1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Đức những năm gần đây

206 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình nghiên cứu về sự phát triển của DNVVN ở các quốc gia có kinh nghiệm thành công trên Thế giới, tác giả luận án đánh giá Cộng Hòa Liên Bang Đức là một trong những nước có k

Trang 1

1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS NGUYỄN THANH ĐỨC

2 PGS.TS ĐẶNG MINH ĐỨC

HÀ NỘI-2020

Trang 3

ii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9

1.1 Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án 9

1.1.1 Nhóm công trình đề cập khuôn khổ lý thuyết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 9

1.1.2 Nhóm công trình đề cập đến vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 13

1.1.3 Nhóm công trình đề cập đến các nhân tố tác động và chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 15

1.1.4 Nhóm công trình đề cập những vấn đề tồn tại của doanh nghiệp vừa và nhỏ 23

1.2 Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài 24

1.2.1 Đóng góp của của các công trình đi trước: 24

1.2.2 Một số vấn đề các công trình trên còn bỏ ngỏ, cần tiếp tục nghiên cứu: 25

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 27

2.1 Lý luận về sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ 27

2.1.1 Lý thuyết của Penrose về sự phát triển doanh nghiệp: 27

2.1.2 Lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp và năng lực động của doanh nghiệp 28

2.1.3 Lý thuyết phát triển theo giai đoạn 30

2.1.4 Chiến lược cạnh tranh phổ quát của Michael Porter: 34

Trang 4

iii

2.2 Một số vấn đề chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ 36

2.2.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ 36

2.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 48

2.2.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 51

2.3 Khái niệm, các tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ 56

2.3.1 Khái niệm về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ 56

2.3.2 Tiêu chí đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 57

2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ 60 2.4 Khung phân tích sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Đức 70

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ ĐỨC NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 72 3.1 Tổng quan tình hình về sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Đức 72

3.1.1 Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức đầu những năm 2000 74

3.1.2 Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới 88

3.1.3 Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức trong những năm gần đây 106 3.2 Đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức 120

3.2.1 Ưu điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức 120

3.2.2 Một số vấn đề tồn tại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức 126

3.3 Những bài học kinh nghiệm từ thực tế phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức 129

CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 137

4.1 Thực trạng phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Việt Nam 137

Trang 5

iv

4.2 Sự tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Đức 147 4.3 Một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam 161 KẾT LUẬN 168 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 171 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 172

Trang 6

v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á

AIIB Asian Infrastructure Investment

ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEM Asia-Europe Meeting Hội nghị thượng đỉnh Á-Âu

BMWi Federal Ministry of Economics

and Technology

Bộ Kinh tế và Công nghệ Liên bang

CMCN Industrial Revolution Cách mạng công nghiệp

CPTPP

Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership

Hiệp định Đối tác Toàn diện

và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

DNVVN Small and Medium-sized

DtA German Equalisation Bank Ngân hàng Đền bù Đức

EC European Commission Ủy ban châu Âu

Eurostat European Statistics Cơ quan Thống kê Châu Âu

EVFTA EU-Vietnam Free Trade

Trang 7

vi

GIZ Deutsche Gesellschaft für

Internationale Zusammenarbeit

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Đức

IFC International Finance Corporation Tổ chức Tài chính quốc tế

ILO International Labour

Organization Tổ chức Lao động Quốc tế KtW Kreditanstalt für Wiederaufbau Ngân hàng Tái thiết Đức

MIGA Multilateral Investment

Guarantee Agency

Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương

OECD Organization for Economic

Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

PCI Provincial Competitiveness Index Chỉ số năng lực cạnh tranh

cấp tỉnh R&D Research and Development Nghiên cứu và Phát triển SBA Small Business Act Đạo luật Doanh nghiệp nhỏ

VCCI Vietnam Chamber of Commerce

and Industry

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

WBG World Bank Group Nhóm Ngân hàng Thế giới WEF World Economic Forum Diễn đàn Kinh tế Thế giới WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

ZIM Zentrales Innovations programm

Mittelstand

Chương trình Đổi mới sáng tạo Trung ương dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 8

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tiêu chí định lượng xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ

và vừa của IFC và MIGA thuộc Nhóm Ngân hàng Thế giới 39

Bảng 2.2 Xác định DNVVN theo tiêu chí định lượng của Liên minh

Bảng 2.5 Đặc điểm của DNVVN so sánh với doanh nghiệp lớn 48

Bảng 2.6 Phân loại Hiệp hội/tổ chức theo các tiêu chí 66 Bảng 4.1 Tiêu chí xác định DNVVN của Việt Nam 2018 139

Bảng 4.2 Thống kê số lượng doanh nghiệp (dựa theo tiêu chí quy

Bảng 4.3 Một số tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Đức 148

Trang 9

viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 2.1 Mô hình phát triển sáu giai đoạn của Greiner 31

Hình 2.2 Tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ theo khu vực (%) 55

Hình 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp

Hình 3.1 Đóng góp của DNVVN trong nền kinh tế Đức (2003) 74

Hình 3.2 Các loại hình DNVVN và tỷ trọng doanh thu DNVVN ở

Hình 3.5 Vai trò của DNVVN ở Đức trong nền kinh tế vĩ mô 87

Hình 3.6 Giá trị xuất khẩu hàng năm và tỷ trọng giá trị xuất khẩu

Hình 3.7 Tỷ trọng các nguồn tài chính DNVVN sử dụng trong hoạt

Hình 3.8 Doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp giải thể và cán

cân doanh nghiệp mới ở Đức từ 2007-2010 94

Hình 3.9

So sánh kết quả thực hiện theo bộ tiêu chí 10 điểm của Đạo luật doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2010/2011 giữa Đức và mức trung bình của EU

Trang 10

ix

Hình 3.12 Vị trí của DNVVN trong nền kinh tế Đức 2010/2011 (đơn

Hình 3.13 Số lượng DNVVN dẫn đầu thế giới ở các quốc gia (2012) 103

Hình 3.14 Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp ở Đức so với mức trung bình

Hình 3.15 Số lượng người tự làm chủ ở Đức từ 2000-2012 105

Hình 3.16 Số lượng lao động trong DNVVN và tỷ lệ lao động của

Hình 3.17 Khởi nghiệp trong các doanh nghiệp sáng chế đột phá 114

Hình 3.18 Tỷ lệ khởi nghiệp theo các ngành nghề ở Đức (2019) 116

Hình 3.19 Sự thay đổi trong cơ cấu ngành của DNVVN từ

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) từ lâu đã được xem là có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển Tại Việt Nam, phát triển DNVVN đã trở thành một trong những

ưu tiên hàng đầu của Chính phủ trong những năm gần đây Theo kết quả “Tổng điều tra kinh tế năm 2017” của Tổng cục Thống kê, cả nước có 507,86 nghìn DVVVN đang hoạt động, tăng 52,1% so với thời điểm 01/01/2012, chiếm khoảng 98,1% tổng số doanh nghiệp cả nước, sử dụng tới khoảng 44,5% lao động xã hội [34] Bên cạnh đó, DNVVN ở Việt Nam cũng đã đóng góp khoảng 40% GDP cho nền kinh tế [15] Có thể thấy rằng, sự đóng góp của khối DNVVN Việt Nam trong nền kinh tế là đáng kể Tuy nhiên, so với tiềm năng thực sự, khối doanh nghiệp này vẫn chưa nhận được sự quan tâm tương xứng

và vẫn còn rất nhiều dư địa cho sự phát triển Xét một cách tổng thế, DNVVN

ở Việt Nam được nhìn nhận là “tuy đông nhưng không mạnh” Nhìn chung, khối doanh nghiệp này năng lực cạnh tranh còn yếu kém, trình độ công nghệ lạc hậu, nguồn nhân lực ít được đào tạo nâng cao, nguồn vốn nhỏ, tỷ lệ tiếp cận vốn ngân hàng của các DNVVN cũng thấp hơn đáng kể so với doanh nghiệp lớn Bên cạnh đó, những khó khăn đến từ chính việc nhận thức về vai trò và vị thế của khối doanh nghiệp này trong nước (sự đối xử bất bình đẳng, ít chính sách ưu đãi), tình trạng thiếu minh bạch và cơ chế quan liêu đang cản trở sự phát triển của các DNVVN

