Khó khăn nằm ở chỗ lịch sử - xã hội, tư duy nghệ thuật, tư tưởng của thời đại hay ngôn ngữ đều tuân thủ những bước đi về cơ bản có tính tuyến tính, tức là thể hiện rõ rệttính trình tự củ
Trang 1MỤC LỤC Trang
Mục lục……… 1
A Phần mở đầu 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Phương pháp nghiên cứu 7
4 Những đóng góp chính 8
5 Bố cục của công trình 9
B Những nội dung chính 11
Chương I Một số vấn đề thời đại chi phối đời sống văn học 11
1.1 Con đường dẫn đến một tổng thể văn hóa mới 11
1.1.1Từ di sản thời đại Tiền Khai sáng 11
1.1.2.Đến thời đại Khai sáng: một tổng thể văn hóa mới 20
1.2 Đặc tính chung và riêng biệt mang màu sắc dân tộc của phong trào Khai sáng 32
1.3 Thế kỉ XVIII là thế kỉ của văn xuôi……… 40
Chương II Những thể loại văn xuôi tiêu biểu –các thể loại tiểu thuyết 46
2.1 Thể loại và thể loạitiểu thuyết……… 46
2.2 Những thể loại tiêu biểu……… 53
2.2.1 Tiểu thuyết phong tục 53
2.2.2 Tiểu thuyết tình cảm 71
2.2.3 Tiểu thuyết đối thoại triết học 89
2.2.4 Tiểu thuyết phiêu lưu du kí 93
2.2.5 Một vài hình thức tiểu thuyết khác 107
Chương III Những thể loại văn xuôi tiêu biểu: các thể loại truyện 111
3.1 Truyện triết học và chính trị 112
3.2 Truyện có yếu tố kì ảo 130
Trang 23.3 Tự truyện 140
3.4 Văn xuôi thư tín 151
C Kết luận 156
Tài liệu tham khảo………160
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lịch sử văn học có thể được nhìn từ nhiều góc nhìn khác nhau: góc nhìn lịch
sử - xã hội, góc nhìn tư tưởng và tư duy nghệ thuật, góc nhìn sự tiến hóa của ngôn ngữ… Ở mỗi góc nhìn như thế sẽ cho ta những trắc diện khác nhau của lịch sử văn học, và vì vậy hình ảnh một nền văn học hoặc một thời đại văn học với quá trình vận động của nó sẽ hiện ra rõ ràng hơn Cũng có thể nhìn lịch sử văn học dưới góc nhìn thể loại trong một chừng mực nào đó, dù góc nhìn này thực sự không dễ dàng
và cũng khó hi vọng có một sự giải đáp trọn vẹn Khó khăn nằm ở chỗ lịch sử - xã hội, tư duy nghệ thuật, tư tưởng của thời đại hay ngôn ngữ đều tuân thủ những bước đi về cơ bản có tính tuyến tính, tức là thể hiện rõ rệttính trình tự của sự vận động, trong khi đó lịch sử thể loại lại như một câu chuyện khác, trong mỗi thời đại
có thể có bước đi tuyến tính nhưng trong toàn bộ tiến trình văn học thì không phải lúc nào cũng như thế, có thể có sự lặp lại hoặc hiện tượng tái sinh thể loại cũ trong những điều kiện mới… Thể loại văn học, bởi vậy,cũng cần phải được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng, để qua đó tìm ra lí do của sự xuất hiện và tồn tại của các thể loại văn học khác nhau, cũng như vị trí của các thể loại đó trong tiến trình phát triển văn học nói chung
Hình thức văn học không tồn tại một cách cô lập, và vì vậy thể loại không chỉ thuần túy là hình thức, mà bản thân nó cũng nói lên nhiều điều Tại sao một thể loại (bất kì) chỉ tồn tại trong thời đại này mà không phải ở thời đại khác, tại sao cũng cùng thể loại nhưng ở mỗi thời đại lại có những sự khác biệt, hay thể loại tiến hóa như thế nào trong tiến trình lịch sử văn học… Những câu hỏi liên quan đến thể loại văn học như vậy tự nó đã gợi ra sự trả lời nghiên cứu thể loại văn học có ý nghĩa như thế nào trong việc nghiên cứu lịch sử văn học nói chung, của một nền hoặc một vùng văn học nói riêng
Thế kỉ XVIII có vị trí khá đặc biệt trong tiến trình lịch sử xã hội cũng như lịch sử văn hóa và tư tưởng phương Tây Đó là một thế kỉ đặc biệt, vì sau thời đại Phục hưng với rất nhiều thay đổi thì thế kỉ XVIII là một bước phát triển mới, vừa
kế thừa những thành tựu của thời đại Phục hưng (thế kỉ XV, XVI) và thế kỉ XVII, vừa có những đổi mới, trên con đường đi đến với một phương Tây hiện đại, kết quả không thể không có của trào lưu tư sản hóa trong quá trình vận hành của lịch
Trang 4sử Một tổng thể văn hóa mới trong thời đại Khai sáng và đêm trước của cách mạng tư sản đã làm nảy sinh nhiều yếu tố mới, vừa phản ánh thực tế của một thời đại, vừa hứa hẹn những triển vọng về một hoặc nhiều thế kỉ tương lai Thế kỉ ấy được làm nên bởi nhiều hoạt động với nhiều thành tựu khác nhau, từ chính trị đến triết học, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thguật…, trong đó những hoạt động văn học vừa là một bộ phận cấu thành thời đại Khai sáng, vừa không tách rời với những hoạt động và thành tựu trên các lĩnh vực khác Qui luật của lịch sử văn hóa
đã chỉ ra, ở những thời kì lịch sử có những bước ngoặt, những khúc quanh là thế kỉ luôn bao chứa trong nó rất nhiều tiềm năng, nhiều khả thể khác nhau, và đời sống văn học cũng vậy Nghiên cứu sâu về văn học thời đại Khai sáng, bởi vậy, chắc chắn hứa hẹn nhiều thú vị, nó giúp ta hiểu đầy đủ hơn không những văn học của một thời đại, mà còn có thể giúp hiểu thêm về những thời đại trước và sau nó.Chọn vấn đề thể loại của văn học Khai sáng, cụ thể hơn là tìm hiểu các thể loại văn xuôi,
hi vọng nghiên cứu này phần nào góp phần giải đáp được những câu hỏi về thể loại
mà ta có thể đặt ra
Phương Tây, nếu tính về địa lí sẽ bao gồm nhiều nước trong một khu vực văn hóa với những đặc trưng riêng, trước hết là các quốc gia Tây Âu và khu vực Địa trung hải, thêm vào đó là văn học châu Mỹ Tuy nhiên, trong khuôn khổ một nghiên cứu có giới hạn và khả năng không bao quát hết toàn bộ tư liệu văn học của một khu vực văn hóa rộng lớn, nghiên cứu này tự giới hạn chỉ nghiên cứu thành tựu văn học thời Khai sáng của một số nền văn học tiêu biểu và mang tính đại diện
là văn học Anh, văn học Pháp, văn học Đức và Mỹ (Hoa Kỳ) Những thành tựu văn học của một số nền văn học khác, nếu có đề cập đến (như văn học Tây Ban Nha, văn học Ý ), cũng là những thành tựu mang tính đại diện và có ý nghĩa bổ sung để khẳng định tính chất phổ biến của những thành tựu chung của văn học khu vực
Thời đại Khai sáng là thời đại của những xáo trộn, không những chỉ trên bình diện lịch sử xã hội và chính trị, mà cả sự xáo trộn trong cấu trúc văn hóa tinh thần Trong một thời đại có nhiều xáo trộn như thế tất yếu tồn tại những cuộc giao tranh cũ – mới, ở đó vừa hé lộ những giá trị, những nhân tố chưa có trong tiền lệ, nhưng cũng có cả sự lưu giữ những giá trị và nhân tố đã tồn tại lâu đời Đứng trước bức tranh có quá nhiều những mảng màu khác nhau như vậy, công trình nghiên cứu này khó có thể nắm bắt và trình bày hết được tất cả thực tế đời sống văn nghệ như mong muốn Vì vậy chúng tôi cũng tự giới hạn mình ở việc tìm hiểu những thể
Trang 5loại văn học không những chỉ đạt đến trình độ đỉnh cao về thành tựu của văn học thế kỉ XVIII, mà còn là những thể loại gắn liền với tinh thần khai sáng của thời đại, tức là những thể loại văn học gắn liền với chức năng, hoặc có ý nghĩa trong việc thực hiện chức năng thức tỉnh lương tri con người trong một thời đại lịch sử chuyển mình của phương Tây và châu Âu
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về văn xuôi thời đại Khai sáng đã có một lịch sử lâu dài, nhưng những nghiên cứu chuyên biệt phương diện thể loại thì chưa có, có chăng chỉ đề cập kết hợp trong các công trình viết về lịch sử văn học châu Âu, văn học phương Tây hay lịch sử các nền văn học thuộc khu vực văn học Âu – Mỹ Vì vậy, trong các mục cụ thể trong công trình chúng tôi sẽ đề cập cụ thể hơn khi đi vào từng thể loại, ở đây chỉ nêu lên một số phương diện vừa thuộc “lịch sử nghiên cứu”, vừa có ý nghĩa định hướng cho hướng tiếp cận và giải quyết vấn đề trong các chương nội dung công trình
2.1 Về nội hàm “Thời đại Khai sáng”:
Cách hiểu và giới thuyết về thời đại Khai sáng là không đồng nhất Trong các cuốn sách của Gustave Lanson (Lịch sử văn học Pháp), Milton, Seymour và Gross (Tổng quan văn học Mỹ), Spanckeren (Đại cương văn học Mỹ), Alexander (Văn học Anh), Lịch sử văn học châu Âu (Benoit và nhiều tác giả)…, xét trên đại thể, các tác giả đều xem đó là thời đại của lí tính, của tinh thần cách mạng và dân chủ, đồng thời xem văn học thời đại này đã tham gia một cách tích cực và có ý nghĩa vào tiến trình vận động của lịch sử trong quá trình chuyển hóa từ phong kiến sang
tư sản (với nhiều quốc gia châu Âu), và từ quốc gia phụ thuộc sang quốc gia độc lập (với Hoa Kỳ) Cách quan niệm ấy trong các cuốn sách của các tác giả Việt Nam như “Lịch sử văn học phương Tây” (nhiều tác giả), “Văn học Pháp” (Hoàng Nhân), “Lịch sử văn học Anh quốc” (Đỗ Khánh Hoan)… cũng cho ta cách hiểutương tự về nội hàm khái niệm
Có thể cắt nghĩa được cách hiểu như vậy, hay nói đúng hơn là sự định hướng về cách hiểu ấy Điều này xuất phát từ thực tế một tính chất rất đặc biệt có từ chính đội ngũ các nhà văn của thời đại Khai sáng, đó là tuyệt đại đa số những nhà văn lớn trong thời đại Khai sáng là những người sắm nhiều vai khác nhau, họ vừa là nhà văn, nhưng đồng thời cũng là những nhà hoạt động xã hội, nhà tư tưởng, nhà
Trang 6khoa học, nhà hoạt động chính trị…, và những sáng tác của họ, theo những cách khác nhau, có ý nghĩa làm đầy và sâu sắc vai trò “người mẹ đẻ” của cách mạng tư sản và trào lưu tư sản hóa của thời đại Hơn nữa, “thế kỉ XVIII cơ bản là thế kỉ của cách mạng Pháp” Trào lưu tranh đấu ở Pháp vốn rất tiêu biểu cho khuynh hướng lịch sử của phương Tây và những tác gia lớn như Diderot, Voltaire, Rousseau, Montesquieu…đều tham gia vào hoạt động khoa học, triết học, chính trị, cho nên cách nhìn thời đại Khai sáng ở phương Tây nói chung cũng thường bị chi phối bởi hình ảnh và tính chất của thời đại Khai sáng và văn học Khai sáng Pháp
Sự định hướng cách hiểu về thời đại Khai sáng như thế không sai, nhưng nếu chỉ dừng lại ở định hướng ấy thì vô hình trung đã ít nhiều thu hẹp ý nghĩa của văn học Khai sáng đối với tiến trình vận động của lịch sử văn học, cũng như không nhìn thấy hết mức độ phong phú của đời sống văn học thời đại này Trong khi đó, văn học Khai sáng thực tế đã có rất nhiều thành tựu mà nếu không có nó sẽ khó lí giải được sự thăng hoa rực rỡ của những trào lưu văn học quan trọng, đóng vai trò là những chủ lưu của văn học thế kỉ XIX như văn học lãng mạn và văn học hiện thực Bởi vậy, văn học Khai sáng cần phải được nhìn thấu đáo từ hai khía cạnh, nó vừa là văn học của một thời đại tranh đấu, đầy biến động về lịch sử - chính trị - xã hội – tư tưởng triết học, nhưng đồng thời cũng là một thời đại văn học hàm chứa trong nó nhiều khía cạnh có tính chất đặt vấn đề, dự báo về những triển vọng thẩm
mĩ mới trong thế kỉ tương lai
2.2 Chung quanh một số thể loại văn học chính
Trong công trình này, những thể loại văn học quan trọng (tiểu thuyết phong tục, truyện triết học và chính trị, tiểu thuyết tình cảm, tự truyện…) sẽ được giới thuyết
cụ thể hơn về bản chất thể loại cũng như quan niệm khác nhau về chúng ở các mục
và tiểu mục cụ thể Để tránh lặp lại, ở đây chỉ tóm lược một số điểm liên quan trực tiếp đến những nội dung mới mà người viết muốn đặt ra và giải quyết:
- Về sự định danh cho thể loại truyện triết học và chính trị, nhất là những câu chuyện của Voltaire và Montesquieu Trong phần lớn các cuốn sách viết về thể loại truyện này, các tác giả chủ yếu gọi đó là những câu chuyện triết học (contes philosophiques) Tuy nhiên, xét nội dung, cách định danh ấy chưa thực sự phù hợp,
cụ thể ở chỗ chưa phản ánh được đầy đủ đặc trưng nội dung của chúng, bởi vì dù
có nội dung triết học, triết lí nhưng những nội dung triết học và triết lí ấy lại gắn
Trang 7với mục đích chính trị cụ thể, tức gắn với những vấn đề của thế kỉ Khai sáng (thái
độ với thể chế phong kiến, tôn giáo, hay tinh thần tự do, dân chủ…)
- Tương tự, một số sáng tác của Richardson thường được xem là những tiểu thuyết tình cảm (M Alexander hay Đỗ Khánh Hoan chẳng hạn), nhưng nếu so sánh với sáng tác của các tiểu thuyết gia đương thời thì việc xếp tiểu thuyết của Richardson cùng loại với tiểu thuyết của Henry Fielding (loại tiểu thuyết phong tục hay tiểu thuyết hiện thực) phù hợp hơn so với việc xếp tiểu thuyết của nhà văn này bên cạnh các tiểu thuyết của J.J Rousseau và Goethe (những tiểu thuyết tiêu biểu cho kiểu tiểu thuyết tình cảm chủ nghĩa)
- Trong những công trình viết về văn học thế kỉ XVIII, tác giả của các cuốn sách như “Lịch sử văn học Pháp mới” (nhiều tác giả, Đại học Harvard, bản tiếng Anh, 1994), “Đại cương lịch sử văn học Mỹ” (Spanckeren, 1994), Lịch sử văn học Pháp (G Lanson), Lịch sử văn học Anh (Alexander, 2007), Lịch sử văn học châu Âu (nhiều tác giả, 1994)… những thành tựu của các thể loại văn học chủ yếu được xem xét trong mối tương quan với nội dung thời đại, chứ chưa xem xét thành tựu của những thể loại văn học ấy trong mối tương quan với văn học trước và sau thời đại Khai sáng Bởi vậy, tính liên tục của sự tiến hóa văn học hay ý nghĩa đặt nền móng cho những triển vọng thẩm mĩ mới của văn học thế kỉ này cũng chưa được chú ý một cách đúng mức
3 Phương pháp nghiên cứu
Mục đích của công trình nghiên cứu này không đặt trọng tâm vào thi pháp thể loại, đó sẽ là công việc cho một nghiên cứu khác, ở đó sẽ xem xét kĩ lưỡng hơn
