1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy luật phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam

16 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 47,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy luật phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Quá trình tái sản xuất hiện nay bao gồm các quá trình: sản xuất, phân phối, thu nhập và tiêu dùng. Trong đó quá trình phân phối là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình này. Nó nối liền với sản xuất ,trao đổi với tiêu dùng. Phục vụ và thúc đảy sản xuất, phục vụ tiêu dùng. Không những thế, quan hệ phân phối còn là một yếu tố rát quan trọng trong quan hệ sản xuất, nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích của mỗi thành viên và lợi ích của toàn xã hội. Các nước đang phát triển mặc dù có tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhưng nó chỉ làm tăng phúc lợi của người giàu, người giàu được hưởng lợi rất nhiều, trong khi đó đại bộ phận dân cư đặc biệt là người nghèo lại không được cải thiện. Tại sao lại có tình hình trên¬¬? Có nhiều cách để lý giải khác nhau, nhưng theo các nhà kinh tế học nguyên nhân chính cuả tình hình trên là do tác động của phân phối trong đó yếu tố phân phối thu nhập dữ vai trò chủ đạo. Nếu mức thu nhập bình quân thấp, phân phối thu nhập càng bất công thì dẫn đến kết quả là tổng cầu của nền kinh tế bị ảnh hưởng một quốc qia là rất cần thiết. Với Việt Nam chúng ta một đất nước đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH do nền kinh tế còn nhiều thành phần kinh tế nên cũng còn có nhiều hình thức lợi ích kinh tế khác nhau và tất yếu là còn xuất hiện nhiều mâu thuẫn giữa các hình thức lợi ích kinh tế đó. Một trong những yêu cầu của nền kinh tế là kịp thời phát hiện ra mâu thuẫn và tìm cách giải quyết các mâu thuẫn đó. Việc giải quyết các quan hệ về lợi ích kinh tế được thể hiện thông qua quan hệ phân phối thu nhập. Nếu phân phối thu nhập được công bằng hơn thì sẽ tăng được mức sống của đại bộ phận dân cư.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN PHỐI THU NHẬP 2

1 Phân phối thu nhập 2

2 Lý luận chung về phân phối thu nhập ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH .2

II THỰC TRẠNG QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở NƯỚC TA 4

1 Phân phối thu nhập theo lao động, theo kết quả lao động và theo mức độ đóng góp của các nguồn lực 4

2 Những nhận xét khi rút ra khi nghiên cứu thực trạng của quan hệ phân phối ở nước ta hiện nay 11

3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối ở nước ta trong thời gian tới 11

KẾT LUẬN 14

Tài liệu tham khảo 15

Trang 2

MỞ ĐẦU

Quá trình tái sản xuất hiện nay bao gồm các quá trình: sản xuất, phân phối, thu nhập và tiêu dùng Trong đó quá trình phân phối là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình này Nó nối liền với sản xuất ,trao đổi với tiêu dùng Phục vụ và thúc đảy sản xuất, phục vụ tiêu dùng Không những thế, quan hệ phân phối còn là một yếu tố rát quan trọng trong quan hệ sản xuất,

nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích của mỗi thành viên và lợi ích của toàn xã hội

Các nước đang phát triển mặc dù có tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhưng nó chỉ làm tăng phúc lợi của người giàu, người giàu được hưởng lợi rất nhiều, trong khi đó đại bộ phận dân cư đặc biệt là người nghèo lại không được cải thiện Tại sao lại có tình hình trên?

Có nhiều cách để lý giải khác nhau, nhưng theo các nhà kinh tế học nguyên nhân chính cuả tình hình trên là do tác động của phân phối trong đó yếu

tố phân phối thu nhập dữ vai trò chủ đạo Nếu mức thu nhập bình quân thấp, phân phối thu nhập càng bất công thì dẫn đến kết quả là tổng cầu của nền kinh

tế bị ảnh hưởng một quốc qia là rất cần thiết Với Việt Nam chúng ta một đất nước đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH do nền kinh tế còn nhiều thành phần kinh tế nên cũng còn có nhiều hình thức lợi ích kinh tế khác nhau và tất yếu là còn xuất hiện nhiều mâu thuẫn giữa các hình thức lợi ích kinh tế đó Một trong những yêu cầu của nền kinh tế là kịp thời phát hiện ra mâu thuẫn và tìm cách giải quyết các mâu thuẫn đó Việc giải quyết các quan hệ về lợi ích kinh tế được thể hiện thông qua quan hệ phân phối thu nhập Nếu phân phối thu nhập được công bằng hơn thì sẽ tăng được mức sống của đại bộ phận dân cư

Nhằm mục đích làm rõ hơn vấn đề này, tôi chọn ngiên cứu đề tài: “Quy luật phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”.

Trang 3

I Lý luận chung về phân phối thu nhập

1 Phân phối thu nhập

*Khái niệm

Phân phối thu nhập là một khâu quan trọng của quá trình tái sản xuất xã hội Các khâu trong tái sản xuất xã hội quan hệ chặt chẽ với nhau,trong đó sản xuất là gốc đóng vai trò quyết định,các khâu khác phụ thuộc vào sản xuất, nhưng chúng có quan hệ trở lại đối với sản xuất cũng như ảnh hưởng tới nhau

Phân phối bao gồm: phân phối cho tiêu dùng sản xuất là tiền đề ,điều kiện và là một yếu tố của sản xuất, nó quyết định quy mô, cơ cấu và tốc độ phát triển của sản xuất Phân phối thu nhập quốc dân hình thành từ thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội Ngày nay nền kinh tế vận đông theo cơ chế thị trường , chịu sự chi phối của các quy luật thị trường cạnh tranh nhằm mục đích thu lợi Hộ gia đình và các doanh nghiệp có mối quan hệ trực tiếp thông qua thị trường yếu tố sản xuất và yếu tố thị trường hàng hoá tiêu dùng, ở đây hộ gia đình bán sức lao động để lấy tiền lương Người có vốn cho vay thu được lợi tức, người có ruộng cho thuê thu được lợi tô Vậy theo nghĩa rộng thì thu nhập trong nền kinh tế thị trường bao gồm doanh thu của chủ doanh nghiệp và thu nhập của chủ các yếu tố sản xuất

* Các hình thức phân phối thu nhập

Để đánh giá ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến việc cải thiện đời sống vật chất cho dân cư hay các nhóm dân cư cần nghiên cứu ảnh hưởng của phân phối thu nhập để biết được cá nhân có thu nhâp bao nhiêu nguồn gốc để tạo thu nhập là từ đâu? Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu trên, các nhà kinh

tế thường quan tâm đến phân phối thu nhập theo chức năng và phân phối lại thu nhập Phối thu nhập theo chức năng có liên quan đến sự phân chia thu nhập theo các yến tố sản xuất khác nhau như lao động, máy móc thiết bị đất đai Về mặt lý thuyết thì phân phối thu nhập được xác định chủ yếu dựa vào quyền sở hữu các yếu tố sản xuất Các yếu tố dẫn đến thu nhập như tiền lương, tiền thuế, lợi nhuận

sẽ quyết định cá nhân được hưởng thu nhập là bao nhiêu

Phân phối lại thu nhập: khi tăng trưởng nhằm mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống thì có thể điều chỉnh lại thu nhập cá nhân thông qua việc phân phối lại tài sản

2 Lý luận chung về phân phối thu nhập ở Việt Nam trong thời kỳ quá

độ lên CNXH

* Vai trò, vị trí của phân phối thu nhập đối với quá trình phát triển kinh

tế đất nước

Trang 4

Thứ nhất, phân phối thu nhập có ảnh hưởng lớn đối với sản xuất Nó đảm bảo các yếu tố đầu vào cho các doanh nghiệp Sự phân phối các nguồn lực diễn ra thông suốt sẽ đảm bảo quá trình tái sản xuất đượcthực hiện liên tục

Thứ hai, phân phối thu nhập quyết định sự tiêu dùng của các chủ thể yếu

tố sản xuất thông qua phân phối thu nhập các chủ thể yếu tố sản xuất có được tiêu nhập để mua hàng hoá tiêu sing và dùng vụ Về cơ bản quy mô phân phối quyết định quy mô tiêu dùng

Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường đánh giá đúng đắn các đóng góp của các yếu tố sản xuất để trả công

Phân phối thu nhập theo cung cầu và giá cả thị trường còn đảm bảo được quyền tự do thị trường của các chủ thể kinh tế Ở đây, tiền lãi, lãi suất, địa tô được hình thành trên cơ sở đảm bảo tính năng động thích ứng nhanh để tạo ra cân bằng tổng quát trên

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, phân phối và lưu thông là lĩnh vực hoạt động nhạy cảm, phức tạp Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, lợi ích kinh tế của các cơ sở sản xuất kinh doanh, của những cơ sở sản xuất còn có nhiều khác biệt thậm chí mô thuẫn với nhau, trong xã hội còn có những tàn dư

tư tưởng, những suy nghĩ tính toán cá nhân Do đó nhà nước phải có chính sách hợp lý để phát triển kinh tế giáo dục và pháp luật nhằm loại trừ dần những tiêu cực trong lĩnh vực phân phối thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội Đối với nước ta trình độ phát triển chưa cao và nhiều mặt phát triển chưa cân đối, nên phân phối thu nhập lại càng quan trọng Phân phối thu nhập đúng đắn và phù hợp với tình hình hiện nay của đất nước sẽ là động lực mạnh thúc đẩy sản xuất phát triển và cải thiện đời sống nhân dân Ngược lại phân phối thu nhập không đúng sẽ không đảm bảo lợi ích kinh tế không công bằng Như vậy phân phối thu nhập ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế và vấn đề xã hội ,đặc biệt là công bằng

xã hội

* Những hình thức phân phối thu nhập ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH

Xuất phát từ yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan và từ đặc điểm kinh tế xã hội của đát nước mà chung ta vận dụng nhiều hình thức thu nhập đó là vì:

- Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần, có nhiều hình thức

xã hội khác nhau Nhà nước thừa nhận và đảm bảo bằng pháp luật không chỉ sở hữu toàn dân, nhà nước mà cả sở hữu tư nhân về tiền vốn, của cải để dành và các tài sản hợp pháp khác Phù hợp với mỗi thành phần kinh tế, mỗi hình thức sở hữu là một hình thức phân phối thu nhập nhất định Mặc dù các hình thức phân

Trang 5

phối thu nhập của nước ta không tồn tại biệt lập với nhau mà đan xen với nhau

và hợp thành cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất ,nhưng chưa hề thực hiện phân phối thu nhập theo một hình thức mà phải thực hiện nhiều hình thức Chỉ có như vậy mới giải phóng được năng lực sản xuất, khai thác triệt để mọi tiền năng kinh

tế của đất nước nhằm phát triển mạnh mẽ kinh tế xã hội ở nước ta

- Trong nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hình thức kinh doanh khác nhau Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế này, có nhiều chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia Mỗi thành phần kinh tế có phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh khác nhau Ngay trong mỗi thời kỳ kể cả thành phần kinh tế nhà nước cũng có các phương thức kinh doanh khác nhau

Vì vậy không thể có một hình thức phân phối thu nhập thống nhất mà phải có nhiều thành phần khác nhau

II THỰC TRẠNG QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở NƯỚC TA

1 Phân phối thu nhập theo lao động, theo kết quả lao động và theo mức độ đóng góp của các nguồn lực

Trong giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa trước đổi mới, chúng ta chủ trương thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và trên cơ sở đó thực hiện nguyên tắc phân phối thu nhập theo lao động máy móc của Mác dưới CNXH vào hoàn cảnh chra chín muồi trong nền kinh tế tập trung ở nước ta Dẫn tới hành động của chúng ta là nhanh chóng chóng cải tạo các thành phần kinh tế bằng mọi giá, để tạo lập hai hình thức sở hữu nhà nước và tập thể, và tưởng thế

là chúng ta đã có được cơ sở kinh tế của CNXH làm cơ sở cho phân phối theo lao động Mặt khác, trong lĩnh vực trao đổi, chúng ta lại thực hành phân phối bằng hiện vật một cách rộng khắp, từ sản xuất, đến tiêu dùng Khiến quan hệ hàng tiền bị thủ tiêu, thước đo lao động bằng giá trị bị phủ định Kết quả là trong phân phối ta không thực hiện được phân phối đúng cho lao động, đảm bảo công bằng xã hội mà lại đưa đến sự “quân bình xã hội” Điều đó đã tạo ra kẻ hở, làm triệt tiêu những nhân tố tích cực, dám hy sinh vì nghĩa lớn, biết quên mình trong lao động Đồng thời tạo ra chỗ dựa cho thói lười nhác, ỷ lại, dựa dẫm, ăn bám ở khắp mọi nơi mọi người Đây cũng là một trong các nguyên nhân đẩy xã hội ta vào tình trạng trì trệ, nghèo nàn, chậm phát triển Tất cả những khó khăn đó đã dẫn tới tổng sản phẩm xã hội từ năm 1976 - 1980 bình quân hàng năm chỉ tăng 1%, thu nhập quốc dân sản xuất bình quân hàng năm tăng 0,2 %, trong khi dân

số tăng bình quân hàng năm là 2,25% Điều này đã làm cho chỉ tiêu tổng hợp tính bình quân đầu người giảm xuống: thu nhập quốc dân sản xuất theo đầu người bình quân hàng năm từ năm 1976 - 1980 giảm 1,37%; thu nhập quốc dân

Trang 6

sử dụng bình quân đầu người giảm 5,15% Quỹ tiêu dùng cá nhân của dân cư liên tục giảm: năm 1976 là 100% thì năm 1977 còn 95,5%; năm 1978: 92,8%; năm 1980: 88,6% Các chỉ tiêu khác do Đảng đề ra chỉ đạt ở mức thấp

Nhận rõ được các sai lầm thiếu sót, từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã chuyển hướng nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự điều tiết của Nhà nước, đa dạng hoá các thành phần kinh tế lấy kinh tế quốc doanh làm nòng cốt, kinh tế tập thể không ngừng được mở rộng theo nguyên tắc hiệu quả, tự nguyện Đồng thời thực hiện nguyên tắc phân phối

vừa theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, vừa theo mức đóng góp vốn

(trong đó phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu) Về nguyên tắc phân phối mới này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã khẳng định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội ”

Nguyên tắc phân phối “vừa theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, vừa theo mức đống góp vốn” mà chúng ta thực hiện từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới so với nguyên tắc phân phối theo lao động mà chúng ta đã thực hiện

- Phân phối theo lao động: tức là dùng thước đo số lượng, chất lượng lao động để đo mức độ cống hiến và hưởng thụ của người lao động Còn phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là phân phối dụa trên mức độ đạt được của lao động về chất lượng và năng suất lao động, hoặc dựa vào hiệu quả kinh

tế, vì lẽ đó nhà nước chủ chương phân phối theo năng suất lao động là chính

- Phân phối theo mức độ đóng góp:muốn có thu nhập phải bán các yếu tố sản xuất thuộc quyền sở hữu của mình như vốn, lao động, đất đai, công nghệ…

Vì vậy, Đảng chủ chương phát triển và hình thành các loại thị trường theo định hướngXHCN Như vậy cũng có nghĩa là mọi nguồn lực đóng góp vào sản xuất

phải được hưởng phần lợi ích tương ứng với hiệu quả mà nó mang lại Đất đai

tài nguyên thuộc lợi ích toàn dân, do đó lợi ích nó mang lại thuộc về nhà nước

Vì vậy Đảng cần có biện pháp để tính đúng các nguồn lực này

Khi phân phối theo nguồn lực đóng góp thì mọi thành viên đều phải tham gia quản lý nhờ đó hiệu quả quản lý sẽ cao hơn, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển

Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, đa hình thức sở hữu đang nảy sinh những quan điểm mới về quan hệ phân phối Để đánh giá được thực trạng phân phối ở nước ta hiện nay thì ta xem xét 3 nguyên

Trang 7

tắc phân phối cơ bản: phân phối theo lao động, phân phối theo tài sản vốn hay những đóng góp khác, phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi xã hội Tương ứng với nguyên tắc phân phối theo lao động có hình thức tiền lương và tiền thưởng Trong đó, chính sách tiền lương và tiền công lao động là đặc biệt quan trọng vì nó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước trong sự hình thành và phân phối thu nhập trong điều kiện của nền kinh tế thị trường ở nước ta

* Thực trạng về chính sách tiền lương

Cùng với quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường là quá trình chúng ta dần thừa nhận sức lao động là hàng hoá Một khi sức lao động trở thành hàng hoá, thì người có sức lao động hoàn toàn có quyền

tự do bán sức lao động của mình theo những hợp đồng lao động nhất định và khi

đó các chủ doanh nghiệp sử dụng sức lao động phải trả công cho họ theo đúng những cam kết trong hợp đồng đã ký Sau quá trình làm cho các chủ doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế quốc doanh, người lao động nhận được một khoản thu nhập gắn với kết quả lao động của họ Về nguyên tắc khoản thu nhập

đó phải tương xứng với số lượng và chất lượng lao động mà mỗi người đã cống hiến Số thu nhập theo lao động đó gọi là tiền lương Hay nói cách khác tiền lương chính là hình thức thu nhập theo lao động

Với tư cách là một phạm trù kinh tế, tiền lương là sự biểu hiện của bộ phận cơ bản cần thiết được tạo ra trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế quốc doanh để đi vào tiêu dùng cá nhân của người lao động, tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh

Về cơ cấu tiền lương bao gồm hai phần: phần tiền lương cơ bản và phần tiền lương bổ sung (tiền thưởng) Trong đó phần tiền lương cơ bản phụ thuộc vào thang lương, bậc lương của mỗi người, phần tiền thưởng phụ thuộc vào kết quả hoạt động của đơn vị Việc xác định hợp lý và chính xác bậc lương, ngạch lương theo từng ngành và theo từng khu vực có tính đến trình độ chuyên môn và điều kiện lao động có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Điều đó thúc đẩy những người lao động quan tâm hơn nữa tới việc hoàn thành các công việc được giao Khi đó

họ hoàn toàn phấn khởi vì đã hiểu ra rằng trước hết, họ làm việc cho chính mình

và tiếp đến là làm việc cho xã hội

Việc cải cách tiền lương diễn ra liên tục bắt đầu từ khi ban hành nghị định 235/HDBT tháng 9 năm 1985 đến đầu năm 1993, Nhà nước đã phải điều chỉnh tiền lương 21 lần Về cơ chế của chính sách tiền lương Nhà nước trực tiếp định mức lao động, định mức tiền lương duyệt quỹ lương, bảng lương bậc, bậc

Trang 8

lương cụ thể cho các đơn vị sản suất kinh doanh phải thực hiện Chuyển sang một cơ chế mới, trong đó tiền lương đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh chỉ còn là thông số để tính toán, Nhà nước khống chế lương tối thiểu, khống chế thu nhập tối đa

Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, có lĩnh vực chuyển nhanh như xác định tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, có lĩnh vực chưa chuyển lập như cơ chế kiểm soát và điều tiết tiền lương ,thu nhập của nhà nước khi các đơn vị kinh tế chuyển sang kinh doanh, vv…

Chính sách tiền lương theo Nghị định 235/HĐBT chỉ giữ được thời gian ngắn, sau đó tiền lương thực tế bắt đầu giảm mạnh và giảm liên tục Trên thực tế diễn ra tình hình tốc độ tăng lương danh nghĩa chậm hơn tốc độ tăng giá

Trước tình hình biến động của giá làm cho tiền lương thực tế, đời sống của dân cư nói chung ngày càng sa sút, đã gây ra sự phản ứng của các đối tượng trong xã hội Cụ thể là:

* Ở bộ máy nhà nước các cấp: mặc dù nhà nước trung ương đã có biện pháp che chắn kiểm soát liên tục, nhưng một số địa phưong tự định lại mức lương tối thiểu

* Ở các đơn vị sản xuất – kinh doanh: dựa vào quyền tự chủ kinh doanh

và những sơ hở của cơ chế quản lý đang trong bước giao thời, đều tìm mọi cách tăng thu nhập cho mình Nhìn xí nghiệp làm ăn thua lỗ nhưng thu nhập của họ vẫn cao

* Ở các đơn vị hành chính sự nghiệp: phải thực hiện theo nghị định 235/HĐBT Nhưng lại được nhà nước cho phép mở ra các hoạt động dịch vụ đời sống đủ loại để tăng thu nhập Toàn bộ những thực tế này đã tạo nên sự chênh lệch về thu nhập rất lớn ,mà phần lớn không phải sự chênh lệch đó là do tài năng lao động của họ tạo ra

* Ở ngoài xã hội trong khi mức lương tối thiểu do nhà nước quy định là 22.500đ/tháng , thì ngoài xã hội tiền công lao động trả cho người lao động binh thường là từ 3000-5000đ/công Trong khi nhà nước quy định lương tối đa bằng 3,5 lần lương tối thiểu, thì ngoài xã hội đang thực hiện băng 7-8 lần Đặc biệt ở khu vực này tiền công đã được tiền tệ hoá hoàn toàn và đã tính đén quan hệ cung cầu về lao động Nhưng đến tháng 4-1993 nước ta thực hiện cải cách chính sách tiền lương, ban hành nghị định 25/CP và 26/CP về chế độ tiền lương cho công nhân viên chức khu vực khu vực hành chính sự nghiệp và sản xuất kinh doanh Từ đó đến nay mặc dù các thang bảng lương và cơ chế quản ly chưa thay đổi, nhưng mức lương tối thiểu cũng thường xuyên thay đổi từ 1/4/1993 là

Trang 9

120.000 đ; 1/10/1997 là 144.000 đ; 1/1/2000 là 180.000đ đến 1/1/2001 là 210.000 đ; đến 1/1/2003 là 290.000 đ Qua thời gian áp dụng chính sách lương mới vào cuộc sống thì việc phân phối đã công bằng hơn, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác

Qua những số liệu ở trên cho ta thấy thực trạng về vấn đề tiền lương ở nước ta trong thời gian qua chưa phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đang hoạt động trong một thị trường thống nhất Tiền lương đó chưa thực

sự là thước đo giá trị –lao động ,chưa đảm bảo tái sản xuất giản đơn và mở rộng sức lao động không ngừng ,chưa trở thành nguồn thu nhập chủ yếu của ngưòi lao động làm công ăn lương

Tiền lương vừa mang tính chất bình quân, vừa mang tính chất bao cấp Mặc dù từ giữa cuối năm 1993 chúng ta đang triển khai thí điểm chính sách tiền lương mới nhưng trong đó vẫn còn chứa đựng nhiều ván đề bất hợp lí

Thứ nhất, tính đến tháng 12/1999, tổng các đối tượng là 6.2 triệu người chiếm 8% dân số, trong đó 66.9% thuộc 2 nhóm cuối- hưu trí và các chính sách

xã hội Trên thế giới không một quốc gia nào có tỷ lệ như vậy Số cán bộ công chức đang làm việc thực tế chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ: khối quản lý hành chính Nhà nước chiếm 3.4% tổng số, khối sự nghiệp chiếm 18.4% tổng số, cán bộ cấp phường xã chiếm 6.2% tổng số

Hai là mức tiền lương tối thiểu là quá thấp cho đến trước 1/1/2003 Đối với đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước (mức lương được xây dựng trên mức lương tối thiểu) thì tiền lương chỉ chiếm từ 20-30% thu nhập dẫn đến hiện tượng tiền lương chỉ còn là danh nghĩa và chủ yếu dùng làm căn cứ đóng bảo hiểm Người lao động không quan tâm đến công việc chính của mình, dành nhiều thời gian, sức lực và trí tuệ làm các công việc khác để tăng thu nhập Trong khi đối với lao động tại các doanh nghiệp, khi thu nhập chủ yếu là từ tiền lương, thì mức lương tối thiểu đã là 210.000(VND) đến 360.000(VND) đối với doanh nghiệp Nhà nước, 410.000(VND) đến 620.000(VND) đối với doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài Như vậy là mức lương tối thiểu (thực chất là mức lương cơ bản) cho đội ngũ công chức là không còn phù hợp nữa

Ba là mặc dù lương tối thiểu và tối đa đã chênh lệch hơn 10 lần, tưởng chừng khắc phục được tình trạng bình quân trong phân phối, nhưng do sự chi tiết đến thái quá làm cho tiền lương rơi vào tình trạng bình quân chủ nghĩa Khoảng cách giữa các bậc lương quá ngắn, thấp nhất là 0.09 và cao nhất là 0.43 bên cạnh đó lại có quá nhiều ngạch lương gây nên sự phức tạp không cần thiết Đơn cử khu vực hành chính sự nghiệp hiện có 21 bảng lương và 196 thang lương tương ứng với 196 ngạch công chức Hiện tượng không bao giờ đạt đến

Trang 10

hệ số lương cao nhất là phổ biến Cơ chế quản lý tiền lương hiện nay còn bộc lộ hàng loạt những yếu điểm quan trọng Trước hết tiền lương chưa gắn với trách nhiệm và kết quả lao động Chúng ta vẫn chủ yếu trả lương theo thâm niên, theo bậc chứ chưa trả lương theo chức vụ và gắn liền với nó là trách nhiệm, kết quả lao động hầu như không có tác động gì đến mức lương của người lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp

Mô hình quản lý hành chính yếu kém dẫn đến việc các khoản chi là rất lãng phí, các nguồn thu thì không được công khai Phần lớn các khoản thu chi bất hợp pháp này được hợp pháp hoá và chuyển thành các khoản thu nhập ngoài lương đây là một trong những khâu yếu nhất của chính sách tiền lương Việt Nam

Bốn là sự bất cập lương đối với nhu cầu của cuộc sống đang đẻ ra nhiều nghịch lý Mọi người đều biết rằng mức lương hiện nay là không đảm bảo được cuộc sống bình thường Chênh lệch về thu nhập giữa các ngành, các cơ quan, đơn vị là rất lớn Hiện nay có khoảng 40% số các đơn vị hành chính sự nghiệp

cả nước là hoạt động sự nghiệp Đó là chưa kể sự chênh lệch đến quá lớn giữa lao động trong biên chế Nhà nước với các thành phần kinh tế khác những chênh lệch và những nghịch lý ấy đang là lý do cả về vật chất lẫn ý thức làm cho người lao động coi tiền lương là một khoản thu nhập phụ, không ai sống bằng lương, Nhà nước không quản lý được thu nhập và chúng đang gây ra những hậu quả tiêu cực như: hạch toán sai, báo cáo không đầy đủ, giấu nguồn thu, trốn thuế thu nhập, sử dụng thu nhập mập mờ, tuỳ tiện, cản trở kiểm tra kiểm soát Điều tệ hại là không đo đếm và tạo ra tâm lý lạm dụng của công, nạn tham nhũng tập thể, dùng tiền công để “của người phúc ta”, kéo bè kéo cánh cùng cánh thì được

“ăn chia”, nếu không cùng cánh thì lương "ba cọc một đồng” ,tìm cách hạ bệ nhau,bôi nhọ danh dự của nhau gây mất dân chủ và mất đoàn kết trong không ít các cơ quan tổ chức Trong nhiều năm chính sách tiền lương và các chính sách kinh tế xã hội khác như nhà ở phân phối điện ,nước sinh hoạt… có liên quan mật thiết với nhau.Song trong quá trình giải quyết vấn đề tiền lương chưa tính toán cân đối với từng chính sách một cụ thể ,do đó nó phát sinh nhiều hiện tượng mâu thuẫn khó giải quyết gây ra sự bất bình đẳng lớn trong xã hội

Nhà nước chưa thực sự hoàn toàn làm chủ trong việc kiểm soát và quản

lý tiền lương và thu nhập nói chung của người lao động

* Thực trạng về vấn đề lợi nhuận

Từ năm 1989 đến nay thì nên kinh tế việt nam có bước chuyểnbiến quan trọng trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Xét tình hình lợi nhuận ở nước ta,thì do chính sách cơ chế hình thành và

Ngày đăng: 22/01/2021, 14:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w