1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người mã lai đa đảo và môn khmer ở trường sơn tây nguyên

207 64 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, qua nghiên cứu so sánh một khối lượng truyện thật phong phú-còn chưa khai thác, sưu tầm đầy đủ của hai nhóm tộc người, luận án nhằm chỉ ra những tương đồng và khác biệt của tru

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHAN XUÂN VIỆN

NGHIÊN CỨU SO SÁNH TRUYỆN DÂN GIAN CỦA HAI NHÓM TỘC NGƯỜI MÃ

LAI ĐA ĐẢO VÀ MÔN KHMER Ở TRƯỜNG SƠN-TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trính nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án

là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

PHAN XUÂN VIỆN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do và mục đích của đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

3 Lịch sử vấn đề 2

4 Nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 15

6 Đóng góp mới của luận án 17

7 Kết cấu của luận án 17

Chương 1.LÝ THUYẾT SO SÁNH TRUYỆN DÂN GIAN VÀ TỔNG QUAN VỀ TRUYỆN DÂN GIAN CỦA HAI NHÓM TỘC NGƯỜI MÃ LAI ĐA ĐẢO & MÔN KHMER 19

1.1 Lý thuyết so sánh truyện dân gian 19

1.2 Tổng quan về truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK ở Trường Sơn - Tây Nguyên 27

1.2.1 Về hai nhóm tộc người MĐ và MK ở Trường Sơn - Tây Nguyên 27

1.2.2 Về truyện dân gian của hai nhóm tộc người 32

1.2.2.1 Về truyện dân gian của nhóm tộc người MĐ 36

1.2.2.2 Về truyện dân gian của nhóm tộc người MK 43

Tiểu kết 52

Chương 2 SO SÁNH THỂ LOẠI 54

2.1 Về thực trạng phân loại truyện dân gian của hai nhóm tộc người 54

2.1.1 Danh xưng bản ngữ các thể loại truyện dân gian hai nhóm tộc người 54

2.1.2 Về những truyện dân gian của hai nhóm tộc người có độ dài khác thường hay loại truyện sử thi được cổ tích hóa 55

2.2 So sánh thể loại truyện dân gian của hai nhóm tộc người 58

2.2.1 So sánh thể loại thần thoại 63

2.2.1.1 So sánh thần thoại suy nguyên về nhân loại, tộc người: nhóm truyện về lũ lụt (hồng thủy) 64

2.2.1.2 So sánh truyện thần thoại về ma lai 70

2.2.2 So sánh thể loại truyền thuyết 82

2.2.2.1 So sánh nhóm truyền thuyết địa danh “Sự tích về bàu, vũng, ao, hồ, sông, suối, đầm, thác, đảo, hòn, biển” 83

2.2.2.2 So sánh nhóm truyền thuyết về phong tục tín ngưỡng địa phương “Sự tích về các dòng họ” 88

2.2.2.3 Hai nhóm truyền thuyết Chăm về các vị vua-thần có công tích và đề tài thi xây tháp .94

Trang 4

2.2.3 So sánh thể loại truyện cổ tích 97

2.2.3.1 So sánh tiểu loại truyện cổ tích loài vật-nhóm truyện về “mối quan hệ giữa con người với loài vật” 97

2.2.3.2 So sánh tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ-nhóm truyện về “Con vật thần kỳ và tro của nó” 101

2.2.3.3 So sánh tiểu loại truyện cổ tích lũy tích 104

2.2.3.4 Về hai nhóm truyện cổ tích sinh hoạt riêng của nhóm tộc người MĐ 113

2.2.4 So sánh thể loại truyện cười 115

2.2.5 So sánh thể loại truyện ngụ ngôn 121

Tiểu kết 124

Chương 3 SO SÁNH TYPE TRUYỆN VÀ MOTIF TRUYỆN TIÊU BIỂU 126

3.1 So sánh type truyện tiêu biểu 126

3.1.1 So sánh type truyện truyền thuyết anh hùng “thanh gươm thần” 126

3.1.1.1 Về type truyện thanh gươm thần 128

3.1.1.2 So sánh các bản kể của type truyện 130

3.1.2 So sánh type truyện cổ tích thần kỳ về nhân vật dũng sĩ (điển cứu trường hợp Ê Đê-Mơ Nông) 139

3.2 So sánh motif truyện tiêu biểu 145

3.2.1 So sánh motif đá thiêng / hóa đá 146

3.2.1.1 So sánh motif đá thiêng / hóa đá trong truyền thuyết địa danh 149

3.2.1.2 So sánh motif “đá thiêng / hóa đá” trong truyện cổ tích sinh hoạt 158

3.2.2 So sánh các motif diệt rắn ác, diệt chim dữ, đánh giặc trong type truyện cổ tích thần kỳ Người giết rắn cứu cô gái 159

3.2.2.1 Khảo sát type truyện Người giết rắn cứu cô gái có ba motif 159

3.2.2.2 So sánh motif diệt rắn ác 162

3.2.2.3 So sánh motif diệt chim dữ 170

3.2.2.4 So sánh motif đánh giặc 172

Tiểu kết 173

KẾT LUẬN 176

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO & CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 182

TÀI LIỆU THAM KHẢO 184

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

MĐ: Mã lai Đa đảo (N…: ký hiệu mã hóa của truyện MĐ)

MK: Môn Khmer (M…: ký hiệu mã hóa của truyện MK)

VHDG: Văn hóa dân gian

NSDG: Nguồn sáng dân gian

VHNT: Văn hóa nghệ thuật

VHDT: Văn hóa dân tộc

VHTT: Văn hóa thông tin

KHXH: Khoa học xã hội

KHXH&NV: Khoa học xã hội và Nhân văn

ĐHKHXH&NV: Đại học khoa học xã hội và nhân văn

ĐHQGHN: Đại học quốc gia Hà Nội

ĐHQGTPHCM: Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chì Minh

CTQG: Chình trị quốc gia

Tr.: Trang

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ĐƯỢC SỬ DỤNG KHẢO SÁT SO SÁNH

Ở CHƯƠNG 2 VÀ CHƯƠNG 3

(trong tập Phụ lục phần PL3)

1 Bảng 1-PL3: Bảng thống kê, phân loại các thể loại, tiểu loại, nhóm……… 180

2 Bảng 1a-PL3: Bảng thống kê, phân loại thể loại thần thoại ……… 180

3 Bảng 1b-PL3: Bảng thống kê, phân loại thể loại truyền thuyết ……….181

4 Bảng 1c-PL3: Bảng thống kể, phân loại thể loại truyện cổ tích……… 181

5 Bảng 1c’-PL3: Bảng thống kê phân loại thể loại truyện cổ tích theo tiểu loại………182

6 Bảng 1d-PL3: Bảng thống kê thể loại truyện cười……… 182

7 Bảng 1e-PL3: Bảng thống kê thể loại truyện ngụ ngôn……… 182

8 Bảng 1f-PL3: Bảng liệt kê danh xưng bản ngữ các thể loại truyện dân gian…… 182

9 Bảng 4-PL3: Bảng thống kê, phân loại truyện cổ tích thần kỳ (phân loại và so sánh theo chủ đề) ………186

10 Bảng 4a-PL3: Truyện cổ tích thần kỳ các tộc người (phân loại theo chủ đề)……186

11 Bảng 4b-PL3: Bảng thống kê, so sánh type truyện “nhân vật dũng sĩ” (Ê Đê-Mơ Nông)………187

12 Bảng 7a-PL3: Bảng thống kê, phân loại truyện cổ tìch lũy tìch theo thể / tiểu loại ……… 191

13 Bảng 7b-PL3: Bảng thống kê, phân loại truyện cổ tìch lũy tìch theo chủ đề và tiểu vùng văn hóa ……….191

14 Bảng 9a-PL3: Bảng thống kê, phân loại truyện cười theo chủ đề……….194

15 Bảng 9b-PL3: Bảng thống kê, phân loại truyện ngụ ngôn theo chủ đề………… 195

16 Bảng 11-PL3: Bảng thống kê những truyện dân gian có độ dài khác thường……197

17 Bảng 11a-PL3: Bảng phân loại dạng truyện “tiểu tinh” theo tiểu loại truyện cổ tìch……… 198

18 Bảng 12b-PL3: Thống kê, phân loại truyện dân gian có motif đá thiêng / hóa đá theo thể / tiểu loại……… 199

19 Bảng 13-PL3: Bảng thống kê nhóm truyện “Con vật thần kỳ và tro của nó”…….199

20 Bảng 14-PL3: Bảng thống kê truyện có ba motif “diệt rắn ác”, “diệt chim dữ”, “đánh giặc” trong type truyện “người giết rắn cứu cô gái” ……… ……….199

21 Bảng 15a-PL3: Bảng thống kê nhóm truyện ma lai………201

22 Bảng 15b-PL3: Bảng so sánh truyện ma lai……….201

Trang 7

tự nhiên và xã hội cũng như sự tự ý thức bản thân mình Thông qua các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, những nội dung sinh hoạt, lao động và chiến đấu của con người trong buổi đầu của thời nguyên thủy được tái hiện lại một cách dung dị và hồn nhiên với quá trình tổ tiên nhận thức, cải tạo, chinh phục thế giới và tìch lũy những hiểu biết về hiện thực khách quan xung quanh mính Điều này làm nên những giá trị nền tảng, thể hiện tri thức của toàn thể các cộng đồng rất phong phú, có tính giáo dục và thẩm mỹ to lớn, góp phần quan trọng trong việc tạo nên bản sắc riêng cho nền văn hóa dân gian của mỗi dân tộc

Từ trước đến nay, chưa có công trính nào đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK ở TS-TN Do vậy, việc khảo sát

và so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người này ở TS-TN là nhằm hiểu rõ về diện mạo kho tàng truyện dân gian của các dân tộc nơi đây từ lâu có đời sống biệt lập trên vùng cao nguyên trung phần Việt Nam (VN) với những đặc trưng riêng về một thế giới quan bản địa còn nguyên sơ cùng phong tục tập quán và những lễ nghi nông nghiệp nương rẫy đặc thù của vùng

Mặt khác, qua nghiên cứu so sánh một khối lượng truyện thật phong phú-còn chưa khai thác, sưu tầm đầy đủ của hai nhóm tộc người, luận án nhằm chỉ ra những tương đồng và khác biệt của truyện dân gian của hai nhóm tộc người, cố gắng nêu rõ nguyên nhân của những tương đồng và khác biệt ở các thể loại truyện dân gian, ở một

số type truyện và motif truyện tiêu biểu

Trang 8

2

2 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn cách khảo sát so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người dưới góc độ thể loại, type truyện và motif truyện nhằm chỉ ra những nguyên nhân của những tương đồng và khác biệt về thể loại, type và motif trong kho tàng truyện dân gian của hai nhóm tộc người Hướng tiếp cận so sánh này sẽ tạo được một cái nhín khái quát để từ đó có thể nêu lên được những sắc thái riêng của truyện dân gian của từng nhóm tộc người nói chung và của từng tộc người trong hai

nhóm nói riêng Thuật ngữ truyện dân gian được sử dụng trong luận án tương đương với các thuật ngữ truyện kể dân gian, truyện cổ, truyện cổ dân gian nhằm chỉ loại hình

tự sự dân gian với các đặc điểm chung của loại hính trong đặc trưng chung của văn

học dân gian, trong tổng thể folklore

Hướng nghiên cứu so sánh này tạo điều kiện mở rộng phạm vi khảo sát tiếp cận với các kho tàng truyện dân gian và các nền văn hóa liên quan-như với truyện dân gian

và văn hóa tộc người Việt trong nước và truyện dân gian và văn hóa các dân tộc Đông Nam Á (ĐNÁ) láng giềng, theo nhiều cấp độ: giữa các dân tộc trong nước và giữa các nước trong khu vực văn hóa ĐNÁ Qua so chiếu giữa truyện dân gian các dân tộc, trong và ngoài nước, bằng vào nhiều nguồn tư liệu của các dân tộc liên quan kề cận-qua quá trình có chung cội nguồn, cộng cư, xen cư, giao lưu vay mượn, tiếp biến hoặc

do đồng loại hình, chúng ta sẽ có cơ sở để hiểu rõ hơn những tư liệu đang có về một nhóm tộc người nói chung hay một tộc người nói riêng, từ đó có thể đi đến kết luận xác đáng và thuyết phục

Trang 9

3

dân gian của các dân tộc và thời đại khác nhau Một trong những nguyên tắc và phương châm đó phải là một sự phân định giới hạn rõ ràng những phương diện cơ bản

của phương pháp so sánh lịch sử folklore: đối chiếu đơn giản, so sánh di truyền lịch

sử, so sánh xác định những liên hệ giữa các hiện tượng trên cơ sở sự ảnh hưởng qua lại văn hóa quốc tế, so sánh loại hình lịch sử Dựa trên sự thống nhất của quá trình

phát triển lịch sử của xã hội loài người, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin,

Zhirmunski đưa ra luận điểm “tiền đề cơ bản của so sánh loại hình lịch sử các hiện tượng văn học và folklore là sự thống nhất và tính quy luật của quá trình phát triển lịch sử xã hội của nhân loại, trong đó sự phát triển của văn học được coi như một trong những kiến trúc thượng tầng (tư tưởng, nghệ thuật), là sự nhận thức hình tượng thực tại đem lại những tương đồng đáng kể trên những mức độ giống nhau của sự phát triển xã hội”

Năm 1983, tại Liên Xô, luận án tiến sĩ về phương pháp nghiên cứu so sánh loại hình lịch sử của Lê Chí Quế đã làm sáng tỏ những nguyên tắc, bình diện những lý luận

cơ bản của nghiên cứu loại hình học so sánh lịch sử của cổ tích học Xô Viết dưới ánh sáng của phương pháp hệ thống, để lý giải những hiện tượng phức tạp trong sự phát triển truyện cổ tích VN, và xác lập nguyên tắc phân loại truyện cổ tích VN Sau đó, trên một số bài viết khác, Lê Chí Quế đã giới thiệu về các nhà folklore học thế giới đã

và đang vận dụng những quan điểm cơ bản của những lý thuyết khác nhau như lý thuyết vay mượn, lý thuyết cùng cội nguồn, lý thuyết trung tâm-ngoại vi, nhằm lý giải những hiện tượng tương đồng và khác biệt trong so sánh truyện kể dân gian nói riêng và các nền văn học dân gian nói chung Vì như 5 luận điểm được coi như tuyên ngôn học thuật của trường phái Phần Lan: (1) Mỗi tác phẩm văn học dân gian-truyện

kể cũng như dân ca vừa có tính dân tộc vừa có tính quốc tế, tính chất đó thể hiện ở sự phát triển và quá trính lưu truyền tác phẩm, (2) Mỗi tác phẩm bao giờ cũng được cấu tạo bởi một hoặc một số motif nhất định, (3) Để tìm dạng thức khởi thủy của tác phẩm cần phải so sánh các dị bản khác nhau, (4) Các dị bản được phân loại theo nguyên tắc lịch sử nếu chúng được ổn định trên văn bản, hoặc theo nguyên tắc địa lý nếu chúng được ghi chép trực tiếp từ lời kể sinh động của nghệ nhân, (5) Để hoàn thiện công việc một cách triệt để cần phải có tất cả các dị bản của từng vùng, từng tỉnh, từng làng Chỉ

có nghiên cứu tất cả các dị bản mới có thể minh giải được các tư liệu đang lưu giữ (mà mỗi tư liệu đều có tác giả ban đầu của nó) Ở VN, trước đối tượng nghiên cứu là khối

Trang 10

4

lượng vô cùng đồ sộ văn bản truyện kể dân gian các dân tộc VN được sưu tập từ trước

đến nay, qua hai công trình mang tính khởi động như Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam

và Đề tài dũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp và một công trình mang tính thể nghiệm như Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam, các nhà văn

học dân gian VN Nguyễn Đổng Chi, Cao Huy Đỉnh và Nguyễn Thị Huế đã phần nào

có những đóng góp đáng kể trong việc ứng dụng thành công phương pháp so sánh lịch sử-địa lý của trường phái Phần Lan

Về so sánh truyện dân gian trong nước

Năm 1982, Nguyeãn Thò Hueá công bố bài nghiên cứu so sánh trên tạp chì Văn

học (số 2.1982) có nhan đề Về những nét tương đồng giữa truyện Họ Hồng Bàng (người Việt) và truyện Đẻ Đất Đẻ Nước (người Mường), thông qua khảo sát những nét

tương đồng về motif: motif hôn nhân, motif ba anh em, motif đẻ trứng và motif chim cùng xuất hiện trong truyện của người Việt và truyện của người Mường Khả năng xuất hiện trước và sau của hai tác phẩm này được tác giả đoán định với những giả thiết

có sự vay mượn của nhau giữa hai tộc người Việt và Mường

Trong công trình tập thể So sánh Folklore (2011), Lê Hồng Phong có bài viết Motif cổ tích Mạ và K’Ho so với cổ tích người Việt, trích từ luận án tiến sĩ Đặc điểm truyện cổ Mạ-K’Ho Lâm Đồng bảo vệ năm 2003, nhằm trình bày những đặc điểm

riêng của truyện cổ Mạ-K‟Ho so với truyện cổ Việt So với cổ tích Việt thì có sự khác biệt rõ rệt về yếu tố thần kỳ trong cổ tích Mạ-K‟Ho Do vậy, yếu tố thần kỳ hầu như là một đặc điểm quan trọng trong cổ tích Mạ-K‟Ho, phổ biến đến mức khó có thể tìm thấy nhiều ví dụ cho “cổ tích không thần kỳ” hay “cổ tích sinh hoạt” trong đối lập với

“cổ tích thần kỳ”

Về so sánh truyện dân gian các dân tộc VN và thế giới Năm 1996, luận án tiến sĩ của Lại Phi Hùng So sánh một số kiểu truyện cổ dân gian ở Lào và Việt Nam đã nêu được những đặc điểm chung và riêng của truyện dân

gian hai nước Lào và VN với nhiệm vụ lý giải nguyên nhân chi phối những điểm chung và riêng, cụ thể là tác giả đã dùng phương pháp so sánh-lịch sử loại hính để so

sánh kiểu truyện chàng trai khỏe-kỳ tài, kiểu truyện người bất hạnh và kiểu truyện người đội lốt trong kho tàng truyện cổ tích của các dân tộc Lào và VN Qua khảo sát

300 truyện cổ Lào sau hơn 20 năm nghiên cứu, sưu tầm, điền dã, thu gom tư liệu, tác

Trang 11

5

giả đã nêu ra những đánh giá khách quan, những kiến giải riêng thông qua việc vận dụng lý thuyết thể loại và đề xuất một vài nhận định ban đầu về thể loại, loại thể của truyện dân gian Lào Tác giả đã phân tìch và nêu đầy đủ các đặc điểm của từng thể loại thuộc loại hình tự sự dân gian Lào Qua khảo sát và so sánh 3 type truyện cổ tích thần

kỳ đã nêu của các dân tộc Lào và VN, tác giả đã chỉ ra có những điểm tương đồng, đồng thời cũng có nhiều điểm khác biệt về cốt truyện, kết cấu hệ thống motif, tư tưởng chủ đề…Điểm tương đồng và khác biệt ấy phản ánh tính thống nhất, đa dạng của truyện cổ tìch hai nước, và xét cho cùng là phản ánh tính thống nhất, đa dạng của cuộc sống các dân tộc

Năm 2008, trong luận án tiến sĩ So sánh kiểu truyện Cô Lọ Lem của một số dân tộc miền Nam Trung Quốc và kiểu truyện Tấm Cám của Việt Nam, nghiên cứu sinh

người Trung Quốc (TQ) Đường Tiểu Thi đã khảo sát so sánh những motif chình có nét

tương đồng và khác biệt trong type truyện này qua 47 bản kể truyện Cô Lọ Lem ở các

tỉnh miền Nam TQ và 31 bản kể truyện Tấm Cám của VN Về những điểm tương

đồng, tác giả có những lý giải cụ thể như: (1) Motif “đứa trẻ mồ côi bị đối xử bất công” phản ánh mối xung đột giữa dí ghẻ và con chồng, đồng thời từ khìa cạnh dân tộc

học ẩn chứa nghi lễ cổ xưa-lễ thành niên và sự “đối xử bất công” chỉ là một sự chuyển hóa từ nghi lễ thành niên của người con gái được phản ánh vào các bản kể type truyện;

(2) Motif “người trợ giúp thần kỳ” thể hiện nhu cầu tự nhiên của tâm lý chung của loài người và nhu cầu tôn giáo tìn ngưỡng riêng của từng địa phương; (3) Motif “cô gái nghèo lấy chồng hoàng tử” nảy sinh trong bối cảnh văn hóa xã hội nam quyền ở cả TQ

và VN; (4) Motif “chiếc giày xe duyên” thể hiện quan niệm định mệnh ví đó là vật xe duyên cho đôi nam nữ; (5) Motif “liên tục biến hình” hính thành do ảnh hưởng của tôn giáo nguyên thủy; (6) Motif “người tốt được ban thưởng, kẻ xấu bị trừng phạt” phản

ánh quan niệm “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo” đồng thời thể hiện ước vọng công bằng và tinh thần lạc quan của người dân Về những điểm khác biệt, tác giả đã chỉ ra

đó là: (1) Khác biệt do ảnh hưởng bởi tôn giáo, (2) Khác biệt do ảnh hưởng bởi phong tục tập quán, (3) Khác biệt do ảnh hưởng của văn học viết, (4) Khác biệt do ảnh hưởng của cuộc sống xã hội đương thời, (5) Khác biệt do ảnh hưởng của lịch sử xã hội cổ xưa Qua việc so sánh cái chung và cái riêng, tác giả nhằm chỉ ra các lớp văn hóa, các phong tục tìn ngưỡng được ẩn chứa trong type truyện, trong các motif, tính tiết Theo tác giả, các bản kể của hai dân tộc có những nét tương đồng mang tình thế giới đồng

Trang 12

6

thời lại có những tính tiết rất độc đáo phản ánh phong tục tìn ngưỡng của dân tộc và địa phương

Trên tạp chì Nghiên cứu văn học, số 3.2009, Toàn Huệ Khanh (Jeon Hye Kyung)

người Hàn Quốc có bài viết Nghiên cứu so sánh truyện Kông Chuy Pát Chuy của Hàn Quốc và truyện Tấm Cám của Việt Nam Qua những nghiên cứu so sánh giữa hai

truyện, tác giả đã rút ra những kết luận thỏa đáng trong so sánh về nhân vật, bối cảnh, cấu trúc, tình chất hóa thân, hính thức biểu hiện, chủ đề và quan hệ ảnh hưởng văn hóa giữa hai quốc gia dân tộc

Năm 2010, bài viết Truyện cổ Tây Nguyên trong tương quan truyện cổ Đông

Nam Á của Lê Hồng Phong liệt kê được nhiều thể loại, kiểu truyện, tác phẩm và motif

tương đồng trong truyện cổ TN và truyện cổ ĐNÁ Tác giả lập luận về các nguyên

nhân của hiện tượng tương đồng này gồm bốn điểm: (1) Do các dân tộc có cùng gốc tộc người hoặc cùng vùng cư trú ngày xưa, (2) Do các dân tộc di cư, xen cư, giao lưu văn hóa, (3) Do các dân tộc và truyện cổ của họ cùng chịu ảnh hưởng một nguồn văn hóa chung nào đó theo những đường thẳng và đường vòng khác nhau, (4) Do sự giống nhau ngẫu nhiên giữa các dân tộc cùng trính độ (tư duy nguyên thủy, tìn ngưỡng

nguyên thủy, tổ chức xã hội nguyên thủy mạt kỳ)

Năm 2011, trong công trính tập thể So sánh Folklore của Chi hội văn nghệ dân

gian tỉnh Lâm Đồng, Lưu Thị Hồng Việt có bài nghiên cứu trên phương diện nghệ

thuật về So sánh truyện cổ tích Việt-Hàn, gồm các mục chình như: Sự tương đồng: (1)

Cách đặt tên truyện, (2) Các kiểu nhân vật, kiểu truyện, cốt truyện và yếu tố thần kỳ, (3) Những motif chủ yếu: “sự kết hôn”, “sự trừng phạt”, “sự tha thứ”, “về trời”,

“chàng trai khỏe”; Sự khác biệt: Ở các motif như (1) “diệt yêu quái”, (2) “chàng ngốc”, (3) “người câm”, (4) “trầu cau”; Nguyên nhân và ý nghĩa của sự tương đồng,

khác biệt

So sánh type truyện và motif truyện Năm 2000, trong luận án tiến sĩ Khảo sát và so sánh một số tip và môtip truyện

cổ dân gian Việt Nam-Nhật Bản, Nguyễn Thị Nguyệt đã khảo sát và so sánh cấu trúc-ý

nghĩa của một số type truyện cổ VN và Nhật Bản (NB), so sánh các nhân vật chình và motif trong sự cấu thành cốt truyện của một số type truyện cổ và phát hiện ra các nét tương đồng và dị biệt của truyện cổ VN và NB Luận án vận dụng các phương pháp

Trang 13

7

lịch sử-địa lý, thống kê, phân tìch và so sánh hai type truyện “chú rể là người đội lốt”

và “người tốt bụng-kẻ xấu bụng” và những motif xây dựng nên hai type truyện Lì giải

về sự tương đồng, tác giả cho rằng có ba nguyên nhân: (1) Do hai dân tộc VN và NB cùng trải qua những thời kỳ lịch sử đầy sóng gió nhưng hết sức vẻ vang của mỗi dân tộc; (2) Từ khìa cạnh đặc điểm loại hính, thời đại sáng tạo hay thế giới quan trung cổ giữ vai trò to lớn trong thể loại truyện cổ tìch, truyện cổ VN và NB đều nằm chung trong chỉnh thể truyện cổ trung cổ; (3) Do quá trính tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa hai nước VN và NB và quá trính tiếp thu, đồng hóa những nguồn ảnh hưởng Lì giải sự dị biệt trong truyện cổ VN và NB, tác giả chỉ ra nhiều nguyên nhân: do hai dân tộc khác nhau về cội nguồn, do điều kiện lịch sử-địa lý-văn hóa-xã hội khác nhau, do những nguồn giao lưu, tiếp xúc văn hóa khác nhau, do tình bản địa, do sự độc đáo trong sáng tác nghệ thuật Vì dụ, do sự thu hút tinh hoa kho truyện của các dân tộc anh em khác nhau cho nên trong truyện cổ VN các cốt truyện, các nhân vật là sự tìch hợp lì tưởng của các tộc người khác nhau sống trên đất nước VN, với những bản sắc khác nhau tạo nên sự phong phú đa dạng và những sắc thái khác nhau ở cốt truyện và nhân vật Còn trong truyện cổ NB, các cốt truyện và các nhân vật là sự tìch hợp lì tưởng của một dân tộc NB thuần nhất, dựa trên các câu chuyện được sưu tầm ở các quận khác nhau

Năm 2001, trong công trính Đọc truyện dân gian bằng Type và Motif, xung

quanh type truyện Tấm Cám, Nguyễn Tấn Đắc còn có loạt bài nghiên cứu theo phương pháp so sánh dựa trên type và motif truyện để tìm hiểu sự giao lưu tương tác văn hóa

giữa các dân tộc trong khu vực ĐNÁ qua một truyện kể cụ thể: Từ truyện Kajong và Halek của người Chăm đến truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á, Mối giao lưu tương tác văn hóa giữa các dân tộc Đông Nam Á qua Type truyện kể Tấm Cám Qua đó, ông cho rằng truyện Tấm Cám có nguồn gốc không phải ở ĐNÁ nhưng lại khá phổ biến ở ĐNÁ

và đã trở thành một truyện kể rất quen thuộc của nhiều dân tộc ở vùng này

Cũng trong công trình Đọc truyện dân gian bằng Type và Motif, Nguyễn Tấn Đắc qua bài viết Từ truyện Quả Bầu Lào đến Huyền thoại Lụt Đông Nam Á đã khảo

sát các dị bản thuộc type truyện này ở các quốc gia ĐNÁ và cả ở hai khu vực Trung Đông-Hy Lạp và Châu Mỹ Qua đó, tác giả đã lập ra bảng so sánh huyền thoại lụt giữa

ba vùng này Qua so chiếu nhiều dị bản giữa ba vùng ĐNÁ, Trung Đông-Hy Lạp và Châu Mỹ, tác giả cho rằng có chỗ khác nhau khá lớn của nội dung type huyền thoại lụt

Trang 14

là sinh tạo lại loài người, con người chẳng qua chỉ là kẻ thực hiện ý chì của Thượng

Đế, vấn đề quan hệ xã hội chỉ được nói đến như là lý do đã đưa đến sự trừng phạt của Thượng Đế, ở vùng này huyền thoại lụt đã gắn chặt với đời sống tôn giáo, về văn bản

có tính trạng rất thống nhất do có vai trò của tôn giáo, đặc biệt của Kinh Thánh Còn ở ĐNÁ thí thần linh đã có mặt, nhưng vai trò rất hạn chế, chỉ hơn con người ở khả năng điều khiển được sức mạnh tự nhiên gây ra lụt mà thôi, vấn đề quan hệ xã hội đã được chú ý khá nhiều, đặc biệt ở nguyên nhân gây ra lụt (xung đột thần-người, xung đột người-người…), ở hính thức lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái, và hành vi chịu ơn trả

ơn, ở vùng này huyền thoại lụt mang nhiều tình chất văn hóa-xã hội hơn, về văn bản còn giữ được nhiều dị bản khác nhau ở nhiều dân tộc

Qua 12 công trình trên đây, chúng tôi kế thừa được những đóng góp quý báu, gợi

mở những ý tưởng và khìch lệ chúng tôi lựa chọn thực hiện nghiên cứu đề tài luận án này Đó là những kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu từ bốn lĩnh vực so sánh truyện dân gian từ trước đến nay ở VN: lý thuyết so sánh loại hính lịch sử (Liên Xô), so sánh truyện dân gian của các dân tộc trong nước (Việt với Mường, Việt với Mạ-Kơ Ho), so sánh truyện dân gian của các dân tộc VN và thế giới (VN với Lào, Trung Quốc, Hàn Quốc), so sánh type truyện (VN với Nhật Bản, Lào, ĐNÁ) và so sánh motif truyện (VN với Nhật Bản) Từ đây, phần đóng góp cụ thể của luận án là tiến hành khảo sát và

so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK cư trú lâu đời ở vùng cao nguyên TS-TN của VN với những đặc trưng vừa chung vừa riêng về địa lý, lịch sử, kinh tế, xã hội và văn hóa Trong đại đồng có tiểu dị, trong cái chung có cái riêng, việc bóc tách để tím ra những đặc điểm riêng của mỗi nhóm tộc người cũng như của từng tộc người từ khối thống nhất trong đa dạng của kho tàng truyện dân gian các tộc người

sinh sống lâu đời ở vùng TS-TN là nỗ lực trong nhiều năm của chúng tôi

4 Nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 15

9

4.1 Nhiệm vụ

Luận án đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chính sau:

- Khảo sát các tư liệu địa lý, lịch sử, văn hóa, kinh tế về vùng đất TS-TN nhằm

từ đó xác định cơ sở hình thành nguồn truyện dân gian của hai nhóm tộc người

- Điền dã, sưu tầm, hiệu chỉnh, sưu tập, phân loại, thống kê, nhận định nguồn truyện dân gian của hai nhóm tộc người

- Khảo sát, phân tích, so sánh các thể loại, type và motif truyện tiêu biểu thuộc nguồn truyện dân gian của hai nhóm tộc người

- Lý giải về những điểm tương đồng và khác biệt chung nhất giữa hai nguồn truyện dân gian Đề xuất những hướng tiếp cận thiết thực và những đề tài chưa khai thác nhằm góp phần vào việc tìm hiểu những giá trị cơ bản của truyện dân gian các dân tộc bản địa vùng TS-TN

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Trước hết, chúng tôi xin được làm rõ định nghĩa và giá trị thực tiễn của ba đối tượng-đơn vị chình được chọn khảo sát so sánh trong luận án: thể loại, type, motif truyện dân gian

4.2.1 Thể loại truyện dân gian

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thể loại văn học là “dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch

sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy… Các thể loại văn học là một phạm trù lịch sử Nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đó biến đổi và được thay thế” [97, tr.202-204] Đó là quan niệm phổ biến về thể loại trong

ngành nghiên cứu văn học nói chung Riêng trong ngành nghiên cứu folklore, khái niệm thể loại được nhiều nhà folklore học tranh luận về các ý tưởng tổng quát mà từ lâu họ đã gặp những điểm bất đồng Theo thời gian, các nhà nghiên cứu folklore gán

cho thuật ngữ thể loại các thuật ngữ tương liên của nó và các hình thức cụ thể bao gộp

trong nó ít nhất bốn nghĩa khác nhau: (1) các phạm trù phân loại, (2) hình thức cố định, (3) hình thức tiến hóa và (4) hình thức ngôn từ [221, tr.356] Về việc phân loại văn học dân gian trên thế giới, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, các nhà nghiên cứu folklore mong muốn hướng tới một bảng phân loại chung mang tính chất quốc tế Dù

Trang 16

10

vậy, khó khăn lớn nhất là văn học dân gian từng nước đều có hệ thống riêng, cho nên việc áp dụng thành tựu lý thuyết của nước này sang nước khác là điều khiên cưỡng Tuy nhiên, văn học dân gian có tính loại hình cao, sự hình thành và phát triển của nó

có những nét tương đồng tương đối lớn giữa các quốc gia, dân tộc Cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, Stith Thompson, Carl W Von Sydow và Vladimir Propp là ba học giả lỗi lạc của thế kỷ XX, đã coi việc xây dựng một hệ thống phân loại đầy đủ phải là bước đầu tiên cần tiến hành trong công tác nghiên cứu và phải được tiến hành trong bất kỳ một nỗ lực phân tích nào Về cơ bản, thể loại là một phạm trù để phân loại Bên cạnh những nhận định xem thể loại như một phạm trù phân loại, các nhà nghiên cứu folklore còn quan niệm thể loại là những thực thể văn hóa thật sự, có tồn tại trong các truyền thống truyền miệng trên thế giới và tạo thành xương sống của folklore dưới dạng những hình thức cố định Những hình thức cố định đó đã làm cơ sở cho sự thay đổi các điểm trọng tâm về phương diện lịch sử cũng như cho các quan điểm và các thói quen khác nhau về phương diện văn hóa Tiếp sau đó, các công trình nghiên cứu tiến hóa (Edward B Tylor), chức năng (Bronislaw Malinowski), cấu trúc-hình thái học (Alan Dundes và Robert Georges) đã có những đóng góp thiết thực trong việc giải thích khái niệm thể loại trong folklore

Ở cách tiếp cận thứ nhất, theo quan điểm tiến hóa, E.B.Tylor cùng với A Lang,

J Frazer, G.L Gomme cho rằng những hình thức folklore đã từng chiếm vị trí trung tâm trong các nền văn hóa của các giai đoạn tiến hóa đầu tiên thí trong các giai đoạn tiến triển sau này chúng vẫn y nguyên về hình thức nhưng bắt đầu chỉ chiếm vị trí

ngoại biên Theo đó, sự thay đổi/ biến chuyển của thể loại là do bối cảnh lịch sử, chứ

không phải do sự tiến hóa, chính bối cảnh lịch sử đã làm thay đổi cách phân bố đối tượng trong các hình thức folklore Mỗi thể loại có những thuộc tính và khả năng riêng biệt, nhưng ở những hoàn cảnh lịch sử và văn hóa khác nhau, vẫn một đối tượng đó sẽ xuất hiện ở những thể loại mà tương ứng với những thay đổi này Ví dụ, thần thoại đòi hỏi phải có niềm tin, nhưng khi không có niềm tin, thì vẫn đối tượng đó lại biến chuyển thành truyện cổ tích [221, tr.366]

Ở cách tiếp cận thứ hai, từ góc độ chức năng về văn hóa, Malinowski cụ thể hóa

thể loại thành các thực thể hoạt động hữu hiệu; thuyết chức năng của ông là lời giải thích cho sự tồn tại về mặt sinh học, xã hội và văn hóa của một tộc người Mỗi thành

tố văn hóa, thể loại là một ví dụ, đều là một nhân tố có chức năng duy trí và tiếp tục sự

Trang 17

11

tồn tại của nhóm xã hội đó Chẳng hạn, “thần thoại thể hiện, củng cố, mã hóa những tín ngưỡng; nó bảo vệ và cưỡng chế đạo đức; nó bảo đảm tính hiệu lực của nghi lễ và chứa đựng những qui định thực hành có tính hướng đạo cho con người Thần thoại, vì vậy, là một thành tố của văn minh nhân loại; nó không phải là những câu chuyện vu

vơ, thiếu căn cứ, mà là một nghị định thực tế của niềm tin sơ khởi và một trải nghiệm

có ý nghĩa đạo đức” [Dẫn theo 1, tr.16] Tiếp đến, ông cho rằng thể loại là phương

tiện cứu cánh mà mục đích là nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội và tinh thần, vì như

truyền thuyết làm thỏa mãn tham vọng xã hội bằng cách tôn vinh tổ tiên người kể, còn truyện cổ tìch thí để giải trí

Ở cách tiếp cận thứ ba, các nhà cấu trúc-hình thái học cho rằng mục đìch cuối

cùng trong nghiên cứu folklore là khám phá các đặc điểm riêng của mỗi thể loại, quan

hệ của các đặc điểm này trong phạm vi các hình thức tương ứng và khả năng của chúng trong việc phân biệt các thể loại trong tổng thể truyền thống truyền miệng Robert Georges và Alan Dundes thừa nhận tính phổ quát của các thể loại folklore, và tính phổ quát của đặc điểm cấu trúc-hình thức của các thể loại này Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ dân gian, câu đố, tục ngữ và bài hát dễ bị biến đổi và thay đổi về đối

tượng và văn phong; còn đặc điểm cấu trúc của chúng được thừa nhận là phổ quát Thể loại folklore giống như những cái lọ; chúng có cấu trúc riêng của mình và mỗi một xã hội đều có thể đổ vào những cái lọ này các chất văn hóa, lịch sử và tượng trưng thích hợp của mình [221, tr.270-271]

Trong tổng thể truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK có các hiện tượng phổ quát và đặc trưng một phần do tính loại hình cao, do sự biến đổi của lịch sử,

do nhu cầu thỏa mãn tinh thần của xã hội cùng sự thích hợp về đặc trưng văn hóa, lịch

sử và tượng trưng của cộng đồng, phần nữa là do quá trính giao lưu và tiếp biến văn hóa đã tạo nên một sự pha trộn độc đáo Vì thế, để có một cái nhìn hệ thống và toàn cục thì sự phân chia theo thể loại là sự lựa chọn và sắp xếp hợp lý đáp ứng được nhiệm

vụ khảo sát so sánh về thể loại đối với kho tàng truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình sưu tầm và sưu tập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chúng tôi vẫn không dám chắc rằng đã bao quát hết kho truyện dân gian của hai nhóm tộc người xét về mặt thể loại Các thuật ngữ tương liên của thể loại, trong nội hàm của loại hình tự sự dân gian-truyện dân gian, được chúng tôi chọn đưa ra là tiểu loại và nhóm Theo đó, chúng tôi đề xuất sử dụng

Trang 18

12

ba thuật ngữ thể loại, tiểu loại và nhóm trong nghiên cứu so sánh truyện dân gian được

xem như là ba bính diện ở ba cấp độ lớn nhỏ trong nhiệm vụ nghiên cứu so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người này của luận án Riêng với thuật ngữ tiểu loại trong thể loại truyện cổ tích, ngoài ba tiểu loại được phân chia theo truyền thống bởi

đa số các nhà nghiên cứu ngữ văn dân gian từ trước đến nay là: tiểu loại truyện cổ tích loài vật, tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ và tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt, theo V.Ia

Propp lại có thêm tiểu loại truyện cổ tích lũy tích [191, tr.330] Cho nên, ở Chương 2,

so sánh thể loại, chúng tôi khảo sát so sánh gồm 4 tiểu loại truyện cổ tìch, đó là: truyện

cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cổ tìch lũy tìch

4.2.2 Type truyện dân gian

Từ lâu, giới folklore học đã thống nhất định nghĩa về khái niệm type truyện của

Stith Thompson trong cuốn “Standard dictionary of folklore, mythology, and legend”

(Từ điển tiêu chuẩn của folklore, thần thoại, và truyền thuyết) xuất bản năm 1949 tại

New York của Funk và Wagnalls S Thompson cho rằng type chỉ là những đơn vị kể

chuyện/ những cốt kể (tự sự, narratives) có thể tồn tại một cách độc lập trong truyền thống Bất kỳ truyện kể nào dù giản đơn hay phức tạp miễn là được kể theo một mẫu

kể độc lập thí được xem là một type Có truyện dài chứa đựng hàng tá motif, nhưng có

những truyện kể ngắn như loại truyện giai thoại về súc vật (anecdotes of the animal

cycle) có thể chỉ có một motif đơn lẻ; trong trường hợp này type và motif đồng nhất Nếu hiểu type là một mẫu kể như thế thí rõ ràng là trong mỗi một nền văn hóa riêng biệt chỉ có số lượng type có hạn [279] Theo Nguyễn Bích Hà: “Tất cả những truyện

có những yếu tố/ motif tương tự nhau trong hạt nhân của cốt truyện làm thành một kiểu truyện, khác với những kiểu truyện khác bởi hệ thống motif riêng, bởi quan niệm nghệ thuật riêng, bởi ý nghĩa phản ánh riêng Kiểu truyện là một tập hợp những truyện

kể có những motif cùng loại hình” [94, tr.15] Về việc xác định cách lập ra một type truyện dân gian, trong bài viết Về bảng mục lục tra cứu các tip và môtip của truyện dân gian, Nguyễn Tấn Đắc viết: “Phương pháp duy nhất để lập ra được một type- truyện là phải nghiên cứu những dị bản của type đó Trong thực hành, khi thấy nhiều truyện có những chỗ giống nhau rõ rệt thì xếp chúng vào cùng một loại, rồi nghiên cứu những chỗ giống nhau đó và ghi giữ những đặc điểm chung Sau đó, gộp chung tất cả những dị bản có các đặc điểm đó lại và cuối cùng ta có thể trình bày một cách

mỹ mãn nội dung của type-truyện được nghiên cứu” [251, tr.267]

Trang 19

13

4.2.3 Motif truyện dân gian

A.N Veselopski cho rằng “tôi hiểu motif như một công thức, vào thuở ban đầu của xã hội loài người, trả lời cho những câu hỏi mà giới tự nhiên ở mọi nơi đặt ra đối với con người hoặc ghi nhận những ấn tượng về thực tại đặc biệt mạnh mẽ, quan trọng

và lặp lại nhiều lần…” Ông khẳng định: “Motif là đơn vị tự sự đơn giản nhất” và tiêu chí của motif là tính chất sơ lược của nó về hiện tượng chỉ có một bộ phận; đó là những yếu tố không thể phân chia được nữa của thần thoại muộn và của truyện cổ tích, và theo ông motif về nguồn gốc cũng là có trước đề tài” [Dẫn theo 190, tr.32,33] Trong Từ điển folklore, Stith Thompson quan niệm rằng: “Trong folklore từ motif

dùng để chỉ bất kì một bộ phận nào mà một văn bản folklore có thể phân tìch được…

Lĩnh vực trong đó motif được nghiên cứu nhiều hơn cả và được phân tìch kĩ hơn cả là loại truyện dân gian như truyền thuyết, truyện cổ, ballad và huyền thoại… Cần phải nhớ rằng, để trở thành một bộ phận thật sự của truyền thống, thì một yếu tố phải có cái gì đó làm cho người ta nhớ và được nhắc đi nhắc lại: “Nó phải là một cái gí đó khác hơn một sự chung chung” [279] Theo Nguyễn Thị Hiền, “Motif là yếu tố nhỏ nhất của truyện kể dân gian, có khả năng lưu truyền một cách bền vững Để có khả năng này, motif phải là một cái gì đó khác thường và gây ấn tượng” [103, tr.16] Còn theo Nguyễn Tấn Đắc, thí “Motif truyện kể đôi khi là những khái niệm rất đơn giản, thường gặp trong truyện kể truyền thống Có thể đó là những tạo vật khác thường, như thần tiên, phù thủy, rồng, yêu tinh, người mẹ ghẻ ác nghiệt, con vật biết nói,… có thể

đó là những thế giới kỳ diệu, hoặc ở những nơi mà ở đó ma thuật luôn luôn có hiệu lực, là tất cả các loài vật thiêng có phép lạ và những hiện tượng tự nhiên khác thường Bản thân một motif cũng có thể đã là một mẩu kể ngắn và đơn giản, một sự việc đủ gây ấn tượng hoặc làm vui thích cho người nghe” [65, tr.27] Theo chúng tôi, đề cập

tới hai khái niệm type và motif cần thiết ghi nhận chức năng và mối quan hệ giữa chúng như sau: type và motif là những phần tử đơn vị vừa mang tình đặc trưng vừa mang tính bền vững của truyện kể dân gian; các type truyện như một tòa nhà hoàn chỉnh, còn các motif là những thanh dầm và những viên gạch xây nên tòa nhà đó Việc nghiên cứu so sánh motif trong một số tác phẩm truyện dân gian, trong một type truyện hay sự liên quan của các motif giống nhau trong nhiều type truyện là một vấn

đề rất quan trọng giúp các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu trên một phạm vi rộng nhiều nền văn hóa khác nhau và chỉ ra mối quan hệ trong nước, khu vực và trên thế giới

Trang 20

14

Đồng thời nghiên cứu motif cũng chỉ ra được những yếu tố văn hóa khác nhau ở từng tộc người, từng nhóm tộc người và từng nước Trong kho tàng truyện dân gian của nhiều tộc người, nhiều nhóm tộc người, người ta đã thống kê được có khá nhiều motif truyện giống nhau Điều này có lẽ do quá trính tư duy giống nhau giữa các tộc người, các dân tộc trên thế giới (xét ở bình diện đồng loại hình), hoặc có lẽ do tính lan truyền của truyện dân gian (xét ở bình diện giao lưu văn hóa), hoặc do chúng có chung một nguồn gốc (xét ở bình diện cùng cội nguồn) Theo Chu Xuân Diên, việc nghiên cứu motif cần phải xem xét lại nguồn gốc từ thực tại và quan niệm về thực tại của những con người thời xưa với tính chất dân tộc học, nhân chủng học, lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học, … để làm sáng rõ những quan niệm, ý tưởng, nhận thức của tác giả dân gian thời xưa về những vấn đề xã hội

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát nghiên cứu so sánh của chúng tôi là toàn bộ các văn bản truyện dân gian sưu tầm và sưu tập được của hai nhóm tộc người MĐ và MK ở TS-TN Trong kho tàng truyện dân gian của nhóm tộc người MK, chúng tôi còn chưa tím được văn bản truyện dân gian của hai tộc người Brâu và Rơ Măm Công việc so sánh được tiến hành trên cơ sở có sự lựa chọn, qua các bảng thống kê phân loại trong phần Phụ lục (PL), các tác phẩm truyện dân gian của hai nhóm tộc người thuộc 5 thể loại gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn, cùng một số type truyện và motif truyện tiêu biểu để phân tích và lý giải những điểm tương đồng và

khác biệt Với đề tài “Nghiên cứu so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người

Mã lai Đa đảo và Môn Khmer ở trường Sơn-Tây Nguyên”, chúng tôi sẽ trình bày

những vấn đề chính sau:

A So sánh thể loại

- So sánh thể loại thần thoại: nhóm thần thoại suy nguyên về nhân loại, tộc

người-“lũ lụt tái tạo nhân loại” và nhóm thần thoại cấp thấp về ma lai

- So sánh thể loại truyền thuyết: nhóm truyền thuyết địa danh-“Sự tích về bàu, vũng, ao, hồ, sông, suối, đầm, thác, đảo, hòn, biển”, nhóm truyền thuyết về phong tục tìn ngưỡng-“Sự tích các dòng họ”

Trang 21

15

- So sánh thể loại truyện cổ tích: tiểu loại truyện cổ tích loài vật về “mối quan hệ giữa loài vật và con người”, tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ với nhóm truyện “con vật thần kỳ và tro của nó”, tiểu loại truyện cổ tích lũy tích

- So sánh thể loại truyện cười

- So sánh thể loại truyện ngụ ngôn

B So sánh một số type truyện và motif truyện tiêu biểu

- So sánh type truyện truyền thuyết anh hùng “thanh gươm thần”

- So sánh type truyện cổ tích thần kỳ “nhân vật dũng sĩ” (điển cứu trường

hợp Ê Đê-Mơ Nông)

- So sánh motif “đá thiêng / hóa đá” trong nhóm truyền thuyết địa danh và

trong tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt

- So sánh ba motif “diệt rắn ác”, diệt chim dữ” và “đánh giặc” trong type truyện cổ tích thần kỳ “người giết rắn cứu cô gái”

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp sưu tầm điền dã: có nhiệm vụ sưu tầm tác phẩm tại thực địa

điền dã, chủ yếu là văn bản được ghi âm và dịch thuật từ bản ngữ ra tiếng Việt Nhiệm

vụ này được tiến hành đồng thời với việc điều tra, phỏng vấn, quan sát tham dự vào không gian và thời gian kể truyện nhằm phát hiện thêm những giá trị văn hóa phi văn học mà văn bản thuần tuý không chuyển tải được

5.2 Phương pháp thống kê: để tìm ra giá trị của việc nghiên cứu, giải thích và

làm sáng rõ các quy luật, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê Muốn tìm ra quy luật của những điểm giống nhau và khác nhau về nội dung và hình thức của những thể loại, type và motif truyện ở hai nguồn truyện dân gian, chúng tôi phải xem xét quy luật-tính lặp lại ở một mức độ nhất định của các yếu tố-đặc điểm thể loại, các type, các motif, các hiện tượng cùng loại Những lý giải thích hợp, những kết luận, những khái quát khoa học của luận án có được là nhờ ở những số liệu thống kê cẩn thận và đầy đủ nhằm đến khả năng phân loại được các yếu tố, các type, các motif, các hiện tượng cùng loại

5.3 Phương pháp so sánh: do truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và

MK có rất nhiều điểm tương đồng với nhau cho nên chúng tôi sử dụng phương pháp

Trang 22

16

so sánh với dạng thức so sánh đối chiếu và so sánh loại hình lịch sử Sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, chúng tôi dựa theo tính chất của những hiện tượng được dùng làm đơn vị so sánh là các tiêu chí hình thành nên thể loại, các thành tố cấu tạo cốt truyện, các ý nghĩa của một số motif truyện và type truyện tiêu biểu của hai nhóm tộc người Phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn học dân gian đã được PGS Chu Xuân Diên đề cập rất rõ với những ví dụ về việc áp dụng cụ thể phương pháp này [45, tr.97-116] Tiêu chí về không gian so sánh là vùng cư trú lâu đời của hai nhóm tộc người bản địa: không gian văn hóa xã hội vùng TS-TN mở rộng ở VN (chúng tôi sẽ giải thích cụ thể về vùng TS-TN trong Chương 1 ở mục 1.2.1.) Tiêu chí về thời gian

so sánh là từ thời nguyên thủy đến cuối thế kỷ XX Để lý giải nguyên nhân của những hiện tượng tương đồng và khác biệt chúng tôi cố gắng, trong một chừng mực nhất định, viện dẫn đến các hiện tượng trong đời sống lịch sử hay quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau của folklore thuộc nền văn hóa của hai nhóm tộc người nói chung và nền văn hóa của hai tộc người cụ thể nói riêng có tác phẩm được so sánh đối chiếu Việc vận dụng

lý thuyết và phương pháp so sánh loại hình lịch sử sẽ được chúng tôi trình bày kỹ trong Chương 1 ở mục 1.1 Lý thuyết so sánh truyện dân gian

5.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành (interdisciplinary method): có nhiệm vụ

nhìn nhận đối tượng trong mối quan hệ kề cận của ngành nghiên cứu văn học dân gian với các ngành khoa học nhân văn khác như văn hóa học, lịch sử, nhân học, ngôn ngữ học,v.v.… nhằm xem xét đối tượng một cách đa chiều, trên nhiều phương diện khác nhau, đòi hỏi cùng lúc vận dụng các phương pháp riêng của từng ngành khoa học kề cận này

5.5 Các thao tác trong nghiên cứu so sánh truyện dân gian

5.5.1 Phân loại, hệ thống hóa

- Phân loại những tác phẩm sưu tầm được, chọn hoặc loại ra những văn bản không đạt yêu cầu, xác định / định danh theo các tiêu chì đặc trưng của từng thể loại, tiểu loại, nhóm, kiểu, loại truyện cho từng văn bản truyện

- Hệ thống hóa những tác phẩm đã phân loại, đưa chúng vào từng thể loại, tiểu loại, nhóm, kiểu, loại truyện nhằm khảo sát, phân tìch và so sánh đối chiếu giữa các tập hợp truyện thuộc cùng thể loại, kiểu truyện của hai nhóm tộc người

5.5.2 Phân tích, miêu tả

Trang 23

17

- Các thể loại, chủ đề, cốt truyện, type truyện và motif sẽ được phân tích theo từng yếu tố cấu thành và đánh giá trên quan điểm phân tích các tác phẩm hay nhóm tác phẩm truyện dân gian hoàn chỉnh Trong quá trính phân tìch chúng tôi chú ý đến nội dung các truyện qua cốt truyện, nhân vật và motif để tìm bản chất và đặc trưng của truyện dân gian hai nhóm tộc người

- Miêu tả kết cấu, đặc điểm nội dung của từng thể loại, type truyện, motif truyện làm cơ sở cho việc nắm rõ các quy luật của thể loại, type truyện và motif truyện từ đó xem xét quy luật như là tình lặp lại ở một mức độ nhất định của các hiện tượng cùng loại Và từ những số liệu thống kê sẽ nêu được những lý giải thích hợp, những kết luận, khái quát khoa học

6 Đóng góp mới của luận án

6.1 Nghiên cứu so sánh truyện dân gian theo văn bản và bằng các phương pháp

tiếp cận lấy văn bản làm trung tâm đã đạt những thành tựu đáng kể cho ngành nghiên cứu văn học dân gian nói chung và truyện dân gian nói riêng Việc khảo sát so sánh nguồn truyện của hai tộc người hay hai nhóm tộc người để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt của nhiều dị bản thuộc cùng thể loại, cùng type truyện hay có cùng motif sẽ tạo ra những cách phân tìch và đánh giá có nhiều thành tựu quý giá góp phần nhìn nhận rõ diện mạo cùng giá trị nghệ thuật chung và riêng của kho tàng truyện dân gian của hai cộng đồng tộc người ở TS-TN

6.2 Đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu so sánh truyện dân gian của

các tộc người TS-TN và tộc người Việt hay các dân tộc ĐNÁ, nhưng chưa có công trình, luận án nào nghiên cứu so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và

MK ở TS-TN Luận án này là công trính đầu tiên khảo sát và so sánh truyện dân gian thuộc 5 thể loại tự sự dân gian như đã nêu, một số type và motif tiêu biểu trong kho tàng truyện dân gian của hai nhóm tộc người này Luận án từ đó có những kiến giải mới về diện mạo kho tàng truyện dân gian nói chung cùng các thể loại, type truyện và motif truyện nói riêng của hai nhóm tộc người qua so sánh đối chiếu và so sánh loại hình lịch sử

7 Kết cấu của luận án

Trang 24

18

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình nghiên cứu (của tác

giả luận án), Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được triển khai trong ba chương

Chương 1 Lý thuyết so sánh truyện dân gian và tổng quan về truyện dân gian của hai nhóm tộc người Mã lai Đa đảo & Môn Khmer

Trong chương này, chúng tôi trình bày ba vấn đề chính Thứ nhất, chúng tôi hệ thống hóa lý thuyết nghiên cứu so sánh được các trường phái nghiên cứu folklore, văn hóa dân gian, văn học dân gian trên thế giới công bố và vận dụng nghiên cứu Thứ hai, chúng tôi tiến hành giới thiệu sơ lược về địa vực văn hóa sinh sống ở vùng TS-TN của hai nhóm tộc người MĐ và MK Thứ ba, khảo sát, tổng hợp nguồn truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK

Chương 2 So sánh thể loại

Ở chương này, chúng tôi tập trung giải quyết vấn đề chính của luận án, đó là nghiên cứu so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người ở các cấp độ thể loại, tiểu loại, nhóm loại; bên cạnh đó có sự so sánh điển cứu một số trường hợp nổi bật trong kho tàng truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK

Chương 3 So sánh type truyện và motif truyện tiêu biểu

Ở chương cuối của luận án, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu so sánh nguồn truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK ở cấp độ type, motif truyện Trong quá trình nghiên cứu, tất yếu có sự điển cứu so sánh một số type truyện, motif truyện trong khó tàng truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK

Phần Phụ lục (200 trang) gồm 3 phần (được đóng thành một tập riêng):

Phụ lục 1: Tóm tắt cốt truyện truyện dân gian các tộc người MĐ

Phụ lục 2: Tóm tắt cốt truyện truyện dân gian các tộc người MK

Phụ lục 3: Các bảng thống kê, phân loại, so sánh truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK

Trang 25

19

Chương 1

LÝ THUYẾT SO SÁNH TRUYỆN DÂN GIAN

VÀ TỔNG QUAN VỀ TRUYỆN DÂN GIAN CỦA HAI NHÓM TỘC NGƯỜI

MÃ LAI ĐA ĐẢO & MÔN KHMER

1.1 Lý thuyết so sánh truyện dân gian

Luôn là cần thiết khi có thể biết được càng nhiều càng tốt về nguồn gốc, sự phát triển và độ lan tỏa của một đơn vị folklore như tìn ngưỡng, phong tục, truyện kể hay tục ngữ, cách ngôn Tuy nhiên, không phải vì việc này rất khó khăn và nhiều khi không thể làm được mà chúng ta phủ nhận tầm quan trọng của việc nghiên cứu Vì thế, ngành nghiên cứu folkore bao hàm một truyền thống lâu đời và liên tục công cuộc nghiên cứu nguồn gốc và sự lưu truyền của folklore nói chung và truyện dân gian nói riêng, và thủ thuật vận dụng được hiểu như là phương pháp so sánh Lợi ích của hướng tiếp cận theo phương pháp so sánh là nhà nghiên cứu có thể nắm rõ những nguồn gốc

có thể có của các tác phẩm folklore và tập hợp chúng theo những đơn vị được sắp xếp, chỉ ra những sự biến đổi tồn tại trong không gian và thời gian Đã có nhiều lý thuyết liên quan đến việc so sánh truyện dân gian, xin lược qua một số lý thuyết-trường phái

- Lý thuyết của trường phái Ân-Âu: Trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XIX, hai

anh em Grimm đã sớm phát hiện ra rằng những truyện dân gian họ sưu tầm được (gồm

ba tập Truyện cổ ra đời lần lượt 1812, 1815 và 1822), có những nét tương đồng gần

gũi với truyện dân gian của các nước khác Cũng như những ngôn ngữ có mối quan hệ lịch sử có thể được biểu hiện bằng những mục từ có cùng nguồn gốc và những cấu trúc ngữ pháp song hành, do vậy truyện dân gian và những hình thức khác của văn hóa dân gian cũng có thể được biểu hiện bằng minh chứng là những đặc điểm chung về di truyền/ lịch sử Vấn đề giống nhau của truyện cổ tích như trên đã được anh em Grimm cắt nghĩa tương tự với sự giống nhau giữa ngôn ngữ các dân tộc châu Âu Đó là do trước kia đã từng tồn tại một dân tộc nào đó vốn là thủy tổ chung của các dân tộc châu

Âu hiện nay Dân tộc thủy tổ này nói một ngôn ngữ duy nhất Quá trính tách ra và định

cư của các dân tộc riêng rẽ dẫn tới hình thành những ngôn ngữ riêng biệt, song những ngôn ngữ này vẫn còn lưu giữ được những đặc điểm họ hàng thân thuộc với nhau Anh

em Grim đã không hề chứng minh tình đúng đắn của việc áp dụng lý thuyết Ấn-Âu

Trang 26

20

trong lĩnh vực ngôn ngữ học vào lĩnh vực truyện cổ tích [46, tr.451] Về sau, ngày càng có các trường phái khác khắc phục và bổ khuyết cho các nhà đi tiên phong này

- Lý thuyết của trường phái lịch sử-địa lý: còn gọi “trường phái lịch sử-địa lý

Phần Lan” mang tham vọng có tính khoa học đầu tiên của ngành nghiên cứu Folklore Bằng việc phân tích so sánh nguyên bản, các nhà nghiên cứu nỗ lực dựng lên bảng phân bố về địa lý, tính dị bản, lịch sử, nguyên quán và dạng ban đầu của một truyện dân gian hay một nhóm truyện dân gian Julius Krohn, một học giả chuyên ngành ngôn ngữ và văn học Phần Lan, đã đặt nền móng cho sự ra đời của phương pháp lịch sử-địa

lý qua những nghiên cứu của ông về thơ sử thi dân gian vào hai thập niên 1870 và

1880 Con trai ông là Kaarle Krohn đã mở rộng và vận dụng phương pháp này để nghiên cứu truyện loài vật Năm 1913, học trò của Krohn là Antti Aarne xuất bản

quyển Sách chỉ dẫn nghiên cứu so sánh truyện dân gian, một cẩm nang đặc biệt dành

riêng cho các học giả nghiên cứu truyện dân gian

- Thuyết tiến hóa đơn tuyến của trường phái nhân chủng học: E.B Tylor và A.Lang cho rằng tất cả mọi dân tộc, trên mọi lục địa đều kế thừa các mẫu văn hóa truyền thống như nhau Các mẫu này vốn có từ rất xa xưa nhưng đã phát triển một

cách khác nhau, mỗi cách phát triển khác nhau ấy là một dị bản Toàn bộ nhân loại đều cùng bước lên cầu thang, nhưng mỗi dân tộc chạy lên với tốc độ khác nhau Những phát minh lớn hoặc những thành quả của những nền văn minh lớn đều như vậy, đều ra đời trong một cầu thang tiến hóa cho nên mỗi nền văn hóa rất xa nhau đều có thể rất đồng dạng, rất giống nhau vì họ đứng cùng một bậc thang Về sau, Alan Dundes cho

rằng: “Những điều kiện giống nhau về tinh thần sẽ làm sản sinh ra những tập quán giống nhau, không phụ thuộc vào việc các dân tộc có chung một nguồn gốc hay có sự vay mượn tư tưởng hay lối sống của nhau hay không…”[273, tr.58-59] Trong bài tham luận "Sự phát triển của thần thoại Ấn Độ: Một nghiên cứu dựa trên sự phát triển thần thoại của bờ biển Bắc Thái Bình Dương", Franz Boas nói rõ cương lĩnh/ luận điểm so sánh của mình: “Nếu chúng ta có một bộ sưu tập đầy đủ những truyện kể và thần thoại của tất cả các bộ tộc của một khu vực nhất định, và sau đó lập bảng kê số liệu các tình tiết, bảng đó cho thấy tất cả các bộ sưu tập từ mỗi bộ tộc có điểm chung với bất kỳ bộ tộc được chọn, số lượng các tình tiết giống nhau càng lớn khi hai bộ tộc sống càng gần nhau Đây là những gì chúng ta quan sát trong một bảng kê về các tài

liệu thu thập trên bờ biển Bắc Thái Bình Dương Trên tất cả, một dân tộc càng gần

Trang 27

21

với một dân tộc khác thì số lượng các yếu tố tương đồng càng lớn; càng xa thì số điểm

tương đồng càng ít đi” [273, tr.60] Một sự so sánh đối với nhiều dị bản của huyền

thoại (hoặc bất kỳ thể loại nào) có thể đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau càng tốt Theo những gí sau này được dán nhãn trong nhân học như giả thuyết về độ tuổi khu

vực, nó đã được giả định rằng một thần thoại (hoặc một đặc điểm có trong thần thoại) được phổ biến rộng rãi hơn, thì nó cổ hơn Vì vậy, sự phân bố địa lý được hiểu là một tiêu chí quan trọng của độ tuổi (mặc dù điều này vẫn còn là một giả định phần lớn khó

kiểm chứng chứ không phải là một thực tế tài liệu dựa theo kinh nghiệm) Alan Dundes là một trong số những nhà khoa học giữ vững quan điểm coi phương pháp so sánh là phương pháp có tầm quan trọng sống còn đối với folklore học Ông đề nghị cần biết sử dụng nhiều dạng khác nhau của phương pháp so sánh đã từng được thử nghiệm trong folklore học, và tìm cách khắc phục những mặt yếu và tính phiến diện

của những phương pháp ấy Tiếp nhận Lý thuyết về sinh thái học văn hóa (cultural ecology) của Julien Steward, theo ông, một trong những con đường để khắc phục tính

phiến diện ấy là quan niệm về kiểu sinh thái (oicotype) Nghiên cứu so sánh về một truyện dân gian hay về một dạng thức folklore nào khác, hoàn toàn có thể từ đó rút ra được một kiểu sinh thái nhất định, tức là một dạng bản riêng biệt chỉ thuộc về một bối cảnh văn hóa riêng biệt Những kiểu sinh thái như thế có thể cung cấp những đầu mối

để “chốt lại” những đặc tính của nền văn hóa mà ta nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu so sánh như thế không những có khả năng phân biệt, nhận thức rõ được những mô hình của tình cách địa phương hoặc tính cách dân tộc, mà còn giúp ta hiểu rõ được cái cách thức folklore đã biến đổi như thế nào để thích ứng với môi trường [46, tr.94]

- Lý thuyết di chuyển cốt truyện hay lý thuyết về giao lưu vay mượn và tiếp biến văn hóa (acculturation-Theodor Benfey): Sự tiếp xúc kinh tế-xã hội giữa các nhóm

người đã tạo ra sự tiếp xúc văn hóa, và do đó có sự giao lưu văn hóa Những mối liên

hệ văn hóa-văn học trên thế giới được hình thành một cách tự nhiên từ con đường giao lưu vay mượn văn hóa-văn học giữa các cộng đồng gần gũi, có hợp tác với nhau, hoặc

từ chính những tương đồng về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa mà nảy sinh Trong lĩnh vực này, giới nghiên cứu văn học nói chung và văn học dân gian nói riêng chú trọng đến mối liên hệ và vay mượn giữa các nền văn học dân tộc của các nước khác nhau, nghĩa là đứng ở góc độ ngôn ngữ hoặc dân tộc chú ý đến sự thẩm thấu lẫn nhau giữa hai hoặc nhiều nền văn học trên lĩnh vực đề tài, tư tưởng, chủ đề, thủ pháp, hình thức

Trang 28

tr.165-166] Tiếp biến không phải là bắt chước mà là sáng tạo cái mới trên nền của cái

cũ được tiếp nhận Hoặc giả nghiên cứu ảnh hưởng mà chỉ chú trọng tới cội nguồn và nguyên mẫu được vay mượn thì chỉ là nghiên cứu bề ngoài, do vậy, phải nghiên cứu

bề sâu, tức là mặt tiếp nhận và sáng tạo Về sự biến thái mang tính xã hội của hình tượng vay mượn, V Zhirmunski lý giải như sự tái chế sáng tạo và sự thích ứng với những điều kiện xã hội là những tiền đề cho sự tác động tương hỗ, sự thích ứng với những đặc điểm của đời sống dân tộc và tính cách dân tộc, trên cơ sở nhấn mạnh rằng ảnh hưởng và quan hệ không phải là một việc ngẫu nhiên mà có tính quy luật và ảnh hưởng phải gắn với sự biến đổi có tính sáng tạo đối với hính tượng được vay mượn

- Lý thuyết về trung tâm và ngoại vi hay lý thuyết của trường phái "truyền bá

luận" (diffusionism-G Elliot Smith): Lý thuyết này giải thìch sự phát triển của các nền

văn hóa, văn minh không phải là sự tiến hóa độc lập, mà cơ bản hay thậm chì chỉ bằng những vay mượn các thành tựu văn hóa hay do các cuộc thiên di của các dân tộc tạo nên Họ chủ trương rằng, các sáng tạo văn hóa của nhân loại bao giờ cũng xuất phát điểm từ một nơi, thuộc một cộng đồng nào đó, rồi sau đó lan truyền đi các nơi khác và chình sự lan truyền ấy tạo nên động lực của sự phát triển văn hóa nói riêng và của xã hội nói chung Điều đó cũng có nghĩa là, đối với một số cộng đồng, sự tiến bộ văn hóa chủ yếu do vay mượn chứ không phải do sự sáng tạo độc lập của cộng đồng ấy Từ lý thuyết "truyền bá luận văn hóa" Tây Âu cuối thế kỉ XIX đến thuyết "trung tâm văn hóa" trong nghiên cứu vùng văn hóa của nhân học Mỹ đầu thế kỷ XX là quá trính phát triển của các lý thuyết nhân học, thoát li dần tình cực đoan một chiều, quan tâm đến

mối quan hệ đa chiều với môi trường, cộng đồng cư dân các bộ lạc, chủ nhân sáng tạo

và truyền bá các hiện tượng văn hóa Những năm cuối thập kỷ 70 và đầu 80 của thế kỷ

XX, các nhà nghiên cứu người Nga đã xem xét vấn đề trung tâm và ngoại vi của văn hóa từ thực tế hính thành và phát triển các nền văn minh lớn trên thế giới (Trung Hoa

Trang 29

23

ở Đông Á là trung tâm với các vùng ngoại vi như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam; Ấn

Độ ở Nam Á là trung tâm với các quốc gia khác ở Nam Á và ĐNÁ) Trung tâm và ngoại vi đều tham gia vào quá trính sáng tạo và lan truyền văn hóa, đó là sự tác động qua lại đa chiều, chứ không hoàn toàn thụ động một chiều như các nhà chủ nghĩa chủng tộc văn hóa chủ trương

- Lý thuyết thi pháp lịch sử: là lý thuyết văn học được hình thành trên những

chặng đường nghiên cứu văn học theo hướng lịch sử-so sánh của A N Veselovski Ông được coi là cha đẻ của trường phái văn học lịch sử so sánh, đã nhận thấy sự tương

đồng loại hình có tính quy luật trong các hiện tượng giống nhau Cụ thể, ông đã nhận thấy sự tương đồng về cốt truyện có thể được cắt nghĩa bằng các nguyên nhân: chung cội nguồn, ảnh hưởng nhau và sự tự sinh A N Veselovski đã đề ra từ rất sớm quan

niệm về tình giai đoạn của sự phát triển văn học Theo ông, mọi nền văn học trên thế giới, dù xét về thời gian và không gian không có sự liên hệ nào, thí cũng đều phát triển đối ứng với nhau Ông cho rằng bất cứ nước nào và dân tộc nào đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố lịch sử Do đó, nghiên cứu các sự thực lịch sử đều phải căn cứ vào sự tương tự về cội nguồn, hoàn cảnh, niên đại và mối liên hệ khu vực Ông nhấn mạnh ba điểm: 1 Vị trí chủ đạo của ảnh hưởng của các điều kiện xã hội, lịch sử, 2 Vai trò kế thừa tiếp nhận của nhà văn, 3 Vận dụng so sánh để khám phá những quy luật tương tự

loại hính Theo hướng này, năm 1960, trong bài phát biểu Những vấn đề nghiên cứu văn học theo hướng so sánh lịch sử (1960), V Zhirmunski cho rằng “tiền đề cơ bản của việc nghiên cứu so sánh lịch sử đối với nền văn học dân tộc là tư tưởng về tính thống nhất và tính quy luật chung của quá trình phát triển lịch sử” [Dẫn theo 277]

Khi nhận định lý thuyết di chuyển và lý thuyết thần thoại không hề loại trừ nhau mà

còn có thể bổ sung cho nhau, Veselovsky cho rằng: “Sự tương đồng giữa hai câu chuyện, đông và tây, tự bản thân nó không phải là bằng chứng về tính tất yếu của mối liên hệ lịch sử giữa chúng; nó có thể đã có liên quan với nhau đằng sau biên giới của lịch sử như trường phái huyền thoại thích chứng minh; nó cũng có thể là sản phẩm của quá trình phát triển tâm lý nhịp nhàng tạo ra sự thể hiện cùng một nội dung trong cùng một hình thức Khả năng cuối cùng này là thuộc về lý thuyết tự hình thành cốt truyện của nhà nhân loại học E Tylor” [Dẫn theo 89, tr.63-64]

Trang 30

24

- Lý thuyết sinh thái học văn hóa (cultural ecology): Julian Steward cho rằng,

những nền văn hóa trong cùng môi trường phát triển có xu hướng theo những chuỗi phát triển giống nhau và lập thành công thức tương tự nhau đáp ứng với những thay đổi của môi trường Ông cho là những đặc điểm văn hóa đó hầu hết kết hợp chặt chẽ với những thực tế cốt lõi của bản chất văn hóa Các nền văn hóa chia sẻ những đặc điểm cốt lõi văn hóa giống nhau thì thuộc cùng loại hính văn hóa Đồng nhất các loại hính văn hóa này, ông so sánh, phân loại chúng theo thứ bậc khá phức tạp Trình tự xã hội theo ông là: gia đính, đại gia đính và xã hội-nhà nước Những người sau này theo trường phái của ông đã làm sâu sắc hơn các phạm trù này thành: những dòng họ, bộ lạc, lãnh địa và nhà nước Văn hóa không phát triển theo đơn tuyến mà theo nhiều mô hình khác nhau bất kỳ, tùy thuộc vào các hoàn cảnh môi trường của chúng Là thuyết tiến hóa đa tuyến với phương pháp nghiên cứu-sinh thái học văn hóa gồm những khảo sát về những thìch nghi văn hóa được nhân loại công thức hóa để đương đầu với

những thách thức do môi trường đặt ra Thu nhận thuật ngữ oicotype (kiểu sinh thái) từ

ngành thực vật học, theo Carl von Sydow thì sự tương đồng suy ra đối với truyền

thống truyền miệng có vẻ khá đơn giản: “Một đất nước thường gồm có nhiều vùng văn hóa khác nhau, với sự giao tiếp khá lỏng lẻo giữa các vùng đó Những vùng này cũng

sẽ khác nhau về truyện dân gian: một phần là do ở một mức độ nào đó họ có các vốn tác phẩm khác nhau, phần khác là do các câu chuyện của cùng một loại hình chủ yếu

sẽ tạo thành những loại hình đặc biệt, những oicotype, ở những vùng khác nhau”…

Một học thuyết như vậy khi đó không còn dựa trên nhận định rằng thể loại là những phạm trù khái niệm phân tích, những loại hính lý tưởng nữa, mà bao chứa một khái niệm rằng chúng là những hình thức có một thực tế lịch sử và ngôn ngữ trong các nền văn hóa và các xã hội [221, tr.360-362]

- Lý thuyết loại hình lịch sử: Trong nghiên cứu văn học dân gian việc vận dụng

lý thuyết văn học so sánh vào nghiên cứu đã là một thao tác quen thuộc, phổ biến, tạo nên một chất lượng nghiên cứu tối ưu Bởi một trong những đặc trưng của folklore ngôn từ là những tương đồng có tính loại hình ở hầu khắp các thể loại folklore ngôn từ

và ở khắp các dân tộc Phương pháp so sánh loại hính là phương pháp nghiên cứu dựa trên những nét giống nhau, những tương đồng bộ phận hay toàn thể, những tình tiết hay hành động tương tự trong folklore ngôn từ Những so sánh nhìn từ góc độ giống nhau của các đối tượng đó sẽ gợi ra một tiếng nói chung, một thông điệp từ quá khứ,

Trang 31

25

làm sáng tỏ thêm những qui luật văn học và có cái nhìn sâu rộng, phong phú về đối tượng, mà khi tách rời các hiện tượng chung ấy thì cái nhìn trở nên rời rạc, manh mún hoặc sai lệch Những thể loại, kiểu truyện, motif, kiểu nhân vật, công thức chung… của folklore ngôn từ khu vực và nhân loại chình là đối tượng, đơn vị nghiên cứu chủ yếu của folklore ngôn từ hiện nay chứ không chỉ là đơn vị tác phẩm, câu, từ, hình ảnh riêng biệt Trên cơ sở những vấn đề cơ bản của lý thuyết văn học so sánh, cụ thể là so sánh loại hình lịch sử, V.M Zhirmunski đã đi sâu và nghiên cứu đặc biệt hiệu quả những vấn đề của so sánh folklore ngôn từ Những công trình của ông về lĩnh vực này mang ý nghĩa lý luận và phương pháp luận quan trọng Hầu như tất cả những vấn đề

cơ bản và cấp thiết của khoa nghiên cứu so sánh folklore ngôn từ đều được ông đề cập đến như: (1) Tính chất và những nguyên nhân giống nhau của hệ cốt truyện trong văn học các dân tộc khác nhau và các thời kỳ lịch sử khác nhau; (2) Tính phổ quát và sự thống nhất các quy luật phát triển của các hình thức thể loại trong sáng tác dân gian ở phạm vi liên dân tộc; (3) Bản chất và đặc trưng của những tiếp xúc giữa các chủng tộc trong lĩnh vực folklore ngôn từ; (4) Vai trò của văn học thành văn trong các tiến trình folklore ngôn từ; (5) Số phận của folklore ngôn từ của các nhóm tộc người ở giữa một chủng tộc khác; (6) Cái chung và cái riêng trong thi pháp folklore ngôn từ của những dân tộc khác nhau,… Trong tổ hợp những vấn đề nghiên cứu văn học so sánh, một vấn

đề mấu chốt được ông đề xướng là tính thống nhất của tiến trình folklore ngôn từ thế giới được qui định bởi tiến trình phát triển của nhân loại về phương diện xã hội-lịch sử với tư cách nền tảng xác định tính phổ quát trong lĩnh vực thể loại, cốt truyện, thi pháp folklore ngôn từ của các dân tộc Trên cơ sở xuất phát từ những luận điểm chung của triết học Marx về sự thống nhất và các qui luật của tiến trình lịch sử cùng lúc dựa vào

công trính kinh điển của F Engels “Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước”,

V.M Zhirmunski đưa ra những nguyên tắc mới cho nghiên cứu so sánh folklore ngôn

từ và đã thực hiện thành công việc phân tích so sánh loại hình những giai đoạn sơ khai trong lịch sử và văn hóa nhân loại Trong những công trình cá nhân và tập thể của ông

có liên quan đến sáng tác dân gian, thì bình diện so sánh luôn nổi lên hàng đầu, phân tích so sánh-lịch sử tỏ ra là một trong những cách thức có hiệu quả nhất trong việc giải quyết những vấn đề của bản thân lịch sử và nguồn gốc và việc khám phá ý nghĩa nghệ thuật của các tác phẩm được nghiên cứu, vị trí của chúng trong văn hóa dân tộc Thông qua những nhiệm vụ vừa cụ thể, vừa bao quát của nghiên cứu lịch sử folklore ngôn từ,

Trang 32

26

ông đã phân biệt khá kỹ các khu vực cơ bản của nghiên cứu lịch sử-so sánh, đưa ra

những kiểu so sánh chình như: (1) So sánh lịch sử-loại hình nhằm giải thích sự giống

nhau của các hiện tượng có cội nguồn từ những điều kiện giống nhau của sự phát triển

lịch sử; (2) So sánh lịch sử-nguồn gốc nhằm khám phá sự giống nhau giữa các hiện

tượng như là kết quả của sự phát sinh từ một chủng hệ và sau đó phân hóa theo những

điều kiện lịch sử khác nhau; (3) So sánh dựa trên sự thừa nhận những tương tác văn hóa nhằm xác lập những mối tác động ảnh hưởng hoặc di chuyển vùng văn hóa trên

thế giới giữa những dân tộc có sự gần gũi về mặt lịch sử và những tiền đề phát triển xã

hội [46, tr.95] Về phạm vi thể hiện tính lịch sử-loại hình phổ quát ở các thể loại

folklore ngôn từ mang tính tự sự như balad, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt, V.M Zhirmunski đã nhiều lần cho rằng các thể loại này bị ảnh hưởng từ bên ngoài rất nhiều và vai trò vay mượn trong chúng là rất lớn Thật vậy, ngày càng có nhiều những hiện tượng chứng tỏ tiến trình folklore ngôn từ được điều chỉnh bằng những quy luật đặc biệt chặt chẽ mang tính bao trùm, với sức mạnh của chúng có thể thấy trên mỗi bước đi sự thể hiện tính phổ quát đa dạng nhất trong những kết cấu thể loại, cốt truyện, những đặc điểm thi pháp, với nhiều sự “trùng hợp” và song tồn đáng kinh ngạc có mặt trong thực tế như những điều hiển nhiên Trung thành và phát triển những nguyên tắc của lí thuyết loại hình-lịch sử, ông còn luôn có ý thức kiếm tìm những con đường và khả năng mới cho nghiên cứu những vấn đề ảnh hưởng và quan

hệ tiếp xúc Ông luôn tin rằng “những quan hệ tương hỗ văn hóa”, “những ảnh hưởng, vay mượn”… là yếu tố hỗ trợ của nghiên cứu nguồn gốc và tầm quan trọng của nó là không thể lường hết được, bởi trong những điều kiện lịch sử thực tế chưa từng tồn tại

và hiện không tồn tại sự phát triển xã hội và văn hóa độc lập tuyệt đối” Bởi lẽ, văn hóa vốn có hai đặc trưng cơ bản song tồn là tính lan truyền phổ quát và tính đặc thù

riêng biệt - văn hóa vừa là một hằng số vừa là một biến số Về tính phổ quát, đặc thù

của văn hóa cần được hiểu một cách bao quát là: về mọi mặt, nhân loại vốn thống nhất trong đa dạng, thế nên thế giới nói chung và các nền văn hóa các châu lục, quốc gia, dân tộc, tộc người nói riêng cũng mang tình thống nhất trong đa dạng Còn về quá trình phát triển loại hình giao thoa với quá trình ảnh hưởng, ông nhấn mạnh: (1) Ảnh hưởng và quan hệ không phải là một việc ngẫu nhiên (như Van Tieghem quan niệm)

mà có tính quy luật, (2) Ảnh hưởng phải gắn với sự biến đổi có tính sáng tạo đối với hính tượng được vay mượn So sánh loại hình lịch sử cho phép xem xét các hiện tượng

Trang 33

cơ sở cho sự tiếp thu ảnh hưởng Mọi ảnh hưởng từ bên ngoài vào, nếu vừa có thể hòa hợp được với cái riêng biệt (nhưng không hòa tan mất cái riêng biệt), vừa giúp thúc đẩy phát triển cái có tính chung nhất thì sẽ được tiếp nhận và tạo nên tiến bộ cho văn học dân tộc, còn ngược lại thì hoặc sẽ bị đào thải, hoặc sẽ làm suy thoái hay triệt tiêu

văn học dân tộc

Tóm lại, bên cạnh thuộc tính về tính loại hình phổ biến của văn học dân gian toàn nhân loại nói chung và truyện dân gian nói riêng, khi so sánh để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt trong truyện dân gian của hai cộng đồng tộc người, cần thiết cùng lúc dựa vào các lý thuyết: lịch sử-địa lý, thi pháp lịch sử, tiến hóa đơn tuyến, truyền bá luận, giao lưu và tiếp biến văn hóa, sinh thái học văn hóa, lịch sử loại hình

1.2 Tổng quan về truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK

ở Trường Sơn - Tây Nguyên

1.2.1 Về hai nhóm tộc người MĐ và MK ở Trường Sơn - Tây Nguyên

Về khái niệm vùng TS-TN / không gian văn hóa-xã hội vùng TS-TN (còn gọi là vùng văn hóa Tây Nguyên1 mở rộng2-theo quan niệm của chúng tôi), các nhà dân tộc học VN từ sớm đã có nhận định rằng: đó là một dải kéo dài từ miền núi Bình Trị Thiên qua TN, miền núi các tỉnh Nam Trung Bộ, tới tận miền Đông Nam Bộ, trong đó có ba

1

Vùng Tây Nguyên (theo phân vùng kinh tế-xã hội) gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng [144, tr.57] Vùng văn hóa: thuật ngữ nhằm để chỉ một không gian có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống…ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trính độ phát triển kinh tế-xã hội giữa các cộng đồng, diễn ra những mối giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại mật thiết, từ đó hính thành nên các đặc trưng văn hóa chung, phân biệt với các vùng văn hoá-lịch sử khác

2

Vùng văn hóa Tây Nguyên mở rộng: gồm cả vùng đồng bằng ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ là địa bàn cư trú của người Chăm “Về địa bàn cư trú, người Chăm truyền thống chủ yếu sinh tồn ở miền duyên hải miền Trung, trải dài dưới núi

từ Quảng Bính đến Bính Thuận và bị chia cắt bởi có nơi “núi lấn ra tận biển” Trên cái nền bán sơn địa-bán đảo dựa vào núi

về phìa Tây và hướng ra biển về phìa Đông, các lớp cư dân Chăm đã triển khai nhiều loại hính hoạt động kinh tế nhờ vào nguồn lực của đồng bằng, núi rừng và biển đảo vùng này” [180, tr.7-8] “Theo địa vực hành chình hiện nay thí có thể coi các tỉnh Trung Bộ của Việt Nam, gồm Quảng Bính, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bính Thuận đã từng là địa bàn cư trú của người Chăm hoặc thuộc địa vực của vương quốc Champa xưa” [180, tr.190]

Trang 34

28

tiểu vùng Bắc-Trung-Nam TN và phần miền Đông Nam Bộ3 [244, tr.5] Về cơ bản, có hai nhóm ngữ hệ gồm 20 tộc người: nhóm MK là cư dân bản địa xuất hiện từ sớm (15 tộc người: Ba Na, Brâu, Bru-Vân Kiều, Chơ Ro, Cor, Cơ Tu, Giẻ Triêng, Hrê, Kơ Ho,

Mạ , Mơ Nông, Rơ Măm, Tà Ôi, Xơ Đăng, Xtiêng), và nhóm MĐ có mặt về sau (5 tộc người: Chăm, Ra Glai, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai) Về địa bàn cụ thể của mỗi tiểu vùng

TN gồm có: Tiểu vùng Bắc TN gồm hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum và các huyện miền núi

ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế; Tiểu vùng Trung TN gồm tỉnh Đắk Lắk và các huyện miền núi năm tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bính Định, Phú Yên, Khánh Hòa; và Tiểu vùng Nam TN gồm ba tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Phước (phần phía bắc của tỉnh Sông Bé trước đây), các huyện miền núi hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận cùng ba tỉnh miền Đông Nam Bộ là Tây Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu

Các dân tộc TS-TN chậm tiến hóa về mặt thể chế xã hội, kinh tế chính trị đã bảo lưu được nhiều phong tục, tập quán cổ xưa Do những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định, họ đã trải qua những giai đoạn phát triển xã hội vừa giống nhau vừa khác nhau Trong nhóm tộc người MĐ, gồm 1,045,757 nhân khẩu (2009), từng có ba bộ phận như: bộ phận thứ nhất đã hính thành cơ cấu quốc gia từ đầu Công nguyên (cư dân Phù Nam, Lâm Ấp và Chăm Pa về sau), bộ phận thứ hai chỉ mới hình thành ý niệm về một liên minh các làng buôn (ở người Gia Rai và manh nha ở người Ê Đê) và bộ phận thứ ba vẫn giữ nguyên cách tổ chức xã hội kiểu công xã thị tộc cho đến tận những thế

kỷ gần đây (Chu Ru và Ra Glai) Trong khi đó, ở nhóm tộc người MK, gồm 1,211,945 nhân khẩu (2009), chỉ thấy duy nhất bộ phận thứ ba là cộng đồng bon plây vẫn giữ nguyên cách tổ chức xã hội kiểu công xã thị tộc cho đến thời gian gần đây Trong

3

Các tộc người thiểu số ở miền núi Đông Nam Bộ-Nam Tây Nguyên – gồm các tộc người Xtiêng, nhóm Tà Mun, Chơ Ro,

Mơ Nông, Mạ-Cơ Ho, được coi là hậu duệ của những lớp cư dân Môn cổ - chủ nhân của văn hóa Đồng Nai thời kim khì – đã chuyển cư từ phìa bắc xuống phìa nam bán đảo Đông Dương, cùng thời với những đợt thiên cư lớn ở ĐNÁ lục địa và định

cư, lập nghiệp trên vùng đất này từ thời tiền sử… [Phan Xuân Biên, dẫn theo 171, tr.210] Một vài giả thuyết cho rằng, các tộc người này còn là một bộ phận của cư dân Phù Nam, một quốc gia cổ đại đa chủng tộc từng tồn tại ở Nam Đông Dương vào đầu Công nguyên Sau những biến cố về địa lý và lịch sử, khi vùng đất này bị ngập nước, họ di chuyển đến Đông Nam Bộ-Nam Tây Nguyên, nơi có gò đồi tương đối cao, phần cuối của vùng TS-TN [Phan An và Ngô Văn Lệ, dẫn theo 171, tr.210] Trong khi đó, theo một giả thuyết khác thí các tộc người này “không chịu Ấn hóa, nên kéo nhau lên cao nguyên hoặc sang những vùng hẻo lánh để giữ lấy lối sống và tập quán riêng” [Võ Sĩ Khải, dẫn theo 171, tr.210] Vào thế kỷ II-III sau Công nguyên, các tộc người này phát triển mở rộng địa bàn cư trú dọc theo lưu vực hệ thống sông Đồng Nai từ thượng nguồn đến gần biển trên vùng đất này… Từ thế kỷ X trở về sau, người Mạ, người Xtiêng đã trở thành những tộc người khá hùng mạnh và có nhiều thế lực ở vùng Nam Tây Nguyên-Đông Nam Bộ với sự xuất hiện của “vương quốc Mạ”…trong thời kỳ trước thế kỷ XVIII Lúc đó, người Chơ Ro được xem là một bộ phận cư dân của “vương quốc Mạ” và được gọi là người Mạ vùng bính nguyên, hay người Mạ vùng đồng bằng [J Boulbet và Mạc Đường, dẫn theo 171, tr.211] Theo Đặng Nghiêm Vạn, văn hóa của người Mạ, người Cơ Ho, người Mnông, người Xtiêng… không khác nhau mấy, nhất là đối với người Cơ

Ho và người Mạ, họ có những nét tương đồng với nhau đến nỗi có thể hợp nhất hai tộc người này thành một [Đặng Nghiêm Vạn, Lưu Hùng, dẫn theo 171, tr.211] [171, tr.210-211].

Trang 35

29

nhóm MĐ, tộc người Chăm từng phát triển thành vương quốc Chămpa - một quốc gia tồn tại trong lịch sử khoảng từ năm 192 đến năm 1835 trên địa bàn từ Quảng Bình (phía Bắc) cho đến Biên Hòa (phía Nam) Chúng tôi xem tộc người Chăm là tộc người chủ thể xưa kia của nhóm MĐ Có ba cơ sở thuyết minh cho nhận định này: (1) theo Sakaya, “vương quốc Champa4 không những định cư dải đất miền Trung và chỉ có tộc người Chăm mà còn cả phần đất Cao Nguyên bao gồm các dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynesia như Raglai, Churu, Êđê, Jơrai, Hroi v.v… và các tộc người khác thuộc ngữ hệ Austronesian như Kơho, Bana, Kơtu, Hrê, Sedang, Mạ, Stiêng, v.v… Các dân tộc này sống chung trong một quốc gia liên bang có khi thống nhất, có khi không thống nhất, chủ yếu là họ tự trị ở mỗi vùng” [200, tr.40]; (2) mối quan hệ đồng tộc gần gũi giữa ba tộc người Chăm-Ra Glai-Chu Ru dễ được tìm thấy trong đời sống thường ngày và trong văn hóa dân gian của ba tộc người5; (3) qua Bảng 10-PL3 cho

thấy truyện dân gian các tộc người TS-TN đã phản ánh nhiều mối quan hệ thân tộc và giao lưu văn hóa gần xa, đậm nhạt khác nhau giữa tộc người Chăm với các tộc người

MĐ và MK6 Ngoài ra, từ tộc người Chăm những ảnh hưởng từ nền văn hóa Ấn Độ đã gián tiếp thâm nhập vào văn hóa các tộc người khác trong nhóm MĐ

4 Champa là tên một quốc gia ở dải đất miền Trung từ đèo Ngang đến phìa bắc sông Đồng Nai [200, tr 75-76] Cùng chung quan điểm với Sakaya, có giả thiết cho rằng “Champa là một vương quốc đa chủng tập trung các dân tộc Chăm và Tây Nguyên” [http://dev.champaka.info/?p=4061]

5

Một số nhà khoa học cho rằng tiếng Raglai là tiêu biểu cho ngôn ngữ tiền Chăm, hoặc xếp tiếng Raglai là tiếng Chăm núi (up land) khi chia tiếng Chăm làm hai phần: Chăm núi (up land) và Chăm đồng bằng (low land) Tuy nhiên, trong quá trình phát triển lịch sử, văn hóa Raglai và văn hóa Chăm không còn nguyên vẹn Về sau, do quá trình hội nhập với các yếu tố văn hóa khác như người Chăm tiếp nhận Ấn Độ giáo, Hồi giáo, còn người Raglai vẫn giữ nguyên văn hóa bản địa Từ đó cùng với thời gian, chiến tranh, địa bàn xa cách nhau đã đẩy văn hóa Raglai và văn hóa Chăm có một số nét khác nhau mang tình địa phương, khu vực có thể làm cho những nhà nghiên cứu gặp khó khăn trong việc bóc tách từng lớp văn hóa và nhận diện ra bản chất của chúng Ngày nay, trên thực tế mặc dù các mối quan hệ văn hóa Raglai-Chăm không còn nguyên vẹn do bị thời gian phủ mờ nhưng không ví thế mà chúng mất đi Cái gí ở Raglai mất đi, có thể ở một mức độ nào đó sẽ tìm thấy dấu ấn của

nó ở văn hóa Chăm và ngược lại cái gì ở người Chăm mất đi thí sẽ tìm thấy dấu ấn ở văn hóa Raglai Với những đặc điểm về mối quan hệ tộc người giữa Raglai và Chăm như trên, có thể bằng con đường qua người Chăm tím hiểu được người Raglai và ngược lại qua người Raglai tìm hiểu được người Chăm [175] Mối quan hệ gần gũi hơn cả giữa Raglai và Chăm trong nhóm Nam Đảo còn được phản ánh rõ nét trong tâm thức của người Chăm và người Raglai thông qua câu ngạn ngữ ở các buôn làng

người Chăm và người Raglai là “Chăm Saãi, Raglai Adey” (Chăm là anh, Raglai là em) [256, tr.14] Huyền thoại về nguồn

gốc tộc người cho thấy đại bộ phận cư dân Chu-ru đều thừa nhận mình có nguồn gốc từ người Chăm ở vùng đồng bằng ven

biển di cư lên (Vua Chăm bắt mọi người lên rừng, lên suối tìm của cải dâng cho vua Ông quan chịu trách nhiệm thu của cải

không giao nạp cho nhà vua Người Chu-ru bị bắt phải đi làm mãi, vì vậy họ chạy trốn vua lên vùng của người Cơ-ho, người

Mạ thành tộc Chu-ru như ngày nay) [204, tr.159] Người Chu Ru là tộc người có chung nguồn gốc với người Chăm Tổ tiên

của họ, từng cư trú tại vùng duyên hải Trung Bộ Về sau do các nguyên nhân lịch sử họ đã phải rời bỏ quê hương để đi tím đất mới Những người ra đi đầu tiên đã tự đặt tên gọi Chu Ru (đọc trại từ “Chăm rú”, người Chăm đi xăm đất) và chính họ là những người đã mang theo nghề làm gốm từ quê hương bản quán của mình Có thể gọi họ là những người lấn đất vùng Đồng Nai Thượng-vùng thung lũng Dran thuộc cao nguyên Lang Biang và vùng núi trùng điệp ở phía tây [214, tr.218]

6

Với người Ra Glai có 13 truyện (2 thần thoại, 4 truyền thuyết, 6 cổ tìch thần kỳ, 1 cổ tìch sinh hoạt), với người Chu Ru có 7 truyện (6 cổ tìch thần kỳ, 1 cổ tìch sinh hoạt), với người Ê Đê có 6 truyện (3 truyền thuyết anh hùng, 3 cổ tìch thần kỳ), với người Gia Rai có 4 truyện (1 thần thoại, 2 truyền thuyết anh hùng, 1 cổ tìch sinh hoạt), với người Kơ Ho có 8 truyện (1 thần thoại, 3 cổ tìch thần kỳ, 4 cổ tìch sinh hoạt), với người Mạ có 5 truyện (1 thần thoại, 4 cổ tìch thần kỳ), với người Mơ Nông

có 1 truyền thuyết anh hùng.

Trang 36

30

Về địa lý-lịch sử, các tộc người thuộc nhóm MK là cư dân bản địa lâu đời từ hàng ngàn năm ở vùng TS-TN đã bị nhóm MĐ đến sau7, từ ngoài biển đông vào, từng bước đẩy lùi dần về cao nguyên phía Tây và chen vào giữa (Trung TN với hai tộc người Gia Rai và Ê Đê) và đã lấn/ tách nhóm MK dạt đi về hai phía Bắc và Nam TN [218] Có thể phân địa bàn cư trú của nhóm tộc người MĐ thành hai vùng với những đặc điểm tự nhiên khác nhau Đó là vùng đồng bằng ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ (địa bàn cư trú của người Chăm Ninh Thuận và Bình Thuận) và vùng rừng núi và cao nguyên (địa bàn cư trú của người Gia Rai, Ê Đê, Ra Glai và Chu Ru) Vùng rừng núi và cao nguyên gồm các loại địa hình: núi non, sông suối, cao nguyên, trũng

và thung lũng Vào thế kỷ XI, vương quốc Champa hùng mạnh tràn lên TN dọc theo thung lũng sông Ba và từ đó, các tộc người TN phải sống dưới ách thống trị của Champa trong suốt 350 năm (từ cuối thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV) Cuộc chiến tranh

100 năm giữa Chân Lạp và Champa từ giữa thế kỷ XII đến giữa thế kỷ XIII đã khiến các tộc người TN tiếp tục phải di chuyển đến các vùng xa hơn để tránh các cuộc giao tranh ác liệt Từ giữa thế kỷ XIV, XV, Champa và Chân Lạp suy yếu trong khi Xiêm

La, Thái và Đại Việt mạnh dần lên, TN trở thành một vùng đệm cho các cuộc tranh chấp để mở rộng địa bàn và thế lực trong khu vực Đó cũng là thời điểm các tộc người

ở TN tiếp tục phân hóa thành các nhóm địa phương Từ thế kỷ XV-XVI, Champa suy yếu dần và đến thế kỷ XVIII, về cơ bản, vương quốc Champa hoàn toàn tan rã Đại Việt mở rộng đất đai về phía nam và các triều đại của Đại Việt bắt đầu quan tâm mở rộng ảnh hưởng của mính trên địa bàn TN [95, tr.19-20]

Như vậy, về mặt văn hóa-xã hội, từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII, trong hai nhóm tộc người MĐ và MK ở TS-TN đã có sự cộng/ xen cư cùng những sự “chung lộn” từ các hiện tượng tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa Champa và các tộc người

TN xảy ra ít nhất cũng gần nghìn năm Từ đây, do hai nhóm tộc người có mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử khá chặt chẽ khiến cho một số nhà ngôn ngữ đưa ra giả thuyết cho rằng, hoặc MĐ ở đây vốn là MK sau đó bị MĐ hóa, hoặc là các tộc MK ở đây vốn gốc MĐ sau bị MK hóa Mặt khác, vào khoảng giai đoạn trước sau Công nguyên, khi

7 Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng, vào thời kỳ Đá mới (cách nay từ khoảng 4,000 đến 2,500 năm), nhóm những người Malayo-Polynesian đã đến cư trú trên một địa bàn rộng lớn ở ĐNÁ, trong đó có Đông Dương Các nhóm tộc người Malayo-Polynesia sống xen kẽ với các tộc ngươi thuộc nhóm Mon-Khmer (ngữ hệ Nam Á), đã có mặt trước đó và được coi là cư dân bản địa ở khu vực Đông Dương Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nhóm Malayo-Polynesia ở Đông Dương

đã thiên di từ các đảo ở phìa Đông của Indonesia, đổ bộ vào vùng duyên hải Nam Bộ và Nam Trung Bộ Việt Nam, tạo thành một địa bàn cư trú nằm giữa các cư dân thuộc nhóm Mon-Khmer chia nhóm này thành hai bộ phận: Mon-Khmer Bắc và Mon-Khmer Nam, với đặc trưng văn hóa có nhiều nét khác nhau [96, tr.32]

Trang 37

31

các tộc lớn ở ĐNÁ bước vào giai đoạn tiếp xúc với các nền văn minh lớn bên ngoài (Ấn Độ, Trung Hoa) để hính thành nên các nhà nước cổ mang màu sắc Ấn hóa (indinisé)8 hay Hán hóa (sinisé), thì các tộc người ở TS-TN hầu như đứng ngoài dòng vận động chủ lưu của lịch sử Bởi thế, các sử gia Trung Quốc thế kỷ XIV đã xếp người

Thượng vào nhóm Seng Li (man di sống) - là nhóm các dân tộc vẫn giữ được phong

tục truyền thống của mình mà không/ chưa bị Hán hóa, Ấn hóa hay Nhà nước hóa Thực tế này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đặc điểm phát triển của họ trong thời kỳ tiền hiện đại, với một số nét cơ bản như: (1) Buôn làng là một cộng đồng sở hữu; (2) Tư duy, tâm lí của con người bị chi phối sâu đậm bởi ý thức cộng đồng; (3) Đời sống cộng đồng vận hành dựa trên những nguyên tắc của luật tục [144, tr.171-176]

Về mặt dân tộc học và văn hóa học, ở VN nói riêng và ĐNÁ nói chung, có thể tím thấy nhiều giá trị văn hóa, nhiều phong tục tập quán ĐNÁ mang tình chất tương

đồng theo quy luật hóa thạch ngoại biên (fossilisation périphérique): nhiều giá trị văn

hóa, lịch sử phong tục quý và lâu đời đã bị mất đi ở các vùng thuộc về trung tâm văn hóa của dân tộc, lại được lưu giữ ở vùng ngoại biên văn hóa là các dân tộc thiểu số Việt Nam Và vùng các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và TS-TN nói riêng được xem là một bảo tàng sống vô giá về văn hóa của một số nước ĐNÁ Đặc điểm về nhiều hệ ngôn ngữ tạo nên sự phong phú đa dạng, sự khác nhau về văn hóa, tiếng nói, phong tục Xét về mặt chình trị, sự gần gũi, chan hòa về văn hóa nghệ thuật, phong tục tập quán, là một trong những nhân tố tạo nên sự đoàn kết nhất trì hòa hợp dân tộc trong đại gia đính các dân tộc VN Riêng xã hội của các tộc người MĐ và MK ở TS-

TN thuộc loại hính xã hội chưa hính thành giai cấp, văn hóa thuộc loại hính văn hóa của thời kỳ tiền giai cấp với những đặc điểm riêng biệt không thể lẩn với các loại hính

xã hội-văn hóa khác: “Hính thái văn hóa tiền giai cấp (tạm gọi là Văn hóa buôn-plây) Trong thời kỳ này chỉ có văn hóa dân gian, chưa có văn hóa bác học Riêng ở loại hính tiền giai cấp, điểm nổi bật là tình cộng đồng Tình cộng đồng tồn tại trong các sinh họat văn hóa dân gian chung Tình cộng đồng chi phối các sinh hoạt riêng của từng người trong gia đính Tình cộng đồng biểu hiện ở những sinh hoạt văn hóa dân gian

8

Về trường hợp cụ thể như văn hóa Chămpa là “bản sao” của văn hóa Ấn Độ, có nhận định sau: “Khi tiếp nhận những ảnh hưởng của Ấn Độ, cộng đồng người Chăm đã không còn là những người nguyên thủy nữa, mà đã là những cư dân của một nền văn hóa phát triển không thua kém gí nhiều dân tộc ở Ấn Độ Người Chăm đã có những tìn ngưỡng bản địa riêng, tìn ngưỡng đa thần giáo, vạn vật hữu linh và thờ cúng tổ tiên… Có thua chăng, người Chăm chỉ thua người Ấn một cách tổ chức

xã hội ở mức cao hơn-mức quốc gia, thua sự thống nhất vào một hệ tư tưởng, một tôn giáo với đầy đủ hệ thống giáo lì chặt chẽ và hấp dẫn, thua một hệ thống văn tự hoàn chỉnh, tiện lợi Họ đã tiếp thu những điều đó ở người Ấn trên cái nền văn hóa sẵn có của mính Về thực chất, các cư dân cổ Chămpa đã tím được ở văn hóa Ấn Độ những hính thức hay những cái vỏ để thể hiện phù hợp nhưng ở mức cáo hơn nền văn hóa bản địa của mính” [247, tr.42]

Trang 38

32

nhỏ bé hàng ngày Tinh thần cộng đồng còn được ghi lại đậm nét trong nội dung hệ thống các sử thi khan [278]

Theo Nguyễn Tấn Đắc:

“Tây Nguyên bản địa trước 1975 là một mảnh đất còn cất giữ nhiều dấu vết lịch

sử cổ xưa, và xã hội truyền thống còn nằm ở giai đoạn khá sớm của lịch sử văn minh của đất nước, loài người Nhín chung, Tây Nguyên là một xã hội: Trước giai cấp, Trước nhà nước, Trước quốc gia, Trước phân hóa nghề nghiệp, Trước tiền tệ

chợ búa, Trước hính thành đô thị, cung điện (thuần túy nông dân miền núi, thuần

túy dân dã), Trước phương tiện đi lại, chuyên chở, trước xe, thuyền, trước đường

sá giao thông, Trước kỹ thuật làm gạch, Trước kỹ thuật chế biến lương thực thành

bánh, sợi (chỉ chế biến thành cơm, cháo), Trước kỹ thuật nấu đường, Trước nước

uống nấu chìn và nấu nước với thực vật như chè, vối, Trước giáo dục, chữ viết, Trước tướng số, bùa phép, Trước họ (trừ một số tộc người đã có họ), Trước lịch (ngày-tháng-năm), Trước công cụ đo lường chuẩn, trước cân, Trước kỹ thuật gỗ (cưa bào, đục, tiện), chưa có đồ dùng bằng gỗ, chưa có bàn, ghế, giường,…, Trước kỹ thuật dùng da, Trước thiên đường, địa ngục, Trước nhà hát, trính diễn chuyên nghiệp, Trước thuế má, Trước thức ăn chế biến lưu trữ lâu ngày, Trước đèn dầu, Trước hố xì, Trước nhà tắm, Trước dùng phân bón trong nông nghiệp, Trước sử dụng sức kéo, Trước tôn giáo, chưa có nơi thờ cúng thường xuyên, Trước nghệ thuật phục vụ người sống, chỉ phục vụ người chết, Trước hoa (chưa dùng hoa trong đời sống)… Tây Nguyên cổ truyền còn sống ở thời kỳ trước đột biến văn hóa thời Hùng Vương của người Việt Tây Nguyên là một hiện tượng duy nhất trên đất nước ta, để tím hiểu nghiên cứu về tất cả các mặt của một xã hội trước khi có giai cấp, trước khi phân hóa nghề nghiệp, trước khi xuất hiện hính thái đầu tiên của nhà nước… như những xung đột xã hội và hính thái chiến tranh tiền giai cấp, cách tổ chức xã hội tiền nhà nước, v,v … Tây Nguyên là một di chỉ văn hóa sống vô giá” [67, tr.226-229]

1.2.2 Về truyện dân gian của hai nhóm tộc người

Về kho tàng truyện dân gian các tộc người ở TS-TN, cách nay tròn 30 năm,

trong Lời giới thiệu của hai tập Truyện cổ các dân tộc TS-TN, Tập I-Dòng Nam Đảo

[243] và Tập II-Dòng Nam Á [244] của nhóm tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Đặng Văn Lung, Tăng Kim Ngân, có những nhận định khái quát bước đầu về kho tàng truyện dân gian của hai nhóm tộc người MĐ và MK ở TS-TN Đó là: (1) Truyện cổ TS-TN đa

Trang 39

33

dạng về mặt thể loại, tựu trung bao gồm các loại truyện ngắn, gọn; các truyện còn ở tình trạng sơ khai, phản ánh tư duy của những con người còn nguyên thủy; các loại truyện có nhân vật là các con vật và người chưa phân biệt (vật, người đều biết nói, vật hóa thành người, người cam chịu kết bạn, kết nghĩa vợ chồng với vật,…); các loại truyện cho thấy người, thần linh và các ma quỷ chung sống; các loại truyện mà chính nghĩa thắng thế không phải do sức mạnh bản thân mà do ngẫu nhiên, do được sự viện trợ của một sức mạnh siêu nhiên đều là bằng chứng hiển nhiên cho một trính độ tư duy nguyên thủy của các dân tộc; (2) Có những motif được lặp đi lặp lại, có các nhân vật

mà ở bất cứ dân tộc nào cũng có: Già Pôm, một bà già nghèo hiền từ, chàng Y Rít một trai trẻ khốn cùng, Hbia một cô gái đáng thương, chú Thỏ tinh khôn, chú Rùa nhịn nhục vì sự kém hèn nhưng đầy mưu mẹo, hoặc truyện về các dũng sĩ phản ánh giai đoạn dân chủ quân sự, giai đoạn tranh chấp giữa các tộc người và giữa các địa phương

để hình thành những Nhà nước sơ khai trải qua cách đây chưa xa lắm; (3) Truyện cổ tích thần kỳ phản ánh một tư duy sóng đôi (thực-hư), một xã hội sóng đôi (thiêng-tục), một nhân vật sóng đôi (Người-không người) thường thấy ở trong giai đoạn tư duy tiền khoa học Những truyện cổ tích thần kỳ với những nhân vật anh hùng sinh ra từ nghèo khổ, từ những con người bính thường, từ những lớp người thấp kém trong xã hội: góa bụa, côi cút, xấu xí, dị dạng, nghèo hèn, ốm đau, bệnh tật, hoặc vì cảm hóa được các siêu nhiên, hay được các siêu nhiên đem lòng thương giúp đỡ, phù hộ, hoặc bản thân là kết quả của một cuộc sinh nở thần kỳ, là hóa thân của các vị siêu nhiên đầu thai xuống cõi đời làm việc nghĩa Những câu chuyện này thường thấy ở các truyện cổ Chàm, Khmer, Lào, rất có thể có gốc gác xa xưa nữa từ Ấn Độ, nhưng đã được cấu tạo và diễn đạt lại theo phong cách và thích hợp với trính độ xã hội địa phương Loạt truyện

này thường phỏng theo những trường ca được diễn đạt bằng văn vần, vốn thường được

kể thâu đêm bên bếp lửa nhà rông hoặc trong những dịp lễ hội”; 4) Truyện cổ tích sinh hoạt sinh động phản ánh cuộc sống thực của con người thực TS-TN [243, tr.11] Về truyện dân gian của nhóm tộc người MĐ, các tác giả cho rằng “các dân tộc Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai, Chu Ru9 đều là bà con thân thuộc của người Chàm với yếu tố Chàm thể

9 Riêng tộc người Chu Ru có huyền thoại kể về nguồn gốc tộc người cho thấy đại bộ phận cư dân Chu-ru đều thừa nhận mính

có nguồn gốc từ người Chăm ở vùng đồng bằng ven biển di cư lên (Vua Chăm bắt mọi người lên rừng, lên suối tìm của cải

dâng cho vua Ông quan chịu trách nhiệm thu của cải không giao nạp cho nhà vua Người Chu-ru bị bắt phải đi làm mãi, vì vậy, họ chạy trốn vua lên vùng của người Cơ-ho, người Mạ thành tộc Chu-ru như ngày nay) Trong huyền thoại, người

Chu-ru tự nhận tộc danh của mính là Chrao phân biệt với Chăm và các dân tộc ìt người Lâm Đồng khác như Cil (Chil), Srê,

Lạch, Sồp, Tô,… Giai đoạn khởi thủy của vũ trụ, sự ra đời của muôn loài không tím thấy câu trả lời trong huyền thoại Chu-ru [204, tr.159].

Trang 40

34

hiện rất rõ trong truyện cổ của các dân tộc này, cũng ví thế có nhiều truyện đượm chất

Ấn Độ… Yếu tố biển trong truyện MĐ khá đậm đặc so với truyện MK Thế nhưng xét

về thế giới của truyện cổ không nên chỉ bó hẹp vào tính riêng biệt dân tộc, địa phương

mà cần phải thấy nét chung phổ biến hơn Vì như đề tài truyện cổ, tư tưởng truyện cổ thường có tính nhân loại: đó là các loại truyện/ type truyện về các dũng sĩ với những

kỳ tích, chiến công, loại truyện đề cao sức mạnh nghệ thuật, type truyện “người chồng

là người mang lốt động vật” nảy sinh trên cơ sở những truyện kể có tính chất thần thoại gắn liền với một đời sống hoang dã của tổ tiên xưa kia khi ranh giới giữa người

và vật chưa rõ ràng, mô tìp truyện Sự tích Biển Hồ (Ia Nueng) phổ biến các truyện

vùng Bắc TN giáp Quảng Nam-Đà Nẵng và Nghĩa Bính, loại truyện “con thỏ ranh

mãnh” tuy đã có màu sắc mới mẻ hơn vẫn không phải như truyện Cuội của người Mường, truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn của người Việt,…”[243, tr.12, 13, 14] Các

tác giả đã chỉ ra những yếu tố/ tiêu chì để phân biệt truyện của dân tộc này với truyện của dân tộc khác, truyện của nhóm dân tộc này với truyện của nhóm dân tộc khác: đó

là “dấu hiệu nhất thiết phải có của truyện một dân tộc nào đó là tình lặp lại những chi tiết nhất định trong hàng loạt truyện của dân tộc đó Những chi tiết trùng lặp đó bắt nguồn từ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc đó” [243, tr.16] Về truyện dân gian của nhóm tộc người MK, các tác giả có nhận định về lịch sử-xã hội và truyện cổ của nhóm Nam Á-MK như sau:

“… Đó là những cư dân cho đến nay được coi là bản địa của toàn cõi Đông Dương và họ tự nhận là những chủ nhân lâu đời của miền sơn nguyên Trung và Nam Trung bộ Việt Nam Cư trú trên một giải từ miền núi Bình Trị Thiên qua Tây Nguyên, miền núi các tỉnh Nam Trung bộ, tới tận miền Đông Nam bộ, 15 tộc người MK đã sống kề cạnh lâu đời với các dân tộc Chàm, Khmer, các dân tộc (Ê

Đê, Gia Rai, Chu Ru, Ra Glai) và đặc biệt với dân tộc Kinh (Việt) Những cư dân

Cơ Tu, Bru-Vân Kiều, Giẻ Triêng, Tà Ôi, Mơ Nông… còn có những đồng tộc sinh sống liền kề bên kia biên giới Việt-Lào và Việt-Campuchia Do lâu đời chịu ảnh hưởng của văn hóa Việt, Chàm, Khmer, Lào tùy nơi, tùy dân tộc đậm nhạt khác nhau, nên những truyện cổ MK giữ được những sắc thái dân tộc địa phương, vừa hằn in dấu vết của các nét văn hóa, thậm chì vay mượn hẳn cốt truyện của các bạn láng giềng Quá trình tiếp biến văn hóa ở đây thật nhuần nhuyễn Nhiều câu chuyện rút ra từ kho tàng phong phú của văn hóa Ấn Độ thông qua Chàm, Khmer, Lào… hay của kho tàng fôn klo Việt được địa phương hóa đến mức có thể đánh

Ngày đăng: 22/01/2021, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w