1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

= synthezing and investigating ferroelectric and feromagnetic properties of multiferroic batio3 – cofe2o4

56 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 5,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài này, vật liệu tổ hợp đa pha sắt BaTiO3-CoFe2O4 được chế tạo bằng phương pháp phản ứng pha rắn, qua đó nghiên cứu ảnh hưởng của điện trường ngoài lên tính chất từ của vật liệ

Trang 1

MỤC LỤC

TÓM TẮT 3 

ABSTRACT 3 

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4 

DANH MỤC CÁC BẢNG 4 

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 4 

LỜI CẢM ƠN 7 

BÁO CÁO TÓM TẮT 8 

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 16 

1.1.  Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước   16 

1.2.  Vật liệu sắt từ - vật liệu CoFe 2 O 4 (CFO)   19 

1.2.1.  Cấu trúc vật liệu CFO   21 

1.2.2.  Tính chất từ của CFO   22 

1.2.3.  Tính chất điện của CFO   22 

1.3.  Vật liệu sắt điện – vật liệu BaTiO 3 (BTO)   22 

1.3.1.  Cấu trúc của vật liệu BTO   25 

1.3.2.  Tính chất điện của BTO   26 

1.3.3.  Tính chất từ của BTO   27 

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP VÀ KHẢO SÁT CẤU TRÚC, TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU 29 

2.1. Phương pháp tổng hợp vật liệu   29 

2.2. Phương pháp phân tích vật liệu   32 

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33 

3.1 Tổng hợp vật liệu multiferroic   33 

3.1.1. Các hóa chất thí nghiệm   33 

3.1.2. Dụng cụ và thiết bị thí nghiệm   33 

3.1.3. Tổng hợp vật liệu multiferroics xBTO – (1-x)CFO   34 

3.2 Chế tạo vật liệu (1-x)BTO – xCFO theo quy trình 1 (nung 1 lần)   35 

3.2.1. Khảo sát cấu trúc vật liệu   36 

3.2.2. Khảo sát tính chất từ của vật liệu   37 

3.3 Chế tạo vật liệu xBTO –(1- x)CFO theo quy trình 2 (nung 2 lần)   39 

3.3.1. Khảo sát cấu trúc vật liệu khối xBTO– (1-x)CFO với x = 1, 0.5, 0 từ bộtBTO và CFO  theo quy trình 2   40 

3.3.2. Khảo sát tính chất từ của vật liệu khối xBTO– (1-x)CFO với x = 1, 0.5, 0   41 

Trang 2

3.4 Chế tạo vật liệu xBTO– (1-x)CFO theo quy trình 3   43 

3.4.1. Khảo sát cấu trúc vật liệu khối xBTO– (1-x)CFO được chế tạo theo quy trình 3   43 

3.4.2. Khảo sát tính chất từ vật liệu khối xBTO– (1-x)CFO   44 

3.5 So sánh tính chất cấu trúc và tính chất từ của 3 quy trình chế tạo   46 

3.5.1. So sánh tính chất cấu trúc   46 

3.5.2. So sánh từ tính   48 

3.6 Tính chất điện của mẫu hợp chất xBTO-(1-x)CFO chế tạo theo quy trình 3   49 

3.6.1. Hằng số điện môi   49 

3.6.2. Đường cong điện trễ   53 

3.7 Khảo sát ảnh hưởng của điện trường ngoài lên từ tính của vật liệu xBTO– (1-x)CFO với x = 0, 0.3, 0.5, 0.7, 1   54 

KẾT LUẬN 58 

HƯỚNG PHÁT TRIỂN 59 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 

PHỤ LỤC 62 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang 3

TÓM TẮT

Ngày nay vật liệu đa pha sắt multiferroic đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu do tính chất 

đa dạng của nó. Vật  liệu multiferroics tổ hợp thường gồm hai pha: pha áp điện/sắt điện và pha từ giảo/sắt từ. Nhìn chung trong nhiều trường hợp các pha này tương tác qua lại với nhau thông qua ứng suất sinh bởi điện trường hoặc từ trường ngoài. Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn vật liệu hợp chất BaTiO3-CoFe2O4 (BTO-CFO) thể hiện đồng thời 2 tính chất sắt điện và sắt từ trong cùng một vật liệu. và mong muốn dùng điện trường ngoài để thay đổi từ tính của vật liệu. Chúng  tôi  đã  tổng  hợp  và  khảo  sát  cấu  trúc  tinh  thể,  tính  chất  điện–từ  của  vật  liệu  khối multiferroic (1-x)BTO – xCFO. Qua khảo sát cấu trúc vi tinh thể cho thấy vật liệu thể hiện rõ cấu trúc perovskite tương ứng với pha sắt điện của BTO và cấu trúc spinel tương ứng với pha sắt từ của CFO. Chế tạo mẫu hợp chất (1-x)BTO – xCFOvới tỉ lệ x = 0, 0.3, 0.5, 0.7, 1 theo quy trình nung  hai  lần  trong  đó  lần  1  mẫu  được  kết  khối, nung  ở  1100oC,  sau  đó  nghiền  ra  và  kết  khối, nung ở nhiệt độ 1200oC, tốc độ tăng, hạ nhiệt 4oC/phút (quy trình 3). Kết quả giản đồ XRD cho thấy mẫu hợp chất thể hiện pha BTO phát triển trội hơn pha CFO. Tính chất điện của 0.5BTO-0.5CFO gồm độ phân cực bão hòa Ps ~ 63.3 C/cm2, trường kháng điện Ec ~ 10.4 kV/cm. Tính chất  từ  của  0.5BTO-0.5CFO  gồm  độ  từ  hóa  bão  hòa  Ms ~  17.11  emu/g  và  lực  kháng  từ  Hc 

~106.38 Oe. Từ tính của mẫu tăng khi có điện trường ngoài áp vào. 

ABSTRACT

Multiferroic  materials  which  display  simultaneous  ferroelectricity  and  magnetism  have  been stimulating significant interest both from the basic science and application.  Piezoelectric phase and  magnetostrictive  phase  can  be  magnetoelectrically  coupled  via  a  stress  mediation.  The coexistence  of  magnetic  and  electric  subsystems  as  well  as  the  magnetoelectric  effect  of  the material  allows  an  additional  degree  of  freedom  in  the  design  of  actuators,  transducers,  and storage devices.  

Our  work  has  been  focused  on  bulk  ceramics  BaTiO3-CoFe2O4  (BTO-CFO).  BTO-CFO materials  are  made  in  laboratory  then  they  are  investigated  structure,  magnetic  and  electric properties  by  XRD,  VSM,  RLC  system    The  XRD  results  of  single  BTO  and  CFO  materials show  perovskite  structure  and  spinel  structure,  respectively.  The  (1-x)BTO  –  xCFO  composite materials with x = 0, 0.3, 0.5, 0.7, 1 are made with annealed temperature 1200C in air and with different  time  annealed.  XRD  analysis  show  the  composite  material  has  two  phase  in simultaneous  and  has  the  competing  about  integrated  intensity  between  characterized  peaks  of two  phases  with  different  time  annealed.  Magnetic  properties  are  affected  by  external  electric field  so  we  can  use  electric  field  to  control  magnetic  property  of  material.0.5BTO-0.5CFO material  made  with  two-time  annealed  temperature  has  the  dominant  BTO  phaseover  the  CFO phase.  Electric  measurements  of  0.5BTO-0.5CFO  materials  show  saturation  polarization  Ps ~ 63.3  C/cm2,  coercive  field  Ec  ~  10.4  kV/cm.  Magnetic  measurements  of  0.5BTO-0.5CFO materials show saturation magnetization Ms ~ 17.11 emu/g and coercive field Hc~106.38 Oe.      

