Đóng góp quan trọng nhất của văn hóa mácxít nói chung, quan điểm văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng là góp phần xây dựng phương pháp tư duy khoa học về thế giới
Trang 1-
TRẦN QUỐC HOÀN
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỪ QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ SÁNG LẬP CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN ĐẾN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 2-
TRẦN QUỐC HOÀN
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỪ QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ SÁNG LẬP CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN ĐẾN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Phản biện:
1: PGS,TS ĐINH NGỌC THẠCH 2: PGS,TS LƯƠNG MINH CỪ 3: PGS,TS NGUYỄN THANH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Hữu Toàn và TS Thái Thị Thu Hương Những kết luận khoa học trong luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả
TRẦN QUỐC HOÀN
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ SÁNG LẬP CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA 16
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ VĂN HÓA VÀ VAI TRÕ CỦA VĂN HÓA TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 16
1.1.1 Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về văn hóa 16
1.1.2 Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội 20
1.2 QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA 27
1.2.1 Quan điểm của V.I.Lênin về văn hóa vô sản 27
1.2.2 Quan điểm của V.I.Lênin về phát triển văn hóa 31
1.3 Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ SÁNG LẬP CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA 42
1.3.1 Quan điểm về văn hóa và phát triển văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở lý luận cho sự phát triển xã hội 43
1.3.2 Quan điểm về văn hóa và phát triển văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở phương pháp luận cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa mới 49
1.3.3 Quan điểm về văn hóa và phát triển văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở cho việc xây dựng và phát triển con người mới trong nền văn hóa mới 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 60
Chương 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA 63
2.1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 63
2.1.1 Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa 63
2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí của văn hóa 78
Trang 52.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung phát triển văn hóa 93
2.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp phát triển văn hóa 122
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 130
Chương 3: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 132
3.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI VĂN HÓA VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ NỘI DUNG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 132
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở kế thừa, vận dụng và phát triển quan điểm Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa 132
3.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nội dung phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới trên cơ sở kế thừa, vận dụng và phát triển quan điểm Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa 149
3.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VỚI TƯ CÁCH NỀN TẢNG TINH THẦN XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ ĐỐI MỚI 164
3.2.1 Phát triển văn hóa với với thực hiện chiến lược xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện 164
3.2.2 Phát triển văn hóa với tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội 170
3.2.3 Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam với chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa 177
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 186
PHẦN KẾT LUẬN 189
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 194 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa diễn ra tại Vơnivơ (Italia), năm 1970, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO - Fiderico Mayor đã đưa ra một khái niệm văn hóa mà theo đó, văn hóa là cái vừa mang tính khái quát, vừa mang tính đặc thù Khái niệm văn hóa mà Fiderico Mayor đưa ra đã được cộng đồng quốc tế công nhận, đó là: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”[101, tr.798]
Theo khái niệm hay định nghĩa đó thì văn hóa Việt Nam là bao gồm tất
cả những giá trị vật chất và tinh thần, là sự thể hiện tư duy sáng tạo, sáng tác, phát minh, là ý thức về ngôn ngữ, về lịch sử, về kinh tế, chính trị, xã hội và về đạo đức, thẩm mỹ của người Việt Nam Nền văn hóa Việt Nam hôm nay là thành quả của hàng ngàn năm lao động sáng tạo và đấu tranh kiên cường trong công cuộc dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Bằng lao động sáng tạo, bằng ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất, dân tộc Việt Nam đã xây đắp nên một nền văn hóa kết tinh sức mạnh và in đậm dấu
ấn bản sắc dân tộc, chứng minh hùng hồn cho sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nền văn hóa ấy còn là kết quả của sự giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhiều nền văn minh nhân loại trên con đường không ngừng tự hoàn thiện và phát triển của nó
Trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khi Đảng Cộng sản Việt Nam xác định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, văn hóa mácxít
mà cốt lõi, nền tảng là quan điểm văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa
Trang 7Mác - Lênin đã trở thành một trong những cội nguồn văn hóa chủ đạo trong nền văn hóa Việt Nam hôm nay Đóng góp quan trọng nhất của văn hóa mácxít nói chung, quan điểm văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng là góp phần xây dựng phương pháp tư duy khoa học về thế giới, về lịch sử, về lẽ sống con người, làm cho văn hóa Việt Nam mang tính hiện đại và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển của mình Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Hội nghị Trung ương năm khóa VIII đưa ra đến nay vẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng
và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huy trong thời kỳ mới Với quan điểm đó, Đảng ta đã xác định: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước
và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường, xây
dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, tạo
ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”[15, tr.54-55] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội
XI của Đảng thông qua đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”[17, tr.75-76]
Trang 8Với quan điểm “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người
và xây dựng con người để phát triển văn hóa”, tại Hội nghị Trung ương chín khóa XI, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo”[18, tr.48-49] Do vậy, có thể nói, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, “phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện Làm cho giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực, mọi mặt hoạt động, mọi quan hệ xã hội, thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển bền vững”[19, tr.28,29], mà Đảng ta đã khẳng định tại Đại hội XII của Đảng, không thể thiếu đóng góp quan trọng của văn hóa mácxít nói chung, quan điểm về văn hóa và phát triển văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng Qua đó, khẳng định việc nghiên cứu văn hóa và phát triển văn hóa từ quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định, định hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội, cần được coi là việc làm vừa có ý nghĩa lý luận bức thiết, vừa có ý
nghĩa thực tiễn thiết thực Đó là lý do mà tác giả chọn vấn đề “Phát triển văn hóa từ quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới” làm đề tài luận án tiến sỹ
Trang 92 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Từ năm 70 của thế kỷ XX, ở Liên Xô trước đây, các nhà lý luận mácxít
đã có nhiều công trình chuyên khảo liên quan đến vấn đề về quan điểm của
các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa và phát triển văn hóa