sự vận động, tiến hóa của các thể loại văn học có đời sống lâu dài và tồn tại qua nhiều thế kỉ và thời đại văn học Công trình cũng không phải là sự tranh luận về khái niệm thể loại, những vấn đề quan niệm khác nhau về thể loại nếu có thì việc
đề cập cũng chỉ nhằm góp phầnlàm sáng tỏ những vấn đề khác Trọng tâm củanghiên cứu, bởi vậy, sẽ là tìm cách lí giải lí do sự có mặt và tồn tại của những thể loại văn xuôi khác nhau trong một thế kỉ đặc biệt, cũng như thành tựu và ý nghĩa của nó trong tiến trình lịch sử văn học phương Tây Định hướng nghiên cứu như vậy sẽ qui định sự lựa chọn những phương pháp tiếp cận khác nhau để nhằm làm rõ vấn đề:
Trang 8Tiếp cận lịch sử - văn hóa Trong lịch sử văn học phương Tây từ khởi thủy, văn học thời đại Khai sáng là một trong những thời đại mà lịch sử văn học gắn rất chặt với bầu khí quyển văn hóa của thời đại Thậm chí, khi ta biết rằng văn học Khai sáng là một bộ phận quan trọng của phong trào Khai sáng (được hiểu là một phong trào văn hóavà tri thức trong thế kỉ đêm trước của cách mạng tư sản), bên cạnh triết học, khoa học, những quan niệm mới về tôn giáo…, ta sẽ thấy chính văn học đã góp một phần hết sức quan trọng để làm nên vai trò “mẹ đẻ” của phong trào này đối với phong trào cách mạng tư sản Sự thực về những liên hệ mật thiết giữa văn học Khai sáng với những dữ kiện văn hóa, lịch sử xã hội và chính trị mà thế kỉ này có được là cơ sở thực tế cho sự lựa chọn hướng tiếp cận này
Thời đại Khai sáng là một thời đại quan trọng trong tiến trình tư sản hóa và hiện đại hóa của các quốc gia phương Tây Được sản sinh và vận hành trong một thời đại như thế, văn học Khai sáng là một tiếng đồng vọng với không khí chung của thời đại, nó nằm trong trào lưu chuyển đổi liên tục và mạnh mẽ về quan niệm thẩm mĩ, lí tưởng thẩm mĩ, cũng như những bình diện khác có quan hệ gần gũi và tác động sâu sắc đến đời sống văn học Vì vậy, việc đặt văn học Khai sáng nói chung và thể loại văn xuôi trong thời đại Khai sáng nói riêng trong sự đối sánh với thời đại văn học trước nó và sau nó trở thành cần thiết, để trên cơ sở đó dễ dàng xác định vai trò, vị trí của các thể loại văn xuôi trong thời đại này một cách khách quan.Tiếp cận so sánh cũng cho phép đặt thể loại văn xuôi thời đại Khai sáng trong mối tương quan với các thể loại lớn khác như trữ tình, kịch và một số thể loại hoặc tiểu loại văn học khác
Những hướng tiếp cận vấn đề khác như tiếp cận loại hình, loại hình –lịch sử, hay tiếp cận thi pháp học thể loại cũng sẽ được vận dụng bổ sung trong nghiên cứu này trong những trường hợp được xem là cần thiết
4 Những đóng góp chính
4.1 Như tên đề tài nghiên cứu, công trình nghiên cứu này trong một mức độ nhất định đã trình bày được một bức tranh tổng quan về văn học thời đại Khai sáng trên bình diện thể loại, trên cơ sở gắn với những thành tựu về nội dung của các thể loại
ấy
Trang 94.2 Với những thể loại tiêu biểu được chỉ ra, chúng tôi có ý thức tìm hiểu và lí giải
lí do thực sự cho sự xuất hiện và tồn tại của các thể loại văn học, thành tựu cũng như vị trí và ý nghĩa của chúng trong tiến trình văn học phương Tây nói chung 4.3 Với quan niệm tương quan giữa cách tân và kế thừa, giữa đột biến và liên tục tiệm tiến như là những qui luật phổ biến của lịch sử văn học ở bất kì một khu vực hay nền văn học nào, chúng tôi nhận thấy khi một hiện tượng văn học mới ra đời,
dù cách tân mạnh mẽ đến đâu, thậm chí có thể tạo ra những “cú sốc” thẩm mĩ, chúng cũng được chuẩn bị hoặc âm thầm, hoặc mạnh mẽ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp và lâu dài từ trong lịch sử Khẳng định qui luật ấy, khi nghiên cứu về văn học thế kỉ XVIII và thời đại Khai sáng, chúng tôi có ý thức không cô lập thời đại Khai sáng ra khỏi các mối liên hệ với thời đại trước nó trong một dòng chảy liên tục là tiến trình hiện đại hóa văn hóa và văn học phương Tây, bắt đầu từ thời đại Phục hưng
5 Bố cục của công trình
Công trình này được chia thành hai phần:
Phần một (A): Phần mở đầu, trong đó đề cập tới Lí do lựa chon đề tài, Lịch sử
vấn đề, Phương pháp tiếp cận, Những đóng góp chính và Bố cục của công trình
Phần hai (B): Những nội dung chính
Trong phần này chúng tôichia thành ba chương, trong đó nội dung của mỗi chương vừa độc lập nhưng đồng thời chúngcũng có quan hệ khăng khít với nhau, làm tiền
đề cho nhau, trong khi giải quyết những vấn đề ở chương sau vẫn có thể trở lại những vấn đề đã được đặt ra ở chương trước Cụ thể,bachươngcủa công trình được định hướng giải quyết nội dungnhư sau:
Chương I:Đề cập một số vấn đề thời đại chi phối đời sống văn học thời đại Khai
sáng, trong đó kể cả những yếu tố có ý nghĩa tiền đề từ thời đại Phục hưng, Cổ điển (trong các thế kỉ từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII) Trong chương nàyba vấn đề chính sẽ được giải quyết:
- Con đường đi đến một tổng thể văn hóa mới: nhằm nghiên cứu khí quyển văn hóa, lịch sử cũng như những dữ kiện có ý nghĩa chuẩn bị cho sự bùng nổ và khẳng định những giá trị mới của thời đại Khai sáng
Trang 10- Đặc tính chung và riêng biệt mang tính dân tộc của phong trào Khai sáng Xuất phát từ qui luật phát triển không đồng đều của tiến trình lịch sử cũng như của văn hóa, văn học, ở mục này chúng tôi muốn nhấn mạnh tính thống nhất - tinh thần Khai sáng - và những biểu hiện đa dạng của tinh thần thời đại Khai sáng ấy ở những dân tộc và nền văn hóa khác nhau Trên cơ sở ấy chúng tôi góp phần kiến giải sự phong phú, đa dạng về thể loại văn học cũng như thành tựu văn học của thời đại này
- Khẳng định sự phát triển khá sung mãn của các thể loại văn xuôi so với kịch và trữ tình, đồng thời lí giải những nhân tố thời đại đã chi phố một cách mạnh mẽ đặc điểm này của đời sống văn học
Chương II: Đề cập những thể loại văn xuôi tiêu biểu trong lĩnh vực tiểu thuyết và những đặc điểm mang tính thời đại của chúng
Ở chương này, chúng tôi đề cập đến một số thể loại tiểu thuyết tiêu biểu Những thể loại được nêu lên vửa liên quan tới những vấn đề đặc trưng của thời đại, vừa có
ý nghĩa góp phần làm thay đổi đời sống văn học, cũng như mở ra những triển vọng thẩm mĩ mới cho văn học thế kỉ sau Những thể loại tiêu biểu đó là: tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết đối thoại triết học, tiểu thuyết phiêu lưu
và một vài tiểu loại khác)
Chương III: Đề cập đến những thể loại văn xuôi tiêu biểu trong lĩnh vực, trong đó
chủ yếu là truyện triết học và chính trị, truyện có yếu tố kì ảo và tự truyện
Ởchương II này, ngoài việc nêu và phân tích những thành tựu của một số thể loại như đã nêu, chúng tôi cũng đề cập một đặc điểm hết sức nổi bật, được vận dụng cho nhiều tiểu loại văn xuôi, đó là hình thức thư tín trong mục “Văn xuôi thư tín, một hình thức văn học phổ biến”
Trang 11B NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG I.MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỜI ĐẠI CHI PHỐI ĐỜI SỐNG VĂN HỌC THỜI ĐẠI KHAI SÁNG
1.1 Con đường dẫn đến một tổng thể văn hóa mới
Lịch sử các dân tộc và các nền văn hóa phương Tây đã hơn một lần chứng kiến những sự thay đổi có tính đột biến một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống, từ những thay đổi về cấu trúc xã hội đến thay đổi về cấu trúc văn hóa –
tư tưởng, và kéo theo đó là những thay đổi về nền nếp tư duy.Mỗi lần thay đổi như thế, như một hệ quả tất yếu, đã tạo ra vô số những biểu hiện mới làm nên một bầu khí quyển mới mà ở đó mọi họat động của con người, trong đó có văn học, muốn hay không đều có xu hướng bị cuốn vào quĩ đạo của nó
1.1.1 Từ di sản thời đại Tiền Khai sáng
Thời đại Khai sáng với phong trào Khai sáng là một sự bùng nổ, nhưng sự bùng nổ ấy chắc chắn không mạnh mẽ, sâu sắc và bền vững để có được những kết quả như lịch sử đã cho thấy, nếu không có một sự chuẩn bị qua một thời gian dài,
âm ỉ của tiếng nói thuộc một mạch văn hóa mà trong tương lai nó sẽ là chủ thể của đời sống văn hóa tinh thần của phương Tây – văn hóa mang tinh thần tư sản, bắt đầu mạnh mẽ từ thời đại Phục hưng, thời đại mở đầu cho quá trình hiện đại hóa và
tư sản hóa của xã hội phương Tây Theo đó, thời đại Tiền Khai sáng cũng được hiểu là thời đại gắn với quãng thời gian kéo dài khoảng ba thế kỉ, từ thế kỉ XV cho đến thế kỉ XVII
Phong trào Phục hưng, “đó là bước ngoặt tiến bộ vĩ đại nhất mà loài người
đã trải qua từ trước cho đến bấy giờ, đó là một thời đại cần có những người khổng
lồ và đã sinh ra những người khổng lồ: khổng lồ về tư tưởng, về nhiệt tình, về tính cách, khổng lồ về tài năng nhiều mặt và học thức uyên bác…” [45, tr 9].Đó cũng
“là một hiện tượng mang tính lịch sử toàn cầu trong nền văn hóa thế giới” [15, tr 383], diễn ra từ rất nhiều khu vực khác nhau, từ Đông Á (thế kỉ V-VI), Trung Á (thế kỉ X – XII), trước khi trở thành một phong trào mạnh mẽ ở phương Tây và châu Âu (về sau này, người Mỹ cũng xem thời đại có sự xuất hiện và thăng hoa của trào lưu văn học lãng mạn vào nửa đầu thế kỉ XIX với các tác gia Emerson, Fenimore Cooper, Theodor Parker, Herman Melville, Harriet Beecher Stowe…có
Trang 12ý nghĩa như thời đại Phục hưng khi trào lưu văn học này có xu hướng từ bỏ mô hình văn học mẫu quốc (Anh và châu Âu) để quay về tìm kiếm những vẻ đẹp và giá trị từ chính lịch sử, đất nước và đời sống Mỹ, một dân tộc tuy còn non trẻ nhưngtràn đầy sinh lực) Phục hưng là quay trở về với mình, với cái thuộc về mình
và phát hiện ra chính mình
Văn hóa Phục hưng phương Tây khởi đầu từ nước Ý, và sau đó lan rộng ra hầu hết các nước thuộc khu vực văn hóa phương Tây và châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Hà Lan… trong suốt hai thế kỉ XV và XVI Nhìn một cách tổng quát có thể thấy phong trào văn hóa rầm rộ đó là một hệ quả không thể không
có của một thời đại có rất nhiều những sự thay đổi, từ cấu trúc xã hội, tư tưởng, đến sự hình thành những quan niệm mới về con người và thế giới
Về cấu trúc xã hội, việc phát triển mạnh mẽ đô thị và đời sống đô thị đã dẫn
đến việc xuất hiện những thế lực mới: tầng lớp thương nhân, thị dân, các tổ chức phường hội, trung tâm trao đổi tài chính…Những thay đổi này xảy ra mạnh mẽ nhất ở các đô thị miền Bắc nước Ý (có thể cũng là lí do vì sao phong trào Phục hưng xuất hiện ở Ý sớm nhất), sau đó là các dân tộc khác ở Tây Âu và ven biển Địa Trung hải Sự xuất hiện của các quyền lực mới này vốn manh nha từ hậu kì trung đại (thế kỉ XIII – XIV), đến thời đại Phục hưng càng được củng cố, nó trở
thành một thứ sức mạnh đe dọa sự độc quyền của quan hệ trục dọc (kiểu quan hệ được xác lập dựa trên mối quan hệ trên – dưới, cao – thấp, truyền lệnh – phục tùng) vốn là quan hệ chủ yếu trong thời Trung đại, để hình thành bên cạnh đó quan
hệ trục ngang (quan hệ hướng tới tính chất bình đẳng giữa các thế lực mới xuất
hiện), làm cho không khí xã hội, những quan hệ giữa con người với con người và con người với cộng đồng trở nên cởi mở hơn Những thay đổi về cấu trúc xã hội dần dần muốn hay không cũng sẽ kéo theo những sự thay đổi trong cấu trúc văn hóa của phương Tây, ở đó không gian văn hóa chuyển dịch và mở rộng từ nhà thờ,
tu viện, các lâu đài hiệp sĩ và thái ấp ra không gian đô thị; chủ thể văn hóa cũng theo đó thay đổi theo, từ bó hẹp trong giới tăng lữ, hiệp sĩ quí tộc nay mở rộng ra
cả cộng đồng cư dân đô thị, họ sẽ là những người vừa sáng tạo vừa đặt hàng những sản phẩm tinh thần cho chính mình; và cuối cùng, khi không gian văn hóa và chủ thể văn hóa thay đổi tất yếu sẽ kéo theo những thay đổi về thị hiếu văn hóa: người
ta hướng sở thích về một nền văn hóa khác, ở đó hứa hẹn tạo ra nhiều niềm vui hơn, bình dị hơnvà cũng giàu tính thực tiễn hơn,thay cho văn hóa tinh thần -văn hóa La – tinh, chủ nghĩa kinh viện (scholasticisme) bị độc quyền bởi nhà thờ và
Trang 13giáo hội và những sản phẩm tinh thần quá chú trọng sự sang trọng, cao nhã của văn hóa hiệp sĩ quí tộc (courtoisie) vốn rất thịnh hành trong thời kì trung kì trung đại
Thờiđại Phục hưng cũng là thời kì có những phát minh, phát kiến vĩ đại góp
phầnlàmthay đổi nhận thức của con người và một cách gián tiếp làm thay đổi bức tranh văn hóa, trong đó có văn học của các quốc gia phương Tây Trước hết phải kểđến giả thuyết khoa học của nhà thiên văn học Ba Lan Nikolaj Kopernik (1473 –
1543) Với công trình được viết trong mười năm “Về chuyển động quay của các thiên thể”, con người thiên tài này, như cách nói của Marx, đã làm một “cuộc cách
mạng trên trời”, đã chứng minh rằng học thuyết địa tâm (coi trái đất là trung tâm của Thái dương hệ) của Ptolémé (năm 150 sau CN) là không đúng đắn (Ptolémé cho rằng quả đất được vây quanh bởi rất nhiều khối cầu đồng tâm và trong suốt, trong đó chứa đựng mặt trời, mặt trăng và các vì sao), đồng thời ông nêu thuyết nhật tâm (coi mặt trời là trung tâm Thái dương hệ), còn quả đất là vệ tinh quay quanh mặt trời và quay quanh chính nó Ông là người đầu tiên trong thời đại của mình “bắt Mặt Trời đứng yên và Trái đất phải chuyển động”.N Kopernik nói: “Tôi cho rằng cần xa lánh những quan điểm hoàn toàn sai trái (thuyết địa tâm) Những người biết rằng sự kết luận của nhiều thế kỉ đã đưa tới việc thừa nhận quan điểm rằng Trái Đất đứng yên ở trung tâm vũ trụ, nhưtrung tâm của nó là trung tâm của
