QUYỂN 1: BÁO CÁO TỔNG KẾTTên đề tài Phân tích khả năng thực hiện các giải pháp thích ứng bền vững trong quản lý rủi ro ngập lụt đô thị tại thành phố Cần Thơ: Cách tiếp cận tổng hợp yếu
Trang 1QUYỂN 1: BÁO CÁO TỔNG KẾT
Tên đề tài
Phân tích khả năng thực hiện các giải pháp thích ứng bền vững trong quản lý rủi ro ngập lụt đô thị tại thành phố Cần Thơ: Cách tiếp cận tổng hợp yếu tố kỹ thuật, kinh tế và xã hội
Trang 2DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU
Hình 3 1 Khung lý thuyết phân tích MOTA 14
Hình 3 2 Sơ đồ các bước để khảo sát và xử lý số liệu khảo sát 18
Hình 3 3.: Địa điểm và số lượng mẫu điều tra 19
Hình 4 1 Sự phổ biến của các thuật ngữ mô tả cách tiếp cận thoát nước bền vững 21
Hình 4 2 Mặt cắt điển hình ô trữ sinh học bố trí ven đường giao thông 25
Hình 4 3 Cách bố trí trên dải cây xanh dọc đường giao thông 25
Hình 4 4 Mặt cắt điển hình ô trữ sinh học 26
Hình 4 5 Ô trữ sinh học bố trí trong dải phân cách của đường giao thông và bãi đậu xe 26
Hình 4 6 Cách bố trí trên dải cây xanh dọc đường giao thông 27
Hình 4 7 Vỉa hè thấm 27
Hình 4 8 Không gian xanh 28
Hình 4 9 Thùng mưa điển hình dùng cho một hộ gia đình 28
Hình 4 10 Thùng mưa điển hình dùng cho một hộ gia đình 29
Hình 4 11 Mô hình chứa nước mưa ngầm trong khuôn viên hộ gia đình, tòa nhà công cộng 29
Hình 4 12 Ao thực vật 30
Hình 4 13 Ao thực vật 30
Hình 4 14 Mặt cắt ngang điển hình của một rãnh thấm 31
Hình 4 15 Hình ảnh minh họa mặt cắt ngang điển hình và bề nặt của rãnh thấm 31
Bảng 5 1 Giới tính, dân tộc, tuổi và quy mô hộ gia đình 35
Bảng 5 2 Độ sâu và thời gian ngập trung bình 40
Biểu đồ 5 1 Độ tuổi người được phỏng vấn 36
Biểu đồ 5 2 Trình độ học vấn người được phỏng vấn 36
Biểu đồ 5 3 Thu nhập hộ theo chuẩn nghèo Việt Nam 37
Biểu đồ 5 4 Số năm kinh nghiệm sống của hộ tại khu vực khảo sát 37
Biểu đồ 5 5.Tình trạng sở hữu nhà của hộ khảo sát 37
Biểu đồ 5 6 Tình trạng nhà ở của hộ khảo sát 38
Biểu đồ 5 7 Nhận định về năm ngập cao nhất từ 2000-2015 38
Biểu đồ 5 8 Nhận định về tình trạng ngập hàng năm 39
Biểu đồ 5 9 Tình trạng ngập hàng năm đối với đường, sân và nhà 39
Biểu đồ 5 10 Nhận định về ảnh hưởng của ngập 40
Biểu đồ 5 11 Mức độ quan tâm theo dõi thông tin liên quan đến ngập 41
Biểu đồ 5 12 Mức độ theo dõi các nguồn thông tin liên quan đến ngập 41
Biểu đồ 5 13 Nhận định về nguyên nhân gây ngập 42
Trang 3Biểu đồ 5 14 Nhận định về ảnh hưởng của công trình đê bao tại An Giang và Đồng Tháp đến
rủi ro ngập lụt tại Cần Thơ 43
Biểu đồ 5 15 Nhận định về hoạt động của hệ thống thoát nước 43
Biểu đồ 5 16 Nhận định về sự thay đổi của ngập so với quá khứ 44
Biểu đồ 5 17 Nhận định về sự thay đổi của ngập trong tương lai 44
Biểu đồ 5 18 Ảnh hưởng của ngập trong tương lai 44
Biểu đồ 5 19 Đánh giá chính quyền đã giải quyết vấn đề ngập trong thời gian qua 45
Biểu đồ 5 20 Nhận định về việc chính quyền sẽ có thể giải quyết triệt để vấn đề ngập lụt hiện tại trong bao nhiêu năm tới 45
Biểu đồ 5 21 Nhận định về loại hình cơ sở hạ tầng mà nhà nước cần ưu tiên đầu tư 46
Biểu đồ 5 22 Nhận thức về tầm quan trọng của các cách tiếp cận thích ứng - giảm thiểu rủi ro ngập 48
Biểu đồ 5 23 Nhận thức về các cách tiếp cận thích ứng – giảm thiểu rủi ỏ ngập 48
Biểu đồ 5 24 Lựa chọn các giải pháp thích ứng cá nhân 49
Biểu đồ 5 25 Lựa chọn các giải pháp thích ứng thực hiện cùng cộng đồng 49
Biểu đồ 5 26 Động lực thực hiện GPBV 51
Biểu đồ 5 27 Khả năng thực hiện GPBV 52
Biểu đồ 5 28 Động lực - Khả năng thực hiện giải pháp thích ứng giảm thiểu rủi ro ngập tại khu vực khảo sát 53
Biểu đồ 5 29 Hỗ trợ cần thiết từ chính quyền để thực hiện giải pháp thích-giảm thiểu rủi ro ngập quy mô hộ gia đình 54
Biểu đồ 5 30 Hỗ trợ cần thiết từ chính quyền để thực hiện giải pháp thích-giảm thiểu rủi ro ngập quy mô cộng đồng 54
Biểu đồ 6 1 Động lực - Khả năng thực hiện giải pháp thích ứng giảm thiểu rủi ro ngập 57
Biểu đồ 6 2 Khả năng thực hiện GPBV 58
Trang 4CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia dễ bị ảnh hưởng nhiều bởi tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và mực nước biển dâng (NBD), cùng với quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng trong những năm gần đây nên gây ra các tác động bất lợi đến sự phát triển kinh tế-xã hội, đời sống sinh hoạt và sức khỏe của người dân Một trong các hệ quả tiêu cực thường xuyên xảy ra chính là ngập lụt đô thị
Thành phố Cần Thơ là khu trung tâm kinh tế lớn nhất của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với hơn 1,25 triệu người Nằm ở phía Tây Nam sông Hậu, thành phố có diện tích khoảng 1.400 km2 Cần Thơ được trở thành đô thị loại 1 từ năm 2009 và được coi là coi là trung tâm quan trọng nhất đối với thương mại, văn hóa, giáo dục và dịch vụ y tế trong Bằng sông Cửu Long Cũng như, các thành phố của Việt Nam, Cần Thơ đã nhanh chóng dưới đô thị hóa trong thập kỷ qua Do đó, thành phố đang phải đối mặt với các vấn đề đô thị điển hình (ví dụ lũ lụt và
ô nhiễm nước) trong suốt quá trình phát triển cũng như những thay đổi trong tương lai Trong nghiên cứu của mình về tác động ảnh hưởng của đô thị hóa với ngập lụt đô thị, Hương và Pathirana (2012) đã chỉ ra rằng trong tương lai thành phố sẽ chịu tác động đáng kể của ngập lụt theo những kịch bản dự đoán khác nhau về mực nước biển dâng và thay đổi khí hậu Bên cạnh
đó, áp lực dân số đông, diện tích xây dựng ngày càng tăng, diện tích thấm tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, các kênh rạch bị lấn chiếm, Tp Cần Thơ đang đối mặt với nguy cơ ngập lụt trầm trọng Hiện nay dưới tác động của BĐKH và quá trình đô thị hóa dẫn đến lượng mưa gia tăng, mực nước tại tuyến cửa ra cũng gia tăng theo thời gian Sự gia tăng lượng mưa và mực nước làm cho
hệ thống thoát nước tại khu vực đô thị của Cần Thơ bị quá tải, dẫn đến tình trạng ngập lụt ngày càng nghiêm trọng hơn
Giống như phần lớn đô thị tại Việt Nam, hệ thống thoát nước Tp Cần Thơ được xây dựng theo cách tiệp cận truyền thống là thoát nhanh, thoát hết về phía nguồn xả Cách tiếp cận này hiện bộc
lộ nhiều yếu điểm khi mà hệ thống không thể đảm nhu cầu thoát nước mưa của đô thị trong trường hợp cực đoan (mưa lớn, triều cường, v.v.), không linh hoạt với những biến động ngày càng khó dự đoán của các tác nhân gây ngập (nước biển dâng, thay đổi nhiệt độ, lượng mưa, xả
lũ thượng nguồn, đô thị hóa nhanh chóng, v.v.) Trong khi đó cách thoát nước truyền thống này hạn chế việc bổ sung nước cho nguồn nước ngầm dẫn đến những ảnh hưởng về lâu dài đến hệ sinh thái thủy văn đô thị