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 

VSM - Vibrating sample magnetometer – từ kế mẫu rungXRD - X-Ray Diffraction – nhiễu xạ tia X  FESEM - Field Emission Scanning Electron Microscope – kính hiển vi điện tử quét 

FTIR - Fourier Transform Infrared Spectroscopy – phổ dao động hồng ngoại 

BTO – Barium Titanate - BaTiO3 

CFO – Cobalt Ferrite - CoFe2O4 

 

DANH MỤC CÁC BẢNG 

Bảng 1.1 - Sự biến đổi cấu trúc của BTO theo nhiệt độ   26 

Bảng 3.1 - Hóa chất sử dụng để tạo vật liệu xBTO – (1-x)CFO   33 

Bảng 3.2 – Ký hiệu mẫu chế tạo theo quy trình 1   35 

Bảng 3.3 – Số liệu các thông số từ của mẫu xBTO– (1-x)CFO   38 

Bảng 3.4 - – Ký hiệu mẫu xBTO –(1- x)CFO chế tạo theo quy trình 2   39 

Bảng 3.5 – Số liệu độ từ hóa của mẫu xBTO– (1-x)CFO với x = 1, 0.5, 0  42 

Bảng 3.6 – Độ từ hóa bão hòa, độ từ dư và lực kháng từ của mẫu chế tạo theo quy trình 3.   46 

Bảng 3.7 - Tỉ số tích phân cường độ của hai pha BTO và CFO trong 3 quy trình chế tạo   47 

Bảng 3.8 - Kích thước hạt tinh thể của các pha trong mẫu đơn chất khối và hợp chất theo 3   47 

Bảng 3.9 – Số liệu độ từ hóa bão hòa, độ từ dư và lực kháng từ của 3 quy trình chế tạo.   48 

Bảng 3.10 -  So sánh thông số từ của mẫu được chế tạo theo quy trình 3 khi không và có điện  trường áp vào.   49 

Bảng 3.11 – Giá trị fit từ đồ thị tuân theo định luật Vogel-Fulcher   53 

Bảng 3.12 – Giá trị độ phân cực bão hòa P s , độ phân cực dư P r  và trường kháng điện E c  của vật  liệu xBTO – (1-x)CFO   54 

Bảng 3.13 - Tỷ số tích phân cường độ đỉnh và kích thước hạt tinh thể trung bình của các mẫu  xBTO– (1-x)CFO với x = 0, 0.3, 0.5, 0.7, 1   55 

Bảng 3.14 - Bảng giá trị các thông số từ của mẫu xBTO– (1-x)CFO với x = 0, 0.3, 0.5, 0.7, 1  khi  chưa áp điện trường (O) và áp điện trường (E)   56 

  DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ    Hình 1.1 - Những công bố khoa học của vật liệu điện từ theo năm   16 

Hình 1.2 - Giản đồ XRD của vật liệu khối CFO/BTO thiêu kết ở 1250 o C trong 2 giờ.   17 

Hình 1.3 - Sự phụ thuộc của M r  và M s  theo nồng độ CFO vật liệu xCFO– (1-x)BTO.   18 

Hình 1.4 - Đường cong từ hóa M(H) của vật liệu khối [BTO] (1-x)  –[CFO] x   18 

Hình 1.5 Đường cong từ hóa của vật liệu sắt từ.   20 

Hình 1.6 - Cấu trúc spinel của vật liệu AB 2 O 4    21 

Hình 1.7 - Đường cong điện trễ của vật liệu sắt điện   24 

Trang 5

Hình 1.9 - Cấu trúc perovskite của ABO 3    25 

Hình 1.10 – Đồ thị biểu diễn sự biến đổi cấu trúc của BTO theo nhiệt độ.   26 

Hình 1.11 - Sự dịch chuyển của ion Ti 4+  trong bát diện TiO 6    27 

Hình 1.12 -  Sơ đồ tương tác trao đổi gián tiếp của Ti 4+  - O 2-  - Ti 4+    28 

Hình 2.1 - Quy trình công nghệ chế tạo vật liệu.   29 

Hình 2.2 - Phương pháp nghiền kiểu hành tinh.   30 

Hình 2.3 - Hiện tượng kết khối.   31 

Hình 3.1 - Dụng cụ và thiết bị thí nghiệm chế tạo vật liệu xBTO – (1-x)CFO       .   34  

Hình 3.2 a) Quy trình 1 chế tạo vật liệu   b) Giản đồ nung   35  

Hình 3.3 - Giản đồ nhiễu xạ tia X mẫu BTO, CFO và mẫu hợp chất 0.5BTO– 0.5CFO   36  

Hình 3.4 - Đường cong từ hóa của mẫu chế tạo theo quy trình 1 của a)mẫu BTO b) mẫu CFO  37   Hình 3.5 - Đường cong từ hóa của mẫu 0.5BTO– 0.5CFO chế tạo theo quy trình 1 khi không áp  điện trường (BCT2) và khi áp điện trường (BCT2-E)   38  

Hình 3.6 - Tổng hợp vật liệu khối xBTO– (1-x)CFO (x = 1, 0.5, 0) theo quy trình 2   40  

Hình  3.7  -  Giản  đồ  XRD  mẫu  CFO  (C11),  mẫu  BTO  (B11),  và  mẫu  hợp  chất  BC12  (x  =  0.5)  được chế tạo theo quy trình 2.   40  

Hình 3.8 - Phổ FTIR các mẫu CFO, mẫu BTO, và mẫu hợp chất BC12 chế tạo quy trình 2.   40  

Hình 3.9 - Đường cong từ hóa của mẫu chế tạo theo quy trình 2 khi không áp điện trường   41  

Hình 3.10 - Đường cong từ hóa của mẫu 0.5BTO– 0.5CFOchưa áp điện  và  áp điện   42  

Hình 3.11 - Giản đồ XRD mẫuBTO, CFO và 0.5BTO– 0.5CFO chế tạo theo quy trình 3  43  

Hình 3.12 - Phổ FTIR của mẫuBTO, CFO và mẫu hợp chất 0.5BTO– 0.5CFO   43  

Hình 3.13 - Ảnh FSEM của mẫu a) BTO; b) CFO; c) 0.5BTO-0.5CFO   44  

Hình 3.14 - Đường cong từ hóa của mẫu chế tạo theo quy trình 3 khi không áp điện trường   45  

Hình 3.15 - Đường cong từ hóa của mẫu 0.5BTO– 0.5CFOchưa áp điện và áp điện.    45  

Hình 3.16 - So sánh 3 quy trình chế tạo vật liệu xBTO– (1-x)CFO   46  

Hình 3.17- Giản đồ nhiễu xạ tia X của xBTO– (1-x)CFO khi chế tạo theo 3 quy trình.   47  

Hình 3 18 - Đường cong từ hóa của 0.5BTO-0.5CFO với 3 quy trình chế tạo khác nhau   48  

Hình 3.19- Sự phụ thuộc của hằng số điện môi theo nhiệt độ ở các tần số khác nhau của xBTO-(1-x)CFO   50  

Hình  3.20-  Đồ  thị  biểu  diễn  sự  phụ  thuộc  của  hằng  số  điện  môi  theo  nhiệt  độ  theo  định  luật  Curie-Weiss ở tần số 50kHz   51  

Hình 3.21 - Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của ln(1// -1// m )  theo ln (T - T m ) ở tần số 50kHz   52  

Hình  3.22  –  Đồ  thị  biểu  diễn  đường  fit  của sự  phụ  thuộc  lnf  theo  nhiệt  độ  tuân  theo  định  luật  Vogel-Fulcher   52  

Hình 3.23 – Hằng số điện môi và độ tổn hao điện môi của vật liệu 0.5BTO-0.5CFO được đo ở  tần số 1kHz.   53  

Hình 3.24 – Đường cong điện trễ của vật liệu xBTO-(1-x)CFO với x = 0, 0.5, 1.   54  

Hình 3.25 – Giản đồ nhiễu xạ tia X của vật liệu xBTO– (1-x)CFO với x = 0, 0.3, 0.5, 0.7, 1   55  

Trang 6

Hình 3.26 - Đường cong từ hóa của mẫu xBTO– (1-x)CFO với x = 0, 0.3, 0.5, 0.7, 1 khi áp điện  trường  56  Hình 3.27 - Sự phụ thuộc của a) độ từ hóa bão hòa M s  , b) lực kháng từ H c  theo nồng độ BTO  trong hai trường hợp chưa áp điện (O) và áp điện (E).   57 

Trang 7

 

Nhóm nghiên cứu xin cảm ơn sự tài trợ của ĐH Quốc gia TPHCM, sự giúp đỡ về mặt thiết bị của Phòng TN. Vật liệu  kỹ thuật cao, BM Vật liệu từ và  y sinh - trường Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM. 

Nhóm nghiên cứu xin cám ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ đo đạc kết quả của BM Vật lý chất rắn - khoa Vật lý - trường ĐH Khoa học Huế. 

