1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

History of german law philosophy thought from 18th century to 20th century

347 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 347
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục đích trên, đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung cơ bản: khái quát về triết học pháp quyền với những hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản, phân tích mối quan hệ giữa triết

Trang 1

Trang MỞ ĐẦU……… 1

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN……… 27

1.1 Khái niệm triết học pháp quyền và những hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản …… 27

1.2 Mối quan hệ giữa triết học pháp quyền với triết học đạo đức, lý luận pháp quyền và triết học chính trị……… 57

Kết luận chương 1……… 68

Chương 2 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN ĐỨC THẾ KỶ XVIII……71

2.1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận ảnh hưởng đến tư tưởng pháp quyền Đức thế kỷ XVIII……… 71

2.2 Tư tưởng triết học pháp quyền Christian Thomasius (1655 - 1728)………92

2.3 Tư tưởng triết học pháp quyền Christian Wolff (1679 - 1754) 99

2.4 Tư tưởng triết học pháp quyền Immanuel Kant (1724 - 1804)……… 112

Kết luận chương 2……… 128

Chương 3 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN ĐỨC THẾ KỶ XIX…… 131

3.1 Khái quát bối cảnh lịch sử xã hội châu Âu và Đức thế kỷ XIX……….131

3.2 Tư tưởng triết học pháp quyền Johann Gottlieb Fichte (1762 –1814)…… 143

3.3 Tư tưởng triết học pháp quyền Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831)……… 159

3.4 Tư tưởng triết học pháp quyền Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich Engels (1820 - 1895)……… 229

Kết luận chương 3……… 249

Chương 4 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN ĐỨC THẾ KỶ XX…… 254

4.1 Khái quát bối cảnh lịch sử xã hội châu Âu và Đức thế kỷ XX ……… 254

4.2 Tư tưởng triết học pháp quyền Gustav Radbruch (1878 - 1949)……… ……… 269

4.3 Tư tưởng triết học pháp quyền Athur Kaufmann (1923 – 2001)……… 280

4.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay……… 305

Kết luận chương 4 ……….320

Trang 2

KẾT LUẬN CHUNG……… 324 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 330 PHỤ LỤC SẢN PHẨM

PHỤ LỤC QUẢN LÝ

Trang 3

Để đạt được mục đích trên, đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung cơ bản: khái quát về triết học pháp quyền với những hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản, phân tích mối quan hệ giữa triết học pháp quyền với triết học đạo đức, lý luận pháp quyền và triết học chính trị; trình bày và phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XVIII, XIX, XX thông qua một số nhà triết học tiêu biểu, trên cơ sở đó đưa

ra một số nhận định chung về những giá trị và hạn chế của những tư tưởng trên

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được nghiên cứu, biên soạn thành 4 chương Chương 1: Khái quát về triết học pháp quyền; Chương 2: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XVIII; Chương 3: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XIX; Chương 4: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XX

Đề tài được thực hiện theo đúng tiến độ hợp đồng (03.2013 – 03.2015) Từ công trình nghiên cứu này đã có 4 bài báo khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành và đào tạo được hai thạc sỹ chuyên ngành triết học

Trang 4

ABSTRACT

Scientific research project "History of German Law Philosophy Thought from

18th century to 20th century " by Dr Ngo Thi My Dung as chairman, code: C 2013 - 18b

- 07, under Contract No C2013 - 18 - 07/HD - KHCN signed on 03.15.2013

The purposes of the project are presenting and analyzing systematically the basic contents of the history of German law philosophy thought from the eighteenth century

to the twentieth century through specific characteristics of jurisdictional thoughts in each century, from then making scientific judgments on the advantages and limitations,

as well as defining its meaning for the theory construction of Vietnamese state of law nowadays

To achieve these purposes, the project studies the basic contents: generalizing the philosophy of law with basic law thought systems, analyzing the relationship between the philosophy of law and moral philosophy, theories of law and political philosophy; presenting and analyzing the basic content of philosophical thought about German law

in the XVIII, XIX, XX centuries through some typical philosophers, thereby giving some general observations about the value and limitations of the ideas above

Besides the introduction, conclusion and list of references, the project is compiled into 4 chapters Chapter 1: Overview of the philosophy of law; Chapter 2: German law philosophy thought in the 18th century; Chapter 3: German law philosophy thought in the 19th century; Chapter 4: German law philosophy thought in the 20th century

The project is done on schedule contract (03.2013 - 03.2015) From this project, there were four articles which were published in scientific journals and two philosophy-major Masters who were trained

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi chân thành cảm ơn Giám đốc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Ban Khoa học – Công nghệ Đại học Quốc gia, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã tạo điều kiện tốt cho nhóm nghiên cứu chúng tôi hoàn thành đề tài khoa học “Lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX” đúng thời hạn

Đặc biệt, chúng tôi chân thành cám ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Phòng quản lý Khoa học và Dự án Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu trong suốt quá trình triển khai đề tài

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10.12.2014

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nhà nước pháp quyền là một đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, là một khâu trọng yếu trong đổi mới hệ thống chính trị, góp phần tiến tới thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đấy là một quá trình lâu dài trên cơ sở hình thành đầy đủ các tiền đề và nền tảng của mô hình mới về nhà nước pháp quyền cả trong lý luận cũng như trong thực tiễn Vậy bản chất của pháp quyền và nhà nước pháp quyền là gì ? Quá trình nhận thức và thực hiện nó như thế nào ? Đấy là những vấn đề mà triết học pháp quyền quan tâm và đấy cũng là những vấn đề mà ở mỗi thời đại lịch sử, mỗi chế độ xã hội đều có những quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau Nhưng như Engels đã nói, một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận, mà muốn phát triển năng lực tư duy

đó thì cho tới nay, không có cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ lịch sử triết học thời trước.1 Vì vậy việc kế thừa có tính sáng tạo những tư tưởng pháp quyền tiến bộ của nhân loại, trong đó có tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay là điều hết sức cần thiết

Ở phương Tây, triết học pháp quyền là một môn học quan trọng của triết học, có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng đến thể chế chính trị, văn hóa và pháp quyền trong những giai đoạn lịch sử cụ thể Ở Việt Nam, nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tư tưởng pháp quyền, tư tưởng nhà nước pháp quyền với nhiều tên gọi khác nhau (lý luận về nhà nước và pháp luật, các học thuyết chính

1

C Mác và Ph Ăng-ghen (2002), Toàn tập, t 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 487

Trang 7

2

trị - xã hội trên thế giới…) đã đem lại cho chúng ta một cách nhìn tổng thể về tư tưởng pháp quyền cùng hệ thống chính trị của nó, đóng góp thiết thực cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, việc nghiên cứu

tư tưởng pháp quyền dưới góc độ triết học ở Việt Nam còn rất ít, đặc biệt tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX lại càng ít hơn (chủ yếu chỉ đề cập đến tư tưởng pháp quyền của Marx, Engels)

Tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX một mặt, chịu sự qui định của tính lịch sử thời đại, nhưng mặt khác chính nó lại tác

động đến thể chế chính trị pháp quyền của thời đại đó Trong thế kỷ XVIII, nhiều

tư tưởng triết học pháp quyền tiêu biểu như tư tưởng của Christian Thomasius

(1655 - 1728), Christian Wolff (1679 - 1754), đặc biệt là tư tưởng của Immanuel Kant (1724 – 1804) đã để lại cho nhân loại những giá trị nhân văn sâu sắc, đánh

dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tư tưởng pháp quyền phương Tây Việc Kant phân tích một cách có hệ thống về nhà nước và pháp luật xuất phát từ sự tôn trọng phẩm giá con người và sự lý giải về quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân đối với nhà nước, cũng như nghĩa vụ bảo vệ quyền tự do cá nhân của nhà nước đối với mọi công dân, rất đáng trân trọng

Kế thừa tư tưởng duy lý của các bậc tiền bối, đặc biệt là Kant, tư tưởng

triết học pháp quyền Đức thế kỷ XIX đã được nối tiếp bởi nhà triết học Johann Gottlieb Fichte (1762 – 1814) và đạt đến đỉnh cao của nó trong triết học pháp

quyền Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1831) Trên tinh tiếp thu có phê

phán mạnh mẽ những quan điểm cực đoan của triết học pháp quyền Hegel, những vấn đề cơ bản của triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII về vấn đề tự

do, quyền và phẩm giá làm người, đã được Karl Marx (1818 – 1883) và

Friedrich Engels (1820 - 1895) kế thừa và phát triển Không chỉ dừng lại ở sự

nhận thức về những vấn đề trên, triết học pháp quyền của Marx và Engels đã

Trang 8

3

đưa ra phương thức cụ thể đảm bảo những nội dung pháp quyền trên có thể trở thành hiện thực

Trong xu thế hội nhập quốc tế về mọi mặt do sự ảnh hưởng của việc toàn

cầu hóa ở thế kỷ XX, nhiều tư tưởng triết học pháp quyền Đức ra đời với nội

dung phong phú hơn Nhưng cũng chính vì thế mà câu hỏi quan trọng nhất của triết học pháp quyền Đức thế kỷ này quan tâm là, liệu có tồn tại những nguyên tắc pháp quyền chung cho mọi nền văn hóa ? Nếu có thì nội dung của những nguyên tắc pháp quyền đó là gì ? Có nhiều học thuyết được đưa ra nhưng chiếm

ưu thế hơn cả vẫn là tư tưởng pháp quyền của Gustav Radbruch (1878 - 1949) và

Athur Kaufmann (1923 – 2001)

Radbruch và Kaufmann cho rằng vấn đề cơ bản của triết học pháp quyền thế kỷ XX là công bằng xã hội Nó là tiêu chí và là cơ sở cho luật ban hành nhằm hiện thực hóa quyền con người Kế thừa và phát triển những tư tưởng của các nhà triết học trong lịch sử về khái niệm công bằng, Kaufmann đã đưa ra một khái niệm công bằng theo nghĩa rộng, không chỉ dừng lại ở mặt hình thức (đối xử như nhau đối với những cái như nhau và khác nhau đối với những cái khác nhau của Aristote), mà còn là sự kết hợp hài hòa với nội dung (công bằng xã hội) và chức năng (an toàn pháp lý) của nó Ông cho rằng sự thực hiện bình đẳng và công bằng

xã hội bảo đảm an toàn pháp lý và an toàn pháp lý không tồn tại cho bản thân mà phục vụ cho sự bình đẳng và công bằng xã hội Khi đưa ra những ý tưởng pháp quyền mang tính bao trùm trên, Kaufmann cũng đề cập đến những mâu thuẫn nội tại của nó (giữa công bằng xã hội và an toàn pháp lý) và cách thức giải quyết vấn