Như vậy, việc xác định đúng vai trò và hiểu đúng về tầm quan trọng của DNVVN trong nền kinh tế là vô cùng quan trọng để có những chính sách hỗ trợ đúng và kịp thời, giúp Việt Nam có thể khai thác được tối đa nguồn nội lực

Trang 12

2

từ trong nước, giúp tạo ra nhiều công ăn việc làm, thúc đẩy kinh tế - xã hội và đóng góp vào tăng trưởng GDP một cách bền vững hơn Vì thế, câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để có thể nâng cao được năng lực cạnh tranh và phát huy được tối đa tiềm năng phát triển của các DNVVN trong nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới? Để trả lời câu hỏi này, cần phải tổng kết được kinh nghiệm thực tiễn phát triển của chính các DNVVN trong nước trong thời gian qua, đồng thời phải nghiên cứu về sự phát triển của các DNVVN từ bài học của những quốc gia thành công trên Thế giới, từ đó mới có thể đúc kết được các kinh nghiệm thiết thực vào thực tiễn Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu về sự phát triển của DNVVN ở các quốc gia

có kinh nghiệm thành công trên Thế giới, tác giả luận án đánh giá Cộng Hòa Liên Bang Đức là một trong những nước có khối DNVVN phát triển, được xem

là có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự phát triển ổn định của nền kinh tế

- xã hội mà Việt Nam hoàn toàn có thể học tập Thứ nhất, các DNVVN ở Đức (hay còn được biết đến với tên gọi chung là Mittelstand) chiếm vị trí lớn trong nền kinh tế với hơn 99% số doanh nghiệp, sử dụng khoảng 60% lực lượng lao động Đây chủ yếu là các công ty gia đình, hoặc sở hữu gia đình trên 50%, thường chuyên sâu vào một loại sản phẩm Thứ hai, các DNVVN được xem là xương sống, đóng góp lớn cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế Đức, chiếm khoảng 52% tổng GDP, tạo việc làm và giải quyết thất nghiệp, giúp tăng cường tính cạnh tranh, năng động của nền kinh tế Bên cạnh đó, môi trường làm việc tại các DNVVN ở Đức cũng được đánh giá cao với sự thoải mái cho nhân viên cùng văn hóa tin tưởng, có tính cam kết cao [100] Thứ ba, Chính phủ Đức cam kết rất lớn với khối DNVVN thông qua rất nhiều công cụ hữu hiệu nhằm đảm bảo quyền lợi của khối doanh nghiệp này, từ các chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, tăng khả năng tiếp cận tín dụng, đến các trợ giúp trong vấn đề trao đổi thương mại, quảng bá sản phẩm tại nước ngoài từ Bộ Kinh tế nói chung

Trang 13

3

Cùng với sự phát triển chung của Liên minh châu Âu, sự lớn mạnh của DNVVN ở Đức luôn phải điều chỉnh sao cho phù hợp với chính sách chung của khối và làm sao có thể tận dụng được tối đa mọi nguồn lực mà Liên minh mang lại, đặc biệt, trước bối cảnh Thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, khối DNVVN ở Đức được dự báo là sẽ chứng kiến một sự thay đổi lớn cả về lượng lẫn về chất, tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức trong việc duy trì sự ổn định và phát triển trong nền kinh tế những năm tới[158]

Như vậy, việc nghiên cứu về sự phát triển của các DNVVN ở Đức là cần thiết và được xem là cơ hội để mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam có thể đúc rút được những bài học kinh nghiệm cả lý luận lẫn thực tiễn; đặc biệt là việc xác định đúng vị trí, đánh giá đúng vai trò cũng như nhìn nhận đúng tiềm năng của DNVVN trong nền kinh tế Việt Nam để từ đó đề xuất được những giải pháp thiết thực trong quá trình triển khai các chương trình, chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN trong nền kinh tế Từ tất cả những lý do nêu trên, tác giả

luận án đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Đức những năm gần đây” để bảo vệ luận án tiến sĩ Kinh

tế quốc tế của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu: hệ thống hóa các vấn đề lý luận về sự phát triển

của DNVVN, phân tích và đánh giá sự phát triển của DNVVN trong nền kinh

tế Đức từ đầu những năm 2000 trở lại đây (trong bối cảnh mà nền kinh tế - xã hội Đức có nhiều biến động) để từ đó chỉ ra những ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại trong quá trình phát triển của khối DNVVN ở Đức cũng như rút ra những bài học quan trọng để từ đó có những khuyến nghị chính sách hữu ích

cho Việt Nam thời gian tới

Trang 14

4

Nhiệm vụ nghiên cứu: luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về sự phát triển của DNVVN nói chung; Thứ hai, phân tích thực trạng sự phát triển của DNVVN trong nền kinh

tế Đức (thông qua phân tích bối cảnh của nền kinh tế trong từng mốc giai đoạn

cụ thể, các nhân tố tác động đến sự phát triển và vai trò của DNVVN trong việc

ổn định và phát triển nền kinh tế Đức); đánh giá ưu điểm và những mặt còn tổn tại, cũng như chỉ ra những bài học kinh nghiệm từ thực tế phát triển các DNVVN trong nền kinh tế Đức;

Thứ ba, so sánh sự phát triển của DNVVN trong nền kinh tế giữa Đức

và Việt Nam, qua đó rút ra những khuyến nghị chính sách hữu ích cho Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu về sự phát triển

của DNVVN trong nền kinh tế Đức và sự phát triển của DNVVN ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi về không gian: luận án tập trung sâu vào phân tích sự phát triển

của các DNVVN trong nền kinh tế của Cộng hòa Liên bang Đức

Phạm vi về thời gian: luận án tập trung phân tích sâu sự phát triển của

DNVVN trong nền kinh tế Đức từ đầu những năm 2000 trở lại đây Cụ thể, luận án phân chia phạm vi về thời gian thành ba mốc quan trọng là (1) giai đoạn đầu những năm 2000 đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, khi mà nền kinh tế Đức phải đối mặt với cuộc khủng hoảng lao động dưới thời cựu Thủ tướng Gerhard Schröder, tình trạng thất nghiệp tăng cao; (2) giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế Thế giới, khi mà Đức là một trong những quốc gia

Trang 15

5

phải chịu ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt kinh tế - xã hội; và (3) giai đoạn những năm gần đây khi mà nền kinh tế Đức quay trở lại quỹ đạo phát triển Song song với đó là sự ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, và Đức là một trong những nước tiên phong trong quá trình đổi mới

Bên cạnh đó, luận án cũng sẽ khái quát bối cảnh sự phát triển của DNVVN trước năm 2000 ở Đức để tạo thành một chỉnh thể xuyên suốt, nhằm nhấn mạnh sự nhất quán về vai trò và tầm quan trọng của khối doanh nghiệp này trong nền kinh tế

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Cách tiếp cận:

Tiếp cận hệ thống: việc phân tích và đánh giá các vấn đề ở đây được đặt

trong một chỉnh thể thống nhất, nghiên cứu đi từ lý luận đến thực tiễn Cụ thể, phân tích hệ thống về các DNVVN xuất phát từ bối cảnh chung đến tình hình vận động và phát triển của các doanh nghiệp đó trong nền kinh tế Các tác động của DNVVN đối với nền kinh tế cũng được xem xét và đánh giá một cách toàn diện, nhiều chiều, cả mặt tích cực và tiêu cực