Trang 5Nghiên cứu hiện nay về biến đổi khí hậu và đô thị hóa đang chuyển dần từ phân tích ảnh hưởng (Impacts) sang nhận định khả năng thích ứng (Adaptation) Các khái niệm đô thị phục hồi (Urban Resilience) hay đô thị thích ứng (Adaptived Urban) đang trở thành đối tượng phân tích chủ yếu trong các bài viết nghiên cứu khoa học về phát triển đô thị và quản lý rủi ro ngập lụt trong bối cảnh ảnh hưởng biến đổi khí hậu Trong xu hướng nghiên cứu mới này, phát triển tác động thấp (LID - Low Impact Development) là một quan điểm mới được nhiều nhà khoa học ủng hộ và đưa vào các nghiên cứu thực nghiệm Quan điểm này hướng tới những cách tiếp cận xanh trong quản lý thoát nước đô thị bằng cách tổ chức các công trình xây dựng và sử dụng đất phỏng theo hoạt động thủy văn tự nhiên nhằm giảm bớt dòng nước mưa chảy tràn đang tạo ra không chỉ một sức ép rất lớn đối với các công trình thoát nước đô thị mà còn đối với các vấn đề
về ô nhiễm nguồn nước (Coffman & France, 2002) Các giải pháp theo quan điểm LID hướng mang những đặc tính linh hoạt, khả thi và hiệu quả, có khả năng giải quyết tình trạng ngập úng
và cải thiện ô nhiễm môi trường ở các khu vực đô thị, đặc biệt là đối với người dân địa phương tại khu vực đô thị hóa cao (Ahiablame et al., 2012) Tại nhiều nước trên thế giới, LID đã được áp dụng thành công và các đặc tính ưu thế đã được minh chứng thực nghiệm, tuy nhiên tại Việt Nam đây vẫn là một khái niệm mới trong khi các giải pháp đi kèm với khái niệm này rất ít được biết đến Nhận thức cộng đồng, quản lý, và thiếu kinh nghiệm áp dụng có thể là những trở ngại chính cho việc triển khai thực hiện LID, vì vậy việc phân tích những trở ngại này trong một bối cảnh cụ thể là một bước phân tích cần thiết trước khi các giải pháp theo quan điểm này có thể được lựa chọn áp dụng và chứng minh hiệu quả Thêm vào đó, cách tiếp cận tích hợp - đa ngành (Integrated Aproach), trong đó tập trung phân tích đồng thời các yếu tố kinh tế, kỹ thuật và xã hội cần được thực hiện khi phân tích về khả năng thực hiện của những giải pháp này (Hood et al., 2007)
Với các tồn tại và hiện trạng nêu trên, đề tài nghiên cứu được tiến hành nhằm các mục đích tổng quan về giải pháp thoát nước bền vững cho mục đích giảm rủi ro ngập lụt đô thị dưới ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu và đô thị hóa, trong đó đề tài cách tiếp cận Phát triển tác động thấp – Low impact development (LID) và các giải pháp kỹ thuật của cách tiếp cận này được tập trung nghiên cứu Thông qua trường hợp nghiên cứu tại Tp Cần Thơ, đề tài giới thiệu cách tiếp cận đánh giá khả năng thực hiện các giải pháp kỹ thuật của LID dựa trên cộng đồng và cho một bối cảnh địa phương cụ thể Dựa trên kết quả đánh giá này nghiên cứu hướng đến những đề xuất kiến nghị góp phần nâng cao khả năng thực hiện các giải pháp LID tại Tp Cần Thơ nói riêng cũng như tại các đô thị vùng ĐBSCL nói chung
Trang 62 Đề xuất nâng cao khả năng thực hiện GPBV cho khu vực đô thị Tp Cần Thơ và đưa ra
nhận định chung cho các đô thị vùng ĐBSCL
1.3 Nội dung nghiên cứu
Nhằm giải quyết những mục tiêu trên, những nội dung nghiên cứu sau được triển khai: Nội dung 1: Tổng quan tài liệu về cách tiếp cận thích ứng giảm ngập bền vững và nhận định GPBV có khả năng áp dụng cho khu vực đô thị của Tp Cần Thơ
Nội dung 2: Đánh giá khả năng thực hiện GPBV tại Tp Cần Thơ
Nội dung 3: Đề xuất nâng cao khả năng thực hiện các GPBV tại khu vực đô thị Tp Cần Thơ và đưa ra nhận định cho vùng ĐBSCL
Trang 7CHƯƠNG 2
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Thành phố Cần Thơ (TPCT) tọa lạc tại vị trí trung t âm đồng bằng sông Cửu Long, là đô thị trực thuộc trung ưng của chính phủ Việt Nam TPCT có vị trí địa lý vào khoảng từ 105o20’ đến 105o70’ Kinh độ Đông và từ 9o80’ đến 10o30’ Vĩ độ Bắc Phía Đông Bắc giáp sông Hậu, phía Tây Bắc giáp An Giang, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, và phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang TPCT cách bờ biển Đông Việt Nam khoảng 75km với tổng diện tích tự nhiên là 1,401 km2 chiếm 3.46% tổng diện tích toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long TPCT được chia thành 5 quận gồm: Thốt Nốt, Ô Môn, Bình Thủy, Ninh Kiều, Cái Răng và 4 huyện: Vĩnh Thạnh, Thới Lai, Cờ Đỏ, Phong Điền
Địa hình TPCT bằng phẳng, hơi nghiêng theo các chiều từ Đông Bắc thấp dần xuống Tây Nam và cao từ bờ sông Hậu thấp dần vào nội đồng Cao trình độ mặt đất phổ biến từ trong khoảng 0.8 – 1.0 m so với mực nước biển ở Hòn Dấu Trên địa bàn TPCT có hệ thống sông ngòi và kênh rạch chằng chịt Có bốn loại địa mạo chính Thứ nhất, khu vực dải đất ven sông Hậu được bù đắp phù sa hằng năm nên có hình thế cao hơn trong đồng từ 0.3 – 0.6m đã được
bố trí sản xuất nông nghiệp (trồng lúa và cây ăn trái) Thứ hai, khu vực nội đô có cao trình từ +1.5 đến +2.5m đã được san lấp để xây dựng công trình công cộng, nhà ở, trụ sở, đường giao thông Thứ ba, khu vực đất còn lại của TPCT được sử dụng vào mục đích nông nghiệp với hệ thống các bờ kênh bảo vệ lũ có cao trình +2.0m Thứ tư, đất cù lao (bao gồm 4 cù lao: Tân Lộc, Sơn, Khương, và Âu với diện tích 2,641 ha) đã xây dựng nhà cửa và các vườn cây ăn trái với hệ thống đê bao +2.0m
Đặc điểm khí hậu: TP Cần Thơ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa quanh năm nóng và ẩm Mỗi năm CT chỉ có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 11, các tháng còn lại trong năm là mùa nắng Căn cứ vào nguồn số liệu từ Đài Khí tượng Thủy văn Cần Thơ và Tổng cục Thống kê (2007), lượng mưa cao nhất xảy ra vào tháng 10 và thấp nhất vào tháng 2 Lượng mưa trung bình năm trong khoảng 1978 – 2007 là 1,632.8 mm Nếu xem xét tổng lượng năm ở CT trong các năm gần đây (2000 – 2007) thì có khuynh hướng giảm,
Trang 8tuy nhiên xét xu thế thay đổi tổng lượng mưa năm ở Cần Thơ trong suốt 30 năm qua thì sự thay đổi chưa rõ nét Độ ẩm không khí thay đổi theo diễn biến mưa trong tháng Nhiệt độ trung bình năm của TPCT dao động trong khoảng 26.4 – 27.4oC (1978 – 2007), tháng 4 có nhiệt độ cao nhất và tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất Nhiệt độ trung bình năm ở CT có xu thế tăng trong khoảng 3 thập niên nay
Chế độ thủy văn: Thành phố Cần Thơ nằm dọc 55 km phía tả ngạn sông Hậu, là một phần của hệ thống sông Mekong Mật độ sông rạch TP khá lớn, khoảng 1,8 – 2,0 km/km2 Toàn bộ chế độ thủy văn TPCT chịu chi phối bởi dòng chảy của sông Mekong và bị ảnh hưởng thủy triều biển Đông và một phần mưa tại chỗ Mỗi năm đoạn sông Hậu chuyển một lượng nước lớn hơn 200 tỷ m3/năm (chiếm 41 –49% tổng lượng nước sông Mekong khi đổ ra biển), lượng nước này cũng chuyển tải một khối lượng phù sa chừng 35 triệu m3/năm
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện xã hội:
Tính đến năm 2010, Thành phố Cần Thơ có tổng số 09 đơn vị hành chính, trong đó, có 05 quận Ninh Kiều, Ô Môn, Bình Thủy, Cái Răng và Thốt Nốt và 04 huyện: Vĩnh Thạnh, Cờ