Trang 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Với sự phát triển của khoa học công nghệ như hiện nay, khi mà nhu cầu đòi hỏi về giảm kích thước cũng như tăng tính năng của các thiết bị điện tử ngày càng cao thì các vật liệu có cấu trúc nano như: hạt nano, dây nano, thanh nano, cấu trúc nano hình sao,  đã và đang được nghiên cứu rất đa dạng. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu là tổng hợp vật liệu nano có cấu trúc đơn pha riêng rẽ, nên sẽ khó khăn hơn trong việc khám phá thêm các tính năng mới và đột phá trong khoa học vật liệu. Do đó, các nghiên cứu dựa trên các vật liệu đa pha cấu trúc mới với những tính chất nổi trội sẽ thu hút được nhiều quan tâm hơn so với các vật liệu đơn pha. 

Từ năm 1959, Landau và Lifshitz đã tiên đoán sự tồn tại của vật liệu multiferroics – vật liệu tổ hợp đa pha sắt điện-sắt từ. Năm 2003, vật liệu đa pha sắt nhân tạo đầu tiên do Ramesh và các cộng sự chế tạo đã thúc đẩy và mở ra những triển vọng mới cho hướng nghiên cứu mới mẻ này. Nghiên cứu cho thấy vật liệu multiferroics dạng tổ hợp có tính chất tốt hơn nhiều so với vật liệu đơn  pha  riêng  rẽ 1.  Nhờ  tính  chất  điện  và  tính  chất  từ  bên  trong  cùng  một  khối  nên  vật  liệu multiferroic có lĩnh vực ứng dụng rất rộng: thiết bị lưu trữ, bộ chuyển đổi với module áp điện có tính chất từ, thiết bị truyền, bộ nhớ, cổng sắt điện trong các transistor hiệu ứng trường  2. 

Trong  đề  tài  này,  vật  liệu  tổ  hợp  đa  pha  sắt  BaTiO3-CoFe2O4  được  chế  tạo  bằng  phương  pháp phản ứng pha rắn, qua đó nghiên cứu ảnh hưởng của điện trường ngoài lên tính chất từ của vật liệu. Vật liệu sắt điện cấu trúc perovskite BaTiO3 (BTO) được lựa chọn cho pha sắt điện vì có hằng số điện môi lớn, có tính sắt điện, áp điện và đã được ứng dụng trong thương mại chế tạo tụ điện  gốm  đa  lớp  MLC(Multilayer  Ceramic  Capacitor)  hay  MLCC  (Multilayer  Ceramic  Chip Capacitor) ứng dụng trong các bộ nhớ như DRAM, FRAM, làm các cảm biến 3,4. Vật liệu sắt từ cấu trúc spinel CoFe2O4 (CFO) là một vật liệu có độ từ hóa cực đại cao, độ từ giảo lớn, bền về cơ tính và hóa tính 5 được sử dụng  rộng rãi nhất để ghi và lưu trữ thông tin… 

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Trang 9

dạng liên kết các lớp hoặc dạng màng mỏng đa lớp được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Năm  1998,  nghiên  cứu  trên  vật  liệu  tổ  hợp  PZT-Fe  của  Shin  và  các  cộng  sự  đã  mở  ra  hướng nghiên cứu mới cho vật liệu tổ hợp 3. Năm 2000, các nhà khoa học Tây Ban Nha đã nghiên cứu trên vật liệu PZT-FeBSiC, nhưng vật liệu này có hệ số chuyển đổi cơ điện nhỏ và kích thước lớn nên khó ứng dụng trong thực tế. Năm 2001, xuất hiện công trình nghiên cứu đầu tiên trên vật liệu 

đa lớp {PZT-NiZnFeO}n của G. Srinivasan, cho hệ số từ điện cao tại từ trường thấp, tuy nhiên vật  liệu  này  lại  rất  khó  chế  tạo 8.  Năm  2005,  Tại  Hàn  Quốc,  nhóm  Lee  Y.  H.  và  đồng  sự  của Khoa Kỹ thuật điện trường Đại học Semyung (Chung buk) và nhóm Kim I. S. và đồng sự thuộc phòng nghiên cứu về áp điện KERI  (Chungwon)  kết hợp với Ryu J. tập  trung nghiên cứu tính chất các vật liệu áp điện nhiều thành phần công suất lớn trong đó có cả PZT-PMnN 9,  10. Năm 

2009, Tại viện Công nghệ Tung Fang, Đài Loan, nhóm nghiên cứu của Tsai C. Cmạnh về nghiên cứu ứng dụng PZT-PMnN trong máy phát siêu âm dùng trong điều trị11. 

 

Vật  liệu  đa  pha  sắt  xBTO  –  (1-x)CFO  vừa  có  tính  sắt  điện  và  sắt  từ  đã  được  nghiên  cứu  bởi nhiều tác giả trên thế giới: 

 Khảo sát quy trình và phương pháp chế tạo ảnh hưởng đến cấu trúc tinh thể của vật liệu đa pha sắt  xBTO  –  (1-x)CFOđược  khảo  sát  bởi  các  nhóm  Shivani  Agarwal 12,  Liangbin  Hao 13,  Zhou Zhi 14, Nie  Jun-wu 15, Dongxiang  Zhou 16, Atchara Khamkongkaeo 7,  Yajing  Shen 17. Mặc dù, các nhóm nghiên cứu khảo sát với các quy trình chế tạo khác nhau, nhưng đều cho kết quả khảo sát cấu trúc tinh thể với pha sắt điện BTO có tỉ lệ thành phần vượt trội hơn pha sắt từ CFO. Trong đó nhóm Dongxiang Zhou16 và cộng sự đã chế tạo vật liệu CFO/BTO bằng phương pháp phản ứng pha rắn tạo từng khối BTO, và khối CFO riêng rẽ. Để tạo vật liệu khối CFO/BTO tác giả ghép từng khối vật liệu riêng rẽ tạo lớp CFO và BTO xen kẽ nhau (hình 1.2). Với tỉ lệ thành phần CFO và BTO là như nhau, kết quả khảo sát cấu trúc tinh thể bằng giản đồ nhiễu xạ tia X cho thấy pha sắt điện BTO có tỉ lệ thành phần vượt trội hơn pha sắt từ CFO. 

 

 

Hình 1.2- Giản đồ XRD của vật liệu khối CFO/BTO thiêu kết ở 1250 o C trong 2 giờ

Ngoài  ra,  nhóm  tác  giả  Nie  Jun-wu15  và  cộng  sự  đã  chế  tạo  vật  liệu  (1-x)CFO  –xBTO  bằng phương pháp phản ứng pha rắn từ bột các ôxit kim loại Co3O4 (>99.5%), Fe3O4 (>99.3%), BaO (>99.0%), TiO2 (>99.2%), NaCl and NP10 (nonylphenyl ether) với tỉ lệ mol 1׃2׃3׃3׃5׃3 ở nhiệt 

độ thiêu kết 1200oC trong 2 giờ cũng cho kết quả cấu trúc tinh thể tương tự. 

Gần đây nhất năm 2012, nhóm tác giả Liangbin Hao 13 và cộng sự đã chế tạo vật liệu CFO–BTO bằng phương pháp phản ứng pha rắn từ bột BTO và bột các ôxit Co2O3, Fe2O3 ở nhiệt độ thiêu kết 1300oC trong 2 giờ. 

 

Trang 10

Khảo  sát  từ  tính  của  vật  liệu  theo  các  tỉ  lệ  thành  phần  x  khác  nhau  trong  vật  liệu  x)CFO  được  nhiều  nhà  khoa  học  nghiên  cứu  Shivani  Agarwal12,  Zhou  Zhi  14,  Atchara Khamkongkaeo 7. 

xBTO–(1-Trong đó, nhóm tác giả Zhou Zhi 14 và cộng sự chế tạo sợi nano xCFO–(1-x)BTO bằng phương pháp phân hủy nhiệt với x = 0.2, 0.3, 0.4, 0.5. Khảo sát tính chất từ bằng phổ từ kế mẫu rung với mẫu được nung ở nhiệt độ 1180oC. Khi nồng độ CFO tăng x = 0.2, 0.3, 0.4, 0.5, độ từ hóa bão hòa Ms và độ từ dư Mr tăng phù hợp với lý thuyết Bruggeman 18, nhưng lực kháng từ Hc giảm (hình 1.3). 

 

 

Hình 1.3- Sự phụ thuộc của M r và M s theo nồng độ CFO vật liệu xCFO– (1-x)BTO

Năm 2012, Shivani Agarwal 12 và cộng sự đã chế tạo vật liệu [BTO](1-x)  –[CFO]x với tỉ lệ x = 0.1, 0.2, 0.3, 0.4, 0.5, 1 bằng phương pháp phản ứng pha rắn ở nhiệt độ nung thiêu kết 1200oC trong 3 giờ.  

