ di chuyển giữa các quốc gia nhưng không di chuyển trên phạm vi quốc tế, thương mại hoàn toàn tự do Từ cách thức tổng quát này có thể áp dụng cho các trường hợp cụ thể về xác định mặt hàng có lợi thế so sánh và cho dù một quốc gia bất lợi thế tuyệt đối trong thương mại nhưng vẫn có thể có được lợi thế so sánh

Sự ra đời của lý thuyết lợi thế so sánh góp phần quan trọng vào phát triển thương mại quốc tế, tuy nhiên lý thuyết này vẫn còn một số hạn chế nhất định, một trong số đó là nguồn gốc của lợi thế so sánh chỉ đề cập đến yếu tố chi phí lao động Trên thực tế nguồn gốc của lợi thế so sánh có thể đến từ nhiều yếu tố khác ngoài yếu tố chi phí lao động

1.1.2 Lý thuyết về các yếu tố của Hechscher – Ohlin

Từ góc độ mức độ dồi dào tương đối của các yếu tố về lao động hoặc vốn như là sự ban phát từ tự nhiên đối với một quốc gia của lý thuyết Hecskcher - Ohlin (1995), mặt

Trang 18

11

hàng có lợi thế so sánh là mặt hàng sử dụng tương đối nhiều các yếu tố tương đối dồi dào của một quốc gia như vốn hay lao động Quốc gia có nguồn lao động dồi dào tương đối sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng tương đối nhiều lao động còn quốc gia dồi dào tương đối về vốn sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng tương đối nhiều vốn Như vậy,

sự dồi dào về các yếu tố là nguồn gốc còn hàng hoá sử dụng nhiều yếu tố dồi dào như là kết quả phái sinh từ sự dồi dào tương đối tác yếu tố Chẳng hạn, Việt Nam là một quốc gia giàu lao động tương đối so với phần còn lại của thế giới cho nên Việt Nam nên xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều lao động như hàng dệt may, giày dép và nhập khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều vốn như máy bay, tàu thuỷ Cách tiếp cận của Hecskcher- Ohlin chịu sự ràng buộc của rất nhiều giả định như thương mại hoàn toàn tự do, không

có chi phí vận tải, cán cân thương mại cân bằng Đây là những ràng buộc để làm bộc lộ

rõ hơn bản chất và cơ chế xuất hiện lợi thế so sánh nhưng rất khó có thể đạt được

Bên cạnh đó, trong cơ cấu xuất khẩu sẽ bao gồm các mặt hàng chứa nhiều yếu tố dồi dào hơn là yếu tố không dồi dào hay nói cách khác tỷ trọng của các mặt hàng này phải chiếm ưu thế trong cơ cấu xuất khẩu để mang lại lợi thế so sánh cho quốc gia đó trong thương mại quốc tế Tuy nhiên, việc đo lường hay đánh giá mức độ dồi dào yếu tố sản xuất để nhận biết lợi thế so sánh của quốc gia là công việc phức tạp và thậm chí khó có thể thực hiện được

1.1.3 Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michel Porter

Theo lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michel Porter, mức độ thành công mà một nước có khả năng đạt được trên thị trường thế giới về một ngành nhất định là một hàm

số của sự kết hợp các thuộc tính, bao gồm:

- Điều kiện về các yếu tố sản xuất – vị thế của một nước về các yếu tố sản xuất ví dụ như nguồn lao động có kỹ năng hoặc cơ sở hạ tầng cần thiết để cạnh tranh trong một ngành cụ thể

- Các điều kiện về cầu – nhu cầu trong nước đối với hàng hóa hoặc dịch vụ của một ngành

- Các ngành hỗ trợ và liên quan – sự hiện diện hoặc không sẵn có của các ngành hỗ trợ và liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế

Trang 19

12

- Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành – các điều kiện quản lý các công ty được tạo ra, tổ chức, và quản trị như thế nào và bản chất của đối thủ cạnh tranh trong nước

Sự hiện diện của tất cả bốn thuộc tính trên là yêu cầu để hình thành lên mô hình kim cương nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh (mặc dù vẫn tồn tại những ngoại lệ) và Michel Porter cũng khẳng định rằng chính phủ có thể can thiệp tới từng thuộc tính trong số bốn thuộc tính thành phần của mô hình kim cương – một cách tích cực hoặc tiêu cực Điều kiện về yếu tố sản xuất có thể bị ảnh hưởng bởi các khoản trợ cấp, các chính sách đối với thị trường vốn, các chính sách đối với giáo dục, v.v… Chính phủ có thể xác lập nhu cầu nội địa thông qua các tiêu chuẩn sản phẩm nội địa hoặc bằng các quy định bắt buộc hoặc ảnh hưởng tới nhu cầu của người mua hàng Chính sách của chính phủ có thể tác động tới các ngành hỗ trợ và liên quan thông qua các quy định và ảnh hưởng tới đối thủ cạnh tranh thông qua các công cụ như quy định trên thị trường vốn, chính sách thuế và luật chống độc quyền

Như vậy, theo lý thuyết của M.Porter, các nước nên xuất khẩu những sản phẩm của những ngành mà tại đó cả bốn thành phần của mô hình kim cương có điều kiện thuận lợi,

và nhập khẩu trong những lĩnh vực tại đó các thành phần không có điều kiện thuận lợi Tuy nhiên, lý thuyết của M.Porter vẫn cần được kiểm chứng bằng nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác nhau Nội dung phân tích của của lý thuyết chủ yếu dựa trên những tổng kết thực tiễn, nhưng điều này cũng hoàn toàn có thể phát biểu cho các lý thuyết thương mại mới, lý thuyết về lợi thế so sánh, và lý thuyết H-O Chính xác nhất vẫn là từng phần của các lý thuyết này, bởi chúng là các nghiên cứu bổ sung lẫn nhau, chỉ giải

thích một phần về mô hình của thương mại quốc tế

1.2 Các mô hình xác định lợi thế so sánh của quốc gia

1.2.1 Mô hình của Liesner (1958)

Một phương pháp đơn giản hơn để nhận biết lợi thế so sánh của quốc gia là nghiên cứu cơ cấu xuất khẩu của quốc gia đó Một gia có thể có lợi thế so sánh về sản phẩm đó nếu như tỷ trọng xuất khẩu chiếm nhiều hơn trong cơ cấu xuất khẩu Dựa trên ý tưởng