Đỏ, Phong Điền, Thới Lai Thành phố Cần Thơ với nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống Cũng như các khu vực hội nhập đa sắc tộc khác, theo thống kê đến hết năm 2009, thành phần dân tộc chủ đạo ở Thành phố là dân tộc kinh với 1.153.341 người, chiếm 96,96%; dân tộc Hoa kiều chiếm 1,19%; dân tộc Khmer chiếm 1,8% và dân tộc khác chiếm 0,05% Những nhóm dân tộc bị đô thị hóa và tích hợp vào xu hướng đô thị của cuộc sống Tuy nhiên, theo bảng 2.2 tỷ lệ ở mức ngưỡng nghèo và nghèo của các hộ gia đình dân tộc thiểu số là cao hơn
so với hộ gia đình dân tộc Kinh tại thành phố Cần Thơ
Điều kiện dân số và tỷ lệ thành thị hóa:
Mật độ dân số bình quân là 836 người/km2, gấp 2 lần mức trung bình ở ĐBSCL (435 người/km2) và ở mức cao nhất so với các tỉnh trong khu vực Phân bố dân cư tập trung đông
ở 4 Quận và huyện Thốt Nốt, đông nhất là quận Ninh Kiều (7.392 người/km2), huyện Vĩnh Thạnh dân số thưa nhất (379 người/km2) thấp hơn mức trung bình của ĐBSCL - Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm dần từ 1,61% năm 1995 còn 1,15% năm 2000 và năm 2008 tà 1,06% số
di dân cơ học giảm dần đến năm 2003, từ năm 2004 thành phố bắt đầu tiếp nhận dân số cơ học nơi khác đến, trung bình từ 1.500-2.000 người/ năm - Dân số đô thị có xu hướng tăng nhanh, tốc độ trung bình 4,43%/năm trong giai đoạn 1996-2000 do dân nông thôn đổ dồn về
Trang 9thành thị sinh sống, các năm gần đây tốc độ tăng rất nhanh (10,7%/năm), do từ sau 2003, địa bàn của một số huyện được nâng cấp thành quận và đa số dân đều nhập cư vào đô thị Riêng năm 2005, dân số đô thị tăng 58% so với năm 2000, đến năm 2008 dân số đô thị đạt 52,1% tổng dân số - Dân số nông thôn giảm trung bình -0,41%/năm vào các năm 1996-2000, xu thế giảm mạnh trong các năm gần đây (-5,2%/năm) do các huyện có quyết định đô thị hóa, đến năm 2008 dân số nông thôn chỉ bằng 76% so với năm 2000
Lao động và nghề nghiệp:
Tổng số: 864.041 người, trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế: 650.342 người hoạt động và người không lao động là 213.699 người ( học sinh, người thất nghiệp, nội trợ…) Số người làm việc trong ngành chủ yếu: 260.418 người (trong đó Nông nghiệp, lâm nghiệp: 250.545 người và thủy sản: 9.873 người; ngành công nghiệp và dịch vụ lần lượt là 127.593 người (công nghiệp khai thác mỏ: 264 người; công nghiệp chế biến: 83.669 người; sản xuất điện, nước: 4.571 người và xây dựng: 39.089 người) và 262.331 người (thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng: 144.821 người, giao thông vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc: 32.811 người và các ngành khác: 84.699 người)
Điều kiện kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP - giá so sánh 2010) ước đạt 69.514,7 tỷ đồng, tăng 12,05% so với năm 2013, đạt kế hoạch đề ra Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng tăng dần tỷ trọng Khu vực II, III chiếm 92,73%; giảm dần tỷ trọng tỷ trọng Khu vực I chiếm 7,27% trong cơ cấu kinh tế thành phố, đặc biệt chất lượng được nâng lên khi cả ba khu vực đều tăng trưởng so với cùng kỳ Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế đã làm tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao mức sống của người dân thành phố Ước thực hiện GDP bình quân đầu người đạt 70,2 triệu đồng, tăng 7,1 triệu đồng so với năm 2013, đạt kế hoạch
đề ra; quy USD là 3.298 USD, tăng 294 USD so năm 2013
Công nghiệp và xây dựng: Thành phố tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, triển khai các biện pháp hỗ trợ phát triển và giải quyết kịp thời các kiến nghị, đề xuất cho doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất phù hợp trong tình hình hiện nay Kết quả sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 8,4% so với năm
2013 Các khu công nghiệp thu hút thêm 05 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 48 triệu USD, nâng tổng số đến nay các khu công nghiệp có 214 dự án còn hiệu lực, thuê 567,19 ha
Trang 10đất công nghiệp, tổng vốn đầu tư đăng ký 1.919 triệu USD; vốn thực hiện 852,4 triệu USD, chiếm 44,4% tổng vốn đầu tư đăng ký, tổng số lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp là 31.716 lao động, giảm 803 lao động
Nông nghiệp – lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản: Tiếp tục phát triển nhân rộng mô hình cánh đồng lớn, tăng cường sử dụng các giống lúa đặc sản, nâng cao chất lượng và giá trị; hình thành sự liên kết từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và ổn định trong sản xuất Tình hình sản xuất các vụ lúa trong năm đạt khá, diện tích lúa cả năm xuống giống được 232.335 ha, vuợt 6,7% kế hoạch, bằng 98,2% so năm truớc; uớc sản luợng cả năm đạt 1,423 triệu tấn, vượt 13% kế hoạch, tăng 3,9% so năm trước Giám sát chặt chẽ chăn nuôi, thực hiện tiêm phòng thường xuyên, định kỳ, kiểm soát dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm, nên chưa phát hiện dịch bệnh lớn xảy ra Kết quả khảo sát cho thấy rằng không có dịch bệnh ở địa phương Phát triển nuôi thủy sản theo tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm như: GlobalGAP, VietGAP… tăng giá trị hàng hóa, ước cả năm diện tích nuôi thủy sản 13.190
ha, vượt 1,5% kế hoạch, tăng 2,5% so năm trước; tổng sản lượng thủy sản nuôi thu hoạch đạt 193.316 tấn, vượt 4,5% kế hoạch, tăng 6,7% so năm trước
Thương mại - Dịch vụ: Hoạt động nội thương tiếp tục sôi động, bên cạnh các giải pháp, chính sách phù hợp của Chính phủ, thành phố tổ chức nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu giữa nhà sản xuất - nhà phân phối, hội chợ triển lãm, chương trình đưa hàng Việt về vùng ngoại thành… kết hợp với các hình thức khuyến mãi, chiêu thị của doanh nghiệp, hệ thống siêu thị, các cửa hàng tiện ích… khuyến khích tiêu dùng, sức mua phục hồi nhanh vào những tháng cuối năm, tác động thúc đẩy sản xuất, phát triển thị trường, hình thành ngày càng rõ nét là trung tâm phân phối lớn, hướng đến trở thành trung tâm thương mại của vùng ĐBSCL
2.2 Cơ sở hạ tầng và định hướng phát triến đô thị Tp Cần Thơ (2020-2030) 2.2.1 Điều kiện cơ sở hạ tầng:
Hiện trạng hệ thống giao thông:
Hệ thống giao thông đường bộ: Toàn thành phố có 2.762,84km đường, mật độ 2,3km/km2 (nếu không tính đường xã ấp, toàn thành phố có 698,548km đường, mật độ 0,5km/km2); trong đó có 123,715km quốc lộ; 183,85km đường tỉnh; 332,87 km đường huyện; 153,33km đường đô thị; 1.969,075km đường ấp, xã, khu phố Với 3,98% mặt đường bê tông nóng,