 

 

Hình 1.4- Đường cong từ hóa M(H) của vật liệu khối [BTO] (1-x) –[CFO] x

(Hình nhỏ: Sự phụ thuộc của M s theo nồng độ BTO).

 

Từ tính của vật liệu được khảo sát theo nồng độ BTO (hình 1.4), với nồng độ BTO tăng từ 0.5 đến 0.8 thì độ từ hóa bão hòa Ms giảm từ 36.2 emu/g xuống 11.8 emu/g. Ngược lại lực kháng từ 

Hc tăng tuyến tính khi nồng độ BTO tăng, và đúng theo lý thuyết Bruggeman. 

 

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học Việt Nam cũng bước vào  nghiên  cứu  về  vật  liệu  này  khá  sớm,  đặc  biệt  bộ  môn  Vật  lý  Chất  rắn  thuộc  Khoa  Vật  lý trường Đại học Khoa học Huế là đơn vị tiên phong nghiên cứu về vật liệu điện môi, do PGS. TS. 

Trang 11

cụ  thể.  Song  song  với  đó,  các  vật  liệu  PZT  +  relaxor  như  PbZrO3-PbTiO3-Pb(Mg1/3Nb2/3)O3 (PZT-PMN)  và  PbZrO3-PbTiO3-Pb(Zn1/3Nb2/3)O3  (PZT-PZN)  bắt  đầu  được  nghiên  cứu  từ  năm  

2000. Vào năm 2007, TS. Phan Đình Giớ đã hoàn thành luận án tiến sỹ nghiên cứu vật liệu sắt điện trên cơ sở PZT pha tạp Fe, Mn, La 20. Vào năm 2011, TS. Nguyễn Duy Anh Tuấn bảo vệ luận án về vật liệu hỏa điện trên PZT pha tạp và TS. Nguyễn Đình Tùng  Luận bảo vệ luận án nghiên cứu về vật liệu 4 thành phần PZT-PMnN-PSbN 21.   

Ở Miền Bắc Việt Nam, từ năm 2005, nhóm nghiên cứu tại Khoa Vật lý kỹ thuật và Công  nghệ nano thuộc trường Đại học Công nghệ đã nghiên cứu hiệu ứng điện – từ trên các vật liệu PZT-TerfecoHan, PZT-FeCoBSi và đã thu được những kết quả rất khả quan. Năm 2008, các nghiên cứu  tiếp  theo  tại  Phòng  thí  nghiệm  Công  nghệ  micro  và  nano  của  trường  Đại  học  Công  nghệ được thực hiện trên vật liệu PZT-CoFe2O4 dưới dạng tổ hợp màng mỏng, giúp giảm kích thước của vật liệu và có những tính chất ưu việt 14. Trong các vật liệu tổ hợp dạng lớp bao gồm hợp kim từ giảo (Terfenol-D, TerfecoHan  ) và gốm áp điện (PZT, BiTO3, PVDF….) hiệu ứng điện-

từ thuận có được là nhờ tương tác đàn hồi giữa các lớp, liên kết với nhau bằng keo epoxy 15. Vì vậy, gốm áp điện với hiệu ứng – điện từ thuận đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan  tâm  và  chế  tạo  với  nhiều  phương  pháp  khác  nhau.  Hầu  hết  các  loại  vật  liệu  đa  pha  sắt thường sử dụng phương pháp phản ứng pha rắn ở nhiệt độ cao. Tuy nhiên các phản ứng hóa học 

và sự khuếch tán của nguyên tử không mong muốn trong quá trình chế tạo các vật liệu tổ hợp loại này làm xuất hiện pha thứ 3, dẫn tới việc giảm độ phân cực điện hoặc tính chất từ giảo của chúng trong từng pha riêng rẽ. Vì vậy các nghiên cứu vật liệu tổ hợp với sự hình thành các pha đặc trưng, không lẫn pha thứ 3 và tạo được hiệu ứng điện-từ lớn có thể chế tạo vật liệu tổ hợp không dùng lớp gắn kết (keo exopy) là mục tiêu được đề tài hướng đến. 

 

1.2 Vật liệu sắt từ - vật liệu CoFe 2 O 4 (CFO)

Sắt từ là các chất có mômen từ nguyên tử tương tác với nhau, dẫn đến việc hình thành trong lòng vật liệu các vùng gọi là đômen từ. Trong mỗi đômen này, khi ở dưới nhiệt độ Curie các mômen 

từ sắp xếp hoàn toàn song song với nhau, tạo nên từ độ tự phát của vật liệu. 

Chất sắt từ được quy định bởi tương tác trao đổi giữa các mômen từ tạo ra các mômen từ định hướng  song  song  với  nhau  ngay  cả  khi  không  có  từ  trường  ngoài.  Tuy  nhiên,  các  mômen  từ không  song  song  trên  toàn  vật  liệu  từ  mà  chỉ  song  song  trong  các  vùng  nhỏ  gọi  là  đômen  từ. Phần biên giới giữa các đômen gọi là vách đômen. 

Chính các mômen từ định hướng hoàn toàn song song với nhau trong các đômen từ đã tạo nên từ 

độ tự phát của vật liệu từ. Ở trạng thái khử tử, từ độ trong các đômen khác nhau sẽ định hướng hỗn loạn và bị triệt tiêu lẫn nhau. Khi vật liệu được bão hòa từ thì trên toàn vật liệu sẽ là một đômen duy nhất có chiều của các mômen hướng theo chiều của từ trường ngoài. 

 

 Đường cong từ hóa của vật liệu sắt từ

Khi  không  có  từ  trường  ngoài  (H=0),  năng  lượng  dao  động  nhiệt  làm  cho  mômen  từ  của  các đômen trong toàn khối vật liệu sắt từ sắp xếp hỗn độn do vậy tổng độ từ hóa của toàn khối bằng 

0. Khi vật liệu sắt từ được đặt trong từ trường (H  0), các mômen từ có xu hướng sắp xếp song 

Trang 12

song với hướng từ trường ngoài, quá trình này được gọi là quá trình  từ hóa và đặc trưng bằng đường  cong  từ  trễ  (Hình  1.5).  Quá  trình  từ  hóa  được  thể  hiện  thông  qua  sự  dịch  chuyển  vách đômen thuận nghịch và bất thuận nghịch (ở từ trường nhỏ) và quá trình quay thuận nghịch và bất thuận nghịch của đômen (ở từ trường lớn). 

Nếu ngắt từ trường, các moment từ sẽ lại có xu hướng hỗn độn do thăng giáng nhiệt và lại tạo thành các đômen, tuy nhiên, các đômen này vẫn còn tương tác với nhau. Khi ta giảm từ trường 

về không thì tổng moment từ trong toàn khối không giảm về bằng không dẫn đến từ độ còn dư được gọi là độ từ dư. 

Nếu ta đổi chiều từ trường và tăng độ lớn, từ độ sẽ giảm dần giá trị từ dư về không. Khi độ từ dư bằng không, ta  gọi là trạng thái khử từ và  giá trị từ trường tại đó từ độ  bằng không  gọi là lực kháng từ. 

Nếu từ trường càng âm thì từ độ tiếp tục giảm từ giá trị về giá trị bão hòa âm. Quá trình tương tự như trên nếu ta tiếp tục tăng từ trường về không và đổi chiều rồi tăng giá trị dương của nó. Điều 

này tạo thành hiện tượng trễ của vật liệu sắt từ (Hình 1.5b). 

Các thông số chính của vật liệu sắt từ được tính toán từ đường cong từ hóa: 

- Từ độ bão hòa MS: từ độ đạt được trong trạng thái bão hòa, khi đó tất cả các mômen từ của chất sắt từ song song với từ trường ngoài. 

- Độ từ dư Mr: giá trị từ độ khi từ trường ở giá trị 0. 

- Lực kháng từ HC: giá trị từ trường ngoài cần thiết để khử từ dư của mẫu. 

- Tích năng lượng cực đại (BH)max: mỗi điểm trên đường cong từ hóa có một cặp giá trị B và H. Tập hợp các giá trị đó tạo ra đường cong năng lượng (BH)i, trong đó giá trị cực đại gọi là tích năng lượng cực đại (BH)max. Tích năng lượng cực đại (BH)max cho biết năng lượng từ cực đại mà vật liệu từ chứa trong nó. 