vũ trụ Tôi phản đối, coi đó là một tuyênbố điên cuồng nếu tôi đưa ra điều xác nhận rằng Trái Đất chuyển động”
Thực ra, những thành tựu khoa học mà loài người có được không phải là nhân tố tác động trực tiếp lên đời sống văn học Tác động của nó là gián tiếp nhưng lại vô cùng quan trọng, vì chính những thành tựu khoa học này sẽ làm thay đổi nhận thức của con người nóichung, trong đó có các nhà văn Phát kiến vũ trụ của Kopernik, sau đó là của Galileo và Kepler đã buộc con người thời đại Phục hưng phải hoài nghi chính xác tín mà họ đã phải dựa dẫm và bám vào trong hành trình lịch sử cả trên một ngàn năm Trong thời đại mà con người đang bước đi những bước đầu tiên ra khỏi vòng cương tỏa của các tín điều và hệ thống triết học và tri thức kinh viện thì những thành tựu thiên văn học đầu tiên này có ý nghĩa vô cùng
to lớn: giải phóng khoa học ra khỏi sự lệ thuộc đối vớithần học, đồng thời hình thành niềm tin nơi con người,rằng nó có khả năng lớn lao trong việc tìm hiểu và nhận thức vũ trụ bao la Sigmund Freud (1856 – 1939), bác sĩ chữa bệnh thần kinh
và cha đẻ của học thuyết Phân tích tâm lí người Áo, khi nhìn lại những thành tựu trí tuệ cũa loài người đã gọi thuyết Nhật tâm của N Kopernik là một “đòn giáng vũ
Trang 14trụ học” (un coup cosmologique) với hàm ý học thuyết ấy đã đánh vào thành trì xác tín của con người, bắt họ phải hồi tỉnh và hoài nghi đối với chính xác tín của mình, đồng thời ông cũng đặt học thuyết của Kopernik vào vị trí ngang hàng với học thuyết tiến hóa của nhà vạn vật học người Anh Charles Darwin với ý nghĩa nó
đã tạo ra bước ngoặt nhận thức của loài người (Freud gọi học thuyết tiến hóa là
“cú giáng sinh học” – un coup biologique)
Năm 1492, việc Cristoforo Colombo (1451 – 1506), một nhà thám hiểm và hàng hải Ý phát hiện ra châu Mỹ cũng là một sự kiện quan trọng mang tính thế giới Đó là một sự kiện quan trọng bởi vì trước 1492 trong con mắt người châu Âu thế giới không rộng lớn như người ta tưởng (mặc dù cũng đã có một số ghi chép về Tân thế giới), giờ đây một thế giới mới mở ra rộng lớn và hấp dẫn Và trong thực
tế, từ sau 1492 là những khám phá mới của Vasco da Gama, Amerigo Vespucci, tiếp đó là những trào lưu di dân của người châu Âu tới Tân lục địa diễn ra sôi nổi ở nhiều nước, từ Anh đến Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan… trong suốt nhiều thế kỉ Sự kiện phát hiện ra “tân thế giới” không những chỉ đưa lại cơ hội cho những cư dân cựu lục địa đến với vùng đất mới, giúp cho họ hoặc được giải thoát ra khỏi tâm trạng bất mãn ở chính quốc, hoặc đưa lại cho họcơ hội thành công ở vùng đất có nhiều hứa hẹn…, mà còn góp phần làm thay đổi suy nghĩ chung của người châu
Âu, bởi vì những phát hiện mới này góp phần càng ngày càng đào sâu mối hoài nghi ở họ đối với những tín điều, hay những nhận thức mà họ đã có
Nhân tố trực tiếp tác động để làm nên một phong trào văn hóa rộng rãi và xảy ra trên hầu hết các lĩnh vực nghệ thuật từ kiến trúc, hội họa đến văn học là
những nguồn tư tưởng mới với cốt lõi là tinh thần nhân văn chủ nghĩa, một trào lưu
tư tưởng được xây dựng dựa trên sự tôn trọng và niềm tin đối với con người và đời sống thực tiễn Những nguồn tư tưởng ấy vừa là chất xúc tác làm thăng hoa cả trào lưu văn hóa Phục hưng, cũng vừa là một bộ phận quan trọng cấu thành trào lưu văn hóa ấy Từ sự phát hiện những luận văn triết học tôn giáo được viết ở Byzantine bởiProcle (triết gia lớn nhất của cổ đại hậu kì, 410 – 485) và một tác giả ở Athen(bút danh Dionissi Areopagis)cũng vào thế kỉ V (trong đó nhấn mạnh quan điểm vạn vật là biểu hiện của cái Thiện tuyết đối và cái Ác không tồn tại như một thực thể độc lập mà là do thiếu hoặc không có cái Thiện), con người Phục hưng đã nhận ra rằng dù được luận giải theo quan niệm tôn giáo nhưng những luận văn ấy
là những ánh sáng đầu tiên, một cách có lí luận, nói về bản chất và vị trí của con người trong thế giới, rằng “con người vốn là tạo vật của Chúa, thì trong quá trình
Trang 15thông giao, con người tràn đầy ân sủng thần thánh Con người có thể được cứu rỗi một cách toàn vẹn hơn, thanh cao hơn trên trái đất này Do đó, đã mở ra nhiều cách khác nhau để tổ chức đời sống con người” (15, tr 384), chứ không phải chỉ có một cách sắp đặt duy nhất và cố định Quan niệm linh động và đầy trân trọng về con người của tư tưởng triết học cổ đại ấy qua trên một ngàn năm được phát hiện lại, trong một bối cảnh mới, đã trở thành mối quan tâm phổ biến ở hầu hết các nhà tư tưởng lớn trong hai thế kỉ XV và XVI, và chính những quan niệm ấy góp phần làm nên khía cạnh nhân đạo trong những quan niệm về tôn giáo của các nhà tư tưởng thời đại Phục hưng Triết gia Đức và đồng thời là Hồng y giáo chủ Nicolas Cuse (1401 – 1464) quan niệm tri thức không phải là cái có sẵn, mà đó là quá trình luôn hoàn thiện của con người trong hoạt động thực tế.Trong điều kiện người phương Tây vừa bước ra khỏi khuôn khổ văn hóa trung đại, tư tưởng của Nicolas Cuse là hết sức hiện đại, và nó sẽ được trở lại mạnh mẽ và nhất quán trong triết học duy cảm và tinh thần đề cao kinh nghiệm cảm giác và kinh nghiệm thực tiễn của các nhà tư tưởng thời đại Khai sáng như Francis Bacon và John Locke Pico Della Mirandola (1463 – 1494), một trong những người tiền bối của triết học nhân văn chủ nghĩa Ý cũng đã rất sớm nêu lên quan niệm cực kì linh động về tôn giáo Bất chấp việc ông bị Giáo hoàng La MãKết án là tà giáo, và cuối cùng bị đầu độc bởi người thư kí của mình, ông vẫn muốn chứng minh rằng Ki –tô giáo không phải là một tôn giáo độc quyền, mà nó có thể chứa đựng trong bản thân nó tư tưởng của nhiều nguồn tôn giáo khác của loài người trong nhiều thế kỉ đã qua, đặc biệt là tư tưởng thời kì cổ đại của Hi Lạp và La Mã Tư tưởng triết học của Pico Della
Mirandola còn đi xa hơn khi trong“Bàn về phẩm chất của con người” (1487) ông
khẳng định một cách mạnh mẽ hình ảnh “con người đa năng” có khả năng phô diễn khả năng của mình trên tất cả mọi lĩnh vực, từ tri thức, khả năng sáng tạo đến việc tham gia vào các hoạt động xã hội, kể cả việc tham gia kiến trúc xã hội mới Trở thành một phần của bối cảnh xã hội phương Tây đang chuyển mình trong thời đại
Phục hưng, “Bàn về phẩm chất con người” đã trở thành bản tuyên ngôn long trọng
cho chủ nghĩa cá nhân, tham gia vào cuộc đấu tranh tư tưởng quyết liệt với chế độ đẳng cấp của xã hội và cơ cấu cấp bậc của nhà thờ Thiên Chúa giáo” [15, tr 387] Tiếp tục trào lưu triết học nhân văn chủ nghĩa, Giordano Bruno (1548 – 1600), một nhà thần học, một tu sĩ người Ý và là triết gia của chủ nghĩa nhân văn - lên tiếng đòi giải phóng cá nhân, chủ trương một nền triết học vì con người, thoát ra khỏi sự
lệ thuộc thần học và triết học kinh viện G Bruno đã từng tuyên bố: “Toàn nhân loại sẽ chiến thắng vinh quang, chỉ cần mình tôi kiên định nói rằng: các ngài cứ xử
Trang 16tôi theo ý muốn, nhưng tôi không bao giờ chịu khuất phục trước tội ác và dối trá” [15, tr 387].Chấp nhận số phận oan nghiệt như P Mirandola, dù bị giáo hội kết tội
và cuối cùng bị thiêu sống, ông là hiện thân của tư tưởng độc lập, chống giáo điều, khẳng định niềm tin rằng tri thức không phải ở đâu xa vời mà phải bắt đầu từ kinh nghiệm và lí tính Quan điểm và tư tưởng triết học của Giordano Bruno là sự đối cực gay gắt vớiđức tin và tất cả những giáo lí trừu tượng vô bổ Với những quan điểm mới và hiện đại ấy, ông sẽ trở thành một trong những tiền bối trực tiếp và vĩđại của các nhà tư tưởng của thời đại Khai sáng
Sự thay đổi đời sống tinh thần, thậm chí có thể gọi đó là “sự xáo trộn” mạnh
mẽ, của thời đại Phục hưng còn được bồi đắp thêm bằng phong trào cái cách tôn giáo rộng rãi ở hầu hết các quốc gia phương Tây
Ngay từ những thập niên cuối thế kỉ XIV và những năm đầu thế kỉ XV, ở các quốc gia châu Âu đã rục rịch tiếng nói chống lại sự độc quyền của giáo hội La
Mã Những người dự báo phong trào cải cách tôn giáo như Ian Husser (người Tiệp Khắc, 1371 – 1415), Girolamo Savonarola (một tu sĩ Ý ở Florence, 1452 – 1498), Erasme Rotterdam (triết gia Hà Lan, 1469 – 1536)… đã nhiều lần lên tiếng phản ứng lại những phi lí mà giáo hội La Mã áp đặt đối với các quốc gia châu Âu trong phạm vi biên giới của Nhà thờ: sự đặc quyền đặc lợi của giáo hội và tầng lớp tăng
lữ, sự duy trì thứ bậc nghiệt ngã trong xã hội châu Âu, hay thậm chí hiện tượng
“buôn thần bán thánh” ngay trong các tổ chức tôn giáo (như việc thu thuế 10% cho Nhà thờ, việc bán thẻ xá tội cho các tín đồ tôn giáo…), và đặc biệt chính giáo hội lại cản trở sự thống nhất của các quốc gia…Erasme đã viết cuốn sách nổi tiếng “Ca ngợi sự điên rồ”, trong đó ông chống lại sự kinh viện, giáo điều, đồng thời lên tiếng vạch trần những sự mê tín dị đoan và những thói tật của tầng lớp tăng lữ Đồng thời trong cuốn sách ông cũng đề cập không úp mở những nhu cầu tự nhiên của con người, khi trong đó tác giả miêu tả một nhóm người thân thiện cùng ăn với nhau gợi ra hình ảnh một xã hội khoan hòa, những thực khách không cần phải kiềm chế đối với các đòi hỏi cả về lí trí, hiểu biết và sự thèm muốn của cơ thể; trong một bữa tiệc thân thiện như vậy con người trở nên hết sức tự do, mọi năng lượng được giải phóng, trong khi cái đầu làm công việc tư duy và giúp đỡ những ý tưởng lưu hành thì cái miệng và bụng mang niềm vui với các món ăn ngon Cuốn sách trào phúng này nhanh chóng trở thành một trong những tinh hoa tinh thần của thời đại Phục hưng và nhiều nhà văn châu Âu sẽ học được vô số những bài học được gợi ý từ những tư tưởng mới mẻ của cuốn sách
Trang 17Người chính thức được xem như ngọn cờ đầu của phong trào cải cách tôn giáo là Martin Luther (1483 – 1546), một nhà thần học, nhà văn và dịch giả người Đức Vốn là một người mộ đạo, thông hiểu một cách sâu sắc Kinh thánh ở dạng nguyên gốc (bản thân ông cũng là một giáo sư giảng Kinh Thánh ở đại học Wittenberg), ông nhận ra sự khập khễnh, không tương ứng giữa lời của Chúa và
những việc làm thực tế của giáo hội và giới tăng lữ Trong bản “Luận cương 95 điều”viết năm 1517, Martin Luther không ngần ngại chỉ ra sự tham lam của các vị
cha cố và các tổ chức trung gian giữa Chúa với người đời (đánh thuế 10% đối với tín đồ, bán thẻ xá tội…) và ông chủ trương phải đặt Kinh thánh cao hơn các qui định của Nhà thờ và giáo hội, cũng như chủ trương “con đường cứu rỗi ở mỗi người mỗi khác và chỉ được đảm bảo bằng niềm tin cá nhân” [15, tr 400] Trong hoàn cảnh cụ thể của một nước Đức phân tán về chính trị, các lãnh địa giành giật nhau đất đai và của cải, cái “công thức hòa bình”của M Luther “Quyền lực (lãnh địa) thuộc về ai thì tín ngưỡng thuộc về người đó” nhanh chóng được những người đứng đầu các lãnh địa hưởng ứng Về thực chất, với những chủ trương mớivề tôn giáo,Martin Lutherđã tạo ramột kiểu tôn giáo mới (sau này được gọi là Tân giáo, đạo Tin lành hay đạo Luther), ở đó ông thừa nhận sự độc lập về tôn giáo ở các lãnh địa khác nhau, mỗi lãnh địa có quyền định ra tôn giáo cho thuộc dân của nó Ngoài những quan điểm mới theo tinh thần dân chủ hóa tôn giáo, Martin Luther còn là người có đóng góp cực kì quan trọng cho sự phát triển nền văn hóa và văn học Đức trong tư cách một dịch giả Nhận ra nguyên nhân khiến một nước Đức chậm phát triển, lệ thuộc giáo hội La Mã và ngôn ngữ La-tinh, M Luther đã sáng tác phần lời cho nhiều bài hát dùng trong các buổi hành lễ ở nhà thờ bằng tiếng Đức, đã chuyển ngữ từ ngônngữ La – tinh sang tiếng Đức nhiều câu truyện luân
lí, đặc biệt ông đã kì công dịch và phổ biến Kinh thánh bằng ngôn ngữ dân tộc Những sáng tác và các dịch phẩm của ông đã góp một phần quan trọng vào việc thống nhất ngôn ngữ, thoát dần ra khỏisự lệ thuộc ngôn ngữ và văn hóa La-tinh, trên cơ sở đó gián tiếp hình thành ý thức dân tộc về một nước Đức và nền văn hóa thống nhất Những tư tưởng mới về tôn giáo của ông nhanh chóng được phổ biến ở nhiều quốc gia Âu – Mỹ như Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Hoa Kỳ, Canada…
Sau Martin Luther, Jean Calvin (1509 – 1564), một nhà thần học Pháp tiếp tục đẩy phong trào cải cách lên một bước mới, ở đó ông triển khai thêm nhiều nội dung tư sản Sau những năm truyền đạo Luther ông bị kết tội ở Pháp, bị trục xuất
Trang 18khỏi đất nước (1534) và đến Genève tiếp tục xây dựng và phổ biến những quan điểm mới về tôn giáo của mình.Ông quyết liệt tạo ra Tân giáo mang chính tên ông (đạo Calvin), hàm ý đối lập với Cựu giáo Mặc dù vẫn phát triển tư tưởng của Augustin và tin vào định mệnh nhưng khuynh hướng tư sản trong chủ trương tôn giáo của ông là hết sức rõ rệt Ông quan niệm các tín đồ tôn giáo chỉ cần có niềm tin vào Chúa là đủ, không cần phải thông qua các tổ chức trung gian như Nhà thờ