đề trong trường hợp giữa chúng có sự xung đột

Nhìn chung, vấn đề cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX là làm thế nào để hiện thực hóa quyền con người và giải quyết vấn đề công bằng xã hội Bởi việc nghiên cứu xuất phát từ nhiều góc độ và thế giới quan khác nhau nên các nhà triết học cũng đưa ra nhiều cách thức khác

Trang 9

4

nhau trong việc hiện thực hóa nội dung tư tưởng pháp quyền với những hệ thống quyền lực khác nhau Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, một số tư tưởng pháp quyền Đức đã tách rời tính chất đặc trưng của nó, vi phạm nghiêm trọng quyền con người (pháp quyền thực chứng và nhà nước phát xít Đức), nhưng nhìn chung, tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX phong phú, đa dạng, thể hiện sự kế thừa tinh thần văn hóa pháp quyền Đức trong nhiều thế kỷ Nó không không chỉ đề cập đến tư tưởng pháp quyền Đức trong quá khứ

mà còn liên quan đến những vấn đề thời sự rất quan trọng của một nhà nước pháp quyền hiện đại hướng tới những giá trị nhân văn sâu sắc Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, do những điều kiện khách quan và chủ quan nên vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức Xuất phát từ việc cần phải nâng cao năng lực lý luận về vấn

đề pháp quyền và kế thừa có tính sáng tạo những mặt tiến bộ của tư tưởng văn minh nhân loại, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,

chúng tôi đã chọn “ Lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII

đến thế kỷ XX” làm đề tài nghiên cứu

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Ở phương Tây nói chung và ở Đức nói riêng, triết học pháp quyền là một môn học quan trọng của triết học, có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng đến thể

chế chính trị, văn hóa và pháp quyền trong những giai đoạn lịch sử cụ thể Ở

Việt Nam tư tưởng triết học pháp quyền được đề cập đến trong các học thuyết

lý luận về nhà nước và pháp luật, triết học chính trị và chính trị học Trong các

tác phẩm "Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế” của các học giả liên bang

Nga biên sọan và Lưu Kiếm Thanh, Phạm Hồng Thái dịch, Nxb Văn hóa thông

tin, Hà Nội, xuất bản năm 2001; “Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và

pháp luật” do Đào Trí Úc (chủ biên) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản

năm 1995, “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội

Trang 10

5

chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của TS Trần Hậu Thành, Nxb Lý luận

chính trị, Hà Nội, 2005; Nguyễn Ngọc Đào “Lịch sử nhà nước và pháp luật

nhà nước”, xuất bản năm 1998; “Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật” của Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1995…đã đề cập đến khái niệm pháp quyền, nhà nước pháp quyền, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền trong tiến trình lịch sử tư tưởng nhân loại và thực tiễn tổ chức nhà nước theo hướng

nhà nước pháp quyền hiện nay trên thế giới

Tài liệu nghiên cứu về lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế

kỷ XVIII đến thế kỷ XX ở Việt Nam chưa nhiều Hầu hết các bài báo khoa học

và tài liệu tham khảo tập trung trình bày và phân tích tư tưởng pháp quyền Đức thế kỷ XIX, cụ thể là của Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich Engels (1820 -1895) thông qua một số tác phẩm tiêu biểu đã được dịch ra tiếng Việt (Mác và

Ăngghen toàn tập) như "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel"

(1843), "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel Lời nói đầu” (1843/1844), "Hệ tư tưởng Đức” (1845/1846), "Tuyên ngôn của Đảng cộng

sản" (1848), "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước",

(1884) và bộ "Tư bản" gồm ba tập xuất bản vào những năm 1867, 1885 và

1894 Qua đó các nhà nghiên cứu đã làm rõ nội dung cơ bản của Marx và Engels về nguồn gốc, bản chất của nhà nước và pháp luật, cũng như cách thức hiện thực hóa nội dung pháp quyền thông qua thể chế chính trị

Tư tưởng triết học pháp quyền của các nhà triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII - XIX như Immanuel Kant (1724 – 1804), Johann Gottlieb Fichte (1762 -

1814), và Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831) lại càng ít hơn bởi nguồn tài liệu gốc được liệu dịch ra tiếng Việt quá ít Chúng ta có thể tìm thấy

tư tưởng pháp quyền của các nhà triết học trên thông qua một số tài liệu tham

khảo như “Triết học Imanuin Cantơ”của Nguyễn Văn Huyên, Nxb Khoa học

Trang 11

6

xã hội, Hà nội, xuất bản năm 1996; “I Cantơ - Người sáng lập nền triết học cổ

điển Đức”do Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

xuất bản năm 1977 Các công trình khoa học trên chủ yếu đề cập đến triết học

lý luận và triết học đạo đức của Kant, chỉ một vài bài nghiên cứu trình bày khái

quát tư tưởng triết học pháp quyền của ông Trong các tác phẩm “Lịch sử triết

học”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1998, của Nguyễn Hữu

Vui; “Lịch sử phép biện chứng” (tập 3), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998,

của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, do Đỗ Minh Hợp dịch và hiệu đính;… đã giới thiệu sơ lược một số tư tưởng pháp quyền của Kant và Hegel Đáng chú ý

là tác phẩm “Triết học pháp quyền của Hêghen”, do Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, xuất bản năm 2002, của Nguyễn Trọng Chuẩn và Đỗ Minh Hợp đã đề cập đến những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Hegel như ý chí tự do và vấn đề bản chất của pháp luật; vấn đề xã hội, nhà nước và con người; vấn đề quan hệ giữa các nhà nước và lịch sử thế giới

Thông qua sự phân tích các tác phẩm của Marx về triết học pháp quyền

Hegel như “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”; “Lời nói

đầu cho tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, của

Đinh Ngọc Thạch, một số nội dung tư tưởng của triết học pháp quyền Hegel cùng với thế giới quan duy tâm thần bí, tính chất dung hòa về mặt chính trị của ông đã được làm rõ Những năm gần đây, Bùi Văn Nam Sơn đã dịch và chú giải một số tác phẩm quan trọng của Immanuel Kant trong đó có tư tưởng triết

học pháp quyền, cụ thể là “Phê phán lý tính thuần túy”, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 2004; “Phê phán lý tính thực hành”, Nxb Tri thức, Hà Nội, xuất bản năm 2007 và “Phê phán năng lực phán đoán”, Nxb Tri thức, Hà Nội, xuất

bản năm 2007; Một số tác phẩm quan trọng của hệ thống triết học G.W F

Hegel cũng được Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải Đó là “Hiện tượng học

tinh thần”, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 2006; “Bách khoa thư các

Trang 12

7

khoa học triết học - I Khoa học Lôgíc”, Nxb Tri thức, Hà Nội, xuất bản năm

2008 và “Các nguyên lý của triết học pháp quyền”, Nxb Tri thức, Hà Nội,

năm 2010 Đây là những nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng ta có cơ sở để phân tích tư tưởng triết học pháp quyền Kant và Hegel một cách hệ thống hơn

Nhìn chung, tài liệu nghiên cứu tiếng Việt về lịch sử tư tưởng pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX còn rất ít Đặc biệt là tư tưởng pháp quyền của các nhà triết học khai sáng Đức thế kỷ XVIII như Christian Thomasius (1655 - 1728), Christian Wolff (1679 - 1754) và tư tưởng pháp quyền Đức thế kỷ XX như Gustav Radbruch (1878 - 1949) và Athur Kaufmann (1923 – 2001) hầu như chưa được các nhà khoa học ở nước ta quan tâm

Ở Đức, lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ

XIX rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên không phải nhà triết học Đức nào cũng đề cập đến tư tưởng pháp quyền, và không phải tư tưởng pháp quyền nào cũng có giá trị Vì vậy đề tài chỉ tập trung phân tích những tư tưởng pháp quyền tiêu biểu có ý nghĩa nhất định của từng thế kỷ Để thực hiện tốt đề tài,

chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu cả nguồn tài liệu nguyên bản của các nhà triết học, lẫn nguồn tài liệu tham khảo có giá trị

Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XVIII có ý nghĩa quan

trọng đối với sự phát triển của lịch sử tư tưởng pháp quyền Đức sau này, đặc

biệt là tư tưởng triết học pháp quyền của Christian Thomasius (1655 - 1728),

Christian Wolff (1679 - 1754) và Immanuel Kant (1724 – 1824)

Trong những tài liệu tham khảo về tư tưởng triết học Christian

Thomasius có thể kể đến tác phẩm “Giới thiệu về Christian Thomasius”

(“Christian Thomasius zur Einführung”) của Peter Schröder, Nxb Junius

Verlag, 1999; hai tác phẩm “Vương quốc và luật pháp trong triết học Đức”

(“Reich und Recht in der deutschen Philosophie”, xuất bản năm 1943 và “Tìm hiểu về lịch sử tư duy pháp quyền Đức và về những học thuyết đạo

Trang 13

Vương quốc Đức thời bấy giờ Theo đó, Thomasius đã bác bỏ quan điểm cho

rằng, ý chí của Thượng đế tạo nên bản chất tự nhiên của con người và vì vậy luật tự nhiên nằm trong ý chí của Thượng đế và trở thành cơ sở của luật thành văn Ông chỉ công nhận con người và cuộc sống tình cảm của họ Con người là

một thực thể cảm tính Phù hợp với quan điểm đó, Thomasius cho rằng, sự ổn

định của luật pháp là sự ổn định của cuộc sống ham muốn và xúc cảm nội tâm của con người dưới khía cạnh của những ý tưởng về lợi ích Sự ổn định của luật pháp là cần thiết bởi những ham muốn của con người như sự hiếu thắng, tham vọng và tính hưởng thụ cá nhân có thể làm cho đời sống xã hội mất sự ổn định Theo ông, cần thiết phải có những biện pháp bắt buộc từ bên ngoài để hạn chế những ham muốn cá nhân nhằm đưa lại sự ổn định cho xã hội Luật không phải là trách nhiệm đạo đức bên trong mà là sự bắt buộc nhằm cân bằng một cách thông minh kết quả của tất cả các cá nhân bằng phương tiện quyền lực nhà nước Ông nhấn mạnh sự cần thiết phải tách rời đạo đức, tôn giáo khỏi luật pháp hiện hành, và nhà thờ khỏi nhà nước Các qui phạm pháp luật có thể cưỡng chế thực hiện, nó có nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội, còn đạo đức là lĩnh vực của lương tâm cá nhân, thuộc

về đời sống nội tâm của con người

Tư tưởng triết học của Christian Wolff được đề cập đến trong nhiều tài

liệu tham khảo Một số tác phẩm như “Sự trình bày mang tính khái quát về

triết học của Christian Wolff, Günter Gawlick, und Lothar Kreimendahl” (“Einleitende Abhandlung über Philosophie im allgemeinen von Christian Wolff, Günter Gawlick, und Lothar Kreimendahl”) của Frommann Holzboog,