 

Hình 1.5 Đường cong từ hóa của vật liệu sắt từ

Trang 13

1.2.1 Cấu trúc vật liệu CFO

Cấu trúc tinh thể hợp chất spinel được xác định bởi Bragg và Niskikawa vào năm 1915 16. Vật liệu CFO thuộc dạng cấu trúc tinh thể spinel có công thức tổng quát là AB2O4, thuộc nhóm đối xứng Fd m3 , trong đó A là cation hoá trị II và B là cation hoá trị III (Hình 1.6). 

 

 

Hình 1.6- Cấu trúc spinel của vật liệu AB 2 O 4

Sự sắp xếp các cation A2+ và B3+ và anion O2- vào ô mạng cơ sở như sau: 

- Ion Oxy: Bán kính của ion Oxy khoảng 1.32Ao lớn hơn rất nhiều bán kính của ion kim loại (0.6 

Ao – 0.8Ao), do đó các ion O2- trong mạng hầu như nằm sát nhau tạo thành một mạng lập phương tâm mặt xếp chặt.  

- Các cation A2+ và B3+ được sắp xếp vào các hốc tứ diện (Te) được bao quanh bởi 4 Oxy và hốc bát diện (Oc) được bao quanh bởi 8 Oxy tạo thành hai phân mạng con A và B7. 

Trang 14

1.2.2 Tính chất từ của CFO

Cấu trúc của vật liệu CFO chứa các ion hóa trị 2+, 3+ nằm ở hai vị trí A, B tạo thành hai phân mạng  con A và  B7. Các  mômen từ ở phân mạng  A và B phân bố phản song song, nhờ sự phụ thuộc góc của tương tác siêu trao đổi (tương tác âm): góc hợp bởi giữa các ion phân mạng A – oxi – ion phân mạng B là AOB ~ 125o, góc hợp bởi giữa các ion phân mạng A–oxy- ion phân mạng A khoảng AOA~80o và góc hợp bởi giữa các ion phân mạng B – oxi – ion phân mạng B 

là BOB ~90o do đó tương tác giữa các môment từ ở phân mạng A và B là mạnh nhất với spin của chúng đối song với nhau, tạo cấu trúc spinel đảo. 

CFO có cấu trúc spinel đảo với công thức là [Fe3+]Te[Co2+, Fe3+]Oc O2-4  với ½ ion Fe3+ nằm ở vị trí tứ diện và ½ ion còn lại nằm ở vị trí bát diện, spin của chúng đối song với nhau nên moment 

từ tổng cộng của ion Fe3+ bằng không (theo mẫu Néel). Do đó tính chất từ của CFO do ion Co2+ quyết định. 

là khoảng 11% (r Co2 = 0.72Ao và r Fe3 = 0.64Ao) nên các cation có thể tự thay thế đồng hình với nhau và trao đổi điện tích. Khi không có điện áp vào vật liệu CFO, tính chất điện thể hiện rất yếu 

do sự trao đổi điện tích giữa các cation ở mức độ thấp. Nói chung tính chất nổi trội của vật liệu CFOlà tính sắt từ. 

 

1.3.Vật liệu sắt điện – vật liệu BaTiO 3 (BTO)

Sắt điện là hiện tượng xảy ra ở một số chất điện môi có độ phân cực điện tự phát ngay cả khi không  có  điện  trường  ngoài  và  trở  lên  hưởng  ứng  mạnh  dưới  tác  dụng  của  điện  trường  ngoài. Moment lưỡng cực điện trong vật liệu sắt điện có có tương tác với nhau, nên tạo sự khác biệt so với các chất điện môi khác. Độ phân cực điện tồn tại ngay cả khi không có điện trường ngoài, nhưng  trên  toàn  vật  liệu,  mômen  lưỡng  cực  điện  tổng  cộng  có  giá  trị  bằng  0,  do  các  mômen lưỡng cực điện định hướng hỗn loạn. Ở nhiệt độ 0K các mômen lưỡng cực điện song song với nhau, tạo nên độ phân cực tự phát. Tính chất sắt điện được nhà khoa học Valasek phát hiện ra lần đầu tiên vào năm 1920 trên muối Rochelle. 

Sự xuất hiện của tính sắt điện liên quan đến sự tương tác của điện trường lên các ion liên kết yếu làm cho các ion này dịch chuyển khỏi vị trí cân bằng. Kết quả là môi trường bị phân cực.  

Đại lượng đặc trưng cho mức độ phân cực của vật liệu sắt điện là vectơ phân cực điệnP

, còn gọi 

là độ phân cực điện. Độ phân cực điện là tổng các vectơ mômen lưỡng cực của các phân tử trong một đơn vị thể tích của khối điện môi. 

Trang 15

v p P

Trong vật liệu sắt điện  các vectơ phân cực tự phát PS có thể cùng chiều  hoặc ngược  chiều với trục phân cực của tinh thể và tồn tại những vùng mà tại đó véctơ phân cực điện song song cùng chiều với nhau và không song song cùng chiều với véctơ phân cực điện ở vùng liền kề. Những vùng nhỏ đó gọi là các đômen sắt điện.Các đômen khác nhau có thể có vectơ phân cực tự phát hướng theo các trục khác nhau và được phân ra bởi các vách đômen. 

Có hai nguyên nhân hình thành cấu trúc đômen sắt điện: thứ nhất, các đômen được hình thành trong  quá  trình  chuyển  pha  từ  thuận  điện  sang  pha  sắt  điện  do  sự  thay  đổi  tương  tác  tĩnh  điện tổng  cộng  của  từ  trường  ngoài  và  của  các  đômen  đã  hình  thành  trước  đó.  Thứ  hai,  cấu  trúc đômen hình thành là do các sai hỏng mạng cũng như ứng suất nội trong tinh thể sắt điện gây ra, 

do đó sự hình thành đômen sắt điện để làm cực tiểu hóa năng lượng tự do. 

Trạng thái đa đômen này thường bị biến đổi thành một đơn đômen dưới tác dụng của điện trường song song với chiều phân cực. Các đômen mà có mômen phân cực cùng chiều với điện trường sẽ lớn dần lên so với những đômen có chiều phân cực ngược lại và khi điện trường đủ lớn sẽ làm quay các đômen phân cực theo hướng điện trường cho tới khi chỉ còn một đơn đômen. Quá trình 

mà phân cực điện tự phát của đômen bị đảo chiều dưới tác dụng của một điện trường gọi là quá trình đảo đômen.Giống như đômen sắt từ, đômen sắt điện cũng được chia thành hai dạng vách 

180o và vách 90o. 

Khi  ta  thay  đổi  điện  trường  ngoài  thì  có  thể  quan  sát  hiện  tượng  điện  trễ  của  vật  liệu  sắt  điện (Hình 1.7). 

- Đầu tiên, chất sắt điện chịu tác dụng của điện trường nhỏ thì đường P(E) thuận nghịch và tuyến tính ứng với đoạn OA. Do điện trường quá nhỏ chưa có thể lật được bất kỳ một đômen nào. 

- Dưới tác dụng của một điện trường lớn hơn, một số đômen ngược chiều với điện trường bị đảo chiều và độ phân cực của mẫu tăng nhanh ứng với đoạn AB cho tới khi tất cả các đômen dễ dàng định hướng theo cùng chiều với điện trường ngoài ứng với đoạn BC. Lúc này mẫu ở trạng thái bão hòa độ phân cực và được cấu tạo bởi một đômen duy nhất. 

- Khi điện trường giảm, độ phân cực sẽ giảm nhưng không trở về không, Khi điện trường bằng không một số đômen vẫn giữ chiều phân cực theo chiều điện trường trước đó và vật liệu tồn tại 

độ phân cực dư Pr. Điểm ngoại suy của đoạn BC cắt trục tung tại PS gọi là độ phân cực bão hòa. 

- Độ phân cực điện dư không bị triệt tiêu cho đến khi điện trường đảo chiều (chiều âm) và đạt đến một giá trị EC nào đó. EC được gọi là cường độ trường kháng điện. Nếu tiếp tục tăng cường 

độ điện trường theo chiều âm thì tất cả các đômen đều phân cực theo chiều điện trường và vật liệu lại ở trạng thái bão hòa (điểm G) nhưng có chiều ngược với chiều bão hòa tại điểm C. Chu trình điện trễ hoàn thành khi ta tăng điện trường theo chiều dương tới điểm bão hòa C. 