đó, Liesner (1958) được trích bởi Rukhsana Kalim (2013) [25] lần đầu tiên nghiên cứu

Trang 20

13

về chỉ số lợi thế so sánh với mô hình:

RCA1= Xij / Xi Trong đó, Rik là chỉ số lợi thế so sánh của sản phẩm j của nước i, Xij là kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm j nước i và Xi là tổng kim ngạch xuất khẩu nước i Tuy nhiên,

mô hình nghiên cứu trên về vị trí cạnh trạnh của quốc gia thông qua chỉ số lợi thế so sánh của sản phẩm chỉ mới đề cập đến xuất khẩu hàng hóa đang nghiên cứu trong quốc gia đó Mô hình này chưa đặt vị trí cạnh tranh của mặt hàng xuất khẩu của một quốc gia trong sự so sánh tương quan với lượng xuất khẩu của mặt hàng đó của toàn thế giới

1.2.2 Mô hình của Balassa (1965)

Balassa (1965) [20] đã xây dựng được mô hình nhận biết lợi thế so sánh của một quốc gia Dựa vào số liệu xuất khẩu của một quốc gia và thế giới để nhận biết các ngành

có lợi thế so sánh Lợi thế so sánh theo Balassa được biểu thị bằng chỉ số RCA xác định lợi thế so sánh hiện hữu RCA (revealed comparative advantage)

 𝑅𝐶𝐴𝑖𝑗: Chỉ số lợi thế so sánh của nước i đối với sản phẩm j

 𝑋𝑖𝑗: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm j của nước i

 𝑋𝑖: Tổng kim ngạch xuất khẩu của nước i

 𝑋𝑤𝑗: Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm j của thế giới

 𝑋𝑤: Tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới

RCA >1: Cho thấy tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm k của quốc gia i cao hơn mức xuất khẩu sản phẩm k của thế giới hay quốc gia i có lợi thế so sánh đối với sản phẩm k Hệ số RCA càng lớn thì lợi thế so sánh càng cao và ngược lại

RCA<1: Cho thấy tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm k của quốc gia i thấp hơn mức xuất khẩu của sản phẩm k trên thế giới hay quốc gia i không có lợi thế so sánh sản xuất sản phẩm k

Trang 21

14

Chỉ số RCA của thông qua mô hình của Balassa đã có đề cập đến lượng xuất khẩu hàng hóa của thế giới Do đó, chỉ số lợi thế so sánh thông qua mô hình này đã phần nào phản ảnh đúng đắn hơn vị thế cạnh tranh của quốc gia đối với một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm nhất định

1.2.3 Mô hình của White (1987)

White (1987), được trích bởi Rukhsana Kalim (2013) [25] đã đưa ra mô hình xác định lợi thế so sánh đối với những hàng hóa của quốc gia Mô hình của White là một sự

mở rộng mô hình của Balassa Phương pháp này được tính toán dựa trên nguồn cung xuất khẩu và nhu cầu nhập khẩu của một hàng hóa nhất định trong một quốc gia Ưu điểm của mô hình này là sử dụng cả dữ liệu xuất và nhập khẩu, chính vì thế lợi thế so sánh của quốc gia được xác định dựa trên cả nguồn cung và nhu cầu hàng hóa Lợi thế so sánh được tính toán dựa trên sự khác biệt giữa phần lợi thế của xuất khẩu và phần lợi thế của nhập khẩu đối với hàng hóa nhất định Do đó, chỉ số của White phản ảnh được kết quả lợi thế so sánh ròng (trong khi mô hình của Balassa chỉ đề cập đến phần xuất khẩu) Chỉ số lợi thế so sánh theo mô hình này được tính như sau:

 𝑅𝐶𝐴𝑖𝑗: Chỉ số lợi thế so sánh của nước i đối với sản phẩm j

 𝑋𝑖𝑗, 𝑀𝑖𝑗: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm j của nước i

 𝑋𝑖, 𝑀𝑖: Tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của nước i

 𝑋𝑤𝑗: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm j của thế giới

 𝑋𝑤: Tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới

Trong mô hình này, White đã kết luận rằng nếu RCA3>0 và RCA2>1 thì chứng tỏ cả hai mô hình, bao gồm mô mình đưa ra của White và mô hình gốc ban đầu của Balassa đều phản ảnh đúng thực tế và kết quả là quốc gia i có lợi thế so sánh về sản phẩm j Tuy nhiên, nếu kết quả không giống nhau thì cả hai mô hình không có tính nhất quán và chưa

Trang 22

15

thể kết luận là sản phẩm j của quốc gia có lợi thế so sánh hay không

1.2.4 Mô hình của Vollarth (1991)

Vollarth (1991) [28] dựa trên mô hình tính toán chỉ số lợi thế so sánh của White đã phát triển thành một mô hình tính toán chỉ số lợi thế so sánh mới Theo đó, chỉ số RCA được tính dựa trên sự khác biệt tương đối về lợi thế xuất khẩu và nhập khẩu trong điều kiện logarit Cụ thể mô hình như sau:

1.2.5 Mô hình của Greenaway and Milner (1993)

Greenaway and Milner (1993) [22] đã đưa ra mô hình tính toán lợi thế so sánh dựa trên kim ngạch của loại hàng hóa đang được xem xét Cụ thể như sau:

RCA5= (Xij – Mij) / (Xij + Mij) Trong mô hình trên, Xij là kim ngạch xuất khẩu của nước i đối với mặt hàng j và Mij

là kim ngạch nhập khẩu của mặt nước i đối với mặt hàng j Mô hình này có đề cập đến yếu tố cung cầu của hàng hóa đang được nghiên cứu, tức là chỉ số lợi thế so sánh được tính toán dựa trên dữ liệu xuất và nhập khẩu của mặt hàng đó Tuy nhiên, nó lại chưa được xem xét trong mối quan hệ với tình hình tổng thể xuất khẩu của quốc gia i và tình hình xuất, nhập khẩu mặt hàng j của thế giới Do đó, nó có thể chưa phản ảnh rõ nét nhất lợi thế thật sự của quốc gia i đối với sản phẩm j đang nghiên cứu

Như vậy, dựa trên nền tảng lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo, Hechscher – Ohlin, các mô hình để tính toán chỉ số lợi thế so sánh của hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia đã được đề xuất và được nhiều nhà nghiên cứu sau này sử dụng để tính toán lợi thế so sánh cho các quốc gia, từ đó góp phần xác định vị trí cạnh tranh thương mại của quốc gia đối với các hàng hóa nhất định Trong đó, mô hình của Balassa là nền tảng cho các mô hình còn lại và mô hình của White phản ảnh một cách toàn diện nhất lợi thế so

Trang 23

16

sánh của một quốc gia

1.3 Cơ sở phân loại hàng hóa xuất khẩu theo chỉ số HS, SITC

Theo công thức tính chỉ số RCA, các biến số về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa được đưa vào tính toán Mặt hàng xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia rất đa dạng, phong phú nên có thể phân loại cơ cấu hàng xuất khẩu theo nhiều tiêu thức khác nhau Theo John Weiss (2005) [23], Bùi Thúy Vân (2011) [9] trên thế giới có các cách phân loại cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu như sau:

Thứ nhất, hàng hóa được phân loại theo Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hóa

– HS (Harmoized Commodity Description and Coding System), còn được gọi tắt là Hệ thống hài hòa, do tổ chức Hải quan thế giới (WCO) xây dựng để phân loại hàng hóa hải quan vào năm 1972, được sửa đổi và ban hành chính thức vào tháng 6/1983 Cơ sở của phân loại hàng hóa xuất khẩu của HS là dựa vào bản chất của hàng hóa và được sắp xếp theo thứ tự mức độ sản xuất chế biến: nguyên liệu thô, sản phẩm chưa gia công chế biến, sản phẩm dở dang và sản phẩm hoàn chỉnh Năm 1992, cơ quan thống kê của Việt Nam

là Tổng cục Thống kê đã ban hành danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam phân theo tiêu chuẩn HS chữ số Hệ thống hài hòa bao gồm khoảng 5300 sản phẩm được thể hiện dưới dạng chỉ mục chia thành 99 chương, nhóm lại thành 21 lĩnh vực 6 chữ số gồm 3 phần 2 chữ số đầu tiên HS 2 cho biết chương của hàng hóa được phân loại, Ví dụ

09 là cà phê, trà và gia vị Hai chữ số tiếp theo xác định nhóm trong chương, ví dụ 09.02

là trà (bất kể mùi vị) Hai chữ số tiếp theo (HS 6) thì cụ thể hơn, ví dụ 09.02.10 là trà xanh… Đến cấp độ 6 chữ số (mã HS 6) thì tất cả các quốc gia đều phân loại giống nhau (trừ một số quốc gia sử dụng các phiên bản HS cũ)

Thứ hai, phân loại theo danh mục hàng hóa được phân loại theo tiêu chuẩn ngoại

thương (Standard International Trade Classification - SITC) được ra đời vào năm 1950

do Ban Thư Ký Liên Hợp Quốc xuất bản và đã qua ba lần sửa đổi vào các năm 1969,

1975 và 1986 Hệ thống này ra đời nhằm mục đích sử dụng cho phân tích thống kê kinh

tế của các nước, các tổ chức kinh tế cũng như so sánh về thương mại quốc tế giữa các quốc gia Cơ sở của phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu theo tiêu chuẩn SITC là dựa vào một số điều kiện như bản chất của hàng hoá và nguyên vật liệu được sử dụng để sản xuất

Trang 24

17

hàng hóa đó, qui trình sản xuất sản phẩm, thực tế thị trường và công dụng của sản phẩm, vai trò của hàng hoá trong thương mại quốc tế và sự thay đổi của công nghệ Cụ thể theo tiêu chuẩn SITC, hàng hóa xuất khẩu được chia làm 3 nhóm cụ thể bao gồm: nhóm hàng thô hoặc mới sơ chế (gồm 4 nhóm nhỏ từ SITC 0 đến SITC 4); nhóm hàng đã chế biến hoặc đã tinh chế (bao gồm 4 nhóm nhỏ từ SITC 5 đến SITC 8); nhóm hàng hóa không phân loại vào 2 nhóm trên Ở Việt Nam, cơ quan thống kê đã áp dụng cách phân loại theo tiêu chuẩn ngoại thương SITC để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, phân tích kinh

tế trong và ngoài nước

Thứ ba, hàng hóa phân loại theo danh mục phân ngành hoạt động kinh tế tiêu chuẩn

quốc tế (International Standard Industrial Classification of All Economic Activities – ISIC) được cơ quan Thống kê Liên Hợp Quốc ban hành lần đầu tiên vào năm 1984 và được sửa đổi vào các năm 1958, 1968 và 1989 Danh mục phân loại này qui định rõ nội dung, phạm vi của từng ngành, từng lĩnh vực tham gia vào các hoạt động kinh tế, làm căn cứ để xác định qui mô, vai trò đóng góp của từng ngành và cơ cấu kinh tế của một quốc gia, và trong thống kê thương mại nó được sử dụng để phân loại hàng xuất khẩu theo nguồn gốc ngành sản xuất ra chúng

Tại Việt Nam, cơ quan Tổng cục Thống kê đã ban hành danh mục “Hệ thống Ngành Kinh tế Quốc dân” dựa trên danh mục ISIC và danh mục hàng hóa xuất khẩu dựa trên cơ

sở số liệu chi tiết theo danh mục SITC Hiện nay, theo phân loại của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các hàng hoá tham gia thương mại quốc tế được chia thành 10 nhóm theo mã số như sau:

0 – lương thực, thực phẩm; 5 – hoá chất;

1 – đồ uống và thuốc lá; 6 – công nghiệp cơ bản

2 – nguyên liệu thô; 7 – máy móc thiết bị giao thông vận tải;

4 – dầu, chất béo động thực vật; 9 – hàng hoá khác

Đối với các công trình nghiên cứu về lợi thế so sánh, tùy theo khả năng tiếp cận dữ liệu mà tác giả có cách tiếp cận các nguồn dữ liệu khác nhau Đối với nguồn dữ liệu phân loại theo SITC và ISIC, các dữ liệu được thống kê tương đối khoa học và phụ tốt

Trang 25

18

cho công tác phân tích dữ liệu Tuy nhiên nguồn dữ liệu này được cập nhật tương đối chậm chạp và có khả năng sai sót trong quá trình tổng hợp

Đối với nguồn dữ liệu phân loại theo mã HS, mặc dù cách sắp xếp các dữ liệu thống

kê chưa được logic như SITC nhưng dữ liệu được cập nhật trực tiếp từ Hải quan các nước nên đảm bảo tính tin cậy và phản ảnh tương đối đầy đủ kim ngạch xuất nhập khẩu của các quốc gia Một ưu điểm của số liệu theo phân loại mã HS là mô tả hàng hóa, sản phẩm trực quan hơn, thuận lợi cho cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp khi tra cứu

và tham khảo Khi phân tích các đặc tính của hàng hóa theo tính thâm dụng yếu tố sản xuất thì có thể sử dụng phân loại hàng hóa của UNCTAD theo tính thâm dụng công nghệ

và kỹ năng (HS Product Classification Skill and Technology Intensity)

1.4 Khung phân tích của đề tài

Dựa trên các lý thuyết về lợi thế so sánh và các mô hình tính toán chỉ số lợi thế so sánh để xác định vị thế cạnh tranh của các quốc gia đối với các nhóm hàng nhất định, nhận thấy mô hình tính toán của Balassa có tính định hướng cao cho các mô hình còn lại

Do đó, đề tài sẽ dựa trên công thức tính toán của Balassa để tính toán chỉ số lợi thế so sánh cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và các nước Asean Đồng thời

đề tài cũng sẽ sử dụng mô hình xác định lợi thế so sánh của White để kiểm chứng lại kết quả để từ đó có những nhận định, đánh giá phù hợp nhất với thực tế tại Việt Nam Đề tài xây dựng khung phân tích cho việc xác định vị trí cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực Asean đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như sau:

- Phân tích tổng quan tình hình xuất khẩu, chuỗi giá trị các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (05 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực được xác định dựa trên kim ngạch xuất khẩu cao nhất theo tổng cục thống kê Việt Nam trong năm 2014, trừ dầu thô) trong giai đoạn 2001-2014

- Phân tích lợi thế so sánh và xu hướng thay đổi lợi thế so sánh 05 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và các nước Asean dựa trên mô hình của Balassa

- Kiểm chứng lợi thế so sánh 05 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và các nước Asean dựa trên mô hình của White

- Đánh giá vị trí cạnh tranh thương mại của Việt Nam đối với các mặt hàng chủ lực

Trang 26

19

trong khu vực Asean thông qua kết quả tính toán lợi thế so sánh

- Đề xuất kiến nghị định hướng phát triển sản xuất và thương mại các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam phù hợp với vị trí cạnh tranh đã phát hiện ra

Trang 27

20

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VỊ THẾ CẠNH TRANH CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC

CỦA VIỆT NAM SO VỚI CÁC NƯỚC ASEAN

2.1 Tổng quan về xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2014

2.1.1 Bối cảnh thương mại quốc tế của Việt Nam

Trước năm 1990, hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam rất hạn chế và phụ thuộc chính vào các nước trong khối SEV, đặc biệt là Liên xô Vào đầu những năm 90, khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, Việt Nam đã mất hoàn toàn thị trường đối với hoạt động thương mại quốc tế của mình Đứng trước những khó khăn tưởng chừng như khó có thể vượt qua, Việt Nam đã mạnh dạn thay đổi chính sách phát triển kinh tế, đồng thời mở rộng quan hệ với nhiều nước trên thế giới Từ một nền kinh tế đóng cửa, Việt Nam đã tích cực tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế: Tham gia khu mậu dịch tự do ASEAN – AFTA (1996); diễn đàn APEC (1998); bình thường hoá quan hệ và ký hiệp định thương mại Việt – Hoa Kỳ với Hoa Kỳ (2001); tham gia vào WTO (2007); thiết lập quan hệ thương mại với hầu hết các tổ chức và các quốc gia trên thế giới

Cùng với sự thay đổi trong chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế, chính sách thương mại cũng đã thay đổi để phù hợp hơn và đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế: Năm 1997 ban hành Luật thương mại cho phép mọi thành phần tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu; năm 2002 ban hành Quy chế tối huệ quốc và Đãi ngộ quốc gia; Luật đầu tư nước ngoài được ban bố năm 1996 khuyến khích các công ty đa quốc gia đầu tư vào trong nước; chính sách tự do hoá gắn liền với giảm rào cản thuế quan và phi thuế quan theo lộ trình đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam Sự thay đổi chính sách theo hướng tự do hoá thương mại gắn với những hành động cụ thể đã đem đến cho Việt Nam một thời hoàn kim đối với hoạt động thương mại quốc tế

Giai đoạn 1990-2000 là giai đoạn đầu của quá trình mở cửa và hội nhập, sự thành công của giai đoạn này là tiền đề quan trọng cho các hoạt động hội nhập tiếp theo của Việt Nam Trong giai đoạn đầu, xuất khẩu của Việt Nam có những đặc điểm đặc trưng

Trang 28

21

của giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển: mặt hàng xuất khẩu không đa dạng, chủ yếu là các sản phẩm thô, sản phẩm tài nguyên thiên nhiên, sản phẩm thâm dụng lao động; thị trường xuất khẩu chưa đa dạng mà tập trung vào một số thị trường trọng yếu, rủi ro thương mại quốc tế luôn tiềm ẩn cao Tuy nhiên đây là giai đoạn rất quan trọng làm tiền đề đối với hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam ở giai đoạn tiếp theo Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997-1998 của các quốc gia trong khu vực

và thế giới là bước ngoặt quan trọng đối với hoạt động thương mại và hội nhập của Việt Nam Nhiều quốc gia trong khu vực đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng, trong khi Việt Nam chịu ảnh hưởng ít hơn và có nhiều lợi thế để cạnh tranh trên thị trường quốc tế Từ năm 2000 đến nay, xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có những chuyển biến rõ rệt, tốc độ tăng trưởng vẫn duy trì tốt và chất lượng xuất khẩu cũng đã tăng cao hơn, giai đoạn này đã định hình rõ nét nhất đối với hoạt động thương mại quốc

tế của Việt Nam

2.1.2 Kim ngạch xuất khẩu

Trong thời kỳ hội nhập, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thế giới Kim ngạch xuất khẩu của trong giai đoạn 2001-2014 tăng trưởng cao, giá trị xuất khẩu tăng 10 lần, từ 15 tỉ USD năm 2001 lên 150 tỉ năm

2014, trung bình cứ sau 4 năm kim ngạch xuất khẩu tăng gấp đôi So với tăng trưởng GDP, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao hơn rất nhiều, tỉ lệ kim ngạch xuất khẩu/GDP tăng lên từ 43% năm 2001 lên 81% năm 2014 Động lực cho tăng trưởng xuất khẩu trong giai đoạn này chủ yếu năng lực sản xuất trong nước được cải thiện và thực hiện cam kết mở cửa của thị trường xuất khẩu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự

do, hàng rào thuế và phi thuế quan dần được dỡ bỏ tạo điều kiện cho hàng hoá của Việt Nam thâm nhập vào thị trường thế giới Chất lượng hàng hoá của Việt Nam ngày càng được cải thiện hơn, xuất khẩu nguyên liệu thô và tài nguyên thiên nhiên ngày một giảm xuống, thay vào đó là các mặt hàng chế biến có chất lượng và giá trị cao hơn Việc phân công lao động trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cao cũng là nguyên nhân tăng trưởng xuất khẩu đối với các sản phẩm mà Việt Nam tham gia vào trong chuỗi giá trị

Trang 29

22

Hình 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2014 (đvt: triệu

USD)

Nguồn: Tính toán từ Thống kê Liên hợp quốc (Comtrade)

Trong giai đoạn 2001-2014 nhập khẩu có tốc độ tăng cao hơn xuất khẩu, tại nhiều thời điểm nhập khẩu vượt xa xuất khẩu làm thâm hụt thương mại ở mức độ cao Sau khi Việt Nam tham gia vào WTO đến năm 2011, thâm hụt thương mại ở mức độ tương đối cao, cao nhất vào năm 2008 thâm hụt thương mại chiếm tỉ lệ gần 20% so với GDP Từ năm 2012 đến nay, cán cân thương mại chuyển sang thặng dư, riêng năm 2014 thặng dự đạt gần 2,5 tỉ USD

2.1.3 Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2014

Mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam tương đối đa dạng với hàng nghìn sản phẩm khác nhau, từ sản phẩm thô đến sản phẩm công nghệ cao Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này vẫn phụ thuộc nhiều vào một số mặt hàng chủ lực, chỉ với 10 mặt hàng chủ lực chiếm tỉ trọng 65% tổng kim ngạch xuất khẩu, 5 mặt hàng chủ lực hàng đầu đã chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu (năm 2014) Sự phụ thuộc vào một số mặt hàng xuất khẩu phản ảnh những tiềm tàng rủi ro cao đối với xuất khẩu của Việt Nam Trong giai đoạn 2001-2014, nhiều mặt hàng xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng cao, trong thời gian ngắn đã chiếm vị trí đặc biệt trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, như: điện thoại, các linh kiện điện thoại, máy tính và các sản phẩm điện tử Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống, như giày dép, dệt may cũng duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và ngày càng chứng tỏ tầm quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của Việt

-40.000

-20.000

0 20.000

Trang 30

23

Nam Các sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản vẫn duy trì được đà tăng trưởng xuất khẩu với tốc độ chậm nhưng ổn định, trong khi các mặt hàng thô đã giảm đi nhanh chóng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian gần đây

Bảng 2.1: Mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam (ĐVT: triệu USD)

Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Liên hợp quốc (Comtrade)

Nhìn chung sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam đa dạng và chất lượng được cải thiện hơn Điểm tích cực đối với chủng loại hàng xuất khẩu của Việt Nam là xuất hiện 2 nhóm hàng chủ lực quan trọng có hàm lượng công nghệ cao là: điện thoại và linh kiện điện thoại; máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện Tuy nhiên vẫn còn nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực là những mặt hàng truyền thống với giá trị gia tăng thấp, như: dệt may, giày dép, gỗ, gạo, trong đó nhiều mặt hàng thực hiện chủ yếu bằng hình thức gia công

2.1.4 Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu

Trong giai đoạn 2001-2014 đã có chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, từ xuất khẩu sản phẩm thô sang sản phẩm chế biến hoặc sản phẩm tinh chế Trước năm 2007, tỉ lệ 2 chủng loại hàng hoá tương đương nhau, tuy nhiên từ đó trở đi đã

có thay đổi mạnh mẽ của 2 loại hàng hoá trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, xuất khẩu mặt hàng chế biến hoặc đã tinh chế tăng lên rõ rệt với tỉ trọng chiếm áp đảo trong

cơ cấu xuất khẩu Hiện nay tỉ trọng mặt hàng chế biến đã chiếm 75% trong cơ cấu xuất

Trang 31

Hình 2.2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 -2013 (ĐV tính: %)

Nguồn: Tính toán từ Thống kê Liên hợp quốc (Comtrade)

2.1.4 Thị trường xuất khẩu

Từ khi mở cửa nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã thiết lập quan

hệ thương mại với hầu hết với các quốc gia trên thế giới, cùng với đó hàng hoá của Việt Nam được tiếp cận tới tất cả thị trường trên thế giới Đến nay, Việt Nam có trao đổi hàng hóa với gần 240 quốc gia và vùng lãnh thổ Số thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1

tỷ USD tăng lên 27 thị trường vào năm 2014 Đến cuối năm 2014, tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của các thị trường trên 1 tỷ USD chiếm gần 90% kim ngạch xuất khẩu và 88% kim ngạch nhập khẩu cả nước

Tuy nhiên xuất khẩu vẫn tập trung nhiều vào một số thị trường chính, chỉ 4 thị trường gồm: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc đã chiếm hơn 50% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Nhiều thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam vẫn duy trì cơ cấu tương đối ổn định trong suốt giai đoạn nghiên cứu, như: Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc Một số thị trường xuất khẩu truyền thống đã đánh mất dần vị thế trong cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam, như: ASEAN, Úc, Nhật Bản, trong khi một số thị trường khác

53,3 49,6 46,6 47,4 49,6 48,3

44,6 44,2

39,0 34,9 34,8

30,7 24,5

Trang 32

25

có tỉ trọng tăng lên mạnh mẽ, như: Hàn Quốc và các quốc gia Trung đông

Bảng 2.2 : Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2014 (Đvt: %)

Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Liên hợp quốc (Comtrade)

Đi sâu phân tích về tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường thì từ năm 2001 đến năm

2014, cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể với những chính sách hợp tác quốc tế ngày càng thông thoáng và mở rộng của Việt Nam

Đối với thị trường Asean, mặc dù giá trị kim ngạch xuất khẩu có tăng lên hơn 7 lần,

nhưng tỷ trọng xuất khẩu vào thị trường này lại giảm qua các năm Điều này cho thấy xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường mới đã có sự tăng trưởng vượt bậc hơn vào các thị trường truyền thống của các nước khu vực Đông Nam Á

Đối với thị trường Hoa Kỳ, có thể nói một trong những thành công trong hoạt động

xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2001- 2014 là việc duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt là đã đi vào được thị trường Hoa Kỳ Kim ngạch xuất khẩu sang Hoa

Kỳ tăng hơn 13 lần trong 13 năm qua, từ 1,0 tỷ USD năm 2001, lên 28,6 tỷ USD năm

2014, đưa tỉ trọng xuất khẩu vào thị trường này tăng từ 7,1% lên 18,6% tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2014 và Hoa Kỳ cũng trở thành thị trường xuất khẩu số một của Việt Nam hiện nay

Đối với thị trường Trung Quốc và EU, tỷ trọng xuất khẩu dường như ổn định qua

các năm do tốc độ tăng vào thị trường truyền thống Trung Quốc vẫn ổn định và Việt Nam ngày càng mở rộng thương mại với nhiều đối tác tại các quốc gia Châu Âu

Trang 33

26

Đối với thị trường Nhật Bản và Úc, giá trị kim ngạch xuất khẩu vào hai thị trường

này vẫn tăng qua các năm Tuy nhiên, trước sự lớn mạnh nhanh chóng của thị trường Hoa Kỳ, hai thị trường này đều co lại về tỷ trọng nhưng khá đồng đều

Đối với thị trường Hàn Quốc, nếu như vào năm 2001, tỷ trọng xuất khẩu vào Hàn

Quốc chiếm thấp nhất, chỉ với 2,7% thì đến năm 2014 đã tăng lên 5,01% Điều này mở

ra hướng mới cho xuất khẩu Việt Nam khi mà những thị trường truyền thống như Nhật Bản, Úc, Trung Quốc có sự sụt giảm về tỷ trọng do sự lớn mạnh của thị trường Hoa Kỳ

2.2 Mối quan hệ thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN ra đời vào ngày 8/8/1967 bởi tuyên bố Băng Cốc, Thái Lan đánh dấu một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập khu vực Việt Nam chính thức gia nhập vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á vào tháng 7/1995

và đến nay Tổ chức này đã bao gồm tất cả 10 quốc gia ở khu vực Đông Nam Á Hiệp hội các quốc gia khu vực Đông Nam Á đã từng là quốc gia năng động bậc nhất thế giới và

đã trở thành hình mẫu trong phát triển và hội nhập quốc tế ASEAN đã có những bước tiến vững chắc trong phát triển kinh tế và hội nhập, từ liên kết kinh tế ở mức độ đơn giản, tổ chức này đã đi xa hơn trong việc hình thành Cộng đồng chung ASEAN vào đầu năm 2016

Đối với Việt Nam, ASEAN luôn là thị trường quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế, là thị trường quan trọng cung cấp nguồn nguyên liệu và công nghệ phục vụ cho hoạt động sản xuất trong nước, và là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của Việt Nam Trong giai đoạn 2001-2014, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu tăng lần lượt

là 8 và 6 lần, mức độ tăng nhỏ hơn so với tăng trưởng xuất nhập khẩu chung của Việt Nam Trong quan hệ thương mại với các nước ASEAN, cán cân thương mại của Việt Nam luôn ở trạng thái thâm hụt, nhiều thời điểm thâm hụt thương mại với ASEAN tương đương với thâm hụt thương mại của Việt Nam với toàn thế giới (gần 10 tỉ USD năm 2008) Trong thời gian cuối, khoảng cách giữa xuất khẩu và nhập rút ngắn lại và cán cân thương mại chỉ thâm hụt nhẹ, cụ thể năm 2014 thâm hụt thương mại giữa Việt Nam và ASEAN khoảng gần 4 tỉ USD

Thị trường xuất khẩu chính trong khối của Việt Nam là các quốc gia thuộc ASEAN

Trang 34

27

5, bao gồm: Singapore, Thailand, Malaysia, Indonesia và Phillippines Ngoài ra, Campuchia cũng đã trở thành thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam trong thời gian gần đây, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này liên tục tăng và đã vượt qua Phillippines trong đối tác xuất khẩu của Việt Nam Singapore là đối tác truyền thống trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, tuy nhiên tốc độ tăng xuất khẩu sang thị trường này tương đối chậm, vị trí của Singapore đứng thứ 3 giữa các thị trường xuất khẩu ASEAN của Việt Nam

Bảng 2.3: Xuất khẩu từ Việt Nam sang ASEAN giai đoạn 2001-2014 (Đvt: nghìn

Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Liên hợp quốc (Comtrade)

Thị trường nhập khẩu quan trọng nhất trong ASEAN của Việt Nam, gồm 4 nước: Thái Lan, Singapore, Malaysia và Indonesia với kim ngạch nhập khẩu vượt trội so với phần còn lại của khối ASEAN Thái Lan và Singapore là 2 thị trường nhập khẩu hàng đầu, cung cấp cho Việt Nam nguồn nguyên vật liệu sản xuất và các nhu yếu phẩm tiêu dùng trong nước Xu hướng nhập khẩu từ các quốc gia vào Việt Nam tăng lên mạnh mẽ nhờ việc giảm các rào cản thương mại theo thảo thuận AFTA trong thời gian vừa qua

Trang 35

28

Bảng 2.4: Nhập khẩu từ ASEAN vào Việt Nam (Đvt: nghìn USD)

Thái Lan 792.300 1.858.609 4.905.403 6.382.897 7.052.697 Singapore 2.478.277 3.606.341 9.309.547 6.390.299 6.833.958 Malaysia 464.387 1.215.229 2.596.052 3.919.719 4.201.194 Indonesia 288.894 663.323 1.728.876 2.247.554 2.488.501

Nguồn: Tổng hợp từ Thống kê Liên hợp quốc (Comtrade)

Thị trường ASEAN là thị trường lớn và tiềm năng đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, tuy nhiên trong thời gian qua các quốc gia trong khối vẫn chưa thực sự khai thác hiệu quả thị trường nội khối Hình thành Cộng đồng chung ASEAN năm 2016 cùng với lộ trình tiếp tục thực hiện cam kết giảm hàng rào thương mại sẽ là cơ hội lớn để mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia trong khối tiếp tục phát triển và Việt Nam sẽ đẩy mạnh hơn xuất khẩu và khai thác tốt hơn thị trường rộng lớn này

2.3 Phân tích vị thế cạnh các ngành hàng chủ lực của Việt Nam so với Asean

2.3.1 Ngành hàng dệt may

2.3.1.1 Tổng quan về sản xuất và xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam

Nhiều năm qua, dệt may là một trong những ngành mang về ngoại tệ khá lớn cho đất nước và được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa Việt Nam ra thị trường thế giới Tỷ lệ tăng trưởng bình quân 15%/năm và đến nay đã vươn lên trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu cả nước, với kim ngạch xuất khẩu đóng góp từ 10% - 15% GDP hàng năm Không chỉ tăng trưởng cao về tốc độ, xuất khẩu dệt may còn tăng trưởng mạnh tại các thị trường trọng điểm như: Hoa Kỳ, Hàn Quốc, EU và Nhật Bản Ngành đã tham gia và có được chỗ đứng trong chuỗi gia giá trị toàn cầu của ngành

Trang 36

29

dệt may

Về doanh nghiệp sản xuất, theo thống kê Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX)

trong năm 2015, Việt Nam có 5.982 công ty dệt may, với lực lượng lao động chiếm hơn 20% lao động trong khu vực công nghiệp và gần 5% tổng lực lượng lao động toàn quốc Phần lớn các công ty được đặt tại miền Nam (62%), còn lại nằm ở miền Bắc (30%), miền Trung và Tây Nguyên (8%) Trong đó, các công ty may chiếm tỷ trọng lớn với 70%, còn lại là các công ty dệt với 17%, kéo sợi chiếm 6%, nhuộm chiếm 4% và ngành công nghiệp hỗ trợ chiếm 3% (Nguyệt Anh Vũ, 2014)[13]

Về kim ngạch xuất khẩu, chiếm từ 4-5% thị phần toàn cầu, ngành dệt may của Việt

Nam góp phần tạo ra việc làm và mang lại kim ngạch xuất khẩu cao Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam mang lại giá trị xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay với 21,35 tỷ USD Qua các năm, giá trị và tốc độ tăng trưởng ngành dệt may cũng có sự tăng trưởng vượt bậc

Bảng 2.5: Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2008-2014

Nguồn: Tính toán từ Trade map

Năm 2009, xuất khẩu dệt may Việt Nam có tăng trưởng âm là do tác động chung của khủng hoảng tài chính toàn cầu Tuy nhiên, hai năm sau đó lại đạt được mức tăng trưởng

kỷ lục và luôn duy trì ở mức trên 16%/năm cho đến nay Điều này cho thấy khả bắt kịp

xu thế thị trường và phục hồi nhanh chóng của ngành dệt may Việt Nam

Về kim ngạch nhập khẩu, bên cạnh kim ngạch xuất khẩu đạt giá trị rất cao, thể hiện

tiềm lực và khả năng sản xuất mạnh mẽ của các doanh nghiệp thì kim ngạch nhập khẩu dệt may cũng chiếm giá trị không nhỏ Trong số đó, tập trung rất lớn vào nguyên, phụ liệu cho sản xuất trong nước

Trang 37

% tăng trưởng 11,31% -4,76% 27,75% 24,35% 5,85% 18,24% 14,98% Nhập khẩu vải /

tổng kim ngạch

nhập khẩu

53,56% 54,75% 54,57% 55,03% 55,13% 56,41% 55,97%

Nguồn: Tính toán từ Trade map

Kết quả cho thấy kim ngạch nhập khẩu dệt may Việt Nam hằng năm có sự tăng trưởng tăng giảm gần như tương ứng với kim ngạch xuất khẩu Điều này một phần phản ảnh thực trạng sản xuất hàng dệt may thiêng về gia công của Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu luôn thấp xuất khẩu chứng tỏ ngành dệt may Việt Nam đã ngày càng tự tạo ra cho mình giá trị gia tăng nhiều hơn

Trong tổng giá trị nhập khẩu ngành dệt may thì vải nguyên liệu chiếm tỷ trọng rất lớn và luôn duy trì ở mức 53-56% trong tổng kim ngạch nhập khẩu Điều này xuất phát

từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, tuy nhiên đây là thách thức rất to lớn đối với ngành dệt may Việt Nam khi mà hiệp định TPP có hiệu lực và Việt Nam không thể đáp ứng yêu cầu về xuất xứ hàng hóa “từ sợi trở đi” Khi đó, hàng hóa Việt Nam vào các thị trường TPP sẽ không được hưởng ưu đãi thuế quan như các nước chủ động được nguồn nguyên liệu, đáp ứng được yêu cầu về xuất xứ hàng hóa theo như nội dung thỏa thuận trong TPP Điều này làm suy giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa dệt may Việt Nam tại các thị trường TPP, đặc biệt là Hoa Kỳ, quốc gia chủ lực đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong thời gian qua

Về thị trường xuất khẩu, các thị trường xuất khẩu chủ lực của dệt may Việt Nam là

Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang 4 thị trường này chiếm hơn 85% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam Trong

đó, Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất, chiếm 46,67%, và đây là thị trường mà Việt Nam đặt

Trang 38

31

trọng tâm trong đàm phán TPP

Hình 2.3: Tỷ trọng xuất khẩu dệt may vào các thị trường lớn năm 2014 Nguồn: Tính toán từ Trade map

2.3.1.2 Chuỗi giá trị dệt may Việt Nam

Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam nhìn chung chỉ tham gia vào giai đoạn thứ 3 trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu là cắt và may, sản xuất theo phương thức gia công đơn giản, thiếu khả năng cung cấp trọn gói, nên giá trị gia tăng còn thấp Tiếp cận

và tham gia vào những khâu tạo ra giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị hay chuỗi cung ứng toàn cầu là một trong những hướng đi mới và bền vững cho các ngành sản xuất tại các quốc gia hiện nay

Ngành dệt may tại Việt Nam hiện nay chiếm vị trí lớn trong các ngành sản xuất và xuất khẩu, đã góp phần tạo ra việc làm và mang lại kim ngạch xuất khẩu cao, ngành đã tham gia và có được chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may

Hình 2.4 : Giá trị gia tăng đóng góp vào sản phẩm trong chuỗi giá trị dệt may

Nguồn: Đinh Công Khải (2009)[11]

Trang 39

32

Tuy nhiên, chỗ đứng Việt Nam hiện nay trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu là khâu cắt may - khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị Theo kết quả phỏng vấn sâu các chuyên gia trong ngành thì mức độ tham gia của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong các khâu của chuỗi giá trị còn rất hạn chế trong các khâu: thiết kế, sản xuất nguyên phụ liệu, xuất khẩu theo ODM, marketing và phân phối Cụ thể như sau:

- Đối với khâu thiết kế và marketing phân phối: hầu như các doanh nghiệp Việt Nam

không có tham gia vào hoặc không đáng kể

- Đối với khâu sản xuất nguyên phụ liệu: còn rất hạn chế, chủ yếu là từ nhập khẩu

- Đối với khâu cắt may và xuất khẩu: ngành công nghiệp dệt may hiện nay gần như

chỉ tham gia vào khâu cắt may sản phẩm, được đánh giá là tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất

Xuất khẩu tuy có tạo ra giá trị gia tăng cao nhưng chỉ cao khi tự thiết kế, sản xuất và bán, trong khi các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu gia công Cụ thể:

+ CMT (Cut Make Trim – gia công thuần túy) chiếm 75%

+ FOB: 22% Chủ động mua nguyên liệu theo chỉ định hoặc tự mua nguyên liệu

và sản xuất theo thiết kế sẵn có

+ ODM: Chỉ có khoảng 3% (Original Design Manufacturing – chủ động từ nguyên liệu, thiết kế, sản xuất thành phẩm)

Ngành dệt may được chia làm hai phân ngành cụ thể là dệt nhuộm và cắt may Sự vận hành chuỗi giá trị dệt may là sự kết nối hoạt động của hai phân ngành này Phân tích khối lượng dòng chảy sản phẩm trong quá trình vận hành chuỗi giá trị sẽ phần nào bộc lộ lên vị trí cạnh tranh của ngành trên phương diện tự chủ được nguồn nguyên liệu đầu vào cho các khâu hay không

Về cấu trúc phân ngành dệt- nhuộm

Vai trò của ngành dệt đối với ngành may nói riêng và tổng thể ngành dệt may là rất lớn vì vải là yếu tố quan trọng quyết định đến chi phí và chất lượng của một sản phẩm may mặc Mặc dù có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu tại chỗ cho ngành may nhưng trên thực tế, ngành dệt- nhuộm Việt Nam chưa phát triển như kỳ vọng, chưa thể đáp ứng được nhu cầu vải phục vụ cho sản xuất của ngành may trong nước

Trang 40

33

Hầu như ngành dệt – nhuộm tại Việt Nam chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ trong chuỗi cung ứng ngành dệt may Năm 2014, ngành may có nhu cầu sử dụng khoảng 7 tỷ mét vải trong khi tổng lượng vải sản xuất trong nước chỉ đạt khoảng 1 tỷ mét, nước ta phải nhập khẩu 6 tỷ mét vải, tương đương 86% tổng nhu cầu Nước ta có khả năng nhuộm và hoàn tất 80.000 tấn vải đan và 700 triệu mét vải dệt mỗi năm Tuy nhiên, chỉ khoảng 20-25% lượng vải dệt này đủ chất lượng để sản xuất thành phẩm xuất khẩu, trong khi vải đan hầu hết không đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu và chỉ được dùng cho thị trường nội địa Theo nhận định của các chuyên gia trong ngành, ba nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém của ngành dệt – nhuộm trong chuỗi giá trị dệt may Việt Nam là: (i)

Sự mâu thuẫn trong chính sách của nhà nước trong việc khuyến khích đầu tư vào ngành dệt nhuộm và chính sách hạn chế các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường; (ii) Quy mô doanh nghiệp dệt nhỏ, thiếu nhân lực quản lý giỏi; công nghệ lạc hậu; (iii) Thiếu vắng các cụm ngành công nghiệp dệt may để hỗ trợ phát triển

Ngày đăng: 23/01/2021, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w