Trang 14

9

2006; “Trách nhiệm pháp lý mang tính lý tính của Christian Wolff” (“Das

rationale Pflichtenrecht Christian Wolff) của B.Winiger, xuất bản năm 1992,

“Lịch sử triết học” (“Geschichte der Philosophie”), tập 2, của Hirschberger,

Johannes, xuất bản năm 1991, cho chúng ta một cách nhìn tổng thể tư tưởng

pháp quyền của Wolff Theo đó Wolff cho rằng, tất cả các hiện tượng trong tự nhiên đều có thể nhận thức được bằng lý tính Giống Thomas Aquinas, Wolff

cho rằng, giữa lý tính và niềm tin không có sự mâu thuẫn, vì vậy con người vừa

có thể thực hiện trách nhiệm tôn giáo của mình vừa có thể thực hiện trách nhiệm xã hội do luật pháp hiện hành qui định Luật thành văn cần phù hợp với luật tự nhiên

Tài liệu về tư tưởng triết học pháp quyền Immanuel Kant khá nhiêu

Phần lớn các tác phẩm quan trọng của ông vẫn được lưu giữ nguyên bản, thậm chí được tái xuất bản nhiều lần với những chú giải phong phú của các nhà

nghiên cứu như “Phê phán lý tính thuần túy” (“Kritik der reinen Vernunft”) ,

do Raymund Schmidt phát hành, Nxb Philipp Reclam jun Leipzig, 1979;

“Dẫn luận về một siêu hình học tương lai” (“Prolegomena zu einer jeden künftigen Metaphysik”), do Steffen Dietzsch phát hành, Nxb Philipp Reclam

jun Leipzig, 1979; “Phê phán năng lực phán đoán” (“Kritik der

Urteilskraft”), do Karl Kehrbach phát hành, Nxb Philipp Reclam jun Leipzig,

1982; “Đặt nền móng cho siêu hình học của đạo đức” (“Grundlegung zur

Metaphysik der Sitten”), do Matina Thom phát hành, Nxb Philipp Reclam jun

Leipzig, 1983; “Phê phán lý tính thực tiễn” (“Kritik der praktischen

Vernunft”) do Matina Thom phát hành, Nxb Philipp Reclam jun Leipzig,

1983

Tư tưởng chủ đạo của Kant về triết học pháp quyền trong các tác phẩm

của ông là khẳng định quyền con người xuất phát từ quyền tự nhiên bẩm sinh (das angeborene Recht) và quyền có được (das erworbene Recht) do pháp luật

Trang 15

10

ban hành qui định – một bước tiến lớn so với tư tưởng pháp quyền tự nhiên của thời phục hưng – cận đại Điều đặc biệt ở Kant là luận giải của ông về khái niệm “pháp quyền” và “trách nhiệm pháp lý” (die Rechtspflichten) Khác với cách hiểu thông thường theo nghĩa tiêu cực (chịu sự trừng phạt khi gây ra hậu quả xấu), trách nhiệm pháp lý ở Kant được hiểu theo nghĩa tích cực là nghĩa vụ của mỗi người đối với chính mình và với mọi người Theo đó, với chính mình, hãy là một con người biết nhận thức về quyền của mình trong mọi quan hệ xã hội Luôn khẳng định giá trị của mình là giá trị của một con người, không tự làm mình chỉ trở thành phương tiện, mà đối với người khác hãy đồng thời là mục đích Với mọi người, không làm điều gì bất công, phải đối xử đúng luật và hãy tránh xa những mối liên hệ, những tổ chức gây bất công cho người khác

Nguồn tài liệu tham khảo về triết học pháp quyền Kant khá đa dạng Một

trong những tác phẩm quan trọng khái quát tư tưởng triết học của Kant tương

đối hệ thống là tác phẩm “Kants Rechtsphilosophie” (“Triết học pháp quyền

của Kant”) của G.- W Kuenters, xuất bản năm 1988 Tập hợp những văn bản

liên quan đến tư tưởng pháp quyền Kant, nhà nghiên cứu H Klenner đã cho ra

đời tác phẩm “Immanuel Kant, học thuyết pháp quyền; tài liệu về triết học

pháp quyền” (“Immanuel Kant, Rechtslehre; Schriften zur Rechtsphilosophie”) xuất bản năm 1988, trong đó ông đi sâu phân tích tư

tưởng pháp quyền tự nhiên của Kant, cụ thể là quyền tự do của con người và khái niệm “pháp quyền” của Kant

Những tài liệu khá quan trọng luận bàn trực tiếp về hệ thống pháp quyền của Kant bao gồm luật tự nhiên và luật ban hành, khẳng định sự tiến bộ của Kant khi ông vừa kế thừa tư tưởng pháp quyền tự nhiên của các nhà khai sáng Pháp để lập luận cho quyền tự nhiên của con người, vừa thấy được tầm quan trọng của luật ban hành trong việc thực thi quyền tự nhiên đó, thể hiện rõ trong

các tác phẩm “Khái niệm của Kant về luật tự nhiên và mối quan hệ giữa tư luật

Trang 16

11

và công luật” (“Kants Begriff des Naturrechts und das Verhältniss von privatem und öffentlichem Recht”) của G Römpp, xuất bản 199; “Luật tự nhiên và luật ban hành trong triết học pháp quyền Kant”( “Naturrecht und positives Recht in Kants Rechtsphilosophie”) do R Dreier chủ biên, xuất bản

năm 1990

Tư tưởng cơ bản của triết học pháp quyền Kant về vấn đề tự do, quyền

và phẩm giá làm người được trình bày trong nhiều tác phẩm trong đó có các tác

phẩm “Nhân phẩm con người, pháp quyền và nhà nước của Kant: năm sự

nghiên cứu” (“Menschenwürde, Recht und Staat bei Kant: Fünf Untersuchungen”) của Dietmar von der Pfordten , Nxb Mentis-Verlag, xuất

bản năm 2009; “Siêu hình học Kant: cuộc cách mạng trong tư duy lý luận hay

Kant về tự nhiên, Thượng đế và con người” (“Die Metaphysik Immanuel Kants: Eine Revolution im theoretischen Denken oder Kant über die Natur, Gott und den Menschen”) của Georg Biedermann, Nxb Angelika Lenz Verlag,

xuất bản năm 2000; “Sở hữu và lập luận về nhà nước trong siêu hình học đạo

đức Kant”(Eigentum und Staatsbegründung in Kants Metaphysik der Sitten”)

của Rainer Friedrich, Nxb Gruyter, xuất bản năm 2004;

Nối tiếp truyền thống duy lý từ Kant, tư tưởng pháp quyền Đức thế kỷ

XIX đã đạt tới đỉnh cao của nó với triết học pháp quyền Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831) mà người nâng đỡ nó là Johann Gottlieb Fichte (1762 – 1814) Trên cơ sở của điều kiện kinh tế - xã hội Đức thời bây

giờ và sự tiếp thu có tính phê phán những mặt cực đoan của triết học pháp

quyền Hegel, triết học pháp quyền của Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich

Engels (1820 - 1895) ra đời, kết thúc một thời kỳ lịch sử rất đáng tự hào của

dân tộc Đức trên lĩnh vực tinh thần

Các tác phẩm nguyên bản của Johann Gottlieb Fichte về tư tưởng triết

học nói chung và tư tưởng pháp quyền nói riêng được con trai ông - Immanuel

Trang 17

12

Hermann Fichte – sưu tầm, biên soạn những năm 1845 – 1846, gồm 8 tập,đã được Nxb Bayrische Akademie der Wissenschaften, tái xuất bản năm 1971,

trong đó có tác phẩm “Những nền tảng của pháp quyền tự nhiên theo những

nguyên tắc của học thuyết khoa học” (“Grundlage des Naturrechts nach Prinzipien der Wissenschaftslehre”) - một tác phẩm quan trọng luận bàn về tư

tưởng pháp quyền tự nhiên của Fichte

Các tác phẩm quan trọng khác của Fichte như “Sự đòi hỏi trở lại của sự

tự do tư tưởng từ những lãnh chúa Châu âu đối với những dân tộc mà họ đã đè nén cho đến nay”(“Zurückforderung der Denkfreiheit von den Fürsten Europens, die sie bisher unterdrückten”) được Frank – Peter Hansen phát

hành, Nxb Akademie – Verlag , Berlin, năm 1998; “Về khái niệm học thuyết

khoa học nói chung” (“Űber den Begriff der Wissenschaftslehre überhaupt”)

do Johannes Hirschberger phát hành, Nxb Herder, Freiburg, năm 1991; “Cơ

sở của toàn bộ học thuyết khoa học” ( “Grundlage der gesammten Wisenschaftslehre”) do Schulter Gueter phát hành, Nxb Campus Verlag,

Frankfurt am Main; “Những ý niệm về triết học của tự nhiên” (“Ideen zu einer

Philosophie der Natur”) (1797), trong: Tủ sách các nhà triết học, do Heinrich

Opitz và Hans Steussloff phát hành, Nxb Dietz Verlag, Berlin, năm 1988; “Về

linh hồn thế giới, một giả thuyết của vật lý tối cao nhằm giải thích về cơ thể phổ biến” (“Von der Weltseele, eine Hypothese der hoeheren Physik zur Erklaerung des allgemeinen Orgasnismus”) (1798), do Manfred Schoeter

phát hành, Nxb Frankfurt a Main;“Nhà nước thương mại khép kín Một phác

thảo triết học như là sự bổ sung cho học thuyết về luật và là sự thử nghiệm về một chính sách chính trị trong tương lai” (“Der geschlossene Handelsstaat Ein philosophischer Entwurf als Anhang zur Rechtslehre und Probe einer kuenftig zu liefernden Politik”) (1800) do Kutschera Franz phát hành, Nxb

Deutscher Verlag der Wissenschaften, Berlin, năm 1982 “Hệ thống của học

Trang 18

13

thuyết đạo đức” (“Das System der Sittenlehre”) do Immanuel Hermann Fichte

phát hành, Nxb Bayrische Akademie der Wissenschaften, 1971, t.2; “System

des transzendentalen Idealismus” (“Hệ thống chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm”) (1800), do Wener Juergen phát hành, Nxb Frankfurt am Main,