như: Bale A.E, “Tính kế thừa trong phát triển văn hóa”, Mátxcơva, 1969; Migôlatep A.A, “Triết học văn hóa”, Mátxcơva, 1975; Acnônđốp A.I (chủ biên), “Cơ sở lý luận văn hóa Mác – Lênin”, Mátxcơva, 1976; Actanốpxki, Lêningrát, “Một số vấn đề lý luận văn hóa”, Mátxcơva, 1977; v.v… Những
công trình này có nhiều luận điểm khoa học có giá trị có thể tiếp tục kế thừa, song cũng có nhiều luận điểm và kết luận đòi hỏi phải được bổ sung cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống hiện nay
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần nói đến và khẳng định quan điểm về văn hóa và phát triển văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các văn kiện đại hội của Đảng và các văn kiện hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng mà lần đầu tiên, cách đây tròn 70 năm, trong “Đề
cương văn hóa Việt Nam” do cố Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo và
được thông qua tại Hội nghị Ban Thường vụ Đảng Cộng sản Đông Dương (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam) diễn ra từ ngày 25 đến ngày 28
tháng 2 năm 1943, ở Võng La, Đông Anh, Hà Nội Trong báo cáo “Chủ
nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam” đọc tại Hội nghị này, cố Tổng Bí
thư Trường Chinh đã nói rõ quan điểm, chủ trương của Đảng ta là vận dụng một cách toàn diện và có hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa và phát triển văn hóa vào thực tiễn xây dựng và phát triển nền văn hóa mới Việt Nam Quan điểm và chủ trương này của Đảng ta, đã nhiều lần nhắc lại trong các văn kiện mà gần nhất là Nghị quyết Trung ương chín khóa
XI và Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 10Trong công cuộc xây dựng xã hội mới vấn đề trên đã thu hút sự quan tâm, tập trung nghiên cứu của giới nghiên cứu lý luận nước ta, nhất là từ khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, và khi Đảng ta khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động trong công cuộc đổi mới, trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Mặc dù chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về vấn đề này, nhưng từ những góc độ khác nhau và theo những mục đích khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu, học giả trong giới nghiên cứu lý luận nước ta đã đề cập đến khía cạnh này hay khía cạnh khác về quan điểm về văn hóa và phát triển văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Trong số các công trình đó, chúng ta có thể kể đến một số công trình của các tác giả sau đây:
Thứ nhất, các công trình khoa học liên quan đến quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa và phát triển văn hóa
“Tìm hiểu về văn hóa văn minh”, tác giả Hồ Sĩ Quý (1999), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Trong phần I của công trình này, “Văn hóa
và tính đa nghĩa của khái niệm văn hóa”, tác giả đã dành một tiết (tiết 6), để
nói về quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vai trò của văn hóa
“Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa”, tác giả Phạm Duy
Đức (2001) chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Đây là công trình tập hợp nhiều bài viết của nhiều nhà nghiên cứu nước ta trong đó có một số bài viết trực tiếp đề cập đến quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về văn hóa
“Chủ nghĩa Mác- Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt nam”, tác giả
Đặng Hữu Toàn (2002), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Trong
Trang 11phần V của công trình này, tác giả đã dành một tiết để trình bày vắn tắt về quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa và vai trò của văn hóa trong công cuộc xây dựng xã hội mới
“Tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa và
sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, luận án tiến sĩ triết học của tác giả Thái Thị
Thu Hương (2004), bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Luận án đã dành một chương phân tích và luận giải khá rõ về quan niệm của V.I.Lênin về văn hóa và vai
trò của văn hóa trong công cuộc xây dựng xã hội mới
“Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới - những thời cơ và thách thức”, tác giả Trần Văn Bính (2010), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà
Nội Trong phần I của công trình này, “Vấn đề văn hóa trong di sản lý
luận kinh điển”, tác giả đã đề cập đến cách tiếp cận quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về văn hóa; quan điểm của C.Mác về con người và sự nghiệp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay; chính sách văn hóa của V.I.Lênin và sự nghiệp đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội hiện nay
Ngoài ra, còn có thể kể đến một số bài viết của các tác giả như: Lê Thanh Sinh (1998), “V.I.Lênin nói về vai trò của văn hóa trong công cuộc
xây dựng xã hội mới”, đăng trong công trình,“Văn hóa và phát triển ở thành
phố Hồ Chí Minh”, do Nguyễn Thế Nghĩa và Lê Hồng Liêm đồng chủ biên,
Nhà xuất bản Sở Văn hóa – Thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh; Trần Thị Minh (2010), “Quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của văn hóa và phát triển
văn hóa trong thời kỳ quá độ”, Tạp chí Triết học, số 4 - 2010; v.v…
Như vậy, có thể nói, các công trình, bài viết trên đã ít nhiều bàn về quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa và phát
Trang 12triển văn hóa trên một phương diện nào đó và từ những cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, các công trình, bài viết trên chưa đề cập đến những giá trị lịch sử được rút ra từ việc nghiên cứu những quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa và phát triển văn hóa Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu những quan điểm về văn hóa và phát triển văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất là về những giá trị lịch sử, vẫn cần phải được tiếp tục để có được cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn
Thứ hai, các công trình khoa học liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển văn hóa
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người”, tác giả
Đặng Xuân Kỳ (2005) chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Công trình gồm ba phần: phần thứ nhất, tư tưởng về văn hóa và con người trong lịch sử và sự kế thừa của Hồ Chí Minh; phần thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người; phần thứ ba, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người vào việc phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam hiện nay Nội dung cuốn sách được kết cấu một cách logic, chặt chẽ, mạch lạc, công phu đã làm nổi bật sâu sắc tầm nhìn xa trông rộng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người Việt Nam Trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo đó, tác giả đã đề xuất những kiến nghị về xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
“Bác Hồ với nhân sĩ, trí thức”, tác giả Trần Đương (2005), Nhà xuất
bản Thông tấn, Hà Nội Đây là công trình được tác giả chắt lọc từ nhiều nguồn tư liệu, sách báo, lời kể của các nhân chứng, hệ thống hóa thành những bài viết xung quanh mối quan hệ và ảnh hưởng của lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với các nhân sĩ, trí thức Việt Nam giai đoạn đất nước mới giành được độc lập
Trang 13“Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, tác giả Hoàng Chí Bảo (2006), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã dành một chương (chương II, phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh), để nói về những nguyên tắc chỉ đạo việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người vào chiến lược phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam hiện nay; xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng con người Việt Nam theo
chiến lược “trồng người” của Hồ Chí Minh
“Văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, tập thể
tác giả Đinh Xuân Lâm và Bùi Đình Phong (2008), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Đây là công trình tập hợp các bài viết của các giả liên quan đến nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh
“Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới – những thời cơ và thách thức”, tác giả Trần Văn Bính (2010), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội
Tác giả đã đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người và sự nghiệp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo”, tập thể tác giả Phạm