Trang 16

Nhiệt độ chuyển pha Curie sắt điện là TC là nhiệt độ giới hạn tại đó vật liệu chuyển từ trạng thái thuận điện sang trạng thái sắt điện. T > TC vật liệu trở thành thuận điện, T < TC vật liệu đó mới 

có tính sắt điện. Nếu tồn tại nhiều pha sắt điện tại các nhiệt độ khác nhau thì chỉ nhiệt độ tại đó vật liệu chuyển từ trạng thái thuận điện sang sắt điện mới được gọi là nhiệt độ chuyển pha Curie. Nguyên nhân của tính sắt điện là do sự méo mạng cả cấu trúc thuận điện vì vậy đối xứng tinh thể của pha sắt điện bao giờ cũng nhỏ hơn đối xứng tinh thể ở pha thuận điện. 

Vật liệu sắt điện thường thì có đỉnh cực đại điện môi sắc nét (Hình 1.8a). Một sắt điện có đáp ứng điện môi trải rộng được gọi là sắt điện chuyển pha nhòe (Diffuse Transition Phase – DTP). Loại sắt điện chuyển pha nhòe mà khi tần số điện trường tăng, đỉnh cực đại điện môi giảm dần 

và dịch chuyển về phía nhiệt độ cao hơn (hiện tượng tán sắc điện môi)22 (Hình 1.8b). 

Hiện tượng chuyển pha nhòe có thể được giải thích là do sự thăng giáng thành phần hoặc do sự tồn tại của các vi vùng có kích thước nano, mỗi vi vùng có một đáp ứng điện môi riêng, sự chồng chập các đáp ứng này tạo nên một đáp ứng có đường chuyển pha trải trên một khoảng nhiệt độ khá rộng. Trên nhiệt độ ứng với cực đại điện môi (Tm) hàng chục độ vẫn còn tồn tại phân cực tự phát 23. 

Trang 17

1.3.1 Cấu trúc của vật liệu BTO

Vật liệu BTO thuộc cấu trúc perovskite ABO3, trong đó cation A (Ba2+) chiếm tại vị trí các đỉnh của hình lập phương, cation B (Ti4+) chiếm vị trí tại tâm của bát diện bao quanh bởi anion oxy (tâm các mặt của hình lập phương). Hình 1.9 minh họa cấu trúc tinh thể perovskite ABO3, với nguyên tố A và B có số phối trí với nguyên tố oxy tương ứng là 12 và 6 5:  

 

 

Hình 1.9- Cấu trúc perovskite của ABO 3

Như vậy, đặc trưng quan trọng của cấu trúc perovskite là tồn tại các bát diện BO6 nội tiếp trong  một ô mạng cơ sở với 6 anion Oxy tại các đỉnh của bát diện và một cation B tại tâm bát diện. Các góc B-O-B bằng 180o và độ dài liên kết B-O bằng nhau theo mọi phương. Bát diện BO6 này ảnh hưởng rất nhiều đến tính chất điện và tính chất từ của vật liệu.  

Goldschmidt 25 đã đưa ra thừa số t để đánh giá sự méo mạng của cấu trúc ABO3 theo công thức sau:  

 t = 1: trường hợp các ion có bán kính lý tưởng (cấu trúc perovskite lập phương lý tưởng). 

Trang 18

 t<0.75: cấu trúc bị phá hủy 

 0.96 < t < 1: cấu trúc hình thoi. 

 0.76 < t < 0.96: cấu trúc trực giao với góc liên kết B-O-B bị uốn và lệch 1800. 

Một hiện tượng lý thú của cấu trúc tinh thể perovskite đó là cấu trúc mạng tinh thể có thể chuyển dần từ méo mạng sang lập phương lý tưởng khi nhiệt độ biến đổi từ nhiệt độ phòng lên nhiệt độ cao hơn 26. 

Khi cấu trúc mạng tinh thể bị méo mạng, cấu trúc tinh thể có thể thay đổi từ dạng lập phương sang dạng khác như hệ trực giao, trực thoi nên các góc B-O-B không bằng 180o và độ dài liên kết B-O không bằng nhau.  

 

1.3.2 Tính chất điện của BTO

Tính sắt điện gắn liền với sự méo dạng của đa diện sắp xếp bởi các cation A, và cation B. BTO là một đại diện cho các dạng méo mạng của pha cấu trúc perovskite. Khi nhiệt độ thay đổi so với nhiệt độ Curie Tc, mạng tinh thể lập phương BTO phương bị méo theo trình tự tăng dần sau đây: mặt thoi, trực thoi, tứ giác, lập phương27(Bảng 1.1). Tất cả các chất đều có các cấu trúc mà trong 

đó có một cation (ví dụ Ti4+ trong BTO) có thể chuyển dịch (khoảng 0,1Å) trong vòng phối trí anion của mình, chính sự chuyển dịch làm phát sinh ra lưỡng cực điện và do đó hằng số điện môi 

có giá trị lớn (Hình 1.10). 

 

 

Hình 1.10–Đồ thị biểu diễn sự biến đổi cấu trúc của BTO theo nhiệt độ. 

Bảng 1.1- Sự biến đổi cấu trúc của BTO theo nhiệt độ

Từ 0C-90C  Cấu  trúc  trực  thoithuộc 

nhóm đối xứng Amm2 

Độ phân cực tự phát được hình thành theo hướng [110]. 

<-90C  Cấu trúc mặt thoi với nhóm 

đối xứng R3m 

Độ phân cực tự phát được hình thành theo hướng [111]. 

Trang 19

Hình 1.11- Sự dịch chuyển của ion Ti 4+ trong bát diện TiO 6

Do  vậy,  ion  Ti4+  cần  có  phân  lớp  d  trống  bởi  vì  tính  sắt  điện  có  được  là  do  sự  nhảy  của  các electron giữa hai phân lớp 3d và 2p của ion Ti4+ và O2-. Thông thường, quá trình này xảy ra thì sẽ loại trừ sự xuất hiện của mạng mômen từ vì để có tính chất từ cần phải có điện tử điền vào phần lớp 3d của ion kim loại chuyển tiếp28. Thực tế, tất cả các perovskite sắt điện đều chứa kim loại chuyển tiếp với phân lớp d trống như Ti4+, Ta5+, W6+. Tính sắt điện được hình thành do sự dịch chuyển lệch ra khỏi vị trí trung tâm của ion kim loại (Ti4+) hình thành các liên kết cộng hóa trị với một hoặc ba nguyên tử oxy sử dụng các phân lớp d trống chung 29. 

 

1.3.3 Tính chất từ của BTO

Mô hình tương tác trao đổi gián tiếp (tương tác siêu trao đổi) được giải thích cho tính chất phản sắt từ của vật liệu BTO30. Sự tương tác trao đổi gián tiếp của Ti 4+  - O 2-  - Ti 4+ thể hiện trên hình 1.12.Các ion Ti4+ bị ngăn cách bởi các ion oxy do ion oxy ( 2

01.32

O

r   A ) có bán kính lớn. Các điện tử vành ngoài cùng của oxy gồm các spin đối song phù hợp với nguyên lý Pauli, oxy cần thêm 2 điện tử để điền đầy lớp 2p4 nên sẽ liên kết với điện tử của hai ion Ti gần nhất. Khi hai ion 

Ti4+ xa nhau, hàm sóng hầu như không phủ nhau, vì vậy định hướng các spin là tự do, trạng thái 

đó tương ứng với trạng thái thuận từ. Tuy nhiên, khi ion Ti4+ liên kết với oxy khoảng cách gần, hàm sóng của chúng phủ nhau hoàn toàn, vì vậy spin của oxy và Ti phải đối song. Tương tự, ion 

Ti4+ thứ hai cũng liên kết với oxy theo cách như vậy. Kết quả là spin của 2 ion Ti đối song nhau thông qua tương tác với ion oxy tạo thành trạng thái phản sắt từ với phân mạng từ. 

 

Trang 21

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP VÀ KHẢO SÁT CẤU TRÚC, TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU

 

2.1 Phương pháp tổng hợp vật liệu

Vật liệu multiferroics được chế tạo bằng nhiều phương pháp khác nhau bao gồm cả phương pháp hoá  học  và  phương  pháp  vật  lý:  phương  pháp  đồng  kết  tủa,  phương  pháp  phun  nung,  phương pháp  sol-gel,  phương  pháp  thủy  nhiệt,  …  Tùy  theo  điều  kiện  và  mục  đích  nghiên  cứu  mà  mỗi nhóm  nghiên  cứu  sẽ  chọn  phương  pháp  chế  tạo  vật  liệu  cụ  thể.  Ở  đây  chúng  tôi  chọn  phương pháp phản ứng pha rắn để tổng hợp vật liệu gốm. 