và giáo hội Trong “Thiết chế đạo Ki – tô” (Institution chrétienne) tư tưởng dân
chủ hóa nhà thờ được ông nêu lên một cách cụ thể: làm giàu là một quyền chính đáng của con người (tất nhiên kèm theo yêu cầu “sống có đạo đức đúng đắn, thỏa mãn nhu cầu một cách có chừng mực…”), các linh mục không nhất thiết phải sống đời sống độc thân, đức tin của các tín đồ phải được thể hiện qua việc làm cụ thể, nghề nghiệp nào cũng có những vinh quang riêng của nó… Đạo Calvin từ giữa thập niên 30 của thế kỉ XVI trở đi rất nhanh chóng được ủng hộ và phổ biến ở các nước Thụy Sĩ, Hà Lan, Scotland…
Ở Anh quốc, dù đạo Calvin không phổ biến rộng rãi như một số nước khác ở châu Âu, nhưng trong bối cảnh nước Anh dưới thời chế độ quân chủ do vua Henry VIII trị vì chủ trương tách giáo hội Anh ra khỏi giáo hội La Mã, thì tinh thần chủ hóa nhà thờ và những nội dung tư sản của chủ trương tôn giáo của Calvin cũng được đón nhận, và chính tinh thần ấy đã góp phần hình thành một thứ tôn giáo mới của tầng lớp tư sản Anh vào năm 1564: đạo Thanh giáo (Puritanism), hay còn gọi
là tôn giáo trong sạch
Đúng như tên gọi, Thanh giáo khá khắc nghiệt trong yêu cầu về sự thanh sạch đạo đức.Đối với người Thanh giáo, cuộc sống được nhìn như một cuộc sát hạch liên tục về lương tâm: nếu anh thất bại sẽ bị chỉ trích, dày vò, nhục nhã; ngược lại, nếu anh thành công sẽ dẫn đến niềm vui sướng vô hạn, vì đó là niềm vui sướng của người được Chúa lựa chọn, an ủi….Khi người Anh đến vùng đất mới lập nghiệp (Hoa Kỳ), đạo Thanh giáo được mang theo và nhanh chóng trở thành cột trụ tinh thần cho cư dân ở một vùng rộng lớn Đông Bắc nước Mỹ (vùng đất được gọi là New England) trong việc xây dựng và ổn định cuộc sống trong những thế kỉ lập quốc Những dấu ấn Thanh giáo khắc khổ sẽ còn hằn sâu trong sáng tác của nhiều nhà thơ và nhàvăn Mỹ (tiêu biểu là nhà văn Nathaniel Hawthorne với
tiểu thuyết The Scarlet letter rất nổi tiếng nói về sự phạm tội ngoại tình giữa cô thợ
thêu trẻ đẹp Hester Pryne và vị mục sư đáng kính Dimmesdale, và cuối cùng tòa án Thanh giáo đã kết tội Hester, buộc cô phải vĩnh viễn mang trên ngực chữ A màu
Trang 19hỏa hoàng vĩnh viễn như một chứng tích của tội ngoại tình) Về phương diện đạo đức là vậy, nhưng ở phương diện khác, đối với người tư sản, Thanh giáo kích thích
sự thành đạt của con người trong cuộc sống thực tế, có thể đó là sự thành đạt về cương vị xã hội, về tiền bạc, hoặc về học vấn…Người Thanh giáo luôn mưu cầu sự thành công, vì theo giáo lí Thanh giáo, chỉ có ai thành công người đó mới trở thành
kẻ được Chúa lựa chọn (The Elect) và được ban thưởng dồi dào ân sủng Vì vậy, không phải ngẫu nhiên nhiều nhà nghiên cứu sau này đã có lí khi cho rằng giữa giáo lí Thanh giáo và học thuyết tư bản chủ nghĩa có sự gần gũi, liên hệ với nhau, bởi vì chúng đều là những học thuyết khuyến khích sự thành đạt thực tế của con người
Có thể nói phong trào cải cách tôn giáo đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của xã hội phương Tây thời đại Phục hưng Tuy những tiếng nói cải cách chưa triệt để và bản thân những nhà cải cách vẫn hoặc không đi đến cùng với quan điểm tôn giáo mới của mình (Martin Luther rơi vào thỏa hiệp) hoặc có phần cực đoan (Calvin khi chủ trương Tân giáo đã thể hiện tinh thần thiếu khoan dung đối với những người bị xem là “dị giáo” đối với kiểu tôn giáo của ông)…, nhưng chính những cải cách này sẽ góp phần làm không khí xã hội trở nên cởi mở hơn, vì thực chất những quan điểm cải cách ấy trước hết là sự phản ứng lại vai trò độc quyền của giáo hội La Mã Hơn nữa, với tinh thần linh động trong quan niệm về Chúa, về tôn giáo, những cải cách của Martin Luther, Jean Calvin… sẽ cho phép các nhà tư tưởng, nhà văn được trình bày một cách cởi
mở những quan niệm khác nhau về Chúa Những kết quả có được từ những cải cách tôn giáo này sẽ trở thành những bài học quí giá cho các nhà tư tưởng, nhà chính trị và nhà văn các thế kỉ sau, đặc biệt là những bộ óc vĩ nhân thế kỉ XVIII, họ
sẽ tiếp thu chúng trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt khi xu hướng tư sản hóa trở thành một trào lưu mạnh mẽ và không thể đảo ngược
Nói về giả thuyết thiên văn học vĩ đại của Nikolaj Kopernik, Marx từng nói với đại ý: đó là cuộc cách mạng trên trời (với ý nghĩa làm thay đổi quan niệm về
vũ trụ), nó sẽ báo hiệu một cuộc cách mạng ở trần gian, đó là sự dấy lên một phong trào văn hóa mạnh mẽ, quyết liệt, diễn ra trên nhiều bình diện, từ khoa học, tôn giáo, triết học đến giáo dục và các bộ môn nghệ thuật (kiến trúc, hội họa, văn học ) Mẫu số chung của tất cả những bình diện hoạt động khác nhau đó từ lâu đã
được khẳng định một cách chắc chắn, đó là tinh thần nhân văn, với vô số những
biểu hiện cụ thể: tin và trân trọng con người và vẻ đẹp cuộc sống trần giới cùng
Trang 20khả năng vô tận của nó, xu hướng tách đời sống thế tục ra khỏi sự lệ thuộc thế giới thần thánh, là sự thăng hoa với những nhu cầu tự nhiên và niềm vui của sự hài hòa
để đối lại với giáo điều kinh viện, là thái độ phê phán những thế lực cản trở sự phát triển những phẩm chất vốn có của con người, là sự hoài nghi những tín điều và nhận thức vô căn cứ … Tóm lại, “đó là toàn bộ những quan điểm đạo đức, chính trị bắt nguồn không phải từ cái gì siêu nhiên kì ảo, từ những nguyên lí ngoài đời sống nhân loại, mà từ con người tồn tại thực tế trên mặt đất với những nhu cầu, những khả năng trần thế và hiện thực của nó, và những nhu cầu, những khả năng ấy đòi hỏi phải được phát triển đầy đủ, phải được thỏa mãn…” [45, tr 58] Những khía cạnh khác nhau ấy chúng ta có thể bắt gặp trong bất kì tác phẩm văn học nào của thời đại Phục hưng: Thần khúc của Dante, thơ tình của Pétrarque và Pierre Ronsard…, truyện kể của Boccaccio và Marguerite de Navarre, tiểu thuyết của F Rabelais, Cervantès…, kịch của William Shakespeare, tiểu luận của Montaigne…
“Chủ nghĩa nhân văn là một cách sống hơn là một học thuyết” [17, tr 98].Những tri thức có được từ thời Phục hưng, qua sự bồi đắp của thế kỉ XVII, sẽ được trở lại ở một trình độ và tính chất mới trong thời đại Khai sáng thế kỉ XVIII Trong tính liên tục của lịch sử, những dữ kiện văn hóa đã có, đặc biệt là những dữ kiện mang tinh thần đổi mới và thấm đẫm chất nhân văn đã làm nên tính chất tiền Khai sáng của một thời kì lịch sử kéo dài từ thế kỉ XV đến trước thế kỉ XVIII
1.1.2 Đến thời đại Khai sáng:một tổng thể văn hóa mới
Những chuyển động của lịch sử, những kinh nghiệm văn hóa mà người phương Tây tích lũy được qua một quãng thời gian dài ba thế kỉ, từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII,dường như đã đủ đầy, để bước sang thế kỉ XVIII làm bùng phát một phong trào mới, vừa là phong trào tư tưởng văn hóa, vừa là phong trào tranh đấu trên hầu hết các bình diện, để từ đó phương Tây bước đến ngưỡng cửa của thời cận- hiện đại Phong tràoấy được mệnh danh là phong trào Khai sáng, bà mẹ của cách mạng tư sản
Tuynhiên, thuật ngữ “Khai sáng” cũng có một hàm nghĩa khá linh động.Trước hết và thông thường, thuật ngữ ấy được hiểu là một khái niệm chỉ thời gian, tức là chỉ một thời đại lịch sử đêm trước của phong trào đấu tranh của tư sản
và cách mạng tư sản Với nghĩa này, thời đại Khai sáng đồng nghĩa với thế kỉ XVIII, thế kỉ diễn ra tranh đấu vô cùng sôi nổi và quyết liệt giữa các thế lực xã hội,
Trang 21mà trước hết là tư sản và phong kiến quí tộc để đưa lịch sử phương Tây và châu Âu sang một thời đại lịch sửmới, chấm dứt sự thống trị của chính thể chuyên chế, thay thế bằng nhà nước Cộng hòa (như nước Pháp), hoặc chính thể Quân chủ lập hiến (như nước Anh, ở đó tuy vẫn tồn tại vai trò của hoàng gia nhưng vua không còn vị trí “con trời” nữa, mà dưới vua còn có chính phủ và nghị viện), chính thể dân chủ Mỹ…, những hình thức xã hội mà ở đó quyền lực tư sản càng ngày càng có vai trò quan trọng trong việc kiến tạo xã hội mới hiện đại Với nghĩa này, những cụm từ
“thời đại Khai sáng”, “thế kỉ XVIII” hay “thế kỉ Ánh sáng” (siècle des lumières) là đồng nghĩa với nhau
Nhưng thuật ngữ “Khai sáng” hay “Ánh sáng” còn được hiểu theo một nghĩa khác, không phải một thời đại lịch sử, mà là tinh thần của thời đại lịch sử ấy Nếu xét trong tiến trình lịch sử văn hóa của nhân loại, thuật ngữ “Khai sáng”dùng để chỉ một “phong trào tư tưởng sâu rộng, hầu như bao trùm tất cả các nước châu Âu [thực ra là Âu – Mỹ] Các nhà Khai sáng đấu tranh vì thắng lợi của vương quốc trí tuệ, trên cơ sở tự do chính trị, bình quyền và thoát khỏi những định kiến hẹp hòi…Ánh sáng tự nhiên của trí tuệ là phương pháp cơ bản và độc lập với sự cuồng tín tôn giáo, để nhận thức thế giới, hoàn thiện xã hội và đời sống xã hội…” [15, tr 408].Hiểu theo nghĩa này thì, xét về mặt hình thức,thuật ngữ “Khai sáng” (The Enlightenment) rất gần với thuật ngữ “Phục hưng” (The Renaissance), một thuật ngữ gắn liền với lịch sử phương Tây thế kỉ XV - XVI Sự gần gũi của hai thuật ngữ
ở chỗ, chúng không chỉ là khái niệm dùng để chỉ một thời đại lịch sử mà còn chỉ một phong trào văn hóa, tư tưởng sâu rộng của người phương Tây, chỉ khác nhau
là trong khi một bên nhấn mạnh vào việc tôn vinh vẻ đẹp trần giới và xu hướng tách rời thế giới thế tục ra khỏi sự lệ thuộc thế giới thần thánh vốn đi liền với lịch
sử trung đại mười thế kỉ thì một bên khác lại nhấn mạnh tinh thần duy lí, tư duy khoa học, đề cao khả năng của con ngườitự do, phê phán những bất hợp lí cản trở
sự tiến bộ và những giá trị nhân văn trong đời sống và của con người Hiểu “Khai sáng” với tư cách một “phong trào tư tưởng” thì cũng có nghĩa nó không chỉ thuộc vào thế kỉ XVIII, mà có thể “tràn ra” khỏi cái khung thời gian lịch sử ấy, vấn đề là
sự duy trì tinh thần đề cao lí tính, trọng khoa học và tiến bộ, nêu cao tinh thần giải phóng khỏi sự lệ thuộc uy quyền của chủ nghĩa chuyên chế trong đời sống chính trị
xã hội cũng như trong đời sống tư tưởng văn hóa phương Tây
Thời đại Khai sáng về phương diện đặc trưng tư duy còn được gọi là “thời đại lí tính” (The Age of reason), với hàm nghĩa rằng mọi nhận thức, phân tích và
Trang 22diễn giải đều cơ bản dựa trên tinh thần tôn trọng tính hợp lí, trọng lẽ phải, và tinh thần duy lí phải là kim chỉ nam cho mọi suy tư và hành động Hégel từng nói về thế kỉ XVIII, rằng “đó là thế kỉ người ta dùng đầu để đứng”.Với tư cách là một hình thức tư duy, tư duy duy lí nhấn mạnh tính rạch ròi, khúc chiết, tường minh, tôn trọng lí tính và tính có thật của đời sống Và vì vậy, thời đại Khai sáng là thời đại tôn trọng tính chân thật, khoa học, hợp lí, vị tư sản và vị tiến bộ
Jules Michelet (1798 – 1874) khi nói về thời đại Khai sáng đã quả quyết:
“Đạithế kỉ, tôi muốn nói thế kỉ XVIII” Câu nói đó của nhà sử học Pháp lừng danh
của thế kỉ XIX khác với câu nói đầy vẻ kiêu hãnh và có phần ngạo mạn của vị vua
vĩ đại của nước Pháp thế kỉ XVII Louis XIV khi ông nói về thế kỉ XVII, coi đó là
“đại thế kỉ” (Le grand siècle) và tự xem mình là “vua mặt trời” (Le roi du soleil)
của nước Đại Pháp, thậm chí ông còn đồng nhất mình và dân tộc Pháp Khác biệt
ở đây là: lời nói của J Michelet là một nhận xét, diễn giải khách quan của một nhà
sử học, tác giả của bộ sách đồ sộ “Lịch sử nước Pháp”, còn lời của Louis XIV là
lời của một cá nhân tự nói về mình theo lối “tự ngã thượng tôn” khi ông ý thức rất
rõ rằng ông chính là một phần của lịch sử thế kỉ XVII, người có công quan trọng khẳng định sự cường thịnh của nền quân chủ chuyên chế, một thực thể chính trị có lúc từng “đóng vai trò là trung tâm của văn minh”, dẫn dắt nước Pháp trở thành một thế lực ở châu Âu và đưa thủ đô Paris trở thành kinh thành của ánh sáng, cũng như đưa tiếng Pháp trở thành một thứ tiếng của một nền văn hóa cao, được nể trọng ở hầu hết các nước châu Âu.Từ thực tiễn lịch sử xã hội và lịch sử văn hóa tư tưởng, định nghĩa “Đại thế kỉ” của Michelet cho thế kỉ XVIII hàm ý nhấn mạnh những biến động, những thay đổi lớn laovà toàn diện trên nhiều lĩnh vực về chính trị xã hội, văn hóa tư tưởng, khoa học và giáo dục…, ở đó phương Tây chuyển mình từ phương Tây phong kiến thành phương Tây tư sản
Về phương diện chính trị - xã hội: Từ cuối thế kỉ XVII và đầu thế kỉ XVIII ở
phương Tây, sau một thế kỉ khá yên bình trong thế cân bằng thỏa hiệp về chính trị giữa quí tộc phong kiến và tư sản, ở nhiều quốc gia đã bắt đầu có những dấu hiệu
về một sự khủng hoảng (riêng ở Anh thế cân bằng này tuy bị phá vỡ bởi cuộc cách mạng vẻ vang năm 1688, nhưng sau đó không lâu thế cân bằng lại tái lập, tất nhiên có thêm những đặc điểm mới, và vẫn tiếp tục duy trì cho đến đầu thế kỉ XIX, năm 1832) Những thắng lợi về phương diện vật chất mà các quốc gia phương Tây thu lượm được kể từ khi người ta biết quí trọng hơn những giá trị vật chất, đời sống thực tiễn và bắt đầu xu hướng tách cuộc sống thế tục ra khỏi cuộc