Ngọc Anh và Nguyễn Thị Kim Dung (2011), đồng chủ biên, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Đây là công trình tập hợp nhiều bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu về nội dung liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, mục
Trang 14Ngoài ra, còn có thể kể đến một số công trình, bài viết của các tác giả
có đề cập ít nhiều đến tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển văn
hóa như: “Văn hóa và đổi mới”, tác giả Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1994), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Văn hóa xã hội chủ
nghĩa”, tập thể tác giả Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh (1995), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;
“Vấn đề văn hóa và phát triển”, tác giả Hoàng Trinh (1996), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Tìm hiểu về văn hóa, văn minh”, tác giả Hồ Sĩ Quý (1999), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;“Văn hóa- mục tiêu và
động lực của sự phát triển xã hội”, tác giả Trần Bạch Đằng (2000), Nhà xuất
bản Thành phố Hồ Chí Minh; “Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn
hóa”, tác giả Hoàng Trinh (2000), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Giáo trình “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng”, tập thể tác giả
Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(2000), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Vai trò của văn hóa trong
đời sống xã hội”, tác giả Trịnh Đình Bảy (2001), Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội; “Văn hóa và phát triển”, tác giả Đỗ Huy (2005), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Văn hóa mục tiêu và động lực của sự phát
triển”, tác giả Nguyễn Văn Huyên (2006), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội; “Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa”, tác giả Nguyễn Văn Dân (2006), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội; “Văn hóa
và triết lý phát triển văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, tập thể tác giả
Đinh Xuân Lâm và Bùi Đình Phong (2007), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội; “Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa”, tác giả Phạm Duy Đức (2008) chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Một số
chuyên đề văn hóa và phát triển”, tác giả Giang Thị Huyền (2011) chủ biên,
Nhà xuất bản Chính trị hành chính, Hà Nội; v.v…
Trang 15Như vậy, các công trình, bài viết trên đã ít nhiều bàn về tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển văn hóa trên các phương diện khác nhau Tuy nhiên, các công trình, bài viết trên chưa đề cập nhiều đến việc Hồ Chí Minh tiếp thu, phát triển các quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác- Lênin về văn hóa và phát triển văn hóa Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển văn hóa, nhất là về việc tiếp thu, phát triển các quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác- Lênin về văn hóa và phát triển văn hóa của Hồ Chí Minh, vẫn cần phải được tiếp tục
để có được cái nhìn đầy đủ hơn
Thứ 3, các công trình khoa học liên quan đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển văn hóa trong công cuộc đổi mới đất nước
“Tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa và
sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại họa đất nước”, luận án tiến sĩ triết học của tác giả Thái Thị
Thu Hương (2004), bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Luận án đã dành một chương phân tích và luận giải khá rõ về sự vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin về văn hóa xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước của Đảng Cộng sản Việt Nam
“Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, tác giả Hoàng Chí Bảo (2006),
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã dành một chương để nói về quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
“Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới – những thời cơ và thách thức”, tác giả Trần Văn Bính (2010), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà
Trang 16Nội Tác giả đã đề cập đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con
người và sự nghiệp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay
“Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 – Những vấn đề phương pháp luận”, tác giả Phạm Duy Đức (2010) chủ biên, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội Đây là công trình tập hợp nhiều bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu xoay quanh vấn đề “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” trên cơ sở tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, qua đó nhằm phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa Việt Nam và thực trạng lãnh
đạo, quản lý văn hóa của Đảng và Nhà nước…
“Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng con người mới, văn hóa mới”, tác giả Nguyễn Trung Thu (2013), Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Đây là công trình tập hợp các bài viết của chính tác giả đã được công bố trên các báo, tạp chí, hội thảo,…về chủ đề xây dựng con người mới, văn hóa mới theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
“Vấn đề phát triển văn hóa - Qua Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
XI”, tập thể tác giả Đỗ Ngọc Anh và Đỗ Thị Minh Thúy (2013) đồng chủ
biên, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa Đây là công trình tập hợp nhiều bài viết của các học giả, nhà nghiên cứu xoay quanh vấn đề
lý luận về phát triển văn hóa; vấn đề xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện nay; vấn đề phát triển văn hóa trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh của phát triển đấ nước; vấn
đề phát triển văn hóa toàn diện, thống nhất trong đa dạng; vấn đề xây dựng văn hóa và phát triển con người Việt Nam…
Ngoài ra, còn có thể kể đến một số công trình, bài viết ít nhiều có liên
quan như sau: “Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay”,
tác giả Trần Văn Bính (1998), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Trang 17“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc”, tác giả Nguyễn Khoa Điềm (2002), Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội; “Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tác giả Nguyễn Khoa Điềm (2003), Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Những thách thức của văn hóa Việt Nam
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả Phạm Duy Đức (2006)
chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội; “Sự
biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Duy Bắc (2008), Nhà xuất bản Từ điển bách
khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội; “Văn hóa và con người việt Nam trong đổi
mới và hội nhập quốc tế”, tác giả Hoàng Chí Bảo (2010), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Thành tựu trong xây dựng và phát triển văn
hóa Việt Nam 25 năm đổi mới ( 1986 – 2010)”, tác giả Phạm Duy Đức
(2010) chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Văn hóa Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả Nguyễn Chí Bền
(2010), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thị
Hương (2011) chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; v.v… Các công trình, bài viết trên đã ít nhiều bàn đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng như việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới trên các phương diện và cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, việc tìm hiểu, nghiên cứu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội trong giai đoạn hiện nay vẫn cần phải được tiếp tục nghiên cứu nhằm tìm ra những định hướng giải pháp phù hợp
Trang 183 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Phân tích và làm sáng tỏ nội dung văn hóa và phát triển văn hóa từ quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Từ
đó, khẳng định cơ sở lý luận cho Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc hoạch định, định hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết ba nhiệm
vụ chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, trình bày và phân tích quan điểm của các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác – Lênin về văn hóa và phát triển văn hóa
Thứ hai, trình bày và phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về văn
hóa và phát triển văn hóa
Thứ ba, trình bày và phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận của luận án
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và phát triển văn hóa
Luận án dựa trên chính di sản lý luận của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của các tác giả đi trước
Trang 194.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Để nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp như phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, khái quát hóa và đặc biệt là phương pháp phân tích văn bản
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa và phát triển văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển văn hóa và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các di sản lý luận của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh và các văn kiện, tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam
6 Đóng góp mới và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận án
6.1 Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án khẳng định ý nghĩa lịch sử trong quan điểm của các
nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa và phát triển văn hóa
Thứ hai, luận án góp phần làm sáng tỏ sự kế thừa, vận dụng và phát
triển sáng tạo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa và phát triển văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ ba, luận án góp phần khẳng định đường lối, nội dung và định hướng
phát triển văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa
6.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ở một mức độ nhất định về phương diện lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa và
Trang 20phát triển văn hóa; tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển văn hóa; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới
Luận án góp phần làm cơ sở lý luận cho Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định, định hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội Luận
án có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, phát triển văn hóa nói riêng trong các trường Đại học, Cao đẳng trên toàn quốc
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết kuận, mục tài liệu tham khảo, luận án gồm ba chương 7 tiết
Trang 21Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ SÁNG LẬP CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VĂN HÓA
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
1.1 QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Như chúng ta đều biết, trong di sản lý luận đồ sộ để lại cho nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen không dành riêng một tác phẩm nào để nói về văn hóa và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội Đó là sự thật Nhưng không phải vì thế mà cho rằng các ông không dành sự quan tâm về phương diện lý luận cho những vấn đề của văn hóa Bởi lẽ, dẫu là không dành riêng một tác phẩm nào để chuyên bàn về văn hóa, song bản thân di sản lý luận của các ông cũng đã là một sản phẩm, một di sản văn hóa mà các ông để lại cho nhân loại và hơn nữa, trong không ít tác phẩm các ông còn trực tiếp luận bàn về văn hóa, về vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội
1.1.1 Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về văn hóa
Ngay từ những tác phẩm đầu tay, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra quan niệm của các ông về văn hóa và khẳng định quan điểm phát triển văn
hóa với tư cách nền tảng tinh thần xã hội Trong Bản thảo kinh tế - triết
học năm 1844, C.Mác đã đưa ra quan niệm, văn hoá là toàn bộ những
thành quả được tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con người - hoạt động sản xuất vật chất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực của con người Văn hoá là "thiên nhiên thứ hai" - thiên nhiên được con người cải biến, được nhân hoá, mang ý nghĩa và nội dung con người Văn hoá là "tác phẩm của con người", là phương thức hoạt động sống đặc thù của con người - phương thức mà con người "nhào nặn", tạo dựng thế giới tự nhiên cho mình "theo các quy luật của cái đẹp" C.Mác viết: "Việc tạo một cách
Trang 22thực tiễn ra thế giới vật thể, việc cải tạo giới tự nhiên vô cơ là sự tự khẳng định của con người với tư cách là một sinh vật có tính loài, có ý thức, nghĩa là sinh vật đối xử với loài như với bản chất của chính mình, hoặc đối
xử với bản thân mình như với một sinh vật có tính loài Cho nên chính trong việc cải biến thế giới vật thể, con người lần đầu tiên thực sự khẳng định mình là một sinh vật có tính loài Sự sản xuất đó là đời sống có tính loài tích cực của con người Nhờ sự sản xuất đó, giới tự nhiên biểu hiện ra
là tác phẩm của nó (con người) và thực tại của nó"[68, tr.136,137]
Với tư cách là "tác phẩm của con người", là "thực tại" - "giới tự nhiên thứ hai" của con người, văn hoá đã được C.Mác đồng nhất với phương thức hoạt động sống đặc thù, phương thức hoạt động sống riêng có của con người - phương thức mà con người sử dụng lao động sáng tạo, hoạt động sản xuất vật chất của mình để không chỉ biến đổi và cải tạo giới tự nhiên xung quanh mình, cải tạo hiện thực khách quan, mà còn "xây dựng" hiện thực khách quan ("thực tại") cho mình, "tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên" và cải biến giới tự nhiên
đó thành "giới tự nhiên thứ hai" Giới tự nhiên đó là giới tự nhiên cho sự tồn tại
và sự phát triển của con người, của xã hội loài người, được chính con người
“xây dựng theo các quy luật của cái đẹp"[68, tr.137] Nói cách khác, với C.Mác, văn hóa là “giới tự nhiên thứ hai” do con người sáng tạo ra
Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của C.Mác, văn hoá là cái phản ánh tính đặc thù của hoạt động con người và sự tồn tại cũng với tính đặc thù như vậy của con người trong thế giới Theo quan niệm đó, chúng ta còn có thể nói rằng, với C.Mác, văn hoá chỉ xuất hiện khi con người ý thức được một cách rõ ràng về đời sống xã hội của họ, về hoạt động lao động sáng tạo, hoạt động sản xuất vật chất để cải tạo và biến đổi tự nhiên vì sự tồn tại và phát triển của chính họ, vì cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn của họ, của xã hội loài người Nói cách khác, trong quan niệm của C.Mác, văn hoá là cái
Trang 23phản ánh việc con người tự ý thức về vai trò độc lập của mình, về khả năng
và năng lực sáng tạo của mình trong việc cải tạo và biến đổi tự nhiên vì sự tồn tại và phát triển của chính con người, của xã hội loài người Thêm nữa, trong quan niệm đó của C.Mác còn cho thấy chủ thể của văn hoá là con
người, văn hoá là văn hoá của con người, do con người tạo ra cho chính
mình và con người sử dụng cái do chính mình tạo ra là văn hoá để phát triển năng lực bản chất của mình trong quá trình cải tạo và biến đổi tự nhiên Bằng hoạt động lao động sản xuất của mình, con người không chỉ cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, mà còn cải tạo chính bản thân mình Trong quá trình cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính mình, con người ngày càng ý thức một cách rõ ràng hơn sức mạnh sản xuất xã hội của lao động con người
và họ cũng ngày càng ý thức một cách đầy đủ hơn khả năng, năng lực sáng tạo mang bản chất người - tái sản xuất ra giới tự nhiên, "xây dựng" giới tự nhiên cho chính con người "theo các quy luật của cái đẹp" Bằng cách đó, bằng hoạt động, lao động sáng tạo đó và với chính sự tồn tại của mình trong thế giới hiện thực, con người đã tự xác định cho mình ranh giới phân biệt phương thức hoạt động sống của họ với phương thức hoạt động sinh tồn của loài vật Ranh giới đó chính là văn hoá
Như vậy, chúng ta còn có thể nói, trong quan niệm của C.Mác, văn hoá
là cái thể hiện sự giải phóng của con người, sự tự giải phóng của con người khỏi những ràng buộc và sự thống trị với một sức mạnh bí ẩn của thế giới tự nhiên và thế giới "thần thánh" mà con người tưởng tượng ra do sự bất lực của mình trước giới tự nhiên đầy bí ẩn Văn hoá là cái ghi nhận lĩnh vực hiện thực được quy định không phải bởi tính thiết yếu tự nhiên và sự tiên định của Thượng đế hay một đấng sáng thế nào đó, mà bởi hoạt động, lao động sáng tạo của con người với tư cách một thực thể độc lập, có ý thức, có năng lực tư duy và khả năng, năng lực lao động sáng tạo
Trang 24Không chỉ thế, trong quan niệm của C.Mác, thế giới văn hoá là thế giới của con người, thế giới do con người tạo ra cho chính mình và với nghĩa đó, con người là chủ thể sáng tạo văn hoá, văn hoá là thành quả sáng tạo, là sự
"xây dựng" thế giới hiện thực của con người Con người tạo ra thế giới văn hoá cho mình bằng hoạt động có ý thức, bằng lao động sáng tạo của mình
Do vậy, khi nói tới văn hoá không phải là nói tới cái thế giới sự vật và các tư tưởng tự nó, mà là nói tới con người đã tạo ra nó Song, sự phát triển của con người lại chính là kết quả của quá trình hoạt động có ý thức, lao động sáng tạo của bản thân con người và do vậy, nói tới văn hoá là nói tới hoạt động có ý thức, lao động sáng tạo của con người và kết quả của hoạt động, lao động đó Cũng do vậy, qua hình thức văn hoá của vật thể, chúng ta có thể phán xét về con người đã tạo ra những vật thể văn hoá đó, về những đặc trưng, tính chất của thời đại đã sản sinh ra chúng, về trình độ phát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ của con người trong một thời đại lịch sử nào đó Quan niệm của C.Mác về văn hoá còn cho thấy, văn hoá là cái thể hiện sức mạnh xã hội của hoạt động lao động sản xuất của con người Nói cách khác, hoạt động lao động sản xuất của con người - cái thể hiện năng lực sáng tạo của con người, năng lực tạo ra toàn bộ sự phong phú, đa dạng cho tồn tại đích thực của con người, hình thành mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên xung quanh và quan hệ của con người với con người trong cộng đồng xã hội - chính là cội nguồn của văn hoá Song, nội dung của văn hoá không chỉ thể hiện ra ở đó, ở hoạt động lao động sản xuất của con người, mà còn thể hiện ra ở sự phát triển của bản thân con người trong toàn
bộ tính đa dạng và toàn diện của sự tồn tại xã hội của con người, ở sự phát triển và hoàn thiện của con người cả về thể xác lẫn tâm hồn, cả về đạo đức lẫn năng lực trí tuệ của con người Theo đó, văn hoá với tư cách phương thức hoạt động sống đặc thù của con người cần phải được hiểu là hoạt động
Trang 25đó không phải chỉ là hoạt động lao động sản xuất nhằm tạo ra những vật phẩm thiết yếu cho cuộc sống con người, mà còn là hoạt động tinh thần, hoạt động giáo dục và khai sáng theo nghĩa rộng nhất của từ này để tạo nên những sản phẩm tinh thần cho con người, cho thế giới con người, làm nên nền tảng tinh thần của xã hội - cái ghi nhận tầm cao và chiều sâu phát triển của một cộng đồng xã hội, tạo ra hệ các giá trị nhân đạo, nhân văn cho một cộng đồng xã hội và là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, giữa con người với xã hội và với tự nhiên, quan hệ tạo nên một chỉnh thể thống nhất: con người - tự nhiên - xã hội
Với tư cách phương thức hoạt động sản xuất tinh thần, văn hoá là lĩnh vực hoạt động tích cực của con người nhằm sản xuất và tái sản xuất ra bản thân mình với tư cách một thực thể xã hội Đó là hoạt động của con người nhằm tạo ra một hệ thống những giá trị mang tính định hướng cho sự phát triển ý thức con người và cho lối ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội Với hệ thống những giá trị định hướng này, mỗi nền văn hoá trở thành một hệ thống những biểu tượng bao hàm trong đó các khuôn mẫu ứng xử xã hội của con người Đó còn là hoạt động của con người nhằm tạo ra một hệ thống những thể chế mà qua đó, những giá trị định hướng, những giá trị làm nên truyền thống được giữ gìn, lưu truyền và phổ biến trong cộng đồng xã hội, trở thành tài sản của mỗi người, của tất cả mọi người trong cộng đồng
xã hội ấy và trên hết, làm nên truyền thống văn hoá cho một cộng đồng xã hội, một quốc gia hay một cộng đồng dân tộc
1.1.2 Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội
Trong quan niệm của C.Mác, hai phương thức hoạt động sống mang tính nền tảng của con người, làm cho con người trở thành một thực thể sinh học - xã hội, đưa con người "từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc
Trang 26của tự do" đó là hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động sản xuất tinh thần Hai phương thức này tồn tại không tách rời nhau mà thống nhất với nhau, tạo thành hoạt động sản xuất xã hội - vật chất và tinh thần, sản xuất và tái sản xuất ra con người trong hệ thống các quan hệ xã hội Trong hoạt động sản xuất vật chất, con người gián tiếp tạo ra chính mình với tư cách một thực thể sinh học và đến lượt mình, thực thể sinh học ấy phát triển và hoàn thiện các khả năng và sức mạnh thân xác của nó Trong hoạt động tinh thần, con người gián tiếp tạo ra mình với tư cách một thực thể xã hội và đến lượt mình, thực thể xã hội ấy phát triển, hoàn thiện ý thức con người, sức mạnh trí tuệ, sức mạnh xã hội của nó Bằng hoạt động sản xuất xã hội
ấy - hoạt động nền tảng của con người, con người tạo ra nền văn hoá của mình, sống trong nền văn hoá đó và làm cho nền văn hoá ấy ngày một phát triển, ngày một hoàn thiện vì cuộc sống ngày càng cao đẹp của mình, vì một xã hội nhân đạo, nhân văn, công bằng, dân chủ, văn minh Theo cách nói của C.Mác, sống trong nền văn hóa do mình sáng tạo ra, “con người nhân đôi mình không chỉ về mặt trí tuệ như xảy ra trong ý thức nữa, mà còn nhân đôi mình một cách hiện thực, một cách tích cực”[68, tr.137] Không chỉ thế, C.Mác còn cho rằng, khi sống trong nền văn hóa do mình sáng tạo ra một cách tích cực, “con người ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạo ra”[68, tr.137] Thông qua kết quả hoạt động nền tảng của mình là văn hóa, con người phán xét toàn bộ lịch sử sinh thành và phát triển của nhân loại, thẩm định hệ thống những giá trị con người - những giá trị định hướng cho hoạt động con người, xác định cả nội hàm lẫn ngoại diên của hệ thống những giá trị ấy và để rồi lại thể hiện chúng qua nền văn hoá của mình
Theo đó mà kết quả hoạt động của con người trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, như kinh tế, chính trị, khoa học, v.v., cũng được phản
Trang 27ánh trong nền văn hoá nhân loại và trở thành những yếu tố cấu thành nền văn hoá ấy khi chúng mang ý nghĩa và nội dung con người
Khi khẳng định vai trò quyết định của quá trình sản xuất vật chất đối với toàn bộ sự vận động xã hội, C.Mác và người đồng quan điểm với ông, người bạn trung thành trong suốt cuộc đời hoạt động lý luận và thực tiễn cách mạng của ông, người đã cùng ông trở thành những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác là Ph.Ăngghen đã gián tiếp thừa nhận vai trò quyết định của văn hoá vật chất đối với sự phát triển của đời sống xã hội Song, với quyết định luận duy vật nhất nguyên và triệt để của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen không thừa nhận văn hoá tinh thần (ý thức, tư tưởng, tình cảm, ý chí, ) là cơ sở cuối cùng của sự phát triển xã hội, là cái đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển xã hội nói riêng, sự vận động và phát triển của lịch sử nhân loại nói chung Vận dụng quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào việc xem xét mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi đến kết luận nhất quán về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội Mặc dù đã ý thức rất rõ ràng và cũng đã khẳng định một cách dứt khoát tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội, song trước sau, không bao giờ các ông coi ý thức
xã hội là nhân tố đóng vai trò quyết định cuối cùng đối với sự phát triển của
xã hội, đối với sự vận động và phát triển của lịch sử nhân loại
Thật vậy, trong một tác phẩm mang tính cương lĩnh - Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản, - C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: "Lịch sử tư tưởng chứng
minh cái gì, nếu không phải là chứng minh rằng sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất? Khi người ta nói đến những tư tưởng đang cách mạng hoá cả một xã hội thì như thế là người ta chỉ nêu ra sự thật này là trong lòng xã hội cũ, những yếu tố của một xã hội mới đã hình thành và sự tan rã của những tư tưởng cũ đi đôi với sự tan rã của những điều kiện sinh hoạt
Trang 28cũ"[59, tr.625] Với quan điểm này, các ông đã khẳng định, không cần phải sáng suốt lắm, người ta cũng có thể hiểu được rằng “những tư tưởng, những quan điểm và những khái niệm của con người, tóm lại là ý thức của con người, đều thay đổi cùng với mọi sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sinh hoạt, trong quan hệ xã hội, trong đời sống xã hội của con người…"[59, tr.624] Khi khẳng định sự phụ thuộc của các yếu tố tinh thần vào các yếu tố vật chất, sự biến đổi của các yếu tố tinh thần là do sự biến đổi của các yếu tố vật chất, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thông qua đó để gián tiếp khẳng định sự phụ thuộc của đời sống tinh thần, văn hoá tinh thần vào đời sống vật chất, văn hoá vật chất Nhưng không phải trong mọi trường hợp, C.Mác và Ph.Ăngghen đều phủ nhận vai trò của các yếu tố tinh thần, văn hoá tinh thần đối với quá trình vận động của lịch sử và sự phát triển của xã hội Chính các ông cũng đã có lúc thừa nhận vai trò to lớn của các yếu tố tinh thần, văn hoá tinh thần đối với quá trình vận động của lịch sử và sự phát triển của xã hội Ph.Ăngghen, trong thư gửi Phrantxơ Merinh, ngày 14 tháng Bảy năm 1893
đã thừa nhận rằng, cả ông và C.Mác "đã và đã phải nhấn mạnh chủ yếu
trước hết đến sự thật là những quan niệm chính trị, pháp lý và những quan điểm tư tưởng khác và những hành vi do chúng quy định đều được rút ra từ các thực tế kinh tế là cơ sở của chúng Đồng thời, lúc bấy giờ vì nội dung
mà chúng tôi đã coi nhẹ vấn đề hình thức: sự hình thành những quan niệm
đó diễn ra bằng những con đường nào v.v."[67, tr.132] Chính vì điều đó, Ph.Ăngghen thừa nhận rằng, các ông đã khiến cho kẻ thù tư tưởng của mình
có được "cái cớ hằng mong muốn để giải thích méo mó, cũng như để xuyên tạc" và ông coi đó là lỗi cả của ông và của C.Mác
Một lần nữa khẳng định quan niệm của C.Mác và của chính ông về tính độc lập tương đối, về vai trò tích cực của các yếu tố tinh thần, văn hoá tinh thần đối với sự phát triển lịch sử, Ph.Ăngghen đã viết: "Có một quan niệm
Trang 29phi lý của những nhà tư tưởng: trong khi không thừa nhận sự phát triển lịch
sử độc lập của những lĩnh vực tư tưởng khác nhau đóng một vai trò trong lịch sử, chúng ta cũng phủ nhận mọi khả năng của nó tác động đến lịch sử
Cơ sở của điều đó là quan niệm rập khuôn, phi biện chứng về nguyên nhân
và kết quả với tính chất là hai cực đối lập nhau một cách bất biến, và tác động qua lại thì hoàn toàn bị bỏ qua Các ngài đó thường hầu như cố ý quên rằng hiện tượng lịch sử, nếu nó ra đời do những nguyên nhân thuộc loại khác, cuối cùng là những nguyên nhân kinh tế, thì ngay lập tức đến lượt nó lại trở thành một nhân tố tích cực, có thể có tác động trở lại đối với môi trường xung quanh, và thậm chí đối với cả những nguyên nhân đã sản sinh
kinh tế không phải là cái duy nhất và chỉ khi "xét đến cùng" thì yếu tố kinh
tế mới là cái quyết định, ông cũng đã nói tới vai trò của yếu tố tinh thần, văn hoá tinh thần đối với sự phát triển lịch sử Ông viết: "Theo quan niệm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng
là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Cả tôi và C.Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế Còn nếu có ai đó xuyên tạc luận điểm này theo
ý nghĩa nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất, thì người đó biến lời khẳng định này thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa Tình hình kinh tế là cơ sở hạ tầng, nhưng các yếu tố khác nhau của kiến trúc thượng tầng: các hình thức chính trị của cuộc đấu tranh giai cấp và kết quả của nó - chế độ nhà nước do giai cấp chiến thắng thiết lập sau cuộc đấu tranh thắng lợi v.v., các hình thức pháp luật và thậm chí sự phản ánh của
Trang 30tất cả những cuộc đấu tranh thực tế ấy trong đầu óc của những người tham gia các học thuyết chính trị, pháp lý, triết học, các quan điểm tôn giáo và
sự phát triển tiếp theo của chúng thành hệ thống giáo lý cũng có ảnh hưởng đến quá trình cuộc đấu tranh lịch sử và trong nhiều trường hợp chiếm ưu thế trong việc quyết định hình thức của cuộc đấu tranh ấy ”[65, tr.641-642] Không chỉ thế, Ph.Ăngghen còn nhấn mạnh: “Chúng ta làm nên lịch
sử của chúng ta, nhưng, thứ nhất, chúng ta làm ra lịch sử với những tiền đề
và những điều kiện rất xác định Trong số những tiền đề và điều kiện ấy thì những tiền đề và điều kiện kinh tế, rốt cục giữ vai trò quyết định Nhưng, những điều kiện chính trị v.v., ngay cả những truyền thống tồn tại trong đầu óc con người cũng đóng một vai trò nhất định, tuy không phải là vai trò quyết định ”[65, tr.642] Với quan điểm đó, Ph.Ăngghen thẳng thắn thừa nhận: “C.Mác và tôi phần nào có lỗi trong việc là giới trẻ đôi khi coi trọng mặt kinh tế nhiều hơn mức cần thiết Trong khi phản bác những người chống chúng tôi, chúng tôi đã phải nhấn mạnh nguyên lý chủ yếu mà
họ bác bỏ, và không phải lúc nào cũng tìm được thời gian, địa điểm và khả năng để đánh giá đúng những nhân tố còn lại tham gia vào sự tác động qua lại” Khi thẳng thắn thừa nhận sai lầm đó, Ph.Ăngghen vẫn kiên quyết khẳng định: “Nhưng khi phải giải thích một thời kỳ lịch sử nào đó, nghĩa là khi phải vận dụng vào thực tiễn, thì sự việc lại khác hẳn, và ở đây không thể có một sai lầm nào"[65, tr.644]
Hơn thế nữa, khi thừa nhận yếu tố kinh tế là "động lực chủ yếu" của tiến bộ xã hội và trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, nó "ngày càng trở thành động lực chủ yếu" của tiến bộ xã hội, Ph.Ăngghen đã coi mọi ý đồ cố gắng để tìm những nguyên nhân kinh tế và chỉ tìm trong những nguyên nhân kinh tế ấy lời giải đáp cho tiến bộ xã hội là "một sự cố chấp", cứng nhắc Trong thư gửi Boócghiút, ngày 25 tháng Giêng năm
Trang 311894, khi một lần nữa nhắc lại rằng, trong quan niệm của C.Mác và của
ông, những điều kiện kinh tế chỉ khi được “xét đến cùng” mới là cái quy
định sự phát triển của lịch sử, Ph.Ăngghen đã khẳng định: "Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật v.v., đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế Vấn đề hoàn toàn không phải là chỉ có hoàn cảnh kinh tế mới là nguyên nhân, chỉ có nó là tích cực, còn tất
cả những cái còn lại đều chỉ là hậu quả thụ động Không, ở đây tác động qua lại trên cơ sở tất yếu kinh tế, xét cho cùng bao giờ cũng mở đường đi cho mình"[67, tr.271]
Như vậy, có thể nói, ngay cả khi nhấn mạnh vai trò động lực, yếu tố quyết định của sản xuất vật chất, của văn hoá vật chất và những nhân tố kinh tế đối với sự vận động của lịch sử, đối với tiến trình phát triển của xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng không bao giờ phủ nhận hoặc đánh giá thấp tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại, kể cả tính vượt trước của sản xuất tinh thần, của những yếu tố tinh thần và văn hoá tinh thần đối với sản xuất vật chất, văn hoá vật chất và những nhân tố kinh tế khác Trong quan niệm của các ông, văn hoá luôn có ảnh hưởng, tác động đến tiến trình phát triển của lịch sử, đến sự phát triển xã hội Trong sự tác động và ảnh hưởng đó, văn hoá không chỉ tác động, ảnh hưởng đến nguyên nhân sinh ra nó - đến tồn tại xã hội, đến quá trình sản xuất vật chất của con người, mà còn "quyết định hình thức" của sự vận động lịch sử, của sự phát triển xã hội, đem lại cho con người sự điều chỉnh và định hướng hoạt động của mình và qua đó, điều tiết quá trình sản xuất vật chất, điều tiết sự phát triển xã hội Văn hóa, về một phương diện nào đó, còn đóng vai trò là cơ
sở, là nền tảng của sự phát triển xã hội, trở thành yếu tố cấu thành cơ sở, nền tảng tinh thần của xã hội
Trang 321.2 QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
1.2.1 Quan điểm của V.I.Lênin về văn hóa vô sản
Thống nhất với quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định rằng, văn hóa là một trong những hình thái kinh tế xã hội, phản ánh thực trạng xã hội và những quan hệ xã hội Cũng như hình thái ý thức xã hội khác, văn hóa tác động tích cực trở lại đời sống xã hội Đặc biệt trong quá trình phân tích mối quan hệ giữa văn hóa với đời sống xã hội, các ông đã vận dụng học thuyết đấu tranh giai cấp để lý giải các hiện tượng văn hóa Đồng thời cũng khẳng định rằng văn hóa có tính giai cấp, nhân dân, dân tộc
và nhân loại
Kế thừa và phát triển quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về văn hóa, V.I.Lênin đã đưa ra quan niệm của mình về văn hóa vô sản Theo V.I.Lênin, văn hóa vô sản phải mang theo một chất lượng mới của một nền văn hóa tiên tiến, phù hợp với sứ mệnh lịch sử vĩ đại của giai cấp công nhân trong thời đại mới Song, nền văn hóa ấy không phải tự nhiên mà có, nó là một sự kế tục, biết chọn lọc và tiếp thu những tinh hoa, giá trị cao đẹp của các nền văn hóa đã có trong lịch sử Ông viết: “Văn hoá vô sản không phải bỗng nhiên mà có, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia
về văn hoá vô sản, phát minh ra Đó hoàn toàn là điều ngu ngốc Văn hoá vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số những kiến thức mà loài người đã tích luỹ được dưới ách thống trị của xã hội tư bản Tất cả những con đường đó, lớn và nhỏ, đã, đang và sẽ tiếp tục đưa tới văn hoá vô sản"[53, tr.361]
Mặt khác, V.I.Lênin còn quan niệm văn hóa phải được hiểu là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, liên quan đến không chỉ là đời sống và thế giới tinh thần của mỗi con người mà còn tới đời sống và tổ chức các hoạt động của xã hội với những khác biệt về lợi ích và đa dạng về nhu cầu của các giai cấp,
Trang 33các nhóm xã hội, các cộng đồng dân cư, các dân tộc khác nhau Khi xã hội
đã phân chia thành giai cấp và tổ chức thành nhà nước, giai cấp thống trị nào cũng sử dụng văn hóa để truyền bá hệ tư tưởng, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp mình có vị trí thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội Do vậy,
trong xã hội có giai cấp văn hóa, đặt biệt là văn hóa tinh thần mang tính giai
cấp Việc sử dụng các thành tựu văn hóa, tiến hành các hoạt động văn hóa
thường bị chi phối bởi lợi ích và mục đích của giai cấp thống trị, của thể chế
mà giai cấp đó nắm quyền thống trị Từ quan điểm đó, V.I.Lênin cho rằng, trong lịch sử các cuộc đấu tranh giai cấp không chỉ mang nội dung kinh tế
và chính trị mà còn thể hiện đậm nét nội dung văn hóa, trong đó đặc biệt quan trọng là đấu tranh tư tưởng lý luận Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng nền văn hóa vô sản để sử dụng nó vào trong công cuộc xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng kinh tế, xã hội của xã hội đó
và nâng cao đời sống tinh thần cho quần chúng nhân dân lao động, giai cấp
vô sản cách mạng cần phải biết tiếp thu có chọn lọc thành quả văn hóa nhân loại Trong khi khẳng định tính giai cấp của văn hóa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định, sự phát triển của văn hóa vô sản như một tất yếu: “thứ đạo đức hiện nay đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai, tức là đạo đức vô sản, - là thứ đạo đức có một
số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài” [63, tr.136] Văn hóa không chỉ mang tính giai cấp mà còn mang tính nhân dân sâu sắc Trong xã hôi tư bản, giai cấp tư sản đã biến những nhà trí thức, nghệ sĩ,… thành những người làm thuê Và họ, những người sáng tạo ra văn hóa, lại trở thành kẻ bị bóc lột và bị ngay những sản phẩm văn hóa ấy thống trị, là họ bị tha hóa Giai cấp tư sản đã “tước đoạt” các giá trị văn hóa ấy thành tài sản của giai cấp thống trị Chính sự mâu thuẫn ấy khiến cho quần chúng bị tách biệt với văn hóa Ngược lại, đồng quan điểm với C.Mác và
Trang 34Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định quần chúng nhân dân mới là người sáng tạo ra văn hóa, là người chủ đích thực của văn hóa, vì vậy, họ có quyền được hưởng những thành quả của văn hóa V.I.Lênin rất đề cao vai trò của quần chúng trong xây dựng xã hội mới, và cho rằng, chỉ khi nào quần chúng
tự nguyện, nhiệt tình tham gia vào công việc của nhà nước thì chế độ xã hội chủ nghĩa mới được xác lập Trước kia, tất cả trí tuệ của loài người, tất cả thiên tài của con người sáng tạo ra chỉ là để đem lại cho một số người Ngày nay, tất cả cái kỳ diệu của kỹ thuật, tất cả những thành quả của văn hóa sẽ trở thành tài sản của toàn dân, và từ nay, không bao giờ trí tuệ và thiên tài của loài người sẽ bị biến thành những phương tiện bạo lực, những phương tiện bóc lột nữa Điều đó cho thấy nền văn hóa chân chính của dân tộc phải
là nền văn hóa do quần chúng lao động sáng tạo ra
Kế tục sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã phát triển quan điểm về tính dân tộc và tính nhân loại của văn hóa trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới – nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Điều đó được thể hiện rõ nét ở thái độ của giai cấp vô sản trong việc đánh giá, phê phán kế thừa di sản văn hóa dân tộc Lần đầu tiên V.I.Lênin đã đề cập đến luận điểm
về hai dòng văn hóa trong một nền văn hóa dân tộc: dòng văn hóa chính thống của giai cấp thống trị và những yếu tố của dòng văn hóa xã hội chủ nghĩa của quần chúng lao động.V.I.Lênin khẳng định: “Nền văn hóa quốc tế không phải là nền văn hóa phi dân tộc Không có ai cho là như thế cả Không có ai tuyên bố là có một nền văn hóa “thuần túy” cả Mỗi nền văn hóa dân tộc đều có những thành phần, thậm chí không phát triển, của một nền văn hóa dân chủ và xã hội chủ nghĩa, vì trong mỗi dân tộc đều có quần chúng lao động và bị bóc lột mà điều kiện sinh sống của họ nhất định phải sản sinh ra một hệ tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa Nhưng trong mỗi dân tộc, cũng còn có một nền văn hóa tư sản , không phải chỉ ở trong tình
Trang 35trạng là những “thành phần” mà là dưới hình thức nền văn hóa chiếm địa vị thống trị Bởi vậy, nói chung, “nền văn hóa dân tộc” là nền văn hóa của địa chủ, thầy tu, giai cấp tư sản Khi nêu ra khẩu hiệu “văn hóa quốc tế của chủ nghĩa dân chủ và của phong trào công nhân toàn thế giới”, chúng tôi chỉ lấy những thành phần dân chủ và xã hội chủ nghĩa của mỗi nền văn hóa dân tộc, chúng tôi chỉ và tuyệt đối lấy những thành phần đó để đối lập với nền văn hóa tư sản, với chủ nghĩa dân tộc tư sản của mỗi dân tộc”[46, tr.153,154].Đây là quan điểm hết sức cơ bản để tiếp thu di sản văn hóa dân tộc Đứng trên lập trường khoa học và cách mạng, V.I.Lênin đã triệt để phê phán những quan điểm sai lầm về kế thừa di sản văn hóa của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa hư vô, chủ nghĩa phi chính trị, Chủ nghĩa dân tộc đã lý tưởng hóa tất cả những giá trị của văn hóa truyền thống, phủ nhận sự du nhập của văn hóa tiến bộ ở các nền văn hóa khác Trái lại, chủ nghĩa hư vô, tiêu biểu
là nhóm “văn hóa vô sản” lại phủ nhận tất cả di sản văn hóa truyền thống dân tộc, kêu gọi giai cấp vô sản xây dựng một nền văn hóa thuần túy của riêng mình V.I.Lênin đã cho rằng, tất cả điều đó là “hoàn toàn ngu ngốc”, không thể có chuyện, chủ nghĩa phi chính trị, phi giai cấp lại có một “dòng văn hóa thống nhất” không mang tính giai cấp và tách rời chính trị Như vậy, nó đã phủ nhận sự kế thừa có chọn lọc những di sản văn hóa của nhân loại V.I.Lênin đã thẳng thừng chỉ ra rằng: “Lối nói giáo dục “tách rời chính trị”, hoặc “không cần đến chính trị” – đó là lối nói giả dối của giai cấp tư sản, đó không phải cái gì khác ngoài sự lừa bịp quần chúng mà 99% bị giáo hội và chế độ tư hữu,v.v thống trị”[53, tr.473]
Trong quan điểm của V.I.Lênin nói riêng và của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, ta nhận thấy rằng văn hóa là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan và hướng tới sự tiến bộ của xã hội loài người, vì vậy văn hóa phải là của toàn dân, mang tính nhân loại, phổ
Trang 36biến bất kể là do giai cấp nào tạo ra Hay nói khác đi, nói đến văn hóa và nói đến con người Mặc khác, tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc của văn hóa có quan hệ mật thiết với nhau và với tính nhân loại phổ biến hay văn hóa Đây chính là những quan điểm mang tính cơ sở lý luận cho việc V.I.Lênin và giai cấp vô sản Nga tiến hành việc xây dựng nền văn hóa mới, văn hóa vô sản ở một nước Nga nông nghiệp còn lạc hậu
1.2.2 Quan điểm của V.I.Lênin về phát triển văn hóa
Sau cách mạng Tháng Mười, đặc biệt là sau khi Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô) ra đời đã xây dựng một mô hình
tổ chức xã hội dựa trên thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, người ta gọi là “mô hình Xô Viết”
Điều kiện kinh tế-xã hội ở Liên Xô lúc này cực kỳ khó khăn và phức tạp, nền kinh tế vốn lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh thế giới thứ nhất, sau đó là nội chiến, tiếp đó là chiến tranh can thiệp của 14 nước đế quốc và bị bao vây cấm vận về kinh tế Từ năm 1918 đến mùa xuân 1921 để bảo đảm cung cấp lương thực cho quân đội, cho tiền tuyến, cho nhân dân thành thị trong điều kiện lương thực cực kỳ khan hiếm, Đảng Cộng sản Nga đứng đầu là V.I.Lênin đã đề ra chính sách cộng sản thời chiến, tiến hành quốc hữu hóa tài sản, tư liệu sản xuất quan trọng nhất của bọn tư bản độc quyền, đại địa chủ và các thế lực chống phá cách mạng khác Tháng 3 năm
1921, sau khi nội chiến kết thúc, tại Đại hội X Đảng Cộng sản Nga với việc
đề ra chính sách kinh tế mới (NEP), V.I.Lênin đã chỉ rõ trong những điều kiện mới, việc sử dụng những hình thức kinh tế quá độ của chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bộ phận rất quan trọng của chính sách này Sở dĩ chủ nghĩa
tư bản nhà nước dưới điều kiện chuyên chính vô sản có ý nghĩa quan trọng
và tác dụng to lớn như vậy vì theo V.I.Lênin, đó là một thứ chủ nghĩa tư bản
có liên quan với nhà nước Nhà nước đó là nhà nước của giai cấp vô sản, đội
Trang 37tiên phong của chúng ta Thông qua việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, giai cấp vô sản có thể học tập, kế thừa và phát huy có chọn lọc tất cả những tài sản vật chất-kỹ thuật và tinh hoa chất xám trong kinh nghiệm sản xuất kinh doanh của các nhà tư bản cũng như tri thức khoa học- kỹ thuật và trình
độ khoa học quản lý kinh tế của các chuyên gia tư sản V.I.Lênin đã ý thức một cách rõ ràng rằng, để đưa công cuộc đó đến thắng lợi hoàn toàn, giai cấp
vô sản cách mạng Nga phải đồng thời tiến hành những hoạt động cách mạng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó không thể không có lĩnh vực văn hoá Bởi theo ông, một nước nông nghiệp lạc hậu như nước Nga quá độ lên chủ nghĩa xã hội sẽ không thể có được thành công như mong muốn nếu không phát triển văn hoá làm một cơ sở nền tảng
Với quan điểm đó, V.I.Lênin cho rằng, bản thân giai cấp vô sản cách mạng Nga phải tự mình trang bị cho mình một trình độ văn hoá nhất định và hơn nữa, nhất thiết phải tiến hành một cuộc cách mạng văn hoá trên quy mô toàn quốc để xây dựng một nền văn hoá mới làm cơ sở nền tảng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế Nền văn hoá đó, theo ông, phải là nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
Trong những năm trực tiếp lãnh đạo giai cấp vô sản Nga và toàn thể
nhân dân lao động Nga thực hiện "chính sách kinh tế mới" (NEP), nhận thức
đó ở V.I.Lênin ngày một rõ ràng hơn Trong bối cảnh "buộc phải thừa nhận
là toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản”, V.I.Lênin đã dứt khoát khẳng định cách mạng Nga phải chuyển trọng tâm sang lĩnh vực văn hoá, phải tiến hành một cuộc cách mạng văn hoá trên quy mô toàn quốc
Trong một tác phẩm được coi như di chúc chính trị của ông - Bàn về
chế độ hợp tác xã (tháng Giêng năm1923), V.I.Lênin viết: "Sự thay đổi căn
bản đó là ở chỗ: trước đây chúng ta đã đặt và không thể không đặt trọng tâm
Trang 38công tác của chúng ta vào cuộc đấu tranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền, v.v Ngày nay, trọng tâm ấy đã chuyển sang công tác hoà bình tổ chức "văn hoá" Tôi dám quả quyết rằng trọng tâm của chúng ta
đã chuyển sang hoạt động giáo dục Nếu gác tình hình quốc tế ra mà chỉ nói đến quan hệ kinh tế trong nước của chúng ta thì trọng tâm công tác của chúng ta hiện nay quả thật là xoáy vào hoạt động giáo dục"[55, tr.428] Qua nghiên cứu lý luận và từ những trải nghiệm trong thực tiễn, V.I.Lênin đã đưa ra một quan điểm khoa học và đúng đắn: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải văn minh đã", "phải đạt tới một trình độ văn hoá nhất định"[55, tr.433] Mặc dù khi đó, chưa ai, kể cả V.I.Lênin, có thể nói chắc được “trình độ văn hoá nhất định” đó là thế nào; song, trong điều kiện của nước Nga - một nước đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội với đa số dân cư là nông dân mà trình độ văn hoá, văn minh còn thấp kém hơn nhiều so với các nước Tây Âu thời đó, - V.I.Lênin đã nhấn mạnh: Việc
"tiến hành công tác văn hoá trong nông dân" là một trong "hai nhiệm vụ chủ yếu có ý nghĩa đánh dấu thời đại" Theo ông, với mục tiêu là nhanh chóng xây dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp cho tất cả quần chúng nhân dân lao động Nga trên cơ sở của một nền kinh tế phát triển, nên "công tác văn hoá trong nông dân" nhất thiết phải "nhằm mục tiêu kinh tế - đó chính là thực hiện chế độ hợp tác xã" và một khi "tổ chức được toàn thể nông dân vào hợp tác xã", nước Nga sẽ "đứng vững được hai chân trên miếng đất xã hội chủ nghĩa", mà điều đó lại "bao hàm một trình độ văn hoá nhất định của nông dân (chính là nông dân với tư cách là một khối quần chúng đông đảo", cho nên nước Nga nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội phải cần đến "một cuộc cách mạng văn hoá"; đồng thời, ở nước Nga khi đó, "cuộc cách mạng chính trị và xã hội đã đi trước cuộc đảo lộn văn hoá", nên giờ đây, để củng cố và phát huy thành quả cách mạng ấy thì việc tiến hành một
Trang 39cuộc cách mạng văn hoá trong nông dân là công việc "nhất thiết chúng ta phải làm" Hơn nữa, V.I.Lênin còn tin tưởng chắc chắn rằng, nước Nga "chỉ cần hoàn thành cuộc cách mạng văn hoá là đủ để , trở thành một nước hoàn toàn xã hội chủ nghĩa"[55, tr.428,429]
Do nước Nga Xôviết, đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từ một nước nông nghiệp lạc hậu, theo V.I.Lênin, "tiến hành công tác văn hoá trong nông dân" và thực hiện cuộc cách mạng văn hoá vô sản - văn hoá xã hội chủ nghĩa, nhất thiết phải được coi là nhiệm vụ trọng yếu, là một cuộc cách mạng mang tính nền tảng Ông dự tính, ngay cả khi công việc đó được tiến hành một cách thuận lợi, nước Nga vẫn phải trải qua một thời kỳ lịch sử từ
10 đến 20 năm mới có thể đạt tới trình độ của một nước "văn minh" ở châu
Âu khi đó Song, giờ đây, ông khẳng định, "nếu không trải qua thời kỳ lịch
sử ấy", "thời kỳ lịch sử đặc biệt", "không làm cho mọi người đều có trình độ học vấn phổ thông, không có một trình độ hiểu biết đầy đủ về công việc, không giáo dục đầy đủ cho dân cư biết dùng sách báo, không có cơ sở vật chất cho điều đó, không có những sự đảm bảo nào đó , không có tất cả những điều đó thì chúng ta sẽ không thể đạt được mục đích"[55, tr.424], là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước Nga nông nghiệp lạc hậu
Từ thực tiễn của những năm tháng trực tiếp lãnh đạo giai cấp vô sản cách mạng và nhân dân lao động Nga bắt tay vào công cuộc xây dựng chế
độ xã hội mới và trên cơ sở nhận thức rõ thực trạng của nước Nga khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn là một nước tiểu nông, với nạn mù chữ ở mức độ phổ biến, với "tình trạng thiếu văn hoá có tính chất nửa Á châu mà cho mãi đến nay , vẫn chưa thoát khỏi và không thể nào thoát khỏi nếu không cố gắng đến nơi đến chốn"[55, tr.416], V.I.Lênin đã coi việc kế thừa, tiếp thu có chọn lọc thành quả văn hoá, văn minh nhân loại, nhất là những thành quả mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra trong tiến trình phát
Trang 40triển lịch sử của nó là nhiệm vụ rất cần thiết và cấp bách đối với những người vô sản Nga và chính đảng của nó, mặc dù đó là nhiệm vụ "có những khó khăn không thể tưởng tượng được, về mặt thuần tuý văn hoá , cũng như về mặt vật chất"[55, tr.429]
Không chỉ thế, V.I.Lênin còn luôn trăn trở với nhiệm vụ: "Làm thế nào kết hợp được cách mạng vô sản thắng lợi với văn hoá tư sản, với khoa học
và kỹ thuật tư sản "[51, tr.72] Những trăn trở này đã đưa V.I.Lênin đến chỗ nhận thức một cách rõ ràng rằng, "không có một nơi nào trên thế giới"
mà quần chúng nhân dân lại "tha thiết tới nền văn hoá chân chính như ở nước Nga và cũng không ở nơi đâu, các vấn đề văn hoá đó lại "được đặt ra một cách sâu sắc và có hệ thống" như ở nước Nga Song, với trình độ văn hoá, văn minh như ở nước Nga khi đó, theo ông, là "không có đầy đủ giáo dục sơ đẳng" và "còn rất lâu mới đạt đến một trình độ tiểu học cho toàn dân” Do vậy, V.I.Lênin khẳng định, giai cấp vô sản Nga cùng với chính đảng và nhà nước của nó “còn phải làm bao nhiêu việc to lớn cấp thiết nữa mới đạt đến trình độ một nước văn minh thông thường ở Tây Âu”; rằng
“muốn có thể nhờ vào những thành quả vô sản của chúng ta để thật sự đạt đến một trình độ văn hoá dù chỉ cao hơn một chút, chúng ta còn phải hoàn thành bao nhiêu công việc to lớn nữa”[55, tr.416-417] Chính vì vậy mà ông luôn coi việc kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những thành quả văn hoá, văn minh của các dân tộc Nga và nhân loại là một công việc cấp bách, có ý nghĩa lâu dài, mang tầm chiến lược đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước Nga Xôviết
Với quan điểm trên, V.I.Lênin cho rằng, nước Nga Xôviết, để "trở thành một nước hoàn toàn xã hội chủ nghĩa", chỉ cần phải hoàn thành cuộc cách mạng văn hoá Thế nhưng, là một nước mới ra khỏi cuộc chiến tranh chưa được bao lâu, trình độ văn hoá, văn minh của quần chúng nhân dân lao