Những tư tưởng tích cực tiến bộ của Montesquieu về quyền tự nhiên, về dân chủ, luật pháp, về quyền lực nhà nước, về đạo đức chính trị và tinh thần khoan dung, đặc biệt là tư tưởng phân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
* * *
PHAN THỊ HIÊN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU TRONG TÁC
PHẨM TINH THẦN PHÁP LUẬT VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI
VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
MS: 62 22 80 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Phản biện 1: PGS, TS TRẦN NGUYÊN VIỆT
Phản biện 2: PGS, TS NGUYỄN TÀI ĐÔNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của Luận án
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 16
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 16
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận án 17
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 18
7 Đóng góp mới của luận án 18
8 Kết cấu của luận án 18
Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA MONTESQUIEU TRONG TÁC PHẨM TINH THẦN PHÁP LUẬT 1.1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU 19
1.1.1 Điều kiện kinh tế 19
1.1.2 Điều kiện chính trị 21
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU 26
1.2.1 Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng 26
1.2.2 Phong trào cải cách tôn giáo, chống thần quyền 34
1.2.3 Quan điểm về Khế ước xã hội trong triết học chính trị của Thomas Hobbes và John Locke 40
1.2.4 Chủ nghĩa duy lý 45
1.3 MONTESQUIEU, NGƯỜI KHỞI XƯỚNG PHONG TRÀO KHAI SÁNG PHÁP 48
1.3.1 Khái quát về tác giả, tác phẩm 49
Trang 41.3.2 Vị trí của Tinh thần pháp luật trong phong trào Khai sáng 54
Kết luận Chương 1 59
Chương 2 NỘI DUNG, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU TRONG TÁC PHẨM TINH THẦN PHÁP LUẬT 2.1 NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU TRONG TÁC PHẨM TINH THẦN PHÁP LUẬT 62
2.1.1 Quyền tự nhiên của con người 62
2.1.2 Dân chủ và phân quyền 79
2.1.3 Đạo đức chính trị và tinh thần khoan dung trong tư tưởng của Montesquieu 96
2.2 GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU 106
2.2.1 Giá trị của tư tưởng chính trị Montesquieu 106
2.2.2 Hạn chế của tư tưởng chính trị Montesquieu 114
Kết luận Chương 2 123
Chương 3 Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU TRONG TÁC PHẨM TINH THẦN PHÁP LUẬT ĐỐIVỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘICHỦ NGHĨA VIỆT NAM 3.1 ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG MONTESQUIEU TRONG TÁC PHẨM TINH THẦN PHÁP LẬT ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 125
3.1.1 Yếu tố pháp quyền Montesquieu trong trong lý luận nhà nước kiểu mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh 125
3.1.2 Sự kế thừa có chọn lọc giá trị của tư tưởng chính trị Montesquieu trong quá trình hình thành lý luận nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 130
3.2 XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Trang 5VIỆT NAM, TIẾP CẬN TỪ TÍNH PHỔ BIẾN CỦA CÁC NGUYÊN
TẮC PHÁP QUYỀN TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU 138
3.2.1 Phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 142
3.2.2 Tôn trọng, bảo vệ các quyền con người là mục đích của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 160
3.2.3 Đạo đức chính trị với vấn đề chống tham nhũng ở Việt Nam 167
Kết luận Chương 3 178
KẾT LUẬN 181
TÀI LIỆU THAM KHẢO 185
Trang 6Cách mạng tư sản Pháp 1789 với tiền đề tư tưởng và lý luận của Montesquieu nói riêng và của các nhà Khai sáng Pháp nói chung, đã giành thắng lợi, đưa người lao động từ thân phận nô lệ thành người tự do Những tư
tưởng tích cực tiến bộ của Montesquieu về quyền tự nhiên, về dân chủ, luật
pháp, về quyền lực nhà nước, về đạo đức chính trị và tinh thần khoan dung, đặc biệt là tư tưởng phân quyền, từng bước được hiện thực hóa trở thành các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền hiện đại
Cách mạng tư sản thắng lợi dẫn đến sự hình thành chế độ tư bản, lý thuyết phân quyền của Montesquieu, trở thành một trong những nguyên tắc chính của nhà nước pháp quyền: chống lại sự chuyên quyền, lạm quyền, tham nhũng, độc tài và tùy tiện trong tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước; đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trong các xã hội chuyên chế sang việc thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ Sự hình thành và phát triển của nhà nước pháp quyền trên nền tảng của lý thuyết phân quyền gắn liền với quá trình đấu tranh cho bình đẳng, tự do và tiến bộ xã hội
Xây dựng nhà nước pháp quyền thay thế nhà nước tập trung, quan liêu,
Trang 7bao cấp trong việc giải quyết những vấn đề về chính trị, kinh tế và xã hội đang trở thành xu thế tất yếu khách quan, là sự lựa chọn của hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay
Đối với vấn đề nhận thức, thực thi quyền lực Nhà nước, về vai trò của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy Nhà nước ở Việt Nam cũng không nằm ngoài sự vận động lịch sử ấy Ở Việt Nam, trong điều kiện hiện nay sẽ không thể có sự ổn định chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững mà không có một bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động hiệu quả
Quá trình xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
ở nước ta trong suốt mấy thập kỷ qua đã đưa lại nhiều kết quả tích cực: từng
bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; Hiến pháp 1992 và nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh đã được ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý để nhà nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng; nhiều quyết định cải cách có ý nghĩa quan trọng trên lĩnh vực xây dựng nhà nước và pháp luật, làm cơ sở cho đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy trên nhiều lĩnh vực, đã tác động tích cực đến việc giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân; tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, trước hết là của cơ quan hành chính nhà nước, đã có một bước điều chỉnh theo yêu cầu của quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang quản lý nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, việc tổ chức bộ máy nhà nước, cải tiến pháp chế, đổi mới chính trị ở nước ta nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập và bộc lộ những khiếm khuyết: tổ chức bộ máy nhà nước còn nặng nề - sự phân công và kiểm
Trang 8soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp còn có những điểm chưa rõ về chức năng, nhiệm vụ, làm phát sinh trong thực tiễn đổi mới; đặc biệt là những vấn đề nổi lên ngày càng bức xúc như tình trạng quan liêu, lãng phí, tham nhũng, thiếu trách nhiệm, tùy tiện trong hoạt động của bộ máy nhà nước Đánh giá thực trạng này, tại Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: “… tham nhũng, suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta Tình trạng lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến” [25, tr.76] Thực trạng vi phạm quyền dân chủ và quyền – lợi ích hợp pháp của nhân dân vẫn chưa được đẩy lùi; thậm chí, có những nơi, có những lúc còn trầm trọng, gây bất bình cho dư luận, làm giảm niềm tin của nhân dân vào thể chế Bên cạnh đó, những chủ trương, định hướng phát triển hệ thống pháp luật chưa hệ thống và toàn diện; vị trí, vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội chưa thực sự được coi trọng đúng mức; sự lãnh đạo chính trị của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước chưa được phân định rành mạch, rõ ràng; quyền lực chính trị không gắn với trách nhiệm cá nhân, v.v đã làm giảm tính hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, làm cho bộ máy công quyền trở nên tha hóa
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
đã được thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) nêu vấn
đề xây dựng và hoàn thiện nhà nước như là một trong những phương hướng
cơ bản của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tiếp đó, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được chính thức nêu trong Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994)
và Nghị quyết Hội nghị Trung ương Tám khóa VII (1995) Những nghị quyết này xác định quan điểm và phương hướng cơ bản cho quá trình xây dựng và
Trang 9hoàn thiện nhà nước Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, Hiến pháp
1992, Hiến pháp 2013 và nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh được ban hành, đã đặt
cơ sở pháp lý cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền
Song, việc xây dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế vẫn là nhiệm vụ khó khăn, mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít,
có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi và rút kinh nghiệm Trong lý luận và
cả trong thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục giải quyết Đối với một nước đang phát triển, chưa trải qua dân chủ tư sản như Việt Nam, muốn xây dựng thành công nhà nước pháp quyền, ngoài khát vọng, bản lĩnh và quyết tâm chính trị cao, cần học hỏi, biết cách chọn lọc, kế thừa, phát triển những nhân tố hợp lý của tư tưởng và kinh nghiệm tổ chức, vận hành nhà nước của các nền dân chủ phát triển trên thế giới, của nhà nước pháp quyền Ở khía cạnh lý thuyết, trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước khởi động và tập trung nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết từng vấn đề, từng khía cạnh cụ thể lý luận nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Song, việc thiết kế mô hình cụ thể chưa thực sự hiệu quả, không ít vấn đề còn phải được nghiên cứu, trao đổi, tranh luận để làm sáng rõ, chẳng hạn như: lý luận về quyền lực nhà nước, về tập quyền và phân quyền, về thống nhất quyền lực và tập trung quyền lực, về chủ quyền nhà nước và chủ quyền nhân dân, về quyền con người, quyền công dân,
v.v… Đề tài Tư tưởng chính trị Montesquieu trong tác phẩm Tinh thần pháp
luật và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ góp phần làm sáng tỏ các yêu cầu nêu trên
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tư tưởng Tây Âu cận đại nói chung, tư tưởng Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII nói riêng, đặc biệt tư tưởng của Montesquieu về xã hội – chính trị đã được nghiên cứu từ nhiều bình diện khác nhau thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
Trang 10như triết học, luật học, chính trị học, tâm lý học, văn hóa học, sử học, v.v
Trên thế giới, ngay sau khi cuốn Tinh thần pháp luật (De L'Esprit des
lois) được Nhà xuất bản Barillot ấn hành tại Genève (1748), đã được xuất bản
và tái bản nhiều lần bằng các thứ tiếng khác nhau, thu hút sự quan tâm đông đảo của giới học thuật cũng như của công chúng
Đánh giá tài năng của Montesquieu, Voltaire (1694 - 1778) cho rằng không mấy ai có trí tuệ như Montesquieu và thái độ dũng cảm của ông làm cho bất cứ ai suy nghĩ tự do đều phải tán thưởng Còn Paul A Rahethì dành
cho Tinh thần pháp luật một sự ngưỡng mộ khi coi tác phẩm này như là cuốn
Kinh Thánh chính trị của các nhà cai trị và chính khách châu Âu: ở Anh, nó định hình suy nghĩ của các nhà tư tưởng; ở Mỹ, nó truyền cảm hứng cho tinh thần và tư tưởng bản hiến pháp; ở Đức, đó cũng là nguồn cảm hứng lớn cho nhà triết học nổi tiếng Georg Wilhelm Friedrich Hegel; còn tại Pháp, nó là điểm khởi đầu cho các tư tưởng chính trị hiện đại1
Từ thế kỷ XX, tư tưởng nhà nước pháp quyền ngày càng được quan tâm nhiều ở cả góc độ lý luận và phương diện thực tiễn, đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về tư tưởng chính trị Montesquieu có giá trị như:
Triết thuyết chủ nghĩa tự do của Montesquieu (Montesquieu’s
Philosophy of Liberarlism, University of Chicago Press, 1973), Thomas L Pangle (1944) xem những vấn đề về chủ nghĩa tự do, về “nền dân chủ nhiều thành phần”, “nền chính trị tuyển cử” trong lý luận của Montesquieu là những
quy phạm của đời sống chính trị hiện đại Với tựa đề Những danh tác chánh
trị (Les grandes oeuvres politiques, de Machiavel à nos joursParis, Armand
Colin, 1950), J.J Chevallier (1900 – 1983) đã tập trung trình bày những vấn
đề cơ bản và cốt lõi trong triết học chính trị Montesquieu như luật pháp, chính
1 Xem Paul A Rahe, Montesquieu, natural law and natural rights, Hillsdale university
Trang 11thể, về phân quyền và quan điểm địa chính trị; luận chứng về mối liên hệ, sự tác động tất yếu, sâu sắc của chính trị đến mọi khía cạnh khác và cả bản tính con người; đồng thời, lý giải về những nguyên nhân diễn ra các cuộc cách mạng dẫn đến chế độ dân chủ Tây phương ngày nay và sự hình thành chế độ độc tài trong thế giới hiện đại Trong tác phẩm này, Chevallier đã dành cho
cuốn Tinh thần pháp luật những nhận xét rất trân trọng Theo tác giả thì Tinh
thần pháp luật đã làm cho tất cả các triết gia, kể cả những người có đầu óc
chật hẹp nhất, bè phái nhất, cũng không thể từ chối một sự biết ơn nào đó đối với Montesquieu, nhân danh triết học: biết ơn vì ông đã làm gương trong sự
điều tra thật sự thực nghiệm và khoa học, tách rời khỏi sự thần bí Với Tinh
thần pháp luật, Montesquieu là người thực hiện một cuộc cách mạng trong
lĩnh vực tư tưởng chính trị
Là người sáng lập lý thuyết nhà nước pháp quyền hiện đại, L.Stein (1815–1890), đã khảo cứu những tư tưởng tích cực, tiến bộ của các nhà Khai sáng Pháp và đưa ra cách tiếp cận độc đáo trong lĩnh vực nhà nước và pháp luật, trong đó dấu ấn của Montesquieu được thể hiện khá đậm nét Theo Stein,
“Cuộc cách mạng xã hội chỉ có thể là cách xoa dịu mâu thuẫn, chứ không phải là cách giải quyết mâu thuẫn xã hội Nó chẳng khác nào việc thay đổi người lãnh đạo này bằng một người lãnh đạo khác cả” 2 Cách tốt nhất để giải quyết mâu thuẫn xã hội là nhà nước phải thiết lập được cơ chế phân quyền và kiểm soát quyền lực hiệu quả nhằm tránh sự tha hóa quyền lực; đồng thời, phải xây dựng một hệ thống các nguyên tắc đảm bảo cho sự phát triển tối đa năng lực và trí tuệ của con người
Còn trong tiểu luận Một bài viết dựa trên nền tri thức của Montesquieu
(An essay on montesquieu's intellectual background, Balázs Fekete, 2009), I.Salutare đánh giá cao vị trí của Montesquieu trong lịch sử tư tưởng pháp lý
2 Theo: NGUYỄN MINH TUẤN, NÉT ĐỘC ĐÁO VÀ TÍNH THỜI ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ CỦA LORENZ
VON STEIN, Lý luận nhà nước và pháp luật, tháng 6 năm 2013
Trang 12Tác giả cho rằng, với Tinh thần pháp luật, Montesquieu nổi lên như một nhà
thiết kế chính trị của phương Tây thế kỷ XVIII và XIX Tư tưởng của ông, trong đó có tư tưởng phân chia quyền lực, có ảnh hưởng sâu rộng trong hệ thống pháp lý hiện đại, là cơ sở của hiến pháp và về lý thuyết chính quyền của Hoa Kỳ Trong bài viết này, tác giả không đi sâu phân tích nội dung của học thuyết, mà chủ yếu khai thác ở khía cạnh phương pháp của nó Bằng cách đặt Montesquieu trong dòng chảy chung của lịch sử tư tưởng tác giả đã làm nổi bật nét tương đồng và dị biệt, tính kế thừa và sáng tạo, độc đáo, mới mẻ trong học thuyết Từ cách tiếp cận trên, tác giả nhận định: Montesquieu không phải là nhà triết học chính trị hiện đại bởi, theo tác giả, trong hệ thống của mình, Montesquieu đã vay mượn rất nhiều yếu tố của di sản quá khứ, nhất là tư tưởng
và thực tiễn chính trị Hi Lạp, tuy vậy Montesquieu vẫn là người khởi xướng toàn bộ lịch sử pháp lý hiện đại thông qua sự kết hợp tài tình di sản thời kỳ cổ đại và những thành tựu của khoa học hiện đại, dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy
lý với những kinh nghiệm hoạt động thực tiễn Đây chính là yếu tố tạo nên tính cách mạng và sự nổi trội đặc biệt của tư tưởng chính trị Montesquieu
Trong khi đánh giá triết học về lịch sử của Montesquieu thể hiện sự bi quan về tiến bộ qua cách nhìn của ông về sự sụp đổ của thể chế La Mã, tác giả
của Montesquieu and making of modern world, Macmillan, 2000,
A.Macfarlane ca ngợi Montesquieu là người tiên phong trong phong trào chống chuyên chế tàn bạo và nô lệ; đấu tranh vì tự do và cho các quyền tự do
tự nhiên của con người bất chấp mọi trở lực của tông pháp nhà nước và của tòa án dị giáo Tư tưởng tự do của Montesquieu đã trở thành nguồn cảm hứng cho hai phong trào cách mạng tự do lớn nhất của thời đại Những chỉ dẫn
tuyệt vời của Tinh thần pháp luật đã được liên tục trích dẫn trong suốt hai
cuộc cách mạng Pháp và Hoa Kỳ và tồn tại gần 300 năm qua Trong bài viết này, tác giả cũng trình bày những vấn đề được Montesquieu quan tâm như mối ưu tư về tự do, làm thế nào để quyền lực chính trị không bị lũng đoạn;
Trang 13mối nguy hại của chiến tranh và hệ quả của tình trạng nô lệ; của thương mại,
xu hướng gia tăng của tự do và sự suy đồi của nền dân chủ mở rộng; vai trò của tôn giáo trong xã hội và tầm quan trọng của địa lý khí hậu trong tổ chức chính trị - xã hội
Về vấn đề Tự do và các quy phạm pháp luật trong tinh thần pháp luật
của Montesquieu (Liberty and the Normative Force of the Law in
Montesquieu’s The Spirit of the Laws, philosophical journal, 2010), Cory Wimberly đã gọi Montesquieu là nhà triết học tự do và là người có ảnh hưởng
to lớn đến lịch sử của tư tưởng tự do Những tư tưởng về luật tự nhiên và quyền tự nhiên đã được tác giả viện dẫn để làm cơ sở cho việc đề xuất một nền chính trị đa nguyên và các nguyên tắc đảm bảo tự do của con người
Trong Montesquieus theory of Government and the Framing of the
America, digitalcommons.pepperdine.edu, 1991 (Lý thuyết về Chính phủ của
Montesquieu và nền tảng của Hiến pháp Hoa Kỳ), Matthew P Bergman đã phân tích những nội dung tư tưởng chính trị cơ bản của Montesquieu, đồng thời chỉ ra vị trí của Montesquieu trong lịch sử lập hiến của Hoa Kỳ Theo tác giả, những đóng góp của Montesquieu đối với lịch sử chính trị Hiệp chủng quốc này là vô cùng to lớn, đặc biệt là tư tưởng phân chia và cân bằng quyền lực đã trở thành nền tảng cho lý thuyết về chính quyền; tinh thần về luật pháp
và cách thức soạn thảo luật của Montesquieu trở thành nguyên tắc không thể thiếu của văn hóa chính trị Hoa Kỳ
Ở Việt Nam, trong suốt một thời gian dài, học thuyết về nhà nước và pháp luật ở phương Tây, trong đó có tư tưởng chính trị của các nhà Khai sáng,
ít được quan tâm nghiên cứu, hoặc có được đề cập đến thì cũng chủ yếu nhìn nhận ở góc độ chính trị, do đó thường hay phiến diện, thiếu khách quan Nhưng, bắt đầu từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, trước những biến động của tình hình quốc tế và nhu cầu về một xã hội dân chủ, về sự phát triển của
Trang 14Năm 1996, Hoàng Thanh Đạm cho ra mắt bạn đọc bản dịch tác phẩm De
L'Esprit des lois với tựa đề Tinh thần pháp luật, do Nhà xuất bản giáo dục và
Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội phát hành Ngoài phần nội dung tác phẩm, tác giả đã nêu khái quát tiểu sử, sự nghiệp và tác phẩm tiêu biểu của Montesquieu Cuốn sách đã được giới học giả và bạn đọc đánh giá là một công trình khoa học về dịch thuật, đồng thời là tài liệu quan trọng để nghiên cứu về tư tưởng chính trị của Montesquieu
Trước đó, năm 1994, Dương Thành Lợi xuất bản cuốn sách nhan đề Triết
lý quốc trị Tây phương (Nhà xuất bản Khai phóng) Đây là một trong những
công trình khoa học hiếm hoi ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại đã nghiên cứu khá công phu toàn bộ nội dung tư tưởng chính trị của các nhà tư tưởng nổi tiếng từ Socrates đến Marx Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích tư tưởng chính trị của Montesquieu ở những nét cơ bản, đồng thời chỉ ra những đóng góp tích cực và một số hạn chế của học thuyết Đặc biệt, các vấn đề về luật pháp và chính thể, tinh thần thực thi pháp luật, tự do chính trị trong mối quan hệ với hiến pháp, vấn đề thương mại và an ninh quốc gia đã được tác giả phân tích ngắn gọn nhưng khá sâu sắc Theo tác giả, thuyết phân quyền của Montesquieu là một trong các chính thuyết quan trọng nhất của lịch sử tư tưởng chính trị và là một trong các nguyên tắc căn bản trong hiến pháp của nhiều quốc gia, ảnh hưởng bao trùm lên tiến trình phát triển chính trị của Tây phương
Trang 15Trong số các tài liệu viết về nhà nước pháp quyền, Thuyết tam quyền
phân lập và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại (1992), Nhà xuất bản Pháp lý,
Hà Nội của Đinh Ngọc Vượng là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu
về sự vận dụng lý luận phân quyền trong nhà nước hiện thực Bàn về cội nguồn của lý thuyết phân quyền, tác giả đã gắn học thuyết này với tên tuổi của Montesquieu như một sự ghi nhận thành quả xứng đáng dành cho nhà triết học Khai sáng này Tác giả cho rằng, từ thuyết tam quyền phân lập đến các quan niệm và thực tiễn chính trị sau này về chế độ nhà nước, tổ chức nhà nước tới quá trình lập hiến của các nước tư sản và thực tiễn pháp luật nhà nước ở nhiều nước, nhất là tư tưởng về việc thành lập cơ quan đại diện nhà nước của Montesquieu đã chĩa mũi nhọn chống lại chế độ chuyên chế và đã
được ghi nhận trong Tuyên ngôn về quyền con người, quyền công dân năm
1789 Tư tưởng của ông có ảnh hưởng lớn trong hai bản hiến pháp nổi tiếng
đó là Hiến pháp của Pháp 1789 và nhất là trong Hiến pháp Hoa Kỳ 1787
Cùng chủ đề trên, trong cuốn sách với tựa đề Tư tưởng phân chia quyền
lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước (2005), (Nhà
xuất bản Tư pháp) tiến sĩ Nguyễn Thị Hồi đã đưa ra mối liên hệ cụ thể của học thuyết đối với thực tiễn áp dụng cơ chế phân quyền ở Việt Nam thông qua các hiến pháp Cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước cũng như sự thể hiện và áp dụng những tư tưởng này trong tổ chức bộ máy nhà nước một số nước trên thế giới trong đó có sự vận dụng ở một mức độ nhất định vào cách thức tổ chức và vận hành quyền lực giữa cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt Nam Theo tác giả, tư tưởng phân quyền đã được khởi xướng từ thời kỳ cổ đại, được phát triển và hoàn thiện vào thời kỳ Khai sáng, gắn liền với tên tuổi của Montesquieu – người đã phát triển tư tưởng phân quyền lên tới đỉnh cao Kể từ khi ra đời lý thuyết phân quyền đã trở thành cơ sở để đảm bảo quyền tự do chính trị của nhân dân, chống lại chế độ độc tài và chuyên
Trang 16chế Vì thế, nó tiếp tục được nghiên cứu, thể hiện và áp dụng trong các bộ máy nhà nước của nhiều nước trên thế giới ở những mức độ khác nhau, được ghi nhận trang trọng trong các bản Tuyên ngôn và hiến pháp ở một số nước Thậm chí có nước đã coi phân quyền là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy nhà nước của mình, là tiêu chuẩn và điều kiện của nền dân chủ tư sản Tuy nhiên, cũng theo tác giả, sự áp dụng tư tưởng phân quyền ở các nước tư sản không theo một khuôn mẫu chung thống nhất mà theo nhiều mức độ tùy thuộc đặc điểm, điều kiện và thể chế chính trị ở mỗi nước Chẳng hạn, sự áp dụng mềm dẻo đem đến chế độ đại nghị, và cứng rắn đưa đến chế độ tổng thống hoặc trung gian giữa hai mức độ đem đến chế độ hỗn hợp Đề cập đến thực tiễn áp dụng nguyên tắc phân quyền ở nước ta, tác giả khẳng định, kể từ khi ra đời cho tới nay, nhà nước ta chưa bao giờ thừa nhận phân quyền là một trong những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, dù vậy hiến pháp nước ta đã thể hiện sự phân định các chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp và trao các chức năng ấy cho các cơ quan khác nhau thực hiện
để đảm bảo sự độc lập tương đối trong hoạt động của mỗi cơ quan Quyền lập pháp được khẳng định là quyền lực tối cao, các nhánh quyền khác đều xuất phát từ nó và phụ thuộc vào nó Ngoài ra, tác giả còn khẳng định cơ chế kiểm soát hoạt động của các cơ quan nhà nước mà cụ thể là sự kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp và tư pháp… Tuy mới chỉ dừng lại ở việc phân tích tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước và ảnh hưởng của tư tưởng phân quyền trong tổ chức nhà nước và trong các hiến pháp ở một số quốc gia nhưng đây cũng là một công trình khoa học có giá trị ở Việt Nam nghiên cứu về sự vận dụng tư tưởng phân quyền vào tổ chức xây dựng, vận hành bộ máy nhà nước, đổi mới chính trị ở nước ta
Năm 2006, tác giả Lê Tuấn Huy xuất bản cuốn sách Triết học chính trị
Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành Cuốn sách
Trang 17này được phát triển và hoàn thiện từ luận án tiến sĩ triết học cùng tên của tác giả Dù mới chỉ phân tích tổng quát về mặt triết học ở khía cạnh lý luận, cuốn sách đã gợi mở nhiều vấn đề thực tiễn cấp bách cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Chỉ ra mặt ưu điểm và hạn chế của cơ chế tập quyền, tác giả khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Theo tác giả thì cơ chế tập quyền ở nước ta đã là cơ chế tối ưu trong bối cảnh của hai cuộc kháng chiến và giai đoạn hồi phục sau chiến tranh Và, vào thời kỳ đầu đổi mới, nó đã giúp đem lại sự ổn định chính trị và xã hội cần thiết cho những cải cách kinh tế, đem lại sự thống nhất tập trung cho hệ thống các quan điểm chỉ đạo và những chính sách vĩ mô điều tiết một nền kinh tế đang chuyển mình Nhưng khi nền kinh tế thị trường phát triển vượt khỏi tầm mức
sơ kỳ và cùng với nó là xã hội bước vào thời kỳ xã hội công dân và nhà nước pháp quyền, thì tập quyền sẽ trở thành một chiếc áo chật hẹp cho một cơ thể đang không ngừng tăng trưởng Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập khái quát nhất nội dung tư tưởng chính trị Montesquieu, giá trị và hạn chế lịch sử cũng như tính thời đại của học thuyết, phân tích những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt của nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý pháp quyền của Montesquieu vào thực tiễn tổ chức
bộ máy nhà nước ở nước ta
Ngoài ra, trên một số tạp chí chuyên ngành, báo điện tử, các giáo trình nghiên cứu về nhà nước và luật pháp, các đề tài nghiên cứu khoa học, các cuộc hội thảo khoa học diễn ra trong nước và quốc tế đã đề cập đến những giải pháp
và nhiệm vụ nhằm xây dựng một nhà nước pháp quyền hiệu quả, như:
Đề tài khoa học: Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân dưới sự lãnh đạo của Đảng (2001) do GS,TS Đào Trí Úc làm chủ nhiệm
Trang 18Đề tài khoa học: Nghiên cứu tư tưởng Hồ chí Minh về nhà nước pháp
quyền (mã số KX02-13) của TS Nguyễn Đình Lộc, đã phân tích rất sâu sắc tư
tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, trong đó có nhiều tư tưởng của Người về xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam
Cùng với các chương trình, các đề tài nghiên cứu khoa học, những năm gần đây cũng đã xuất bản một số cuốn sách chuyên khảo có giá trị viết về xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như cuốn: Mô hình tổ
chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” của GS,TSKH Đào Trí Úc, NXB Chính trị Quốc gia, H.2007
và viết sâu về từng vấn đề phân công quyền lực hay kiểm soát quyền lực nhà
nước Cuốn: Xây dựng nhà nước pháp quyền của PGS.TS Nguyễn Đăng
Dung, nhà xuất bản Đại học Quốc gia ấn hành năm 2000 Đây là cuốn sách viết dưới phương diện khoa học Luật hiến pháp, tập trung lý giải về sự cần thiết phải giới hạn quyền lực nhà nước và nội dung của việc hạn chế quyền
lực nhà nước Cuốn Kiểm soát quyền lực nhà nước – Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn ở Việt Nam hiện nay của TS Trịnh Thị Xuyến, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia ấn hành năm 2006 Cuốn sách này đã đi sâu lý giải về khái niệm, nội dung, mục đích, các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước và thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta, đồng thời đề xuất một số phương hướng và giải pháp kiểm soát quyền lực nhà nước, v.v
Các tạp chí khoa học gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết chuyên
đề về một số khía cạnh về giám sát và kiểm soát quyền lực nhà nước Chẳng
Trang 19hạn như bài: Giám sát xã hội trong nhà nước pháp quyền của TS Vũ Anh Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 31 (150) tháng 7/2009; Bài Cơ chế
thực thi giám sát quyền lực nhà nước của Ths Nguyễn Mạnh Bình, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 12 (149) tháng 6/2009; Bài Yêu cầu phân cấp, phân
quyền trong thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương của Chu Văn Hưởng,
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 21 (137) tháng 12/2008; Bài Phân công,
phối hợp và kiểm soát trong thực hiện quyền lập pháp ở Việt Nam của TS
Lương Minh Tuân, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9 (146) tháng 5/2009;
Bài Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước (và cả quyền lập pháp) trong nhà
nước pháp quyền của GS.TSKH Lê Văn Cảm và Th.s Dương Bá Thành, Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp số1 (162) tháng 1/2010, v.v…
Chung quy lại có thể thấy, các bài viết, đã đề cập đến những vấn đề có tính chất nguyên tắc của nhà nước pháp quyền; khảo sát các tư tưởng và thực tiễn quá trình xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền trên thế giới, trong
đó tư tưởng về quyền lực nhà nước và về nguyên tắc phân quyền trong học thuyết chính trị của Montesquieu đã được các tác giả quan tâm; lý giải về ý nghĩa, tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của cách thức tổ chức và vận hành nhà nước pháp quyền đối với đời sống con người và sự phát triển bền vững của xã hội; chỉ ra ý nghĩa to lớn về mặt lịch sử và giá trị thời đại của các học thuyết về nhà nước pháp quyền cũng như tính ưu việt vượt trội của nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng nhấn mạnh đến các yếu tố làm nên tính phong phú và sự đa dạng các biểu hiện của nhà nước pháp quyền… Các tác giả đều khẳng định, việc tổ chức bộ máy nhà nước theo phương thức nhà nước pháp quyền ở Việt Nam như một lựa chọn có tính tất yếu đối với sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, đề xuất những phương thức và các phương tiện kỹ thuật cần thiết cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể ở Việt Nam hiện nay
Trang 20Tuy nhiên, trong khi thừa nhận việc chọn lựa nhà nước pháp quyền như một giải pháp không thể thay thế của công cuộc cải cách nhà nước, đổi mới chính trị, dân chủ hóa xã hội ở Việt Nam, tư tưởng về phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước của Montesquieu chưa thực sự được phân tích dưới góc độ khoa học nên đã đưa đến nhận thức ít nhiều còn lệch lạc và lúng túng trong cách vận dụng và thực thi quyền lực chính trị
Tư tưởng phân quyền có cội nguồn từ thời kỳ cổ đại ở phương Tây, được Montesquieu nâng lên thành học thuyết phân quyền vào thế kỷ Khai sáng trở thành công nghệ vận hành quyền lực, mặc dù còn phải tiếp tục không ngừng hoàn thiện nhưng cho tới nay vẫn chưa tìm thấy mô hình tổ chức quyền lực nhà nước nào ưu việt hơn
Hơn nữa, ngay cả khi thừa nhận vai trò của Montesquieu như là người khởi xướng nền pháp quyền hiện đại, những tư tưởng chính trị của Montesquieu, đặc biệt lý thuyết về quyền tự nhiên và khế ước xã hội, về đạo đức chính trị và trách nhiệm công dân, về mối quan hệ biện chứng giữa quyền
tự do và chế độ dân chủ, về mối nguy cơ của tình trạng chuyên chế hóa của nền dân chủ bất tự do, v.v , lại không được đề cập; bỏ qua những yếu tố có tính xuất phát điểm của toàn bộ học thuyết, nhân tố nền tảng góp phần làm nên giá trị, tính vượt trội của tư tưởng pháp quyền của ông Hầu hết, khi nghiên cứu tư tưởng pháp quyền của Montesquieu, các tác giả đều có xu hướng nhấn mạnh đến tính chính trị và tính giai cấp, giải thích học thuyết dưới góc độ chính trị, và thường gán cho nó cái mác là “hệ tư tưởng tư sản” nên nhiều điểm giá trị trong học thuyết ít được đề cập thấu đáo
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Từ việc phân tích có hệ thống nguồn gốc, tiền đề và những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Montesquieu, luận án rút ra ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 21Thứ hai, phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị của
Montesquieu trong tác phẩm Tinh thần pháp luật Trong quá trình phân tích,
luận án kết hợp so sánh những nét cơ bản của tư tưởng đã nêu với các tư tưởng Khai sáng cùng thời để làm nổi bật nét sáng tạo trong tư tưởng chính trị của Montesquieu; đồng thời chỉ ra những mặt tích cực và ảnh hưởng của nó đối với nhận thức và thực tiễn chính trị nhân loại cũng như những hạn chế của
tư tưởng này
Thứ ba, trên cơ sở phân tích tiền đề hình thành và nội dung tư tưởng chính
trị của Tinh thần pháp luật của Montesquieu, luận án rút ra ý nghĩa của nó đối
với công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Tư tưởng chính trị của Montesquieu trong Tinh thần pháp luật là một hệ
thống các quan điểm, quan niệm gồm lý thuyết về nhà nước, về quyền lực, pháp luật, và thuyết địa lý, đạo đức chính trị, về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, và tiền tệ, v.v , phản ánh một giai đoạn chuyển biến lịch sử
và tư tưởng chính trị với phạm vi thể hiện rất rộng Trong khuôn khổ của luận
án, vấn đề nghiên cứu chỉ được giới hạn trong việc phân tích những vấn đề cốt lõi, nền tảng nhất của tư tưởng chính trị Montesquieu được phản ánh tập
trung trong tác phẩm Tinh thần pháp luật
Việc phân tích nội dung tư tưởng chính trị Montesquieu trong mối liên
hệ với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luận án thực hiện ở các vấn đề chính yếu: quan điểm của ông về quyền lực:
Trang 22quyền tự nhiên và bản chất chính trị trong mỗi con người; quyền lực nhà nước, cách thức chế ngự quyền lực nhà nước; các nguyên tắc đảm bảo tự do chính trị của công dân; mức độ và phạm vi ảnh hưởng của tư tưởng này; tính tất yếu của việc xây dựng và thực thi các nguyên tắc pháp quyền đối với sự nghiệp đổi mới chính trị ở Việt Nam; vấn đề nhận thức, thực thi pháp quyền; những định hướng và giải pháp nhằm củng cố và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận án
* Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, với các chuyên ngành khoa học xã hội và pháp lý nhằm phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học về tư tưởng chính trị của Montesquieu; luận chứng về tính tất yếu của việc kế thừa những giá trị của các nguyên tắc pháp quyền phổ biến trong tư tưởng chính trị Montesquieu trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
* Phương pháp nghiên cứu
Việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp logic và lịch sử kết hợp với hệ thống và cấu trúc, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, khái quát hóa và hệ thống hóa, để thấy được tư tưởng chính trị của Montesquieu có tính độc lập tương đối trong sự phát triển, có logic nội tại và được hình thành, phát triển từ những điều kiện lịch sử nhất định, có sự
kế thừa, ảnh hưởng qua lại với các triết thuyết khác
Việc thu thập và xử lí thông tin được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu tư liệu nhằm làm rõ một số khái niệm, phạm trù có liên quan; phương pháp so sánh để thấy được nét tương đồng và dị biệt khi phân tích diện mạo, đặc điểm và sự biến đổi của tư tưởng chính trị Montesquieu
Trang 236 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Thông qua việc phân tích tư tưởng chính trị của Montesquieu, luận án nghiên cứu một cách nghiêm túc, khách quan lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây Đồng thời, chỉ ra những đóng góp tích cực của tư tưởng này đối với sự nghiệp cách mạng thế giới và công cuộc xây dựng nền pháp quyền Việt Nam hiện đại
Luận án được dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ quá trình nghiên cứu, giảng dạy các môn lịch sử triết học, chính trị học, lý luận nhà nước và pháp luật trong các trường Đại học, Cao đẳng
7 Đóng góp mới của luận án
Trên cơ sở phân tích, đánh giá nội dung tư tưởng chính trị Montesquieu, luận án luận chứng về khả năng vận dụng tư tưởng chính trị của Montesquieu vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam
8 Kết cấu của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận án gồm ba chương, 7 tiết
Trang 24Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU TRONG TÁC
PHẨM TINH THẦN PHÁP LUẬT
1.1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU
1.1.1 Điều kiện kinh tế
Ở Tây Âu, từ thế kỷ XVI, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được định hình
và phát triển mạnh mẽ Nguyên nhân chính dẫn đến những biến đổi quan trọng này là nhờ sự phát triển của khoa học, kỹ thuật Hàng loạt phát minh khoa học đã được ứng dụng trực tiếp vào trong quá trình sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời như dệt sợi, luyện kim, khai thác, chế biến, v.v Các công trường thủ công theo hướng sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời thay thế dần chế độ phường hội Sự phân công lao động ngày càng chi tiết hóa, công
cụ lao động không ngừng được cải tiến, số lượng sản phẩm lao động dồi dào, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước về chất lượng cũng như mẫu mã, chủng loại Kỹ thuật la bàn phát triển tạo ra những phát kiến địa
lí liên tiếp làm cho không gian thương mại được mở rộng trên toàn thế giới, kích thích tinh thần thương mại, giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học
kỹ thuật Sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất dẫn tới những biến đổi quan trọng trong các quan hệ xã hội, nhất là trong quan hệ sản xuất Cuộc cách mạng tư sản bắt đầu diễn ra ở Italia sau đó đến Hà Lan vào thế kỷ XVI Đặc biệt là ở Anh, cách mạng tư sản nổ ra vào giữa thế kỷ XVII, lật đổ quan hệ sản xuất phong kiến bảo thủ phản động, lập nên chế độ mới, chế độ tư bản chủ nghĩa Giai cấp tư sản đại diện cho phương thức sản xuất tư bản giữ vai
Trang 25trò thống trị xã hội Nhà nước quân chủ lập hiến Anh với cơ cấu bao gồm hai
bộ phận quyền lực hoạt động độc lập và phối hợp có hiệu quả, quyền làm chủ của nhân dân đã được thừa nhận ít nhiều trên thực tế
Nằm tại trung tâm của khu vực đang sục sôi khí thế cách mạng, song vào đầu thế kỷ XVIII, nước Pháp vẫn còn là một quốc gia phong kiến lạc hậu
về kinh tế và bảo thủ về chính trị
Về nông nghiệp, ngành kinh tế cơ bản của nước Pháp thời kỳ này, chế
độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ vẫn chiếm địa vị thống trị Công cụ và phương thức sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp kém, đất đai bị bỏ hoang Nông dân chiếm 90% dân số trong cả nước chỉ được coi là người sở hữu tạm thời đối với phần đất mà họ canh tác Họ phải làm tô dịch cho địa chủ, làm các nghĩa vụ phong kiến, nộp thuế cho nhà nước và nhà thờ Sau khi làm lụng vất vả, họ không còn được hưởng một chút thành quả nào vì phải gánh chịu hàng trăm thứ thuế phi lý Sinh hoạt của họ hết sức cùng cực; cứ gặp năm đói kém thì không thể thoát khỏi cảnh bị đói và chết đói Hơn nữa, vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XVII, do tình trạng khủng hoảng trong nông nghiệp, tầng lớp địa chủ tăng cường chính sách vơ vét bóc lột của cải của nông dân Các lãnh chúa bắt đầu chiếm ruộng đất của công xã Mức độ cướp đoạt ngày càng tăng Có nơi, địa chủ chiếm toàn bộ công điền Kết quả
là, nền nông nghiệp vốn đã yếu ớt, nay càng suy sụp, nông dân bị phá sản, phải đi lang thang để kiếm ăn, nạn đói diễn ra liên tiếp Do đó, giải phóng khỏi ách phong kiến và nhu cầu ruộng đất là một vấn đề cơ bản, cấp thiết, bức xúc của cách mạng
Về công, thương nghiệp đầu thế kỷ XVIII, nước Pháp đang trên đà phát triển Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thâm nhập vào một số lĩnh vực sản xuất quan trọng, xuất hiện những tổ chức sản xuất với quy mô khá
Trang 26số thương nhân độc quyền, can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản, ngăn cản sự làm giàu của họ, nhằm kìm hãm sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Vì vậy, không chỉ nông dân, giai cấp tư sản cũng cũng như tầng lớp tri thức đều mong muốn thủ tiêu tình trạng bảo thủ phản động của giới quý tộc, xóa bỏ những luật lệ ngặt nghèo của nhà nước quân chủ chuyên chế, mở đường cho sự tự do phát triển, chấm dứt đặc quyền đặc lợi của tầng lớp thống trị, đòi quyền bình đẳng về chính trị và kinh tế
1.1.2 Điều kiện chính trị
Dưới thời kỳ thống trị của vua Louis XIV (1638–1715), nước Pháp trở thành một quốc gia chuyên chế tập quyền Xã hội phân chia thành ba đẳng cấp chính, đứng đầu là đẳng cấp tăng lữ, tiếp đến là tầng lớp quý tộc - quan lại
và đẳng cấp thứ ba là quảng đại nhân dân bao gồm, tư sản, nông dân, thợ thủ công và công nhân Trong ba đẳng cấp thì hai đẳng cấp trên là những đẳng cấp có đặc quyền, đặc lợi trong xã hội
Quý tộc và tăng lữ là trụ cột của chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến, là tay chân đắc lực của nhà vua, được hưởng đặc quyền về chính trị, kinh tế và luật pháp, họ nắm những chức vụ cao cấp trong bộ máy chính quyền, không phải đóng thuế và được hưởng chế độ xử án riêng; ra sức đàn
Trang 27áp, vơ vét tài sản, bóc lột nhân dân lao động
Đối lập với hai đẳng cấp trên là quần chúng lao động (chiếm khoảng 90% dân số cả nước), chịu kiếp sống khốn cùng, phải đi lao dịch và gánh vác đủ mọi thứ thuế để nuôi các tầng lớp trên Họ không được hưởng quyền lợi gì ngoài sự khinh miệt, bị đánh đập và bắt bớ vô tội vạ Cho nên, mâu thuẫn giữa tầng lớp thứ ba với hai đẳng cấp trên ngày càng gay gắt; những xung đột đã biến thành các cuộc cách mạng ở những qui mô khác nhau diễn ra trên khắp cả nước
Hơn nữa, khi lên làm vua, Louis XIV đã tiến hành rất nhiều biện pháp thống trị hà khắc Ở trong nước, ông tăng cường bộ máy quan liêu từ trung ương tới địa phương, trở thành bộ máy khổng lồ để đàn áp nhân dân Nhà vua tự cho mình quyền lực tuyệt đối, đứng trên luật pháp, nắm toàn quyền trong tay Pháp luật do vua ban bố, bộ máy hành chính do vua đứng đầu, tư pháp do vua chi phối Vì vậy, vua có thể làm tất cả theo ý muốn cá nhân Triều đình có quyền phát hành vô tội vạ các trát bắt người và tống vào ngục mà chẳng cần xét xử Đỉnh điểm của tình trạng chuyên chế vào thời kỳ Louis XV (1710 – 1774) Khi lên nắm ngôi, ông ta là một ông vua vừa u mê vừa tàn bạo Suốt ngày chỉ biết tìm thú vui, chìm đắm trong tửu sắc, bỏ bê công việc triều chính
Và, một giai cấp thống trị vốn đã hủ bại nay càng tàn bạo hơn Một vị đại thần
có thể tự tay bắt bớ bất cứ người nào và đem nhốt vào khám mà không cần kêu án Đối với các loại ấn phẩm trong nước, chính phủ Pháp tiến hành kiểm duyệt thật gắt gao Đa số các sáng tác chính trị đều bị cấm lưu hành, thậm chí đem đốt bỏ Cảnh sát và mật thám được bố trí khắp địa phương để theo dõi từng lời nói, từng hành động, cử chỉ của nhân dân Trong ngục thất, họ áp dụng tất cả các hình thức cực hình, vô nhân đạo
Cuối thời kỳ Louis XV, chế độ phong kiến với sự hà khắc của nó bắt đầu dần dần bị suy yếu Giai cấp tư sản ngày một lớn mạnh nhờ biết vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật từ các cuộc cách mạng công nghiệp của các nước
Trang 28tư bản tiên tiến vào trong sản xuất, trở thành giai cấp có địa vị kinh tế trong xã hội Nhưng, sự trỗi dậy của lực lượng sản xuất mới lại vấp phải sự phản kháng quyết liệt của quan hệ sản xuất phong kiến đương thời; mặc dù ở thời kỳ này, giai cấp quý tộc và tăng lữ đã mất đi vị thế độc tôn của nó, song chúng vẫn đủ mạnh để cấu kết, đàn áp, khống chế mọi hoạt động của nhân dân
Việc tự do buôn bán, tự do sản xuất đều bị chính quyền cấm đoán bằng cách lập nên những hàng rào thuế quan Nhà nước tìm cách can thiệp sâu vào trong các hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản; kìm hãm sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản cùng các lực lượng xã hội tiến bộ khác với chế độ phong kiến ngày càng trở nên sâu sắc và không thể dung hòa Trong bối cảnh hiện thực nước Pháp lúc ấy đã xuất hiện những nhân vật tiên tiến lên tiếng phê bình, đả kích chế độ xã hội hiện tồn, làm xuất hiện một trào lưu tư tưởng mới Phong trào Khai sáng ra đời nhằm phản kháng lại trật tự chuyên chế hiện hành, đòi hỏi một hình thức cai trị hợp lý; đề cao trí tuệ, sự thông thái trong cách vận hành bộ máy và kiểm soát quyền lực; khách quan hóa, pháp luật hóa nhà nước; tôn trọng, đề cao con người cá nhân, quyền tự nhiên của con người; hướng đến tự do, dân chủ của công dân; về một nền chính trị dựa trên trí tuệ và phẩm hạnh, về thể chế chính trị dân chủ và thực thi pháp luật trong quản lý xã hội
Người châm ngòi nổ cho phong trào này là Voltaire (1694 - 1778), thiên tài văn học Pháp, người tiên phong tranh đấu cho lý trí, tinh thần khoan dung chính trị và quyền tự nhiên của con người Voltaire đả kích chế độ cường quyền của Louis XV và sự thiếu khoan dung của nhà thờ Kitô giáo cùng sự giáo điều của nhà thờ lúc đó Cội rễ của mê tín và cuồng tín, theo ông là nguyên nhân gây trở ngại cho thời đại Khai sáng Trong tác phẩm nhan đề
Luận về sự ôn hòa trong tôn giáo, Voltaire chỉ trích gay gắt những vụ tranh
chấp đổ máu vì những điểm hoàn toàn vô nghĩa Với ông, sự cuồng tín hợp
Trang 29lực với mê tín dị đoan và dốt nát là căn bệnh trầm trọng của thế kỷ Nếu con người không biết sống chung mặc dù bất đồng ý kiến về các vấn đề tôn giáo, chính trị, triết lý thì không bao giờ tìm được nền hòa bình vĩnh cửu trên trái đất này Cho nên, công việc đầu tiên là phải chống lại tổ chức đàn áp do những kẻ dựa vào thế lực tôn giáo và chính trị
Không bộc trực, thẳng thắn như Voltaire nhưng với tài trí thông minh
phi thường và một nhãn quan chính trị tuyệt vời, trong Tinh thần pháp luật
Montesquieu đã vạch trần bộ mặt thật của tầng lớp vua chúa, quan lại một cách nhẹ nhàng, kín đáo song khá thâm thúy, chua cay Mượn hình ảnh của tộc người dã man ở Louisiana, ông bài xích sự tàn bạo, man rợ, ngu muội và tham lam của nhà vua Pháp, Montesquieu viết: “Những người dã man ở Louisiana muốn ăn quả thì chặt cây từ gốc cho cây đổ xuống để hái quả” [95, tr.71] Ông
tố cáo sự lạm quyền và dùng quyền lực tùy tiện của triều đình Pháp: khi quyền lực công cộng bị biến thành quyền lực độc tài nhà vua và các phép tắc của ông
ta là một; và toàn thể quốc gia chỉ là bản thân một mình ông vua; đó là nguyên nhân làm cho chính thể bị suy đồi, quyền tự do chính trị của công dân bị tước đoạt Từ đó, ông đưa ra luận thuyết quan trọng về sự phân chia và chế ngự
quyền lực nhà nước Trong Bàn về Tinh thần pháp luật3, ông viết: “Hãy xem người công dân trong các nước cộng hòa kia ở trong cảnh ngộ: cơ quan cầm quyền vừa là kẻ thi hành luật vừa tự cho mình là kẻ lập pháp Họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ Mà họ còn nắm cả quyền xét
xử nữa thì họ có thể đè nát mỗi công dân theo ý muốn của họ” [tr.107]
Do đó, để bảo vệ quyền tự do công dân; hạn chế sự lũng đoạn quyền lực từ phía chính quyền, phải tách biệt ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp và phân
3 Bản dịch tác phẩm De L’Esprit des lois có sự sửa chữa, bổ sung một phần của bản dịch Tinh thần
pháp luật, Nhà xuất bản Lý luận chính trị phát hành năm 2004
Trang 30chia ba quyền đó cho những cơ quan, cá nhân riêng biệt Hơn nữa, các cơ quan,
cá nhân đó phải tồn tại trong cơ chế kiềm chế, kiểm soát lẫn nhau, đối trọng nhau, không để cho cơ quan nhà nước nào nắm trọn vẹn quyền lực nhà nước
Đến Rousseau (1712 – 1778), tinh thần phê phán còn trở nên mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn Ông không chỉ tấn công vào trật tự xã hội đương thời, mà còn vạch ra và phê phán cả cơ sở của cái trật tự ấy Ông cho rằng chế độ tư hữu
là nguyên nhân gây ra mọi khổ đau, tước đi tất cả những quyền tự nhiên bẩm sinh của con người Theo Rousseau, nhà nước đương thời là hiện thân của mọi
sự bất công, bất bình đẳng; nhà nước ấy đã biến mọi công dân thành nạn nhân
của kẻ chuyên quyền Trong Luận về nguyên nhân của tình trạng bất bình
đẳng, Rousseau cho rằng, bổn phận của xã hội không thể đặt cơ sở một cách
chính đáng trên sức mạnh Nếu phải tuân lời vì sức mạnh người ta không cần phải tuân lời vì bổn phận Những bổn phận của xã hội cũng không thể đặt trên
uy quyền tự nhiên của người cha, hay trên bất cứ một quyền hành nào khác của một ông chủ mà người ta cho là tự nhiên, và được sinh ra để chỉ huy Đó là luận điệu của những kẻ chủ trương lý thuyết chuyên chế Ông bày tỏ sự phẫn
nộ trước tình trạng con người bị mất quyền tự do và thốt nên đầy chua xót:
“Người ta sinh ra tự do nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng
xích” [110, tr.52]; và thể hiện thái độ, một phương châm Khai sáng đầy nhân bản, đó là, nhà nước chuyên chế - trật tự phi nhân tính ấy cần phải được xóa bỏ bằng việc kí kết thỏa ước chung giữa chính quyền và người dân nhằm đảm bảo rằng nhân dân phải là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước
Như vậy, có thể nói, những diễn biến kinh tế, chính trị, xã hội tại Pháp
từ nửa sau thế kỷ XVII dẫn đến những mâu thuẫn giữa các đẳng cấp trong xã hội trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, đòi hỏi phải tìm ra một phương thức giải quyết hiệu quả, đã tác động đến sự bùng nổ các phong trào chính trị chống chế độ chuyên chế, đòi tự do chính trị, thiết lập một cơ chế xã hội cởi mở
Trang 31hướng đến giải phóng con người cá nhân Những tư tưởng bình đẳng, tự do, dân chủ, về quyền lực nhà nước, v.v , trong triết học Khai sáng Pháp nói
chung, trong Tinh thần pháp luật của Montesquieu nói riêng có sức mạnh lan
tỏa, động viên tinh thần hàng triệu con người trên khắp các châu lục đứng lên đấu tranh khỏi ách thống trị của chủ nghĩa cường quyền; tạo bước chuyển quan trọng về chất trong tư duy chính trị về sau
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MONTESQUIEU
Bối cảnh hiện thực nước Pháp là điều kiện cơ bản và trực tiếp nhất làm xuất hiện phong trào Khai sáng Pháp nói chung, trong đó có tư tưởng chính trị Montesquieu Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, mỗi học thuyết nhất định bao giờ cũng kế thừa những di sản của quá khứ nhằm đạt được mục đích của mình Theo đó, tư tưởng chính trị Montesquieu không chỉ là sản phẩm của những điều kiện thực tiễn, mà còn là sự kết tinh những tinh hoa trong lịch sử
tư tưởng chính trị nhân loại
1.2.1 Chủ nghĩa nhân văn thời kỳ Phục hưng
Khơi nguồn cho toàn bộ mạch chảy của các tư tưởng chính trị cận đại là chủ nghĩa nhân văn đề cao con người và khát vọng giải phóng cá nhân; nêu cao tinh thần tự do, công bằng, bình đẳng; hướng đến các quyền tự nhiên thiêng liêng, các lợi ích, các giá trị trần tục của con người
Chủ nghĩa nhân văn4 là trào lưu tư tưởng và văn hóa thời Phục hưng (thế
kỷ XV - XVI) ở châu Âu, nhằm chống lại trật tự chính trị phong kiến và nền chuyên chính tinh thần của giáo hội, đề cao nhân tính, khát vọng và giá trị trần tục của con người Trong không khí sục sôi của các cuộc đấu tranh giải phóng con người, các nhà nhân văn thời kỳ này đã nêu ra một hệ thống những
4 Xem: Nguyễn Kiến Giang, Con người và chủ nghĩa nhân văn mới, talawas.org, tháng 6/2013
Trang 32quan điểm hoàn toàn mới về con người và cuộc sống, tạo nên cuộc cách mạng
vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng loài người Tất cả những gì mà họ khám phá được từ văn hóa cổ Hi Lạp và La Mã và rút ra từ đó là niềm hạnh phúc, say
mê, lạc quan và hy vọng ngập tràn của đời sống con người Vượt lên trên tất
cả, theo họ, con người mới thực sự là người làm chủ cuộc đời mình chứ không phải là lực lượng Thượng đế hay nhà thờ
Xét về phương diện lịch sử, đây là thời kỳ mà châu Âu thực hiện cuộc cách mạng to lớn, thay đổi về chất trong phương thức sản xuất Sự phân công lao động trong xã hội dần dần phá vỡ những khuôn khổ tự cung tự cấp nhỏ hẹp của các vùng nông nghiệp Sự phát triển của ngành hàng hải dẫn tới chỗ hình thành những trung tâm thương mại lớn với tầng lớp thương nhân ngày càng giàu có và có thế lực Thương mại phát triển thúc đẩy các nghề thủ công phát triển theo hướng tập trung về nghề nghiệp và địa bàn, mở rộng tầm nhìn của những tầng lớp xã hội ấy Họ cảm thấy những năng lực mới nằm ngay trong hoạt động kinh doanh và sáng tạo của họ và đã bắt đầu đòi hỏi một tính độc lập thật sự trong suy nghĩ, trong hành động và trong sáng tạo của họ Mặt khác, châu Âu của những thế kỷ XV, XVI, diễn ra hàng loạt các sự kiện lớn
về chính trị: sự thành công của cách mạng tư sản Anh, Hà Lan, , đã thổi bùng lên những khát khao giải phóng con người, cụ thể là để thoát khỏi sự kìm kẹp của nhà thờ với những điều luật khắt khe, phi lý Yêu cầu đặt ra là xác định ranh giới giữa nhà nước và giáo hội, giữa tôn giáo với với chính trị, giữa luật pháp với các luân lý đạo đức; đòi hỏi chính quyền và giáo hội phải
để cho nhân dân được tự do sản xuất, tự do làm giàu, v.v
Bắt đầu từ thế kỷ XIV ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo luật hà khắc trung cổ bước vào thời kỳ suy yếu, thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển là những công trường thủ công đem lại năng suất lao động cao hơn Thế kỷ XV – XVI, loài người đã chứng kiến sự
Trang 33phát triển vượt bậc của nền kinh tế Đây cũng được coi là thời kỳ của những phát minh khoa học Với sự xuất hiện của máy móc, một phương thức sản xuất hoàn toàn mới đã ra đời dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của năng suất lao động Với trí tuệ và hàng loạt những phát minh mới, người ta có thể tự do làm bất cứ điều gì trong khả năng của họ
Cùng với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp, trong xã hội Tây
Âu thời kỳ này, sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt Tầng lớp tư sản xuất hiện với vai trò và vị trí của họ trong nền kinh tế và xã hội ngày càng lớn; không còn là những thợ thủ công hay thương nhân phải ăn nhờ ở đậu tại các thành bang như thời cổ đại, không còn bị phong kiến và tăng lữ miệt thị như ở thời phong kiến Lúc này thương nhân, thợ thủ công, tiểu tư sản trí thức đã thực sự vươn lên, tự khẳng định chính mình Trí tuệ và tiềm lực của giai cấp
tư sản đã làm nên uy tín và giá trị riêng cho họ Họ không còn phải lép mình nộp thuế, chịu sự “dẫn dắt” của những “đấng bề trên” Trái lại, với những đóng góp nhất định cho ngân sách nhà nước, giai cấp tư sản châu Âu bắt đầu bước vào chính trường Các triều đình Anh, Pháp dần dần phải thỏa hiệp với giai cấp tư sản để đảm bảo có được những nguồn tài chính duy trì cuộc sống
xa hoa Vương triều Bourbon của nước Pháp ăn chơi xa xỉ, ngân sách bội chi, thâm hụt nặng nề khiến vua và hoàng gia phải im lặng, làm ngơ để Quốc hội - với phần lớn đại biểu là giai cấp tư sản - quyết định việc triều chính Italia, nơi đế chế phong kiến La Mã một thời lừng lẫy thì cũng đồng thời là một trong những nơi đầu tiên trên thế giới sinh ra cuộc cách mạng tư sản, thức tỉnh toàn châu Âu “ngắm nhìn mặt trời tự do”
Việc làm sống lại kho tàng văn hóa đồ sộ của người Hi Lạp và La Mã cổ đại, từ những phát hiện, khám phá thế giới tự nhiên đến các công trình kiến trúc nghệ thuật, các áng sử thi, v.v , với tinh thần phóng khoáng, ca ngợi tự do, tôn vinh vẻ đẹp tự nhiên, khí phách hiên ngang, kiên cường, tinh thần dũng cảm và
Trang 34khát vọng sống, như thổi vào châu Âu một luồng sinh khí mới sau giấc ngủ quên của đêm trường trung cổ Dưới thời trung cổ, học thuật ngự trị Âu châu là Kinh viện học Nền tảng của học vấn là tinh thần tín ngưỡng về Thượng đế Tất
cả tri thức về vũ trụ, về nhân sinh và chân lý phải tìm trong Kinh Thánh Một ý tưởng, một lời nói không được giáo hội thừa nhận, chuẩn y, lập tức bị liệt vào hạng tà thuyết và phải trừng trị nghiêm khắc Kiếp người theo Kinh Thánh, là một kiếp tội lỗi; trần gian là nơi đày ải Chỉ xa lánh mọi thú vui, nhục dục trần thế con người mới tìm thấy hạnh phúc viên mãn thực sự
Trong thời kỳ trung cổ ở châu Âu, tự do của con người bị hạn chế một cách khắc nghiệt bởi sự cấu kết cai trị giữa vương quyền của chế độ phong kiến
và thần quyền của nhà thờ Số phận đã cột chặt con người dưới những lực lượng siêu nhiên, vô tình của thần thánh và của cả những thế lực tự cho mình cái quyền được dẫn dắt người khác; điều mà Marx từng nhận định: Nguyên tắc duy nhất của chủ nghĩa chuyên chế là khinh miệt con người, là con người bị mất nhân tính [5, 513] Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là sự thụt lùi về mặt nhân tính người có cội nguồn từ tôn giáo Xét cả ở phương diện nguồn gốc lẫn bản chất, sự xuất hiện của tôn giáo (Kitô giáo) là một sự phát triển tất yếu của nhận thức con người, và trong thời gian đầu của nó, đó là một bước tiến lớn, phản ánh mối quan hệ trong đời sống hiện thực giữa con người với vũ trụ
và giữa con người với con người Trong quan hệ với tự nhiên, Thượng đế với vai trò kiến tạo, vận hành vũ trụ và vì thế, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để con người đối diện với tự nhiên Con người không còn sợ hãi tự nhiên như trước, mà biết vươn lên chế ngự, làm chủ tự nhiên nhờ nguồn ơn sủng đặc biệt của mình Trong mối quan hệ giữa con người với con người, tôn giáo là một phương thức giải quyết những mâu thuẫn ngày càng gay gắt trong một xã hội Nói chung, các tôn giáo lớn ra đời trong những xã hội có mâu thuẫn đã trở nên sâu sắc giữa kẻ thống trị và người bị trị, giữa kẻ giàu và người nghèo Ðạo
Trang 35Kitô, xuất hiện lúc đó với tư cách là tôn giáo của những nô lệ và của những người khốn cùng Và khi Kitô giáo trở thành một lực lượng tinh thần thống trị toàn xã hội thì bất chấp những khác biệt có thật giữa các tầng lớp khác nhau, tất
cả mọi người đều phải tự đặt mình ngang nhau trước Chúa Tôn giáo nguyên thủy như vậy chính là một phương tiện nhận thức và đấu tranh của con người
để tự khẳng định bản thân mình Nhưng khi tôn giáo bị những tầng lớp thống trị trong xã hội chiếm lĩnh và biến nó thành công cụ thống trị thì tôn giáo từ chỗ giúp người nghèo khổ tự khẳng định, ít ra về mặt tinh thần, lại trở thành một phương tiện nô dịch họ Sự thống trị tuyệt đối của tôn giáo và chính trị – thông qua mối liên kết chặt chẽ giữa “thần quyền” và “thế quyền”, đã đặt con người dưới ách chuyên chế nghiệt ngã
Song, niềm tin và khát vọng sống vẫn luôn tồn tại trong con người Sự phản kháng của con người đối với tình trạng chuyên chế là không thể tránh khỏi Hơn nữa, sự chuyên chế của tôn giáo và chính trị cũng không ngăn chặn được khuynh hướng vận động tiến lên của lịch sử Triết học, khoa học, văn học và nghệ thuật vẫn tự mở đường đi, bất chấp mọi trở lực Và không phải ai khác, chính những người có học trong các giới thống trị hồi đó đã góp phần vào những bước tiến trong các lĩnh vực văn minh của con người Mặc dù phải làm những công việc đó một cách dè dặt, rón rén nhưng họ vẫn làm bởi sự thôi thúc của chính những nhu cầu bên trong mình, với tư cách của những con người Ðôi khi họ phải nấp dưới nhãn hiệu tôn giáo và chính trị để làm những công việc về khách quan là phủ định phần nào hai thứ đó Bên cạnh đó, những cội nguồn trong lành và mạnh khỏe của văn hóa và văn minh của con người vẫn còn đó, không thể bị xóa bỏ hoàn toàn được Ðó là văn hóa dân gian, là văn hóa thời kỳ cổ đại
Trở về với giá trị văn hóa Hi Lạp – La Mã cổ đại, lần đầu tiên, hoặc công khai hoặc ngầm ẩn, các nhà nhân văn đã tạo ra sự hoán đổi vị trí ngoạn
Trang 36mục giữa Thượng đế và con người Con người được đặt vào vị trí Thượng đế Ðây là sự phản ứng quyết liệt của con người đối với Thượng đế, nói đúng hơn, với Thượng đế đã bị khúc xạ qua lăng kính của các thế lực thế quyền Tôn giáo ấy đã làm con người bị chìm khuất trong sự u mê của tín ngưỡng, của nghi lễ, của sự phục tùng tuyệt đối; giờ đây họ vén bức màn tăm tối ấy ra,
để cho con người hiển hiện như vốn có Họ làm một “sự phát hiện về thế giới
và con người” Họ thấy rằng, con người là một thực thể sống, với tất cả những nhu cầu, những khát vọng của chính nó Con người từ chỗ là một “thân phận tội lỗi và thấp hèn” bây giờ được nhận thức như là một niềm kiêu hãnh Con người từ chỗ là một con vật được an bài về tất cả các mặt đời sống xã hội và
cá nhân, bây giờ đã trở thành những thực thể sáng tạo Sáng tạo – cái quyền thiêng liêng nhất trong vũ trụ – từ chỗ là độc quyền của Thượng đế, bây giờ trở thành năng lực của chính con người Họ khao khát sống một cuộc sống tự
do và quyết tâm theo đuổi tự do Họ mạnh mẽ đòi vứt bỏ cái vẻ trầm tư yếu đuối và mặc cảm về tội lỗi để tận hưởng niềm vui và hạnh phúc ngay tại trần
thế chứ không phải chờ đợi đến thế giới bên kia Trong Thần khúc, Dante
(1265-1321) đã khắc họa hình ảnh các nhân vật là những con người có tâm hồn phóng khoáng, yêu chuộng tự do, đã từng mê mẩn trong cõi dục tình, được ái tình cứu vớt và sống cuộc sống hoan lạc Dù chưa thoát hẳn những lễ giáo phong kiến nhưng ẩn sau câu chuyện thần bí về tôn giáo này là thông điệp nhân văn đề cao tình yêu, ca ngợi lý trí, vẻ đẹp và lòng dũng cảm của con người Câu chuyện mười ngày (Le Décaméron) của Boccace (1314 -
1375), là sự trỗi dậy của cá tính, của tình yêu và khát vọng tự do đã vượt ra khỏi chuẩn mực của luân lý truyền thống Trong câu chuyện này, tác giả đã
mô tả các nhân vật là đám người vừa thoát khỏi xiềng xích trung cổ, đang sống trong một khung cảnh vật chất dồi dào, đầy khoái lạc và thi vị Tình cảm
tự nhiên của họ bắt nguồn trong những cảm xúc trực tiếp Họ khinh miệt giai cấp quý tộc và yêu cầu cho “giai tầng thứ ba” một đời sống bình đẳng với
Trang 37tầng lớp vương hầu và giáo sĩ Trong khi đó, P Mirandola (1463 – 1494), sử dụng chính đề tài Kinh Thánh để ca ngợi vẻ đẹp trần tục của con người,
khẳng định giá trị của tự do Mirandola nhấn mạnh tự do ý chí, thể hiện qua tự
do lựa chọn như một trong những phẩm giá cơ bản của con người trong hoạt
động sống và sáng tạo Thượng đế ban cho con người quyền tự do, còn con
người sử dụng tự do như quyền lực của mình, với mục đích tạo dựng một thế giới tốt đẹp theo ý chí Thượng đế Xúc phạm tự do của con người đồng nghĩa với xúc phạm ý chí Thượng đế…
Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng có thể coi là một cuộc giải phóng phi thường của con người Quyền lực và sức mạnh của con người được đề cao, con người đã giành được vị trí trung tâm thay cho Thượng đế Nó làm một sự hoán vị thật căn bản Song, sự giải phóng của con người thời kỳ này về cơ bản mới chỉ là sự giải phóng về mặt tư tưởng, về mặt tinh thần Cuộc cách mạng giải phóng ấy mới chỉ là “cuộc cách mạng trên trời”, mặc dù có thể được xem như là bước lót đường quan trọng cho “cuộc cách mạng dưới mặt đất”
Phải đến thế kỷ Khai sáng, khi giai cấp tư sản đủ trưởng thành để tạo ra
sự đối trọng với tầng lớp địa chủ phong kiến trong lĩnh vực chính trị thì sự
giải phóng của con người trong đời sống hiện thực mới được thực hiện Tự
do, bình đẳng, từ chỗ mới chỉ dừng lại ở mục tiêu của cuộc đấu tranh phê
phán thần quyền đã trở thành trung tâm của cuộc đấu tranh chống lại lực lượng thế quyền hà lạm, cho một “nhà nước hợp lý tính”, và cho các quyền tự nhiên của con người Đối với các nhà Khai sáng, sự bất bình đẳng trong xã hội con người là không thể chấp nhận được Sự độc chiếm các giá trị vật chất
và tinh thần của các giới thống trị đương thời trở thành vô lý Bởi vì mỗi con người đều có giá trị ngang nhau vì tất cả mọi người đều có “quy chế” ngang nhau trước thiên nhiên, trước xã hội Con người có những khả năng bẩm sinh giống nhau, do đó, mỗi người phải có những quyền thiên nhiên giống nhau
Trang 38T.Hobbes (1588 - 1679) cho rằng, trạng thái tự nhiên đã đem lại cho mỗi người quyền làm tất cả mọi thứ theo ý muốn Do vậy, tư do là một đặc tính của con người Hobbes lên án thực trạng xã hội thiếu kỷ cương, vô trật tự và thói vị kỷ tư lợi cá nhân của xã hội đương thời đã đẩy con người đến chỗ mất
tự do; đồng thời khẳng định trách nhiệm của nhà nước là phải bảo vệ quyền sống, quyền tự do của nhân dân Hobbes tin tưởng vào khả năng thiết lập các vương quốc chính trị mạnh, đủ để duy trì sự ổn định, trật tự xã hội và bảo vệ các quyền, tự do ấy Khẳng định tự do như là thuộc tính cố hữu của con
người, là quyền thiêng liêng bất khả chuyển nhượng, trong Bàn về Khế ước xã
hội, Rousseau đã bác bỏ mọi tư tưởng chuyên chế hóa nhà nước Theo ông, về
bản chất, con người là một thực thể tự do Cho nên không ai có quyền từ bỏ
và tước đoạt nó Nhắc lại luận điểm của Grotius rằng: thực tế đã có người tử
bỏ quyền tự do để làm nô lệ cho một ông chủ, thì cả một dân tộc sao lại không thể từ bỏ quyền tự do để làm thần dân của một ông vua, Rousseau lập luận, một người tự đem mình mà cho không, đó là chuyện hồ đồ không thể chấp nhận được Cử chỉ ấy là không hợp lý và vô nghĩa Kẻ nào làm thế là kẻ mất trí Nói rằng có một dân tộc tự hiến thân vô điều kiện tức là giả định rằng dân tộc ấy điên rồ Cái điên rồ không tạo nên quyền gì cả Và, nếu một người có thể tự từ bỏ mình, thì anh ta cũng không thể từ bỏ con cái Chúng sinh ra vốn
là người, và là người tự do Tự do thuộc về chúng, không ai có quyền hưởng
tự do hơn chúng Trước khi chúng trưởng thành, người cha có thể nhân danh chúng mà bố trí điều kiện sinh tồn, mưu hạnh phúc cho chúng, chứ không thể đem con mà cho không, cho hẳn đi Cho như thế là trái ngược với tự nhiên và vượt quá quyền của người cha Vậy, muốn một chính phủ độc tài trở thành chính đáng, thì mỗi thế hệ dân chúng phải có quyền chấp nhận hoặc chối bỏ chính phủ Nhưng như thế thì chính phủ ấy không còn là độc tài nữa Làm cho
ý chí con người mất hết tự do tức là tước bỏ đạo lý trong hành động của con
Trang 39người [110, tr.58 – 59] Chế độ nô lệ là ý tưởng đáng ghê tởm trong một xã hội tự do, bởi vì “sức mạnh không làm nên lẽ phải”, và về mặt tự nhiên,
“không ai thống trị đồng loại của mình.” [110, tr.59] Song, bằng Tinh thần
pháp luật, chính Montesquieu đã làm cho tất cả nhân dân Pháp và khắp nơi
trên thế giới yêu chuộng tự do biết đến chế độ độc tài chuyên chế và căm ghét chế độ độc tài chuyên chế Theo ông, với quyền lực vô hạn đã khiến cho nhà vua Pháp trở nên tàn bạo, chà đạp lên các quyền tự nhiên của con người Ông coi sự tồn tại của trật tự đẳng cấp và chế độ chính quyền của vua Louis XV là trái với luân lý, vì nó được tạo nên nhờ sự đặc quyền, ăn bám, đục khoét, sa đọa và tước đoạt tự do của nhân dân Tuy vậy, ông cũng kiên quyết chống lại quan điểm tự do vô lối theo kiểu muốn làm gì thì làm Ông đồng ý với quan điểm rằng, con người sinh ra vốn tự do nhưng nếu Hobbes hiểu trạng thái tự
do công dân là sự hy sinh toàn bộ quyền tự do cá nhân của mình và trao nhân cách của mình cho nhà lãnh đạo tối cao, Montesquieu chỉ thừa nhận chủ thể đại diện duy nhất và chân chính có khả năng đảm bảo sự tự do là luật pháp
Trong Tinh thần pháp luật, Montesquieu viết: “Tự do chỉ có thể là được làm
những cái nên làm…”; và trong một nhà nước có luật pháp thì tự do cá nhân
chỉ có thể là “quyền được làm tất cả những điều mà luật cho phép” [95, tr.99] Khi tham gia “hợp đồng xã hội” tự nguyện, con người đã lập ra chính quyền (nhà nước) Nhà nước ra đời cùng luật pháp của nhà nước dựa trên “Khế ước”
ấy là công cụ đảm bảo cho các cá nhân hoàn toàn tự do Quan điểm về nhà nước và pháp luật của Montesquieu là một bước tiến lớn trong nỗ lực kiến tạo một nền chính trị thế tục hóa, đáp ứng với yêu cầu và đòi hỏi tự do của con người trong điều kiện nền kinh tế tư bản đang vươn mình lớn mạnh
1.2.2 Phong trào cải cách tôn giáo, chống thần quyền
Tiếp tục truyền thống nhân văn, phong trào cải cách tôn giáo (thế kỷ XVI) ở châu Âu cũng trực tiếp góp phần thay đổi các quan hệ về chính trị, đó
Trang 40là bước khởi phát đi đến thiết lập nhà nước thế tục phi tôn giáo Phong trào này do Martin Luther (1483 - 1546) khởi xướng, đã gián tiếp đánh vào lý tưởng tôn giáo trung cổ, phá vỡ sự thống nhất của công đồng Thiên chúa giáo, làm lung lay “nền chuyên chính tinh thần” của giáo hội Rome Ðạo Tin lành
ra đời không phải là nhằm bác bỏ hay bài xích Thượng đế nhưng nó đưa Thượng đế gần hơn với đại chúng bình dân Thượng đế trở thành hình ảnh nguyên thủy, là Thượng đế của người nghèo, của quần chúng bị áp bức (trong
đó có cả tầng lớp tư sản mới hình thành) Các nhà cải cách đã lên tiếng phê phán giới tu sĩ lộng quyền, sống xa hoa trên nỗi khổ của tín đồ và đòi hỏi phải
xử tội những kẻ lợi dụng niềm tin để hà hiếp dân chúng, cải cách sinh hoạt tôn giáo; chống lại những nghi thức và thủ tục rườm rà; phủ nhận vai trò lãnh đạo đời sống tinh thần tín đồ của giáo sĩ; hạn chế quyền hành của giáo hội, khuyến khích sự tự do phê phán của cá nhân, đề xướng chủ nghĩa khổ hạnh Chủ nghĩa khổ hạnh trở thành một thứ vũ khí của quần chúng bị áp bức vì nó được đem ra để đối lập với sự xa hoa của các giới thống trị đương thời, chuẩn bị tiền đề vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tích lũy nguyên thủy của nó Cải cách tôn giáo thời kỳ này thực chất không phải là chống lại tôn giáo mà là chống lại sự lạm dụng tôn giáo để xâm phạm quyền sống, quyền tự do cá nhân Nó không đi tới khẳng định quyền sống con người trong đời sống thực tại nhưng nó khẳng định quyền sống ấy trong tinh thần; khẳng định tín ngưỡng là vấn đề cá nhân vì vậy mỗi người có quyền theo hoặc không theo tín ngưỡng; có quyền gia nhập các tổ chức giáo hội khác nhau tùy sở thích của họ
Ở châu Âu, trong suốt thời kỳ trung cổ, tôn giáo và chính trị hòa quyện làm một; quyền lực nhà nước với quyền lực nhà thờ không tách biệt; các giáo
sĩ không chỉ là người lãnh đạo giáo hội mà còn là những người đứng đầu nhà nước Vì vậy, phê phán tôn giáo về thực chất cũng là phê phán chính trị,