Quy trình chế tạo mẫu theo phương pháp phản ứng pha rắn được minh họa bằng sơ đồ hình 2.1.  

 

Hình 2.1 - Quy trình công nghệ chế tạo vật liệu

 Giai đoạn chuẩn bị phối liệu: nguyên liệu ở dạng tự nhiên hoặc được phối liệu tính toán 

từ nguyên liệu ban đầu (đi từ các ôxit,  hiđroxyt,  hoặc các muối vô cơ )  sao cho đạt tỷ lệ hợp thức của sản phẩm muốn điều chế. 

 Giai đoạn nghiền, trộn: nghiền mịn nguyên liệu để tăng diện tích tiếp xúc giữa các chất 

phản ứng, khuyếch tán đồng đều các chất trong hỗn hợp và giảm kích thước hạt bột.  

*  Cối  nghiền:  được  làm  bằng  sứ,  mặt  trong  được  phủ  một  lớp  Al2O3  bảo  vệ,  mặt  ngoài  tráng men. Cối được thiết kế có dạng bầu. Thành cối khá dày và chắc chắn để chịu được áp lực quay 

và áp suất do khí sinh ra trong quá trình nghiền. Nắp cối được đậy kín vào cối nhờ ron cao su chịu được sự ăn mòn bởi các chất nghiền.  

* Bi nghiền: được làm bằng Al2O3, rất cứng và chịu được ăn mòn cao. Gồm có 2 cỡ bi: bi lớn đường kính 1.9cm có tác dụng đánh vỡ các hạt bột lớn và bi nhỏ có đường kính 6mm có tác dụng nghiền nhỏ bột. Khi nghiền, các viên bi lớn sẽ chuyển động, quay, ma sát với thành cối và với nhau; khi đó bi nhỏ chuyển động giữa khe bi lớn tạo nên tác dụng nghiền rất cao. 

Khi nghiền ta có thể cho một lượng ít dung môi vào cho dễ nghiền 31. Phải chọn loại dung môi nào để trong quá trình nghiền dễ thoát ra khỏi phối liệu (có thể dùng nước, aceton…). Sử dụng trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiền hành tinh (Hình 2.2) (Planetary Ball Mills): các bi nghiền chuyển động theo một quỹ đạo phức tạp do vừa chịu tác dụng quay của cối nghiền, vừa chịu tác dụng quay của đĩa đệm. Phương pháp này chỉ dùng để nghiền một lượng bột nhỏ trong phòng thí nghiệm. 

Trang 22

Hình 2.2 - Phương pháp nghiền kiểu hành tinh

 Giai đoạn Sấy, rây:

Mục đích của quá trình sấy là loại bỏ nước hoặc dung môi sao cho bột khô nhanh nhất mà không làm biến dạng hay nứt vỡ sản phẩm. Khi sấy hơi ẩm sẽ thoát ra, nếu thoát ra đột ngột thì phần nước ở trên bề mặt hay sát bề mặt dễ dàng thoát ra, nhưng hơi ẩm bên trong lòng sản phẩm thoát 

ra khó hơn, do đó áp suất riêng phần của nó ở những vị trí nước tập trung sẽ tăng đột ngột. Nếu 

áp suất đó vượt quá lực liên kết của các hạt sẽ gây hiện tượng nổ sản phẩm ngay lúc sấy  (hay nung). 

Quá  trình  sấy  tuy  chưa  khử  hết  nước  hoàn  toàn  trong  sản  phẩm  nhưng  sản  phẩm  đã  có  một cường độ nhất định, giúp nó không biến dạng trong khi nung. 

 

 Giai đoạn ép viên: nhằm tăng độ tiếp xúc giữa các chất phản ứng. Kích thước và độ dày 

của viên mẫu tùy thuộc vào khuôn và mức độ dẫn nhiệt của phối liệu. Khuôn ép bằng thép hoặc các hợp kim đặc biệt có độ bền cơ cao. Trước khi ép, bột được trộn chung với một chất kết dính hữu cơ rồi cho vào khuôn. Lực ép có thể lên đến 400 MPa. 

Do ma sát giữa các hạt bột với thành khuôn ép và giữa chúng với nhau nên mật độ của sản phẩm sau khi ép là không đồng đều, đặc biệt là ở các góc, cạnh. Với mật độ không đồng đều thì khi nung ta sẽ nhận được sản phẩm sau cùng có độ co rút không đồng đều. Khi ép, ngoài lực ma sát giữa các hạt vật liệu với nhau, lực ma sát giữa vật liệu và khuôn ép ảnh hưởng đến lực ép, thì lượng không khí lẫn trong mẫu ép cũng làm cho mẫu ép không đồng nhất, thậm chí tạo lỗ bọng trong mẫu ép. 

Để làm lực ép lên mẫu đồng đều hơn, người ta dùng phương pháp ép hai cấp. Cấp đầu tiên ép chậm với áp suất nhỏ để loại bớt không khí ra ngoài, sau đó mới ép ở áp lực cao dần. 

Ảnh  hưởng  của  quá  trình  tạo  hình:  Dù  tạo  hình  bằng  phương  pháp  nào  sản  phẩm  lúc  mới  tạo hình cũng đòi hỏi phải đạt yêu cầu về hình dáng, kích thước mật độ đồng đều, không cong vênh, rạn nứt, có vết xước hay rỗ mặt. Ngoài nguyên nhân khách quan do cơ cấu máy móc thiết bị, các  khuyết tật này còn có nguyên nhân là do phối liệu gây ra (độ ẩm không đồng đều). Các khuyết tật này ảnh hưởng rất lớn đến tính chất sản phẩm, thậm chí xếp vào phế liệu và như vậy khâu tạo hình không đạt năng suất cao.   

 

 Giai đoạn nung: thực hiện phản ứng giữa các pha rắn, là công đoạn được xem là quan 

trọng nhất. Phản ứng giữa các pha rắn không thể thực hiện hoàn toàn, nghĩa là sản phẩm vẫn còn 

Trang 23

có mặt  chất ban đầu chưa phản ứng hết nên thường phải tiến hành nghiền trộn lại  rồi ép viên, nung lại lần hai. Đôi lúc còn phải tiến hành nung vài lần như vậy. 

Nung là toàn bộ quá trình gia nhiệt sản phẩm gốm sứ với chế độ thích hợp: từ nhiệt độ thường cho đến nhiệt độ cao nhất và sau đó làm nguội trong môi trường nung cần thiết. Nhờ đó, vật  liệu trở nên rắn chắc, không bị biến dạng và có những tính chất cần thiết khác phù hợp  yêu cầu sử dụng. 

Khi nung có thể xảy ra các hiện tượng chính dưới đây: 

-  Biến đổi thể tích kèm theo mất nước liên kết lý học. 

-  Biến đổi thành phần khoáng bao gồm mất nước liên kết hóa học, biến đổi cấu trúc tinh thể khoáng cũ (kể cả biến đổi dạng thù hình). 

-  Các cấu tử phản ứng với nhau để tạo ra pha mới. 

-  Hiện tượng kết khối: là quá trình sít đặc và rắn chắc lại của các phần tử khoáng vật (sản phẩm) dạng bột tơi dưới tác dụng của nhiệt độ hay áp suất, hoặc tác dụng đồng thời của cả hai yếu tố đó (Hình 2.3). Vật thể đã kết khối có cường độ cơ học cao, độ xốp thấp và khả năng hút nước nhỏ, mật độ hay khối lượng thể tích sẽ lớn nhất. 

 

Hình 2.3 - Hiện tượng kết khối

Cho đến nay, phương pháp phản ứng pha rắn vẫn là phương pháp thông dụng nhất được sử dụng 

để chế tạo vật liệu đa pha sắt. Đây là phương pháp với quy trình chế tạo đơn giản, ít tốn kém, không đòi hỏi nhiều thiết bị quá đắt tiền, dễ thực hiện và phù hợp với điều kiện của phòng thí nghiệm. Các mẫu được chế tạo tại Bộ môn Vật liệu từ và y sinh, Khoa Khoa học vật liệu, Trường Đại  học  Khoa  học  Tự  nhiên,  Đại  học  Quốc  gia  TP.HCM,  cùng  với  sự  hỗ  trợ  về  thiết  bị  thí nghiệm (máy nghiền bi ceramic Italy, lò nungLinn 1800, máy ép thủy lực, lò sấy,…) của phòng thí  nghiệm  Vật  liệu  kỹ  thuật  cao,  Trường  Đại  học  Khoa  học  Tự  nhiên,  Đại  học  Quốc  gia TP.HCM. Để khắc phục nhược điểm về sự kém đồng nhất của mẫu, sự hình thành những pha đặc trưng không xuất hiện pha thứ ba cần chọn các chế độ nghiền, trộn, ép, nung và ủ với những thời gian thích hợp. Sau khi trải qua nhiều thí nghiệm đã chọn được chế độ thích hợp để chế tạo được các mẫu đơn pha phục vụ cho quá trình nghiên cứu. 