Trang 1126,26% nhựa, 27,74% rải đá, 17,44% cấp phối, còn lại là đường đất phần lớn sử dụng cho người đi bộ và xe 2 bánh với quy mô và tải trọng nhỏ Hệ thống giao thông đường sông: Mạng lưới đường thủy trên địa bàn có tổng chiều dài 1.157km, trong đó có khoảng 619km có khả năng vận tải cho loại phương tiện trọng tải từ 30 tấn trở lên (độ sâu trung bình >2,5m) Gồm: 6 tuyến do Trung ương quản lý (sông Hậu, sông Cần Thơ, kênh Cái Sắn, kênh Thị Đội, rạch Ô Môn, kênh Xà No) với tổng chiều dài 132,88km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 100 - 250 tấn hoạt động… Bốn tuyến đường sông do thành phố quản lý là: kênh Thốt Nốt, kênh Bà Đầm, rạch Cầu Nhiếm, rạch Ba Láng với tổng chiều dài 81,45km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 30 - 50 tấn hoạt động Các tuyến đường sông do quận, huyện quản lý gồm 40 tuyến với tổng chiều dài 405,05km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 15 - 60 tấn hoạt động.Giao thông hàng không: Sân bay Cần Thơ là sân bay lớn nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đã chính thức đi vào hoạt động khai thác thương mại các tuyến quốc nội từ ngày 03 tháng 01 năm 2009 và mở các tuyến bay quốc tế vào cuối năm 2010
Hệ thống các công trình phục vụ giao thông: Cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu, khởi công vào tháng 9 năm 2004, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng ngày 24 tháng 4 năm 2010 Ngoài ra,
hệ thống cảng của Cần Thơ đang được nâng cấp, gồm: Cảng Cần Thơ (Cảng Hoàng Diệu) có thể tiếp nhận tàu tàu biển có tải trọng 10.000 - 20.000 DWT; cảng Trà Nóc có 3 kho chứa lớn với dung lượng 40.000 tấn, khối lượng hàng hóa thông qua cảng có thể đạt 200.000 tấn/ năm có thể tiếp nhận tàu 2.500 DWT Cảng Cái Cui là cảng mới được xây dựng có thể phục
vụ cho tàu từ 10.000 - 20.000 DWT, khối lượng hàng hóa thông qua cảng là 4,2 triệu tấn/năm, đã hoàn thành công trình giai đoạn I vào tháng 4 năm 2006; đang triển khai đầu tư giai đoạn II Sau khi thực hiện xong dự án nạo vét và xây dựng hệ thống đê tại cửa biển Quan Chánh Bố, Cảng Cái Cui sẽ là Cảng biển quốc tế tại thành phố Cần Thơ Nhìn chung, hệ thống giao thông và công trình phục vụ giao thông đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội tại thời điểm hiện nay Trong thời gian tới, thành phố sẽ tiếp tục đầu tư phát triển hoàn thiện hơn
Trang 12nước sinh hoạt của các hộ gia đình trong vùng dự án, kết quả khảo sát cho thấy: Nước máy có sẵn trong hầu hết các hộ gia đình ở ba huyện chiếm 87,5%, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước giếng khoan chiếm 10,4% ; tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước giếng đào chiếm 0,6% và tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sông / kênh chiếm 12,8%
Hiện trạng cấp điện
Hiện nay, thành phố Cần Thơ được cấp điện chủ yếu từ nguồn điện lưới quốc gia (qua đường dây 220KV Cai Lậy - Trà Nóc và Cai Lậy - Rạch Giá) và nhà máy nhiệt điện Trà Nóc (tổng công suất 193,5MW) cung cấp điện cho thành phố qua đường dây 110KV và 6 trạm biến áp Ngoài nguồn cung cấp trên, thành phố được Thủ tướng Chính phủ cho phép xây dựng dự án Trung tâm điện lực Ô Môn với tổng công suất cho 4 nhà máy 2.700MW bao gồm: Ô Môn 1: 600MW, Ô Môn 2: 720MW; nhà máy điện FO/khí 660MW và Ô Môn 4: 720MW dự kiến hoàn thành cả 4 nhà máy vào năm 2013 Trong đó, tổ máy số 1 - nhà máy Ô Môn 1 đã đưa vào vận hành vào năm 2009
Thành phố có 1.665 trạm phân phối, tổng dung lượng 282.695 KVA Trạm biên áp là trạm ngoài trời, một sô trạm lắp đặt máy biến áp 3 pha có công suât 100 KVA Ở nông thôn, các trạm biến áp là loại 1 pha nên chỉ phục vụ cho sinh hoạt là chính Hiện nay, tất cả các thị trấn, trung tâm xã/phường đã có điện, tỷ lệ điện khí hóa đạt 98% Điện thương phẩm năm
2008 đạt 247 triệu Kwh, mức điện tiêu dùng cho sinh hoạt dân cư tăng từ 111 (năm 2000) lên 232 Kwh/người/năm Điện năng tiêu thụ chủ yếu cho phát triển công nghiệp và dân sinh (89%), các ngành nông, lâm nghiệp-thủy sản, thương mại, khách sạn, nhà hàng sử dụng khoảng 3,5% tổng điện năng
Hiện trạng thoát nước và xử lý nước thải:
Hệ thống thoát nước của thành phố hiện chỉ tập trung chủ yếu tại các phường trung tâm của quận Ninh Kiều, vừa thoát nước mưa, vừa thoát nước thải sinh hoạt Tổng chiều dài hệ thống thoát nước là 23.509m, đường cống Ø 300-1.200mm và 7.216m các mương xây B=200-00mm Nhìn chung, hệ thống thoát nước trên địa bàn nội thị còn kém và đang xuống cấp, hệ thống thoát nước tại các trung tâm thị trấn không đủ năng lực tải
Hiện trạng xây dựng nhà ở:
Các công trình xây dựng trên địa bàn hầu hết tập trung ở các quận nội thành và trung tâm thị trấn các huyện Các quận nội thành, bó cục xây dựng được hình thành các đô thị chức năng
Trang 13như: Trung tâm chính trị, hành chính; rung tâm thương mại - dịch vụ; Trung tâm văn hóa, thể dục - thể thao, du lịch; Trung tâm công nghiệp Các công trình xây dựng cho khu vực Nhà nước và sản xuất kinh doanh tăng rất nhanh từ 2005 đến nay, đạt tốc độ 18%/năm Xây dựng nhà ở dân cư: Xu hướng chung xây dựng theo hướng kiên cố, sử dụng lâu dài với nhiều kiểu dáng khác nhau Nhà ở đô thị đa phần là nhà kiên cố độc lập, bán kiên cố và khung gỗ lâu bền, xây dựng tự phát không theo một kiểu kiến trúc nhất định, sử dụng để ở và giao dịch Các khu dân cư mới, đang được xây dựng với quy mô nhà kiên cố, dạng nhà ống liên kế, cao 2-3 tầng, chất lượng sử dụng công trình khoảng 25-75 năm Khu vực đô thị còn tồn tại tình trạng nhà ở không đúng qui chuẩn, diện tích nhỏ hẹp, lấn chiếm sông rạch, chung cư, nhà trong hẻm nhỏ còn phổ biến Khu vực nông thôn: nhà ở theo tập quán, thường phân bố ven các kênh, rạch lớn, các trục giao thông đường bộ, phần lớn là nhà bán kiên cố, tường gạch mái tôn, hoặc nhà lá, mật độ xây dựng khoảng 30-50%
2.2.2 Định hướng phát triến đô thị thành phố Cần Thơ giai đoạn 2020-2030
Mục tiêu tổng quát để phát triển thành phố Cần Thơ trở thành thành phố hiện đại, thành phố phát triển với đặc điểm tiêu biểu của khu vực sông và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp vào năm 2020; trở thành trung tâm kinh tế-xã hội, giáo dục và đào tạo, trung tâm khoa học và công nghệ, y tế và trung tâm văn hóa và thể thao của khu vực đồng bằng sông Cửu Long; trở thành đầu mối giao thông quan trọng đối với giao thông liên vùng và vận tải quốc tế; trở thành thành phố trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng và an ninh quốc gia khu vực Đồng Bằng sông Mê Kông và cả nước; trở thành một điểm phát triển, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của khu vực đồng bằng sông Cửu Long Để đạt được các mục tiêu, quan điểm phát triển của thành phố Cần Thơ như sau:
- Cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp công nghệ cao trong giai đoạn đến năm 2020 và định hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp công nghệ cao trong giai đoạn sau năm 2020, hướng tới và tạo ra các tiềm năng phát triển (cơ sở
hạ tầng quan trọng, lĩnh vực then chốt và sản phẩm, công nghệ và nguồn nhân lực) Cơ cấu kinh tế phát triển nhanh chóng, đảm bảo sự ổn định,bền vững, công bằng và tiến bộ xã hội
- Đầu tư cho tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu, chủ yếu là chiều sâu Đầu tư tập trung vào một số lĩnh vực mà thành phố có lợi thế cạnh tranh như: dịch vụ, du lịch, ngành công nghiệp với công nghệ cao; chất lượng cao, sản phẩm nông nghiệp, thủy sản
Trang 14Dự kiến dân số Tp.Cần Thơ đến năm 2020 đạt từ 1,65-1,8 triệu dân, tỷ lệ đô thị hóa 65-70%
Hệ thống đô thị gồm: đô thị trung tâm, các đô thị chức năng và các tiểu đô thị vệ tinh, kết họp thành cơ cấu kinh tế đô thị Thương mại dịch vụ và công nghiệp Tiếp tục đầu tư nâng cấp,
mở rộng đô thị trung tâm Ninh Kiều thành đô thị loại 1, hình thành các khu chức năng: Khu đô thị cảng - công nghiệp Cái Răng; khu đô thị công nghiệp Bình Thủy, khu đô thị công nghệ ô Môn, khu đô thị sinh thái Phong Điền, khu đô thị dịch vụ Thốt Nốt đạt chuẩn đô thị loại 3; Các thị trấn Thạnh Mỹ, Cờ Đỏ, Thới Lai, Phong Điền đạt chuẩn đô thị loại 5, hoàn chỉnh, nâng cấp dần đạt đô thị loại 4 Các chỉ số đô thị hóa đến năm 2020:
- Tỷ lệ đô thị hóa đạt 70%, tương đương số dân: 1,248 triệu người phân bố ở các đô thị Diện tích đất đô thị: 43.143 ha, mật độ dân số trung bình 2.894 người/km2, các quận nôi thị đạt chuẩn đô thị loại 1 (12.000người/km2), các quận ven đạt (2.000 - 3.200 người/km2), các thị trấn (3.000-3.500 người/km2)
- Một số thị tứ: Trường Xuân, sông Hậu, Trường thành, Đông Bình đến 2020 đều có khả năng phát triển thành đô thị loại 5 Các trung tâm xã có khả năng phát triển với qui mô trên
200 hộ/cụm, tương đương dân số 40.000 người
2.3 Tổng quan về rủi ro ngập lụt đô thị tại thành phố Cần Thơ
Rủi ro ngập lụt tại thành phố Cần Thơ có thể chia làm 03 yếu tố chính và các tổ hợp của 3 yếu tố này Đó là, thứ nhất ngập do lũ từ thượng nguồn xuất phát từ sự thay đổi dòng chảy và các hoạt động phát triển từ trên phía thượng lưu Thứ hai ngập do triều cường và/hoặc nước biển dâng (trong các báo cáo kịch bản nước biển dâng trong điều kiện biến đổi khí hậu) Và thứ ba, ngập do diễn biến vũ lượng mưa1 cộng hưởng với tác động của quá trình đô thị hóa làm gia tăng bề mặt chống thấm của đô thị Một rủi ro khác đang được tìm hiểu gần đây là ngập do tình trạng sụt lún đất do bơm nước ngầm
Trong khi vấn đề ngập lụt đô thị tại thành phố Cần Thơ chứa đựng nhiều rủi ro thì hiện trạng tiêu thoát nước của khu vực gặp nhiều thử thách Thử thách thứ nhất về khả năng tải lượng tiêu thoát nước tại thành phố Cần Thơ Dự báo lượng nước thải đô thị và công nghiệp cần
xử lý tại các quận và thị trấn vào năm 2020 là 308.200m3/ngày Trong khi đó, hệ thống thoát nước mưa tại khu đô thị hiện hữu cần duy tu, sửa chữa, thiết kế kỹ thuật các tuyến cống
1 hệ quả biến đổi khí hậu và hiện tượng đảo nhiệt đô thị
Trang 15hư hỏng; thay các mương thóat nước bằng hệ thống ống tròn; Nhu cầu xây dựng mới hệ thống cống trên các khu vực chưa có hệ thống thoát nước; Nạo vét các ao hồ, kênh rạch để tăng khả năng trữ nước tại các khu vực trũng; Nhu cầu tách hệ thống thoát nước thải cùng lúc với duy tu hệ thống thoát nước mưa để tăng khả năng tiêu thoát nước Thử thách thứ hai, các phát triển đô thị tại thành phố Cần Thơ cũng như các khu vực lân cận có sự liên quan mật thiết tới sự phát triển dọc hai bờ sông và kênh rạch Do đó, khả năng chịu tác động ngập lụt của người dân tăng lên Ngoài ra, thực trạng quy hoạch đô thị còn chưa đồng bộ, thiếu không gian trữ nước và vùng ngập nước tự nhiên cho thành phố Thử thách thứ ba, quy hoạch tổng thể đô thị còn chưa đồng loạt, gặp nhiều vấn đề trong di dời và chuyển đổi sinh kế cho người tái định cư
Trang 16CHƯƠNG 3
3.1 Khung lý thuyết phân tích động lực – khả năng (MOTA)
Nghiên cứu áp dụng khung lý thuyết phân tích Mota (Motivation –Ability) được đề xuất bởi (Phi et al., 2015) Khung lý thuyết này được thiết kế nhằm mục đích đánh giá khả năng thành công (tính khả thi) của một kế hoạch ngắn hạn hoặc một chiến lược quy hoạch dài hạn bằng cách phân tích Động lực (ĐL) và Khả năng thực hiện (KN) của các bên liên quan (Stakeholders), trong đó cộng đồng là nhóm được tập trung nghiên cứu
Trong khi những tiếp cận đánh giá khả thi dựa trên phân tích truyền thống (top-down) hoặc dựa trên phân tích Chi phí - Lợi ích (Cost-Benefit Analysis) thường không tính đến những tác động tích lũy của Stakeholders tới quá trình triển khai một kế hoạch thì khung Mota lại nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của những tác động này và vị trí quan trọng của nó trong vai trò quyết định Kết quả tiềm năng (Outcome) của kế hoạch đó
Phương pháp tiếp cận của MOTA được xây dựng dựa trên thuyết nhận thức – hành vi Lý thuyết nhận thức – hành vi được hình thành từ một quá trình lâu dài bởi các nhà tâm lý học với các lý thuyết như Lý thuyết trị liệu thực tế (Glasser- 1965), Lý thuyết học hỏi xã hội (Bandura, 1977; Goldstein, 1984; Scott, 1989; và Sheldon, 1995) Bản chất của thuyết nhận thức - hành vi
là mối quan hệ tác nhân kích thích với nhận thức, phản ứng, và kết quả hành vi Tuy nhiên, xuất phát từ các lý do cần có một phương pháp tiếp cận để quản lý tốt hơn và phát triển từ thuyết nhận thức – hành vi và mô hình hành vi Fogg (Fogg’s behaviour model , 2009), phương pháp tiếp cận “động lực – năng lực” (MOTA: motivation – ability) được xây dựng (Hình 3.1) Dựa trên quan điểm cho rằng mọi cá nhân có liên quan đến quá trình thực hiện một kế hoạch đều đóng vai trò nhất định đến khả năng thành công của kế hoạch trong tương lai, Mota tìm cách mô tả tác động tổng hợp (hay tích lũy) của Stakeholders đối với Outcome Những tác động tổng hợp này có thể được nhìn nhận thông qua Phản ứng (Action) của từng stakeholder đối với Tác nhân (Trigger) mà ở đây có thể được hiểu là một kế hoạch, một chiến lược quy hoạch hay một bối cảnh tổng thể bao gồm nhiều tác nhân
Đi sâu hơn vào phân tích Phán ứng của stakeholder trước Tác nhân, Mota đưa ra khái niệm cho rằng phản ứng của mỗi cá nhân đều có thể được diễn tả qua Động lực (Motivation) và
Trang 17Khả năng (Ability) của cá nhân đó trong mối quan hệ tương quan với Tác nhân Như vậy, nếu trong những cách tiếp cận phân tích truyền thống, tính khả thi của một kế hoạch chỉ được xem xét trong mối quan hệ giữa Tác nhân - Kết quả (Trigger - Outcome) thì khung Mota phân tích xoay quanh mối quan hệ phức hợp giữa Tác nhân - Phản ứng - Kết quả (Trigger - Action - Outcome) Thông qua phân tích phức hợp này, khung Mota giúp tìm ra khoảng cách giữa kết quả dự kiến của kế hoạch (được ngầm giả định bởi các nhà hoạch định chính sách)
và Kết quả tiềm năng được tạo ra bởi tác động tích lũy từ các bên liên quan đến quá trình thực hiện kế hoạch
Theo một cách mô tả đơn gian, dựa trên cách tiếp cận phân tích từ phía cộng đồng khung Mota giúp trả lời các câu hỏi: (1) Liệu một kế hoạch, chương trình, giải pháp quy hoạch có khả năng được thực hiện hay thành công hay không?; (2) Nếu có tiềm năng được thực hiện thì làm sao để tối ưu các lợi ích mà chiến lược, giải pháp đó đề ra?
Tác động Tác động tiềm năng
Hình 3 1 Khung lý thuyết phân tích MOTA, nguồn Phi (2015)
3.1.1 Các yếu tố trong khung lý thuyết MOTA
- Tác nhân (Trigger) dẫn đến sự thích ứng (thay đổi): chỉ xác định nguyên nhân chính yếu gây ra các ảnh hưởng đến cuộc sống người dân trong bối cảnh biến đổi khí hậu và tình trạng ngập Tác nhân sẽ tác động lên nhận thức (perception) của đối tượng bị ảnh hưởng bởi nguyên nhân đó, đồng thời nguyên nhân cũng gây ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực do hậu quả mà nó gây ra đối với các bộ năng lực Điều quan trọng phải lưu ý rằng cùng một nguyên nhân (trigger) có thể đưa đến các hệ quả khác nhau về động lực và năng lực cho các đối tượng khác nhau
- Đánh giá nhận thức (Perception) của đối tượng thích ứng về các nguyên nhân: Bao gồm hai yếu tố dẫn đến nhận thức về GPBV
Trang 18+ Nếu là thách thức: người dân khác nhau sẽ có ngưỡng nhận thức khác nhau, và mức thách thức cho đối tượng càng cao sẽ tạo ra nhận thức càng mạnh;
+ Nếu là cơ hội: cơ hội không chia đều cho tất cả các người dân, và các cơ hội khác nhau sẽ quyết định nhận thức về vấn đề khác nhau
- Đánh giá các động lực (Motivation) thích ứng của đối tượng: Nhận thức khác nhau thể hiện động lực để thích ứng của người dân cũng khác nhau, động lực cho tương lai như thế nào phụ thuộc vào nhận thức đó là cơ hội hay thách thức Nhận thức, động lực và năng lực có mối liên hệ với nhau và quyết định hành vi của con người
- Đánh giá năng lực/khả năng (Ability) thích ứng của người dân: Các nghiên cứu khác nhau đưa ra bộ năng lực khác nhau, tuy nhiên theo cách tiếp cận MOTA thì năng lực thích ứng gồm 3 năng lực là năng lực tài chính (fanancial), năng lực kỹ thuật (technical) và năng lực thể chế (institutional)
+ Năng lực tài chính hiểu theo nghĩa đơn giản là đề cập đến tiền bạc Nó là yếu tố quan trọng cho các quyết định, thậm chí nó chi phối các yếu tố khác Một cách tổng quát, năng lực tài chính còn được hiểu là các nguồn có thể thương mại trên thị trường và nó quyết định thất bại hoặc thành công của một hành vi
+ Năng lực kỹ thuật không chỉ đề cập đến trình độ học vấn, kỹ năng, kinh nghiệm và
sự nắm bắt thông tin, mà còn là các công cụ và vật liệu (hay phương pháp) để hoàn thành một nhiệm vụ một cách chắc chắn Cần chú ý, trong năng lực về kỹ thuật có yếu tố kiến thức, trình độ học vấn nhưng nó không bao hàm nhận thức (perception) trong đó, vì năng lực về kiến thức và trình độ học vấn trong bộ năng lực kỹ thuật là các nhận thức nói chung (knowledge) để đối tượng có thể vận dụng thực hiện hành
vi, còn nhận thức (perception) đánh giá riêng về sự nhìn nhận của đối tượng về nguyên nhân (trigger)
+ Năng lực thể chế được hiểu là các quy định chính thức hoặc không chính thức về sự tương tác giữa các đối tượng tham gia các nhóm liên kết Theo cách này, nó cung cấp cơ chế phối hợp quan trọng để giúp các đối tượng tham gia trong nhóm có các năng lực tài chính và kỹ thuật chắc chắn từ các nhóm khác
Trang 193.1.2 Quy trình phân tích theo khung Mota
Khung Mota đánh giá khả năng thực hiện của một kế hoạch theo 3 bước:
1 Đánh giá từng yếu tố thành phần của mối quan hệ phức hợp gồm là: Tác nhân, Động lực và Khả năng;
2 Tính điểm Động lực - Khả năng (Mota scroring) và dựng biểu đồ thang điểm Mota (Mota mapping);
Thông tin về Tác nhân, Động lực và Khả năng của các hộ khảo sát được sử dụng như làm thông tin đầu vào cho quá trình đành giá điểm Động lực - Khả năng, thông tin này được lấy
từ các thông tin bảng hỏi điều tra xã hội học và được chuẩn hóa theo thang điểm từ 0 đến 1 Điểm Mota sau đó được đưa chung lên bản đồ Động lực – Khả năng (MOTA mapping) Từ bàn đồ này sẽ giúp xác định hướng của kết quả thực tế là động lực và khả năng giữa các nhân tố quyết định tính khả thi của một kế hoạch (ví dụ như số điểm thấp hơn mô tả đến một kế hoạch khả thi thấp hơn và ngược lại) Do sự biến đổi lớn về động lực và khả năng của từng hộ khảo sát có thể dao động rải rác nhưng số điểm của một hành động tập thể cho thấy tính khả thi của hành động này và có thể được thể hiện thành ba mức độ đánh giá, bao gồm: thấp, trung bình và cao Làm rõ về mối tương quan của Perception-Động lực-Khả năng được thực hiện bởi một phân tích tương quan sẽ giải quyết các yếu tố chính ảnh hưởng đến động lực, khả năng và chi phối kết quả tiềm năng
3.1.3 Áp dụng khung phân tích Mota trong nghiên cứu
Khung Mota được áp dụng cho nghiên cứu này do các đặc điểm sau:
1) Khung Mota cung cấp một công cụ phân tích dựa vào cộng đồng để đánh giá lựa chọn thay thế phát triển khác nhau, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu;
2) Khung Mota cho phép tiếp cận phân tích nhận thức của cộng đồng, một khía cạnh được xem là quan trọng để tìm ra các yếu tố chi phối đến tính khả thi của một giải pháp hay chiến lược
3) Khả năng của cộng đồng ảnh hưởng đến bối cảnh hoặc tính khả thi của kế hoạch trong tương lai sẽ được phân tích trong một đánh giá trực quan và hệ thống
Trang 203.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Tổng quan tài liệu
Rà soát tài liệu là hoạt động cần thiết để cập nhật trạng thái nghiên cứu về quản lý lũ lụt đô thị phương pháp tiếp cận cũng như các kiến thức về mô hình hóa, tối ưu hóa, phân tích thống
kê, rủi ro phân tích, chi phí / lợi ích phân tích, khả năng phục hồi lụt bão, vv
Tổng quan các tư liệu liên quan đến hành vi đưa ra quyết định môi trường Dữ liệu thứ cấp được thu thập gồm: thủy văn, khí tượng, chất lượng nước (lịch sử, quy mô thời gian), bản đồ (địa hình, sử dụng đất, mạng lưới thoát nước, đất, thủy lực, hiện / kế hoạch hóa, vv) Các tư liệu được thu thập từ các nguồn sau đây: Trang Web, Thư viện, Tạp chí chuyên ngành
Tổng quan các tư liệu liên quan đến xây dựng, triển khai và đánh giá kế hoạch, phương án phòng, chống ngập lụt Các tư liệu được thu thập từ các nguồn sau đây: Sở Tài Nguyên- Môi Trường, Các dự án liên quan phòng, chống ngập lụt
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu định tính: số liệu sau khi được thu thập sẽ được sắp xết, tổng hợp và biên tập lại Số liệu định lượng: được xử lý bằng các phần mềm thống kê như EXCEl và R phân tích các thống kê mô tả, kiểm định thống kê, xu hướng Bên cạnh đó, các kết quả phân tích sẽ được trình bày dưới dạng các con số rời rạc, tỉ lệ phần trăm, dưới dạng các biểu đồ
3.2.3 Phương pháp GIS
Sử dụng hệ thống thông tin địa lý nhằm tích hợp các thông tin số liệu, tài liệu, và kết quá tính toán lên trên bản đồ Phương pháp này cũng được sử dụng để trình bày và phân tích kết quả theo không gian
3.2.4 Điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra, khảo sát được thực hiện trong nghiên cứu thông qua việc khảo sát và phỏng vấn qua phiếu khảo sát Việc phỏng vấn bằng phiếu khảo sát là phương pháp hữu ích trong việc đánh giá nhận thức, động lực và năng lực của hộ dân trong việc thực hiện các GPBV Khảo sát xã hội học phục vụ nghiên cứu trên được thực hiện với tổng số mẫu là 750
hộ gia đình tại các khu vực khác nhau của TP Cần Thơ Quá trình thiết kế phiếu, khảo sát thực địa và tổng hợp xử lý số liệu được thể hiện như Hình 3.2
Trang 21Thiết kế phiếu phỏng vấn
Xác định địa điểm phỏng vấn
Số mẫu Chính quyền địa
Phỏng vấn bổ sung
Phân tích và kết luận Đánh giá số liệu
Hình 3 2 Sơ đồ các bước để khảo sát và xử lý số liệu khảo sát
Khu vực lựa chọn khảo sát đại diện cho 03 loại hình phát triển đô thị đặc trưng hiện nay của
Cần Thơ, gồm: (1) Khu vực đô thị phát triển tự phát từ lâu, nhưng đang dần ổn định dần về
sửdụng đất, hạ tầng kỹ thuật, v.v.; (2) Khu vực đô thị phát triển tự phát mới hình thành, chưa
ổn định về sửdụng đất, hạ tầng kỹ thuật,v.v.; (3) Khu vực đô thị mới hình thành theo quy
hoạch Các địa điểm khảo sát cụ thể được lựa chọn khảo sát thông qua các buổi thảo luận với
các chuyên gia thuộc Văn phòng Biến đổi khí hậu Tp Cần Thơ (CCCO) Các địa điểm này