Tiếp cận liên ngành: sự phát triển của DNVVN được xem xét và phân

tích theo cách tiếp cận liên ngành bao gồm: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

Phương pháp nghiên cứu:

Luận án sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp logic-lịch sử, phân tích-tổng hợp trong quá trình phân tích và đánh giá sự phát triển của DNVVN trong nền kinh tế Đức qua từng mốc giai đoạn

kể trên, cũng như phân tích tốc độ phát triển, tỷ lệ đóng góp của DNVVN trong

Trang 16

6

nền kinh tế quốc dân (về tỷ lệ sử dụng lao động, đóng góp trong GDP, trong giá trị xuất nhập khẩu v.v) Bên cạnh đó, phương pháp so sánh, thống kê, phương pháp phân tích mô tả cũng được luận án áp dụng hiệu quả trong việc

so sánh sự phát triển của DNVVN trong nền kinh tế giữa Việt Nam và Đức và làm nổi bật các vấn đề cần nghiên cứu

Luận án tiếp cận và sử dụng những số liệu từ tài liệu thứ cấp có tính hệ thống và từ các nguồn dữ liệu đáng tin cậy của các cơ quan có uy tín ở trong nước cũng như quốc tế, các tài liệu từ các tổ chức quốc tế như Ủy ban châu Âu (EC), Ngân hàng Thế giới, Bộ Kinh tế và Công nghiệp Đức, Bộ Lao động và

Xã hôi Đức, các thông tin trên sách báo điện tử, các số liệu của các cơ quan hữu quan của một số nước châu Âu Ngoài ra, luận án cũng sử dụng các ấn phẩm trong nước chủ yếu là những số liệu chính thức của các cơ quan có uy tín như Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Viện nghiên cứu châu Âu, Viện quản lý kinh tế trung ương, v.v Luận án cũng sử dụng các sách báo cũng như các tài liệu nghiên cứu của các chuyên gia có tên tuổi trong và ngoài nước

Phương pháp xử lý số liệu của luận án cũng được thực hiện một cách khoa học Các tài liệu được tập hợp, sắp xếp và phân loại theo từng vấn đề nghiên cứu Các tài liệu là tiếng nước ngoài được dịch và trích dẫn rõ ràng Các

số liệu được thống kê và xử lý kỹ càng trước khi xuất thành các bảng biểu, đồ thị, hình vẽ trong luận án

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, luận án đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận về sự phát

triển của các DNVVN Bên cạnh đó, luận án đã chỉ ra những khác biệt về định

Trang 17

7

nghĩa DNVVN giữa các tổ chức, quốc gia cũng như đưa ra quan điểm riêng của luận án về khái niệm DNVVN

Thứ hai, luận án đã chứng minh được vai trò là xương sống nền kinh tế

Đức của khối DNVVN thông qua việc phân tích và đánh giá thực trạng sự phát triển của DNVVN trong nền kinh tế Đức qua từng mốc giai đoạn, đặc biệt là qua những giai đoạn mà nền kinh tế - xã hội gặp khủng hoảng Từ đó, đánh giá được những ưu điểm và mặt hạn chế trong quá trình phát triển DNVVN ở Đức

Thứ ba, luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tế phát triển

DNVVN trong nền kinh tế Đức Luận án đã đưa ra những so sánh về sự phát triển của DNVVN giữa Việt Nam và Đức để từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm hữu ích cho quá trình phát triển DNVVN ở Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

 Ý nghĩa lý luận của luận án:

Luận án đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về sự phát triển của DNVVN trong nền kinh tế, làm rõ định nghĩa về DNVVN vốn còn gây nhiều tranh cãi, chỉ rõ vai trò của các DNVVN và xác định rõ những nhân tố tác động cũng như xây dựng tiêu chí đánh giá sự phát triển của DNVVN trong nền kinh tế quốc gia

 Ý nghĩa thực tiễn của luận án:

Luận án đã đánh giá được thực trạng về sự phát triển của DNVVN ở Đức

từ năm 2000 trở lại đây qua từng mốc giai đoạn Từ đó, phân tích những ưu điểm và mặt hạn chế trong quá trình phát triển DNVVN ở Đức cũng như đúc rút được những bài học kinh nghiệm từ thực tế phát triển các DNVVN trong nền kinh tế Đức

Trang 18

8

Luận án có sự so sánh những mặt tương đồng và khác biệt giữa hai quốc gia Việt Nam và Đức trong quá trình phát triển khối DNVVN của riêng mình Khái quát được quá trình phát triển DNVVN ở Việt Nam từ khi công cuộc “Đổi mới” năm 1986 diễn ra đến nay cũng như đúc rút được những khuyến nghị chính sách hữu ích cho Việt Nam trong quá trình phát triển DNVVN

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, các danh mục hình vẽ, bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án bao gồm bốn chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ Chương 3: Thực trạng sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Đức những năm gần đây

Chương 4: Thực trạng phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Việt Nam và một số khuyến nghị chính sách

Trang 19

9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án

1.1.1 Nhóm công trình đề cập khuôn khổ lý thuyết của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Việc đưa ra một khái niệm chính xác, thống nhất về DNVVN có vai trò quan trọng trong việc xác định rõ đối tượng cần nghiên cứu Mặc dù vậy, tiêu chí để đưa ra một định nghĩa chính xác giữa các quốc gia đôi khi vẫn còn nhiều khác biệt Về lý thuyết, có thể xác định DNVVN dựa trên tiêu chuẩn định tính

và định lượng Tuy vậy, về mặt thực tế, xác định theo tiêu chuẩn định tính là khá khó khăn; vì vậy, các quốc gia thường chọn tiêu chuẩn định lượng để có thể xác định được các DNVVN

Stokes và Wilson (2010) trong cuốn “Entrepreneurship and Small Business Management” cho rằng xét theo các tiêu chuẩn định tính, DNVVN có

các hoạt động và cấu trúc đơn giản hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp lớn, mức độ phức tạp của quản lý không cao cũng như số đầu mối quản lý ít [163] Cũng trong tác phẩm này, các tác giả đã trích lại báo cáo của Bolton (1971) khi chỉ ra ba tiêu chí cơ bản giúp phân biệt DNVVN với doanh nghiệp lớn Theo

đó, DNVVN thường được quản lý bởi chính chủ sở hữu doanh nghiệp và doanh nghiệp có thị phần nhỏ trên thị trường Ngoài ra, DNVVN có tính độc lập cao, cũng như không phải là công ty con hay chịu chi phối bởi các doanh nghiệp lớn

khác [64] Còn tác giả Yon và Evans (2011) trong bài viết “The role of small and medium enterprises in Frontier Capital Markets” đã tổng hợp các yếu tố

định tính giúp phân biệt DNVVN với doanh nghiệp lớn, bao gồm: yếu tố về đặc điểm quản lý doanh nghiệp, bằng cấp của nhân viên, vị trí cạnh tranh của

Trang 20

10

doanh nghiệp trên thị trường, mối quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng, khả năng nghiên cứu và phát triển và khả năng tài chính [184]

Về cách định nghĩa DNVVN dựa trên tiêu chuẩn định lượng, báo cáo

“How Do Economies Define Micro, Small and Medium Enterprises (MSMEs)?” của nhóm tác giả Khrystyna Kushnir, Melina Laura Mirmulstein

và Rita Ramalho năm 2010 thuộc Ngân hàng thế giới đã tổng hợp thông tin từ

120 nền kinh tế về tiêu chí để phân loại doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa Theo đó các tiêu chí định lượng được các nước sử dụng nhiều nhất để phân biệt bao gồm: số lao động sử dụng, tài sản/ doanh thu/ vốn/ đầu tư và ngành công nghiệp mà doanh nghiệp đó hoạt động Mặc dù vậy, giữa các quốc gia và khu vực khác nhau trên thế giới vẫn còn nhiều khác biệt trong việc đưa ra tiêu chí

để phân loại các mức độ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa [128]

Tác giả Buculescu, M với bài viết “Harmonization process in defining small and medium-sized enterprises Argument for a quantitative definition versus a qualitative one” đăng trên tạp chí Theoretical and Applied Economics”

năm 2013 nhận xét rằng việc thống nhất định nghĩa về DNVVN vẫn là một thách thức đối với các thể chế, tổ chức quốc tế Nghiên cứu về định nghĩa DNVVN được ban hành bởi Liên minh châu Âu, Ngân hàng thế giới, OECD hay các định nghĩa được sử dụng ở một số quốc gia khác nhau cho thấy rằng vẫn chưa có một

sự đồng thuận về việc tìm đến một định nghĩa chung Sự không thống nhất về các tiêu chí dùng để phân loại, sự khác biệt về các hoạt động kinh tế và bối cảnh kinh tế của mỗi quốc gia là những yêu tố chính cản trở sự tồn tại của một định nghĩa chung dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ [67]

Báo cáo của OECD xuất bản năm 2001 và được cập nhật vào 2005 cho rằng, quy định phân loại nhóm DNVVN là chưa thống nhất ở nhiều quốc gia và khu vực OECD cũng viện dẫn rằng tại các nước EU, tiêu chuẩn để được nhìn

Trang 21

11

nhận là DNVVN nếu các doanh nghiệp này có dưới 250 nhân viên Tuy vậy, ở một số quốc gia khác lại đặt giới hạn ở mức thấp hơn là dưới 200 nhân viên; trong khi ở Hoa Kỳ coi DNVVN bao gồm các doanh nghiệp có dưới 500 nhân viên Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ nói chung là những doanh nghiệp có ít hơn 50 nhân viên, trong khi các doanh nghiệp siêu nhỏ có nhiều nhất là 10 nhân viên, hoặc trong một số trường hợp là 5 nhân viên Ngoài ra OECD cũng cho rằng doanh thu cũng là một trong những tiêu chỉ dùng để phân loại xem doanh nghiệp đó có thuộc vào nhóm vừa và nhỏ hay không, tương tự như cách phân loại của các nước EU [143] Theo báo cáo của Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat) năm 2011, một doanh nghiệp được xếp vào nhóm vừa và nhỏ ở châu

Âu nếu như doanh nghiệp đó sở hữu dưới 250 lao động và có doanh thu hàng năm đạt bằng hoặc dưới 50 triệu euro Báo cáo cũng phân biệt DNVVN với doanh nghiệp siêu nhỏ khi có dưới 10 lao động và doanh thu từ dưới 2 triệu euro trở xuống, doanh nghiệp lớn khi có từ 250 lao động trở lên và doanh thu đạt trên

50 triệu euro Những tiêu chi này là vô cùng quan trọng khi có thể giúp phân loại các doanh nghiệp với nhau và đặc biệt là sự phân loại này còn ảnh hưởng đến những chính sách hỗ trợ từ EU với đối tượng là các DNVVN trong khối [92] Mặc dù vây, là một quốc gia thuộc EU, nhưng Đức lại có cách phân loại khác với khu vực, cụ thể, theo Nils Dahne thuộc Đại học Khoa học Ứng dụng với báo

cáo “Introducing German Mittelstand”, Doanh nghiệp được xếp vào nhóm nhỏ

và vừa ở Đức hay còn có tên gọi khác là các Mittelstand nếu doanh nghiệp đó có dưới 500 lao động và doanh thu đạt dưới hoặc bằng 50 triệu EUR [142]

Tại Việt Nam, kể từ khi chuyển từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cụm từ doanh nghiệp vừa và nhỏ đã dần được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế Tại Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính Phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, định nghĩa có tính pháp lý về doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được đưa ra Theo đó,

Trang 22

12

“doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” [13] Tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ, định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được quy định cụ thể và chi tiết hơn, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm Theo đó, doanh nghiệp vừa vả nhỏ trong lĩnh vực “Nông, lâm nghiệp và thủy sản” và “Công nghiệp và xây dựng” có tổng nguồn vốn từ 100 tỷ đồng trở xuống và số lao động từ trên 10 người đến

300 người Còn trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp vừa và nhỏ được quy định có tổng nguồn vốn từ 50 tỷ đồng trở xuống và số lao động

đến hoặc dưới 100 người [7]

Gần đây nhất, ngày 11 tháng 03 năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định 56/2009/NĐ-CP trên Theo đó, các tiêu chí để xác định DNVVN là:

“Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy

Trang 23

13

định tại khoản 1, khoản 2 Điều này Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này” [8]

1.1.2 Nhóm công trình đề cập đến vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Báo cáo “SME Promotion and Development in Germany: The Role of Business Membership Organizations” của tác giả Albert Over và Jurgen

Henkel, xuất bản năm 2013 bởi Tổ chức Sequa gGmbH Đức đã đề cập về vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Đức Theo đó, riêng số lượng đã chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp toàn nước Đức, sử dụng khoảng 80% lao động thường xuyên và là đối tượng đóng góp chính cho GDP quốc gia Vì vậy, không quá ngạc nhiên khi Đức trong các chính sách kinh tế của mình đều có rất nhiều chương trình hỗ trợ và biện pháp để thúc đẩy phát triển mạnh khối doanh nghiệp vừa và nhỏ Báo cáo cũng nhấn mạnh vai trò của tổ chức thành viên doanh nghiệp (BMOs) ở Đức khi nó đại diện cho lợi ích của doanh nghiệp vừa và nhỏ trước các cơ quan nhà nước trong việc thúc đẩy khối này phát triển [53]

Trong báo cáo của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 11, tổ chức tại Argentina năm 2017 đã nhấn mạnh vai trò và đóng góp của các DNVVN đối với nền kinh tế quốc dân Tại đa số các quốc gia, các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa chiếm một tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế Dù ở các quốc gia phát triển hay đang phát triển, các doanh nghiệp này cũng chiếm khoảng hai phần ba tỷ lệ lao động toàn xã hội Đặc biệt các quốc gia đang phát triển thì các công ty nhỏ còn có thể là phương tiện quan trọng để giúp hòa nhập xã hội, bao gồm cả việc tạo nhiều cơ hội hơn cho phụ

nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế Mặc dù vậy, báo cáo đưa ra nhận xét

Trang 24

14

rằng tuy chiếm tỷ lệ lao động lớn trong nền kinh tế nhưng đóng góp của khối DNVVN vào GDP vẫn chưa tương xứng, chưa hiệu quả bằng các doanh nghiệp lớn, đạt khoảng 35% tại các nước đang phát triển và 50% tại các nước phát triển Đóng góp của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa vào thương mại quốc tế còn hạn chế và báo cáo cũng dẫn một vài nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp này dễ bị ảnh hưởng hơn bởi các rào cản thương mại so với doanh nghiệp lớn Ngoài ra, báo cáo cũng đưa ra một vài tiêu chí giúp phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ như dựa trên số lượng người lao động tương tự như Liên minh châu Âu [183]

Báo cáo “SMEs are driving economic success Facts and figures about German SMEs” 2017 của Bộ Kinh tế và Năng lượng Đức nhấn mạnh về vai trò

của các DNVVN qua số liệu thống kê cụ thể; đặc biệt trong năm 2017, khi đóng vai trò dẫn dắt nền kinh tế Theo đó, sự phát triển của khối doanh nghiệp này giúp nền kinh tế Đức duy trì được sự phát triển ổn định, đóng góp khoảng 35% tổng doanh thu của các doanh nghiệp Đức và chiếm tới gần 55% trong GDP, giúp tăng xuất khẩu, thúc đẩy chi tiêu trong nghiên cứu và phát triển (R&D)