1982; “Hệ thống của học thuyết pháp quyền” (“Das System der Rechtslehre”)

(1812), do Richard Schottky phát hành, Hamburg, 1980

Tư tưởng cơ bản của triết học pháp quyền Fichte trong các tác phẩm của ông là vấn đề tự do và cùng với nó là quyền tự nhiên của con người Một trong những tác phẩm có ý nghĩa quan trọng trong tư tưởng triết học pháp quyền của

Fichte là tác phẩm “Những nền tảng của pháp quyền tự nhiên theo những

nguyên tắc của học thuyết khoa học” (“Grundlage des Naturrechts nach Prinzipien der Wissenschaftslehre” (1796) Trong tác phẩm này Fichte đã đề

cập đến những nội dung cơ bản của triết học pháp quyền (khái niệm pháp

quyền, quan hệ pháp quyền, hệ thống pháp luật…), đặc biệt là quyền nguyên

thủy (Urrecht) của con người theo lập luận của những nguyên tắc khoa học

chung Một trong những nguyên tắc đó là: cái Tôi không thể tồn tại nếu không

có cái Không - Tôi, hay cái Tôi bị giới hạn bởi cái Tôi khác Vận dụng nguyên

tắc trên vào lĩnh vực pháp quyền, Fichte đã lập luận rằng mỗi cá thể (tức chủ

thể - Subjektivitaet) không thể tồn tại nếu không có sự tồn tại của những cá thể khác (cái liên chủ thể – Intersubjektiviaet) và tự do của mỗi cá thể cần sự tồn tại (bị giới hạn bởi) tự do của những cá thể khác

Trong tác phẩm “Nhà nước thương mại khép kín Một phác thảo triết

học như là sự bổ sung cho học thuyết về luật và là sự thử nghiệm về một chính sách chính trị trong tương lai” (“Der geschlossene Handelsstaat Ein philosophischer Entwurf als Anhang zur Rechtslehre und Probe einer künftig

zu liefernden Politik”) (1800), Fichte đã trình bày một mô hình nhà nước lý tính (Vernunftstaat) với những những đạo luật và cách thức sản xuất cụ thể để

Trang 19

14

mỗi con người đang sống là một công dân thực sự của nhà nước đó và mỗi sản phẩm do công việc làm ra thuộc vào khối lượng của vòng luân chuyển chung Một nhà nước mà sự phân công lao động giữa các nghành nghề phải phù hợp với năng lực tự nhiên và mỗi người đều phải có việc để tồn tại xứng đáng với nhân phẩm của một con người

Từ sự phân tích mối quan hệ giữa tự do và quyền, giữa quyền và luật

trong tác phẩm “Hệ thống của học thuyết pháp quyền” (“Das System der

Rechtslehre”) (1812), Fichte kết luận rằng “pháp luật nhất thiết phải là một

tổng thể (eine Allheit), và chỉ những cá thể mà ý chí của anh ta tự giác phục tùng pháp luật mới thuộc vào tổng thể đó.” Một nguyên tắc quan trọng nhất trong quan hệ pháp quyền, theo Fichte, là “tất cả cần phải được tự do và không

ai cản trở tự do của người khác” (“Alle sollen frei sein, und keiner die Freiheit des Andern stoeren”)

Tự do của mỗi cá nhân thể hiện thông qua hành vi đạo đức Nhưng hành

vi đạo đức chỉ có thể có nếu các cá nhân đối xử với nhau như những nhân cách, thừa nhận quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền duy trì sự sống của tất cả những người còn lại Tất cả cần phải hạn chế tự do tự nhiên của mình để người khác cũng được tự do Tuy nhiên theo Fichte, trong thực tế không phải lúc nào các cá nhân cũng thực hiện đúng nguyên tắc trên, vì vậy tình trạng sử dụng vũ lực để chống lại nhau là khó tránh khỏi Để thoát khỏi tình trạng trên, các cá nhân phải trao toàn bộ quyền và sức mạnh của mình cho một tổ chức cao hơn có thể đảm bảo quyền của họ, đó là nhà nước Một nhà nước hoàn thiện là nhà nước hiện thực hóa những quyền cá nhân của con người

Nguồn tài liệu tham khảo liên quan đến tư tưởng triết học pháp quyền Fichte khá đa dạng, trong đó có nhiều tác phẩm quan trọng bàn về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong hệ thống triết học Fichte, vai trò của triết học

Trang 20

& Humblot, xuất bản năm 2003; “Hệ thống của luân lý/ phê phán pháp quyền

tự nhiên Fichte” (“System der Sittlichkeit / Kritik des Fichteschen Naturrechts”) của Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Horst D Brandt và Kurt

Reiner Meist, Nxb.Meiner, xuất bản năm 2001; “Học thuyết của Fichte về

những mối quan hệ pháp quyền: diễn giải điều 1- 4 trong „Cơ sở pháp quyền

tự nhiên” và vị trí của nó trong triết học pháp quyền” (“Fichtes Lehre vom Rechtsverhältnis: Die Deduktion der §§ 1-4 der "Grundlage des Naturrechts” und ihre Stellung in der Rechtsphilosophie”) của Rainer Zaczyk, Nxb

Klostermann, xuất bản năm 1992

Triết học pháp quyền Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831)

nhận được sự quan tâm thu hút từ nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như triết học, đạo đức học, chính trị học, luật học,… Tài liệu nghiên cứu về triết học pháp quyền Hegel rất đa dạng và phong phú, xuất phát từ nhiều góc độ và thế giới quan khác nhau Đáng chú ý nhất là tài liệu của nhà nghiên cứu Manfred Riedel Trong nhiều năm thu thập tài liệu về triết học Hegel nói chung

và triết học pháp quyền của ông nói riêng, Riedel đã đem lại cho chúng ta một cái nhìn vừa tổng thể vừa chuyên biệt về các lĩnh vực của toàn bộ hệ thống triết học Hegel Đối với triết học pháp quyền Hegel, Riedel đã nghiên cứu và tập hợp một khối lượng lớn những bài viết (đồng ý, phê phán, bình luận, giải thích)

về tác phẩm “Những nguyên lý của triết học pháp quyền” của Hegel trong các

tác phẩm “Nghiên cứu về triết học pháp quyền Hegel” (“Studien zu Hegels

Rechtsphilosophie”), xuất bản tại Frankfurt am Main năm 1969; “Lý luận và thực tiễn trong tư duy Hegel” (“Theorie und Praxis im Denken Hegel”), xuất

Trang 21

giới được đề cập đến trong các tác phẩm “Triết học pháp quyền của chủ nghĩa

duy tâm Đức” (“Die Rechtsphilosophie des deutschen Idealismus”), của

Hoesle, Vittorio, xuất bản tại Hamburg năm 1989; “Hegel và nhà nước quân

chủ Phổ” (“Hegel und der preussische Staat”) của Hoceva, Rolf, xuất bản tại

Muenchen năm 1973; “Hạn chế và thành công của triết học pháp quyền

Hegel” (“Anspruch und Leistung von Hegels “Rechtsphilosophie”), của

Jermann, Christian, xuất bản tại Stuttgart, năm 1986; “Sự tự do và hệ thống ở

Hegel” (“Freiheit und System bei Hegel”), của Angehrn, Emil, xuất bản tại

Berlin năm 1976; “Hegel và lịch sử triết học” của Dietmar Heidemann, xuất bản tại Berlin năm 2004; “Hegel và cách mạng Pháp” (“Hegel und die

französische Revolution”), của Ritter, Joachim, xuất bản tại Frankfurt am

Main năm 1957

Cùng phân tích và bình luận về tác phẩm “Những nguyên lý của triết

học pháp quyền” của Hegel, nhưng do xuất phát từ những quan điểm chính trị

khác nhau cũng như do tính chất thần bí, tư biện của bản thân tác phẩm, nên những công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những bình luận khác nhau, thậm

chí đối lập nhau Cụ thể, trong tác phẩm “Hegel và nhà nước quân chủ Phổ” (“Hegel und der preussische Staat”) của Hoceva, tác giả đã nhận định rằng

triết học pháp quyền Hegel là triết học của nhà nước quân chủ Phổ, bởi mọi lập luận của Hegel cuối cùng đều vì mục đích bảo vệ quyền thống trị của nhà

Trang 22

17

vua Không có sự độc lập của quyền tư pháp và hệ thống tam quyền phân lập thì mọi biện luận của Hegel về tự do và cách thức bảo vệ sự tự do đó đều trở nên vô nghĩa Trái lại, nhà nghiên cứu Ritter, trong tác phẩm của ông về

“Hegel và cách mạng Pháp” (“Hegel und die französische Revolution”) lại

cho rằng triết học pháp quyền Hegel thể hiện tinh thần tự do của cách mạng Pháp, tuy nhiên hiện thực của tinh thần ấy được Hegel thực hiện bằng con đường dung hòa các mặt đối lập Vì vậy mô hình quân chủ lập hiến của Hegel

không hoàn toàn là không có ý nghĩa

Quan điểm chủ đạo của các công trình nghiên cứu về triết học pháp quyền Hegel vẫn là phê phán sự bảo thủ về mặt chính trị và tư duy tư biện, thần

bí về mặt phương pháp Trong tác phẩm “Hegel và thời đại của ông Những

bài giảng về sự hình thành và phát triển, bản chất và giá trị của triết học Hegel” (“Hegel und seine Zeit Vorlesungen ueber Entstehung und Entwicklung, Wesen und Wert der Hegel’schen Philosophie”) của Haym

Rudolf, xuất bản tại Berlin,năm 1962, tác giả đã phê phán gay gắt quan điểm chính trị cực đoan của Hegel nhằm bảo vệ chế độ hiện tồn của chính quyền

Phổ

Trong các tác phẩm “Sự bình luận mang tính phê phán của hệ thống

triết học Hegel” (“Kritische Erlaeuterungen des Hegelschen Systems”) của

Rosenkramz, Karl, xuất bản tại Koeningsberg năm 1963; “Hiện tượng học tinh

thần của Hegel và nhà nước Một đóng góp cho sự bình luận về hiện tượng học tinh thần và triết học pháp quyền cũng như lịch sử phát triển của hệ thống triết học Hegel” (“Hegels Phänomenologie des Geistes und der Staat Ein Beitrag zur Auslegung der Phänomenologie des Geistes und Rechtsphilosophie und zur Geschichte der Entwicklung des Hegelschen Systems”), của Busse, Martin,

xuất bản tại Berlin năm 1971, các nhà nghiên cứu đã phân tích tư tưởng triết học Hegel một cách có hệ thống và đưa ra những bình luận, đánh giá về sự tiến

Trang 23

18

bộ cũng như những hạn chế của triết học pháp quyền Hegel Mặc dù nghiên cứu tư tưởng triết học pháp quyền Hegel từ nhiều góc độ và thế giới quan khác nhau, nhưng hầu hết họ đều nhất trí rằng, vấn đề cơ bản của triết học pháp quyền Hegel là vấn đề tự do ý chí, vấn đề nhà nước và quyền lực nhà nước cũng như mối quan hệ giữa chúng

Tư tưởng triết học pháp quyền Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich

Engels (1820 - 1895) thu hút nhiều công trình nghiên cứu từ nhiều góc độ và

quan điểm khác nhau Nguồn tài liệu nguyên bản về tư tưởng pháp quyền được tìm thấy trong Karl Marx / Friedrich Engels Toàn tập (Karl Marx / Friedrich

Engels Gesamtausgabe (MEGA)) với những tác phẩm tiêu biểu như "Góp phần

phê phán triết học pháp quyền Hegel Học thuyết về nhà nước" (“Zur Kritik

der Hegelschen Rechtsphilosophie Staatslehre”) (1843), "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel Lời nói đầu” (“Zur Kritik der Hegelschen Rechtsphilosophie Vorrede”) (1843/1844), "Hệ tư tưởng Đức” ( “Die

deutsche Ideologie”) (1845/1846), "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" (das Manifest der kommunistischen Partei”)(1848), "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (“Der Ursprung der Familie, des Privateigentums und des Staats”) và bộ“Tư bản” (“Das Kapital”)

Tư tưởng cơ bản của triết học pháp quyền Marx trong "Góp phần phê

phán triết học pháp quyền Hegel Học thuyết về nhà nước" là phê phán tính

chất duy tâm, tư biện, thần bí của triết học pháp quyền Hegel về mối quan hệ giữa gia đình, xã hội công dân và nhà nước; về quyền lực nhà nước (quyền lực của nhà vua, quyền hành pháp, lập pháp), phân tích sự khác nhau giữa chế độ nhà nước quân chủ lập hiến và chế độ nhà nước dân chủ, khẳng định rằng pháp luật phải tồn tại vì nhân dân chứ không phải nhân dân tồn tại vì pháp luật, và điều đó chỉ có thể xảy ra trong một chế độ nhà nước dân chủ mà thôi

Trang 24

19

Tác phẩm thể hiện rõ nhất tư tưởng pháp quyền của Engels là "Nguồn

gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” Trong tác phẩm này Engels đã vận dụng quan điểm duy vật lịch sử để phân tích các mối quan hệ

xã hội trong các giai đoạn lịch sử và đi đến kết luận rằng, các tiền đề kinh tế và

điều kiện lịch sử làm phát sinh chế độ tư hữu, nhà nước và gắn với chúng là sự

tiến hóa của các hình thức hôn nhân và gia đình Engels đã phát hiện ra cơ sở kinh tế của chế độ tư hữu (sự phát triển của lực lượng sản xuất, cụ thể là của tư liệu sản xuất; sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và trao đổi hàng hóa phát triển mạnh), của giai cấp và nhà nước Từ đó Engels đã chứng minh tính chất nhất thời về mặt lịch sử của chúng Ông nhấn mạnh tính biện chứng của

sự phát sinh ra chế độ tư hữu và nhà nước với tính cách là cơ sở của xã hội có đối kháng giai cấp Nhà nước được hình thành do mâu thuẫn giai cấp và trở thành “công cụ bóc lột“, là “bộ máy đàn áp“ của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị

Tất cả những tài liêu nguyên bản trên của Marx và Engels về pháp quyền

được tập hợp trong “Karl Marx / Friedrich Engels Toàn tập (MEGA): Tác

phẩm của Karl Marx đến năm 1844” (“Karl Marx / Friedrich Gesamtausgabe (MEGA): Werke von Karl Marx bis 1844” do Oldenbourg Akademieverlag ,

xuất bản năm 2009; “Karl Marx / Friedrich Engels: Hệ tư tưởng Đức” (“Karl

Marx / Friedrich Engels: Die deutsche Ideologie”) do Harald Bluhm biên

soạn, Nxb Oldenbourg Akademieverlag, xuất bản năm 2009 “Karl Marx /

Friedrich Engels Toàn tập (MEGA): Tập 12-13 Tư Bản” (“Karl Marx / Friedrich Gesamtausgabe (MEGA): Bd 12 – 13 Das Kapital”) do Izumi

Omura, Keizo Hayasaka, Rolf Hecker và Akira biên soạn, Nxb Oldenbourg

Akademieverlag, xuất bản năm 2005; “Karl Marx / Friedrich Engels Toàn tập

(MEGA): Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước 29”) (“Karl Marx / Friedrich Engels Gesamtausgabe (MEGA): Der Ursprung der

Trang 25

20

Familie, des Privateigentums und des Staats: 29”) Nxb Oldenbourg

Akademieverlag, xuất bản năm 1990

Ngoài tài liệu gốc nguyên bản, tài liệu tham khảo của các nhà nghiên cứu

về tư tư tưởng pháp quyền của Marx và Engels khá phong phú và đa dạng (mácxít và phi mácxít) Nhưng nhìn chung, các công trình khoa học vẫn tập trung vào những tác phẩm tiêu biểu liên quan đến vấn đề nhà nước và pháp luật

của Marx, Engels Có thể kể đến những tác phẩm như “Về Karl Marx – Phê

phán triết học pháp quyền Hegel” (“Ueber Karl Marx - Zur Kritik der Hegelschen Rechtsphilosophiecủa Patrick Kiesch, Nxb Grin Verlag năm 2002;

Trong tác phâm này, tác giả đã trình bày và phân tích nội dung tư tưởng cơ bản của Marx về pháp quyền thông qua sự phê phán triết học pháp quyền Hegel, tác giả đồng ý với Marx về những đánh giá tích cực cũng như những mặt còn hạn chế của triết học pháp quyền Hegel

Một số tác phẩm đề cập một cách khái quát nhất tư tưởng pháp quyền của Marx, Engels thông qua việc giới thiệu những chuyên đề về triết học Marx

trong đó có tưởng pháp quyền như “Những nguyên lý của triết học Marx”

(“Grundlagen der marxistischen Philosophie”) của Manfred Bưrner und Peter

Bollhagen, Nxb.Dietz, xuất bản năm 1959; “Dẫn nhập triết học Marx” (“Einfuehrung in die marxistische Philosophie”) của Robert Steigerwald, Nxb Edition Marx Blaetter, xuất bản năm 1990; “Bản chất và sự hình thành triết

học Marx” (“Wesen und Entstehung der marxistischen Philosophie”) của

Gerhard Harig, Nxb Verl., xuất bản năm 1958;

Cũng có những nhà nghiên cứu không đồng tình hoàn toàn với quan điểm của Marx và Engels về một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tương lai dựa trên sự xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Dựa trên quan điểm của Hegel về quyền tự do sở hữu như là sự thể hiện nhân cách của con người, các nhà triết học này cho rằng sự xóa bỏ sở hữu tư nhân đi ngược lại quyền tự

Trang 26

21

nhiên và quyền con người Tuy nhiên họ thừa nhận điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hường mạnh mẽ đến tư tưởng pháp quyền của một chế độ chính trị Đó là

các tác phẩm “Phê phán triết học về nhà nước và pháp quyền xã hội chủ

nghĩa” (“Kritik der marxistisch - sozialistíchen Rechts- und Staatsphilosophie ”) của Valentin Petev, Nxb Duncker & Humblot, xuất bản

năm 1989; “Hegel va học thuyết nhà nước mácxít) (“Hegel und die

marxistische Staatslehre ”) của Jakob Barion, Nxb Bouvier, xuất bản năm 1963…

Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XX là sự kế thừa tư tưởng

pháp quyền Đức từ những thế kỷ trước trong xu thế hội nhập quốc tế về mọi mặt, mọi lĩnh vực Câu hỏi quan trọng mà triết học pháp quyền Đức thế kỷ này quan tâm là, liệu có tồn tại những nguyên tắc pháp quyền chung cho mọi nền văn hóa ? Có nhiều học thuyết được đưa ra đề cập đến nhiều khía cạnh khác

nhau trong lĩnh vực pháp quyền trong đó nối bật hơn cả là tư tưởng của Gustav

Radbruch (1878 - 1949) và Athur Kaufmann (1923 – 2001)

Tài liệu liên quan đến những vấn đề lý luận về nội dung pháp quyền, sự cần thiết phải kế thừa những tư tưởng tiến bộ của triết học pháp quyền tự nhiên

và triết học pháp quyền thực chứng cũng như triết học pháp quyền mácxít được

đề cập đến trong những tác phẩm như “Dẫn nhập về khoa học luật và triết học

pháp quyền trong thời đại ngày nay”(“Einführung in die Rechtswissenschaft und Rechtsphilosophie der Gegenwart“) của Alfred Bllesbach, Guenter

Ellscheid, Winfried Hassemer und Arthur Kaufmann, Nxb C.F Mueller, xuất

bản năm 2010; “Triết học pháp quyền: Sách nghiên cứu” („Rechtsphilosophie:

Ein Studienbuch”) của Reinhold Zippelius, Nxb Beck Juristischer Verlag, xuất

bản năm 2007; “Triết học pháp quyền và học thuyết về luật” (“Rechtsphilosophie und Rechtstheorie”) của Matthias Mahlmann, Nxb Nomos, xuất bản năm 2010; “Triết học pháp quyền trong thế kỷ XX: Sự trở lại

Trang 27

22

của công bằng” (“Rechtsphilosophie im 20 Jahrhundert: Rueckkehr der Gerechtigkeit”) của Johann Braun, Nxb C.H Beck, xuất bản năm 2001; “Triết học pháp quyền trong thời đại ngày nay” (“Rechtsphilosophie der Gegenwart”) của Arno Baruzzi, Nxb Wissenschaftliche Buchgesellschaft,

xuất bản năm 2006 (“Grundprobleme der Rechtsphilosophie”) của Martin

Kriele von Lit-Verlag, 2008 Các tác phẩm trên đã trình bày và phân tích sự khác biệt cũng như sự tương đồng giữa lý luận về nhà nước và pháp luật của khoa học luật và triết học pháp quyền của khoa học triết học Khẳng định rằng triết học pháp quyền là môn học rất quan trọng của triết học và nội dung cơ bản của nó là vấn đề công bằng nhưng không chỉ là công bằng cá nhân mà là công bằng xã hội Trong thời đại ngày nay, khi các nền văn hóa đang xich lại gần nhau thì điều cần thiết là phải có những nguyên tắc pháp quyền chung mang tính thời đại, làm nền tảng cho luật ban hành

Gustav Radbruch, nhà triết học pháp quyền đã trải qua thời kỳ phát xít

nhận thấy sự sai lầm của tư tưởng thực chứng pháp quyền thời kỳ cuối, khi nó chỉ quan tâm đến tính lôgic, tính hệ thống của các đạo luật, văn bản luật mà

không để ý đến nội dung pháp quyền Trong tác phẩm “Luật ban hành bất

công và luật ban hành công bằng” (“Gesetzliche Unrecht und über gesetzliches Recht”), in trong toàn tập, gồm 20 tác phẩm của ông do Arthur

Kaufmann biên soạn, Nxb C.F Mueller, xuất bản năm 2003, đã khẳng định rằng: Ở đâu mà luật ban hành không nhằm đạt tới công bằng, ở đâu mà sự bình đẳng là hạt nhân của công bằng bị phủ nhận một cách có ý thức khi ban hành luật, thì ở đó luật ban hành không chỉ là “luật sai”, mà nó còn hoàn toàn không chứa đựng bản chất của luật Bởi vì người ta không thể nào định nghĩa pháp quyền khác đi là một trật tự mà ý nghĩa của nó không gì khác là phục vụ cho công bằng Tư tưởng trên của ông được xem như là một công thức cho luật ban

hành được phân tích trong tác phẩm “Công thức Radbruch Tìm hiểu về triết

Trang 28

23

học pháp quyền Radbruch” (“Die Radbruchsche Formel Eine Untersuchung der Rechtsphilosophie Gustav Radbruchs” của Hidehiko Adachi, Nxb Nomos,

xuất bản năm 2006;

Tiếp thu tư tưởng của Radbruch, bổ sung phát triển thêm những ý

tưởng mới, Arthur Kaufmann cho rằng tiêu chí của luật ban hành phải phù

hợp với quyền tự do cơ bản và quyền con người mới được gọi là “luật đúng.”

Theo đó nội dung cơ bản của triết học pháp quyền là sự công bằng/công lý (Gerechtigkeit) hay là học thuyết về sự công bằng, mà mục đích của nó là công

bằng xã hội, và để đạt được mục đích ấy cần sự bảo đảm về mặt pháp lý (an

toàn pháp lý), tức là hiệu lực của luật Yêu cầu trước tiên của an toàn pháp lý

là tính xác định của luật Các khái niệm luật không xác định như “nguy hiểm“

“sai sự thật“ sẽ gây phương hại đến an toàn pháp lý Những quan điểm trên của

ông được trình bày cụ thể trong những tác phẩm “Những vấn đề cơ bản của

triết học pháp quyền Nhập môn về tư duy pháp quyền” (“Grundprobleme der Rechtsphilosophie Eine Einfuehrung in das rechtsphilosophische Denken” của

Arthur Kaufmann, Nxb Beck, 1994; Cụ thể và hệ thống hơn là tác phẩm “Triết

học pháp quyền” (“Rechtsphilosophie” ) của Arthur Kaufmann, Nxb C.H

Beck Verlag, xuất bản năm 1997, trong đó ông đã lập luận về bản chất, nhiệm

vụ của triết học pháp quyền thế kỷ XX, lịch sử tư tưởng pháp quyền từ thời trước đến nay thông qua hai hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản là pháp quyền tụ nhiên và pháp quyền thực định cũng như sự chuyển hóa nội dung pháp quyền phù hợp với tình hình mới Arthur Kaufmann đã công bố trên 30 tác phẩm liên quan đền triết học pháp quyền, tạo dựng được dấu ấn trong lịch sử tư tưởng pháp quyền Đức

Như vậy, với những học thuyết của mình về sự công bằng, các nhà triết học pháp quyền Đức thế kỷ XX cho rằng họ đã tìm được “con đường thứ ba“ nằm ngoài triết học pháp quyền tự nhiên và chủ nghĩa thực chứng pháp quyền

Trang 29

24

Kaufmann cho rằng, học thuyết của ông về sự công bằng là “sự phản chiếu ý tưởng“ của con người Nó thể hiện rằng, con người là thực thể tự quyết (là người làm luật), là mục đích của thế giới loài người (và như vậy cũng là mục đích của luật) và con người đồng thời là thực thể phụ thuộc (chịu sự điều chỉnh của luật pháp)

Nhìn chung, tài liệu nghiên cứu về lịch sử tư tưởng pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX rất phong phú và đa dạng Chắc chắn rằng nguồn tài liệu bằng những ngoại ngữ khác về vấn đề này cũng rất nhiều nhưng chúng tôi sẽ dựa trên nguồn tài liệu trong và ngoài nước, đặc biệt là nguồn tài liệu nguyên bản bằng tiếng Đức để trình bày, phân tích, đưa ra những nhận định khoa học nhất, đáp ứng phần nào nhu cầu tìm hiểu chuyên sâu về tư tưởng pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài là trình bày và phân tích một cách có hệ thống

những nội dung cơ bản của lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX thông qua những tư tưởng pháp quyền đặc trưng của từng thế kỷ, từ đó đưa ra những đánh giá về mặt tiến bộ, hạn chế, và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng lý luận về một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khái quát về triết học pháp quyền với những hệ tư tưởng pháp

quyền cơ bản; phân tích mối quan hệ giữa triết học pháp quyền với triết học đạo đức, lý luận pháp quyền và triết học chính trị

Thứ hai, khái quát điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận ảnh hưởng

đến tư tưởng pháp quyền Đức thế kỷ XVIII; trình bày và phân tích những nội

dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XVIII thông qua một

số nhà triết học tiêu biểu như Christian Thomasius (1655 - 1728), Christian Wolff (1679 - 1754), Immanuel Kant (1724 – 1804), trên cơ sở đó đưa ra

những nhận định về những giá trị và hạn chế của những tư tưởng trên

Trang 30

25

Thứ ba, khái quát bối cảnh lịch sử xã hội Tây Âu và Đức thế kỷ XIX;

trình bày và phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp

quyền Đức thế kỷ XIX thông qua một số nhà triết học tiêu biểu: Johann Gottlieb

Fichte (1762 –1814), Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831), Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich Engels (1820 - 1895), đưa ra những đánh giá

về những giá trị và hạn chế của những tư tưởng trên

Thứ tư, khái quát bối cảnh lịch sử xã hội Tây Âu và Đức thế kỷ XX;

trình bày và phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp

quyền Đức thế kỷ XX thông qua một số nhà triết học tiêu biểu như Gustav

Radbruch (1878 - 1949) và Athur Kaufmann (1923 – 2001); nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ

XX đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đề tài đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh để giải quyết những vấn đề đã được đặt ra trong mục đích và nhiệm vụ của đề tài

5 Những đóng góp mới của đề tài

Đề tài đã trình bày, phân tích một cách khái quát về những hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản trong lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền phương Tây cũng như sự ảnh hưởng của chúng đối với các thể chế chính trị pháp quyền trên thế giới, nhất là tại nước Đức Bên cạnh đó đề tài đã làm rõ mối quan hệ giữa triết học pháp quyền với triết học đạo đức, lý luận pháp quyền và triết học chính trị

Từ việc phân tích bối cảnh lịch sử xã hội Tây Âu và Đức trong những thế kỷ XVIII, XIX, XX, đề tài đã làm rõ sự ảnh hưởng của chúng đối với sự hình thành những tư tưởng pháp quyền Đức trong từng thế kỷ Những nội dung

cơ bản của tư tưởng pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX được trình bày và phân tích một cách có hệ thống thông qua những tư tưởng cúa các nhà triết học tiêu biểu của từng thế kỷ, từ đó đề tài đã đưa ra những nhận định về những giá trị và hạn chế của những tư tưởng trên cũng như ý nghĩa của nó đối

với việc xây dựng lý luận về một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 31

26

Lịch sử tư tưởng pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX khá phong phú và đa dạng với nhiều học thuyết khác nhau, thậm chí đối lập nhau Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những tư tưởng mang tính đặc trưng của từng thế kỷ có ảnh hưởng sâu đậm đến lịch sử tư tưởng pháp quyền phương Tây nói chung và ở Đức nói riêng Đó là tư tưởng pháp quyền của Thomasius, Wolff và Kant trong thế kỷ XVIII; Fichte, Hegel, Marx và Engels trong thế kỷ XIX; Radbruch và Kaufmann trong thế kỷ XX

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở trình bày và phân tích một cách có hệ thống những nội dung

cơ bản của lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế

kỷ XX thông qua những tư tưởng pháp quyền đặc trưng của từng thế kỷ, từ đó đưa ra những đánh giá về mặt tiến bộ và hạn chế của nó, đề tài có ý nghĩa nhất định đối với việc xây dựng và hoàn thiện lý luận nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử tư tưởng triết học phương Tây, triết học pháp quyền, triết học chính trị và các nghành khoa học xã hội khác

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được triển khai thành 4 chương: Chương 1: Khái quát về triết học pháp quyền; Chương 2: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XVIII; Chương 3: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XIX; Chương 4: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XX

Trang 32

27

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN

1.1 Khái niệm triết học pháp quyền và những hệ tư tưởng

pháp quyền cơ bản

Triết học pháp quyền là một hình thái ý thức xã hội của xã hội có giai cấp, nó ra đời cùng với sự xuất hiện nhà nước Triết học pháp quyền chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định về kinh tế, xã hội và chính trị trong xã hội loài người Khi xã hội phân chia thành giai cấp và khi mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì nhà nước ra đời và cùng với nó là những tư tưởng triết học pháp quyền cũng được hình thành Điều đó cũng có nghĩa là trong xã hội cộng sản nguyên thủy, chưa thể tồn tại tư tưởng triết học pháp quyền Măc dầu vậy, trong xã hội cộng sản nguyên thủy vẫn tồn tại những chuẩn mực, những qui tắc xử sự nhất định để có thể ổn định và phát triển Đó là các tập quán, các tín điều tôn giáo và những qui phạm đạo đức Các qui phạm xã hội này tuy không phải là pháp luật nhưng đã phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và được mọi người tự giác thực hiện