thuộc 3 quận Thủy, Ninh Kiều và Cái Răng Khu vực nông thôn không được chọn trong
khảo cuộc khảo sát này vì nghiên cứu chỉ tập trung vào chủ đề rủi ro ngập lụt đô thị
Trang 22Hình 3 3: Địa điểm và số lượng mẫu điều tra Phiếu phỏng vấn có 48 câu hỏi (Phụ lục) thuộc sáu nhóm chủ đề sau:
1 Thông tin cơ bản về điều kiện kinh tế xã hội hộ gia đình;
2 Tình hình ngập lụt tại khu vực hộ sinh sống;
3 Nhận thức về rủi ro ngập lụt và ảnh hưởng của ngập;
4 Động lực và khả năng thực hiện GPBV
Trang 23CHƯƠNG 4
4.1 Tổng quan cách tiếp cận thích ứng và giảm thiểu ngập bền vững
Thích ứng và giảm thiểu rủi ro ngập là chủ đề được bàn luận trong nhiều nghiên cứu khoa học về phát triển và quản lý nguồn nước, đặc biệt là trong bối cảnh ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang làm gia tăng nguy cơ ngập Tại các đô thị, ngập càng trở nên đáng lo ngại dưới tác động của tiến trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, đặt ra một nhu cầu cấp bách cho sự hiểu biết và áp dụng các giải pháp thích ứng và giảm thiểu rủi ro ngập tại
đô thị
Được coi như là một cách tiếp cận thích ứng và giảm thiểu rủi ro ngập, các giải pháp thoát nước bền vững đã ghi nhận một chặng đường phát triển đáng kể trong vài thập kỷ qua Từ cách tiếp cận truyền thống mang nặng quan điểm coi dòng chảy mặt như là một loại hình chất thải đô thị cần phải thoát nhanh, thoát hết về nguồn xả cho đến nay hệ thống thoát nước đô thị được tổ chức như một giải pháp để quản lý ngập ngay tại nguồn (nguồn gây ngập) Bên cạnh
đó, từ việc phục vụ mục tiêu duy nhất là thoát nước đô thị, các giải pháp tổ chức thoát nước gần đây hướng tới sự đa dạng về mục tiêu và tính bền vững Không chỉ phục vụ mục tiêu thoát nước, hệ thống thoát nước trong đô thị hiện đại được tổ chức gắn liền với chu tình tự nhiên của hệ sinh thái đô thị, phục vụ nhu cầu phát triển về cảnh quan, giảm ô nhiễm bổ sung nguồn nước ngầm,v.v Cách tiếp cận mới này tối đa hóa chu trình tự nhiên của nước vì vậy tạo ra cho đô thị tính thích nghi cao, linh hoạt ngay cả với bối cảnh có nhiều yếu tố không chắc chắn (Uncertainty) do tình trạng đô thị hóa nhanh chóng và Biến đổi khí hậu (xem ví dụ Chocolat et al., 2001; Fratini et al, 2012 Marsalek Chocolat, 2002; Wong, 2007)
Trải qua một quá trình nghiên cứu phát triển và phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, thoát nước bền vững cho mục đích thích ứng và giảm thiểu rủi ro ngập hiện nay xuất hiện dưới nhiều tên gọi chuyên ngành Theo thống kê của Hoyer (2012), có một sự phổ biến đáng
kể của các thuật ngữ như: Phát triển tác động thấp - Low impact development (LID); Hệ thống thoát nước đô thị bền vững - Sustainable Urban Drainage Systems (SUDS); Đô thị nhạy cảm với nước - Water Sensitive Urban Design (WSUD); Quản lý thực hành tốt nhất -
Trang 24Best Management Practices (BMPs); và Kỹ thuật thay thế - Alternative Techniques (AT) Đi kèm với mỗi thuật ngữ tên gọi là một hệ thống các nguyên tắc và giải pháp kỹ thuật đi kèm, chính điều này càng tạo nên sự đa dạng có thể dẫn đến sự tranh cãi trong quá trình áp dụng thực tế Tuy nhiên, dù xuất hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau, và có hệ thống nguyên tắc cũng như các giải pháp kỹ thuật phát triển theo các hướng tiếp cận chi tiết khác nhau, chúng không tách rời khỏi mục tiêu cơ bản là thích ứng và giảm thiểu rủi ro ngập theo hướng bền vững và quản lý ngập ngay tại nguồn gây ngập Trong số những thuật ngữ này, tuy mới xuất hiện trong khoảng thời gian những năm 1995-1999, LID và các giải pháp kỹ thuật đi kèm của
nó đã trở thành thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất bởi cộng đồng chuyên gia thế giới (Hình)
Hình 4 1 Sự phổ biến của các thuật ngữ mô tả cách tiếp cận thoát nước bền vững, nguồn
Hoyer (2012)
4.1.1 Phát triển tác động thấp (LID)
Theo Cơ quan bảo vệ Môi trường liên bang Hoa Kỳ (USEPA), LID là một cách tiếp cận tổ chức và quản lý hệ thống thoát nước mưa theo hướng “hợp tác” với thiên nhiên, để sao hệ thống này mô phỏng gần nhất với điều kiện tự nhiên của khu vực trước khi phát triển LID sử dụng những nguyên tắc như bảo tồn và tái tạo lại các tính năng cảnh quan thiên nhiên, giảm thiểu bề mặt không thấm để tạo ra hệ thống các khu vực với chức năng thoát, hấp thu, cũng như
Trang 25xử lý nước mưa để sử dụng nước mưa như một nguồn tài nguyên chứ không phải là chất thải cần loại bỏ ra khỏi khu vực Có nhiều kỹ thuật áp dụng nguyên tắc của LID như không gian xanh, rãnh thấp, ao thực vật, ô trữ sinh học, thùng chứa nước mưa, vỉa hè thấm, mái nhà xanh… Bằng cách thực hiện các nguyên tắc của LID, nước mưa được quản lý mà vẫn giảm tác động của việc xây dựng và bảo tồn dòng chảy tự nhiên của nước trong một hệ sinh thái hoặc lưu vực Áp dụng trên diện rộng, LID có thể duy trì hoặc khôi phục lại chức năng thủy văn và sinh thái của lưu vực vì vậy LID được xem như một hệ thống quản lý nước mưa bền vững và giảm thiểu rủi ro ngập tại nguồn
4.1.2 Một số nguyên tắc chủ yếu của giải pháp LID
Hạn chế thấp nhất tác động của phát triển đô thị lên hệ thống thủy văn và chu trình tuần hoàn tự nhiên của nước, xây dựng theo hướng gần giống với đặc điểm thủy văn của khu vực trước khi phát triển
Mỗi kỹ thuật được thiết kế với các chức năng khác nhau, thích hợp với điều kiện môi trường, xã hội cho từng khu vực cụ thể Không có những giải pháp hoặc kích thước phù hợp cho tất cả các khu vực mà có tính mềm dẻo và sáng tạo
Xem xét các lợi ích và ý kiến của cộng đồng và các bên liên quan Kết hợp sự tham gia của cộng đồng trong công tác xây dựng, quản lý và bảo trì
Chú trọng ngăn ngừa ô nhiễm và bảo trì thích hợp, đồng thời có kế hoạch giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng
Cần chú ý kết hợp kế hoạch phát triển đô thị, kiến trúc cảnh quan và quản lý nước
để đạt hiệu quả tốt nhất
4.1.3 Hiệu quả giảm ngập của LID
Hiệu quả giảm ngập bền vững của LID đã được thực nghiệm kiểm chứng tại nhiều quốc gia LID được ghi nhận sớm nhất từ năm 1993 trong nghiên cứu về sử dụng ô trữ sinh học tại Maryland, Hoa Kỳ Ngoài ra, mô hình về việc áp dụng các kỹ thuật LID trên quy mô thành phố tại Portland, Bang Oregon, Hoa kỹ cũng rất đáng được quan tâm Đây được xem là thành phố tiên phong trong việc quản lý nước mưa với phương pháp tiếp cận sáng tạo tiến bộ Các
dự án quản lý nước ở Portland đã đạt được mục tiêu quản lý nước mưa cả về chất lượng và số lượng Các kỹ thuật kiểm soát nước mưa cũng được sử dụng cho các khu vực công cộng và giáo dục Thị trưởng Thành phố khởi xướng một chương trình với quy mô cấp Thành phố để
Trang 26thúc đẩy cơ sở hạ tầng xanh và quản lý nước mưa bền vững, kết hợp với hoạt động giáo dục công cộng vào năm 2008 Cũng cần lưu ý rằng thành phố có hệ thống xử lý nước thải kết hợp Các chức năng cụ thể của kỹ thuật LID là đảm bảo cho lượng nước mưa không vượt quá năng lực xử lý của hệ thống này bằng cách giữ lại lượng nước mưa trước khi hòa chung vào
hệ thống thoát nước kết hợp hiện hữu này Một bài học có thể học được từ Portland đó là sự tham gia của cộng đồng thể hiện qua các cuộc họp và hoạt động quan hệ công chúng cùng tìm hiểu và phát triển kế hoạch (Hoyer, 2011)
Trong những năm gần đây, tại Châu Á, việc áp dụng LID cũng được quan tâm và thực hiện tại một số quốc gia như Hàn Quốc, Malaysia, Singapore…, trong đó điển hình là Hàn Quốc với rất nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả giảm ngập của LID Cụ thể là Jung-min Lee (2011) thực hiện nghiên cứu “Ứng dụng mô hình SWMM5 phân tích khả năng giảm ngập lụt trên lưu vực bằng các kỹ thuật LID” tại Đại học quốc gia Kongju, Chungcheongnamdo, Hàn Quốc Tác giả sử dụng mô hình SWMM5 để phân tích tác động về mặt thủy văn của các kỹ thuật LID Khu vực nghiên cứu là lưu vực của sông Jangjae, thuộc Asan Tangjung Town New (Hàn Quốc) LID được sử dụng như phương pháp để khôi phục lại chế độ thủy văn tự nhiên của các khu vực đô thị đã phát triển bằng cơ chế thấm, bốc hơi và dự trữ Nghiên cứu