Trang 23sống thánh thần của thời đại Phục hưng đã làm cho đẳng cấp thứ ba trong xã hội, trong đó tiên phong là tầng lớp tư sản đã ý thức một cách đầy đủ hơn về vai trò chủ thể lịch sử của mìnhvới tư cách là tầng lớp đang lên.Chính họ cũng ý thức được sự chật chội của cái áo khoác trật tự quân chủ truyền thốngđang cản trở bước đi về phía trước của tầng lớp xã hội đông đảo này Họlạc quan hơn về khả năng thực tế của con người, đồng thời cũng ý thức được đâu là thế lực cản trở vai trò chủ thể lịch sử ấy của chính họ Chính vì thế, khác với tiếng nói tranh đấu của thời đại Phục hưng, tiếng nói tranh đấu trong thế kỉ Ánh sáng không chỉ dừng trên bình diện quan niệmmà còn được đẩy đi xa hơn – tranh đấu cả trên bình diện chính trị, tức là tầng lớp tư sản hướng đến việc tiến hành những cuộc cách mạng xã hội để giành giật quyền dẫn dắt lịch sử Ở Pháp, sự tàn mùa mùa của vương triều Louis XIV bắt đầu với sự kiện nhà vua hủy bỏ chính sách trọng thương của Colbert (năm 1683), sau đó triều đại “Vua mặt trời” càng ngày càng tỏ rõ tính chuyên chế và độc đoán của mình, đẩy đẳng cấp ba vào tình thế đối lập gay gắt với vương quyền
và giới tăng lữ Sau khi Louis XIV băng hà (1715), nước Pháp bước vào một thời
kì lịch sử tranh đấu cực kì quyết liệt Do Louis XV còn quá trẻ để gánh vác việc triều chính nên phụ chính là hoàng thân Philippe d’Orléanstạmthời nắm quyền điều hành đất nước Không những không cứu vãn được uy quyền của vương triều, trước
sự bất lực của nhà vua, đời sống xã hội nước Pháp ngày một tồi tệ: tầng lớp quí tộc lộng quyền, sự phản ứng của các tầng lớp dân chúng ngày một dâng cao vì sưu thuế, chiến tranh bảy năm với Anh quốc (1756 – 1763) làm nước Pháp kiệt quệ… Louis XVI, vị vua lên ngôi năm 1774, mặc dù đã nêu ra nhiều dự án cải cách xã hội nhưng mọi thứ dường như đã quá muộn, không đối lại được với đà suy thoái xã hội và sự hư hỏng không thể cứu vãncủagiới quí tộc Dù có tới 97% dân số nước Pháp thuộc đẳng cấp thứ ba, bao gồm từ người nghèo đến những nhà tư sản, tuy nhiên họ hầu như không có quyền lợi chính trị gì, thực tế đó càng đào sâu hố ngăn cách giữa đẳng cấp ba với giới tăng lữ và quí tộc Sự lựa chọn hướng đi của lịch sử nước Pháp dường như khôngthể khác được nữa Những mâu thuẫn xã hội tích tụ từlâu đã khiến cho tầng lớp tư sản đang lên và đại đa số người lao động tập hợp thành một lực lượng tranh đấu mạnh mẽ Đỉnh cao của phong trào đấu tranh trên bình diện chính trị này chính là sự bùng nổ và thành công của Đại cách mạng tư sản 1789 – 1793,mà tiêu biểu là sự kiện đánh chiếm ngục Bastille – biểu tượng cho quyền lực chuyên chế - ngày 14.7.1789, chấm dứt sự thống trị của vương triều phong kiến trong nhiều thế kỉ và lập nên nền Cộng hòa thứ nhất
Trang 24Thế kỉXVIII ở châu Âu được mệnh danh là thế kỉ của cách mạng Pháp Có thể nói như thế, bởi đại cách mạng tư sản 1789 – 1793 là cuộc cách mạng tiêu biểu nhất cho xu hướng tư sản hóa của châu Âu và cũng là cuộc cách mạng điển hình của một quốc gia chuyển từ nhà nước phong kiến với tính chất chuyên chế điển hình sang hình thức nhà nước cộng hòa tư sản điển hình Nói đó là tiêu biểu còn vì nhìn vào những gì diễn ra trên đấtPháp thế kỉ XVIII, những gì mà cách mạng tư sản Pháp đã làm được, chúng ta có thể hình dung tinh thần chung của các quốc gia phương Tây trong thế kỉ đầy biến động này Trước khi cách mạng Pháp nổ ra, người Mỹ cũng tiến hành cuộc cách mạng dân tộc tư sản (1776), đưa nước Mỹ thoát ra khỏi sự thống trị của đế quốc châu Âu, cụ thể là đế quốc Anh Sớm hơn nữa, trong thế kỉ XVII, tuyngười Anh không tiến hành một cuộc cách mạng quyết liệt như người Pháp, nhưng họ đã làm cuộc “cách mạng vẻ vang”, hay còn gọi là
“cuộc cách mạng không đổ máu” năm1688,để đưa lịch sử chính trị nước Anh sang một thời kì khác, với mô hình chế độ chính trị là nền quân chủ lập hiến, ở đó “chế
độ con trời và quân chủ chuyên chế hoàn toàn bị xóa bỏ; và cũng kể từ đây Anh quốc đi vào một giai đoạn chính trị mới – quyền cai trị tối thượng thuộc về đại diện của quốc dân” [32, tr 252] Chung quanh thời điểm xảy ra cuộc cách mạng vẻ vang, đời sống xã hội nước Anh có nhiều sự kiện lớn có tác động sâu sắc đến sinh hoạt tinh thần của người Anh trong thời gian sau đó: năm 1667 nhà vua James II ra Tuyên ngôn bao dung tôn giáo, nêu vấn đề tự do lương tâm; năm 1669 Nghị viện thông qua Tuyên ngôn nhân quyền (Bill of Rights)… Như vậy, mặc dù với danh nghĩa là nền quân chủ nhưng với những thay đổi trên, Anh quốc từ đây thực sự đã tiên phong tham dự vào khuynh hướng tư sản hóa của phương Tây và châu Âu một cách mạnh mẽ Ngay ở nước Đức, một quốc gia cực kì lạc hậu và phân tán về mặt chính trị (Marx đã gọi tình trạng đó là “sự cùng khổ Đức”), một nước Phổ cũ tồn tại hàng trăm tiểu công quốc, một đất nước mà khi cách mạng Pháp đã thành công thì triển vọng có một cuộc cách mạng như cách mạng Pháp ở Đức là quá xa vời, thì người Đức vẫn đồng vọng với trào lưu chung của lịch sử phương Tây ở tinh thần tranh đấu cho một nước Đức mới thống nhất và tiến bộ Nhìn chung, tinh thần tranh đấu – tranh đấu để thay đổi và kiến trúc xã hội hiện đại - là tinh thần cơ bản và phổ biến nhất trong thời đại Khai sáng, và tinh thần ấy diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống Cách mạng vẻ vang ở Anh, cách mạng dân tộc – tư sản
Mỹ, cách mạng nhân quyền và dân quyền ở Pháp, phong trào “Bão táp và xung kích” ở Đức…xứng đáng được xem như là những biểu tượng sinh động cho một
thế kỉ tranh đấusôi nổi và quyết liệt ở phương Tây
Trang 25Trên bình diện văn hóa - tư tưởng:Thực tế lịch sử đã cho thấy, dù ở trình
độ lịch sử - xã hội khác nhau nhưng hầu hết các quốc gia châu Âu, trước hết là phương Tây, đều bị cuốn vào một xu hướng lịch sử đã trở thành mẫu số chung
cho quá trình tiến hóa lịch sử ở khu vực rộng lớn của châu lục này: xu hướng tư sản hóa Và hầu như trong suốt thế kỉ Khai sáng này, mọi động thái chính trị xã
hội, những sự chuyển hướng về sinh hoạt văn hóa tư tưởng cũng không vượt ra khỏi những đặc tính có khả năng “điều kiện hóa” mọi hoạt động của thời đại Những sự chuẩn bị các dữ kiện cho bước đi này của lịch sử đã bắt đầu từ thời đại Phục hưng (như đã trình bày) đến thế kỉ XVIII coi như đã bước vào trình độ chín muồi, và chính sự chín muồi của các dữ kiện lịch sử, chính trị, văn hóa tư tưởng đó đã quyết định những thành quả của thế kỉ, trong đó có những thành quả trong lĩnh vực văn học
“Khai sáng” là mở mang nhận thức cho con người, là làm cho con người được thức tỉnh lương tri thông qua việc tiếp xúc với khoa học, giáo dục, văn học và những tư tưởng mới… phù hợp với tinh thần đang lên của giai cấp tư sản – chủ thể mới của lịch sử Đến lúc này người phương Tây đã thực sự nồng nhiệt đónnhận ánh sáng của lí trí, coi đó là điểm hội tụ của vương quốc trí tuệ để dẫn dắt mọi hoạt động của con người Từ cái gốc coi trọng lí trí đó, thế kỉ XVIII trở thành thế kỉ mà mọi thứ cần phải được xới tung lên để hướng đến tìm kiếm một sự hợp lí tối đa, hòng có thể thỏa mãn con người ở tất cả các phương diện,từ phương diện vĩ mô là thể chế chính trị (đã nói ở trên), đến những phương diện cụ thể của đời sống như tình cảm, đạo đức, triết học, khoa học, tôn giáo… “Thời đại Khai sáng tin vào uy thế phổ quát của lí trí và khả năng của nó trong việc tri nhận và giải thích sự vật” [1, tr 282]
- Đã có sựphổ biến những quan niệm triết học mới Từ thời đại Phục hưng trở đi,
những câu hỏi về con người – con người là gì, cái cốt lõi của chủ nghĩa nhân văn
cổ điển - trở thành nỗi bận tâm chung của giới học thức, từ các triết gia đến các nhà khoa học, nhà văn, thậm chí cả các nhà thần học Con người là gì trong trời đất? Khả năng của con người như thế nào? Số phận con người ra sao trước vũ trụ và cái chết… dường như không ai không đặt ra và tham vọng lí giải theo những cách khác nhau Người ta nói thế kỉ XVIII là thế kỉ của các triết gia(siècle des philosophes) chính là vì vậy Tất nhiên, cũng có một điều cần làm rõ: trong một thế
kỉ cụ thể (thế kỉ XVIII), khái niệm “triết gia” cũng được hiểu hết sức linh động và rộng rãi: “nhà triết học theo nghĩa riêng của thế kỉ XVIII không phải là một nhà
Trang 26thông thái suy tưởng về thế giới mà là một chiến sĩ chống lại tất cả những gì là phi lí” [Hoàng Nhân, Lịch sử văn học phương Tây, T1, tr 434-435] “Nhà triết học là một người hành động tất cả bằng lí tính” [Hoàng Nhân, sđd, tr 435] Hiểu theo nghĩa ấy, triết gia không chỉ là những người lập thuyết, mà còn là những người bằng những hình thức và phương tiện phát ngôn riêng của mình họ nói lên suy
tư của họ về con người, về bản chất hiện thực, về chế độ chính trị xã hội, về những vấn đề quan hệ con người với đạo lí và tôn giáo, về mơ ước kiến tạo hình mẫu xã hội mới… theo lí tưởng của thời đại Khai sáng
Thực ra, về phương diện suy tư triết học, suốt trong hai thế kỉ XVI và XVII,đó đây những vấn đề liên quan tới vận mệnh con người đã được nhiều tác giả trước thế kỉ XVIII đề cập, nhất là các nhà tư tưởng Pháp, như Michel Eyquem de Montaigne với các tập“Tiểu luận” (Essais), Blaise Pascal (1632-1662) với cuốn sách ghi chép mang tên “Tư tưởng” (Pensées), hay René Descartes (1596-1650) với “Luận về phương pháp” (Discours de la méthode)và “Luận về sự đam mê” (Traité des passions)… Tuy mỗi người có cách nhìn, thái độ và sự luận giải khác nhau, nhưng tư tưởng của những triết gia ấy đều góp phần vào việc làm nên tính liên tục của mạch suy tư về con người, và thực tế là những ý tưởng sáng chói của
họ về con người, một cách rất khách quan, đã có ý nghĩa chuẩn bị cho những tư tưởng mới trong những thời đại tiếp theo, trong đó có thời đại Khai sáng
Montaigne (1533-1592) được nhắc đến với nhiều tư cách: nhà nhân văn chủ nghĩa, triết gia và là nhà văn quan trọng của thời đại Phục hưng Ông không viết nhiều, nhưng chỉ cần với 107 chương trong các tập tiểu luận với vô số chủ đề khác nhau,từ “về nỗi buồn” (De la tristesse), “về sự nhàn rỗi” (De l’oisiveté), “về tình bạn” (De l’amitié), “về sự vô nghĩa của lời nói” (De la vanité des paroles)… trong chương I; “về ý thức” (De la conscience), “về sách” (des livres), “về sự tự do của ý thức” (De la liberté de la conscience), “về đức hạnh” (De la vertu), “về tính hung bạo” (De la cruauté)… trong chương II, đến “những vần thơ của Virgile” (Sur des vers de Virgile), “về sự phù phiếm” (De la vanité), “về sự từng trải” (De l’experience)…trong chương III, Montaigne đã chứng tỏ ông vừa là con người của thời đại mình, vừa dự cảm được vô số điều mà chúng sẽ trở lại trong sự quan tâm của các nhà tư tưởng, nhà văn trong các thế kỉ tương lai Trong khi bàn luận tới quá nhiều chuyện nhưng ông lại nhẹ nhàng nói với độc giả của ông trong lời gửi độc giả (Au lecteur) rằng “hỡi độc giả, tôi chính là đề tàicho cuốn sách của tôi” (Lecteur, je suis moy-mesmes la matière de mon livre) [Montaigne, Essais,
Trang 27Bibliothèque de la Pléiade, p 25].Chính sự tản mạn về chủ đề xoay quanh đề tài duy nhất là chính ông tự nó đã là một tiên báo sáng chói của nhận thức về con người, ở đó ta nhận ra con người không phải và không bao giờ là một thực thể khô cứng, tĩnh tại, mà là hình ảnh một “con người di động, đa phức”, ở đó nó diễn tả
“một thế giới vô thường…, cho thấy một con người khiêm tốn đang trên con đường đi tìm bản lai diện mục của mình và kể lại bao chuyện bể dâu của đời” [17,
tr 143] Đó là sự tiên báo cho bước đường phiêu lưu của tư tưởng trong sự nhận thức về bản thể mà mấy thế kỉ sau những nhà tư tưởng, những nghệ sĩ thuộc trào lưu hiện đại và hậu hiện đại sẽ trở lại, còn trong phạm vi thời đại của mình Montaigne đã cho thấy mọi sự áp đặt có tính tiên định, xác quyết về con người chỉ
là một ảo tưởng, vì con người tự nó đã là một thế giới vô cùng phong phú và tinh
vi, chỉ có nó mới hiểu chính nó (thậm chí cũng khó lòng hiểu hết!), và cũng chỉ có
nó mới chứng minh được nó Đó là một cái nhìn vô cùng nhân văn về con người, một cái nhìn mang tính đại diện cho một thời đại mà ở đó con người được tôn vinh, được chính con người ý thức một cách sâu sắc Hãy đi tìm niềm vui và giá trị từ chính mình và cuộc đời sinh động đã trở thành tư tưởng quán xuyến tinh thần của thời đại Phục hưng Trong văn xuôi, với “Gargantua và Pantagruel” của Franc,ois Rabelais, tư tưởng ấy cũng đã được thể hiện trong chính lời giải thích của nữ tu sĩ Bacbuc với Pantagruel trên đường anh ta đi tìm lời phán bảo của chiếc chai thần ở
xứ sở Lanternois: “Các người hãy tự thể hiện sự nghiệp của bản thân các người!” (Soyez vous – mêmes interprètes de votre entreprise!) Và mở rộng ra, trong lĩnh vực thơ, niềm tin yêu cuộc sống trần gian và thực tế tươi rói sắc màu đã tạo nên những vần thơ tình diễn tả thứ tình yêu bồng bột, sôi nổi, đầy tính mời gọi của Pétrarque, hay của Pierre Ronsard(Trong bài thơ “Gửi Hélene”, P Ronsard đã từng viết: [Em] hãy hưởng thụ đi, đừng đợi tới ngày mai, [Em] hãy hái ngay những đóa hoa hồng của cuộc đời / Vivez si m’en croyez, n’attendez à demain; Cueillez dès aujourd’hui, les roses de la vie!)
Sau Montaigne là các nhà tư tưởng lớn như Blaise Pascal, René Descartes,
dù mỗi người có quan niệm và lí giải về con người khác nhau nhưng những tác phẩm của họ đều có ý nghĩa như là những trầm tư vô cùng sâu sắc về con người,
về thân phận và về khả năng của họ Với Pascal, dù say mê giải pháp Tôn giáovàcó phần yếm thế,hơn nữa ông “đặc biệt nhấn mạnh về sự bất lực của con người trong việc tìm hiểu chính tồn sinh của mình: sự huyền nhiệm về nguồn gốc, về sự vô cùng của không thời gian, về Thượng đế” [17, tr 216], tức những băn khoăn siêu
Trang 28hình về số phận đau khổ của con người, vấn đề mà triết học và văn học thế kỉ XX, nhất là chủ nghĩa hiện sinhnêu thành vấn đề quán xuyến…, nhưng con người trong tính chất hồn nhiên nhất của nó vẫn được ông trang trọng vinh danh.Một cách hết sức độc đáo và thú vị, Pascal đã định nghĩa con người trong một hình ảnhcao quí
và thi vị “cây sậy có tư tưởng”, một hình ảnh đã trở thành rất quen thuộc và sẽ nhiều lần trở lại trong triết học và văn học ở các thế kỉ sau với những dạng thức biểu hiện khác nhau trong những suy tư về con người: “Người chỉ là cây sậy, yếu nhất trong trời đất, nhưng là một cây sậy có tư tưởng Không cần phải cả vũ trụ gia công mới đè bẹp được người; một làn hơi, một giọt nước cũng đủ để giết chết người Nhưng dù vũ trụ có đè bẹp con người, người cũng vẫn cao quí hơn cái đã giết mình, vì người biết mình chết, còn ưu thế của vũ trụ đối với người, vũ trụ đâu
có biết” [60, tr 296]
Cùng trong thế kỉ XVII, trong khi Pascal tôn vinh tôn giáo và giải pháp tôn giáo trong việc khắc phục những bất hạnh có tính bản thể của con người và nhìn thấy khía cạnh “cao quí” của con người trong tồn sinh nhọc nhằn, thì René Descartes lại tư duy về con người theo một hướng khác có phần xác quyết và gần gũi hơn với những vấn đề đang đặt ra của hiện thực lúc bấy giờ Tiếp thu tư tưởng hoài nghi từ Montaigne, Descartes tôn vinh con người lí tính, xem lí tính là chân lí tối thượng của nhận thức, một thứ tri thức không có khả năng lừa dối Với R Descartes, hoài nghi phải là cái khởi đầu, là nguyên tắc số một của nhận thức, chỉ như thế mới tránh được thiên kiến; hoài nghi cùng với thực tế quan sát được sẽ giúp con người vượt ra được khỏi cái khuôn khổ nhận thức giáo điều Mệnh đề nổi tiếng trong “Luận về phương pháp” (Discours de la méthode)“tôi tư duy, vậy thì tôi tồn tại/ tôi có thật” (Je pense, donc je suis) và tinh thần chung của cuốn sách đã đưa tên tuổi Descartes trở thành người thống trị trí tuệ đương thời, người tiền bối trực tiếp vĩ đại của tinh thần thế kỉ Khai sáng, và tư tưởng của ông trở thành thù nghịch với triết học kinh viện và quyền uy của giáo hội Mặt khác, với tư cách là một nhà khoa học uyênbác (ông quan tâm nhiều tới toán học và vật lí), R Descartes đã nêu lên những qui tắc (3 qui tắc) của nhận thức, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của sự thực khả tín Với ông, “Trướctiên là không bao giờ thừa nhận một sự vật gì là thực, nếu tôi không biết hiển nhiên/rõ ràng sự vật ấy là thực, nghĩa là [phải] cẩn thận tránh hấp tấp cùng thiên kiến, và trong phán đoán không bao hàm thêm một điều gì nếu điều ấy không hiện ra ở trí óc tôi một cách quá rõ ràng, quá minh bạch đến nỗi tôi không còn một lí do nào để nghi ngờ” (Le
Trang 29premier était de ne recevoir jamais aucune chose pour vraie que je ne la connusse évidemment être telle; c’est-à-dire d’éviter soigneusement la précipitation et la prévention; et de ne comprendre rien de plus en mes jugements que ce qui se présenterait si clairement et si distinctement à mon esprit que je n’eusse aucune occasion de le mettre en doute) [18, p.137]
Nhắc lại một ít thành tựu trên lĩnh vực tư tưởng, trước hết là tư tưởng triết học như vậy để thấy rằng quá trình tư tưởng ở mỗi thời đại vừa có sự đổi mới, vừa
là sự nối tiếp những sự chuẩn bị từ các thế kỉ trước, và đây là những sự chuẩn bị trong suốt những thế kỉ tiền Khai sáng Những quan điểm của Montaigne, Pascal hay Descartes có thể khác nhau xuất phát từ lí do thời đại hay lí do cá nhân (Montaigne sống trong thời đại tôn giáo có sự khủng hoảng nên tư tưởng của ông nặng tinh thần hoài nghi và bất quyết; Pascal sớm khắc khoải siêu hình về bản thể nhân loại nên tìm đến tôn giáo như giải pháp khả dĩ cứu chuộc con người ra khỏi nỗi đau tồn sinh; Descartes đề cao tinh thần duy lí…), nhưng những nhà tư tưởng trên đều có những điểm chung: ưu tư về con người, về thân phận cũng như năng lực cao quí của nó Một điều đặc biệt thú vị là: không chỉ những tác giả trên mà hầu hết các nhà tư tưởng (triết gia) trong thời đại này họ đều vừa là nhà tư tưởng với những trầm tư hết sức sâu sắc về những vấn đề con người và đời sống mà họ còn là những bộ óc vô cùng uyên bác về nhiều lĩnh vực tri thứckhác nhau (Pascal, Descartes lànhững thiên tài trong lĩnh vực toán học và vật lí, John Locke vừa là là người chủ trương thuyết Con người tự nhiên, vừa là nhà tâm lí học, giáo dục và kinh tế học…) Chính đặc điểm sự quảng bác tri thức (vừa khoa học tự nhiên, vừa khoa học xã hội, vừa là vấn đề tâm linh, tôn giáo) của các nhà tư tưởng đã chi phối
tư duy của họ rất nhiều Những hiểu biết của họ về vũ trụ, về giới tự nhiên… đã khiến họ chú trọng hơn tới kinh nghiệm cảm giác và những sự kiện, hiện tượng thuộc phạm vi đời sống thực tế Và đó cũng chính là những yếu tố cốt lõi góp phần làm nên tinh thần nhân văn mới, đặc biệt là sự nhấn mạnh tinh thần duy lí, tức là trọng lí tính, trọng tính có thực của đời sống, trọng sự khúc chiết và tường minh trong lĩnh hội tri thức và tư duy, trọng tinh thần tự do… trong quan niệm của các nhà tư tưởng và văn hóa của thế kỉ XVIII, trong đó bao hàm cả các nhà văn.Ngoài những tư tưởng của những bộ óc vĩ đại nói trên, suốt từ thế kỉ XV cho tới thế kỉ XVII còn nhiều nhà tư tưởng khác nữa (Mirandola, Bruno, Spinoza, Martin Luther, Calvin, Francis Bacon…), mà những cống hiến của họ trong hành trình tiến hóa của tư tưởng phương Tây đã khiến họ trở thành những tiền bối vĩ đại
Trang 30và trực tiếp của những bộ óc tiên phong trong việc dẫn dắt lịch sử thời đại Khai sáng Tìm trong tư tưởng của các triết gia, các nhà văn lớn của thời đại Khai sáng được thể hiện trong các công trình triết học hoặc những sáng tác văn học của các tác giả như John Locke, Jonathan Swift, Daniel Defoe(của Anh), Montesquieu, Jean Jacques Rousseau, Denis Diderot, Voltaire, Buffon (của Pháp),Gotthold Ephraim Lessing, Friedrich Schiller, Johann Wolfgang Goethe (của Đức), hay Benjamin Franklin (của Mỹ)…ta đều thấy ở đó ít nhiều có một sự nối kết, liền mạch với tư tưởng củanhững người đã có công đặt nền móng cho đại lộ mới của lịch sử chính trị xã hội và lịch sử tư tưởng của các quốc gia phương Tây trên con đường bước vào thời hiện đại
Thế kỉ XVIII được mệnh danh là thế kỉÁnh sáng (siècle des lumières) Đó là những luồng ánh sáng của triết học, khoa học và những quan điểm mới về chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo phù hợp với chiều hướng và triển vọng của lịch sử sẽ dọi sáng đầu óc và cảm xúc của con người.Và như đã nói, trong phạm vi thế kỉ đêm trước cách mạng tư sản và của thời đại tư sản hóa, triết gia không chỉ là những người suy tưởng, lập thuyết, mà còn là những người bằng hoạt động phong phú của mình (trên nhiều lĩnh vực), họtham gia vào việc khẳng định những giá trị mới
và chiều hướng tiến bộ của thời đại, phê phán và đả phá tất cả những phi lí của đời sống “Mỗi thế kỉ có đặc điểm về đời sống tinh thần của nó: đời sống của thế kỉ chúng ta là tự do” [Diderot viết trong thư gửi Dashoff, dẫn theo Hoàng Nhân, sđd,
tr 435] Tôn trọng lí tính, sự tự do, tinh thần phản kháng, vị tư sản, ý thức kiến tạo cái mớihợp lí về mặt xã hội và đạo đức… trở thành những khái niệm quan trọng làm nên cốt lõi đời sốngtinh thần của một thời đại chuyển mình vĩ đại của phương Tây và châu Âu “Trào lưu này (Khai sáng) phản ánh nguyện vọng của tầng lớp tư sản tiến bộ đòi giải phóng tư tưởng, chống lại Công giáo và phong kiến
Nó kế tục tinh thần chủ nghĩa nhân văn cổ đại Hi Lạp – La Mã và tư tưởng thời cải cách tôn giáo và Phục hưng văn nghệ, mở đường cho cách mạng tư sản” [15, tr 561].Và cũng chính vì thế, trong lĩnh vực văn học, lực lượng sáng tác cũng hết sức đặc biệt Như ở Pháp chẳng hạn, trong khi hầu hết các tác gia củatrào lưu cổ điển chủ nghĩa trong thế kỉ XVII (như Franc,ois de Malherbe, Pierre Corneille, Nicolas Boileau- Despréaux, Jean de La Fontaine, Jean Racine…) đều xuất thân từ tầng lớp thượng lưu quí phái thì ngược lại, hầu hết các tên tuổi lớn của thế kỉ XVIII lại xuất thân từ tầng lớp tư sản, thương nhân, tiểu thủ công nghiệp (Voltaire con gia đình buôn vải, D Diderot sinh ra trong gia đình làm nghề sản xuất dao kéo, J J
Trang 31Rousseau có bố là thợ sửa đồng hồ…) Hoàn cảnh xuất thân ấy không những đưa
họ dễ dàng hòa vào tiếng nói của đẳng cấp thứ ba, mà cuộc sống lao động còn làm cho họ hiểu rất rõ một điều rằng hạnh phúc của họ không phải là ân huệ của nhà vua và triều đình mà nó đến từ chính những nỗ lực hoạt động không mệt mỏi của con người Gắn với đời sống thực tế nhọc nhằn của đẳng cấp ba, với điều kiện hiểu biết vượt trội, họ không ngại ngần quăng mình vào nhịp tranh đấu chung của thời đại Cũng bởi vậy, các tên tuổi lớn trong thời đại Khai sáng không chỉ sắm một vai đơn nhất mà thường mỗi người thường được nhắc đến với nhiều tư cách khác nhau; ở họ,vai nhà văn xen lẫn vainhà tư tưởng, nhà hoạt động chính trị, nhà khoa học, thậm chí họ còn là những người đóng vai trò trực tiếp sáng lập phong trào Khai sáng và dẫn dắt phong trào ấy ỞPháp, Voltaire được mệnh danh
là “người chuẩn bị cho nhân dân Pháp đi đến tự do và là người bạn thủy chung của nhân loại”, hay Jean Jacques Rousseau được tôn vinh là “tiên khu vĩ đại của bão táp cách mạng”… là những chứng cứ không gì sinh động hơn về thực tế bị cuốn hút vào trào lưu vận động chung của lịch sử của các nhà văn Khai sáng thế kỉ XVIII
1.2 Đặc tính chung và riêng biệt mang màu sắc dân tộc của phong trào Khai sáng
1.2.1.Những mẫu số chung:
Trên cơ sở là một bộ phận quan trọng trong trào lưu vận động của lịch sử chính trị và xã hội phương Tây theo tinh thần tư sản hóa, phong trào Khai sáng có những đặc điểm trở thành mẫu số chung có thể tìm thấy ở các dân tộc khác nhau
- Đề cao lí tính Xét từ thời đại Phục hưng thế kỉ XV – XVI, thời điểm manh nha tinh thần duy lí của xã hội phương Tây (tiêu biểu là tư tưởng hoài nghi của Montaigne), qua thế kỉ XVII với chủ nghĩa duy lí của René Descartes, tinh thần duy lí vừa là quan điểm nhận thức, vừa là nền nếp tư duy gắn liền với tinh thần tư sản và tầng lớp tư sản đang trên con đường khẳng định quyền lực và sức mạnh của mình Chính vì thế, sang thế kỉ XVIII, thế kỉ châu Âu và phương Tây chuyển từ phong kiến sang tư sản, quan điểm và nền nếp tư duy ấy trở thành một thứ vũ khí
và sức mạnh đặc trưng mà những người tư sản và những người có đầu óc đối lập với chủ nghĩa quyền uy của phong kiến và thần quyền sẽ nắm lấy và vận dụng những khía cạnh có lợi nhất cho họ Duy lí là tôn trọnglí tính, là đề caosự hợp lí, là
Trang 32sự tường minh, khoa học, tôn trọng tính có thật của đời sống, như thế nó đồng nghĩa với tiến bộ và phù hợp với trào lưu vận động của lịch sử xã hội phương Tây Đặc điểm duy lí trở thành đặc điểm cơ bản và phổ quát nhất trong thời đại này, nó chi phối hầu hết các hoạt động của con người (triết học, văn học, khoa học, đạo đức, quan niệm tôn giáo…), với vô số những biểu hiện khác nhau Trong thế kỉ XVIII, và kể cả thế kỉ XVII trước đó, không phải không có triết học duy cảm (triết học duy cảm của Gassendi trong thế kỉ XVII, hay một phần tư tưởng con người tự nhiên của John Locke trong thế kỉ XVIII), nó làm nên những khía cạnh độc đáo của hoạt động tinh thần của thời đại, nhưng nhìn chung, tinh thần duy lí, đề cao lí tính vẫn là tinh thần ưu trội, quán xuyến hầu hết mọi hoạt động
- Hướng tới tự do, bình quyền và dân chủ.Dù mỗi dân tộc có thể có sự khác biệt về màu sắc và mức độ, thời đại Khai sáng là thời đại của tranh đấu chính trị để cải biến tình trạng xã hội, cho nhân quyền và dân quyền Bởi vậy, cái khẩu hiệu “Tự
do, Bìnhđẳng, Bác ái” mặc dù gắn liền với một cuộc cách mạng cụ thể là cách mạng tư sản Pháp 1789-1793 như một lời hiệu triệu của tầng lớp tư sản với toàn
bộ đẳng cấp thứ ba, nhưng thực chất nó đã trở thành một tiêu ngữ phổ biến cho hầu hết các dân tộc phương Tây và châu Âu
Thế kỉ XVIII tồn tại hai hiện thực khác biệt, một mặt là những biểu hiện suy thoái của hiện thực phong kiến, bên cạnh đó là những khía cạnh cực đoan đi ngược những nhu cầu tự nhiên của con người của các tổ chức tôn giáo – những
tổ chức trung gian giữa Chúa và người đời (như nhà thờ và giáo hội), mặt khác là hiện thực đang lên của tư sản Những tranh luận triết học, những lí tưởng
xã hội, những quan niệm mới có tính chất khoan dung và cởi mở về đạo đức, tôn giáo, hay những quan niệm mới về một nền giáo dục khai phóng, thấm nhuần tinh thần tự do, tự lập và thực tiễn…, tất cả đều hướng tới mục tiêu cuối cùng: giải phóng con người ra khỏi những khuôn khổ chật hẹpđể cá nhân có thể tự do phát triển và khẳng định phẩm chất và năng lực thực tế của nó, để con người không còn là những sinh thể lệ thuộc và thụ động; chính thể chuyên chế phải được thay thế bởi những hình thức xã hội khác nhau mà ở đó con người tự nhiên, con người cá nhân được tôn trọng, tóm lại là hướng đến sự hài hòa cho cả xã hội và cá nhân con người Trong lĩnh vực văn học, tinh thần dân chủ, tự do và bình quyền hiện diện ở mọi phương diện, từ chủ đề đến thể loại văn học và thế giới hình tượng nghệ thuật…
Trang 33- Một tinh thần nhân văn mới.Tiếp tục truyền thống nhân văn của các thế kỉ tiền Khai sáng, bắt đầu từ thời đại Phục hưng, các nhà tư tưởng, nhà văn trong thời đại Khai sáng dù có những quan niệm hoặc cách nói khác nhau thì trong những sáng tác của họ cái trục chính vẫn là sự triển khai những ý tưởng tôn vinh về con người
và đời sống thực tiễn Tuy vẫn thuộc phạm trù chủ nghĩa nhân văn cổ điển nhưng vấn đề con người trong các sáng tác của họ đã được mở rộng ở nhiều bình diện và sắc thái mới, không chỉ dừng ở việc tôn trọng những nhu cầu bản nhiên, mà còn là thái độ khẳng định năng lực trí tuệ, năng lực hành động, phẩm tính đạo đức cao quí của nó Thời đại Khai sáng là thời đại của hành động Vì thế, hình tượng con người hành động trở thành kiểu hình tượng phổ biến trong văn học Khai sáng Đó là hình ảnh những con người khao khát phiêu lưu khám phá và chinh phục, hình ảnh con người với năng lực trí tuệ và đức hạnh vươn lên tìm kiếm hạnh phúc cá nhân, hoặc hình ảnh con người đối diện với sự thực bất công của đời sống và cả mặt trái của chính mình để khẳng định những giá trị cao quí của bản thân…
1.2.2 Những sự khác biệt:
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên phong trào Khai sáng ở các quốc gia phương Tây không đồng nhất, ngoài một số đặc điểm chung đã chỉ ra thì nó còn mang đặc điểm dân tộc, gắn liền với thực tế lịch sử của mỗi dân tộc
Với nước Anh và lịch sử Anh thế kỉ XVIII, nếu xét về mặt văn hóa, có
những nét khá riêng biệt Michael Alexander trong Lịch sử văn học Anh nói rằng
“Khai sáng” là một thuật ngữ thích hợp với Pháp và Scotland hơn là với nước Anh” [1, p.282] Quan điểm của Alexander không phải không có điểm hợp lí, nhưng có lẽ vấn đề cần xét ở nhiều khía cạnh hơn Cái lí ở chỗ thế kỉ XVIII ở Anh không có không khí đấu tranh chính trị sôi nổi (như ở Pháp) và về mặt văn hóa- văn học cũng có những nét riêng biệt Tuy cuộc cách mạng vẻ vang 1688 phá vỡ trạng thái cân bằng xã hội giữa quí tộc và tư sản nhưng ngay sau đó tình trạng cân bằng lại tái lập (nhưng không mang tính chuyên chế như chế độ quân chủ chuyên chế Pháp thời Louis XIV), và thực trạng xã hội ấy kéo theo sự thống trị của chủ nghĩa cổ điển ở Anh suốt một quãng thời gian dài từ thập niên 80 của thế kỉ XVII cho tới 1744 với những tác giả tiêu biểu như nhà viết kịch và thơ trào phúng John Dryden (1631 – 1700), nhà thơ chuyên nghiệp Alexander Pope (1688 – 1744)… theo mô hình của văn học cổ điển Pháp, nhưng xuất hiện chậm hơn Tuy vậy, từ sau năm 1744, tức sau cái chết của A Pope cho đến cuối thế kỉ XVIII văn học
Trang 34Anh đã chuyển sang một khuynh hướng mới, gần với tinh thần chung của văn học thế kỉ XVIII ở châu Âu, tức là có văn học tranh đấu và có những sự chuẩn bị cho
sự ra đời của trào lưu lãng mạn và hiện thực (những trào lưu văn học sẽ thăng hoa mạnh mẽ trong thế kỉ XIX) Đặc biệt, tinh thần thời đại Ánh sáng ở Anh thể hiện một cách rõ rệt ở sự ưu tiên cho sự phát triển và phổ biến các thành tựu khoa học mới, mà những thành tựu khoa học ấy sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống văn hóa châu Âu không chỉ trong phạm vi thế kỉ XVIII Ngay từ nửa cuối thế kỉ XVII, cụ thể là từ 1660, đồng thời với việc khôi phục nền quân chủ, vua Charles II thực hiện nhiều chính sánh mới, trong đó song song với việc chủ trương khoan dung tôn giáo (ban hành sắc lệnh ân xá) là khuyến khích phát triển khoa học: lập Đài thiên văn hoàng gia (Royal Observatory), bảo trợ Hội khoa học hoàng gia (Royal Society)… Đóchính là một trong những điều kiện quan trọng thúc đẩy nền khoa học Anh phát triển, kéo theo đó là sự phát triển mạnh mẽ kinh tế tư bản chủ nghĩa Những tên tuổi quan trọng của các nhà khoa học thời kì này phải kể đến như Issac Newton (1642 – 1727), John Locke (1632 – 1744), David Hume (1711 – 1776)…
Với tư cách một nhà vật lí học, toán học và thiên văn học, I Newton đã sáng lập ra cơ học, chế tạo kính viễn vọng, nêu những lí luận về màu sắc và sự phân giải ánh sáng thành quang phổ, và đặc biệt là tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn (một thành tựu đỉnh cao của vật lí học cổ điển) Tuy vẫn viện vào tôn giáo, cho rằng Thượng đế đã tạo ra “cái búng” (a flip) đầu tiên khiến các hành tinh quay quanh mặt trời, nhưng những phát hiện mới của Newton đã có ảnh hưởng rất nhiều tới triết học duy vật Pháp đương thời và sau đó, đồng thời củng cố niềm tin của con người vào sự tồn tại thực tế khách quan
John Locke là triết gia duy vật, đồng thời là nhà tâm lí học, giáo dục học, kinh tế học của thế kỉ XVIII Tiếp thu tư tưởng của “ông tổ thực sự của chủ nghĩa duy vật Anh và tất cả những khoa học thực nghiệm hiện đại” là Francis Bacon (1561 – 1626) - người đầu tiên nêu lên phương pháp thực nghiệm mà hiện nay vẫn còn giá trị,đồng thời là một người mạnh mẽ chống lại tri thức kinh viện và ủng hộ quan điểm tư sản hóa - J Locke khẳng định mạnh mẽ quan điểm con người sinh ra không có sẵn nguyên lí bẩm sinh, rằng sự vật tồn tại khách quan, chúng tác động lên giác quan và đó chính là nguồn gốc đẻ ra tri thức của loài người Trong thế kỉ XVIII, với sự say mê tư tưởng của J Locke, rồi sẽ có nhiều nhà văn chịu ảnh hưởng sâu sắc quan điểm triết học và khoa học của ông, nhất là những nhà văn Pháp như J J Rousseau hay Bernadin de Saint Pierre… Những quan điểm của J
Trang 35Locke, sau đó là của David Hume, một người của chủ nghĩa hoài nghi luôn đả kích những cái được gọi là “phép lạ” của đạo Ki – tô, không tin khả năng nắm bắt bản chất sự vật của con người, nghi ngờ trí tưởng tượng, tin vào khả năng “phán đoán hợp lí” (D Hume hay dùng khái niệm “correct judgement”) và cho rằng “tất cả những nguyên tắc của lí tính đều xuất phát từ kinh nghiệm và cảm giác” [Từ điển triết học, tr 212]đã góp phần quan trọng trong việc củng cố quan điểm đề cao nhận thức thực tiễn, coi thực tiễn là phù hợp chân lí, phù hợp với lí tính, và như thế phù hợp với tinh thần đang lên của tư sản và vị tiến bộ Bản thân David Hume cũng rất tán thành quan điểm chủ nghĩa vị lợi (utilitarianism) của triết gia và luật gia người Anh Jeremy Bentham (1748 – 1832), một học thuyết chủ trương xem lợi ích và hạnh phúc cao nhất là “nguyên tắc tối cao của hành động con người”
Trong khi bầu khí quyển chính trị xã hội ở nước Anh khá yên ả thì ở nước Pháp tình hình lại khác, không khí đấu tranh chính trị xã hội sôi nổi và quyết liệt hơn nhiều
Trở lại với tình hình lịch sử xã hội nước Pháp thế kỉ XVIII ta thấy: từ sau1715,những dấu hiệu cho một cuộc cách mạng chính trị có thể làm “thay bậc đổi ngôi” quyền thống trị giữa phong kiến và tư sản hiện rõ hơn bao giờ hết Sự phân cách khắc nghiệt giữa các đẳng cấp trong xã hội vốn đã tồn tại từ thế kỉ XVIIsang thế kỉ XVIII mỗi ngày một thêm mạnh mẽ Trong thế kỉ XVII, nhà nước quân chủ chuyên chế khi còn đóng vai trò là “trung tâm của văn minh”
đã tìm cách duy trì được thế cân bằng và thỏa hiệp tạm thời giữa quí tộc và
tư sản, chia đôi quyền lợi (một bên nắm quyền chính trị, một bên nắm quyền kinh tế) và tất cả đều có một mục đích chung là vì một nước Pháp thống nhất
và vì một nền quân chủ chuyên chế hùng mạnh Tuy nhiên, khi chính sách trọng thương của Colbert bị hủy bỏ (1683), thì thế cân bằng tạm thời ấy mới bắt đầu có dấu hiệu của sự chấm dứt và đưa tầng lớp quí tộc phong kiến và tầng lớp tư sản vào một tình thế lịch sử mới Như ở trên đã nói, hai đẳng cấp bên trên là quí tộc và tầng lớp tăng lữ (chủ yếu những người có chức sắc trong các tổ chức tôn giáo) chiếm chỉ khoảng 3% dân số nước Pháp lúc bấy giờ nhưng họ lại nắm giữ phần lớn quyền lợi chính trị và kinh tế, còn 97% dân chúng từ nông dân, thợ thủ công, tiểu thương, tầng lớp tư sản, những thành phần xã hội được xếp vào đẳng cấp thứ ba lại có rất ít quyền lợi Những sự bất công về quyền lợi chính trị
và kinh tế ấy dần dần đã chuyển hóathành nhu cầu tranh đấu đểhướng tới một thực thể chính trị khác, khắc phục những phi lícủa tồn tại.Thế kỉ XVIII cơ bản là
Trang 36thế kỉ của cách mạng Pháp là vì vậy Và nếu chúng ta xem xu hướng vận động chủ đạocủa lịch sử các quốc gia phương Tây trong thế kỉ XVIII là xu hướng tư sản hóa thì hình ảnh nước Pháp trong thế kỉ XVIII là tiêu biểu nhất cho xu hướng lịch sử này
Phong trào Khai sáng ở Pháp tiêu biểu nhất cho phong trào Khai sáng chung của châu Âu Nói là tiêu biểu vì trước hết phong trào ấy gắn với một không khí xã hội chính trị hết sức điển hình trong quá trình chuyển mình của lịch sử; phong trào Khai sáng Pháp còn tiêu biểu vì phong trào ấy mang trong mình nó tất cả những đặc điểm cơ bản của một thời đại, đó là thời đại của triết học theo tinh thần duy lí,
là nhu cầu giải phóng con người khỏi mọi sự lệ thuộc phong kiến (và cả tôn giáo),
là sự tranh đấu cho những giá trị mới của con người để con người được phát triển một cách tự nhiên, hài hòa trong một hình thức xã hội hợp lí và tiến bộ Được sáng tạo và phát triển trong một điều kiện như thế, văn học Khai sáng Pháp cũng có những nét riêng biệt: quyết liệt và mạnh mẽ trong tinh thần phê phán hiện thựcvà khẳng định những giá trị mới, tham gia một cách tích cực vào không khí đấu tranh
tư tưởng và đấu tranh chính trị của thời đại, văn học mang màu sắc chính trị và triết học rõ nét… Văn học Pháp cùng với những tranh luận triết học của Voltaire, Rousseau, Montesquieu, Diderot, phong trào Bách khoa toàn thư…trở thành “bà mẹ” đích thực của cách mạng tư sản Pháp 1789 - 1793