Sự hình thành và phát triển khái niệm pháp quyền là một quá trình lâu dài, phức tạp Là một hình thái ý thức xã hội nên đối tượng, nội dung nghiên cứu của triết học pháp quyền ở mỗi mỗi thời đại lịch sử rất khác nhau Tuy nhiên chúng ta có thể khái quát lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền thành bốn

hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản, đó là pháp quyền tự nhiên, pháp quyền thực chứng, pháp quyền mácxít và tư tưởng pháp quyền hiện nay

Mặc dù quan điểm về triết học pháp quyền được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau do tính qui định của lịch sử thời đại và bản chất giai cấp của nó, nhưng nhìn chung triết học pháp quyền thường được các nhà nghiên cứu phương Tây định nghĩa là triết học về pháp luật và về quyền con

Trang 33

28

người trong việc ban hành pháp luật Một trong những câu hỏi chính được đặt

ra là, con người có tự do ban hành pháp luật hay không, giá trị pháp quyền tối cao là gì, và làm thế nào thực thi những giá trị pháp quyền đó thông qua hệ

thống quyền lực nhà nước.2

Tư tưởng pháp quyền tự nhiên có cội nguồn từ thời cổ đại, ở thời kỳ đó,

con người đã bắt đầu nghiên cứu về pháp luật và quyền lực, hình thức và cơ cấu về mối quan hệ qua lại giữa chúng Pháp luật của một nhà nước thường được các triết gia cổ đại gắn liền với khái niệm công bằng Công bằng, lẽ phải, pháp luật là do Thượng đế định ra, chúng là những thuộc tính vốn có trong Trời

- Đất, chúng đối lập với bạo lực, sự chuyên quyền, độc đoán và sự hỗn loạn Khi nói về sự phục tùng pháp luật, sự tuân thủ pháp luật của người dân La Mã

và Hy Lạp cổ xưa, thì pháp luật được hiểu là những đạo luật công bằng, hợp với lẽ thường của Trời - Đất, chứ không phải là sự áp của bạo lực Platon cho rằng, một chế độ nhà nước chỉ có thể tồn tại ở nơi nào đó, nếu ở đó các đạo luật công bằng giữ vai trò thống trị Aristote đã nhấn mạnh rằng, nơi nào không có sức mạnh của luật pháp thì nơi đó không có hình thức chế độ nhà nước Aristote nhấn mạnh tính tối cao của pháp luật trong một nhà nước được tổ chức theo đúng nghĩa của nó

Các nhà triết học cổ đại không chỉ chú trọng tới giá trị tối cao của pháp luật - sự công bằng - mà còn chú ý tới sự tổ chức hợp lý của hệ thống quyền lực nhà nước, tổ chức các cơ quan nhà nước, phân định rõ ràng thẩm quyền của các cơ quan đó Cả hai khía cạnh này đều có ý nghĩa quan trọng, gắn bó mật thiết với nhau Mặc dù không phải là người đưa ra học thuyết phân quyền theo tinh thần của lý luận về nhà nước pháp quyền nhưng Aristote đã đưa ra tư tưởng là trong bất kỳ nhà nước nào cũng phải có ba yếu tố: cơ quan làm luật,

các cơ quan thực thi và các tòa án Nhà tư tưởng lớn của La Mã cổ đại, Marcus

2 A Kaufmann: Rechtsphilosophie (Triết học pháp quyền), Nxb Beck, München, 1997, tr 7 - 8

Trang 34

29

Tullius Cicero (106 TCN – 43 TCN), đã xem pháp luật là cội nguồn tạo ra chế

độ, tổ chức nhà nước Pháp luật ở đây được hiểu là pháp luật tự nhiên, pháp luật xuất phát từ bản chất lý trí của con người và của thế giới xung quanh con người như sự sáng tạo của lý trí thần thánh Pháp luật tự nhiên có trước nhà nước và luật thành văn Luật thành văn cần đáp ứng đòi hỏi của luật tự nhiên Theo Cicero thì luật có tác động đến tất cả mọi tầng lớp trong xã hội và nhà nước là pháp luật chung của mọi công dân

Tư tưởng triết học pháp quyền thời cổ đại có ảnh hưởng mạnh đến thời

kỳ trung cổ phong kiến Đây là thời kỳ thống trị của tôn giáo và nhà thờ, Thiên chúa giáo trở thành một tổ chức tập quyền hùng mạnh, thống trị Tây Âu về kinh tế, chính trị và tinh thần Tín điều nhà thờ Thiên chúa giáo trở thành điểm xuất phát của mọi tư duy Vì vậy một thế giới quan thần học bao trùm lên toàn

bộ tư tưởng triết học Tây Âu thời kỳ này Vấn đề trung tâm mà các nhà kinh viện nghiên cứu là mối quan hệ giữa tri thức và niềm tin tôn giáo Cũng chính

vì vậy triết học pháp quyền Tây Âu trung cổ mang đậm dấu ấn của Thiên chúa giáo và là sự thể hiện các cố gắng dung hòa giữa học thuyết Thiên chúa giáo

với di sản của triết học cổ đại, chủ yếu là với Platon và Aristote Sự phân đôi

thành luật tự nhiên và luật ban hành trong triết học cổ đại được thay thế bởi sự phân ba thành luật Thượng đế (luật vĩnh cửu), luật tự nhiên và luật nhân loại (luật ban hành, luật nhất thời)

Sự phân ba này thể hiện rõ ở Augustin (354 – 430) Ông là môn đệ của trường phái Platon mới với quan điểm: toàn bộ sự tồn tại là bản chất tự nhiên

và ông đã “cơ đốc hóa” Platon theo hướng tôn giáo Theo ông, giữa đạo Cơ đốc

và triết học trường phái Platon mới không có mâu thuẫn sâu sắc mà chúng có

thể tồn tại song song Học thuyết Platon mới do Plotin (203 – 269) khởi xướng,

được Augustin vận dụng trong việc lý giải bản chất và quyền lực của Thượng

Trang 35

30

đế Platon phân biệt thế giới “ý niệm” và thế giới khả giác, tức là phân biệt rõ ràng linh hồn và thể xác của con người, tâm hồn khả tử còn linh hồn bất tử

Nhằm dung hòa học thuyết của mình với tư tưởng Platon, Augustin cho

rằng, Thượng đế đã tạo ra thế giới từ hư vô Nhưng trước khi Thượng đế sáng tạo ra thế giới thì “ý niệm” đã tồn tại trong Thượng đế Như vậy Thượng đế tồn tại và luận thuyết về “ý niệm” của Platon không bị bác bỏ Ông đã cố gắng

thống nhất tư duy Hy lạp và Cơ đốc giáo với nhau và cho rằng, chỉ có luật

Thượng đế (lex aeterna) và luật tự nhiên (lex naturalis) là nền tảng của tồn tại

Luật vĩnh cửu (luật Thượng đế) là kế hoạch thế giới hay ý chí Thượng đế nhằm duy trì trật tự tự nhiên và ngăn ngừa sự tàn phá Luật vĩnh cửu được hiểu là trật

tự tồn tại tổng thể bao gồm cơ thể thế giới (lex naturalis), tồn tại ý tưởng lôgíc (lex rationis) và sự tồn tại của những qui tắc đạo đức (lex voluntatis, ordo amoris).“Trên cơ sở luật vĩnh cửu, thông qua nó, trật tự tự nhiên được bảo đảm, chúng ta có thể sống bình yên”.3 Luật vĩnh cửu là nguyên tắc của đạo đức

và bởi vì nguyên tắc ấy về mặt nội dung trùng lặp với bản chất Thượng đế, chính xác hơn là với sự thông thái của Thượng đế, nên ông cũng có thể nói

rằng, Thượng đế là nguyên tắc cuối cùng của cái Thiện Tất cả mọi cái tốt chỉ

có thể thông qua Thượng đế, cũng như tất cả mọi sự thật chỉ có thể thông qua Thượng đế mới trở thành sự thật và tất cả sự tồn tại chỉ có thể thông qua Thượng đế mới có sự tồn tại.4

Với những lập luận trên, Augustin đã cố chứng minh cho sự bất diệt và trường tồn của chế độ chiếm hữu nô lệ Ông khẳng định rằng, chế độ nô lệ là là

do Chúa định Mặc dù mọi người bình đẳng theo tự nhiên, nhưng “kẻ nô lệ phải là nô lệ vì những tội lỗi của mình”, kẻ nô lệ là nô lệ vì có lỗi trước Chúa, nên nô lệ hoàn toàn cam chịu phục vụ chủ nô của mình Với Augustin, con

Trang 36

31

người là thực thể lý tính, thông qua ý chí của mình tạo nên nhà nước Tuy vậy, nhà nước Thượng đế khác với nhà nước trần gian (civitas terrena) Nhà nước Thượng đế là một trật tự lý tưởng, được hình thành từ những con người sống trong Thượng đế và từ Thượng đế, thông qua trật tự lý tưởng đó, thế giới và con người tìm thấy hòa bình và thiên đường của Thượng đế Nhà nước trần gian là trật tự được con người xây dựng nên, có thể là một tổ chức tốt và đạt nhiều thành quả trong việc kiến thiết đất nước Nhưng theo Augustin thì về bản chất, nhà nước trần gian cũng chỉ là nhà nước của trái đất này, và về cơ bản không trật tự (cupiditas naturalis) Xuất phát từ quan điểm trên, Augustin đòi quyền cho tầng lớp giáo hội và cho rằng, nhiệm vụ của các nhà nước là phục

vụ giáo hội, bảo vệ luật lệ giáo hội và tiêu diệt tà đạo

Thomas Aquinas (1225-1274) đã “cơ đốc hóa” Aristote như Augustin

đã từng cơ đốc hóa Platon Cả ông lẫn Augustin đều cơ đốc hóa các triết gia lỗi lạc Hy Lạp theo cách của nhà thờ Thomas Aquinas đã cố gắng tổng hợp giữa

đức tin và sự hiểu biết, ông cho rằng có một loại “chân lý vừa thần học vừa tự nhiên“ Với Aristote, trí năng có thể cho ta nhận thức được chân lý Thomas Aquinas nhấn mạnh thêm rằng, một phần của chân lý ta có thể nhận biết được bằng trí năng và quan sát, phần khác của chân lý con người có thể nhận biết được qua kinh thánh Nếu Aristote chỉ giả định rằng, có sự hiện hữu của Thượng đế, nguyên nhân đầu tiên tạo ra cội nguồn tất cả các quá trình diễn ra trong tự nhiên, thì Thomas Aquinas tin rằng trên nền tảng triết học của Aristote ông có thể chứng minh sự tồn tại của Thượng đế Giữa trí năng và kinh thánh không có sự mâu thuẫn mà có thể bổ sung cho nhau Con người cần cả trí năng lẫn giáo lý

Về mặt luật pháp Thomas Aquinas cho rằng, Thượng đế là nhà lập pháp tối thượng, là đấng sáng tạo mọi qui luật, siêu nhiên lẫn tự nhiên, luật pháp của

con người bắt nguồn từ Thượng đế Ông phân biệt thần luật và nhân luật Thần

Trang 37

32

luật chỉ ra con đường đạt tới sự cực lạc chốn thiên đường, còn nhân luật qui định trật tự đời sống xã hội nơi trần tục Trong tác phẩm “Thần học toàn thư”,

ông đã chia pháp luật thành bốn loại: Luật vĩnh cửu (lex aeterna) là “trí tuệ của

Chúa“ điều hành thế giới, là cơ sở của tự nhiên, xã hội và của trật tự toàn thế giới Luật vĩnh cửu vô ngôn, bất khả thuyết, bất khả tư lượng, chỉ bản thân Thượng đế hoặc những ai thực chứng được bản thể của Thượng đế mới có thể

nắm bắt được qui luật ấy Luật tự nhiên (lex naturalis) là “sự phản chiếu của

luật vĩnh cửu bằng lý trí của con người”, bao gồm mong muốn bảo toàn sinh mạng, kế tục nòi giống và những qui luật chung sống của con người Luật tự nhiên không chỉ quyết định sự vận hành các cơ quan của con người, nó còn bao hàm cả những phẩm chất luân lý, vì vậy, luật tự nhiên cũng là luật đạo đức

Mọi hành vi trái với luật tự nhiên đều trái với đạo đức Nhân luật (lex humana:

luật thành văn, luật thực định) là pháp luật phong kiến hiện hành, là sự phản

ánh các đòi hỏi của luật tự nhiên, về nguyên tắc, luật thành văn không được phản tự nhiên Theo Thomas Aquinas, hiệu lực của pháp luật hiện hành dựa trên cơ sở sự cưỡng chế của xã hội, còn luật tự nhiên “bất thành văn” thông qua mệnh lệnh của lương tâm, bắt buộc con người tuân theo các nguyên tắc luân lý Chính vì vậy, luật tự nhiên có liên quan đến nghĩa vụ đạo đức hơn là nghĩa vụ

luật pháp Thần luật hay luật báo ứng thể hiện trong kinh thánh.5

Aristote phân biệt hai loại công bằng, đó là công bằng bù trừ và công

bằng phân chia, trong đó công bằng phân chia là công bằng của công luật, công

bằng bù trừ là công bằng của tư luật Thomas Aquinas đã bổ sung hệ thống của Aristote bằng một hình thức thứ ba của công bằng: đấy chính là công bằng

pháp quyền (iustitia legalis).6 Công bằng pháp quyền nhấn mạnh nghĩa vụ của mỗi người đối với mọi người (nghĩa vụ bầu cử)

Trang 38

33

Cũng giống như Aristote, Thomas Aquinas cho rằng với luật pháp con

người là thực thể quyền quí nhất, không có nó con người là con vật hung bạo nhất Giữa pháp luật và quyền lực có mối quan hệ mật thiết với nhau Luật thành văn phải mang tính công bằng, tính đạo đức, truyền thống, phù hợp không gian, thời gian và vì lợi ích chung.7 Ông nhấn mạnh rằng, có sự khác

nhau giữa những điều luật bất công (vô đạo hay trái với luật Thượng đế) và những điều luật bất lợi (trái ý hoặc gây tổn hại cho lợi ích người khác) Ông

khuyên con người không nên tuân thủ những điều luật bất công Đối với những điều luật bất lợi thì tùy thuộc vào nhận thức và lương tâm của mỗi cá nhân để hành xử Từ tự nhiên con người là một thực thể xã hội Nhà nước hình thành

từ gia đình, làng xã Trong các hình thức nhà nước quân chủ, quí tộc, dân chủ

và bạo chính thì theo ông hình thức nhà nước quân chủ là ưu việt nhất Nếu kết hợp được các thiết chế nhà nước quân chủ, quí tộc và dân chủ với nhau thì rất tốt Nhà nước bạo chính là hình thức tồi tệ nhất Mục đích của nhà nước là

thực hiện cuộc sống hạnh phúc và cuộc sống đức hạnh của thần dân Mục đích

cao nhất tất nhiên là hạnh phúc bên Chúa Nhà nước tạo điều kiện để thần dân thực hiện đời sống tôn giáo của mình Ông cho rằng quyền lực nhà thờ cần cao hơn quyền lực nhà nước, lúc cần giáo hoàng có khả năng quyết định lật đổ kẻ độc tài

Cả Augustin và Thomas Aquinas đều cho rằng luật pháp của con người

mà trái với luật tự nhiên hay thậm chí luật Thượng đế thì được xem là “luật thối nát“ (lex corrupta) và không có giá trị hiệu lực Trật tự xã hội và những nguyên tắc công bằng của nó tuân theo khuôn mẫu mà Thượng đế đã định hình sẵn trong thế giới tự nhiên “Mọi quyền lực đều xuất phát từ ý Chúa”, vì vậy Thomas Aquinas cho rằng, con người phải tuân theo giới cầm quyền, vì

“không có quyền lực nào nằm ngoài quyền năng của Thượng đế” Người cầm

7

Sđd, tr 521 - 523

Trang 39

34

quyền là người sở hữu quyền lực nhưng đồng thời là người đảm nhiệm trách nhiệm cao hơn người khác Đối kháng với quyền lực là đối kháng với “thiên mệnh”, với “trật tự” mà Thượng đế đã định ra Người cầm quyền trong một nhà nước có nhiệm vụ thực hiện trật tự dưới trần gian theo ý Thượng đế và mọi thần dân đều phải tuân theo Hành động sai trái của kẻ cai trị tàn ác nhất, theo ông, cũng là hành động gián tiếp của Thượng đế

Tóm lại, xã hội phong kiến Tây Âu trung cổ là xã hội được thống trị bởi

hệ tư tưởng tôn giáo Trong mối quan hệ giữa tri thức và niềm tin - vấn đề cơ bản được bàn luận trong triết học thời đó - chủ nghĩa kinh viện luôn đề cao vai trò của niềm tin, hạ thấp vai trò của tri thức và phương pháp quan sát thực nghiệm Triết học pháp quyền vì vậy cũng mang đâm dấu ấn của chủ nghĩa kinh viện Các nhà kinh viện, đặc biệt là Augustin và Thomas Aquinas đã cố gắng dung hòa các học thuyết của mình với học thuyết của Platon và Aristote, giữa lý trí và niềm tin, nhằm biệt minh cho sự bất công của chế độ phong kiến

Họ cho rằng, nhà nước, luật pháp là sự thể hiện giá trị văn hóa của loài người Không có nhà nước và pháp luật con người là động vật hung bạo nhất Augustin và Thomas Aquinas đề cao vai trò của luật tự nhiên hay luật Thượng

đế và cho rằng Thượng đế là nguyên tắc cuối cùng của cái thiện Các ông nhấn mạnh mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và pháp luật nhưng trên thực tế là khẳng định quyền lực của nhà thờ và kêu gọi sự phục tùng của thần dân đối với

“trật tự” mà Thượng đế đã định ra Như vậy các nhà tư tưởng thời kỳ này đã xuyên tạc những học thuyết tiến bộ của thời cổ đại, đặc biệt là của Aristote, để chứng minh cho sự tồn tại của Thượng đế, phục vụ tôn giáo và nhà thờ

Khác với các nhà triết học cổ đại, các nhà triết học pháp quyền tự nhiên

thời phục hưng và cận đại như Hugo Grotius (1583 -1642), Thomas Hobbes

(1588 -1679), John Locke (1632 - 1704), Voltaire (1694 – 1778), Montesquieu (1689 – 1755) đều cho rằng, bên cạnh luật ban hành còn tồn tại một thứ pháp

Trang 40

35

luật cao hơn, đó là luật tự nhiên Luật tự nhiên xác lập quyền tự nhiên của con

người, và một nhà nước “hợp lý tính” là một nhà nước đảm bảo được quyền tự nhiên của con người

Hầu hết tư tưởng pháp quyền tự nhiên thời kỳ này đều xuất phát từ “bản

tính tự nhiên” của con người (độc ác; thiện; ích kỷ;…) để lập luận cho luật

tự nhiên (chung sống thành xã hội; tự bảo tồn nòi giống;…), từ đấy khẳng

định quyền tự nhiên của con người (quyền sống, quyền tự do; mưu cầu hạnh phúc; ) và đưa ra những hình thức và quyền lực nhà nước (thống nhất quyền

lực; phân chia quyền lực; ) để đảm bảo những quyền tự nhiên đó Tư tưởng

pháp quyền thời kỳ này khẳng định rằng luật tự nhiên là tuyệt đối, phổ biến và

vượt qua giới hạn lịch sử Điều đó có nghĩa là luật tự nhiên có hiệu lực cao hơn luật ban hành, có hiệu lực đối với tất cả mọi người và trong mọi thời đại

Nhà nước được hình thành dựa trên sự liên kết của ý chí cá nhân hay khế ước

xã hội Mục đích của nhà nước và luật ban hành là đảm bảo quyền tự nhiên cơ

bản của con người như quyền tự do, bình đẳng và quyền sở hữu

Hugo Grotius (1583 – 1645) – nhà triết học người Hà Lan - là người đầu

tiên đề cập đến pháp quyền tự nhiên với tác phẩm nhiều tập “Bàn về pháp luật

của chiến tranh và hòa bình”(“De jure belli ac pacis”) (1625) Trong tác

phẩm này, ông đề cập đến nhiều vấn đề như: thế nào là cuộc chiến tranh chính nghĩa, người ta có quyền giết tù binh hay không và vì sao? Quyền sống của con người, các hình thức của chiến tranh và mọi vấn đề liên quan đến chiến tranh,

luật sở hữu, luật nhà nước, luật hình sự đều được ông phân tích khá rõ ràng

Điểm đặc trưng trong triết học pháp quyền của ông là cơ sở luật pháp không xuất phát từ quyền lực nhà nước mà từ cơ sở tự nhiên và lý tính của con người

Con người là một “thực thể xã hội” và vì vậy luôn có khuynh hướng hướng tới

xã hội chứ không phải là nhà nước Nhà nước không làm cho con người liên

kết với nhau mà chính là khế ước, một nguyên tắc giữa con người với nhau

Ngày đăng: 22/01/2021, 20:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm