Tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII cũng đặt nền móng cho các tuyên ngôn về quyền con người như The Declaration of Independence Tuyên ngôn độc lập, 17
Trang 1-000 -
NGUYỄN QUỲNH ANH
TƯ TƯỞNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC KHAI SÁNG PHÁP THẾ KỶ XVIII
VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY
QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 2-000 -
NGUYỄN QUỲNH ANH
TƯ TƯỞNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC KHAI SÁNG PHÁP THẾ KỶ XVIII
VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY
QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố
Người cam đoan
Nguyễn Quỳnh Anh
Trang 4
Trang
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 19
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án 19
Chương 1: SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG VỀ
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC KHAI SÁNG PHÁP THẾ
1.1 Điều kiện, tiền đề hình thành, phát triển tư tưởng về quyền con người
1.1.1 Điều kiện hình thành, phát triển của tư tưởng về quyền con người trong
1.1.2 Tiền đề tư tưởng - lý luận của tư tưởng về quyền con người trong triết
1.1.3 Tiền đề văn hóa – khoa học của tư tưởng về quyền con người trong triết
1.2 Các giai đoạn hình thành, phát triển của tư tưởng về quyền con
1.2.1 Giai đoạn hình thành tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai
Trang 51.2.3 Giai đoạn bổ sung, hoàn thiện tư tưởng về quyền con người trong triết
học Khai sáng Pháp (từ năm 1762 đến cuối thế kỷ XVIII) 59
Chương 2: NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG
VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC KHAI SÁNG PHÁP
2.1.4 Tư tưởng về nền dân chủ và phân quyền nhà nước – cơ chế để bảo vệ,
phát huy quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII 90
2.2 Đặc điểm cơ bản của tư tưởng về quyền con người trong triết học
2.2.1 Tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ
XVIII phản ánh lập trường của giai cấp tư sản, đấu tranh chống chế độ phong
kiến và tôn giáo, thúc đẩy chủ nghĩa duy lý phát triển 108 2.3.2 Tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ
XVIII thể hiện sự thống nhất giữa quyền tự nhiên với quyền công dân 114
2.3.3 Tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ
XVIII thể hiện chủ yếu ở các quyền dân sự, chính trị, đặc biệt là quyền tự do
Trang 6VẤN ĐỀ BẢO VỆ, PHÁT HUY QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM
3.2 Thực trạng bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay
và những bài học từ tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, vấn đề quyền con người và các lý tưởng tự do, bình đẳng, dân chủ ngày càng trở thành một chủ đề nóng bỏng được đưa ra bàn cãi, tranh luận tại khắp các diễn đàn chính trị trên thế giới và được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Sở dĩ như vậy vì việc thực hiện quyền con người chính
là khát vọng cao nhất của nhân loại, đồng thời cũng là thước đo trình độ tiến
bộ xã hội Mặt khác, một chế độ chính trị, một nhà nước chỉ phát triển bền vững khi chú trọng đến việc bảo vệ, phát huy các quyền con người, mang đến cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân, được nhân dân đồng thuận, ủng hộ
Trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng nhân loại, vấn đề quyền con người đã được phản ánh rất sớm Nhiều tư tưởng, học thuyết triết học đã hình thành, phát triển, thay thế nhau và chấp nhận cả những phán xét khắt khe của cuộc sống Song, tất cả chúng, dù nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp, đều phản ánh vị trí, vai trò và số phận con người, quyền con người Mặc dù vậy,
do sự khác biệt về nhận thức, về kinh tế - chính trị - xã hội, cũng như lập trường giai cấp, vấn đề quyền con người đã được nhìn nhận ở những lăng kính khác nhau, vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù Điều đó đã tạo ra nhiều khoảng trống lý luận cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ
Vào thế kỷ XVII, XVIII, các nước phương Tây, đặc biệt là Pháp, xuất hiện một trào lưu triết học duy lý với những trí thức ưu tú, can đảm, dám dấn thân phê phán sự mê tín, độc tài của đêm trường trung cổ, kiến tạo thời kỳ Khai sáng hay còn gọi là thế kỷ Ánh sáng Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII đã nghiên cứu nhiều lĩnh vực, từ tự nhiên đến xã hội, từ tôn giáo, đạo đức đến chính trị, pháp luật, song lĩnh vực được tập trung nhiều nhất là quyền con người Các triết gia Khai sáng Pháp xem tự do, bình đẳng và tư hữu là các
Trang 8quyền tự nhiên, trong đó quyền tự do là nhân tố cốt lõi, là “tinh thần của thời đại” Họ cũng đã phác họa ra những cơ chế nhằm mang lại sự tự do, bình đẳng cho con người, đó là tư tưởng về nền dân chủ và phân quyền nhà nước
Tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII thể hiện tinh thần nhân văn, nhân đạo và triết lý hành động sâu sắc Các triết gia Khai sáng Pháp đã lấy con người làm trung tâm, đề cao vai trò, bản tính tốt đẹp của con người và hướng tới giải phóng con người Lý tưởng của họ đã trở thành vũ khí tinh thần của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống lại ý thức hệ phong kiến, là động lực dẫn đến Đại Cách mạng tư sản Pháp 1789, đồng thời cổ vũ cho các phong trào đấu tranh vì con người, quyền con người trên thế giới Tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII cũng đặt nền móng cho các tuyên ngôn về quyền con
người như The Declaration of Independence (Tuyên ngôn độc lập, 1776) của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Déclaration des Droits de l'Homme et du Citoyen (Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền, 1789) của Pháp, Déclaration
universelle des droits de l'homme (Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền,
1948) của Liên Hợp quốc… Tuy còn những hạn chế nhất định, song giá trị của tư tưởng này đến nay vẫn tiếp tục tỏa sáng và có ý nghĩa to lớn đối với nhân loại tiến bộ trong hành trình mưu cầu tự do, bình đẳng và hạnh phúc
Đối với Việt Nam, tư tưởng triết học nói chung, tư tưởng về quyền con người nói riêng của các triết gia Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII đặc biệt là Montesquieu và Rousseau đã sớm được du nhập từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX qua các bản Tân văn, Tân thư Các nhân sĩ yêu nước của Việt Nam thời kỳ này đều am hiểu sâu sắc về văn hóa, triết học Pháp Phan Châu Trinh từng được ngợi ca là người “Trung học Mạnh Kha, Tây học Lư thoa” (Lư Thoa là cách phiên âm tên của Rousseau) Chính những tư tưởng đầy tính nhân văn của triết học Khai sáng Pháp đã góp phần định hướng cho
Trang 9hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Người nói: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái…Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ
ấy”[58, 477] Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp
1789 – kết tinh những giá trị của triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII được
Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng đề cập trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Lịch sử Việt Nam trong chiến tranh cũng như trong hòa bình luôn gắn liền với cuộc chiến đấu bền bỉ, đổ máu, nước mắt để giành quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc Bởi vậy, hơn ai hết mỗi người Việt Nam đều thấu hiểu, trân trọng giá trị cao quý của quyền con người Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam viết: “Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết”[24, 167] Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang ra sức phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn các tiêu chí về quyền con người Quyền con người đã được thể hiện và bổ sung ngày một hoàn thiện trong các bản Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam cũng tham gia hầu hết các Công ước
quốc tế về quyền con người, trong đó có hai công ước cơ bản là International
Convention on Civil and Political Rights (Công ước quốc tế về các quyền dân
sự chính trị, 1966) và International Convention on Economic, Social and
Cultural Rights (Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá,
1966) Nhà nước cũng ngày càng thể hiện vai trò của mình trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, làm giảm đi sự bất bình đẳng về kinh tế, trình độ dân trí và văn hoá…
Trang 10Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vấn đề bảo vệ và phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay còn một số hạn chế, thiếu sót cần phải được khắc phục Đây cũng là vấn đề phức tạp và khá nhạy cảm, không chỉ liên quan tới sự phát triển của mỗi quốc gia mà còn là một nội dung
cơ bản khơi lên các cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng Nhiều thế lực phản tiến bộ chống Việt Nam vẫn ra sức xuyên tạc vấn đề quyền con người hòng làm mơ hồ và thay đổi nhận thức nhân dân; khoét sâu những mâu thuẫn giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi dẫn đến hình thành tâm lý xã hội bất
ổn, trông chờ một sự thay đổi chính trị như Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề quyền con người, tạo cơ sở để quan tâm, chăm lo đến con người hơn, đồng thời phê phán những luận điệu sai trái là nội dung hết sức cần thiết
Để thực hiện điều đó, việc làm sống lại những tinh hoa tư tưởng trong lịch sử nhân loại về quyền con người, trong đó có tư tưởng về quyền con người của triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII không chỉ có ý nghĩa về mặt
lý luận mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII nói chung, tư tưởng về quyền con người nói riêng là nội dung thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Đây cũng là vấn đề được các nhà khoa học Việt Nam tập trung nghiên cứu nhằm khai thác những giá trị, rút ra những bài học nhất định đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước Điều đó được thể hiện qua nhiều công trình, tác phẩm phong phú, đa dạng về mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp tiếp cận Những công trình này có thể được khái quát theo các chủ đề sau:
Trang 11Thứ nhất, các công trình nghiên cứu liên quan đến điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Trước hết có thể kể đến công trình The History of the World (Lịch sử
thế giới) gồm 8 quyển của John Morris Roberts (Oxford University Press, New York, 2013) Cuốn sách đã phân tích tiến trình phát triển của nhân loại, các nền văn minh, các sự kiện và các nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Trong Quyển 6, tác giả đã phản ánh những biến động của phương Tây thời kỳ cận đại, thời kỳ của các cuộc cách mạng chính trị - tư tưởng Do tính bao quát của vấn đề nghiên cứu, công trình chỉ chú trọng đến những dấu mốc điển hình của lịch sử, song ở đó có thể khai thác và tìm thấy một số nội dung liên quan đến điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và những tiền đề dẫn đến sự hình thành tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp vào thế kỷ XVIII
Cùng hướng nghiên cứu là công trình Europe – A History (Lịch sử
Châu Âu), của nhà sử học người Anh Norman Davies (HarperPerennial – A Division of Harper Collins pubnisher, New York, 1998) Trong Chương 8 của cuốn sách, tác giả đã phân tích sự tan rã của chế độ chuyên chế châu Âu, điển hình là nhà nước phong kiến Pháp qua các triều đại Louis XIV, XV, XVI, vạch ra những mâu thuẫn nội tại trong lòng quốc gia này Tất cả những điều
đó đã phần nào hướng đến hình thành các dòng tư tưởng với các triết gia và các tác phẩm tiêu biểu phản ánh lợi ích của giai cấp tư sản mà quan điểm chủ đạo là về tự do, bình đẳng
Ở Việt Nam, có các công trình điển hình như Lịch sử thế giới gồm 4
quyển của Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang (Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2012) Quyển 3 của bộ sách đã khái quát bước chuyển của
xã hội phương Tây từ thời kỳ trung cổ bước sang thời kỳ cận đại, vạch ra sự suy tàn của các triều đình phong kiến, sự can thiệp vào đời sống thế tục của
Trang 12giáo hội và sự lớn mạnh từng bước của giai cấp tư sản Bức tranh của xã hội Pháp đã hiện lên một cách rõ nét, đó là chính sách cai trị hà khắc của nhà vua với các cuộc chiến tranh liên miên giam hãm nhân dân và con người trong tường vách của chế độ chuyên chế Tuy nhiên, trong hoàn cảnh ấy, xã hội Pháp lại nảy nở các trào lưu tư tưởng đấu tranh vì quyền con người
Ngoài ra còn có công trình Lịch sử thế giới cận đại của Vũ Dương
Ninh và Nguyễn Văn Hồng (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003) Phần một của cuốn sách phân tích điều kiện lịch sử xã hội phương Tây từ giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, qua đó trình bày hoàn cảnh nước Pháp và thân phận của những tầng lớp thứ ba dưới sự thống trị khắc nghiệt của tầng lớp vua chúa, quý tộc và tăng lữ Đây là điều kiện dẫn đến đến việc hình thành trào lưu triết học Ánh sáng “tấn công vào thành trì quân chủ chuyên chế bằng những học thuyết mới, tiến bộ và cách mạng”[67, 68], trong đó nổi bật lên là
tư tưởng về quyền con người
Bên cạnh các công trình đã nêu trên, trong những nghiên cứu về lịch sử triết học, giới khoa học Việt Nam cũng đặc biệt chú ý đến Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, tìm hiểu sự hình thành các tư tưởng cơ bản của giai đoạn này dưới sự tác động của điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và những thành
tựu lý luận đã có Có thể kể đến công trình Lịch sử Triết học do Nguyễn Hữu
Vui chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998) Cuốn sách đã nhấn mạnh sự phát triển của lịch sử triết học có mối liên quan nội tại “với sự phát triển của khoa học, triết học trước đó” và phụ thuộc “vào sự phát triển của tồn tại xã hội” Thông qua việc trình bày khái quát lịch sử triết học phương Tây từ thời kỳ Hy Lạp – La Mã cổ đại đến thời kỳ Phục Hưng – cận đại, cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ điều kiện, tiền đề dẫn đến sự hình thành trào lưu Khai sáng nói chung, tư tưởng về quyền con người nói riêng
Trang 13Cũng thuộc lĩnh vực lịch sử triết học còn có công trình Lịch sử triết học
phương Tây từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức (History of Western philosophy from ancient Greek to classical German philosophy), của
Nguyễn Tấn Hùng (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) Cuốn sách đã trình bày có hệ thống, chọn lọc nguồn gốc hình thành, quan điểm cơ bản của các trường phái, triết gia phương Tây Cuốn sách cũng dành một dung lượng nhất định để nghiên cứu về thời kỳ lý tính, từ sự phát triển của chủ nghĩa kinh nghiệm Anh thế kỷ XVII đến triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, qua đó giúp chúng ta có những tư liệu nhất định trong việc nghiên cứu
sự hình thành, phát triển của triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII và tư tưởng về quyền con người trong thời kỳ này
Công trình tiếp theo là bộ sách Lịch sử Triết học phương Tây gồm 3 tập
của Đỗ Minh Hợp (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014) Bộ sách
đã hệ thống những tri thức lịch sử triết học phương Tây từ thời kỳ cổ đại đến hiện đại Ở Tập 1, tác giả tập trung làm rõ diện mạo triết học của ba thời kỳ gồm Cổ đại, Trung cổ và Phục hưng Tập 2 của bộ sách nghiên cứu sự phát triển của triết học phương Tây từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, làm rõ sự chuyển tiếp tư tưởng từ thời kỳ Cổ đại, Trung cổ, Phục hưng đến Cận hiện đại Trong Chương 1 của Tập 2, tác giả cũng làm rõ đặc thù, bối cảnh văn hóa
xã hội thế kỷ XVII – nửa đầu thế kỷ XVIII, tư tưởng của các triết gia tiêu biểu
có sự liên hệ chặt chẽ với sự hình thành tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Có thể nói, do những điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII không phải là một đối tượng nghiên cứu độc lập, nên không có công trình chuyên biệt nào đi sâu tìm hiểu Song, vấn đề này cũng được phản ánh ít nhiều qua các công trình nghiên cứu trên phương diện lịch sử nói chung, lịch sử triết học nói riêng Mặc dù
Trang 14chưa thật sự hệ thống, sâu sắc, song đây cũng là những tư liệu quý báu, góp phần lý giải được bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội, cũng như tác động của các tư tưởng đi trước đến sự ra đời của tư tưởng về quyền con người của các triết gia Khai sáng Pháp
Thứ hai, các công trình nghiên cứu nội dung, đặc điểm và giá trị, hạn chế của tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Trên thế giới, việc nghiên cứu triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII đã đạt được những kết quả nhất định, thể hiện ở các công trình có giá trị như
Reflections on the Revolution in France (Suy nghĩ về Cách mạng Pháp) do
Edmund Burke viết từ 1790, được Oxford University Press tái bản tại New
York, 2009 và công trình Critique of the Doctrine of Inalienable, Natural
Rights (Phê phán học thuyết về các quyền tự nhiên không thể chuyển nhượng)
của Jeremy Bentham in trong cuốn The Works of Jeremy Bentham (published
under the Superintendence of his Executor, John Bowring, Vol.2, Edinburgh: William Tait 107, Princes Street, Simpkin Marshall & Co London, 1843) Đây là các đại diện tiêu biểu cho thuyết quyền pháp lý, không thừa nhận quan điểm quyền tự nhiên Mặc dù vậy, khi trình bày quan điểm của mình, qua hai tác phẩm nêu trên, các ông đã phân tích những quan điểm về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp, chỉ ra những giá trị, hạn chế của nó, từ đó khẳng định ý tưởng về quyền tự nhiên, không thể tước bỏ là vô căn cứ
Công trình kế tiếp là The French Revolution: A History (Lịch sử cách
mạng Pháp) của Thomas Carlyle (1795 - 1881), được xuất bản lần đầu năm
1837 tại London và được Modern Library tái bản gần nhất vào năm 2002 tại New York, United States of America Cuốn sách đã trình bày một cách sống động toàn cảnh nước Pháp đêm trước cách mạng và những tư tưởng đấu tranh
vì tự do, bình đẳng và quyền con người của các triết gia Khai sáng Cũng từ
Trang 15đó, tác giả tái hiện sự sụp đổ của vương triều Louis XVI, đồng thời lý giải cội nguồn tinh thần của hiện trạng này hết sức sống động Bằng cách đó, cuốn sách đã vạch ra giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Công trình History of Human Rights: From Ancients Times to the
Globalization ERA (Lịch sử quyền con người: Từ thời kỳ cổ đại đến kỷ
nguyên toàn cầu hóa) của Micheline Ishay (University of California Press, Los Angeles, 2008) Cuốn sách được kết cấu thành 6 phần, lý giải cuộc đấu tranh vì quyền con người từ thời cổ đại cho đến nay, qua đó tác giả lần lượt trả lời những câu hỏi như: Nguồn gốc của quyền con người? Tại sao tầm nhìn Châu Âu về quyền con người lại có những thành tựu như vậy? Sự đóng góp của nhân loại đối với quyền con người? Phần 2 của cuốn sách nghiên cứu tư tưởng và thực tiễn vấn đề quyền con người trong thời kỳ Khai sáng; phân tích các quyền cụ thể của con người như quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, quyền tư hữu Dù không đi sâu tìm hiểu những nhà tư tưởng Khai sáng cụ thể, song, tác giả đã sử dụng có hiệu quả những bài viết, tác phẩm của họ làm luận
cứ cho các kết luận của mình
Cũng nghiên cứu về lịch sử quyền con người còn có công trình
Inventing Human Rights – A History (Lịch sử của những phát kiến về quyền
con người) của Lynn Hunt (W.W Norton & Company Ltd, London, 2008) Cuốn sách không trình bày quyền con người theo các giai đoạn lịch sử mà đi vào những nội dung cơ bản của vấn đề này từ những ý tưởng trong các tiểu thuyết văn học đến những tuyên ngôn về quyền con người Theo tác giả, thuật ngữ quyền con người trong thế kỷ XVIII chủ yếu được diễn đạt là quyền tự nhiên và xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1763, nhưng cũng không phổ biến lắm cho dù nằm trong một tác phẩm có sức ảnh hưởng rộng của Voltaire là
Traité sur la Tolérance (Chuyên luận về khoan dung)[110, 23 - 24]
Trang 16Nghiên cứu triết học thời kỳ Khai sáng, đặc biệt là tư tưởng về quyền
con người có thể kể đến công trình French Revolution and Human Rights
(Cách mạng Pháp và quyền con người) của Lynn Hunt (Bedford/St.Martin’s, Boston, 1996) Cuốn sách này thuộc loạt sách về lịch sử và văn hóa của Bedford, ở đó trình bày cội nguồn cuộc cách mạng về quyền con người qua các giai đoạn trước, trong và sau cách mạng Pháp năm 1789 Tác giả đã vạch
rõ sự kế thừa, phát triển tư tưởng về quyền con người của các triết gia Pháp trong dòng chảy lịch sử triết học, góp phần làm sáng tỏ các quyền tự nhiên của con người Cuốn sách cũng lược trích những tác phẩm tiêu biểu về quyền con người của các triết gia tiêu biểu như Denis Diderot, Voltaire…
Cũng trong loạt sách đã nêu còn có công trình The Enlightenment (Thời
kỳ Khai sáng) của Margaret C.Jacob (Bedford/St.Martin’s, Boston, 2001) Cuốn sách đã khái quát thời kỳ Khai sáng như một sự thiết lập nền văn hóa mới trên các phương diện như chính trị, khoa học, văn học, triết học Những phân tích của tác giả cho thấy những thành tựu của thời kỳ Khai sáng - thời
kỳ của các nhà triết học mà tư tưởng của họ đưa đến các cuộc cách mạng làm thay đổi toàn bộ đời sống xã hội Do được trình bày ngắn gọn nên dung lượng kiến thức trong cuốn sách còn hạn chế, song cũng góp phần quan trọng trong việc cung cấp tư liệu và định hướng cho việc nghiên cứu tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Cùng hướng nghiên cứu này là công trình Democratic Enlightenment:
Philosophy, Revolution, and Human Rights, 1750 – 1970 (Nền dân chủ thời
kỳ Khai sáng: Triết học, cách mạng và quyền con người, 1750 – 1790) của Jonathan Israel (Oxford University Press, 2012) Cuốn sách đã tái hiện bức tranh của thời kỳ Khai sáng, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nền dân chủ trong mối quan hệ với triết học, cách mạng và quyền con người Điều đó được thực hiện qua việc phân tích tư tưởng của các triết gia Khai sáng và thể
Trang 17chế chính trị, cũng như sự chuyển biến cách mạng tại một số quốc gia Tây
Âu Tại tiết 34, tác giả đã khái quát những đặc điểm cơ bản của tư tưởng về quyền con người triết học Khai sáng Pháp, làm rõ ý nghĩa của những tư tưởng
đó đối với Đại cách mạng năm 1789 Công trình đã cung cấp một dung lượng kiến thức lớn, song do nghiên cứu toàn bộ thời kỳ Khai sáng ở nhiều quốc gia Tây Âu nên vấn đề nghiên cứu liên quan đến luận án chưa thật sự sâu sắc
Ở Việt Nam, cho đến nay đã có một số tác phẩm tiêu biểu của những nhà triết học Khai sáng Pháp và những công trình nghiên cứu về giai đoạn này của các nhà khoa học nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt Năm
1971, tại Sài Gòn, Nhà xuất bản Trẻ đã xuất bản công trình Những danh tác
chánh trị của Jean Jacques Chevallier, người dịch Lê Hoàng Thanh Dân
Công trình này đã giới thiệu và phân tích tương đối chi tiết các tác phẩm
chính trị nổi tiếng của Tây Âu, trong đó có tác phẩm De l’Esprit des lois (Bàn
về tinh thần pháp luật) của Montesquieu, Du Contrat Social (Bàn về khế ước
xã hội) của Rousseau Qua đó, tác giả đã làm nổi bật tư tưởng về tự do, dân chủ, về ý chí chung của triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII thông qua hai đại diện là Montesquieu và Rousseau
Có thể kể đến công trình Lược sử triết học Pháp của Jean Wahl do
Nguyễn Hải Bằng, Đào Ngọc Phong, Trần Nhựt Tân dịch (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006) Công trình đã khái quát tiến trình phát triển của triết học Pháp qua các giai đoạn cụ thể Trong phần triết học Pháp thế kỷ XVIII, tác giả đã nêu bật các vấn đề triết học trung tâm của giai đoạn này, trong đó có vấn đề con người và quyền con người Tuy nhiên, do trình bày ngắn gọn, nên các nội dung trong công trình chưa sâu sắc; các vấn đề về quyền con người chỉ được giới thiệu một cách giản lược, chưa đi vào nghiên cứu các triết gia cụ thể
Trang 18Trong những năm gần đây, triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII đã trở thành hướng nghiên cứu thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học Việt Nam Đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu những nội dung khác nhau trong triết học Khai sáng Pháp và các triết gia tiêu biểu ở thời kỳ này Điển
hình như Luận án tiến sĩ Góp phần tìm hiểu tư tưởng nhân văn của các nhà
triết học Khai sáng Pháp và ảnh hưởng của nó đến các nhà yêu nước Việt Nam của Võ Thị Dung (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) Luận án trình bày nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn trong triết học Khai sáng Pháp, ảnh hưởng của tư tưởng này đến các nhà yêu nước ở Việt Nam thế kỷ XX và quá trình hình thành tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Những nội dung mà
công trình đề cập, đặc biệt là các giá trị nhân văn và tư tưởng về quyền tự do,
bình đẳng của con người phần nào giúp chúng ta hiểu hơn về tư tưởng về
quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Cùng chủ đề nghiên cứu còn có công trình Triết học chính trị
Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của Lê Tuấn
Huy (Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2005) Công trình trình bày những quan điểm của Montesquieu về quyền lực nhà nước, chính thể, địa chính trị và những phạm trù bình đẳng, tự do, dân chủ, tinh thần khoan dung chính trị Tác giả cũng phân tích ảnh hưởng lịch sử và giá trị thời đại từ bước ngoặt trong triết học chính trị của Montesquieu, nhận diện những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Công trình đã góp phần làm sáng tỏ một số phạm trù về quyền con người và công lao của Montesquieu trong quá trình xây dựng nền dân chủ, cũng như pháp chế đảm bảo cho nền dân chủ để thực thi
Một triết gia tiêu biểu khác của nền triết học Khai sáng Pháp được tập trung nghiên cứu là Rousseau qua các công trình khoa học, chẳng hạn như
Trang 19Luận án tiến sỹ Triết học chính trị của Rousseau và ý nghĩa của nó của
Dương Thị Ngọc Dung (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2009) Công trình phân tích tư tưởng chính trị của Rousseau, trong đó xem vấn đề quyền con người là một nội dung gắn bó với triết học chính trị Dù chỉ điểm qua những nét chính, song tác giả cũng vạch được các quyền cơ bản của con người là quyền tự do, bình đẳng, quyền sống, quyền được giáo dục, làm rõ vai trò của pháp luật, nhà nước đối với việc đảm bảo các quyền của con người Ngoài công trình này, những nghiên cứu về Rousseau còn được thể hiện qua một số bài viết được đăng tải
trên các báo, tạp chí, đặc biệt là Tạp chí Triết học Sự phong phú của các công
trình nghiên cứu đã phản ánh tính hấp dẫn của triết học Khai sáng Pháp và sức sống mãnh liệt của nó trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, các công trình nghiên cứu vấn đề bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay có liên quan đến tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Vấn đề quyền con người và bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam được nghiên cứu từ rất sớm Nhiều công trình thuộc chủ đề này có mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII Điều đó phản ánh ở sự kế thừa, vận dụng tư tưởng về quyền con người của nhân loại, trong đó có triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII vào thực tiễn
cách mạng Việt Nam Ngay tại Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại những chân lý hiển nhiên đã được đề cập trong Tuyên ngôn
Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1789) rằng: mọi người sinh ra đều có quyền tự do, bình
đẳng Người cũng mở rộng quan điểm về “tự do, bình đẳng” từ phạm trù thuộc quyền cá nhân trở thành quyền của các dân tộc trên thế giới Đây là
Trang 20đóng góp có ý nghĩa thời đại của Hồ Chí Minh, mở đường cho những công trình nghiên cứu về quyền con người sau này
Trên phương diện pháp lý, vấn đề quyền con người và bảo vệ quyền con người đã được phản ánh rõ nét trong các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cụ thể là: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và đặc biệt là Hiến pháp 2013 Hiến pháp
2013 đã dành hẳn chương 2 để quy định về quyền con người, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân Hiến pháp 2013 cũng phân định rõ ràng thuật ngữ quyền con người với quyền công dân, quy định trách nhiệm và những đảm bảo của Nhà nước trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bổ sung nhiều quyền mới so với các bản Hiến pháp trước đây
Một văn bản pháp lý quan trọng về quyền con người có thể kể đến là
Sách trắng về Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam
được Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố năm 2005 Cuốn sách đã trình bày
có hệ thống quan điểm, chính sách và những thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và phát triển quyền con người Cuốn sách cũng vạch rõ một số luận điệu vu cáo Việt Nam trong vấn đề quyền con người, mưu toan làm mất ổn định chính trị và đẩy lùi sự phát triển của đất nước Đây là lần đầu tiên Bộ Ngoại giao xuất bản một ấn phẩm giới thiệu một cách toàn diện về vấn đề quyền con người ở Việt Nam, cũng là nguồn tài liệu có giá trị quan trọng để nghiên cứu quyền con người
Trên phương diện lý luận, trong vài năm trở lại đây, các công trình nghiên cứu về quyền con người ở Việt Nam ngày càng đa dạng Điển hình
như công trình Quyền con người ở Trung Quốc và Việt Nam (Truyền thống, lý
luận và thực tiễn) do Trung tâm Nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Hội nghiên cứu quyền con người Trung Quốc xuất bản (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003)
Trang 21Cuốn sách nghiên cứu những quan điểm về quyền con người trong lịch sử, qua đó làm rõ những thành tựu cũng như thách thức trong việc bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam và Trung Quốc Do là công trình tập thể nên quan điểm giữa các tác giả chưa thật thống nhất, song có thể coi đây là một trong những tài liệu có giá trị đối với hoạt động lý luận và thực tiễn trên lĩnh vực quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Với công trình Quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2004), tác giả Trần Ngọc Đường đã phân tích phạm trù quyền con người, quyền công dân trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân; đồng thời đi sâu nghiên cứu vấn đề quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 1992 Từ những luận giải đó, tác giả làm rõ những bảo đảm pháp
lý trong việc thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, đồng thời khẳng định việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì con người
Công trình kế tiếp là cuốn sách Triết học chính trị về quyền con người
của Nguyễn Văn Vĩnh (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) Cuốn sách gồm 2 chương, trong đó tác giả dành Chương 1 để trình bày sự khái niệm tư duy chính trị về quyền con người Ở Chương 2, tác giả đã phân tích một cách có hệ thống về quyền con người ở Việt Nam trước và sau Cách mạng Tháng Tám, thực trạng vấn đề quyền con người và một số giải pháp nhằm đảm bảo, phát huy quyền con người ở nước ta hiện nay Mặc dù có những kết quả nhất định, nhưng do vấn đề nghiên cứu rộng nên các quan niệm về quyền con người trong cuốn sách mới chỉ được đề cập một cách khái lược, phần thực trạng quyền con người ở Việt Nam chưa được phân tích sâu
và có số liệu minh chứng cụ thể
Trang 22Nghiên cứu vấn đề này còn có công trình Quyền con người tiếp cận đa
ngành và liên ngành khoa học xã hội do Võ Khánh Vinh chủ biên (Nhà xuất
bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009) Các tác giả của cuốn sách đã khái quát những vấn đề lý luận trong việc tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội về quyền con người, từ đó phân tích vấn đề quyền con người trên các phương diện như triết học, chính trị học, đạo đức học, dân tộc học, tôn giáo học Cho dù chủ đề nghiên cứu mang tính khái quát song cuốn sách đã góp phần cung cấp những nhận thức về phương pháp luận cho việc đi sâu nghiên cứu vấn đề quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Cùng hướng nghiên cứu là công trình Sự thật vấn đề dân chủ và nhân
quyền trong chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam của Trương Thành
Trung (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011) Cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ sự thật vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, từ đó rút ra những bài học cần thiết nhằm đấu tranh nhằm thất bại âm mưu sử dụng chiêu bài này để thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch Trong quá trình này tác giả đã phân tích quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về quyền con người và những thành tựu bảo vệ, phát huy quyền con người hiện nay, xem đó là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để phê phán luận điệu của các thế lực thù địch
Nghiên cứu vấn đề quyền con người còn có công trình Chủ nghĩa xã
hội và quyền con người của Đặng Dũng Chí và Hoàng Văn Nghĩa (Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014) Cuốn sách trình bày các nội dung chính như: lịch sử hình thành và phát triển quyền con người; quan điểm mácxít về quyền con người; quyền con người trong chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô, Đông Âu và ở một số nước xã hội chủ nghĩa thời kỳ cải cách, đổi mới; những vấn đề đương đại của chủ nghĩa xã hội và quyền con người Cuốn sách
đã luận giải được vấn đề quyền con người trong chủ nghĩa xã hội, từ đó khẳng
Trang 23định: “các quyền con người trong chủ nghĩa xã hội không còn là các “quyền
ảo tưởng” mà chúng là các quyền thực định là tiền đề, điều kiện cho sự phát huy toàn diện và tối đa năng lực và phẩm chất của con người”[8, 485]
Trong công trình Tư tưởng Việt Nam về quyền con người (Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016) tác giả Phạm Hồng Thái đã khái quát tư tưởng Việt Nam về quyền con người từ thời kỳ phong kiến độc lập đến, tư tưởng về quyền con người của Đảng và Nhà nước Việt Nam Chương 1 của cuốn sách trình bày những vấn đề phương pháp luận nghiên cứu quyền con người, qua đó làm rõ lịch sử tư tưởng về quyền con người, các khuynh hướng, phương pháp tiếp cận vấn đề quyền con người, tìm ra điểm tiếp nối từ thuyết quyền tự nhiên, quyền pháp lý đến tư tưởng về quyền con người ở Việt Nam
Ngoài những công trình kể trên trên, có thể kể đến cuốn Tư tưởng Hồ
Chí Minh về quyền con người của Phạm Ngọc Anh (Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005); Đề tài khoa học cấp bộ Những quan điểm cơ bản
của chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền con người và ý nghĩa với Việt Nam hiện nay của Nguyễn Đức Thùy, mã số B07 – 14 (Học viện Chính trị - Hành chính
Hồ Chí Minh, 2007) Qua những công trình đã nêu, các tác giả đã cung cấp nhiều tri thức lý luận quan trọng về quyền con người, đặt nó trong mối quan
hệ với tri thức của nhân loại về vấn đề này, từ đó tìm ra mối liên hệ với việc bảo vệ và phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu ở trên cho thấy, các công trình
có liên quan đến đề tài luận án rất phong phú, đa dạng Song, cho đến nay, chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách có hệ thống tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, từ đó liên hệ với vấn đề bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài này vừa đảm bảo được tính mới, vừa được kế thừa những kết quả nghiên cứu quý báu mà các công trình đi trước cung cấp
Trang 243 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án nhằm làm rõ nội dung, đặc điểm và giá trị, hạn chế của tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, từ đó rút ra những bài học đối với việc bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, luận giải quá trình hình thành, phát triển của tư tưởng về quyền
con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Hai là, phân tích những nội dung, đặc điểm cơ bản của tư tưởng về
quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Ba là, đánh giá giá trị, hạn chế của tư tưởng về quyền con người trong
triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII; phân tích thực trạng vấn đề quyền con người và rút ra những bài học cần thiết đối với việc bảo vệ và phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, tập trung vào các nội dung cơ bản như: tư tưởng về quyền tự nhiên; tư tưởng về quyền tự do, bình đẳng và sở hữu tài sản; tư tưởng về nền dân chủ và phân quyền nhà nước – cơ chế để bảo vệ, phát huy quyền con người
Mặt khác, thời kỳ Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là thời kỳ xuất hiện rất nhiều triết gia thuộc các trường phái, khuynh hướng tư tưởng khác nhau Vì vậy, luận án không có tham vọng khảo cứu quan điểm của tất cả các triết gia
mà chỉ thông qua một số đại diện tiêu biểu như Voltaire, Montesquieu, Rousseau, La Mettrie, Diderot, Holbach
Trang 255 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án được nghiên cứu dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng sử dụng tổng hợp những phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tiếp cận hệ thống, lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, đối chiếu và so sánh, thống kê… Bên cạnh đó, luận án được tiếp cận dưới góc độ triết học lịch sử
6 Cái mới của luận án
Một là, luận án đã luận giải và hệ thống hóa tư tưởng về quyền con
người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII trên các phương diện cơ bản như: tư tưởng về quyền tự nhiên; tư tưởng về quyền tự do, bình đẳng và
sở hữu tài sản; tư tưởng về nền dân chủ và phân quyền nhà nước – cơ chế để bảo vệ, phát huy quyền con người
Hai là, luận án đã đánh giá những giá trị về mặt lý luận cũng như thực
tiễn của tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, cũng như hạn chế của tư tưởng này Trên cơ sở đó, luận án đã rút ra những bài học cần thiết đối với việc bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học, luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận cơ bản của tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII; vạch ra giá trị, hạn chế của tư tưởng này đối với sự phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại, cũng như các cuộc cách mạng tư sản và phong trào đấu tranh vì con người, quyền con người ở Việt Nam và trên thế giới
Về ý nghĩa thực tiễn, luận án đã rút ra những bài học cần thiết, có giá trị
thiết thực đối với việc bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay, đó là các bài học về xây dựng nền dân chủ và nhà nước pháp quyền xã
Trang 26hội chủ nghĩa; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; phòng ngừa, xử lý các vi phạm về quyền con người và đấu tranh chống các luận điểm sai trái, thù địch Kết quả nghiên cứu của luận án có thể
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy và nghiên cứu lịch sử triết học, đặc biệt là triết học phương Tây trong thời kỳ Khai sáng
8 Kết cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Phần nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết
Trang 27PHẦN NỘI DUNG Chương 1
1.1.1 Điều kiện hình thành, phát triển của tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học trong quá trình hình thành và phát triển luôn chịu sự chi phối của tồn tại xã hội C.Mác từng viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học”[46, 156] Theo quy luật của
sự ra đời các học thuyết, tư tưởng, triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII cũng là sự phản ánh sống động bức tranh kinh tế - chính trị - xã hội của nước Pháp thế kỷ XVIII Bởi vậy, việc làm rõ diện mạo “bức tranh” này là vấn đề cần thiết, để có cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản của triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII nói chung và tư tưởng về quyền con người nói riêng
Điều kiện kinh tế của nước Pháp vào thế kỷ XVIII
Bước sang thế kỷ XVIII, xã hội Tây Âu đã chuyển mình một cách mạnh mẽ, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từng bước phát triển Nước Anh – một trong những nước trung tâm Châu Âu - đã sớm tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa tư bản Trong khi đó vào thế kỷ XVIII, Pháp vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 90% dân số dựa vào đồng ruộng để tồn tại
Trang 28Dưới sự cai trị của nhà nước phong kiến, nước Pháp lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính trầm trọng vì phải nuôi sống một bộ máy quan chức khổng lồ,
sống xa hoa, lãng phí Các tác giả tác phẩm Lịch sử thế giới cận đại mô tả
sinh hoạt của Louis XVI như sau: Nhà vua sống ở cung điện Versailles với một đám quần thần đông đúc tới gần 2 vạn người chuyên việc phục vụ cho hoàng gia và sống dựa vào bổng lộc Bản thân vua là một con người phì nộn lười biếng và bất tài, tất cả thời gian đều dùng vào việc săn bắn Người có ảnh hưởng lớn đối với việc cai trị là hoàng hậu Marie Antoinette (1755 - 1793)[67, 61] Vua và triều đình hàng năm đã tiêu phí 1/12 ngân sách quốc gia, “quốc khố trống không mà số nợ mỗi ngày một tăng”[35, 588] Triều đình trở thành gánh nặng lớn đối với nhân dân, là “mồ chôn của quốc gia”[65, 61]
Kinh tế nước Pháp trông đợi chính vào nông nghiệp, song đây lại là một nền nông nghiệp kém phát triển, công cụ, phương tiện sản xuất và cách thức canh tác lạc hậu, đất đai bị hoang hóa rất nhiều, năng suất thấp kém Quan hệ ruộng đất phong kiến chiếm địa vị thống trị trong nông thôn Về danh nghĩa, đất đai trong toàn quốc thuộc quyền sở hữu của vua Nhà vua lấy ruộng đất đó phong cấp cho quan lại, quý tộc Mỗi quý tộc được quyền sở hữu đất đai ruộng lớn, có khi cả một vùng Ngoài ra, nhà thờ cũng nắm một phần ruộng đất đáng kể, chiếm tới 1/5 ruộng đất toàn quốc Người nông dân không
có quyền sở hữu ruộng đất, họ chỉ là những tá điền, nông nô được cho thuê đất dưới hai hình thức cơ bản là phát canh thu tô hoặc vĩnh điền nông nô
Về mặt pháp lý, phần lớn nông dân nước Pháp là nông dân tự do Họ có quyền tự do di chuyển nhà cửa, ký kết khế ước tài sản và hưởng quyền thừa
kế Tuy vậy, trên thực tế, đằng sau hình thức pháp lý ấy vẫn là tình trạng bị phụ thuộc Những người nông dân lĩnh canh bị trói buộc vào ruộng đất và quyền tư pháp của lãnh chúa, vào những đặc quyền trung cổ và phải phục vụ riêng cho gia đình chúa đất Họ nạp cho lãnh chúa địa tô phong kiến (từ 1/2
Trang 29đến 1/3 thu hoạch) và chịu nhiều thứ tô khác dưới hình thức siêu kinh tế Nông dân vĩnh điền cũng không phải là người chiếm hữu ruộng đất vô điều kiện mà phải nộp thuế chiếm tới 1/6 (có khi đến 1/4 hoặc 1/2) số lúa thu hoạch) và phục tùng mọi quyền lực của lãnh chúa
Đến thế kỷ XVIII, hệ thống sản xuất phong kiến ở Pháp đã phát triển đến mức độ cao và cuối cùng của nó, hình thức tiền tệ chiếm địa vị thống trị trong địa tô phong kiến Những nghĩa vụ mà nông dân gánh vác đều được thanh toán bằng tiền Không riêng thuế “cens” hay địa tô phải trả bằng một số tiền cố định mà tất cả những thứ thuế và nghĩa vụ phong kiến lâu đời khác đều được quy thành tiền Tuy vậy, quan hệ tiền tệ trong nông thôn chưa phá
vỡ tính chất kinh tế tự nhiên của nông nghiệp Nông dân sản xuất chủ yếu để dùng, chưa phải để bán ra thị trường Họ chỉ bán lấy tiền phần sản phẩm cần đem nộp thuế cho lãnh chúa phong kiến và nhà thờ Do đó, hàng hóa công nghiệp Pháp sản xuất ra không thể tiêu thụ mạnh ở nông thôn được
Nước Pháp thế kỷ XVIII đã bước đầu xuất hiện một số ít những ông chủ tư bản – quý tộc mới - trong lĩnh vực nông nghiệp Họ đã thử chuyển sang mở trang trại lớn, đuổi nông dân ra khỏi ruộng đất, tập trung những mảnh đất nhỏ thành mảnh đất lớn rồi áp dụng phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa Với phương thức này, mặc dù chỉ một số ít trong họ thành công nhưng cũng đã diễn ra sự phân hóa xã hội, một tầng lớp nông dân giàu có bắt đầu hình thành Tuy nhiên, đây chỉ là những hiện tượng hiếm hoi, chưa có vai trò đáng kể trong nền kinh tế nước Pháp
Trong những năm 70 – 80 của thế kỷ XVIII, giá cả nông sản bị sụt giảm làm chủ đất lỗ vốn nặng nề Để bù vào lỗ hổng đó, họ thực hiện những chính sách như tăng thuế, khôi phục một số luật phong kiến đã bị bỏ quên từ lâu đời để bòn rút nông dân Các lãnh chúa cũng bắt đầu chiếm đoạt ruộng đất Mức độ cướp đoạt phổ biến nhất là chiếm 1/3, nhưng cũng có khi chiếm
Trang 30tới 1/2, 2/3 thậm chí chiếm luôn toàn bộ công điền Kết quả là làm nền kinh tế nông nghiệp ngày càng suy sụp, nhiều gia đình khốn cùng,“nhịn miệng” nộp
tô thuế và cuối cùng bị phá sản, phải rời bỏ ruộng đất, quê hương đi kiếm ăn, nạn đói diễn ra liên miên
Ngược lại với thực trạng nông nghiệp “buồn chán” ở nông thôn, ở thành thị, sự biến chuyển thần tốc của nước Anh đã ảnh hưởng đến Pháp và thể hiện rõ nét qua tốc độ phát triển của các lĩnh vực công - thương nghiệp Thủ đô Paris với 50 vạn dân, trong đó 6 vạn thợ làm thuê, là một trung tâm thương nghiệp, một thành phố nổi tiếng thế giới về sản xuất mỹ phẩm Những công trường thủ công theo hình thức phân tán được áp dụng trên khắp nước Pháp; hình thức công trường thủ công tập trung còn tương đối ít nhưng đã chiếm địa vị kinh tế đáng kể Trong các công trường cũng bước đầu sử dụng máy móc Máy dệt Jenny, máy kéo sợi Arkwright đã xuất hiện trong các xưởng dệt; máy hơi nước và lò cao bắt đầu được sử dụng trong các ngành khai mỏ và luyện kim
Cùng với công nghiệp, tình hình thương nghiệp nước Pháp cũng phát triển nhanh chóng Quốc gia này đã thiết lập mối quan hệ buôn bán với các nước ở châu Âu, châu Mỹ, các nước phương Đông Những sản phẩm xuất khẩu trọng yếu của Pháp gồm lúa mì, len, gia súc, rượu vang và các hàng xa
xỉ phẩm; bù lại họ nhập khẩu đường, thuốc lá, cà phê Ngoài ra, một lĩnh vực đặc biệt, đem lại lợi nhuận cho các thương nhân Pháp đó là buôn bán nô lệ da đen từ châu Phi qua các nước châu Âu, nhất là châu Mỹ Chỉ tính riêng năm
1789, ngành ngoại thương của Pháp thu 1.826 triệu livrơ sản phẩm nông nghiệp và gần 525 triệu livrơ sản phẩm công nghiệp[67, 64]
Tuy có những bước tiến đáng kể, song nền công - thương nghiệp của Pháp phát triển tản mạn, chủ yếu ở các đô thị lớn và cũng chỉ tập trung sản xuất, buôn bán những mặt hàng cao cấp, xa xỉ cho một số ít khách hàng Bên
Trang 31cạnh đó, dưới chế độ phong kiến chuyên chế, những bước đi của công - thương nghiệp cũng bị cản trở bởi nhiều thực trạng xã hội và những quy định khá ngặt nghèo Đó là chính sách thuế khóa nặng nề, là sự kiểm soát chặt chẽ buộc phải theo những khuôn mẫu nhất định, sự hạn chế số lượng sản phẩm và công nhân, là bản hiệp ước 1786 hạ mức thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ Anh sang được ký kết do quyền lợi của giai cấp thống trị Sự bóc lột của giai cấp phong kiến làm đời sống người nông dân khó khăn không thể mua hàng tiêu dùng được cũng là nguyên nhân dẫn đến thị trường nông thôn bỏ trống, lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng ít được chú trọng
Có thể nói, trong thế kỷ XVIII, nền kinh tế nước Pháp vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nhưng là nền nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển Tình trạng tô, thuế nặng nề, cướp đoạt ruộng đất đã đẩy nhiều gia đình nông dân vào cảnh bần cùng hóa, đất đai bị bỏ hoang Trái ngược lại điều đó, các ngành công thương nghiệp của Pháp đã có một số kết quả nhất định, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng tỏ ra có ưu thế hơn so với phương thức sản xuất phong kiến Tuy nhiên, những bước đi của công thương nghiệp bị kìm hãm bởi rào cản của chế độ phong kiến chuyên chế, tính tích cực của giai cấp tư sản mới hình thành bị trói buộc Đời sống kinh tế của nước Pháp thế kỷ XVIII do vậy phản ánh sâu sắc nhiều mâu thuẫn lợi ích giữa các giai cấp trong xã hội và trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của các cuộc đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ cho con người
Điều kiện chính trị - xã hội của nước Pháp vào thế kỷ XVIII
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, xã hội Tây Âu đã chứng kiến những biến động lịch sử lớn lao, hàng loạt cuộc cách mạng tư sản đã mở ra một thời đại mới – thời đại của chủ nghĩa tư bản, từng bước đẩy lùi bóng đêm của thời
kỳ Trung cổ và sự kìm kẹp của chế độ phong kiến Tuy nhiên, điều này không diễn ra với tất cả các quốc gia, trong đó có nước Pháp Trong một thời gian
Trang 32khá dài, Pháp là một quốc gia quân chủ hùng cường, đặc biệt dưới sự cai trị của vua Louis XIV (giữa thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII)[35, 460 - 461]
Đến thế kỷ XVIII, mặc dù đã suy yếu, song Pháp vẫn duy trì chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến Vua Louis XV (1710 - 1774) và Louis XVI (lên ngôi năm 1774) tiếp tục tập trung mọi quyền hành về tay mình, nhà vua
tự coi “ý vua là ý trời” Những lời tuyên bố như “Pháp luật là Trẫm” và “là hợp pháp vì Trẫm muốn”[82, 15] đã cho thấy tính độc tài của nền quân chủ Pháp lúc bấy giờ Nước Pháp không có nghị viện, không có hiến pháp và hoàn toàn quên đi Hội nghị đẳng cấp – một thiết chế mang tính bán đại diện của các thành phần xã hội, dù chỉ là hình thức, được thiết lập vào đầu thế kỷ XIV Vua hầu như không bị chế ước bởi bất cứ một cơ chế nào và có quyền quyết định mọi công việc đối nội, đối ngoại, bổ nhiệm và cách chức các nhân viên nhà nước, ban hành và hủy bỏ các đạo luật, trừng phạt và ân xá
Để duy trì chế độ chính trị, bảo vệ quyền lợi của nhà vua cùng tầng lớp quan lại, quý tộc, nhà vua đã xây dựng một bộ máy quyền lực mang tính chất cưỡng chế bao gồm quân đội, cảnh sát, nhà tù… Hình ảnh nhà tù Bastille ở Paris “lâu đời và kiên cố, cao 23m, tường dày từ 1,6m đến 1,8m, có 8 ngục tối dưới đất dùng để giam người cùng với rắn rết”[67, 60] là minh chứng cho sự cai trị chuyên chế của chế độ phong kiến Pháp “Cái Bastille ấy, cái pháo đài đen tối và rất hung dữ ấy, với 8 tháp canh ngạo nghễ đã khống chế toàn bộ Paris và cầm giữ thành phố dưới những làn đại bác của nó Ở đó, bàn chân của sự chuyên chế đã đè lên bụng nhân dân”[68, 239]
Bên cạnh đó, vua và triều đình phong kiến Pháp còn trông cậy vào nhà thờ với tư cách là lực lượng tinh thần chống lưng cho thể chế Nhà thờ đã
dùng ánh sáng thánh thiện của Chúa để biện hộ cho trật tự hiện hành, thần
thánh hóa nhà vua, khuyên nhủ người dân trung thành tuyệt đối với triều đình
và bênh vực cho sự bất bình đẳng Ngược lại, nhà vua trở thành cánh tay thế
Trang 33tục, bảo vệ đặc quyền, đặc lợi của nhà thờ Chế độ quân chủ chuyên chế Pháp
đã thiết lập một mạng lưới nhà thờ ở khắp cả nước, đưa giáo hội Thiên Chúa
ở Pháp trở thành một trong những giáo hội có thế lực lớn nhất ở châu Âu Meslier – một mục sư đã viết: “Tôn giáo ủng hộ chính quyền, dù chính quyền
đó có độc ác đến thế nào đi nữa, và ngược lại chính quyền ủng hộ tôn giáo, dù tôn giáo có ngu ngốc và trống rỗng đến thế nào đi nữa”[17, 65]
Mối quan hệ này còn được buộc chặt, củng cố hơn, khi nhà thờ không ngừng mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình lên thượng tầng kiến trúc xã hội Pháp Trong những năm cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, đã có một số tăng lữ trở thành trụ cột của triều đình phong kiến, chẳng hạn như Hồng y Richelieu đã từng là tể tướng trong triều đình của vua Louis XIII; Hồng y Mazarin vừa là tể tướng, vừa là giám hộ của vua Louis XIV Quyền thế của nhà thờ không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tôn giáo mà nó còn bao trùm nhiều lĩnh vực khác, thậm chí chạm đến cả những lĩnh vực công như tòa án, pháp luật, y
tế, giáo dục… Điều đó chứng tỏ rằng “ở Pháp tôn giáo lẫn lộn với chính trị, chính trị xen kẽ với tôn giáo, chằng chịt nhau đến nỗi cả hai trở thành một, nghĩa là đâu cũng có tôn giáo”[79, 28] và “nhà thờ đã dán cứng số phận của mình vào số phận của một chế độ quân chủ tuyệt đối, áp bức” [79, 30]
Có thể nói đặc điểm chính trị - xã hội nổi bật của nước Pháp thế kỷ XVIII là việc duy trì chế độ quân chủ chuyên chế mang tính chất độc đoán và
sự câu kết chặt chẽ giữa nhà nước và giáo hội Thiên Chúa giáo Cùng với hệ thống chính trị kém hiệu quả như vậy là một kết cấu xã hội gồm ba đẳng cấp trong đó có phân định rạch ròi: tăng lữ là đẳng cấp thứ nhất, quý tộc là đẳng cấp thứ hai và đẳng cấp thứ ba bao gồm tất cả những đẳng cấp còn lại: tư sản, nông dân, bình dân thành thị, công nhân Sự phân biệt giữa ba đẳng cấp đó được quy định theo công thức: “tăng lữ phục vụ nhà vua bằng những lời cầu nguyện, quý tộc bằng lưỡi kiếm, đẳng cấp thứ ba bằng của cải”
Trang 34Tăng lữ và quý tộc là đẳng cấp chiếm 1% dân số trong xã hội, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về dòng tộc và giữ vị trí thống trị nước Pháp Những
kẻ đại diện của hai đẳng cấp này nắm tất cả các chức vụ cao cấp trong nhà nước và nhà thờ Giới quý tộc từ lâu đã trở thành lực lượng ăn bám, bóc lột, sống lãng phí trên mồ hôi, nước mắt của nhân dân Giới tăng lữ cũng đua nhau làm giàu và sống hết sức xa hoa Họ biến thành những quý tộc, địa chủ chiếm khối lượng tài sản và đất đai to lớn Theo số liệu thống kê của những người đương thời, lợi tức của một giám mục trung bình là 100.000 livrơ, có vị lên đến 600.000 livrơ Tất cả 130 địa phận giám mục của vương quốc đều là tài sản thực sự của những gia đình quý tộc[82, 17] Nói về điều này, Victor Hugo từng viết: “Bất cứ bạn là người thế nào, bạn sẽ phải rùng mình ghê tởm trước cái áo thầy tu và cái màn che mặt, hai tấm vải liệm do con người sáng chế ra Dị đoan, mê tín, nước đôi, giả đạo đức, thành kiến, những côn trùng
ấy, mặc dù vẫn là trùng, vẫn cố bám lấy cuộc sống, những cái hình dạng hơi khói ấy có cả nanh và vuốt… Đây là một cái tai họa oan nghiệp của nhân loại” [30, 213]
Đẳng cấp thứ ba gồm tư sản, nông dân, công nhân, bình dân thành thị…chiếm hơn 99% dân số nhưng bị tước đoạt mọi quyền chính trị, bị phụ thuộc và phải phục vụ các đẳng cấp có đặc quyền Giai cấp tư sản là một lực lượng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế của đất nước Họ tập trung trong tay những số vốn kếch sù, không chỉ chiếm lĩnh lĩnh vực công thương nghiệp mà còn mở rộng cả sang nông nghiệp và sở hữu một số ruộng đất nhất định Ưu thế này đã khiến số đông quý tộc buộc phải dựa dẫm vào họ, triều đình trở thành con nợ của giai cấp tư sản Mặc dù vậy, trừ số ít đại tư sản có thái độ gần gũi với chế độ quân chủ chuyên chế, còn phần đông tầng lớp tư sản công thương nghiệp không hề có quyền lực chính trị và chịu sự kiềm chế gay gắt của bộ máy cai trị phong kiến Họ khát khao được tham gia chính quyền, được xóa bỏ những luật lệ ngặt nghèo nhằm mở đường cho công
Trang 35thương nghiệp phát triển Song, mọi cố gắng của họ đã vấp phải sự phản kháng của các tầng lớp trên Để bảo vệ lợi ích của mình, triều đình phong kiến và giới quý tộc lại ra sức thâu tóm quyền lực chính trị và sẵn sàng chà đạp bất kì những tư tưởng nổi loạn nào về sự tự do, bình đẳng
Giai cấp có số lượng đông đảo nhất trong đẳng cấp thứ ba, nhưng cũng
có cuộc sống khốn khổ nhất trong xã hội Pháp chính là những người nông dân Họ bị trói buộc bởi những đặc quyền tư pháp của lãnh chúa được tượng trưng bằng chiếc giá treo cổ đặt tại lãnh địa và nhiều đến nỗi một luật gia phải dùng 600 trang giấy để thống kê “Bản thân các quyền tư pháp phong kiến ấy
là một thứ gì rất rối ren, phức tạp và mâu thuẫn, đến nỗi không những người nông dân vô học mà đến cả những người nghiên cứu luật pháp phong kiến vẫn không lần ra”[56, 29] Quý tộc, lãnh chúa có độc quyền về cối xay, máy
ép mía, lò bánh mì, máy ép nho… Vì vậy, người nông dân cần xay lúa, làm mật, nướng bánh, nấu rượu… họ đều phải đóng một thứ thuế riêng cho lãnh chúa Họ còn phải nộp tiền qua cầu, đi đường, qua đò, câu cá, giết trâu bò…
Ngoài việc nộp thuế cho lãnh chúa (từ 1/3 đến 1/2 thu hoạch), nông dân còn phải nộp các thứ thuế cho nhà nước như thuế thân, thuế lợi tức, thuế tài sản Họ cũng phải nộp cho nhà thờ thuế một phần mười, tức là 1/10 số thu hoạch và nhiều thứ tiền khác như tiền rửa tội, tiền đi lễ Họ đồng thời phải chịu nhiều thứ lao dịch khác như đắp đường, xây cầu, vận tải, đài thọ cho
binh lính… Thân phận của người nông dân Pháp được tác phẩm Lịch sử cận
đại mô tả như sau: “Những người nông dân sống khổ sở vô cùng trong những
túp lều trống rỗng, không giường, không bàn ghế Phần lớn không có đủ bánh, thứ lương thực chính của họ, để ăn trong nửa năm Nông dân và con cái
họ phải nhịn ăn để đóng thuế”[26, 65] Vì lý do như vậy, nên người nông dân Pháp cực kỳ căm thù chế độ phong kiến chuyên chế và mong muốn thoát ra khỏi tình trạng này, đòi lại những quyền lợi thiết yếu của con người cho mình
Trang 36Thành phần tiếp theo của đẳng cấp thứ ba trong xã hội Pháp là tầng lớp bình dân thành thị, bao gồm công nhân, thợ thủ công, những người bán hàng vặt, người hát rong, người thất nghiệp hoặc sống bằng những nghề tạm bợ…
Họ chen chúc trong những vùng ngoại ô thành phố, sống nghèo đói và không
có quyền chính trị Tuy không phải chịu ách bóc lột của lãnh chúa nhưng thay vào đó một bộ phận không nhỏ trong họ chịu sự bóc lột của giai cấp tư sản Trong thời kỳ này, công nhân chưa hình thành một giai cấp, ý thức giác ngộ kém, mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản chưa thực sự sâu sắc, không phải là mâu thuẫn chính Họ từng nhiều lần đấu tranh chống chế độ phong kiến, mong muốn có một cuộc sống khấm khá hơn, nhưng cuối cùng đều bị đàn áp Bởi vậy, họ thường đi theo giai cấp tư sản, liên kết chặt chẽ cùng giai cấp tư sản và các tầng lớp khác trong cuộc đấu tranh chống phong kiến
Có thể nói, với sự phát triển của quan hệ tư bản, sự suy yếu của quí tộc phong kiến và sự gia tăng vị trí xã hội của giai cấp tư sản, thì tương quan giai cấp dần trở nên bất lợi cho nhà nước quân chủ chuyên chế Mâu thuẫn giữa đẳng cấp thứ ba và chế độ phong kiến ngày càng gay gắt trên tất cả mọi lĩnh vực Giai cấp tư sản từng bước trưởng thành và cảm nhận được sự chật hẹp của khuôn khổ chính trị, pháp luật và đạo đức mà từ trước đến giờ nó buộc phải tuân thủ và bắt đầu đòi hỏi phải thủ tiêu xiềng xích, xóa bỏ cho được các hình thức bóc lột Lý tưởng của giai cấp tư sản phù hợp với nguyện vọng của
số đông quần chúng nhân dân, đại biểu cho lợi ích của quần chúng nhân dân
Họ đã đóng vai trò “đại biểu không phải của một giai cấp riêng biệt, mà là đại biểu của toàn thể nhân loại đau khổ”[53, 31 - 32] Tuy vậy, cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản, quần chúng lao khổ và chế độ phong kiến không chỉ dừng lại ở lĩnh vực chính trị mà lan sang cả lĩnh vực tư tưởng – văn hóa Toàn
bộ điều kiện lịch sử của nước Pháp thế kỷ XVIII đã quy định xu hướng chủ đạo của các quan điểm tiến bộ, thể hiện tập trung trong phong trào Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là tư tưởng về quyền con người, đòi tự do, bình đẳng
Trang 371.1.2 Tiền đề tư tưởng - lý luận của tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Từ xưa đến nay, các dân tộc văn minh đều biết chắt lọc những gì là có ích trong kho tàng văn hóa của nhân loại để để làm giàu trí tuệ của mình Người Pháp vốn là một dân tộc thông minh, nơi sản sinh ra các triết gia vĩ đại,
lẽ dĩ nhiên trong hành trình tìm kiếm chân lý họ cũng nắm chắc và thực hiện đúng theo quy luật ấy Tuy nhiên, những ảnh hưởng của lịch sử tư tưởng nhân loại, đặc biệt là tư tưởng phương Tây lên các nhà triết học Khai sáng Pháp thế
kỷ XVIII cũng không hoàn toàn giống nhau, mà mang những màu sắc đậm nhạt nhất định Sự vận động của quan niệm về quyền con người cũng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau có khi chỉ là những nét phác họa, song có khi lại hết sức sâu sắc Điều đó được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
Tư tưởng về quyền con người trong triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại
Trong lịch sử phương Tây, tư tưởng về quyền con người đã sớm xuất hiện từ thời kỳ cổ đại tại Hy Lạp – La Mã Đây là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại, nơi phát sinh các cuộc luận chiến, cũng như các cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ quyền tự do, bình đẳng của con người Trong tác phẩm
On Liberty (Bàn về tự do), John Stuart Mill (1806 - 1873) đã nhận định:
“Cuộc đấu tranh giữa Tự do và Quyền uy là đặc trưng nổi bật nhất trong phần lớn lịch sử chúng ta sớm biết đến, đặc biệt là trong lịch sử Hy Lạp, La Mã và nước Anh”[57, 19] Dấu ấn của thời kỳ Hy Lạp – La Mã cổ đại được thể hiện
rõ nét trong tư tưởng về quyền con người của triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII Nhiều tác phẩm nổi tiếng của các nhà Khai sáng Pháp đã khảo cứu một cách sâu sắc về lịch sử, văn hóa và thể chế chính trị của Hy Lạp – La Mã
cổ đại và tư tưởng của các chính trị gia, sử gia, triết gia tiêu biểu thời kỳ này
Vào năm 594 TCN, thông qua cuộc cải cách của Solon (638 – 588 TCN), nền dân chủ trực tiếp sớm nhất trong lịch sử loài người đã được xây
Trang 38dựng tại Athens, một thành bang của Hy Lạp cổ đại Solon công nhận quyền công dân của những người tự do, thiết lập hội nghị công dân và tòa án - nơi các công dân Athens có quyền tham gia xử kiện Kế tiếp Solon là giai đoạn cầm quyền của Péricles (490 – 429 TCN) Ông đã triển khai tư tưởng dân chủ một cách quyết liệt bằng việc thực hiện những cải cách chính trị sâu rộng nhằm nâng cao vị thế người nghèo, chuyển giao quyền lực cho một hội nghị của toàn thể công dân Bên cạnh nền dân chủ Athens, một thể chế chính trị mang lại các quyền con người trong thời kỳ cổ đại không thể không nhắc đến
là nền Cộng hòa Rome (509 – 31 TCN) Trong thể thế chế này, mọi quyền hành đều nằm trong tay bộ phận quý tộc giàu có mà đại diện là Viện nguyên lão Mặc dù vậy, cơ quan quyền lực cao nhất của Cộng hòa Rome lại là Đại hội nhân dân Centuriata, tại đây, mọi công dân của Rome có quyền tham gia bầu các quan chấp chính và quyết định các vấn đề cơ bản trong xã hội Các quan chấp chính và Viện nguyên lão trong một chừng mực nhất định bắt buộc phải coi trọng và tham khảo ý kiến nhân dân
Có thể nói, nền dân chủ Athens và Cộng hòa Rome là sự hiện thực hóa khát vọng dân chủ, mang lại các quyền tự do cho con người, đặc biệt là quyền chính trị, từ đó có ảnh hưởng ít nhiều đến triết học phương Tây ở các thời kỳ
sau, trong đó có triết học Khai sáng Pháp Trong tác phẩm Bàn về tinh thần
pháp luật, khi đề cập các luật về tự do chính trị, Montesquieu đã dành ba
chương để bàn về Hy Lạp xưa, sự cai trị của các vua Rome và nhà nước Rome sau khi kết thúc chế độ quân chủ chuyển sang giai đoạn Cộng hòa Kế tiếp Montesquieu, Rousseau cũng là người say mê lịch sử ở Hy Lạp – La Mã
cổ đại Ông đã phân tích các cuộc bầu cử và đại hội toàn dân La Mã – thiết chế thể hiện quyền tự do chính trị của con người trong một tác phẩm quan
trọng của mình là Bàn về khế ước xã hội,
Trang 39Ngoài việc chịu ảnh hưởng những tư tưởng tự do, dân chủ sơ khai của
Hy Lạp – La Mã cổ đại, các nhà Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII còn tiếp thu có phê phán tư tưởng của những triết gia tiêu biểu thời kỳ này như Socrates, Plato, Aristotle… Socrates (469 – 399 TCN) – một triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại là người phản đối nền dân chủ Athens, phản đối cơ cấu của Hội nghị công dân bao gồm các thành phần mà ông cho là thấp kém Điều này phản ánh chủ trương duy lý hóa nhà nước, trao quyền điều hành quốc gia vào tay những người xứng đáng, có tri thức và năng lực Bởi vậy, nên Socrates đã
bị các nhà cầm quyền lúc bấy giờ tuyên án tử hình Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tư tưởng của Socrates là sự đồng hành của hai khuynh hướng khác biệt vừa phê phán nền dân chủ Athens, vừa khát vọng đạt đến tự do của con người Socrates hầu như không để lại bất cứ trước tác nào, tư tưởng của Socrates chủ yếu được phản ánh qua các ghi chép của Plato (427 – 347 TCN) – người học trò thông tuệ và trung thành với Socrates - thậm chí khó phân biệt đâu là tư tưởng của Socrates, đâu là tư tưởng của Plato Mặc dù vậy qua lời tự biện hộ của Socrates trước phiên tòa kết án ông ở Athens[3, 22 - 23] được Plato ghi chép khá trung thực đã cho thấy Socrates chính là một nhà hoạt động vì nhân quyền, “ông dám khẳng định quyền tự do tư tưởng, tự do biểu đạt, tự do sống cuộc đời mình chọn lựa – như một thứ quyền con người, cao hơn bất kỳ bộ luật của một cộng đồng người nào, kể cả của thành quốc ông sinh ra”[85, 65] Phải chăng những quyền con người mà Socrates đề cập và thái độ bình thản đối mặt với cái chết nhằm xác lập quan điểm “phải tự xét mình, xét người, bởi vì sống không suy xét không đáng gọi là sống” [85, 65] của ông chính là xuất phát điểm cho tinh thần khoan dung kéo dài từ thời kỳ
cổ đại, bỏ qua giai đoạn trung cổ tới thời kỳ Phục hưng - Khai sáng ở Tây Âu
Đương nhiên, không phải chỉ ở Socrates và kế tiếp là Plato, triết học
Hy Lạp mới có bước ngoặt chuyển từ tìm hiểu tự nhiên sang con người, đề cao phẩm giá, đức hạnh của con người mà đương thời cũng có những nhà triết
Trang 40học đề cập vấn đề này, điển hình như Protagoras (485 – 411 TCN) Số phận của Protagoras cũng có điểm tương đồng với Socrates, bởi khi đưa ra và bảo
vệ chính kiến của mình, ông đã bị buộc tội nghịch đạo và chịu lưu đày cho đến chết Với Protagoras “con người là thước đo vạn vật, thước đo sự hiện hữu của chúng, đối với những gì đang hiện hữu, thước đo sự không hiện hữu của chúng đối với những gì không hiện hữu”[63, 51] Tuyên ngôn này của ông đã đặt con người vào vị trí trung tâm và đã trở thành một trong những ngọn nguồn lý luận cho các tư tưởng về con người và quyền con người trong lịch sử tư tưởng nhân loại, ở đó có triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII
Một nhà triết học thời kỳ Hy Lạp cổ đại mà những phát kiến của ông đã
mở đường cho nhiều lĩnh vực khoa học, nhiều khuynh hướng tư tưởng trong
đó có tư tưởng về quyền con người là Aristotle (384 – 322 TCN) Những tác
phẩm tiêu biểu về mà Aristotle để lại là Athenian Constitution (Hiến chế Athens, 350 TCN) và Politics (Chính trị, 350 TCN) Ở đó, ông thừa nhận sự
tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ và cho rằng nếu một ai đó trở thành nô lệ, chịu đựng sự bất công thì điều đó cũng là lẽ tự nhiên, “nếu có người bẩm sinh
là người tự do, thì cũng có người bẩm sinh là kẻ nô lệ; và đối với những kẻ này thì việc trở thành nô lệ vừa tốt vừa có lợi cho chính họ”[85, 69] Aristotle khẳng định quyền con người là một phạm trù có tính lịch sử - xã hội, không phải ở đâu quyền con người cũng giống nhau, đó là sự khác biệt về quyền giữa người giàu và người nghèo Trong tư tưởng của Aristotle luôn tồn tại mâu thuẫn: một mặt, ông không đòi hỏi sự bình đẳng giữa những công dân với nhau trong xã hội và có thái độ lạnh nhạt với nền dân chủ Athens; mặt khác, ông ca ngợi nền quân chủ như một nhà nước hoàn thiện nhưng lại dành nhiều thiện cảm cho hình thức cộng hòa, khao khát một nhà nước mà trong đó mọi người có thể làm chủ Aristotle tập trung nghiên cứu nhằm tìm ra “thể chế nào là tốt nhất cho phần lớn các nhà nước và cuộc sống nào là tốt nhất đối với con người”[85, 74], từ đó hướng đến việc xây dựng một nhà nước thống