Tỉ lệ lao động có việc làm tiếp túc tăng cao đạt mức 21,6 điểm năm 2017 so với 12,2 điểm năm 2016 (được đánh giá bởi ngân hàng KfW Đức) [97]

Tại Việt Nam, nghiên cứu về vai trò của các DNVVN cũng được nhiều

học giả đề cập đến Tác phẩm “Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

ở Việt Nam” của Nguyễn Đình Hương xuất bản năm 2002 bởi Nhà Xuất Bản

Chính Trị Quốc Gia đã khẳng định tầm quan trọng của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ trong nền kinh tế và ngày càng gắn bó chặt chẽ với doanh nghiệp lớn,

hỗ trợ, bổ sung, thúc đẩy doanh nghiệp lớn phát triển Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một định nghĩa tương đối toàn diện về doanh nghiệp vừa và nhỏ: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân

Trang 25

15

kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia” [23]

Bài viết “Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa: khái niệm, đặc điểm, hạn chế và lựa chọn chính sách” của tác giả Lương Văn Khôi đăng trên Tạp chí

Kinh tế và Dự báo số 03/2003 đã đề cập về khái niệm DNVVN, đặc điểm, lợi thế tiềm năng cũng như hạn chế của khối doanh nghiệp này Bên cạnh đó, tác giả cũng khẳng định vai trò quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc đóng góp phát triển kinh tế quốc gia [25] Tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh với bài

viết “Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa với tăng trưởng kinh tế Việt Nam”

đăng trên tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới đã khẳng định vai trò và tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tăng trưởng kinh tế Tác giả cũng đề xuất giải pháp nói chung nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu xã hội, góp phần nâng cao chất lượng, năng suất lao động của các doanh nghiệp [33]

1.1.3 Nhóm công trình đề cập đến các nhân tố tác động và chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Bàn về các nhân tố tác động đến sự phát triển của DNVVN có thể thấy rằng đầu tiên, các doanh nghiệp cần có một tiềm lực nội tại tốt, bao gồm các yếu tố: vốn, công nghệ, trình độ nguồn nhân lực, trình độ marketing Tiếp đó, các DNVVN cần phải nhận được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước thông qua các chính sách, cơ chế thông thoáng, môi trường thân thiện để phát triển, và một phần không nhỏ khác là sự hỗ trợ từ phía các hiệp hội DNVVN Trong tất cả các yếu tố trên thì chính sách hỗ trợ của nhà nước được xem là có vai trò quan trong nhất đối với sự phát triển của các DNVVN

Trang 26

là các doanh nghiệp đang trong quá trình khởi nghiệp, ví dụ “Cổng kết nối nguồn vốn”, “Mạng lưới doanh nghiệp châu Âu”, “Cổng kết nối doanh nghiệp châu Âu”, “Kênh hỗ trợ doanh nghiệp quốc tế hóa” [1]

Bài viết “Alternative Approaches in Evaluating the EU SME Policy: Answers to the Question of Impact and Legitimization” của tác giả Robert K

Gruenwald đăng trên tạp chí Entrepreneurial Business and Economics Review tháng 01 năm 2014 với mục tiêu nhằm đánh giá các chính sách hiện hành hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước EU và các giải pháp giúp cải tiến tình hình Nghiên cứu sử dụng các phương pháp đánh giá khác nhau, được áp dụng rộng rãi bởi OECD, EU và các chương trình được tài trợ, cung cấp bởi KfW và Bộ Kinh tế Đức nhằm đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa sự phân bổ và hiệu quả tài trợ trong các chính sách hỗ trợ khối doanh nghiệp vừa

và nhỏ ở EU [107]

Báo cáo của Bộ Kinh tế và Năng lượng Liên bang Đức xuất bản năm

2016 với tiêu đề “Future of the German Mittelstand: Action Programme” trình

bày 10 vấn đề trong chương trình hành động giúp thúc đẩy sự phát triển DNVVN ở Đức trong tương lai; cụ thể bao gồm: (1) Thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, (2) Tăng cường và đảm bảo quyền tiếp cận tài chính của doanh nghiệp,

Trang 27

17

(3) Hỗ trợ giải quyết sự thiếu hụt kỹ năng trong công việc, tăng cường đào tạo tay nghề, (4) Xóa bỏ rào cản thể chế, quan liêu, (5) Sử dụng số hóa, (6) Tăng cường năng lực sáng tạo, (7) Tận dụng cơ hội từ toàn cầu hóa, (8) Giúp định hình chính sách doanh nghiệp vừa và nhỏ ở châu Âu, (9) Tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp còn yếu về mặt cấu trúc, (10) Hỗ trợ phát triển các lĩnh vực kinh doanh mới xuất phát từ quá trình chuyển đổi năng lượng [96]

Báo cáo “The role of small and medium-sized enterprises in development: What can be learned from the German experience?” của tác giả

Hansjörg Herr và Zeynep M Nettekoven, xuất bản năm 2017 tại Berlin nhận định rằng Đức là một hình mẫu lý tưởng trong chính sách hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong đó, sự hỗ trợ thông qua các chính sách của chính phủ như hỗ trợ vay vốn không vì mục đích lợi nhuận, hệ thống dạy nghề tốt, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn; sự hoạt động sôi nổi của các Hiệp hội

và công đoàn…là những yếu tố chính giúp khối doanh nghiệp này phát triển Tất cả những điều này đều là bài học cho các quốc gia đang phát triển có thể học hỏi [110]

Báo cáo “The German Mittelstand – an Overview” của Tổ chức hợp tác

quốc tế Đức (GIZ) xuất bản năm 2012 đã cung cấp một cái nhìn tổng quan, ngắn gọn bức tranh về quá trình phát triển của các Mittelstand – các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nền kinh tế Đức, đặc biệt kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 kết thúc Chính phủ Đức

đã đánh giá cao vai trò của khối doanh nghiệp này trong phát triển kinh tế và

đề xuất những chính sách thiết thực trực tiếp và cụ thể như “chính sách Mittelstand” năm 1970 nhằm tạo ra một hành lang điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp Ngày nay, khi gia nhập Liên minh châu Âu, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức được thực hiện theo “Đạo luật doanh nghiệp

Trang 28

bài viết “Một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển trong nền kinh tế hiện nay” của Tô Thị Thùy Trang – Viện Nghiên cứu Phát triển TP Hồ

Chí Minh trên Tạp chí Nghiên cứu Phát triển đã đề xuất sáu giải pháp chính nhằm giúp khắc phục những khó khăn, vướng mắc và hỗ trợ khối doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển Theo đó, tác giả đề xuất cần có định hướng chiến lược,

cơ chế chính sách phù hợp, đặc biệt là xây dựng hệ thống các tổ chức tài chính nhằm phục vụ cho nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Bên cạnh

đó, tích cực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tận dụng tốt các chính sách

ưu tiên về thuế đang được Nhà nước hỗ trợ; ngoài ra cần nâng cao ý thức về vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động sản xuất kinh doanh [37]

Bài viết “Tác động hỗ trợ chính phủ đến hoạt động cải tiến của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam” của Trần Quang Tuyến và Vũ Văn Hưởng

đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQHGN: Kinh tế và Kinh doanh Tập 34, Số 4 (2018) đã đánh giá tác động hỗ trợ của chính phủ đến hoạt động cải tiến của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam Sử dụng bộ số liệu mảng trong giai đoạn 2007-2015, nghiên cứu chỉ ra rằng hỗ trợ chính phủ có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động cải tiến, đổi mới sản phẩm và ứng dụng công nghệ mới của các doanh nghiệp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hỗ trợ chính phủ duy nhất

Trang 29

19

có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sáng tạo, đổi mới sản phẩm hiện có và đổi mới quy trình đối với các doanh nghiệp chính thức Kết quả hàm ý rằng chính phủ đã đầu tư một cách đáng kể vào việc hỗ trợ hoạt động cải tiến Để các chính sách này thực sự hiệu quả thì cần đi cùng với các chính sách khác nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa chuyển đổi từ hình thức phi chính thức sang chính thức [42]

Bài viết “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Phạm Xuân Giang – Khoa Quản trị kinh doanh – Trường

ĐH Công nghiệp TP.HCM đăng trên Tạp chí Công nghiệp năm 2009 đã chỉ ra những khó khăn từ chính bản thân các DNVVN là chậm đổi mới và cũng từ sự thiếu vắng một khung pháp lý hoàn chỉnh cho sự phát triển của nhóm doanh nghiệp này Qua đó, tác giả đã đưa ra bốn giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ những khó khăn: (1) Liên kết với các cơ sở đào tạo để cung ứng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (2) Các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải nhanh chóng đổi mới công nghệ (3) Giải quyết các khó khăn liên quan đến vốn (4) Trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đủ các thông tin cần thiết [19]

Tác phẩm “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa – kinh nghiệm Việt nam

và Đức” của Hội đồng lý luận Trung Ương, xuất bản năm 2017 bởi Nhà xuất

bản Chính Trị Quốc Gia là tập hợp những bài viết chuyên sâu của các học giả, các nhà quản lý Việt Nam và Đức đề cập sâu rộng những vấn đề xung quanh

sự phát triển của DNVVN như: vai trò, tầm quan trọng của DNVVN trong nền kinh tế, kinh nghiệm phát triển của Việt Nam và Đức; cơ hội và thách thức đối với DNVVN cùng các chủ trương, chính sách của Đảng Cộng Sản Việt nam và Đảng Dân chủ xã hội Đức để hỗ trợ DNVVN phát triển; biện pháp thiết thực

để đổi mới, sáng tạo và phát triển DNVVN trong giai đoạn mới [22]

Trang 30

“Chính sách về doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2001-2005 ở Liên minh châu Âu” đã trình bày một cách tổng thể về chính sách chung của Liên minh

trong giai đoạn 05 năm này Cụ thể mục tiêu nhằm tạo ra khung pháp lý khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động và thích ứng trong bối cảnh cạnh tranh thời điểm hiện tại, bao gồm: (1) Thúc đẩy các hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong định hướng người tiêu dùng và trao đổi mạnh hơn nữa trong lĩnh vực dịch vụ; (2) Khuyến khích một môi trường kinh doanh phát triển bền vững trong đó việc nghiên cứu, sự đổi mới và hoạt động kinh doanh có thể phát huy được hiệu quả cao nhất; (3) Cải thiện môi trường tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; (4) Nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế tri thức và quá trình quốc tế hóa đang diễn ra mạnh mẽ; (5) Đảm bảo cho hệ thống trợ giúp trong kinh doanh và dịch vụ cho doanh nghiệp

được cung cấp và được điều phối một cách có hiệu quả [18] Bài viết “Chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số quốc gia và bài học cho Việt Nam” của Phạm Thái Hà đăng trên Tạp chí tài chính, số 675, 02/2018

đã nghiên cứu về chính sách phát triển nói chung và hỗ trợ tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng của một số quốc gia có nền kinh tế phát triển Qua

đó rút ra bài học và kinh nghiệm cho Việt Nam [20]

Bài viết “Chính sách của EU đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm ứng phó khủng hoảng và suy thoái” của tác giả Đinh Mạnh Tuấn, đăng trên

Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 10 năm 2013 đã tóm lược khái quát những

Trang 31

EU đã có những hỗ trợ cần thiết để đảm bảo khối doanh nghiệp này được ổn định hoạt động; ví dụ như cung cấp các khoản vay ưu đãi khi thị trường tài chính thiếu ổn định; Cung cấp các khoản tài trợ củng cố (mezzanine financing); Cải cách cơ cấu các khoản vay; Giảm bớt những gánh nặng xã hội và hạ tỉ lệ thuế VAT [39]

Bài viết của tác giả Nguyễn Như Đến đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu

Âu số 02/2007 về “Những định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của

EU hiện nay” đã trình bày một cách khái quát về những vấn đề mà EU quan

tâm nhằm định hình khối DNVVN phát triển, trong đó bao gồm mười mục tiêu: (1) Giáo dục và đào tạo về kinh doanh; (2) Hoàn thiện hệ thống pháp luật; (3) Nâng cao đào tạo kỹ năng; (4) Rút ngắn quá trình và hạ chi phí thành lập doanh nghiệp; (5) Đẩy mạnh cách tiếp cận trực tuyến; (6) Nhanh chóng thoát khỏi tình trạng thị trường đơn lẻ; (7) Các vấn đề về thuế và tài chính; (8) Nâng cao khả năng công nghệ cho các DNVVN; (9) Xây dựng mô hình thương mại điện tử

và khuyến khích doanh nghiệp nhỏ mũi nhọn; (10) Phát triển mạnh mẽ và đại diện hiệu quả hơn nữa quyền lợi của doanh nghiệp nhỏ ở cấp Liên minh và quốc gia [17]

Bài viết của tác giả Trần Thị Thu Huyền đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

Châu Âu số 10/2016 với tiêu đề “Các hình thức trợ cấp nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Liên minh châu Âu” đã chia các hình thức trợ cấp của Nhà

nước nói chung thành hai nhóm cơ bản: (1) Các hỗ trợ tài chính cho DNVVN;

Trang 32

22

(2) Các biện pháp hỗ trợ cho sự tăng trưởng và phát triển của các DNVVN Những biện pháp trợ cấp cụ thể này giải quyết những vấn đề khác nhau kết hợp với những Quy định ngoại lệ chung (GBER) tạo nên một khuôn khổ toàn diện cho chính sách trợ cấp Nhà nước của EU hiện nay [24]

Bài viết “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: cơ hội, thách thức đối với khởi sự doanh nghiệp và doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Liên minh châu Âu” của

tác giả Đinh Mạnh Tuấn – Viện Nghiên cứu Châu Âu, đăng trong Hội thảo Khoa học Quốc Gia “Khởi nghiệp và đổi mới trong kinh doanh” tháng 11 năm

2018 đã phân tích về cơ hội của các DNVVN châu Âu trong bối cảnh mới nếu tận dụng được lợi thế của khoa học công nghệ Bên cạnh đó, tác giả cùng đề cập về những chính sách mà EU đã ban hành nhằm tạo điều kiện hỗ trợ, khuyến khích các DNVVN chuyển mình, bao gồm việc chuyển dịch sang nền kinh tế

số, tạo lập tinh thần kinh doanh kỹ thuật số, thu hút nhân lực tài năng và có kỹ năng về công nghệ cao, tạo thuận lợi cho tiếp cận tài chính và tận dụng các cơ hội của thị trường đơn nhất về kỹ thuật số [41]

Bài viết của tác giả Hoàng Xuân Trung, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

châu Âu số 08/2016 về “Trợ cấp nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Pháp, Đức và gợi mở kinh nghiệm cho Việt Nam” đã xem xét quá trình hỗ trợ

từ Nhà nước đối với các DNVVN Trong đó tại Đức, ngoài vấn đề hỗ trợ về vốn, tài chính, Nhà nước còn tạo ra môi trường hành lang pháp lý, những quy định chặt chẽ được quy định cụ thể trong luật Ở Đức có hai cơ quan phụ trách

cơ bản dành cho khối doanh nghiệp này là Ngân hàng Đền bù Đức (DtA) với mục tiêu chung cấp các khoản vốn đầu tư khởi nghiệp cho doanh nghiệp, và Ngân hàng Tái thiết Đức (KtW) chuyên cung cấp các khoản vay vốn cho các doanh nghiệp đang hoạt động Tuy nhiên do hoạt động có sự chồng chéo nên

Trang 33

Âu [28] Đây là hai trong nhiều công trình trình bày rõ nét về chính sách pháp luật và khuôn khổ pháp lý của châu Âu nói chung trong việc hỗ trợ thúc đẩy và phát triển các DNVVN trong Liên minh Mặc dù vậy, đối tượng DNVVN ở Đức lại không được đề cập đến

1.1.4 Nhóm công trình đề cập những vấn đề tồn tại của doanh nghiệp vừa

và nhỏ

Bên cạnh những thuận lợi mà các DNVVN có được, những rào cản mà các DNVVN đang gặp phải cũng được các nghiên cứu chỉ ra như: khả năng tiếp cận nguồn vốn, nguồn nhân lực.v.v Bàn về vấn đề tiếp cận nguồn vốn, bài

viết “Thinking small: EU SME Policy” của tác giả Jean-Marie Avezou năm

2015 đã đề cập về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ của Liên minh châu Âu Theo đó, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước EU nói chung vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tài chính, các cơ hội xâm nhập thị trường, đặc biệt thị trường mới bên ngoài EU; ngoài ra sự quan liêu, cứng nhắc trong việc thực thi chính sách cũng là một trong những rào cản cho khối doanh nghiệp này phát triển Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất các ưu tiên trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, giúp tạo nhiều việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói chung [117]

Trang 34

24

Đề cập về những rào cản liên quan đến nguồn nhân lực, bài viết của Olaf Storbeck trên Financial Times năm 2018 đã chỉ ra một thực tế đáng lo ngại mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức đang phải đối mặt đó là “cuộc khủng hoảng thế hệ” đang âm thầm diễn ra khi mà trong vòng năm năm tới, có hơn 840,000 người chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đức sẽ nghỉ hưu và chưa tìm được thế

hệ kế cận và đây là rào cản rất lớn cho các Mittelstands ở Đức duy trì được sự phát triển [146]

Ngoài ra, tác phẩm “The Challenges of Industry 4.0 for Small and Medium-sized Enterprises” của tác giả Christian Schroder xuất bản bởi

Friedrich-Ebert-Stiftung năm 2016 đã trình bày những khó khăn của các DNVVN ở Đức trong cuộc đua của cách mạng công nghệ 4.0 Theo tác giả, các DNVVN thiếu một chiến lược công nghiệp 4.0 toàn diện so với các công ty lớn Các doanh nghiệp lớn với lợi thế về quy mô, vốn, công nghệ, con người,

có nhiều lợi thế hơn trong việc áp dụng các công nghệ mới Hiện tại, các DNVVN ở Đức mới chỉ dừng ở mức thích nghi với các tiêu chuẩn của các công

ty lớn mà họ cung cấp Và với tốc độ phát triển của khoa học-kỹ thuật như hiện tại, nếu không bắt kịp xu hướng và tích hợp các công nghệ mới, các thành tựu của khoa học hiện đại thì các DNVVN ở Đức sẽ gặp nhiều bất lợi trong việc cạnh tranh với các đối thủ từ bên ngoài [71]

1.2 Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Đóng góp của của các công trình đi trước:

Điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về sự phát triển của DNVVN có thể thấy rằng khái niệm “doanh nghiệp vừa và nhỏ” là khái niệm còn gây nhiều tranh cãi và chưa có được sự đồng nhất trong việc áp dụng chung giữa các quốc gia Tuy có sự khác biệt nhưng các nghiên cứu trên cũng

đã đưa ra được một số định nghĩa khá rõ ràng, cung cấp những tiêu chí đánh

Trang 35

25

giá, phân loại DNVVN với doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng khẳng định vai trò quan trọng của các DNVVN trong phát triển kinh tế ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển Thêm vào đó, các công trình đi trước cũng đề cập đến một số chính sách Nhà nước hỗ trợ các DNVVN, cả về mặt vĩ mô và vi mô

Ngoài ra, các nghiên cứu cũng đồng ý rằng để phát triển DNVVN cần đòi hỏi một chiến lược tổng thể, xuyên suốt, liên quan đến nhiều khía cạnh, trong đó Nhà nước đóng vai trò là người điều tiết, tạo ra một môi trường thuận lợi để khối doanh nghiệp này có thể lớn mạnh Cụ thể, Nhà nước cần duy trì được các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định, lành mạnh, môi trường kinh doanh thuận lợi; đơn giản hóa các khung pháp lý, thủ tục hành chính; đảm bảo cơ sở

hạ tầng; hỗ trợ giáo dục, đào tạo tay nghề cho người lao động với đủ sức khỏe

và kỹ năng; hỗ trợ tín dụng cần thiết và xây dựng được các liên kết thương mại

và đầu tư trong nền kinh tế

1.2.2 Một số vấn đề các công trình trên còn bỏ ngỏ, cần tiếp tục nghiên cứu:

Thứ nhất, trong quá trình rà soát các công trình nghiên cứu đi trước, tác

giả luận án nhận thấy chưa có nhiều công trình hệ thống hóa được đầy đủ các vấn đề từ lý thuyết như khái niệm, phân loại, vai trò đến các nhân tố tác động, tiêu chí đánh giá sự phát triển của các DNVVN Các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung đề cập đến một hoặc vài khía cạnh riêng lẻ của hệ thống lý thuyết Theo đó, đây được xem là nhiệm vụ mà luận án tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện

Thứ hai, các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu phân tích về đối

tượng là khối DNVVN ở châu Âu nói chung, ít công trình nghiên cứu, phân tích và đánh giá về sự phát triển của các DNVVN trong nền kinh tế Đức Những công trình có nghiên cứu thì thường chủ yếu đề cập đến những tác động tích

Trang 36

26

cực, mặt ưu điểm của các DNVVN, còn những khó khăn và thách thức mà các DNVVN đang và sẽ phải đối mặt thì vẫn ít được nhắc tới Ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại trong quá trình phát triển DNVVN ở Đức vẫn chưa được đề cập nhiều

Thứ ba, trong quá trình tìm kiếm tài liệu, tác giả luận án nhận thấy vẫn

còn thiếu những đề tài nghiên cứu riêng giai đoạn từ năm 2000 đến nay về kinh nghiệm phát triển DNVVN ở Đức để từ đó rút ra các bài học thực tiễn cho Việt Nam, như phân tích cụ thể quá trình các DNVVN ở Đức thích nghi với sự thay đổi từ các chính sách chung của Liên minh châu Âu như thế nào; ví dụ việc Liên minh châu Âu liên tục đổi mới và đưa ra các chiến lược như “Chiến lược Lisbon về tăng trường việc làm” năm 2000 hay việc ban hành “Chính sách hiện đại đối với DNVVN” năm 2005, và đặc biệt sự ra đời của “Đạo luật doanh nghiệp nhỏ” năm 2008 trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra Ngoài ra, một loạt những khó khăn trong tương lai mà các DNVVN ở Đức đang phải đối mặt như “cuộc khủng hoảng thế hệ” đang âm thầm diễn ra, các DNVVN ở Đức đang phải tìm kiếm những thế hệ kế cận tiếp nối công việc của doanh nghiệp; hay cuộc đua trong Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ mà nếu không bắt kịp thì các DNVVN ở Đức có nguy cơ bị tụt hậu vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến

Do vậy, nhiệm vụ của Luận án là tiếp tục kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, đồng thời cố gắng nghiên cứu, giải quyết những vấn đề còn bỏ ngỏ

Trang 37

27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH

NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

2.1 Lý luận về sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ

2.1.1 Lý thuyết của Penrose về sự phát triển doanh nghiệp:

Penrose đã tham gia nghiên cứu về sự phát triển của các doanh nghiệp

và đặc biệt tập trung phân tích về nguồn lực tạo ra sự tăng trưởng cũng như các nhân tố cản trở đến sự tăng trưởng thông qua nghiên cứu quá trình sản xuất và cạnh tranh của doanh nghiệp Lý thuyết về sự phát triển doanh nghiệp được tác giả hoàn thành vào năm 1959, trong đó tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa nguồn lực và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tác giả nhận định bản thân các nguồn lực chưa thể được xem là yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh mà tùy thuộc vào từng doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực đó theo những cách thức như thế nào dựa trên kinh nghiệm, trình độ của người lao động, năng lực của quản lý thì các nguồn lực đó mới trở thành nhân

tố giúp doanh nghiệp tăng trưởng [151] Tác giả cho rằng kết quả mà các nguồn lực mang lại thể hiện cách thức và mục đích mà các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực đó như thế nào, và các kết quả đạt được sẽ khác nhau nếu cách thức, mục đích sử dụng các nguồn lực là khác nhau Penrose cũng khẳng định năng lực quản lý có tác động không nhỏ đến sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp Năng lực quản lý là sự đúc kết từ kinh nghiệm, kiến thức của người quản lý và sẽ giúp doanh nghiệp tăng trưởng trong một giai đoạn nhất định Đến một thời điểm nào đó, đội ngũ quản lý cũ sẽ không còn đủ khả năng để duy trì tiếp tục sự phát triển của doanh nghiệp nên sẽ cần bổ sung và thay thế bởi đội ngũ quản lý mới [151] Quan điểm về phát triển doanh nghiệp dựa trên

Trang 38

vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia

2.1.2 Lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp và năng lực động của doanh nghiệp

Để có thể phát triển, doanh nghiệp cần phải tạo ra được lợi thế cạnh tranh trên thị trường và muốn vậy thì phải có những nguồn lực phù hợp để tạo ra sự khác biệt đó Điều này càng đúng hơn với đối tượng là các DNVVN khi mà nguồn lực sẵn có rất hạn chế nên các doanh nghiệp phải tự tìm kiếm và xác định các nguồn lực để có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững cho riêng mình trong một môi trường nhiều biến động

Quan điểm của một số lý thuyết cạnh tranh truyền thống dường như không còn phù hợp khi mà Barney (1991) cho rằng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nếu không được xây dựng dựa trên nền tảng nguồn lực bên trong của doanh nghiệp đó thì sẽ không thể tạo được ưu thế lâu dài vì hoàn toàn có thể bị bắt chước [58] Đây được xem là cơ sở để cho lý thuyết nguồn lực của doanh nghiệp (resource-based view of the firm) ra đời Theo đó, lý thuyết nguồn lực của doanh nghiệp do Wernerfelt đề xuất năm 1984 được xây dựng dựa trên tiền

đề là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực nhưng có những chiến lược kinh doanh khác nhau Và các chiến lược kinh doanh này không thể sao chép vì nó được xây dựng dựa trên đặc tính về nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp ấy [174] Rindova và Fombrun (1999) [156] cho rằng các nguồn lực và

Trang 39

29

năng lực cốt lõi của doanh nghiệp là nhân tố chính giúp doanh nghiệp có thể có được lợi thế cạnh tranh Vì vậy, khi phân tích lợi thế cạnh tranh thì phải dựa vào phân tích nguồn lực Có thể thấy rằng, việc hỗ trợ các nguồn lực phù hợp

và chính sách kịp thời đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển của DNVVN vì các doanh nghiệp này vốn gặp nhiều bất lợi về nguồn lực (vốn, lao động, quy mô…) và luôn cần nhận sự hỗ trợ Lý thuyết nguồn lực cung cấp một cơ chế giúp các doanh nghiệp có thể tìm ra giải pháp phù hợp cho từng hoàn cảnh để vượt qua các trở ngại về sự tăng trưởng, tiếp cận tốt hơn với các nguồn lực như công nghệ, lao động, tài chính, cơ sở hạ tầng và tiếp cận thị trường Theo Barney (1991) [59] và Grant (1991) [106], bốn nguồn lực hữu hình ở đây là nguồn lực tài chính, nguồn lực tổ chức, nguồn lực vật chất và nguồn lực công nghệ và ba nguồn lực vô hình là nguồn nhân lực, nguồn lực đổi mới và sự uy tín/danh tiếng Nếu kết hợp nhuần nhuyễn các nguồn lực này với

sự hỗ trợ kịp thời thì DNVVN sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển trong nền kinh tế

Theo thời gian, lý thuyết nguồn lực cũng được phát triển và được mở rộng trong một môi trường động, nhằm đáp ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Đây là cơ sở để hình thành nên lý thuyết năng lực động (dynamic capabilities theory) Ambrosini và Bowman (2009) cho rằng, lý thuyết năng lực động giúp giải thích được việc làm thế nào mà các doanh nghiệp có thể tạo ra được lợi thế cạnh tranh trong một môi trường có sự biến đổi nhanh chóng Lợi thế cạnh tranh này cũng sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận hơn, giúp doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển [54] Tổng hợp lại, theo Teece và cộng sự (1997), năng lực động được thể hiện ở khả năng tích hợp và xác định những tiềm năng cả bên trong và ngoài của doanh nghiệp để đáp ứng với sự biến động của môi trường [165] Và những nguồn lực để có thể trở thành năng lực động và giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh phải đáp ứng được các

Trang 40

30

tiêu chí: giá trị, hiếm, khó thay thế và khó bị bắt chước [81] Và sáu thành phần chính của năng lực động bao gồm: năng lực nhận thức, năng lực tiếp thu, năng lực thích nghi, năng lực sáng tạo, năng lực kết nối và năng lực tích hợp [65]

Trong khuôn khổ của luận án, lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp và năng lực động của doanh nghiệp sẽ giúp luận án giải thích rằng những nguồn lực và năng lực cốt lõi của DNVVN ở Đức chính là tiền đề giúp khối doanh nghiệp này có thể tạo ra một lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh môi trường trong nước

và quốc tế có nhiều biến động, bên cạnh sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ thông qua các chính sách giúp các doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận tín dụng, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhận lực và tiếp cận các thị trường mới trên phạm vi toàn cầu thông qua vai trò của các Hiệp hội v.v

2.1.3 Lý thuyết phát triển theo giai đoạn

Nhiều học giả đồng tình rằng, vòng đời tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp thường được chia thành nhiều mốc giai đoạn và mỗi giai đoạn lại

có những đặc tính biểu thị khác nhau Mặc dù vậy, các học giả chưa có sự thống nhất trong việc phân chia số giai đoạn trong vòng đời phát triển của doanh nghiệp Trong khi Cooper (1979) cho rằng sự phát triển của doanh nghiệp thường trải qua ba giai đoạn [75] thì Flamholtz (1986) lại cho rằng có thể chia thành bảy giai đoạn [103] Thậm chí Adizes (1989) đề xuất mô hình với 10 giai đoạn phát triển của doanh nghiệp [51] Dường như, không có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về việc xác định chính xác các giai đoạn tăng trưởng

và phát triển của doanh nghiệp Tuy vậy, một trong những công bố nổi tiếng nhất, được nghiên cứu tỉ mỉ và nhắc đến rộng rãi nhất là lý thuyết của Greiner

về “mô hình phát triển sáu giai đoạn” [137]

Mô hình này được ông đề xuất năm 1972 (mới đầu ông chỉ chia thành năm giai đoạn) Quan điểm của ông là các doanh nghiệp luôn vận động và thay

Ngày đăng: 22/01/2021, 23:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w