Từ kết quả định giá, kết hợp với diện tích các HST hiện trạng 2014 và phương án quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt năm 2013, tiến hành đề xuất các giải pháp bố trí chuyển đổi cơ cấu
Trang 1Trang i
MỤC LỤC TÓM TẮT
ABSTRACT
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
BÁO CÁO TÓM TẮT
MỞ ĐẦU 1
MỤC TIÊU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ DVHST ĐẤT NÔNG NGHIỆP 4
1.1 Dịch vụ sinh thái 4
1.2 Các phương pháp định giá DVST 6
1.2.1 Định giá giá trị trực tiếp 6
1.2.2 Định giá giá trị gián tiếp 8
1.2.3 Định giá dựa trên khảo sát điều tra 8
1.3 Hệ sinh thái đất nông nghiệp 9
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Khái quát về phương pháp 12
2.2 Phương pháp điều tra thu thập dữ liệu 13
2.2.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp 13
2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa 15
2.3 Phương pháp kiểm kê, thành lập bản đồ hiện trạng các HST nông nghiệp và lựa chọn các HST nông nghiệp cần định giá 16
2.3.1 Kiểm kê hiện trạng và định hướng phát triển các HST nông nghiệp 16
2.3.2 Bản đồ HSTKV nông nghiệp 17
2.3.3 Lựa chọn các HST cho định giá DVHST 20
2.4 Lựa chọn các DVHST định giá cho từng HST đã chọn 21
2.5 Phương pháp định giá tổng giá trị DVHST 23
2.5.1 Lựa chọn phương pháp định giá 23
2.5.2 Khảo sát thu thập dữ liệu định giá 24
2.5.3 Định giá 24
2.6 Thảo luận và đề xuất sử dụng bền vững đất nông nghiệp 25
CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT, PHÂN LOẠI VÀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG CÁC HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH PHƯỚC 26
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bình Phước 26
3.1.1 Điều kiê ̣n tự nhiên 26
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 31
3.1.3 Cảnh quan và môi trường 40
3.1.3 Thực tra ̣ng phát triển kinh tế - xã hô ̣i 41
3.1.4 Đánh giá chung về điều kiê ̣n tự nhiên, kinh tế – xã hô ̣i 46
3.2 Thành lập bản đồ hệ sinh thái khu vực tỉnh Bình Phước 47
Trang 2Trang ii
3.2.1 Phân chia sinh vùng và địa khu tỉnh Bình Phước 48
3.2.2 Dữ liệu hệ sinh thái 48
3.2.3 Tổng hợp và biên tập bản đồ HSTKV 50
3.3 Lựa chọn HST để định giá DVHST 51
CHƯƠNG 4: ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ CỦA CÁC HST NÔNG NGHIỆP ĐIỂN HÌNH 53
4.1 Lựa chọn DVHST cần định giá 53
4.2 Lựa chọn phương pháp định giá DVHST 53
4.3 Định giá các DVHST đã chọn 55
4.3.1 Khảo sát thực địa 55
4.3.2 Tổng giá trị DVHST cao su 59
4.3.3 Tổng giá trị DVHST điều 61
4.4 So sánh tổng giá trị DVHST giữa cao su và điều 63
4.4.1 So sánh giá trị tuyệt đối của các DVHST 63
4.4.2 So sánh giữa các nhóm dịch vụ 64
Chương 5: BƯỚC ĐẦU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 66
5.1 Đề xuất chuyển đổi cơ cấu dựa vào Tổng giá trị DVHST 66
5.2 Chuyển đổi cơ cấu dựa vào các nhóm DVHST 67
5.2.1 Dựa vào nhóm DV cung cấp (ProES) 67
5.2.2 Dựa vào nhóm DV điều tiết (RegES) 68
5.3 Lồng ghép các đề xuất của đề tài với phương án quy hoạch đến năm 2020 69
5.3.1 Đề xuất chuyển đổi cơ cấu đến năm 2020 theo tiêu chí TES 71
5.3.2 Đề xuất chuyển đổi cơ cấu đến năm 2020 theo tiêu chí ProES 72
5.3.3 Đề xuất chuyển đổi cơ cấu đến năm 2020 theo tiêu chí RegES 73
5.3.4 Nhận xét chung 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 3TÓM TẮT
Giá trị của một loại đất nông nghiệp cụ thể có thể được đo lường bằng tổng giá trị DVHST Cách tính này khá toàn diện vì nó đo lường được tất cả các giá trị/lợi ích mà con người đang sử dụng trực tiếp, sử dụng gián tiếp và kể cả các giá trị chưa sử dụng (giá trị tiềm năng) của một loại đất cụ thể Đề tài “Định giá giá trị sinh thái đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh Bình Phước” được thực hiện theo hướng tiếp cận như trên
Các kết quả đạt được của đề tài bao gồm: Tổng hợp tất cả dữ liệu thu thập được để phân tích bức tranh hiện trạng các HST nông nghiệp của tỉnh Bình Phước, xây dựng nên bản đồ HSTKV cho tỉnh, từ đó lựa chọn được 02 HST tiêu biểu cho nông nghiệp tỉnh Bình Phước là HST cao su và HST điều Đề xuất quy trình định giá theo hướng tiếp cận tổng giá trị DVHST
và áp dụng định giá cho 02 HST đã lựa chọn Kết quả định giá lần lượt như sau: HST cao su trung bình 128,14 triệu VNĐ/ha/năm, HST điều trung bình 81,86 triệu VNĐ/ha/năm HST cao
su có giá trị nhóm dịch vụ cung cấp cao hơn HST điều, ngược lại, HST điều có giá trị nhóm dịch vụ điều tiết cao hơn HST cao su Từ kết quả định giá, kết hợp với diện tích các HST hiện trạng 2014 và phương án quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt năm 2013, tiến hành đề xuất các giải pháp bố trí chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp đến năm 2020 cho tỉnh theo 3 căn cứ: tổng giá trị DVHST (TES), giá trị nhóm dịch vụ cung cấp (ProES) và giá trị nhóm dịch vụ điều tiết (RegES) Kết quả: tổng diện tích bố trí HST cao su và điều giảm 201.868 ha so với năm
2014 Dựa vào tiêu chí TES (phương án phát triển bền vững), diện tích HST cao su đề xuất là 230.809,7 ha, chiếm 33,59% diện tích tự nhiên, giảm 37.273,2 ha so với năm 2014 HST điều đến năm 2020 là 79.846,4 ha, giảm 164.595,1 ha so với diện tích hiện trạng Nếu bố trí dựa vào hiệu quả kinh tế (ProES) thì diện tích HST cao su tăng thêm 55.392 ha so với phương án bền vững Nếu bố trí dựa vào hiệu quả môi trường (RegES thì HST điều tăng thêm được 45.453
ha so với phương án bền vững
Kết quả định giá và các đề xuất của đề tài sẽ là căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách lựa chọn phương án bố trí đất nông nghiệp bền vững cho địa phương Mặt khác, đề tài đã có những công bố khoa học và đào tạo khả quan gồm: 2 bài báo trên tạp chí hội nghị khoa học trong nước, 1 tiến sỹ và 2 cử nhân đã bảo vệ đề án tốt nghiệp
Trang 4ABSTRACT
The value of a specific agricultural land can be measured by total value of ecosystem services This calculation is quite comprehensive as it measures all values / benefits that people are using directly and indirectly and even unused (potential) value of a specific land This project, "Assessing the ecological values of agricultural soils for sustainable agriculture in Binh Phuoc province" was conducted with such approaches
The research results include: The synthesis of all collected data to analyze the current state of Binh Phuoc agricultural ecosystems, the building of region ecosystem map for the province, and thus, two agricultural ecosystems of rubber tree and cashew that were chosen to represent agriculture of Binh Phuoc province Valuation process by the approach of total value
of ecosystem services were proposed, then applied to assess the two selected ecosystems The results of assessment are as follows: an average 128.14 million VND / ha / year for rubber tree ecosystem, an average 81.86 million VND / ha / year for cashew ecosystem Rubber tree ecosystem has higher value of provisioning services than cashew ecosystem, conversely, cashew ecosystem has higher value of regulating services than rubber tree ecosystem
From the valuation results combining with the ecosystem areas in the current state of
2014 and the land-use plan approved in 2013, we proposed the solutions of agricultural restructuring until 2020 for the province under these 3 bases: the total value of ecosystem services (TES), the value of the provisioning services group (ProES) and the value of regulating services group (RegES) As a result, total area of rubber tree ecosystem and cashew ecosystem were reduced by 201.868 ha compared to 2014 Based on the criteria TES (sustainable development plan), area proposal of rubber tree ecosystem is 230,809.7 ha, representing 33,59% of the natural area, that was reduced by 37.273,2 ha compared to 2014 The cashew ecosystem to 2020 is 79.846,4 ha, that is reduced by 164,595.1 ha compared to the current area
If the proposal was based on economic efficiency (ProES), the area of rubber tree ecosystem would increase 55.392 ha compared with sustainable plan If the proposal was based on environmental effectiveness (RegES), the area of cashew ecosystem would increase 45.453 ha compared with sustainable plan
Valuation results and recommendations of this study will be an important basis for policy-makers to choose a sustainable plan of local agricultural land restructuring On the other hand, due to this study, we have published 2 articles of national scientific conference and successfully trained 1 PhD and 2 undergraduate students
Trang 5Trang iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Phương pháp định giá, hạn chế và ví dụ 6
Bảng 2.1: Số liệu sinh khí hậu cần thu thập (theo từng trạm khí tượng) 13
Bảng 2.2: Dữ liệu thổ nhưỡng cần thu thập 14
Bảng 2.3: Xác định hằng số C từ giá trị α và β 15
Bảng 2.4: Hệ thống phân loại hệ sinh thái 16
Bảng 2.5: Mức độ khái quát hóa các thành phần HST theo tỷ lệ bản đồ thể hiện 18
Bảng 2.6: Mã hóa sinh vùng theo RCFEE 19
Bảng 2.7 Các DVHST đã được định giá trên thế giới 21
Bảng 3.1: Phân loại và quy mô diện tích các loại đất 35