Cơ sở của phương pháp này chính là quá trình xâm nhập của các nguyên tử chất rắn khác loại vào lẫn nhau, quá trình này được  gọi là quá trình khuếch tán. Quá trình khuếch tán này xảy ra mạnh trong vật rắn khi nung chúng ở nhiệt độ cao cỡ bằng 2/3 so với nhiệt độ nóng chảy. Nếu trạng thái ban đầu của hỗn hợp vật rắn bất đồng về mặt thành phần hóa học thì quá trình khuếch tán sẽ làm cho chúng trở nên đồng nhất hơn. Trong quá trình khuếch tán, các nguyên tử tương tác với nhau và giữa chúng hình thành những liên kết hóa học mới, điều này có nghĩa là có thể có chất mới được tạo thành. Do đó, quá trình khuếch tán không những làm thay đổi về mức độ đồng nhất của vật liệu mà còn làm thay đổi cả công thức hóa học của chúng. Vì vậy, phương pháp này còn được gọi là phương pháp phản ứng pha rắn. 

Trang 24

2.2 Phương pháp phân tích vật liệu

 Phép đo nhiễu xạ tia X (X-ray Diffraction - XRD): được phân tích với máy nhiễu xạ tia X (D8 Advance X-ray diffraction), Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Số 01 

Mạc Đĩnh Chi, Tp.HCM. 

 Phương  pháp  phổ  hồng  ngoại  (Fourier  transform  infrared  spectroscopy  -  FTIR):  được phân  tích  trên  máy  FTIR-EQUINOX  55  tại  phòng  thí  nghiệm  Vật  liệu  kỹthuật  Cao, Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên 

 Kính hiển vi điện tử quét phát xạ trường (Field Emission Scanning Electron Microscopy – FESEM): phân tích hình thái học bằng thiết bị Hitachi, S-4800 tại khu công nghệ cao (Hi-tech Park), Quận 9, TP.HCM. 

 Phương pháp từ kế mẫu rung (Vibrating Sample Magnetometer-VSM): phân tích từ tính bằng máy MicroSense VSM, tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Số 01 Mạc Đĩnh Chi, TP.HCM. 

 Xác định giá trị hằng số điện môi sử dụng hệ đo RLC Hioki 3532 với tần số thay đổi 1  500kHz ở nhiệt độ phòng. 

Trang 25

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

 

Mục đích của đề tài là tạo ra vật liệu multiferroic xBTO– (1-x)CFO có cấu trúc pha sắt điện BTO trội  hơn  pha  sắt  từ  CFO  nhằm  phục  vụ  cho  ứng  dụng  sử  dụng  điện  trường  để  điều  khiển  từ trường. Ngoài ra vật liệu còn thể hiện tính chất từ và tính chất điện tốt. 

 

Đề tài khảo sát sự ảnh hưởng của phương pháp chế tạo đến tính chất cấu trúc và từ tính của vật liệu. 

- Quy trình 1(nung 1 lần): mẫu hợp chất xBTO– (1-x)CFO được chế tạo từ tiền chất bột đơn chất 

BTO, CFO sấy ở nhiệt độ 80 o C và nung thiêu kết ở nhiệt độ 1200oC. 

-  Quy  trình  2  (nung  2  lần):  mẫu  hợp  chất  xBTO–  (1-x)CFO  được  chế  tạo  từ  tiền  chất  bột  đơn 

chất BTO, CFO nung lần 1 ở nhiệt độ 1100 o C và nung thiêu kết ở nhiệt độ 1200oC. 

-  Quy  trình  3  (nung  2  lần):  mẫu  hợp  chất  xBTO–  (1-x)CFO  được  chế  tạo  từ  tiền  chất  bột  đơn 

chất BTO, CFOép khối,nung lần 1 ở nhiệt độ 1100 o C, sau đó nghiền thành bột và nung thiêu 

Titanium oxide

Cobalt sesquioxide

Ferric sesquioxide

Sodium chloride Công thức

Hãng sản xuất Acros-Mỹ  Acros-Mỹ  Trung Quốc  Sigma-Aldrich  Merck 

Độ tinh khiết (%) BaO (90%) 

Trang 26

Hình 3.1- Dụng cụ và thiết bị thí nghiệm chế tạo vật liệu xBTO – (1-x)CFO

a) Dụng cụ thí nghiệm b) Thiết bị thí nghiệm

Nguyên  liệu ban đầu được cân theo các thành phần hợp thức hoá học xBTO – (1-Bước 2: Nghiền, trộn 

 Hỗn hợp bột được cho vào cối cùng bi nghiền, nước (dung môi bay hơi)  với thời gian  thích  hợp.  Cần  đảm  bảo  khối  lượng  của  bột  và  bi  nghiền  trong  cối  tương đương nhau để giúp máy cân bằng. 

Bước 4: Ép viên 

 Sau khi nghiền trộn hỗn hợp bột được sấy khô, rây và ép thành khối trong khuôn có đường kính 1.3 cm, với lực ép khoảng 400 kg/cm2. 

 Sản  phẩm  tạo  thành  khi  ép  định  hình  tốt,  độ  cứng  cơ  học  tương  đối  cao,  bề  mặt tương đối láng mịn. 

Trang 27

Bước 5: Nung 

Quá trình nung thường được chia làm 3 giai đoạn là tăng nhiệt, ủ nhiệt và giảm nhiệt.Tùy vào mục đích của nghiên cứu mà chọn chu trình nung với thời gian nung khác nhau. 

 

3.2 Chế tạo vật liệu (1-x)BTO – xCFO theo quy trình 1 (nung 1 lần)

Chúng tôi tổng hợp vật liệu khối xBTO – (1-x)CFO(x = 1, 0.5, 0) từ tiền chất bột BTO và CFO theo quy trình chế tạo hình 3.2. 

 Vật liệu bột CFO được tổng hợp từ những ôxit Co2O3, Fe2O3 và muối NaCl theo phương trình phản ứng sau: 2Co2O3 + 4Fe2O3 4CoFe2O4 + O2. Mẫu bột CFO được nghiên cứu tính chất đơn lẻ bằng cách tạo hình và kết khối ở nhiệt độ 1200oC. 

 Vật  liệu  hợp  chất  0.5BTO-0.5CFO  được  tổng  hợp  từ  hai  loại  bột  đơn  chất  BTO  và CFOsấy ở 80oC  chưa qua kết khối với tỉ lệ pha trộn thích hợp được định hình và nung thiêu kết ở 1200oC với thời gian ủ 2 giờ.  

Trang 28

3.2.1 Khảo sát cấu trúc vật liệu

Giản đồ nhiễu xạ tia X của các mẫu bột đơn chất BTO và CFO được chế tạo theo quy trình 1với nhiệt độ nung thiêu kết 1200oC ủ trong 2 giờ được trình bày trên hình 3.3 thể hiện những đỉnh nhiễu xạ đặc trưng của tinh thể cấu trúc perovskite BTO và cấu trúc spinel CFO. Trong đó cấu trúc perovskite BTOvới sự hiện diện của các đỉnh tại vị trí các góc 2θ là 22.19o, 31.58o, 38.93o, 45.32o,  50.99o,  56.21o  tương  ứng  với  các  mặt  mạng  (100),  (110),  (111),  (200),  (210),  (211), (220), (211). Cấu trúc spinel CFO được thể hiện thông qua các đỉnh đặc trưng tại vị trí góc 2θ là 30.07o,  35.5o,  43.18o,  53.77o,  57.13o,  62.71o  tương  ứng  với  các  mặt  mạng  (220),  (311),  (400), (422),  (511),  (440).  Mẫu  hợp  chất  0.5BTO–  0.5CFOthể  hiện  đầy  đủ  những  đỉnh  nhiễu  xạ  đặc trưng của BTO và CFO không có các pha tạp chất trung gian. 

(100)

(100)

(111) (200)

(210) (211)

(220) (311)

(222) (400) (422)

(511) (440)

Ngày đăng: 23/01/2021, 09:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm