1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐĂC TRƯNG KHÔNG GIAN TRƯNG bày và PHÁT TRIỂN NGHỀ TRUYỀN THỐNG và KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG vật LIỆU gỗ TRONG THIẾT kế TRUNG tâm TRƯNG bày và PHÁT TRIỂN NGHỀ mộc KIM BỒNG, hội AN

59 59 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 16,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các làng nghề trên địa bàn thành phố Hội An đã có lịch sử hình thành và phát triển từ khá lâu. Hiện nay, số lượng làng nghề ở thành phố Hội An là không nhiều, tập trung chủ yếu vùng ven. Các làng nghề ở Hội An đã có bước phát triển nỗi bậc, trong đó có làng mộc Kim Bồng, một trong những làng nghề không thể không nhắc khi nói đến Hội An, tuy nhiên làng nghề vẫn còn một số hạn chế, du lịch thiếu tính định hướng, nhàm chán. thiết bị sản xuất còn lạc hậu, năng suất lao động thấp, trình độ tay nghề của người lao động trẻ chưa cao, thu nhập trong các làng nghề chưa đủ sức thu hút người lao động, quy mô lao động làm nghề ngày càng giảm. Một phần lượng khách du lịch đang quá tải trong khu phố cổ, việc đẩy mạnh các dịch vụ du lịch làng nghề vùng ven cũng giúp phân tán bớt lượng khách du lịch. Con người của làng nghề cần cù, chịu khó, có tay nghề, hơn nữa, làng mộc nằm trong thành phố Hội An là một di sản văn hoá thế giới, là địa bàn có vị trí thuận lợi ở gần 2 di sản văn hoá thế giới cố đô Huế và khu đền tháp Mỹ Sơn, là trung đểm giao lưu của cả nước tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá, du lịch. Tuy nhiên, địa phương và làng mộc Kim Bồng vẫn chưa khai thác hết lợi thế và tiềm năng sẵn có của mình. Xuất phát từ những lý do trên nên tôi chọn đề tài về “không gian trưng bày và phát triển nghề mộc Kim Bồng, Hội An.”

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ XÂY DỰNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KIẾN TRÚC

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

ĐĂC TRƯNG KHÔNG GIAN TRƯNG BÀY, PHÁT TRIỂN NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG VẬT LIỆU GỖ TRONG THIẾT KẾ TRUNG TÂM TRƯNG BÀY VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ MỘC KIM BỒNG,

HỘI AN.

Nhóm GVHD:

TS.KTS Nguyễn Thị Ngọc LanThS.KTS Lương Anh Quốc

SVTH: Võ Ngọc Thanh TuấnMSSV: 16510201127Lớp: KT16/A5

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

A. Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Nội dung, định hướng nghiên cứu

6. Các nghiên cứu đã có liên quan tới đề tài.

B. PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Tổng quan về trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề truyền thống.

1.1. Các khái niệm liên quan đề tài

1.2. Phân loại trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề truyền thống

1.2.1. Phân loại theo quy mô

1.2.2. Phân loại theo chức năng

1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của trung tâm trưng bày và phát triển làng

nghề truyền thống.

1.3.1 Trên thế giới

1.3.2 Việt Nam

1.4. Xu hướng của thể loại của trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề tại Việt

Nam và trên thế giới.

1.5 Giới thiệu xu hướng kiến trúc thô mộc và khả năng ứng dụng và thiết kế kiến trúc tại Việt Nam

1.6.1 Giới thiệu kiến trúc thô mộc

1.6.2 Những biểu hiện thô mộc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam

1.6.3 Các kiến trúc sư và công trình kiến trúc thô mộc tiêu biểu trên thế giới

1.6.4 Các nguyên tắc chung vận dụng quan điểm của kiến trúc thô mộc trong điều kiện Việt Nam.

1.6 Các vấn đề cần giải quyết của đề tài nghiên cứu kiến trúc công trình trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề.

Chương 2: Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu

2.1 Quy hoạch chung

Trang 3

Quy hoạch chung và chi tiết của khu vực xã Cẩm Kim ,Hội An

2.2 Các đặc điểm chính của trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề.

2.2.1 Đặc điểm về công năng.

2.2.1.1 Phân khu chức năng

2.4 Các số liệu, công thức cơ sở để xác định các khối chức năng và tính toán quy

mô thiết kế của trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề

2.5 Các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam và Quốc tế liên quan tới các đặc trưng của thể loại công trình trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm, chi tiết của không gian hành nghề trong công trình trung tâm trưng bày và phát triển nghề mộc Kim Bồng Hội An

3.1.1 Mối quan hệ giữa không gian chức năng với quy trình sản xuất

3.1.2 Đặc điểm, chi tiết của không gian trưng bày kết hợp trải nghiệm quá trình sẳn xuất

3.2 Đặc trưng về văn hóa, xã hội của vùng đất Cẩm Kim Hội An ảnh hưởng tới không gian TT trưng bày và phát triển nghề mộc Kim Bồng Hội An

3.2.1 Đặc trưng về văn hóa, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán.

3.2.2 Đặc trưng về kiến trúc.

3.2.3 Đặc trưng về môi trường khí hậu, địa chất, cảnh quan.

3.3 Nghiên cứu chuyên sâu về kết cấu gỗ áp dụng trong các công trình trung tâm văn hóa.

3.3.1 Khái niệm kết cấu gỗ

3.3.2 Ưu và nhược điểm của kết cấu gỗ

3.3.3 Kết cấu gỗ trong nhà ở truyền thống Việt Nam

Trang 4

3.3.4 Các kiến trúc sư và công trình kiến trúc sử dụng kiến trúc gỗ trên thế giới 3.3.5 Các kiến trúc sư và công trình kiến trúc sử dụng kiến trúc gỗ tại Việt Nam

C. PHẦN KẾT LUẬN

1. Tóm tắt toàn độ mục đích nghiên cứu

2. Các kết luận, đánh giá, đề xuất, giải pháp

2.1. Kết luận

2.2. Đánh giá

2.3. Đề xuất

2.4. Giải pháp

Trang 5

A. Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị tríquan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc mỗiquốc gia Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêngbiệt, độc đáo không thể thay thế Một cách giới thiệu sinh động về đất, nước và conngười của mỗi vùng, miền, địa phương Phát triển du lịch làng nghề chính là mộthướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng

bá và phát triển du lịch Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghềkhông chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyếtnguồn lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ và bảo tồnnhững giá trị văn hoá của dân tộc Đó là những lợi ích lâu dài không thể tính đượctrong ngày một ngày hai

Du lịch làng nghề truyền thống ngày càng hấp dẫn du khách và đang là một hướngphát triển du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh những lợi ích về kinh tế,

xã hội, hình thức du lịch này còn góp phần bảo tồn và phát huy những bản sắc vănhoá độc đáo của từng vùng miền, địa phương

Một địa phương muốn thu hút khách du lịch, tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫnđáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách thì phải bắt tay vào việc xây dựng và pháttriển các sản phẩm du lịch gắn liền với việc khai thác có chiều sâu và khai thác đúngtài nguyên du lịch của địa phương đó

Các làng nghề trên địa bàn thành phố Hội An đã có lịch sử hình thành và phát triển

từ khá lâu Hiện nay, số lượng làng nghề ở thành phố Hội An là không nhiều, tậptrung chủ yếu vùng ven Các làng nghề ở Hội An đã có bước phát triển nỗi bậc, trong

đó có làng mộc Kim Bồng, một trong những làng nghề không thể không nhắc khi nóiđến Hội An, tuy nhiên làng nghề vẫn còn một số hạn chế, quy mô sản xuất còn nhỏ,phân tán, thiết bị sản xuất còn lạc hậu, năng suất lao động thấp, chất lượng và mẫu

mã sản phẩm chưa đáp ứng thị hiếu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng, trình độtay nghề của người lao động trẻ chưa cao, thu nhập trong các làng nghề chưa đủ sứcthu hút người lao động, quy mô lao động làm nghề ngày càng giảm Một phần lượngkhách du lịch đang quá tải trong khu phố cổ, việc đẩy mạnh các dịch vụ du lịch làngnghề vùng ven cũng giúp phân tán bớt lượng khách du lịch

Con người của làng nghề cần cù, chịu khó, có tay nghề, hơn nữa, làng mộc nằmtrong thành phố Hội An là một di sản văn hoá thế giới, là địa bàn có vị trí thuận lợi ởgần 2 di sản văn hoá thế giới cố đô Huế và khu đền tháp Mỹ Sơn, là trung đểm giaolưu của cả nước tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá, du lịch

Trang 6

Tuy nhiên, địa phương và làng mộc Kim Bồng vẫn chưa khai thác hết lợi thế vàtiềm năng sẵn có của mình Xuất phát từ những lý do trên nên tôi chọn đề tài nghiêncứu về “không gian trưng bày và phát triển nghề mộc Kim Bồng và khả năng ứngdụng vật liệu gỗ trong thiết kế không gian trưng bày và phát triển nghề mộc KimBồng, Hội An.

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu đặc điểm chi tiết không gian “ hành nghề” trong “ Trung tâm (TT) trưngbày và phát triển nghề mộc Kim Bồng Hội An”

- Nghiên cứu các yếu tố xã hội , văn hóa khu vực Hội An ảnh hướng tới định hướngthiết kế “ Trung tâm (TT) trưng bày và phát triển nghề mộc Kim Bồng Hội An”

- Tìm hiểu chuyên sâu về việc áp dụng kết cấu vật liệu gỗ trong công trình “ Trungtâm (TT) trưng bày và phát triển nghề mộc Kim Bồng Hội An”

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Kiến trúc trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề

- Phạm vi nghiên cứu: Làng mộc Kim Bồng xã Cẩm Kim, Hội An

4. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điền dã : Để khoanh vùng và tổng hợp tư liệu hình ảnh và thông tincủa người dân về đặc điểm nổi bật của làng nghề khu vực

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Thu thập các thông tin liên quan đến cơ sở thiết

kế đề tài từ sách vở, tư liệu thiết kế, từ thầy cô một cách chính xác, đồng thời phân

tích, tổng hợp và trình bày nội dung nghiên cứu một cách logic

5. Nội dung, định hướng nghiên cứu

- Tìm hiểu các khái niệm, phân loại, lịch sử hình thành và xu hướng phát triển củathể loại công trình TT trưng bày và phát triển làng nghề

- Tổng hợp các tiêu chuẩn, nguyên lý thiết kế về thể loại công trình TT trưng bày vàphát triển làng nghề

- Tìm hiểu đặc điểm chi tiết không gian “ trưng bày” trong “ Trung tâm (TT) trưng bày

và phát triển nghề mộc Kim Bồng Hội An”

- Nghiên cứu các yếu tố xã hội , văn hóa khu vực Hội An ảnh hướng tới định hướngthiết kế “ Trung tâm (TT) trưng bày và phát triển nghề mộc Kim Bồng Hội An”

- Nghiên cứu chuyên sâu về áp dụng kết cấu vật liệu gỗ trong công trình “ Trungtâm (TT) trưng bày và phát triển nghề mộc Kim Bồng Hội An”

6. Các nghiên cứu đã có liên quan tới đề tài.

- Kỹ thuật liên kết các cấu kiện trong kết cấu gỗ nhà ở truyền thống đồng bằng Bắc Bộ/ Nguyễn Đình Kiên, Đào Bích Thuỷ

- Làng mộc Kim Bồng và phong cách dựng nhà rường ở Quảng Nam Nguyễn ThượngHỷ/2011

Trang 7

- Kiến trúc gỗ cao tầng và khả năng phát triển tại Việt Nam trong tương lai / Võ MinhHiền - 2017

Nói cách khác, làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiềunghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh vàđem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm; những nghề thủ công đóđược truyền từ đời này sang đời khác, thường là qua nhiều thế hệ; cùng với thử tháchcủa thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổtruyền tinh xảo, với những tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyênnghiệp chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằngnghề đó, sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hoá trên thị trường

- Định nghĩ khu trưng bày

Khu trưng bày là một không gian độc lập hoặc liên hoàn rộng lớn được sử dụnglàm vị trí để giới thiệu, tiếp thị các sản phẩm với mục đích kinh doanh hoặc quảngbá

- Định nghĩa trung tâm phát triển làng nghề

Đây là nơi sưu tầm, nghiên cứu phát triển sản phẩm, tiến hành thực hiện các sảnphẩm khoa học Công nghệ đã được nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới vàoquy trình sản xuất thực tế Đồng thời tổ chức hoạt động nghiên cứu, tư vấn, thammưu và chịu trách nhiệm về các hoạt động chuyển giao Công nghệ, quyền sở hữu trítuệ, triển khai các đề tài, dự án khoa học Công nghệ trong sản xuất và kinh doanh sảnphẩm Không chỉ vậy, ta cần tìm ra thị trường kinh doanh từ các kết quả nghiên cứu

và hướng phát triển mới, các ứng dụng công nghệ với các doanh nghiệp trong vàngoài nước theo phương thức sản xuất sản phẩm công nghệ ở dạng thử nghiệm quy

mô nhỏ để thăm dò thị trường và chuyển giao cho các làng nghề thực hiện Songsong, trung tâm còn hợp tác liên kết nghiên cứu khoa học công nghệ với các đối tácnhằm theo kịp bước tiến và những nhu cầu mới của thị trường, giúp ích cho việc pháttriển ổn định, bền vững các làng nghề truyền thống và mang lại giá trị kinh tế caocho sự phát triển cộng đồng, xã hội

- Định nghĩa trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề

Trung tâm giới thiệu và phát triển sản phẩm truyền thống là công trình thuộc thể loạitrưng bày có hệ thống các sản phẩm theo sự phân loại mang tính đặc trung của địaphương, đồng thời thu thập dữ liệu, phân tích để rút ra định luật, giả thiết và qua đótạo ra ứng dụng, cải tiến mới cho sản phẩm.

1.2. Phân loại trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề truyền thống

Trang 8

Thể loại Công trình là sự dung hòa giữa tính chất trong bày của bảo tàng kết hợp vớitính nghiên cứu của viện nghiên cứu, nên việc khai thác 2 thể loại đó để phục vụ chomục đích còn lại là chuyện tất yếu.

1.2.1. Phân loại theo quy mô

Căn cứ theo các tiêu chí

- Độ lớn: Căn cứ vào diện tích số mét vuông, khối tích số mét khối của bộ phận trưngbày

- Số lượng các vật phẩm trưng bày Nhưng cách phân loại này chỉ mang tính tươngđối vì trung tâm luôn được bổ sung những hiện vật theo thời gian

- Số lượng lượt người vào tham quan, các nhà chuyên môn đã nghiên cứu tại trungtâm đó

1.2.2 Phân loại theo cấp quản lý

- Nhà văn hóa xã (phường)

- Nhà văn hóa quận (huyện)

- Trung tâm trưng bày, bảo tàng tỉnh (thành phố)

- Trung tâm trưng bày, bảo tàng quốc gia

1.2.3 Phân loại theo quy mô sức chứa phòng khán giả

- Loại nhỏ: sức chứa từ 100-300 chỗ

- Loại vừa: sức chứa từ 300-600 chỗ

- Loại lớn: sức chứa từ 600-1200 chỗ

- Cung văn hóa: sức chứa hơn 1200 chỗ

1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của trung tâm trưng bày và phát triển làng

nghề truyền thống.

Thể loại Công trình là sự dung hòa giữa tính chất trưng bày của bảo tàng kết hợpvới tính nghiên cứu của viện nghiên cứu, nên việc khai thác 2 thể loại đó để phục vụcho mục đích còn lại là chuyện tất yếu

Chính vì vậy, việc hình thành các nhà trưng bày xuất hiện nhiều hơn là trung tâmbao hàm cả 2 chức năng, dưới đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu quá trình hình thành vàphát triển của công trình có chức năng trưng bày

1.3.1 Trên thế giới

Thời gian Quá trình hình thành và phát triển Công trình tiêu biểu

Trang 9

Từ kỳ

tiền sử Từ buổi ban sơ khi sống trong hangđộng, con người đã biết “làm nghệ

thuật”, đó chính là các hình vẽ, các

nét chạm khắc tồn tại trong các

hang động miêu tả đời sống văn

hoá săn bắn, hái lượm và sự thờ

phụng của xã hội nguyên thuỷ Tuy

còn rất thô sơ, nhưng nghệ thuật

của người nguyên thuỷ đã góp phần

tô điểm cho đời sống của họ Điều

này minh chứng “Ý thức sưu tầm”

là một thuộc tính tự nhiên của con

người Nó chính là điều kiện sơ

khai cho việc hình thành một loại

hình văn hoá mà ngày nay ta gọi là

bảo tàng, trung tâm trưng bày

Bức vẽ trên đá của người cổ đại

Thời kỳ

cổ đại

Các thương gia giàu có và học giả

thời kỳ này muốn phô trương sự

giàu có của mình thường có các

phòng chứa hoặc tủ đồ, nhằm giới

thiệu những sản vật, kho báu, sách,

tác phẩm nghệ thuật…cho các

khách tham quan khi tới chơi nhà

Mô tả tủ đồ của quý tộc tên Ole WormThời kỳ

trung đại

Vào giữa thế kỷ thứ mười tám, một

cấu trúc khác đã xuất hiện, một cấu

trúc gắn liền với một số xu hướng

quan trọng Một trong số đó là sự

trỗi dậy của thời kỳ Khai

sáng Phong trào trí tuệ này nhằm

mục đích hiểu về một thế giới mà

-từ quan điểm của những người châu

Âu đang đô hộ những nơi khác trên

toàn cầu Các Bảo tàng Anh là hiện

thân của những lý tưởng này Phòng trưng bày Động vật học trong

Bảo tàng Anh thời kỳ này

Trang 10

có ở các thành phố bắt đầu môphỏng theo mô hình châu Âu Đây

là lý do tại sao rất nhiều bảo tànglịch sử của Mỹ giống với châu Âucủa họ theo hơi hướng tân cổ điển

Bảo tàng Brooklyn, Mỹ

Thời kỳ

hiện đại Những phong cách nghệ thuật khácnhau bao gồm trường phái Ấn

Tượng (Impressionism), Lập Thể(Cubism) Dã Thú (Fauvism), VịLai (Futurism), Thô Mộc(Brutalism) và Siêu Thực(Surrealism) Với sự ảnh hưởng tạonên tác động đa chiều ở nhiều quytắc sáng tạo, chủ nghĩa hiện đạiđược cho là phong trào có ảnhhưởng nhất của thế kỷ 20 cho đếntận bây giờ Các bảo tàng thời kỳnày thường có hình khối nặng nề,thô mộc

Bảo tàng Solomon R Guggenheim của Frank Lloyd Wright, 1959

Bảo tàng văn hóa gỗ tại Kansai- Tadao Ando

1.3.2 Tại Việt Nam

Trang 11

1900 Là một trung tâm nghiên cứu

của Pháp về Đông phương học, chủ

yếu trên thực địa Tiền thân là Phái

đoàn Khảo cổ tại Đông Dương từ

năm 1898 và chính thức thành lập

với tên gọi Viện Viễn Đông Bác cổ

ngày 20 tháng 1 năm 1900, Viện có

nhiệm vụ nghiên cứu, khai quật

khảo cổ trên toàn bán đảo Đông

Dương Được xây dựng tại Hà Nội

nay được trưng dụng là Bảo tàng

lịch sử Hà Nội

Bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ 1900

1929

Ngày 18 tháng 2 năm 1927, nhà

sưu tầm cổ vật Holbé qua đời, để

lại nhiều cổ vật trị giá 45.000 đồng

bạc Đông Dương (là một số tiền lớn

lúc bấy giờ) Để lưu giữ lại số cổ

vật này, ngày 28 tháng 11 năm

Kỳ là Blanchard de la Brosse đã ký

nghị định thành lập Bảo tàng Pacha

Đa Lagos (kể từ đây có khi gọi là

Bảo tàng) ở Sài Gòn, đặt dưới

quyền kiểm soát trực tiếp của chính

quyền Nam Kỳ, và thuộc quyền

kiểm soát khoa học của Viện Viễn

Đông Bác cổ

Bảo tàng Bianchard de la Brosse hiện nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nằm tại TP.HCM (1929)

1959 Trước Chủ tịch Hồ Chí Minh “Về

bảo tồn di sản văn hóa”, ngay trong

giai đoạn kháng chiến chống thực

dân Pháp (1945 - 1954), Bộ Quốc

phòng đã chỉ đạo các cơ quan, đơn

vị chú trọng thu thập, lưu giữ các

tài liệu, hình ảnh, hiện vật phản ánh

cuộc kháng chiến của nhân dân ta

dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng

đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm

phục vụ sự nghiệp kháng chiến và

kiến quốc Trên cơ sở đó, cuối năm

Bảo tàng Quân đội (1959)

Trang 12

1954, Tổng Quân ủy (nay là Quân

ủy Trung ương) đã có chủ trương

xây dựng Bảo tàng Quân đội tại Hà

Nội Thời kỳ này đến 1975, tại

Miền Nam không xây dựng bảo

tàng

1960 Thời kỳ đầu, Bảo tàng văn hoá các

dân tộc Việt Nam với tên gọi là Bảo

tàng Việt Bắc với chức năng nhiệm

vụ ban đầu là nghiên cứu khoa học

và giáo dục truyền thống lịch sử

văn hoá, lịch sử đấu tranh cách

mạng của nhân dân các dân tộc khu

Việt Bắc Năm 1976, Khu tự trị

Việt Bắc giải thể, Bảo tàng Việt

Bắc chuyển giao về trực thuộc Bộ

Văn hoá Thông tin quản lý Đây là

giai đoạn chuyển hướng nội dung

hoạt động từ Bảo tàng tổng hợp

sang Bảo tàng chuyên ngành về

Văn hoá dân tộc Ngày 31/ 3/ 1990

Bộ trưởng Bộ Văn hoá đã phê

duyệt đổi tên Bảo tàng Việt Bắc

thành Bảo tàng Văn hoá các dân tộc

Việt Nam

Bảo tàng Văn hoá dân tộc Việt Nam (1960)

1966

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam toạ lạc

tại địa chỉ 66 Nguyễn Thái Học,

quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Bảo tàng được xây dựng từ thời

Pháp thuộc, nguyên là nơi ăn ở cho

con gái các quan chức Pháp trên

toàn Đông Dương về học tại Hà

Nội Năm 1962, Nhà nước giao

ngôi nhà cho Bộ Văn hoá để sửa

sang thành nơi sưu tầm, trưng bày

và lưu giữ các tác phẩm nghệ thuật

tiêu biểu, có giá trị của Việt nam từ

thời Tiền sử cho đến ngày nay Từ

một ngôi nhà có kiến trúc kiểu châu

Âu, toà nhà đã được cải tạo mang

Bảo tàng Mỹ thuật(1966 )

Trang 13

nhiều nét kiến trúc Việt Nam, phù hợp với chức năng một bảo tàng mỹthuật.

40 bảo tàng tại Hà Nội và 19 tại SàiGòn Một số bảo tàng đạt tầm quốc

tế như: Bảo tàng Dân tộc học ViệtNam, Bảo tàng Chăm Đà Nẵng,Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảotàng Hồ Chí Minh,

Bảo tàng Hà Nội

1.4. Xu hướng của thể loại của trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề tại Việt

Nam và trên thế giới.

1.4.1 Xu hướng phát triển của thể loại công trình TT trưng bày và nghiên cứu trên thế giới.

1.4.1.1 Kiến trúc công nghệ cao (High-tech architecture)

Là một kiểu kiến trúc hiện đại muộn xuất hiện vào những năm 1970, kết hợp các yếu tố của công nghiệp công nghệ cao và công nghệ vào thiết kế xây dựng Đặc điểmcủa kiến trúc High-tech:

- Nó nhấn mạnh tính minh bạch trong thiết kế và xây dựng, tìm cách truyền đạt cấub trúc và chức năng cơ bản của một tòa nhà trong suốt bên trong và bên ngoài

- Vật liệu sử dụng thường là thép, thủy tinh và bê tông

Trang 14

Trung tâm văn hóa ở Noumea, New Caledonia – Renzo Piano

1.4.1.2 Xu hướng Kiến trúc thô mộc (Brutalism)

Brutalism – Chủ Nghĩa Thô Mộc được sản sinh từ Phong Trào Kiến Trúc Hiện Đại,phát triển mạnh trong giai đoạn từ thập niên 1950 đến giữa những năm 1970 Xu hướng kiến trúc thô mộc chú ý đến logic công năng và logic kết cấu, coi đó là yếu tố chủ đạo trong tổ hợp kiến trúc, đồng thời nhấn mạnh những biện pháp cấu trúc đơn giản cùng sự biểu hiện mộc mạc về chất liệu của bê tông, đá thiên nhiên, gạch và gỗ Đặc điểm của kiến trúc thô mộc:

- Thường có các yếu tố lặp đi lặp lại của các mô-đun thành một tổng thể thống nhất

- Về hình thức thẩm mĩ: xuất hiện nhiều các yếu tố cong chéo và dốc hoặc yếu tốngang và dọc tương phản mạnh

- Vật liệu bê tông được sử dụng là vật liệu chính đem lại vẻ mạnh mẽ cho công trình

Ngoài bê tông thì các loại vật liệu như gạch, kính, thép, đá… cũng được dùng

Trang 15

Bảo tàng nghệ thuật Chichu ở Naoshima, 2004 Tadao Ando

1.4.1.3 Xu hướng Kiến trúc giải tỏa kết cấu (Deconstruction)

Deconstructionism – Chủ nghĩa giải tỏa kết cấu xuất hiện vào đâu thế kỉ 20, là biểu hiện của tinh thần tự do, sự sáng tạo không giới hạn của thời đại Xu hướng Kiến trúc giải tỏa kết cấu tìm ra một ngôn ngữ biểu hiện mới, sự hoàn hảo bị xáo trộn Đặc điểm của xu hướng kiến trúc này bao gồm:

Trang 16

Trụ sở Bến cảng Antwerp Zaha Hadid

1.4.2 Xu hướng phát triển của thể loại công trình TT trưng bày và nghiên cứu tại Việt Nam.

1.4.2.1 Xu hướng Kiến trúc hữu cơ

- Thế nào là “Kiến trúc hữu cơ” – F L Wright giải thích: “Kiến trúc hiện đại, chúng

ta ngày nay gọi nó là kiến trúc hữu cơ – là kiến trúc tự nhiên – vì tự nhiên mà có,kiến trúc phục vụ cho tự nhiên”

- Bản thân kiến trúc Việt Nam truyền thống là kiến trúc hữu cơ, các công trình kiếntrúc cổ Việt Nam không bao giờ lấn át thiên nhiên đủ to lớn như đình Bảng, đình Tây,tháp Bích Sơn, … và rất ít những công trình quá cao Kiến trúc việt nam thường nằmdài trên mặt đất ẩn dưới những tán cây cổ thụ hay nấp sau những lũy tre xanh tươi.Hiện nay những công trình kiến trúc hữu cơ ở Việt Nam khá ít

Trang 17

Ninh vân Bay

1.4.2.2 Xu hướng kiến trúc biểu hiện

Kiến trúc theo xu hướng biểu hiện thường lấy hình tượng từ tự nhiên, tôn giáo, hìnhtượng văn hóa,… Để tạo hình công trình Các công trình kiến trúc biểu hiện ở ViệtNam không nhiều vì những công trình này đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ và tốn khánhiều kinh tế

Trang 18

Cung cá heo Quảng Ninh

1.4.2.3 Xu hướng kiến trúc thô mộc

Các biểu hiện chính của xu hướng này là sử dụng vẩ liệu trần bê tông, gạch ,gỗ,thép… Công năng phân chia rạch ròi, phô diễn sự mạnh mẽ khối để tôn vật liệu

Trung tâm giáo dục đào tạo Viettel Võ Trọng Nghĩa

1.4.2.4 Xu hướng kiến trúc chiết trung

Trang 19

Phong cách chiết trung là phong cách đại diện cho sự bình đẳng Phong cách nàykhông tuân theo những luật lệ trước đó mà pha trộn kết hợp cái cũ với cái mới, giữaphương Đông và phương Tây, sự khoa trương và khiêm tốn, ồn ào và yên tĩnh Phongcách này khuyến khích người sử dụng cùng tham gia đóng góp những yếu tố mà họyêu thích Đơn giản, phong cách này thể hiện “cái tôi” của mỗi người.

Bảo tàng viễn Đông bác cổ

1.5 Giới thiệu xu hướng kiến trúc thô mộc và khả năng ứng dụng của nó trong công trình trung tâm trưng bày phát triển làng nghề

1.5.1 Giới thiệu kiến trúc thô mộc

Xu hướng kiến trúc thô mộc bắt đầu trong một thời đại của những mấu thuẩn sâusắc và thực tế khó khăn của thời kỳ hậu chiến ở nước Anh, với nổ lực tiềm kiếmngôn ngữ thị giác và triết lý cho chân lý kiến trúc trong bản chất xã hội Triết lý này

đề ra những lý thuyết về sự không hoàn thiện của kiến trúc bề mặt, như là một phép

ẩn dụ hoàn mỹ cho một thời đại mới của kiến trúc thông qua những hình thức thôngthường

Các công trình kiến trúc được thiết kế theo chủ nghĩa thô mộc thường có các yếu

tố lặp đi lặp lại của các mô-đun thành một tổng thể thống nhất Bê tông được sử dụng

là vật liệu chính đem lại vẻ mạnh mẽ cho công trình Ngoài bê tông thì các loại vậtliệu như gạch, kính, thép, đá… cũng được dùng cho kiến trúc thô mộc (Brutalism)

1.5.2 Những biểu hiện thô mộc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam

Trang 20

Những biểu hiện của thô mộc trong kiến trúc thô mộc (KTTT) Việt Nam

KTTT Việt Nam chứa đựng tinh thần dân tộc và tính địa phương phong phú,

đa dạng, thông qua những công trình công cộng như đình, chùa, cung điện, lăng tẩm

và nhà ở dân gian được xây dựng qua các triều đại trong đó thiên nhiên được xem làyếu tố cấu thành của công trình

Dù ở bất kỳ vùng miền nào KTTT Việt Nam đều có sự gắn bó với thiên cụckhông gian kiến trúc và khả năng khai thác, tái tạo, sử dụng vật liệu tại chỗ Điềuquan trọng hơn cả là sự nhận định về đặc điểm khí hậu để có giải pháp thiết kế côngtrình kiến trúc nhiên thể hiện ở sự chú ý đến địa hình, địa vật trong bố thích nghi vớiđiều kiện khí hậu địa phương Cách tổ chức không gian ngôi nhà truyền thống gắnliền với thiên nhiên bởi các yếu tố ao vườn tạo sự hoàn chỉnh khép kín cân bằng củamột hệ sinh thái, qua các hoạt động tự cấp, tự túc, luân canh, không những tạo điềukiện tiện nghi cho môi trường sống mà còn dự trữ nguồn nguyên liệu tại chỗ để xâydựng công trình khi có nhu cầu phát triển

KTTT Việt Nam có tính khiêm tốn giản dị, với hệ khung kết cấu chịu lực theocấu trúc gian, vì kèo chế tạo bằng tre, gỗ, có tính chất điển hình, chế tác lắp dựngtheo phương pháp thủ công dể vận chuyển và tháo lắp Không gian nội thất được tổchức cân xứng, đơn giản nhờ tỉ lệ hài hòa và nghệ thuật tạo hình dân gian với trình

độ điêu khắc tinh tế và hợp lý bộc lộ nét đẹp nguyên sơ, mộc mạc Ranh giới giữakhông gian bên trong và bên ngoài không có sự tách biệt mà chi/ là những giới hạnđơn sơ, giản dị bằng một dãy cây xanh, một phiến đá, cửa ngỏ, cổng làng, hòa đồngvới con người và không gian xung quanh, kéo thiên nhiên gần sát công trình tạo tínhcởi mở, duyên dáng, mộc mạc Con người dù ở bất cứ vị trí nào trong không giankiến trúc luôn tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên Các không gian luôn chuyển tiếp bởihàng hiên, sân trước, sân sau, vách ngăn, phên, giại che nắng thích ứng với điều kiệnkhí hậu nhiệt đới

Công trình kiến trúc truyền thống và dân gian thường sử dụng vật liệu thômộc có sẵn tại địa phương như tranh, tre, nứa, lá, gỗ, ngói, gạch trần, đất đất sét, đáxanh, đá vôi, đá ong Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khí hậu địa phương , hìnhthức giản dị, hạn chế những chi tiết trang trí rườm rà Kết cấu chịu lực của công trìnhbộc lộ vẻ đẹp tự thân, biểu hiện nét thô mộc của nung, hệ khung, cột, vì kèo và cáccấu kiện, trang trí chạm khắc hoa lá đơn giản mang tính dân gian, thể hiện vẻ đẹpchân thật, mộc mạc, thanh mảnh nhưng vững chắc liên kết Chú trọng sử dụng màusắc tự nhiên trong công trình trong màu nâu của gỗ, màu đỏ của gạch, màu xám của

đá và những màu sắc trung hòa của những vật liệu tự nhiên khác tạo sức truyền cảmsâu sắc tồn tại trong ký ức thẩm mỹ của con người Kiến trúc truyền thống và dângian có những nét đặc trưng khác nhau tùy vào vị trí mà nó gắn bó nhưng tất cả đềutoát lên vẻ đẹp bình dị, mộc mạc, về nội dung và hình thức có sự đơn giản nhưng ẩnchứa tính triết lý phương đông, nghệ thuật thâm trầm, tế nhị, kín đáo tạo xúc cảmnghệ thuật nhất định cho con người trong không gian kiến trúc

1.5.3 Các kiến trúc sư và công trình kiến trúc thô mộc tiêu biểu trên thế giới

Trang 21

Kiến trúc sư Louis Kahn

Tòa nhà Quốc hội ở Dacca, Bangladesh.

Bảo tàng Nghệ thuật Kimbell ở Fort Worth Kiến trúc sư Paulo Mendes da Rocha

Trang 22

Bảo tàng điêu khắc Brazil

Trung tâm nghệ thuật Cais das, Brazil Kiến trúc sư Le corbusier

Trang 23

Tòa nhà Quốc hội (Palace of Assembly) tại Chandigarh, Ấn Độ

Unité d’Habitation (Tạm dịch: Nhà ở Đơn vị)

1.5.4 Các nguyên tắc chung vận dụng quan điểm của kiến trúc thô mộc trong điều kiện Việt Nam.

- Đảm bảo vận hành tốt các công năng

- Đảm bảo chuẩn mực cho hình thức kiến trúc

- Vât liệu phù hợp với thẩm mỹ truyền thống và xu hướng phát triển bền vững

Trang 24

- Bảo đảm tính thích ứng với điều kiện tự nhiên và khí hậu địa phương

- Đáp ứng nhu cầu xã hội, phù hợp với lối sống giản dị, mộc mạc của người Việt

1.6 Các vấn đề cần giải quyết của đề tài nghiên cứu kiến trúc công trình trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề.

Thực tế cho thấy, làng nghề truyền thống có một tiềm năng phát triển rất lớn vàđóng vai trò phát triển rất quan trọng Nhưng trên thực thế trong thời gian qua có thểnói hoạt động bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trên địa bàn thành phốHội An vẫn còn những vấn đề tồn tại:

- Thứ nhất, Tổ chức sản xuất còn phân tán: Làng nghề mộc còn phát triển theo hướng

tự phát, quy mô sản xuất nhỏ lẻ dưới dạng hộ gia đình Chính việc phát triển theokiểu phân tán khiến làng nghề gặp phải những khó khăn, bị động trong nguồn cungnguyên liệu và thị trường tiêu thụ, thiếu trung tâm trưng bày và giới thiệu sản phẩm

- Thứ hai, Trình độ quản lý, tay nghề lao động kém: Trình độ văn hóa, trình độchuyên môn kỹ thuật và năng lực quản lý của các chủ hộ, chủ cơ sở còn hạn chế,phần lớn chưa được trang bị những kiến thức nền Nguồn lao động trẻ không cònthiết tha với nghề mộc truyền thống

- Thứ ba, Khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế: Những mặt hàng truyền thốngđộc đáo được sản xuất thủ công tại các làng nghề chưa được chú ý, đầu tư thích đáng

- Thứ tư, Môi trường bị ô nhiễm: Do hạn chế về công nghệ, thiết bị, mặt bằng sảnxuất, trình độ quản lý…

- Thứ năm, Cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh

Chương 2: Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu

2.1 Quy hoạch chung

• Quy hoạch chung và chi tiết của khu vực xã Cẩm Kim ,Hội An

Trang 25

Bản đồ quy hoạch khu vực xã Cẩm Kim , Hội An

Nên bố trí nhà văn hóa – trung tâm văn hóa gần các công trình văn hóa, thể thaokhác và phải tính tới khả năng phối hợp giữa các công trình để tạo thành các tổ hợpvăn hóa của đô thị

Bảng 1 – Bán kính phục vụ của nhà văn hóa, trung tâm văn hóa

Nhà văn hóa, trung tâm văn hóa Bán kính phục vụ (m)

1. Đối với các quận từ 2 000 đến 3 500

2. Đối với các huyện từ 3 500 đến 5 000

Phải tuân theo các quy định về khu bảo vệ và khoảng cách ly an toàn đối vớicác công trình xây dựng như quy định về quy hoạch xây dựng Khoảng cách ly vệsinh tối thiểu của nhà văn hóa – trung tâm được quy định Bảng 2

Bảng 2 - Khoảng cách ly vệ sinh đối với nhà văn hóa - thể thao

Tên công trình

Bệnh viện Khoảng cách ly tối thiểu (m)1000

Trang 26

Nghĩa trang, bãi rác 2000

Quy chuẩn quy hoạch trung tâm trưng bày phát triển làng nghề

Yêu cầu về khu đất xây dựng

Theo TCVN 9365:2012 Nhà văn hóa thể thao-Nguyên tắc cơ bản để thiết kế

Khu đất xây dựng nhà văn hóa phải nằm trong quy hoạch chung được duyệt, phùhợp với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hiện tại của địa phương và khả năng phát triển trong tương lai

Khu đất xây dựng nhà văn hóa phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Môi trương sạch đẹp phù hợp với các hoạt động văn hóa, thể thao, học tập, rènluyện

- Có hệ thống giao thông thuận tiện, đảm bảo cho công tác xây dựng và đáp ứngđước yêu cầu hoạt động của nhà văn hóa – thể thao trong tương lai

- Thuận lợi cho việc cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc,…

- Khu đất ở vị trí cao ráo, thoáng mát, ít tống kém cho biện pháp xử lý đặc biệt vềnền móng, thoát nước khu vực

Yêu cầu về quy hoạch tổng mặt bằng

Thiết kế tổng mặt bằng nhà văn hóa - thể thao cần phù hợp với các yêu cầu sau:

- Phân khu chức năng rõ ràng

- Tổ chức giao thông hợp lý

- Phù hợp với yêu cầu sử dụng

Trang 27

Nhà văn hóa - thể thao phải được bố trí cách chỉ giới xây dựng hoặc chỉ giới đường

đỏ của đường giao thông chính không nhỏ hơn 6m

Khu đất xây dựng nhà văn hóa – trưng bày phải có ít nhất hai cổng ra vào cho người đi bộ và xe máy, ô tô Cần có đường giao thông riêng cho khu vực kho và bãi

để xe

Hướng của các khối chức năng chính của nhà văn hóa - thể thao phải bảo đảm đón được gió chủ đạo về mùa hè Tận dụng được ánh sáng tự nhiên để chiếu sáng tối đa cho các phòng trong công trình

Trước lối ra vào của nhà văn hóa - thể thao (nơi có phòng biểu diễn) cần có bãi đỗ

xe và nơi tập kết người, tiêu chuẩn diện tích là 0,3 m2/chỗ ngồi

Xung quanh khu đất xây dựng nhà văn hóa phải có hàng rào bảo vệ và dải cây xanh

để chắn gió, bụi và giảm tiếng ồn Chiều rộng dải cây xanh không nhỏ hơn 5 m đối với đường giao thông thường và 10 m đối với đường giao thông có mật độ lớn

2.2 Các đặc điểm chính của trung tâm trưng bày và phát triển làng nghề.

2.3.1 Đặc điểm về công năng.

2.3.1.1 Phân khu chức năng, dây chuyền sử dụng

Các khu chức năng bao gồm trong công trình trung tâm trưng bày và phát triểnlàng nghề

- Khu trưng bày

- Khu làm nghề, trải nghiệm

- Khu dạy nghề, học nghề

- Khu dịch vụ

- Khu khán phòng hội thảo

- Khu điều hành , quản lý

- Khu kho xưởng

- Khu kỹ thuật phụ trợ

Khu trưng bày

Trưng bày, theo nghĩa chung nhất, là sự giới thiệu những vật được sắp xếp mộtcách có chủ đích Trong thực tế, sự trưng bày thường được xuất hiện trong khônggian bảo tàng, phòng triển lãm và sảnh trưng bày, các kì Hội chợ Không gian trưngbày có thể nằm trong các Bảo tàng Nghệ thuật hay không gian triển lãm tranh, khônggian nghệ thuật trình diễn, hay trong Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên và Bảo tàng Lịch sử,triển lãm thương mại hay trong các Hội chợ triển lãm

Có nhiều hình thức trưng bày khác nhau tùy theo thể loại và mục đích trưng bày các vật phẩm bên trong Tuy nhiên, các hình thức trưng bày là vô cùng đa dạng, bao gồm:

- Khu trưng bày thường xuyên

- Khu trưng bay lưu động

Trang 28

- Khu trưng bày chuyên đề

- Khu trưng bày ngoài trời

Bảo tàng Hedmark, Hamar Bảo tàng dân gian biển Hiroshi Naito

Các dạng bố cục mặt bằng không gian trưng bày

- Không hành lang

Phương pháp này áp dụng đối vói các phòng trưng bày có diện tích nhỏ Từ phòng này đi thẳng song phòng kia mà không cần hành lang Phương pháp này rất kinh tế bởi nó tận dụng được toàn bộ diện tích của toà nhà và không bị mất diện tích làm hành lang Toàn bộ diện tích các tầng được sử dụng cho trưng bày Còn khu hànhchính và các khu kho xưởng được tách ra trong một tầng riêng, một khối riêng hay được bố trí gần sinh và lối vào chính

Trang 29

- Có hành lang

Các phòng trưng bày có thể bố trí theo dọc hành lang Các phòng trưng bày như vậy có thể

có hình dạng, tổ chức phong phú

- Không gian chung

Là không gian tương đối lớn cho phép bố trí các tranh và hiện vật theo các vách được ngăn nhẹ

Ngày đăng: 22/01/2021, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w