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 42
Bảng 3.3 Thống kê diện tích các HST tỉnh Bình Phước 49
Bảng 4.1 Các DVHST có hiện diện trong HST cao su 53
Bảng 4.2 Các DVHST được chọn để định giá 53
Bảng 4.3: Phương pháp sử dụng và yêu cầu số liệu để định giá từng DVHST 54
Bảng 4.4: Khai báo biến khảo sát tại 40 ô mẫu trồng cao su 57
Bảng 4.5: Kết quả thống kê mô tả chu trình nước và sử dụng nước 57
Bảng 4.6: Kết quả thống kê mô tả đối với các biến liên quan đến dinh dưỡng đất 58
Bảng 4.7: Kết quả thống kê mô tả với các biến liên quan đến sinh khối cao su 58
Bảng 4.8: Một số thông tin thống kê mô tả đối với nhóm giá trị các DVHST: 59
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett 59
Bảng 4.10 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 60
Bảng 4.11: Một số thông tin thống kê mô tả đối với nhóm giá trị các DVHST điều: 61
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett 62
Bảng 4.13 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 62
Bảng 5.1 Tổng hợp các HST nông nghiệp theo phương án quy hoạch 2020 69
Trang 6Trang iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Các phương pháp định giá đất đang sử dụng hiện nay 1
Hình 2: Mối liên quan giữa HST, DVHST và giá trị của HST 2
Hình 1.1: Khung phân loại DVHST và tương quan với phúc lợi của con người 5
Hình 1.2: Các nhân tố và quá trình sinh thái 9
Hình1.3: Các thành phần chức năng của một HST nông nghiệp 10
Hình1.4: Cấu trúc HST nông nghiệp 10
Hình 2.1: Quy trình định giá theo cách tiếp cận DVHST 12
Hình 2.2: Quy trình xây dựng bản đồ HSTKV theo Queensland 18
Hình 2.3: Trình bãy nhãn cho các HSTKV 20
Hình 3.1 Vị trí tỉnh Bình Phước 26
Hình 3.2 Bản đồ địa chất tỉnh Bình Phước 28
Hình 3.3 Bản đồ địa mạo tỉnh Bình Phước 30
Hình 3.4 Bản đồ đất tỉnh Bình Phước 36
Hình 3.5 Bản đồ hiện trạng rừng tỉnh Bình Phước 37
Hình 3.6: Bản đồ HST tỉnh Bình Phước 49
Hình 3.7: Bản đồ HSTKV tỉnh Bình Phước 51
Hình 3.8: Phân bố của HST cao su và điều theo kiểu địa mạo 51
Hình 4.1: Bản đồ vị trí các ô mẫu trong khảo sát các HST nông nghiệp 56
Hình 4.3: So sánh giá trị các DVHST giữ nhóm cây non và nhóm cây trưởng thành 61
Hình 4.4: So sánh giá trị các DVHST giữ nhóm cây non và nhóm cây trưởng thành 63
Hình 4.5: So sánh giá trị các DVHST giữa HST cao su và HST điều 64
Hình 4.6: So sánh giá trị các nhóm DVHST của HST cao su và HST điều 64
Hình 5.1: Bản đồ đề xuất chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo tiêu chí TES 66
Hình 5.2: Bản đồ đề xuất chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo tiêu chí ProES 67
Hình 5.3: Bản đồ đề xuất chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo tiêu chí RegES 68
Hình 5.4: Bản đồ quy hoạch HST nông nghiệp đến năm 2020 tỉnh Bình Phước 70
Hình 5.5: Bản đồ đề xuất chuyển đổi cơ cấu đến năm 2020 theo tiêu chí TES 71
Hình 5.6: Bản đồ đề xuất chuyển đổi cơ cấu đến năm 2020 theo tiêu chí ProES 72
Hình 5.7: Bản đồ đề xuất chuyển đổi cơ cấu đến năm 2020 theo tiêu chí RegES 73
Hình 5.8: Biểu đồ tổng hợp các kết quả đề xuất cơ cấu nông nghiệp đến năm 2020 74
Trang 7Trang 1
MỞ ĐẦU
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững của Liên hiệp quốc (2002), Việt Nam đã chỉ ra được 8 vấn đề môi trường cấp bách ở nước ta Trong đó, hai vấn đề cấp bách hàng đầu là suy giảm diện tích rừng và sự suy thoái nhanh của chất lượng đất và diện tích đất canh tác nông nghiệp Do đó, nước ta cần có những căn cứ khoa học để đề xuất những chính sách bảo vệ các vùng đất nông nghiệp có nguy cơ suy giảm Muốn thực hiện được điều này, yêu cầu đầu tiên
là cần phải tính toán thật đầy đủ các giá trị mà hệ sinh thái đất nông nghiệp hiện nay đang cung cấp cho con người
Các khái niệm “dịch vụ hệ sinh thái (DVHST)” và “nguồn vốn tự nhiên” gần đây được phát triển nhằm xác lập sự kết nối giữa phúc lợi con người và sinh thái bền vững thông qua các sáng kiến về chính sách, phát triển và bảo tồn [34], [57] Sự kết hợp các dịch vụ hệ sinh thái với các kỹ thuật phân vùng sinh thái và đánh giá thích nghi đất đai đã trợ giúp cho các hoạt động bảo tồn và quản lý bền vững đối với sự chuyển đổi các hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là sang nông nghiệp và phát triển đô thị [21] Mặc dù còn giai đoạn sơ khai, nhưng hướng tiếp cận DVHST là một hướng tiếp cận có hệ thống, đầy đủ và có tính ổn định cao từ việc đo lường, mô hình hóa và thể hiện thành bản đồ, phân tích quản trị và định giá [45]
Công tác định giá đất ở nước ta hiện nay vẫn dựa trên quan điểm đất đai là hàng hóa Các phương pháp xác định giá trị hàng hóa đất đai có thể tổng kết lại thành 5 nhóm chính: dựa vào giá giao dịch trên thị trường, lợi nhuận, chi phí, thặng dư và hồi quy [6]
Theo một trường phái tiếp cận khác, đất đai được xem là môi trường thành phần, là nơi cung cấp tài nguyên và là môi trường sống Do vậy, để định giá, các phương pháp được sử dụng: dựa vào thị trường (market based), dựa vào chi phí (cost based), dựa vào sản xuất (production based), bộc lộ ưa thích (revealed preference) và phát biểu ưa thích (stated preference) [9]
Hình 1: Các phương pháp định giá đất đang sử dụng hiện nay
Trang 8Trang 2
Các phương pháp kể trên, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu của công tác định giá cho các loại đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp Đối với các mục đích nông nghiệp, phương pháp thu nhập gần như là lựa chọn duy nhất để định giá Tuy nhiên, với đặc điểm thu nhập từ nông nghiệp hiện nay rất bấp bênh, phương pháp thu nhập bộc lộ rất nhiều hạn chế và kết quả định giá
và chưa thể hiện được đầy đủ giá trị của đất nông nghiệp Điều này đòi hỏi phải tìm kiếm các phương pháp phù hợp hơn để định giá đất nông nghiệp
Năm 2005 đánh dấu sự công bố Quốc tế chính thức của phương pháp định giá DVHST khi
MA xuất bản bộ tài liệu “Ecosystems and Human Well-being” [30], trong đó đề xuất khung khái
niệm tương quan giữa các DVHST và phúc lợi của con người Đây được coi là tài liệu có ảnh hưởng lớn nhất đến thời điểm hiện nay của trường phái kinh tế sinh thái thế giới
Từ năm 2005 đến nay, các nghiên cứu tập trung vào phát triển khung khái niệm của MA (2005) để đề xuất các khung đánh giá dịch vụ sinh thái cho từng HST cụ thể Các thành tựu trong giai đoạn này có thể kể đến: Năm 2006, tác giả De Groot đề xuất khung định giá dịch vụ sinh thái đất ngập nước [23] Năm 2008, tác giả Neil Philcox đề xuất khung định giá dịch vụ sinh thái cho tài nguyên biển và ven bờ [36] Năm 2010, tác giả Dominati đề xuất khung phân loại và định giá cho dịch vụ sinh thái đất [8] Năm 2011, tác giả Boelee đề xuất khung tích hợp quản lý tài nguyên nước và HST nông nghiệp [7] Năm 2012, báo cáo của SCBD đã hướng dẫn phân loại các DVHST
có liên quan đến an toàn tài nguyên nước thế giới [39]
De Groot (2006) [15] đã thể hiện mối liên quan giữa cấu trúc, tiến trình, chức năng của HST với DVHST và các phúc lợi của con người, trong đó, nhấn mạnh các lợi ích thu được từ HST
và giá trị của HST (hình 3)
Hình 2: Mối liên quan giữa HST, DVHST và giá trị của HST [15]
Theo hình 3, giá trị của một loại đất nông nghiệp cụ thể, ví dụ đất trồng cao su, có thể được ước tính thông qua các lợi ích mà con người nhận được từ đất trồng cao su Các lợi ích này lại có
Trang 9Trang 3
thể được tính toán từ các DVHST mà loại đất trồng cao su cung cấp Do vậy, giá trị DVHST đại diện cho tất cả các giá trị/lợi ích mà con người đang sử dụng trực tiếp, sử dụng gián tiếp và kể cả các giá trị chưa sử dụng (giá trị tiềm năng) của một loại đất cụ thể
Đề tài nghiên cứu tiếp cận theo hướng xem xét các loại đất nông nghiệp là những HST nhân tạo, và do vậy, giá trị của đất nông nghiệp có thể được xác định thông qua đo lường tổng giá trị các DVHST mà con người đang nhận được từ các loại đất nông nghiệp đó Tổng giá trị DVHST tính toán được sẽ là căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách lựa chọn phương án bố trí đất nông nghiệp bền vững cho địa phương
MỤC TIÊU
Đề tài tiến hành với 03 mục tiêu chính như sau:
Mục tiêu 1: Hiện trạng các HST nông nghiệp tỉnh Bình Phước, từ đó lựa chọn các HST tiêu biểu Mục tiêu 2: Định giá tổng giá trị DVHST cho các HST tiêu biểu đã chọn
Mục tiêu 3: Các giải pháp bố trí sử dụng bền vững đất nông nghiệp
Trang 10Trang 4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ DỊCH VỤ SINH THÁI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1.1 Dịch vụ sinh thái
Khái niệm “Dịch vụ sinh thái” (ES) lần đầu tiên được nhắc đến là vào năm 1997 bởi tác
giả tác giả Daily trong chương giới thiệu (What are Ecosystem Services?) của quyển sách
“Nature's Services: Societal Dependence on Natural Ecosystems” [17] Tác phẩm này được xem
là tiền đề cho hướng nghiên cứu kinh tế sinh thái môi trường sau này Cũng trong năm này, với
bài báo “The Value of the World’s Ecosystem Services and Natural Capital” [16] nhóm tác giả đã
đề xuất sử dụng 17 dịch vụ sinh thái cơ bản của thế giới Kết quả định giá 17 dịch vụ sinh thái trên quy mô thế giới cho ra một con số rất đáng suy nghĩ là 16 – 54 tỷ USD/năm