áp dụng các kỹ thuật LID gồm rãnh thấm, thùng chứa nước mưa, ô trữ sinh học Nghiên cứu phân tích tác dụng giảm ngập với các trận mưa thiết kế có chu kỳ lặp lại 50 năm và 100 năm Kết quả từ mô hình cho thấy áp dụng LID sẽ giảm được khoảng 7 đến 15% lưu lượng cao
điểm đối với các trận mưa
Ngoài ra, nghiên cứu: “Xây dựng hệ thống thoát nước sinh thái tại Đại học Sain Malaysia” đã đưa ra kinh nghiệm của Malaysia trong việc tiến hành một số dự án thoát nước đô thị bền vững Khu vực nghiên cứu được lựa chọn là khuôn viên trường Đại học Kỹ thuật USM, ở quận Seberang Perai Selatan, Penang, Malaysia, trên khu vực rộng khoảng 128 ha Mục tiêu của dự án là phát triển và đánh giá việc thay thế hệ thống thoát nước thông thường bằng một
hệ thống thoát nước bền vững phù hợp với điều kiện khí hậu của địa phương Các kỹ thuật LID được áp dụng bởi dự án gồm: ao thực vật, thùng chứa nước mưa và ô trữ sinh học Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp mô hình hóa bằng mô hình XP SWMM mô phỏng lưu vực thoát nước của khu vực, dự báo với lượng mưa tần suất 10 năm với bước thời gian 60 phút Kết quả từ các mô hình XP - SWMM cho thấy: các kỹ thuật LID có khả năng giảm việc hình thành các dòng chảy mặt nhanh là loại hình dòng chảy mặt dễ gây lên ngập lụt đô thị, bên cạnh đó LID cũng góp phần quản lý nước mưa tại nguồn Bằng phương pháp lấy mẫu
Trang 27phân tích, nghiên cứu cũng cho thấy các kỹ thuật LID hiệu quả trong việc xử lý các chất ô nhiễm trong nước mưa như SS, DO, BOD, COD, NH3-N (Mohd Sidek, L., 2002)
4.1.4 Các giải pháp kỹ thuật LID
Có rất nhiều giải pháp kỹ thuật được giới thiệu dưới cách tiếp cận LID, tuy nhiên trên phương diện quản lý nước các kỹ thuật này đều được thiết kế với mục đích giảm thiểu lưu lượng dòng chảy cao điểm cũng như xử lý một phần chất ô nhiễm có trong nước mưa bằng các cơ chế thấm lọc tự nhiên với sự tham gia của các thảm thực vật địa phương, các lớp đất và vật liệu
mô thân thiện môi trường Hiện các giải pháp kỹ thuật phổ biến của LID có thể kể đến là:
Ô trữ sinh học (Bioretention cell)
Ô trữ sinh học là khu vực trũng được thiết kế để thu nước mưa, cũng tại đây quy trình thấm lọc tự nhiên được thực hiện Ô trữ sinh học có thể được bố trí xen kẽ với nhiều loại không gian kiến trúc đô thị như trong khu dân cư, khu thương mại, công viên các khoảng đất trống ven đường bãi đỗ xe, v.v Về hình thức, các ô trữ nước được nhận diện trên không gian mặt đất như một không gian xanh phục vụ vẻ đẹp cảnh quan cho đô thị với các mảng cây bụi, cây lâu năm, hoặc bãi cỏ tuy nhiên với các kỹ thuật tổ chức về cao độ nền đất và các lớp vật liệu phía dưới lòng đất, chức năng thu thấm và lọc nước mưa của ô trữ sinh học được thực hiện Nhìn chung, những lợi ích của ô trữ sinh học có thể mang lại là giảm lưu lượng dòng chảy bề mặt, tăng nước ngầm, giảm thiểu chất ô nhiễm trong nước mưa chảy tràn như kim loại nặng, chất hữu cơ (Michael, 2007) Khả năng loại bỏ chất ô nhiễm và hiệu quả về thủy văn của ô trữ sinh học đã được F Hunt, 2007 thực nghiệm tại 3 lưu vực Bắc Carolina, Hoa Kỳ Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp lấy mẫu phân tích, thực nghiệm và ước lượng để đánh giá khả năng loại bỏ chất ô nhiễm của ô trữ sinh học, ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích Anova để xác định tỉ lệ giảm chất ô nhiễm Kết quả cho thấy ở cả 2 khu vực lượng Nitrogen đều giảm khoảng 40% mỗi nơi Nitrate-nitrogen giảm nhưng có sự khác biệt lớn là 75% và 13% Zn, Cu, Pb giảm lần lượt là 98, 99, và 81%, nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc giảm tổng lượng chất ô nhiễm là do giảm lưu lượng dòng chảy tràn Tỉ lệ nước thoát ra khỏi ô trữ có khác nhau đáng kể ( p < 0.05) khi so sánh giữa mùa đông với mùa hè
Trang 28Hình 4 2 Mặt cắt điển hình ô trữ sinh học bố trí ven đường giao thông
Hình 4 3: Cách bố trí trên dải cây xanh dọc đường giao thông, nguồn: USEPA (2013)
Trang 29Hình 4 4 Mặt cắt điển hình ô trữ sinh học
Hình 4 5 Ô trữ sinh học bố trí trong dải phân cách của đường giao thông và bãi đậu xe,
nguồn: Engineering Procedures for ABC Waters Design Features Page
Vỉa hè dễ thấm (Porours pavement):
Từ năm 1999, Michel Legret đã có nghiên cứu về khả năng xử lý chất ô nhiễm và tổng lưu lượng dòng chảy tràn của vỉa hè bê tông lưới Tác giả đã thực hiện các nội dung nghiên cứu như: Đánh giá mức độ giảm lưu lượng dòng chảy và các chất ô nhiễm trong nước mưa khi chảy qua hệ thống bê tông lưới so với nước mưa chảy tràn qua hệ thống vỉa hè bê tông tấm thông thường Phương pháp nghiên cứu được dùng là thí nghiệm mô phỏng trong phòng thí nghiệm Mô phỏng khoảng 10 trận mưa khác nhau về cường độ và thời gian chảy trên 3 khu vực vỉa hè có lót 3 loại bê tông lưới khác nhau và 1 vỉa hè có lót bê tông tấm thông thường Kết quả cho thấy vỉa hè có lót bê tông lưới làm giảm đáng kể khối lượng dòng chảy tràn so với bê tông khối Ngoài ra, tổng khối lượng của các loại chất ô nhiễm trong nước mưa chảy tràn gồm P, N, Cr, HC, Pb và Zn giảm đáng kể khi chảy qua vỉa hè lưới so với vỉa hè bê tông tấm thông thường
Trang 30Hình 4 6 Cách bố trí trên dải cây xanh dọc đường giao thông, nguồn: USEPA (2013)
Hình 4 7 Vỉa hè thấm (Porous Pavement) (Nguồn: Miklas Scholz, Piotr Grabowiecki, 2007)
Không gian xanh đô thị (Urban Green Space):
Maya P Abi Aad vào năm 2007 đã so sánh khả năng kiểm soát nước mưa của Không gian xanh và thùng chứa nước mưa với mô hình SWMM Bằng phương pháp mô hình hóa, tác giả ước lượng tỉ lệ giảm của khối lượng dòng chảy và giảm đỉnh dòng chảy, cũng như thời gian trễ của thủy văn Kết quả nghiên cứu cho thấy, không gian xanh có thể giảm cao nhất đỉnh dòng chảy cũng như lưu lượng dòng chảy Diện tích vườn mưa chỉ chiếm 3.9% diện tích mái nhà nhưng đã giảm được 38% lượng nước chảy tràn Nếu tăng diện tích lên gấp 3 lần thì các trận mưa sẽ không ảnh hưởng đến chế độ thủy văn Tuy nhiên theo đề xuất của University of Wisconsin thì diện tích của không gian xanh không quá 10 – 20% diện tích bề mặt không thấm, để đảm bảo lượng nước ngầm Với kết quả này, có khả năng sẽ tiến hành những nghiên
Trang 31cứu xa hơn về kết hợp các giải pháp quản lý tốt nhất BMPs và thử nghiệm hiệu suất của các ứng dụng trong các kịch bản biến đổi về lượng mưa
Hình 4 8 Không gian xanh, Nguồn: ABC, 2007
Thùng thu nước mưa hộ gia đình: (Rainwater Barrel)
Thùng thu nước mưa là một kỹ thuật LID có chi phí thấp, hiệu quả để thu gom và sử dụng nước mưa, có thể áp dụng cho khu dân cư, khu vực thương mại, công nghiệp để kiểm soát nước mưa từ mái nhà Nước mưa thu được có thể dùng tưới vườn, nông nghiệp, vệ sinh, rửa xe… Khi lượng mưa vượt quá có thể dẫn theo ống thoát vào hệ thống thoát nước chung Một
số thùng chứa nước mưa được đặt chìm dưới đất để hạn chế việc chiếm diện tích.Tuy nhiên cần lưu ý vấn đề bảo trì để tránh nguy cơ phát sinh muỗi
Hình 4 9 Thùng mưa điển hình dùng cho một hộ gia đình
(Nguồn: US EPA, 1999)
Trang 32Hình 4 10 Thùng mưa điển hình dùng cho một hộ gia đình, ABC (2007)
Hình 4 11 Mô hình chứa nước mưa ngầm trong khuôn viên hộ gia đình, tòa nhà công cộng, nguồn: US EPA, 1999
Ao thực vật (Vegetative Swale):
Nước mưa chảy từ các tòa nhà, đường giao thông được các ao thực vật hoặc kênh hở giữ lại, qua đó làm giảm đỉnh lũ nhờ lưu giữ một khối lượng nước và một phần được thấm vào đất Thảm thực vật trong ao có thể làm giảm tốc độ dòng chảy và loại bỏ các chất ô nhiễm và chất rắn lơ lửng, bên cạnh đó ao thực vật có thể làm giảm TSS khoảng 48% đến 98 % các hợp chất nitơ (nitrat, nitrit, amoni, N hữu cơ) và loại bỏ P bằng với tỉ lệ khoảng 12-60 % (Barret
và cộng sự, 1998; Yu và cộng sự, 2001)
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu khác cũng phát hiện Ao thực vật loại bỏ các kim loại nặng như Zn, với tỉ lệ loại bỏ khoảng 47-81 % Pb với tỉ lệ được loại bỏ khoảng 18 – 94% (Barret
và cộng sự, 1998)