Phong trào Khai sáng ở Đức vàHoa Kỳ cũng có những nét riêng
Như ở trên đã có đề cập, nước Đức thế kỉ XVIII là một quốc gia vô cùng lạc hậu và trì trệ về mặt chính trị Biểu hiện của tình trạng lạc hậu và trì trệ đó chính là
sự phân tán và cát cứ về chính trị Trong khi nước Pháp đã công bố vềmột quốc gia thống nhất từ thế kỉ XVII (sau pháp lệnh Nantes năm 1598) và có một chính quyền chuyên chế hùng mạnh trải qua ba đời vua Henri IV, Louis XIII và Louis XIV khiến cả châu Âu kính trọng thì nước Đức vẫn tồn tại một thực tế là quốc gia
bị chia nát bởi sự tranh giành quyền lực của những người đứng đầu các tiểu vương quốc, trong khi đó tầng lớp tư sản – đội quân tiên phong gánh vác trọng trách dẫn dắt lịch sử thì vẫn còn hết sức èo uột, không đủ sức làm cách mạng tư sản như ở Anh và Pháp Nước Phổ cũ (tức nước Đức) bị chia làm ba trăm tiểu công quốc, mỗi công quốc có một thế lực và chính sánh riêng biệt Vì tình hình đó nên trong trào lưu tư sản hóa ở châu Âu, phong trào Khai sáng, trong đó có văn học, ngoài việc “dùng ánh sáng của lí trí để soi tỏ chân lí, để giải phóng tư tưởng cho mọi
Trang 37người, mở mang trí tuệ cho họ, tạo điều kiện cho mọi người tiếp xúc với văn hóa nghệ thuật” [33, tr.66], nó luôn gắn với một nhiệm vụ kép, vừa phải tham gia vào việc đấu tranh thống nhất đất nước, vừa phải khẳng định những giá trị mới mang tinh thần tư sản, chống lại mọi sự trì trệ phong kiến Những sáng tác và quan điểm của Johann Christoph Gottsched, Lessing, Schiller, Goethe… đã thể hiện tập trung
và cao nhất tinh thần của thời đạiKhai sáng trong văn học Đức
Trào lưu Khai sáng Mỹ cũng có những nét riêng thú vị
Ta biết lịch sử nước Mỹ khá đặc biệt, đặc biệt từ vấn đề cư dân, chủng tộc đến quá trình lập quốc và sự phát triển nền văn hóa Mỹ Trước khi dân tộc Mỹ chính thức có tên trên bản đồ thế giới, trên một vùng đất rộng lớn là nước Mỹ ngày nay đã có hàng trăm tộc người bản địa sinh sống, mỗi tộc người có lãnh địa, ngôn ngữ và tín ngưỡng riêng của mình Đó là những tộc người vốn thiên di từ châu Á sang cách đây hàng vạn năm, được gọi chung là người Indian (Anh – điêng) Sau
sự kiện các nhà hàng hải và thám hiểm châu Âu phát hiện ra lục địa mới này vào thời đại Phục hưng (thế kỉ XV – XVI), cư dân châu Âu, chủ yếu và trước hết là người Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan…, với những lí do khác nhau (như đã nói
ở phần trên) họ tiếp tục tạo ra những làn sóng di dân mới và họ nhanh chóng trở thành chủ nhân mới ở vùng Tân thế giới Về sau này, nước Mỹ với lợi thế là quốc gia mang hình ảnh một vùng đất mới và đầy hứa hẹnvới diện tích mênh mông, nhiều tài nguyên, con người phóng khoáng, hứa hẹn có nhiều cơ hội cho sự thành công, thì càng ngày số dân di cư đến đất nước này càng nhiều và không chỉ người châu Âu mà còn là cư dân của các châu lục khác Sự kết hợp cư dân bản địa
và những người di cư từ các châu lục khác đã tạo nên tính chất đa chủng tộc của nước Mỹ, trước hết đa chủng tộc về con người, kéo theo đó là đa chủng tộc về văn hóa (người ta thường dùng những cụm từ “Melting pot” hoặc “Mixed salad”
để ngụ ý về tính chất này của văn hóa Mỹ) “Mỗi cộng đồng người từ các quốc gia khác nhau đến đây đều mang theo một di sản văn hóa của dân tộc họ… Họ tràn tới để làm giàu và cùng tạo nên một đời sống văn hóa mới dung nạp đủ mọi sắc thái của các nền văn hóa trên thế giới trong đó có văn học” [Lê Đình Cúc, Lịch sử văn học Mỹ, NXBGD, 2007, tr 9-10]
Trong số các nước châu Âu có mặt tại vùng đất mới sau 1492, mỗi nước chọn cho mình một vùng đất để xây dựng và ổn định thuộc địa Người Hà Lan lập thuộc địa chủ yếu ở vùng New York, họ phát triển ở đây các nghề kinh doanh
Trang 38như thuốc lá, da thú… và gọi đó là New Amsterdam; người Pháp chiếm cứ và lập thuộc địa ở vùng đất giáp ranh với Canada (sau này bị người Anh đánh bại trong chiến tranh tranh chấp thuộc địa)… Trong khi đó, do người Anh có lợi thế hơn
về sức mạnh kinh tế, quân sự, học vấn, họ nhanh chóng định cư tại vùng đất Đông bắc nước Mỹ (nay thuộc bang Massachussets, một vùng đất có khí hậu và thổ nhưỡng gần giống với chính quốc), lập một vùng thuộc địa rộng lớn và xem đó là nước Anh mới (New England) Có một điều khá đặc biệt là, những thế hệ cư dân người Anh có mặt sớm trên đất Mỹ là những người giàu có, có học vấn cao, có đầu
óc ưa phiêu lưuthám hiểm…Họ đến Mỹ có khi vì muốn tìm cơ hội thành công, có khi vì sự bất bình với thể chế chính trị hoặc tôn giáo ở chính quốc nên chính họ là những người sớm có ý thức ổn định đời sống ở một vùng đất mới này Họ lập trường học (như đại học Harvard thành lập năm 1636), thành lập các trung tâm tôn giáo để tập hợp con người, xây dựng và củng cố ý thức cộng đồng cũng nhưđể truyền đạt giáo lí Thanh giáo (một tôn giáo được ra đời ở Anh trong phong trào cải cách tôn giáo vào thế kỉ XVI, năm 1564) Những lợi thế của người Anh trên vùng đất mới khiến họ nhanh chóng thành đạt và khẳng định chắc chắn vai trò chủ nhân mới của mình Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên khi người Anh nhanh chóng
áp đặt bộ máy cai trị về chính trị trên đất Mỹ và vùng Đông Bắc Mỹ cũng sớm trở thành trung tâm văn hóa, trung tâm khoa học và tôn giáo của Mỹ, trước khi
sự phát triển văn hóa mở rộng dần tới những trung tâm mới ở những vùng đất khác nhau trên lãnh thổ rộng lớn ở Tân thế giới này Những thế hệ cư dân Mỹ đến
từ châu Âu ngày càng đông Những thế hệ cư dân ban đầu còn mang tâm lí người châu Âu ở Tân thế giới, nhưng càng về sau tâm lí ấy phai nhạt dần và họ lao vào công cuộc xây dựng và củng cố ý thức cộng đồng và kiến trúc một dân tộc mới một cách say mê Một cách tất yếu, ở họ dần nảy sinh ý thức phản kháng và mong muốn thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào đế quốc Anh và châu Âu, và kết quả cuối cùng
là sự thành công của cách mạng dân tộc – tư sản Mỹ năm 1776 Năm 1787 Hiến pháp đầu tiên của Mỹ được ban bố, nó cùng với Tuyên ngôn nhân quyền mà tổng thống Jeffersonđọc trước quốc dân đã khẳng định sự hoàn chỉnh tư thế của một dân tộc mới hoàn toàn thoát khỏi sự lệ thuộc chính thể ở cựu lục địa
Nhìn vào lịch sử nước Mỹ ta thấy cũng có những điểm tương đồng với một
số quốc gia châu Âu, nhất là so với nước Pháp, vì thế kỉ XVIII ở Mỹ cũng là một thế kỉ tranh đấu, chỉ có khác ở chỗ trong khi người Pháp tranh đấu chống phong kiến chuyên chế và những thế lực cản trở quyền tự do của con người để xây dựng
Trang 39nền cộng hòa, thì người Mỹ tranh đấu để chống lại sự thống trị của đế quốc châu
Âu vì nền độc lập của một dân tộc.Sự gần gũi về lịch sử ấy cộng với mối liên hệ hết sức mật thiết của những người trí thức Mỹ với truyền thống châu Âu cũng đã khiến cho thế kỉ XVIII và những thập niên đầu của nền dân chủ non trẻ Mỹmang nhiều đặc tính của phong trào Khai sáng chung của châu Âu Trong các sáng tác hoặc phát biểu của các nhà văn và nhà tư tưởng Mỹ trong thời kì này (như Benjamin Franklin, Charles Brockden Brown, Washington Irving, hay James Fenimore Cooper…), ta đều thấy họ có điểm chung là “nhấn mạnh lí trí hơn truyền thống, những yêu cầu khoa học thay cho những giáo điều tôn giáo mơ hồ, chính thể đại diện thế chỗ cho chính thể quân chủ Những nhà tư tưởng và những nhà văn Khai sáng đã xả thân cho những tư tưởng về công lí, tự do và công bằng cũng như những quyền tự nhiên của con người” [70, p.16].Và thêm nữa, trong điều kiện trước năm 1776 nước Mỹ là quốc gia lệ thuộc đế quốc châu Âu, và sau 1776 là một nền dân chủ còn non trẻ, nên những nhà Khai sáng Mỹ (là các nhà văn, nhà tư tưởng) còntập trung vào việc củng cố ý thức về một dân tộc mới, xây dựng một kiểu văn hóa, đạo đức, lối sống và tư duymang màu sắc Mỹ, tức là phải
ý thức về sự cần thiết tạo ra một truyền thống chomột dân tộc non trẻ bằng ý thức xây dựng cá tính dân tộc và cá tính văn hóa Người Mỹ hiện đại khi nhìn vào thực thể dân tộc mình không thể không thầm nói lời biết ơn đối với những nhà Khai sáng, những người đã có công tham gia vào việc kiến tạo đời sống tinh thần
và lối sống mang màu sắc Mỹ
1 3 Thế kỉ XVIII là thế kỉ của văn xuôi
Nếu thế kỉ XVII kịch có một địa vị đáng kể, thậm chí là thể loại chủ lực của văn học (như ở Pháp, thế kỉ XVII được xem là thế kỉ của sân khấu với sự thăng hoa rực rỡ của kịch cổ điển) thì sang thế kỉ XVIII, trong ba thể loại chủ đạo là văn xuôi, kịch và trữ tình (cũng có ý kiến phân chia thành bốn thể loại chính: văn xuôi / tự sự, trữ tình, kịch và tiểu luận) văn xuôi đã thay thế cho vị trí hàng đầu của kịch Mặc dù lịch sử văn học vẫn ghi nhận nhiều tên tuổi nhà thơ nổi tiếng như Alexander Pope (1688 – 1744), Oliver Goldsmith (1730 – 1774), Robert Burns (1759 – 1796) của Anh, Philip Freneau (1752 – 1832) của Mỹ, André Chénier (1762 – 1794) của Pháp, hay Friedrich Gottlieb Klopstock (1724 – 1803), Gottfried August Burger (1747 – 1794) của Đức…, nhưng so với lực lượng đông đảo những tác giả văn xuôi thì thơ ca tỏ vẻ lép vế hơn rất nhiều Nhìn sang lĩnh vực kịch cũng vậy Mặc dù thời đại Khai sáng cũng đã
Trang 40sản sinh ra một số đỉnh cao có nhiều cách tân cho nghệ thuật sân khấu như Goethe (1749 – 1832), Schiller (1759 – 1805), Lessing (1729 – 1781) của Đức, hay Diderot, Marivaux, Beaumarchais của Pháp…, nhưng những đỉnh cao như thế
là không nhiều và khó có thể so sánh được với sự bề thế trong lĩnh vực văn xuôi Tính phong phú của văn xuôi trong thời đại Khai sáng không những thể hiện ở xu hướng lấn át của thể loại này đối với hai thể loại khác là kịch và trữ tình, mà còn ở chỗ đã có sự xuất hiện thêm những hình thức văn xuôi mới độc đáo mà trước đó hoặc chưa có, hoặc nếu có thì chỉ mới dừng ở những dấu hiệu mờ nhạt Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức thể loại văn xuôi, nhất là tiểu thuyết và truyện, cũng đã phản ánh một bước chuyển động hết sức
cơ bản và mạnh mẽ theo tinh thần hướng về nền dân chủ và tiếng nói dân chủ trong đời sống văn học Những dữ kiện đời sống bề bộn trong thời đại tư sản hóa chính
là cơ sở hiện thực cho xu hướng dành phần ưu thắng cho các hình thức của thể loại
văn xuôi so với các lĩnh vực văn học khác
Về tính phong phú của thể loại, nếu hình dung một cách bao quát bức tranh văn học ta sẽ thấy:
- Có sự đa dạng về các hình thức khác nhau của thể loại, đó là: tiểu thuyết, truyện, (tiểu) luận, tự truyện, đối thoại và tranh luận triết học… Trong mỗi hình thức thể loại như thế (loại) lại có rất nhiều những tiểu loại (thể) khác nhau, chúng ta có thể tùy từng góc nhìn mà phân chia (ví dụ về tiểu thuyết thì
có tiểu thuyết có tiểu thuyết thư tín, tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết triết học…; về truyện thì có truyện triết học, truyện chính trị, truyện phiêu lưu, truyện có yếu tố kì ảo; luận thì có luận về triết học, luận về giáo dục…)
- Cùng với sự đa dạng về hình thức thể loại là sự đa dạng về chủ đề của văn xuôi Trong thế kỉ XVIII có hai hiện thực cơ bản, một mặt đó là sự trì trệ, lạc hậu, phản tiến hóa của thể chế phong kiến cuối mùa và những sự xộc xệch, khiếm khuyết của phong tục, mặt khác đó là một hiện thực đối ngược - tinh thần đang lên của tư sản Các tác phẩm văn xuôi của thời đại này dù
đề cập tới chủ đề cụ thể nào (bàn về triết học, tôn giáo, giáo dục, hay phê phán bệnh cuồng tín, ca ngợi nghị lực của con người, ủng hộ tư tưởng về con người
tự nhiên, nói về về tình yêu đam mê và đau khổ…) thì hầu hết đều có những