Tuy nhiên, bước ngoặc về phương pháp luận trong định giá kinh tế tài nguyên diễn ra vào
năm 2002, với bài báo “A typology for the classification, description and valuation of ecosystem functions, goods and services” [22] Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu của Costanza, Turner và
Faber, tác giả bài báo đã đề xuất khung phân loại hàng hóa và dịch vụ sinh thái Ông phân hàng hóa và dịch vụ sinh thái thành 04 nhóm (Điều tiết, môi trường sống, sản xuất và thông tin) với tổng cộng 23 hàng hóa và dịch vụ Trong bài báo này, tác giả cũng đã đề xuất các phương pháp để
định giá cho từng loại hàng hóa và dịch vụ Các đề xuất của De Groot đã mở ra một hướng tiếp cận mới trong định giá tài nguyên môi trường nói chung và định giá tổn thất xói mòn nói riêng: tiếp cận theo hướng kinh tế sinh thái
Giai đoạn từ 2002 – 2005, một loạt các bài báo và công trình nghiên cứu liên quan đến lý thuyết về định giá tài nguyên môi trường theo quan điểm DVHST được công bố, nổi bật lên là các công trình của tổ chức Wetland International (2002), Viện Quản lý nước nội địa và Xử lý nước
thải (RIZA) (2002), Ban đánh giá HST thiên niên kỷ (MA) (2003) và các tác giả Farber (2002), Limburg (2002), Howarth (2002), Wilson (2002) và Katherine Hawkins (2003)
Năm 2005 đánh dấu sự công bố Quốc tế chính thức của phương pháp định giá DVHST khi
MA xuất bản bộ tài liệu “Ecosystems and Human Well-being” [30], trong đó đề xuất khung khái
niệm tương quan giữa các DVHST và phúc lợi của con người Đây được coi là công trình có ảnh hưởng lớn nhất đến thời điểm hiện nay của trường phái kinh tế sinh thái thế giới
Trang 11Trang 5
Hình 1.1: Khung phân loại DVHST và tương quan với phúc lợi của con người [30]
DVHST là những lợi ích mà con người nhận được từ HST [30] Các lợi ích này bao gồm:
- Các dịch vụ cung cấp (provisioning services) như lương thực hay nước;
- Các dịch vụ điều tiết (regulating services) như điều tiết lũ lụt hay kiểm soát dịch bệnh;
- Các dịch vụ văn hóa (cultural services) như tâm linh, vui chơi giải trí;
- Và các dịch vụ hỗ trợ (supporting services) như chu trình dinh dưỡng
Từ năm 2005 đến nay, các nghiên cứu tập trung vào phát triển khung khái niệm của MA (2005) để đề xuất các khung đánh giá dịch vụ sinh thái cho từng HST cụ thể Các thành tựu trong giai đoạn này có thể kể đến: Năm 2006, tác giả De Groot đề xuất khung định giá dịch vụ sinh thái đất ngập nước [23] Năm 2008, tác giả Neil Philcox đề xuất khung định giá dịch vụ sinh thái cho tài nguyên biển và ven bờ [36] Năm 2010, tác giả Dominati đề xuất khung phân loại và định giá cho dịch vụ sinh thái đất [8] Năm 2011, tác giả Boelee đề xuất khung tích hợp quản lý tài nguyên nước và HST nông nghiệp [7] Năm 2012, báo cáo của SCBD đã hướng dẫn phân loại các DVHST
có liên quan đến an toàn tài nguyên nước thế giới [39]
Trang 12Trang 6
1.2 Các phương pháp định giá DVST
Để thuận tiện trong việc định giá giá trị DVHST, người ta sử dụng tiền như một mẫu số chung Phương pháp định giá có bốn nhóm cơ bản:
- Định giá giá trị trực tiếp
- Định giá giá trị gián tiếp
- Định giá dựa trên kết quả khảo sát (ví dụ đánh giá ngẫu nhiên)
- Chuyển đổi lợi ích
Nếu một địa điểm không thể thu thập dữ liệu do thiếu số liệu, tài nguyên hoặc thời gian thì phương pháp chuyển đổi lợi ích có thể được áp dụng (sử dụng kết quả từ các khu vực tương tự khác để ước tính giá trị của một dịch vụ nhất định trong khu vực nghiên cứu) Tuy nhiên, phương pháp này gặp khá nhiều vấn đề bởi vì mỗi khu vực có những điều kiện khác nhau
Mô tả chi tiết về các phương pháp định giá được trình bày chi tiết trong phần sau
1.2.1 Định giá giá trị trực tiếp
1.2.1.1 Giá thị trường: giá trị trao đổi các DVHST có trên thị trường, chủ yếu áp dụng đối với
chắc năng sản xuất, đôi khi cũng áp dụng đối với một số chức năng thông tin (ví dụ giải trí) và các chức năng điều tiết (ví dụ điều tiết nước)
1.2.1.2 Yếu tố thu nhập (FI): Nhiều DVHST nâng cao thu nhập, một ví dụ là rừng cải thiện chất
lượng nước tự nhiên làm tăng thủy sản và do đó tăng thu nhập của ngư dân
1.2.1.3 Đầu tư công: Ví dụ, thành phố New York quyết định sử dụng dịch vụ điều tiết nước tự
nhiên của lưu vực thông qua việc mua hoặc xây dựng hạ tầng (trị giá 100 triệu USD/ năm) Để cung cấp nước an toàn và tránh được việc xây dựng nhà máy lọc nước tốn 6 tỷ USD và người dùng
có giá sẵn lòng trả ít nhất là 100 triệu USD/ năm
Tính không hoàn hảo của thị trường và thất bại chính sách bóp méo giá thị trường
Chủ yếu áp dụng đối với hàng hóa (ví dụ cá), một số dịch vụ văn hóa (giải trí), điều tiết (thụ phấn)
Cải thiện nước tự nhiên làm tăng thủy sản và thu nhập của ngư dân
Trang 13Quyền lợi rất khó để thiết lập tài sản
Đầu tư vào lưu vực sông để bảo vệ nguồn cung cấp nước uống hoặc các biện pháp bảo tồn
Người ta cho rằng các chi phí thiệt hại (phòng tránh) hoặc chi phí thay thế phù hợp với lợi ích ban đầu Tuy nhiên có thể không chính xác dẫn đến đánh giá thấp hoặc cao hơn giá trị thật
Giá trị của dịch vụ kiểm soát lũ có thể bắt nguồn từ những thiệt hại ước tính sẽ xảy ra
Chi phí thay
thế
Một số dịch vụ có thể thay thế bằng hệ thống nhân tạo
Giá trị bổ cập nước ngầm có thể tính từ chi phí lấy nước từ một nguồn khác
Chi phí phục
hồi
Chi phí điều hòa tác động của các chức năng bị mất đi (hoặc phục hồi)
Chi phí dự phòng trong trường hợp không có HST
Chi phí du
hành
Sử dụng DVHST có thể đi lại và các chi phí liên quan có thể được xem như là sự phản ảnh của giá trị hàm
Qua ước tính có thể
dễ dàng thực hiện
Tuy nhiên kỹ thuật này là dữ liệu chuyên sâu
Định giá giá trị giải trí của một địa điểm bằng
số lượng thời gian và tiền bạc mà mọi người dành để du lịch đến đó
Đánh giá
hưởng thụ *
Phản ánh nhu cầu dịch vụ trong giá người trả tiền cho hàng hóa trên thị trường liên quan
Phương pháp này dựa trên giá sẵn lòng trả của lợi ích người dân
Dữ liệu rất chuyên sâu
Không khí trong lành, quan điểm thẩm mỹ làm tăng giá cả cảnh quan xung quanh…
Yêu cầu cao về kỹ thuật phỏng vấn
Ngoài ra còn có tranh cãi về việc liệu mọi người có thực sự sẽ thanh toán số tiền
Đây thường là cách duy nhất ước tính giá trị không sử dụng Ví
dụ một bảng câu hỏi khảo sát giá sẵn lòng trả để tăng chất lượng nước trong một dòng suối, hồ hoặc sông để
có thể thưởng thức các hoạt động bơi lội, chèo thuyền, câu cá…
Định giá nhóm
Tương tự như đánh giá ngẫu nhiên nhưng
là một quá trình tương tác nhóm
Sự thiên vị trong một nhóm đánh giá ngẫu nhiên được cho là ít hơn trong đánh giá ngẫu nhiên cá nhân
Chuyển đổi lợi ích
Sử dụng kết quả từ khu vực khác tương
tự để ước tính giá trị của một dịch vụ tại khu vực đang nghiên cứu
Giá trị này là địa điểm
và bối cảnh phụ thuộc, do đó về nguyên tắc không được chuyển đổi
Có thể sử dụng khi thời gian để thực hiện các nghiên cứu ban đầu khan hiếm hoặc dữ liệu không có sẵn (nhưng thận trọng)
(Nguồn [22])
Trang 14Trang 8
1.2.2 Định giá giá trị gián tiếp
Khi không có thị trường rõ ràng cho dịch vụ, cần phải nhờ đến các phương pháp định giá giá trị gián tiếp Một loạt các kỹ thuật định giá có thể tiết lộ giá sẵn lòng trả hoặc giá chấp nhận trả cho sự sẵn có hoặc mất đi các dịch vụ:
1.2.2.1 Chi phí phòng tránh: Dịch vụ cho phép xã hội để tránh được chi phí mà có thể được phát
sinh trong trường hợp không có các dịch vụ Ví dụ kiểm soát lũ và xử lý chất thải
1.2.2.2 Chi phí thay thế: Dịch vụ có thể được thay thế bằng hệ thống nhân tạo, một ví dụ là xử
lý chất thải tự nhiên của đầm lầy có thể được (một phần) thay thế bằng hệ thống xử lý tốn kém
1.2.2.3 Chi phí giảm thiểu (phục hồi): chi phí điều hòa tác động của các chức năng bị mất hoặc
phục hồi được xem như một biểu hiện của tầm quan trọng kinh tế của các dịch vụ ban đầu Ví dụ, chi phí dự phòng trong trường hợp không có dịch vụ đất ngập nước (rào cản lũ) hoặc tái định cư
1.2.2.4 Chi phí du hành: Sử dụng các DVHST có thể du lịch Chi phí đi lại có thể được xem như
sự phản ánh của giá trị tiềm ẩn của dịch vụ Một ví dụ là số tiền mà du khách sẵn sàng trả để đi du lịch đến một nơi hoặc khu vực mà họ muốn đến
1.2.2.5 Đánh giá hưởng thụ: nhu cầu dịch vụ có thể được phản ánh trong giá mà mọi người sẽ
trả cho hàng hóa liên quan Một ví dụ như giá nhà đất tại các bãi biển thường vượt quá giá nhà nội địa
1.2.3 Định giá dựa trên khảo sát điều tra
1.2.3.1 Đánh giá ngẫu nhiên (CV): nhu cầu dịch vụ có thể được nêu ra bằng cách kịch bản giả
định có liên quan đến các mô tả về lựa chọn thay thế trong một bảng câu hỏi điều tra xã hội
1.2.3.2 Định giá nhóm: Một cách tiếp cận định giá DVHST đã được sự chú ý ngày nay liên quan
đến thảo luận nhóm Sử dụng phương pháp này, các nhóm nhỏ của người dân đã gặp nhau trong một diễn đàn kiểm duyệt để cân nhắc về giá trị kinh tế của các DVHST
1.2.4 Chuyển đổi lợi ích
Khi thời gian để thực hiện các nghiên cứu ban đầu khan hiếm hoặc dữ liệu không có sẵn, chuyển đổi lợi ích có thể được sử dụng Phương pháp này sử dụng kết quả từ khu vực khác tương
tự để ước tính giá trị của một dịch vụ tại khu vực đang nghiên cứu Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp này cần hết sực thận trọng vì điều kiện của hai khu vực không hoàn toàn giống nhau
Trang 15Trang 9
1.3 Hệ sinh thái đất nông nghiệp
Vùng sinh thái là một đơn vị lãnh thổ có cấu trúc đồng nhất tương đối bởi tính trội phát
sinh của một kiến trúc địa chất thuộc một đới địa chất; Tập hợp các thể hình thái đại địa hình được đặc trưng tổng hợp tất cả các hợp phần tự nhiên: khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật,… ví dụ: vùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp… [35]
Hệ sinh thái (HST) là cộng đồng sinh vật kết hợp với các thành phần vô sinh của môi
trường xung quanh, tương tác với nhau như một hệ thống [41] HST là đơn vị cơ bản của cảnh quan tự nhiên Hệ thống cảnh quan tự nhiên bao gồm bốn kiểu HST cơ bản: i) Các hệ thống sản xuất, ở đó diễn thế được con người kiểm soát liên tục nhằm duy trì mức năng suất cao; ii) Các hệ thống bảo tồn hay tự nhiên, nơi cho phép hay tạo điều kiện cho quá trình diễn thế tự nhiên tiến tới trạng thái bền vững; iii) Các hệ thống liên hợp, trong đó kết hợp cả hai kiểu trạng trên; và iv) Các
hệ thống đô thị và khu công nghiệp hay những khu vực không quan trọng về mặt sinh học [33]
Một HST bao gồm 5 nhân tố sinh thái phát sinh và 5 quá trình tác động lẫn nhau tạo nên
Hình 1.2: Các nhân tố và quá trình sinh thái [43]
Yếu tố giới hạn: Là một yếu tố hóa học hoặc vật lý có sự tác động đến sự gia tăng số lượng
của một loài; đặc biệt hơn tất cả các yếu tố khác (Karl Friederich, 1927)
Karl cũng đã xác định năm (5) yếu tố môi trường giới hạn một HST gồm có: (i) Khí hậu, (ii) Địa hình, (iii) Thổ nhưỡng, (iv) Khu hệ thực vật, và (v) Nhân tác
Phân vùng sinh thái thực chất là xác định đặc điểm các yếu tố môi trường giới hạn theo
nguyên tắc “hoàn cảnh sinh thái nào thì tạo ra kiểu HST đó”
Đất nông nghiệp (Agricultural land) bao gồm đất đất trồng trọt, đất cây lâu năm và đất
đồng cỏ [34]
Trang 16Trang 10
Hệ sinh thái nông nghiệp (Agro-ecosystem): Được hiểu là một HST bị điều khiển
(manipulate) thường xuyên, được đặc trưng bằng những biến đổi do nhân sinh (anthropogenic modifications) lên các môi trường vô sinh và hữu sinh của HST đó [15]
Bốn kiểu biến đổi của con người lên HST nông nghiệp bao gồm [33]:
- Năng lượng đầu vào (inputs of energy);
- Giảm đa dạng sinh học để tối đa hóa sản lượng các sản phẩm kinh tế;
- Chọn lọc nhân tạo (artificial selection); và
- Kiểm soát ngoại vi có định hướng mục đích (goal-orientated external control)
Hình1.3: Các thành phần chức năng của một HST nông nghiệp [10]
Hình1.4: Cấu trúc HST nông nghiệp [4]
Trang 17Trang 11
Phân vùng sinh thái nông nghiệp (AEZ) là quá trình phân chia một khu vực đất đai thành
các đơn vị nhỏ hơn tương tự nhau về các tính chất liên quan đến tiềm năng sản xuất bền vững và tác động môi trường của đất [21]
Vùng sinh thái nông nghiệp là một đơn vị bản đồ tài nguyên đất kết hợp giữa các tính chất
của địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu và (hoặc) lớp phủ đất, có tiềm năng và hạn chế khác nhau đối với việc sử dụng đất [21]
Tế bào sinh thái nông nghiệp (AEC) là một đơn vị kết hợp đồng nhất các đặc điểm địa mạo, đất
và khí hậu [21]
Trang 18Trang 12
CHƯƠNG 2:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Khái quát về phương pháp
Để đạt được các mục tiêu đặt ra, đề tài được thực hiện thông qua các nội dung và sử dụng các phương pháp như quy trình tại hình 2.1
Hình 2.1: Quy trình định giá theo cách tiếp cận DVHST
Cụ thể, đề tài tiến hành 5 nhóm nội dung chính:
Nội dung 1: Điều tra và thu thập dữ liệu
Nội dung 2: Phân tích hiện trạng và định hướng phát triển nông nghiệp của tỉnh
Nội dung 3: Thành lập bản đồ hiện trạng các HST nông nghiệp và lựa chọn các HST định
giá
Nội dung 4: Phân tích đặc điểm và lựa chọn các DVHST cần định giá cho từng HST đã
chọn
Nội dung 5: Định giá tổng giá trị DVHST cho từng HST
Nội dung 6: Các đề xuất sử dụng đất nông nghiệp
Chi tiết về phương pháp tiến hành cho từng nội dung nêu trên được trình bày trong các phần tiếp sau đây
Trang 19Trang 13
2.2 Phương pháp điều tra thu thập dữ liệu
2.2.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp
2.2.1.1 Nhóm dữ liệu về sinh khí hậu
Sử dụng số liệu đo đạc tại các trạm khí tượng lân cận khu vực nghiên cứu Chuỗi số liệu khí tượng tối thiểu cần có là 20 năm liên tục [28] Các số liệu cần thu thập như bảng:
Bảng 2.1: Số liệu sinh khí hậu cần thu thập (theo từng trạm khí tượng)
hiệu
Đơn vị Yêu cầu
3 Độ ẩm không khí tương đối trung bình
năm
2.2.1.2 Nhóm dữ liệu về địa hình – địa mạo
Yếu tố địa hình – địa mạo rất quan trọng trong nghiên cứu đặc tính, sự phân bố và sự thích nghi của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp Trong nghiên cứu phân vùng sinh thái, các dữ liệu cần thu thập cho yếu tố địa hình/địa mạo là:
Trang 20Trang 14
Bảng 2.2: Dữ liệu thổ nhưỡng cần thu thập
STT Nguồn Yêu cầu xử lý
1 Bản đồ đất (cấp trên) Phân loại đến đơn vị phụ (subunit) hoặc tướng đất (phase)
2 Chú giải bản đồ Tên gọi theo FAO/UNESCO/WRB tới cấp tương ứng
3 Thuyết minh bản đồ Các thông số chất lượng đất gồm có: Sa cấu; Cấu trúc; pH;
CEC; BS; CHC; mùn, lượng chất dinh dưỡng N, P, K
2.2.1.4 Nhóm dữ liệu về sử dụng đất
Dữ liệu cần thu thập liên quan đến lớp phủ đất và sử dụng đất gồm:
- Bộ biểu kiểm kê đất đai tương ứng kỳ kiểm kê gần nhất của tất cả các đơn vị hành chính trực thuộc lưu vực
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tương ứng với kỳ kiểm kê gần nhất của tất cả các đơn vị hành chính trực thuộc lưu vực
- Kết quả khảo sát thực địa và ghi nhận về mô hình canh tác; loại cây trồng chính, cây trồng phụ; mùa vụ, sản lượng,… của các loại hình sữ dụng đất phổ biến tại lưu vực
- Các phương án quy hoạch và bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn
2.2.1.5 Nhóm dữ liệu về quản lý
Dữ liệu quản lý cần thu thập bao gồm chủ yếu là về đối tượng sử dụng của từng loại hình đất nông nghiệp Đối với từng đối tượng sử dụng đất thì mức độ đầu tư và quy mô khai thác tài nguyên, các biện pháp và kỹ thuật khai thác cũng như nguồn lợi thu được và phân phối nguồn lợi nông nghiệp đều khác nhau
Các đối tượng sử dụng đất phổ biến ở nước ta gồm có: (i) hộ gia đình, cá nhân; (ii) tổ chức kinh tế; (iii) cộng đồng dân cư; (iv) tổ chức tôn giáo; (v) người Việt Nam định cư ở nước ngoài; (vi) tổ chức, cá nhân nước ngoài; và (vii) tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao
Trang 21Trang 15
- Địa danh;
- Các địa vật định hướng
- Địa giới hành chính
2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa để thu thập thông tin cần thiết cho mô tả đặc điểm các HST được chọn
và định giá Trong phương pháp khảo sát thực địa cần xác định các nội dung sau: Mục tiêu khảo sát, các dữ liệu cần thu thập, đối tượng được khảo sát, số lượng mẫu cần khảo sát, hình thức khảo sát
Đối tượng khảo sát: Đặc điểm của các HST nông nghiệp trên quy mô tỉnh là có sự khác
biệt nhất định về thành phần và chức năng theo không gian và thời gian Do vậy, để tiếp cận thu thập dữ liệu, cần cố định không gian và thời gian của nghiên cứu Trong đề tài, tác giả tiến hành xác định đối tượng khảo sát như sau:
- Yếu tố thời gian: thực hiện nghiên cứu cắt ngang vào thời điểm năm 2014
- Yếu tố không gian: nghiên cứu đặc điểm HST trong các ô mẫu định trước Mỗi ô mẫu có kích thước 100m x 100m = 1,0ha
Tính cỡ mẫu: Số lượng các ô mẫu cần thu thập thông tin được xác định theo phương pháp
của tác giả Nguyễn Văn Tuấn [5] Công thức ước tính như sau:
(∆ 𝛔⁄ )𝟐 (𝟐 𝟏)
Trong đó: C: hằng số sai sót loại I (α) và sai sót loại II (β) theo bảng 2.4
∆: độ ảnh hưởng (0.2; 0.5 hoặc 0.8 độ lệch chuẩn [14]) σ: Độ dao động (hay độ lệch chuẩn)
Bảng 2.3: Xác định hằng số C từ giá trị α và β [5]
(Power = 0,80)
β = 0,10 (Power = 0,90)
β = 0,05 (Power = 0,95)
Sử dụng công thức 2.1 để tính toán cỡ mẫu (số lượng ô mẫu) cho nghiên cứu Tác giả chọn
các thông số ước tính cỡ mẫu như sau: Độ chính xác = 95% (α = 0,05); Power = 0,8 (β = 0,2); Độ
Trang 22Trang 16
ảnh hưởng: bằng 0.5 độ lệch chuẩn (mức độ trung bình) và Độ dao động: bằng với độ lệch chuẩn thu được từ kết quả khảo sát đợt 2
Kết quả ước tính cỡ mẫu thu được là: 32 – 38 mẫu Nghĩa là, để định giá và phân tích giá
trị các HST nông nghiệp, tác giả tiến hành khảo sát 40 ô mẫu cho từng HST nông nghiệp được
chọn
Phiếu khảo sát: Đối tượng khảo sát là nông hộ Các nội dung cần khảo sát bao gồm: thông
tin chung về nông hộ, đặc điểm HST của hộ (quy mô, độ tuổi, khai thác, chăm sóc bón phân, hiệu quả ); các thông tin về sử dụng nước; các thông số đo đạc từ khảo sát trực tiếp HST của nông hộ
2.3 Phương pháp kiểm kê, thành lập bản đồ hiện trạng các HST nông nghiệp và lựa chọn các HST nông nghiệp cần định giá
2.3.1 Kiểm kê hiện trạng và định hướng phát triển các HST nông nghiệp
Để tiến hành kiểm kê hiện trạng và định hướng phát triển các HST nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước, đề tài sử dụng hệ thống phân loại các HST của BCA, WWF và Đại học Stockholm đề xuất năm 2013 [11], bổ sung thêm hệ thống phân loại HST nông nghiệp của tác giả Trần Đức Viên [43], mã hóa các HST theo bảng 2.4
Bảng 2.4: Hệ thống phân loại hệ sinh thái
A Nhóm các HST tự nhiên trên cạn
1 Nhóm HST rừng
a) Các HST tự nhiên vùng đồng bằng đất thấp dưới 700m ở miền Bắc và dưới 1000m ở miền Nam:
b) Các HST vùng núi thấp và trung bình trên 700m ở miền Bắc và trên 1000m ở miền Nam
- HST rừng á nhiệt đới thường xanh hỗn giao cây lá rộng & lá kim 16
2 Các HST trảng cây bụi và truông gai vùng khô hạn có giá trị cao về ĐDSH
3 Các HST hang động tự nhiên có giá trị cao về ĐDSH
Trang 24Trang 18
Hình 2.2: Quy trình xây dựng bản đồ HSTKV theo Queensland [7]
Bản đồ HST ở các tỷ lệ khác nhau phải thể hiện được đặc trưng cấu trúc của HST ở các mức độ chi tiết khác nhau Tổng hợp từ các nghiên cứu của Demarchi và cộng sự (1989) [3] và
Ủy ban kiểm kê tài nguyên của Anh (1995) [9], cấu trúc thứ bậc của HST được phân theo tỷ lệ bản
đồ được quy định như sau:
Bảng 2.5: Mức độ khái quát hóa các thành phần HST theo tỷ lệ bản đồ thể hiện [38], [18]
≤ 1/250.000 Bản đồ phân vùng sinh thái (Ecoregion/Biogeoclimatic)
1/250.000-1/100.000 Bản đồ HST khu vực (Region Ecosystem)
> 1/100.000 Bản đồ hệ sinh thái (Specific Ecosystem)
1 Khí hậu Vĩ khí hậu (macro-climates) Trung khí hậu
(meso-climates)
Vi khí hậu (microclimates)
2 Địa chất/Địa mạo Địa chất kiến tạo khu vực Hình thái địa hình/ Kiểu
4 Sinh vật Quần xã cao đỉnh khí hậu
(climatic climax communities)
5 Sinh cảnh Sinh cảnh theo mùa Sinh cảnh hiện tại và
tiềm năng
Các tác động lên sinh
cảnh hiện tại Đối với bản đồ HSTKV của tỉnh Bình Phước, tỷ lệ 1/100.000, yếu tố trung khí hậu (meso-climates) được lồng ghép trong cấp độ phân chia tiểu vùng sinh thái của RCFEE; yếu tố hình thái địa hình, kiểu địa mạo và đơn vị đất được tổng hợp vào thành phần địa khu; yếu tố quần xã sinh
Trang 25Trang 19
vật và sinh cảnh sẽ được lồng ghép trong thành phần HST Các thành phần này được trình bày chi tiết tại các phần tiếp theo
2.3.2.1 Phân chia sinh vùng
Trong đề tài này, cấp độ sinh vùng được định nghĩa tương đương với cấp tiểu vùng sinh thái theo hệ thống phân chia của RCFEE Sau khi tổng hợp kết quả phân chia của RCFEE, tiến hành mã hóa sinh vùng bằng 2 chữ số Chữ số đầu tiên là vùng sinh thái, chữ số thứ hai là tiểu vùng sinh thái
Bảng 2.6: Mã hóa sinh vùng theo RCFEE [37]:
Thượng nguồn Sông Đà
Thượng nguồn sông Mã
Cao nguyên Sơn La – Mộc Châu
Thung lũng sông Đà
Khối núi Hoàng Liên Sơn
Gò đồi Hòa Bình, Ninh Bình
Vùng núi tây Quảng Nam, Quảng Ngãi
Gò đồi Nam Trung bộ Đồng bằng và cát ven biển Nam Trung bộ Hoàng Sa, Trường Sa
Núi thấp Sa Thầy Cao nguyên basalt Pleiku, Kon Hà Nừng Núi thấp An Khê
Bán bình nguyên Cheo Reo, Phú Bổn, Ea Súp
Cao nguyên basalt Buôn Mê Thuột Khối núi Man Drắk
Cao nguyên Dak Nông, Dak Min Khối Chư Ang Sin và sơn nguyên Đà Lạt Cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc
Thung lũng sông Hồng, sông Chảy
Núi trung bình Hoàng Su Phì
Thượng nguồn sông Lô, sông Gấm
Núi Thấp Bảo Lạc, Ba Bể
Khối núi đá vôi Đồng Văn
Trung du Phú Thọ,Thái Nguyên,Vĩnh Phúc, Bắc
Giang
Khối núi đá vôi Bắc Sơn
Đồi núi thấp Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh
Vùng ngập mặn ven biển Đông Bắc
Núi thấp Đông Nam bộ
Gò đồi Đông Nam bộ Đồng bằng Đông Nam bộ Vùng ngập mặn ven biển Đông Nam bộ Côn Đảo
Đồng bằng và cát ven biển Bắc Trung bộ
Khối núi đá vôi Phong Nha, Kẻ Bàng
Khối núi tây Bình Trị Thiên
2.3.2.2 Phân chia địa khu
Tiến hành chồng lớp các dữ liệu địa chất, địa mạo và thổ nhưỡng, tổng hợp các đơn vị bản
đồ để xác định ranh giới các địa khu Kết quả mã hóa các địa khu bằng 2 chữ số Mỗi địa khu đồng nhất về các đặc điểm địa chất, địa mạo và thổ nhưỡng, tuy nhiên có thể phân bố tại nhiều vị trí khác nhau trong tỉnh, và tạo thành nhiều đơn vị bản đồ Ví dụ địa khu có mã số 13 sẽ phân bổ thành 5 đơn vị bản đồ khác nhau
Trang 26Trang 20
2.3.2.3 Phân chia Hệ sinh thái thực vật
Việc phân chia các HST được thực hiện theo hệ thống phân loại tại bảng 2.4
2.3.2.4 Tổng hợp các HSTKV
Các công việc cần thực hiện đối với bước này như sau:
(i) Tổng hợp các HST theo từng địa khu đã phân chia
(ii) Xác định tỷ lệ % chiếm đóng của từng HST trong mỗi địa khu
(iii) Đánh giá độ chính xác về ranh giới của các địa khu và của các HST Độ chính xác ranh giới được phân thành 3 cấp: A (chính xác cao), B (chính xác trung bình), và C (độ chính xác thấp)
(iv) Đánh giá độ chính xác về thông tin thuộc tính của các địa khu và của các HST Độ chính xác thông tin cũng được phân thành 3 cấp: A (chính xác cao), B (chính xác trung bình), và
C (độ chính xác thấp)
2.3.2.5 Biên tập hoàn thiện bản đồ HSTKV
Dữ liệu HSTKV hoàn chỉnh sẽ kết hợp với bản đồ nền tỉnh Bình Phước đã biên tập theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường [12] để hoàn thiện bản đồ HSTKV Các công đoạn cần lưu ý trong giai đoạn này bao gồm:
(i) Tô màu nền để phân biệt giữa các địa khu
(ii) Tạo nhãn mô tả các HSTKV Nhãn quy định
như sau:
<mã sinh vùng>.<mã địa khu>.<mã HST>
<tỷ lệ chiếm đóng của HST trong địa khu>
<độ chính xác ranh giới><độ chính xác thuộc tính>
Trong trường hợp có trên 2 HST trong một địa khu,
nhãn của các HST được ngăn cách nhau bởi dấu “/”
Các thể hiện nhãn được minh họa như hình bên
(iii) Biên tập các nội dung hoàn thiện bản đồ
Hình 2.3: Trình bãy nhãn cho các HSTKV
2.3.3 Lựa chọn các HST cho định giá DVHST
Theo tổ chức Point Blue, “Một nghiên cứu thí điểm nhỏ là cần thiết để đánh giá sự phù hợp của khu vực nghiên cứu tiềm năng Khu vực nghiên cứu có thể được xác định bằng việc quan sát
Trang 27Trang 21
Tuy nhiên, nếu không thể thực hiện việc quan sát thì nên chọn khu vực nghiên cứu cẩn thận dựa trên mục tiêu của dự án Khi một khu vực nghiên cứu hoặc địa điểm được xác định, điều quan trọng là ranh giới không thay đổi trong suốt thời gian thực hiện dự án Một số nghiên cứu khác sẽ
có nhiều yếu tố khác phù hợp cho một dự án cụ thể Một khu vực nghiên cứu được lựa chọn cẩn thận sẽ giảm thiểu sự thay đổi theo thời gian và những cản trở từ số liệu điều tra” [19]
Từ kết quả tham luận ý kiến chuyên gia và căn cứ vào mục tiêu cũng như khả năng ứng dụng thực tiễn của kết quả đề tài, việc lựa chọn các HST nông nghiệp cho định giá giá trị DVHST được xác định thông qua 4 tiêu chí như sau:
(i) Đại diện cho đặc điểm tự nhiên của tỉnh Bình Phước
(ii) là HST nông nghiệp phổ biến nhất trong tỉnh
(iii) Phần lớn giá trị mà con người thu được từ HST sẽ tạo ra phúc lợi cho người dân tại chỗ
(iv) Có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp nhất với định hướng phát triển nông nghiệp của tỉnh
2.4 Lựa chọn các DVHST định giá cho từng HST đã chọn
Như đã nêu ở phần tổng quan, đến nay, các nhà nghiên cứu kinh tế sinh thái trên thế giới
đã lượng hóa được 23 DVHST cho các HST khác nhau, phân thành ba cấp độ: nhóm dịch vụ, dịch
vụ và tiểu dịch vụ Các dịch vụ này chi tiết theo bảng 2.7
Bảng 2.7 Các DVHST đã được định giá trên thế giới
DỊCH VỤ CUNG CẤP: Các hàng hóa hoặc sản phẩm thu được từ HST
1 Lương
thực
Cây trồng Các cây trồng hoặc sản phẩm nông nghiệp làm lương thực cho người hoặc động vật • Ngũ cốc • Rau cải • Trái cây
Vật nuôi Động vật được nuôi vì mục đích gia dụng hoặc thương mại • Gia cầm • Gia súc
Các loài thủy sản được nuôi trồng trong môi trường nước ngọt
và nước mặn vì mục đích thu hoạch
• Tôm • Hàu • Cá hồi
Da động vật Các loại da được sản xuất từ thú nuôi, hươu nai, heo, rắn, cá • Da thuộc, da sống và da giày
Cát Cát được tạo thành từ san hô và vỏ sò • Cát trắng từ san hô
Trang trí Các sản phẩm thu từ HST mục đích thẩm mỹ • Hạt, hoa dại, đồ trang sức
3 Nhiên liệu sinh học Sinh vật sống hoặc xác sinh vật – cả động và thực vật – cung
cấp như một nguồn năng lượng
• Củi, than củi • Các hạt sản xuất ethanol • Phân (ủ biogas)
Trang 28Trang 22
4 Cung cấp nước ngọt Các dạng chứa nước lục địa (hồ, ao), nước ngầm, nước mưa
và nước mặt phục vụ sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp
• Nước ngọt dùng cho uống, vệ sinh, sản xuất công nghiệp, phát điện, giao thông
5 Cung cấp nguồn gene Nguồn gene và di truyền được sử dụng để nhân giống động vật,
cải tiến cây trồng và CNSH
• Nguồn gene để tăng sức đề kháng của cây trồng
6 Các chất sinh hóa, thuốc
và dược liệu
Thuốc chữa bệnh, chất diệt khuẩn, phụ gia thực phẩm, và vật liệu sinh học khác có nguồn gốc từ HST cho mục đích tiêu dùng hoặc thương mại
• Cúc dại, nhân sâm, tỏi
• Paclitaxel (trị ung thư)
• Các chất kiểm soát dịch hại
DỊCH VỤ ĐIỀU TIẾT: Các lợi ích thu được từ HST để kiểm soát các quá trình tự nhiên
7 Chất lượng không khí HST phát thải hoặc hấp thu các chất dinh ô nhiễm • Phát thải từ công nghiệp • Cháy thảm phủ thực vật
9 Điều tiết nước HST ảnh hưởng đến thời gian và cường độ dòng chảy, ngập lụt và bổ cập nước ngầm; đặc biệt là tiểm năng trữ nước của HST • Tính thấm, bổ cập nước ngầm • Đất ngập nước giữ nước - giảm lũ lụt
10 Kiểm soát xói mòn Lớp phủ thực vật giữ đất; rạng san hô bảo vệ đới ven bờ • Cây ngăn xói mòn • Rừng sườn dốc ngăn trượt lở
11 Lọc nước và xử lý nước
thải
Vai trò của HST thể hiện ở khả năng lọc và phân hủy các chất thải và chất ô nhiễm hữu cơ trong nước; đồng hóa và giải độc các hợp chất thông qua các tiến trình của đất
• Đất ngập nước loại bỏ các chất ô nhiễm • Vi sinh vật đất phân giải các chất thải hữu cơ thành dạng ít nguy hại
12 Kiểm soát dịch bệnh HST ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc phải (incidence) và độ đa dạng của các mầm bệnh trên người • Rừng làm giảm các vùng nước tù đọng và giảm mắc bệnh sốt rét
13 Kiểm soát chất lượng
đất
HST đóng vai trò duy trì hoạt động, đa dạng và năng suất sinh học của đất; điều tiết và phân vùng nước và dòng chất tan; lưu giữ và tuần hoàn dinh dưỡng và khí
• Một số sinh vật hỗ trợ phân hủy chất hữu cơ, tăng dinh dưỡng đất
• Vi sinh vật đất làm sạch đất
14 Kiểm soát vật hại HST ảnh hưởng đến sự lan truyền vật hại và dịch bệnh trên cây
trồng vật nuôi
• Động vật ăn thịt - như dơi, cóc, rắn -
ăn dịch hại cây
15 Thụ phấn HST đóng vai trò truyền phấn giữa các hoa đực và hoa cái • Ong thụ phấn cho cây trồng
16 Kiểm soát các tai biến
DỊCH VỤ HỖ TRỢ: Các quá trình tự nhiên để duy trì các DVHST khác
20 Môi trường sống Khoảng không gian tự nhiên và bán tự nhiên để duy trì số lượng cá thể loài và khả năng bảo vệ của quần xã sinh học • Dòng sông cung cấp nơi cho cá sinh sản và phát triển
21 Chu trình dinh dưỡng Dòng dinh dưỡng từ HST (nitrogen, sulfur, phosphorus, carbon) • Chu trình tuần hoàn nitơ
22 Năng suất sơ cấp Cây thành tạo các vật liệu sinh học thông qua quá trình quang
hợp và đồng hóa dinh dưỡng
• Tảo quang hợp tạo sinh khối, là thức
ăn trong HST thủy sinh
23 Chu trình nước Các trạng thái rắn, lỏng, khí của nước trong HST • Sự chuyển đổi của nước từ đất lên cây, vào không khí và mưa
Nguồn: Tổng hợp từ [58]; [25]; [75];[24]; và [48]
Trang 29Trang 23
Việc lựa chọn các DVHST đưa vào định giá tùy thuộc vào HST được lựa chọn và kết quả khảo sát sự hiện hữu của các dịch vụ Đối tượng khảo sát là các chuyên gia liên quan và người dân đang hưởng lợi từ các thành phần và chức năng của HST được chọn Phương pháp khảo sát là sử dụng bảng checklist và phiếu hỏi Số lượng phiếu khảo sát và cách thức khảo sát được trình bày chi tiết tại mục 2.2.2
Sau khi tổng hợp, các DVHST cần định giá sẽ được cân nhắc khả năng lượng hóa, các số liệu cần thu thập cho quá trình lượng hóa và kỹ thuật tính toán đối với từng dịch vụ, đảm bảo phản ánh đầy đủ và chính xác nhất đối với các khoản lợi ích mà con người đang hưởng lợi từ HST được chọn
2.5 Phương pháp định giá tổng giá trị DVHST
Tổng giá trị DVHST cho HST chọn được xác định trong luận án thông qua các bước cơ bản như sau: (i) Lựa chọn phương pháp định giá; (ii) Khảo sát thu thập dữ liệu; và (iii) Định giá
2.5.1 Lựa chọn phương pháp định giá
Để thuận tiện trong việc định giá giá trị DVHST, luận án sử dụng tiền Việt Nam đồng (VNĐ) làm thước đo chung cho kết quả định giá Phương pháp định giá được phân chia thành bốn nhóm cơ bản: (i) Định giá giá trị trực tiếp: thông qua giá thị trường, thu nhập từ HST hoặc giá trị các khoản đầu tư công như đầu tư cơ sở hạ tầng; (ii) Định giá giá trị gián tiếp: bằng mức sẵn lòng trả hoặc sẵn lòng chấp nhận; (iii) Định giá dựa trên kết quả khảo sát (đánh giá ngẫu nhiên); và (iv) Chuyển đổi lợi ích: sử dụng kết quả từ các khu vực tương tự khác để ước tính giá trị của một dịch
vụ nhất định trong khu vực nghiên cứu Chi tiết các phương pháp này như phụ lục 1
Đề tài sử dụng 2 nhóm phương pháp để định giá các DVHST được chọn là: (i) Nhóm định giá giá trị trực tiếp bằng kỹ thuật sử dụng giá thị trường; và (ii) Nhóm định giá giá trị gián tiếp bằng kỹ thuật chi phí thay thế Cụ thể các kỹ thuật được áp dụng trong luận án như sau:
2.5.1.1 Phương pháp sử dụng giá thị trường (market pricing)
Phương pháp này được sử dụng khi một sự cải thiện hay suy giảm chất lượng môi trường gây ra tác động làm tăng hoặc giảm số lượng hoặc chất lượng sản phẩm hay nhập liệu có giá trên thị trường Ví dụ: việc gia tăng diện tích bảo tồn rừng sẽ làm giảm sản lượng gỗ và khoáng sản khai thác; việc áp dụng công nghệ kiểm soát ô nhiễm nước làm tăng sản lượng cá thu hoạch, hay một giải pháp kiểm soát xói mòn đất làm gia tăng sản lượng nông sản thu hoạch được trên đất đó
Trong các ví dụ trên, lợi ích từ việc cải thiện môi trường (thiệt hại/tránh được) sẽ được xác định dựa vào các thay đổi của sản phẩm hoặc nhập liệu bị tác động, cụ thể đó là gỗ, là khoáng sản,
Trang 302.5.1.2 Phương pháp sử dụng chi phí thay thế (replacement costs)
Phương pháp này được sử dụng khi một vấn đề môi trường gây ra tác động xấp xỉ bằng với giá trị thị trường của một khoản chi phí hoặc một sản phẩm để thay thế hay phục hồi lại chất lượng môi trường trước đó Ví dụ, giá trị của giải pháp bảo vệ đất chống xói mòn có thể được tính xấp xỉ bằng với lượng phân bón cần thiết để khôi phục lại dinh dưỡng đất bị mất đi trong trường hợp không áp dụng biện pháp chống xói mòn Trong ví dụ trên, lượng phân bón có thể xác định được giá trên thị trường nên các khoản lợi ích mà chúng thay thế hoàn toàn có thể quy đổi ra bằng tiền
Trong luận án, phương pháp chi phí thay thế được sử dụng để ước tính giá trị của các DVHST sử dụng gián tiếp như: dịch vụ điều tiết nước ngầm, dịch vụ lưu giữ carbon, dịch vụ tổng hợp oxy, dịch vụ kiểm soát chất lượng đất và dịch vụ hỗ trợ chu trình dinh dưỡng đất Phương pháp định giá và yêu cầu số liệu định giá cho các dịch vụ này được trình bày chi tiết tại bảng 4.2
và phụ lục 2
2.5.2 Khảo sát thu thập dữ liệu định giá
Sau khi xác định các DVHST, phương pháp định giá và nguồn dữ liệu đầu vào cần thiết để định giá, tác giả tiến hành khảo sát thu thập dữ liệu tại từng ô mẫu đã xác định như mục 2.2.2
2.5.3 Định giá
Giá trị của các DVHST sẽ được định giá cho từng ô mẫu dựa trên số liệu trung bình thu thập được từ các nông hộ thuộc ô mẫu đó Các dịch vụ đưa vào tính toán tổng giá trị DVHST được xác định bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA Trong phép phân tích này, phương pháp trích được sử dụng là Principal components, với phép xoay Varimax Quy trình thực hiện bao gồm các bước như sau:
(i) Kiểm định KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) và Bartlett’s: KMO là một chỉ số dùng để xem
xét sự thích hợp của phân tích nhân tố với dữ liệu của mẫu Trị số KMO lớn (giữa 0,5 và 1) là điều kiện đủ để phân tích nhân tố là thích hợp, còn nếu trị số này nhỏ hơn 0,5 thì phân tích nhân tố có
Trang 31Trang 25
khả năng không thích hợp Kiểm định Bartlett xem xét giả thuyết về mối tương quan giữa các biến quan sát trong tổng thể Kiểm định Bartlett với giả thuyết không (H0) là “các biến không tương quan với nhau” Nếu xác suất của trị thống kê này nhỏ hơn 0,05 thì bác bỏ giả thuyết trên đồng nghĩa với việc các biến có tương quan với nhau và việc áp dụng phân tích nhân tố là thích hợp
(ii) Phân tích nhân tố: Xác định hệ số tải nhân tố (Factor loading), tổng phương sai trích
(Total Variance explained) và eigenvalue Một DVHST được giữ lại khi thỏa đồng thời các điều kiện sau: hệ số tải nhân tố ≥ 0,5; tổng phương sai trích ≥ 50% và Eigenvalue > 1,0
(iii) Tính toán tổng giá trị DVHST từ các DVHST đủ điều kiện giữ lại
Kết quả cuối cùng của bước này sẽ cho ra giá trị từng DVHST và tổng giá trị DVHST của từng HST nông nghiệp được chọn
2.6 Thảo luận và đề xuất sử dụng bền vững đất nông nghiệp
Kết quả định giá tổng giá trị DVHST cho từng ô mẫu sau đó được sử dụng để nội suy và thành lập các bản đồ phân cấp giá trị đơn tính Các bản đồ này sẽ kết hợp với các bản đồ hiện trạng
và bản đồ quy hoạch HST nông nghiệp để khoanh định và đề xuất sử dụng bền vững
Phương pháp nội suy được sử dụng trong đề tài là phương pháp Kringing Sở dĩ sử dụng Kringing vì phương pháp này rất phù hợp để nội suy cho dữ liệu không quy luật, những điểm số liệu ngẫu nhiên và sử dụng phổ biến trong địa thống kê [54]
Trang 32Trang 26
CHƯƠNG 3:
KHẢO SÁT, PHÂN LOẠI VÀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG CÁC HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP TỈNH BÌNH PHƯỚC
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bình Phước
3.1.1 Điều kiê ̣n tự nhiên
3.1.1.1 Vi ̣ trí đi ̣a lý, kinh tế
Bình Phước là tỉnh miền núi thuô ̣c
vùng Đông Nam Bô ̣ (ĐNB), mới được
thành lâ ̣p, trên cơ sở tách ra từ tỉnh Sông
Bé cũ (từ 01/01/1997) Có diê ̣n tích tự
nhiên là 6.871,5 km2, bằng 2% diê ̣n tích cả
nước và bằng khoảng 30% diê ̣n tích vùng
ĐNB Dân số 905.300 người, mật độ dân
số đạt 132 người/km² (theo số liệu thống
kê năm 2011), gồm nhiều dân tộc khác
nhau (đồng bào dân tộc thiểu số chiếm
17,9%) sinh sống trên địa bàn 111 xã,
Hê ̣ thống giao thông chính của Bình Phước là mô ̣t phần của ma ̣ng lưới giao thông liên vùng quan tro ̣ng của quốc gia Từ Bình Phước có thể đi la ̣i, vâ ̣n chuyển hàng hóa đến tất cả các vùng kinh tế trong cả nước, là điều kiê ̣n cho phép đẩy nhanh quá trình khai thác sử du ̣ng đất và mở cửa hòa nhâ ̣p với sự phát triển kinh tế bên ngoài
Trang 33Trang 27
Bình Phước nằm trong vùng có điều kiê ̣n tự nhiên rất thuâ ̣n lợi cho phát triển nông nghiê ̣p, vớí khí hâ ̣u nhiê ̣t đới ôn hòa, đi ̣a hình miền núi nhưng ít dốc, tài nguyên đất có chất lượng rất cao Chính điều kiê ̣n đó đã hình thành những vùng sản xuất tâ ̣p trung mô ̣t số cây trồng có sản phẩm
hàng hóa và xuất khẩu cao vào loa ̣i hàng đầu của toàn quốc như: Cao su, tiêu, điều, chăn nuôi đại gia súc…
Tỉnh Bình Phước còn là tỉnh biên giới, với tổng chiều dài đường biên giới với Campuchia khoảng 240 km Như vâ ̣y, điều kiê ̣n giao lưu kinh tế với nước ngoài ở Bình Phước góp phần ̣ đẩy nhanh phát triển kinh tế – xã hô ̣i Đồng thời tỉnh còn phải làm tốt nhiê ̣m vu ̣ ổn đi ̣nh an ninh quốc phòng và trâ ̣t tự xã hô ̣i, bảo vê ̣ vững chắc tuyến biên giới quan tro ̣ng của quốc gia
Bình Phước tiếp giáp với vùng cao Tây Nguyên, là đầu nguồn “mái nhà” của vùng ĐNB
và cả khu vực Nam bô ̣ Phát triển lâm nghiê ̣p ta ̣i Bình Phước nhằm bảo vê ̣ môi trường sinh thái, không chỉ cho Bình Phước mà là cho cả khu vực Khu vực rừng đầu nguồn là nơi điều hòa nước của tất cả những công trình thủy điê ̣n, thủy lợi quan tro ̣ng nhất của khu vực như: Tri ̣ An, Thác Mơ, Dầu Tiếng, Phước Hòa… Vì vâ ̣y, viê ̣c phát triển lâm nghiê ̣p tỉnh Bình Phước là nhiê ̣m vu ̣ rất quan tro ̣ng
So với các tỉnh khác trong vùng KTTĐPN, Bình Phước là tỉnh có vi ̣ trí kém thuâ ̣n lợi hơn, xa các trung tâm kinh tế lớn, xa bến cảng, sân bay Vì vâ ̣y, từ nay đến năm 2010 sức hút đầu tư từ bên ngoài cho phát triển công nghiê ̣p chưa có khả năng tăng cao
3.1.1.2 Đi ̣a chất và đi ̣a hình
(i) Đi ̣a chất: Tỉnh Bình Phước có tâ ̣p hợp đá me ̣, mẫu chất rất đă ̣c thù, nó ta ̣o ra các loa ̣i
đất có chất lượng cao rất thích hợp với sản xuất nông lâm nghiê ̣p, đồng thời có sức chi ̣u nén tốt thuâ ̣n lợi cho các công trình xây dựng Theo tài liê ̣u đi ̣a chất khoáng sản ĐNB cho thấy trong vùng nghiên cứ u có các đá me ̣ và mẫu chất sau
Trang 34Trang 28
Hình 3.2 Bản đồ địa chất tỉnh Bình Phước [4]
Đá bazan Đá bazan bao phủ phần lớn diê ̣n tích lãnh thổ (khoảng 58% bề mă ̣t lãnh thổ)
Phân bố ở hầu hết các huyê ̣n, tâ ̣p trung nhiều nhất ở các huyê ̣n Phước Long, Bù Đăng, Bình Long,
Lô ̣c Ninh Đá bazan đựơc chia làm hai loa ̣i: (i) Bazan Pliocen-Pleistocen sớm (N2-QI), được go ̣i là “bazan cổ”; (ii) Bazan Pleistocen muô ̣n-Holocen sớm (QII-IV), được go ̣i là “bazan trẻ” Đă ̣c điểm chung của đá bazan là hàm lượng oxyt sắt cao (10-11%), oxyt magiê từ 7-10%, oxyt canxi 8-10%, oxyt photpho 0,5-0,8%, hàm lượng Natri cao hơn kali mô ̣t chút Vì vâ ̣y, các đá bazan thường có màu đen và trong điều kiê ̣n nhiê ̣t đới ẩm đã phát triển mô ̣t lớp vỏ phong hóa rất dày trung bình từ 20-30 mét và có màu nâu đỏ rực rỡ Từ đá này đã hình thành ra các loa ̣i đất đỏ bazan màu mỡ rất tích hợp với các cây trồng có giá tri ̣ kinh tế cao nhu cao su, tiêu, điều, cây ăn quả… Ngoài ra đá bazan còn là mô ̣t nguồn vâ ̣t liê ̣u xây dựng rất quan tro ̣ng của khu vực
Đá Granit Đây là đá cổ hơn hết, lô ̣ ra ở núi Bà Rá ở phía bắc tỉnh, nhưng chỉ chiếm mô ̣t
diê ̣n tích rất nhỏ khoảng 0,15% bề mă ̣t lãnh thổ Nhóm đá granit với các biến đổi sang xu hướng granodiorit và diorit Thành phần hóa ho ̣c với hàm lượng SiO2 tương đối cao (60-70%), Fe2O3 thấp
Trang 35Trang 29
(0,2 - 1,4%), chứa nhiều K2O Đá bi ̣ phong hóa theo cơ chế bóc vỏ, ta ̣o nên sườn tích rất thô, gồm có cát silic với mảnh đá vu ̣n trôi thành lớp, nằm theo triền và vây quanh chân núi Đất hình thành trên đá granit có thành phần cơ giới nhe ̣, thoát nước nhanh, pha ít sét màu nâu vàng đến vàng nha ̣t Tầng đất thường mỏng đến rất mỏng, nhiều nơi lô ̣ hoàn toàn đá gốc và đá lô ̣ đầu thành cu ̣m Đá granit hình thành ra nhóm đất xám (Acrisols) và nhóm đất tầng mỏng (Leptosols), với đă ̣c tính rửa trôi, hoa ̣t tính thấp và thành phần cơ giới nhe ̣
Đá phiến sét: Đá phiến sét bao trùm khoảng 12% bề mă ̣t lãnh thổ, phân bố chủ yếu ở các
huyê ̣n Đồng Phú, Bù Đăng và mô ̣t ít ở Lô ̣c Ninh và Phước Long Đá rất cổ (tuổi Mezôzôi), là nền móng của lãnh thổ nhưng mô ̣t phần lớn diê ̣n tích bi ̣ Aluvi Neogen và bazan phủ lấp lên Đá có màu thay đổi, mức đô ̣ phong hóa cao, thường thấy đá mu ̣c nát ở đáy vỏ phong hóa Đất trên đá phiến sét thường có màu vàng hay vàng nha ̣t, thành phần cơ giới trung bình đến nă ̣ng, các chất dinh dưỡng khá Tuy nhiên do phong hóa ma ̣nh cùng với quá trình xói mòn rửa trôi ma ̣nh nên đất thường có tầng mỏng, nhiều nơi đất hoàn toàn trơ đá hoă ̣c đá non mu ̣c nát trơ trên mă ̣t đất
Mẫu chất phù sa cổ Mẫu chất phù sa cổ có tuổi Pliestocene, bao phủ khoảng 12% bề mă ̣t
lãnh thổ Tầng dầy của phù sa cổ từ 2-3 đến 5-7 mét, vâ ̣t liê ̣u của nó màu nâu vàng, lên sát tầng
mă ̣t chuyển sang màu xám Cấp ha ̣t thường thô, ta ̣o cho đất có cấp ha ̣t cát là chủ yếu (Cát, cát pha, thi ̣t nhe ̣ và thi ̣t trung bình) Các loa ̣i đất hình thành trên phù sa cổ thường có thành phần cơ giới nhe ̣ Thêm vào đó, điều kiê ̣̣n nhiê ̣t đới gió mùa, mưa lớn và tâ ̣p trung , làm cho đất bi ̣ rửa trôi
ma ̣nh, nghèo dưỡng chất và có hoa ̣t tính thấp Do đó, phần lớn đất hình thành trên phù sa cổ thuô ̣c nhóm đất đỏ vàng và nhóm đất xám (Acrisols)
(ii) Đi ̣a hình Tuy là mô ̣t tỉnh miền núi, nhưng Bình Phước có đi ̣a hình tương đối bằng so
với các tỉnh miền núi khác trong cả nước, rất thuâ ̣n lợi cho viê ̣c bố trí sử du ̣ng đất nông nghiệp
Có 3 da ̣ng chính sau
- Địa hình núi thấp: Có cao đô ̣ tuyê ̣t đối từ 300-600m, ta ̣o thành từ các núi sót rải rác thuô ̣c phần cuối của dãy Trường Sơn từ Tây Nguyên đổ xuống Tâ ̣p trung kiểu đi ̣a hình này ở phía Đông Bắc tỉnh thuô ̣c các huyê ̣n Phước Long, Bù Đăng, Bắc Đồng Phú
- Địa hình đồi và đồi thấp: Đây là da ̣ng đi ̣a hình chính của tỉnh Cao đô ̣ tuyê ̣t đối từ 300m, có bề mă ̣t lượng sóng nhe ̣, kết nối với các dãy bazan, đá phiến và phù sa cổ Các đồi có đỉnh bằng, sườn dốc thoải Trên kiểu đi ̣a hình này rất thuâ ̣n lợi cho viê ̣c bố trí sử du ̣ng đất
100 Địa hình bằng trũng : Đi ̣a hình này thuô ̣c các vùng đất tích tu ̣ là các bồi trũng, các vùng phẳng giữa đồi núi ở đô ̣ cao < 100m
Trang 36Trang 30
Hình 3.3 Bản đồ địa mạo tỉnh Bình Phước [5]
Thống kê diê ̣n tích đất theo đô ̣ dốc đi ̣a hình cho thấy, đi ̣a hình có đô ̣ dốc <15o ( Cấp I, II, III), thuâ ̣n lợi cho sử du ̣ng đất và sản suất nông nghiê ̣p chiếm 70% diê ̣n tích lãnh thổ, trong đó đi ̣a hình rất thuâ ̣n lợi 50,9%; thuâ ̣n lợi 19,01% Đi ̣a hình không thuâ ̣n lợi cho SX-NN chỉ có khoảng 16,4% diê ̣n tích lãnh thổ (cấp IV, V)
3.1.1.3 Khi ́ hâ ̣u: Tỉnh Bình Phước nằm trong vùng có khí hâ ̣u nhiê ̣t đới gió mùa câ ̣n xích đa ̣o, có
nền nhiê ̣t cao đều quanh năm, ít gió bão, không có mùa đông la ̣nh, rất thuâ ̣n lợi cho sản xuất các cây trồng nhiê ̣t đới
Theo tài liệu quan trắc khí tượng tại trạm Phước Long và trạm Đồng Phú từ năm 2000 tới năm 2004 cho thấy các yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi, lượng mưa khu vực nghiên cứu như sau:
Trang 37Trang 31
- Nhiệt độ: Bình Phước là tỉnh có lượng bức xạ nhiệt mặt trời quanh năm khá cao và tương
đối ổn định Nhiệt độ trung bình tháng từ 26,0oC đến 26,8oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất (tháng 4) từ 27,9oC đến 28,6oC, tháng thấp nhất (tháng 1) từ 24,9oC đến 25,9oC Nhiệt độ trung bình tháng trong năm của các trạm Phước Long và Đồng Phú được thống kê trong bảng I.1
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình tháng từ 79,5% đến 79,8% Độ ẩm không khí biến
đổi theo chế độ mưa, mùa mưa độ ẩm khá cao trung bình 73,5÷89%, mùa khô độ ẩm trung bình thấp hơn 71,8 ÷ 73,5% (trạm Phước Long) Độ ẩm trung bình tháng trong năm của các trạm Phước Long và Đồng Phú được thống kê trong bảng I.1
- Lượng bốc hơi: Vùng nghiên cứu có nhiệt độ không khí quanh năm tương đối cao, số
giờ chiếu sáng trong ngày lớn, nên lượng bốc hơi khá cao, tổng lượng bốc hơi trung bình nhiều năm là 1.042mm Lượng bốc hơi biến đổi theo mùa, mùa mưa nhiệt độ không khí giảm nên lượng bốc hơi thấp, đặc biệt là giữa và cuối mùa mưa (tháng 8, 9) lượng bốc hơi chỉ còn 47,8 ÷ 50,7mm, mùa khô (từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau) độ ẩm không khí thấp nhưng nhiệt độ không khí cao nên lượng bốc hơi rất lớn, lượng bốc hơi tháng từ 98,1mm tới 139,5mm Lượng bốc hơi tháng trong năm của các trạm Phước Long và Đồng Phú được thống kê trong bảng I.1
- Lượng mưa: Bình Phước là tỉnh có lượng mưa thuộc diện lớn nhất của Miền Đông Nam
Bộ, lượng mưa hàng năm phân làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 90% lượng mưa cả năm Mưa nhiều nhất vào tháng 8 tới tháng 10 với lượng mưa trung bình tháng nhiều năm từ 316mm (trạm Đồng Phú) đến 443,3mm (trạm Phước Long) Mùa khô có lượng mưa thấp, chỉ chiếm 10 ÷ 15% lượng mưa cả năm, lượng mưa thấp nhất vào tháng 1 và tháng 2, lượng mưa trung bình tháng nhiều năm từ 5,0 mm (trạm Đồng Phú) đến 118,8mm (trạm Phước Long)
3.1.2 Ta ̀i nguyên thiên nhiên
3.1.2.1 Ta ̀i nguyên nước
Bình Phước có vi ̣ trí là thượng nguồn của khu vực, là nơi duy trì nguồn nước và là nơi xây dựng các công trình thủy lợi lớn, nhưng khả năng cung cấp nước tưới cho nông nghiê ̣p rất ha ̣n chế Vì vâ ̣y, viê ̣c ưu tiên bố trí các cây trồng không hoă ̣c ít cần tưới là cần thiết
(i) Tài nguyên nước mă ̣t: Do ảnh hưởng của chế độ khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, bề mặt
địa hình được bao phủ bởi các thành tạo phun trào bazan phong hóa triệt để thành lớp sét màu nâu
đỏ, các trầm tích bột kết, sét kết vôi nứt nẻ phong hóa mạnh Đây là yếu tố chi phối cho hệ thống sông, suối trong vùng phát triển khá mạnh, nhất là ở các khu vực có độ cao địa hình hơn 100m Vùng nghiên cứu có các hệ thống sông, suối và nước mặt chính như sau:
Trang 38Trang 32
- Sông Bé: Sông Bé là một chi lưu lớn nằm ở phía bờ hữu của sông Đồng Nai Sông Bé
bắt nguồn từ vùng đồi núi của tỉnh Đak Nông có độ cao từ 400m đến 800m, chảy qua tỉnh Bình Phước, Bình Dương rồi đổ ra sông Đồng Nai ở đoạn sau hồ thuỷ điện Trị An khoảng 15km Sông
có chiều dài 350km, diện tích lưu vực 7.650km2 Đoạn chảy qua tỉnh Bình Phước có chiều dài trên 200km, diện tích lưu vực 5.200km2 Đây là một sông miền núi, rộ
chỗ rộng nhất 50m, nơi hẹp nhấ ều sâu 7 - 20m, thường gặp 5 - 15m, lòng sông có dạng chữ “U”, hai vách bờ dựng đứng, nhiều thác, ghềnh; độ dốc lòng sông trung bình từ 0,8 tới 1% Lưu lượng bình quân cả năm 195m3/s (tương đương với tổng lượng nước 6,15 tỷ m3/năm), tuy nhiên dòng chảy phân phối không đều, các tháng mùa khô dòng chảy không đáng kể, lưu lượng trung bình nhỏ nhất (tháng 3) là 16,51m3/s, các tháng mùa mưa dòng chảy lớn thường sinh ra lũ lụt, lưu lượng trung bình lớn nhất (tháng 9) là 506m3/s Sau khi hồ Thác Mơ được xây dựng từ năm 1995 đến nay, dòng chảy vào các tháng mùa khô được tăng lên từ 58m3/s đến 64m3/s Sông
Bé là sông lớn nhất và chảy qua trung tâm của tỉnh Bình Phước
Trên dòng sông Bé đã quy hoạch xây dựng 4 công trình thủy điện lớn theo 4 bậc thang là Thác Mơ, Cần Đơn, Sóc Phu Miêng (Bình Phước) và Phước Hòa (Bình Dương); trong đó công trình thủy điện Thác Mơ đã đi vào hoạt động từ năm 1995; hai công trình Cần Đơn và Phước Hòa đang trong giai đoạn thi công Đây là một con sông có tiềm năng kinh tế quan trọng của tỉnh Bình Phước cũng như của vùng miền Đông Nam Bộ Phía bắc, sông chảy qua các thành tạo là đá bazan thuộc hệ tầng Lộc Ninh, Mã Đà, phía nam sông chảy qua các thành tạo là các trầm tích Jura dưới
- giữa và các trầm tích sét, bột, cát của hệ tầng Bà Miêu
Nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sông là nước mưa, từ các suối đổ vào và một phần nhỏ
do nước dưới đất cung cấp Động thái của sông thay đổi theo mùa, mùa mưa nước sông đục có màu nâu đỏ, mùa khô nước trong
Với đặc điểm là một sông miền núi, lắm thác nhiều ghềnh, sông Bé không thuận lợi cho giao thông đường thủy, song có tiềm năng và thuận lợi lớn cho xây dựng các công trình thủy điện
và phục vụ tưới tiêu
Phía thượng nguồn, sông Bé bắt nguồn từ các suối như Đak Huýt, tại Thác Mơ là nơi hợp nguồn của các nhánh suối như Đak Glun, Đak Nhau, Đak Rlap, Đak Oa
Phía đông sông Bé có các nhánh suối như suối Rát, suối Cam, suối Giai, rạch Rạt, rạch
Bé, sông Mã Đà chảy vào
Phía tây sông Bé có các sông suối chảy vào như suối Nghiên, Xa Cát, suối Thôn
Trang 39Trang 33
- Sông Đồng Nai: Sông Đồng Nai chảy qua rìa phía đông của tỉnh Đoạn chảy qua tỉnh
Bình Phước có chiều dài khoảng 45km, nguồn nước khá phong phú, lưu lượng trung bình năm tại ranh giới tỉnh Đồng Nai và Bình Phước ước tính khoảng 233,2m3/s tương đương với tổng lượng
là 7,35 tỷ m3, song việc lấy nước từ sông này phục vụ sản xuất và sinh hoạt đối với tỉnh Bình Phước cũng rất khó khăn và tốn kém do địa hình ở khu vực này chủ yếu là đồi, núi, dốc
- Sông Sài Gòn (rạch Chàm): Sông Sài Gòn chảy qua phía tây của tỉnh, dọc biên giới Việt
Nam-Campuchia và tỉnh Tây Ninh với các nhánh suối chính như Tonlé Chàm, Tonlé Trou, suối
Xa Cát, suối Lấp Đoạn chảy qua tỉnh Bình Phước là phần đầu nguồn có lưu vực nhỏ, chiếm khoảng một nửa diện tích lưu vực tại tuyến đập Dầu Tiếng (khoảng 1.350km2), lưu lượng trung bình khoảng 33m3/s tương đương với 1 tỷ m3 Trên thực tế, về mùa khô nguồn nước trên các nhánh sông Sài Gòn chảy qua địa phận tỉnh Bình Phước có lưu lượng rất nhỏ nên việc sử dụng nước từ các nhánh sông này cho việc cung cấp nước cũng rất hạn chế
- Sông Măng (dak Jer Man): Sông Măng là nhánh sông thuộc lưu vực sông Mê Kông chạy
dọc biên giới Việt Nam-Campuchia ở phía bắc của tỉnh Bình Phước (huyện Bù Đốp), diện tích lưu vực 350km2, lưu lượng trung bình năm vào khoảng 14m3/s, tương đương với tổng lượng nước khoảng 0,46 tỷ m3/năm
- Các suối nhánh: Ngoài các sông suối chính đã nêu ở trên, các sông suối nhánh nằm ở 2
bên dòng chảy chính sông Bé, sông Đồng Nai và sông Sài Gòn có hình dạng giống như cành cây lan toả khá đều đặn trong toàn tỉnh
- Các nguồn nước mặt tập trung tự nhiên: Trong vùng nghiên cứu tồn tại một số hồ
nước tự nhiên dưới dạng các bàu chứa nước, chúng phân bố không đồng đều mà thường tập trung
ở một số nơi, phụ thuộc vào đặc điểm địa hình; diện tích nhỏ từ vài trăm đến vài nghìn mét vuông,
độ sâu thường không lớn lắm Mùa mưa nước bàu đầy, mùa khô thường cạn kiệt Chất lượng nước bàu chưa được xác định, nhưng hiện tại nước trong bàu chứa đã và đang được sử dụng để phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu của dân cư sống gần hồ
- Các nguồn nước mặt tập trung nhân tạo: Do đặc điểm địa hình, đặc điểm các sông
suối và do nhu cầu sử dụng nước nên trong vùng nghiên cứu đã xây dựng một số đập chắn tạo thành các hồ lớn như hồ Dầu Tiếng (ở phía tây, giáp với tỉnh Tây Ninh) trên sông Sài Gòn, hồ Thác Mơ trên sông Bé, hồ Suối Giai, hồ Suối Lam và một số hồ nhỏ ở đầu nguồn các suối như đầu nguồn suối Ông Thanh Hiện tại chưa có các tài liệu khảo sát hồ nên chưa thể đánh giá được nguồn tài nguyên nước ở các hồ này, nhưng hiện tại các hồ này là nguồn nước chính để phục vụ cho tưới tiêu và sinh hoạt của dân cư sống gần hồ Đặc biệt là hồ hồ Dầu Tiếng phục vụ thuỷ lợi cho nhiều
Trang 40Trang 34
tỉnh ở Miền Đông Nam Bộ, hồ Thác Mơ phục vụ thuỷ điện, hồ Suối Giai phục vụ ăn uống, sinh hoạt, sản xuất của thị xã Đồng Xoài và hồ Suối Lam được dùng để phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất
và du lịch của Công ty Cao su Đồng Phú
(ii) Tài nguyên nướ c ngầm: Theo kết quả nghiên cứu của Liên đoàn ĐCTV - ĐCCT miền
nam, 2005: Toàn tỉnh Bình Phước có 8 tầng chứa nước chính là: Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen
dưới (qp1); Tầng chứa nước lỗ hổng Pliocen giữa (n22); Tầng chứa nước khe nứt các thành tạo phun trào bazan Pliocen giữa - trên (n22-3); Tầng chứa nước khe nứt các thành tạo phun trào bazan Miocen trên (n13); Tầng chứa nước khe nứt trầm tích và phun trào Jura trên - Crata dưới (j3-k1); Tầng chứa nước khe nứt trầm tích Jura dưới-giữa (j1-2); Tầng chứa nước khe nứt Trias giữa (t2); Tầng chứa nước khe nứt Permi trên - Trias dưới (p3-t1)
- Tầng chứa nước lỗ hổng Piocen giữa (n22), nơi có bề dày tương đối lớn phân bố chủ yếu
ở huyện Chơn Thành có khả năng khai thác trung bình Tại đây có thể xây dựng các các nhà máy nước ngầm với quy mô vừa, công suất từ 1.000 đến 5.000 m3/ngày
- Các tầng chứa nước khe nứt trong các thành tạo phun trào bazan có mức độ chứa nước
rất không đồng nhất Chỉ có thể khai thác nước dưới đất với quy mô vừa tại trung tâm của các khối bazan Pliocen giữa - trên (n22-3) (Lộc Ninh, Bình Long, Phước Long) nơi có bề dày lớn, càng
xa trung tâm bề dày càng mỏng, khả năng chứa nước kém nên chỉ khai thác được với quy mô nhỏ
và đơn lẻ Tuỳ khu vực, có thể xây dựng các các nhà máy với quy mô từ nhỏ đến vừa, công suất
từ <1.000m3/ngày đến 1.000 - 5.000m3/ngày Tầng chứa nước khe nứt các thành tạo phun trào bazan Miocen trên (n13) có diện phân bố rộng (phía đông của huyện Phước Long, toàn bộ huyện
Bù Đăng), tuy nhiên bề dày mỏng, khả năng chứa nước kém nên chỉ có thể khai thác đơn lẻ bằng các giếng khoan hoặc giếng đào
- Các tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích và phun trào trước Kainozoi cũng có mức
độ chứa nước rất không đồng nhất Nước dưới đất chỉ tàng trữ trong khe nứt của các đá và trong các đới phá huỷ kiến tạo Tại đây có thể xây dựng các các nhà máy với quy mô từ nhỏ đến vừa, công suất từ <1.000m3/ngày đến 1.000 - 5.000m3/ngày - Tổng trữ lượng khai thác nước dưới đất trong phạm vi tỉnh Bình Phước là 1.964.000 m3/mgày Trong đó trữ lượng động là 1.806.000 m3/ngày (chiếm 92% tổng trữ lượng khai thác) và trữ lượng tĩnh là 158.000 m3/ngày (chiếm 8% tổng trữ lượng khai thác)
- Nước dưới đất chủ yếu là nước nhạt đến siêu nhạt, nhìn chung các chỉ tiêu hóa lý đều đáp ứng các tiêu chuẩn cho ăn uống Thành phần hóa học của nước ổn định không thay đổi theo thời gian Hai vấn đề nổi cộm nhất với chất lượng nước dưới đất phục vụ ăn uống là độ pH thấp và bị