121 10 Bảng 3.3: Tương quan CTTĐ và các thành tố tác động thông tin tiêu điểm đối với câu phủ định toàn bộ trong tiếng Việt và tiếng Anh, biến thể thứ nhất của trường hợp câu có TPĐ đứng
Trang 1HUỲNH THỊ BÍCH PHƢỢNG
CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN
TRONG CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2HUỲNH THỊ BÍCH PHƢỢNG
CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN
TRONG CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận án này là của tôi Nếu có điều gì sai phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Nghiên cứu sinh
Huỳnh Thị Bích Phƣợng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2
2.1 Việc nghiên cứu tiêu điểm và cấu trúc tiêu điểm thông tin trong tiếng Anh 2
2.2 Việc nghiên cứu tiêu điểm và cấu trúc tiêu điểm thông tin trong tiếng Việt 4
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 9
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 NGUỒN NGỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
5.1 Nguồn ngữ liệu 11
5.2 Phương pháp nghiên cứu 12
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 12
6.1 Lý thuyết 12
6.2 Thực tiễn 13
7 BỐ CỤC LUẬN ÁN 13
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN 13
1.1 CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN THEO QUAN ĐIỂM CỦA KNUD LAMBRECHT 15
1.1.1 Tiêu điểm 15
1.1.1.1 Định ngh a 15
1.1.1.2 Các loại tiêu điểm 17
1.1.2 Cấu trúc tiêu điểm thông tin 18
1.1.2.1 Định ngh a 18
1.1.2.2 Các kiểu cấu trúc tiêu điểm của Knud Lambrecht 18
1.2 CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN THEO QUAN ĐIỂM CỦA NOMI ER-TESCHIK - SHIR 20
Trang 51.2.1 Một số khái niệm liên quan đến việc miêu tả cấu trúc tiêu điểm thông tin
theo quan điểm của Nomi Erteschik- Shir 20
1.2.1.1 Hộp thông tin 20
1.2.1.2 Kiến thức nền 23
1.2.1.3 Ngữ cảnh 23
1.2.1.4 Tiền giả định 24
1.2.1.5 Giá trị chân thực 28
1.2.1.6 Chủ đề 29
1.2.1.7 Tiêu điểm 33
1.2.1.8 Kết cấu vị ngữ 35
1.2.2 Mô hình cấu trúc tiêu điểm thông tin theo quan điểm của Nomi Erteschik-Shir 36
1.2.2.1 Cấu trúc tiêu điểm chính 37
1.2.2.2 Cấu trúc tiêu điểm phụ 41
1.3 TIỂU KẾT 51
CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN CỦA CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG ANH52 2.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG ANH 52
2.1.1 Khái niệm về câu phủ định tiếng Anh 52
2.1.1.1 Phạm trù phủ định 52
2.1.1.2 Câu phủ định tiếng Anh 53
2.1.2 Phân loại câu phủ định tiếng Anh 55
2.2 MÔ HÌNH CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN CỦA CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG ANH 59
2.2.1 Cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu phủ định toàn bộ 59
2.2.1.1 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định có trợ động từ 60
2.2.1.2 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định là câu trả lời trong cặp câu hỏi-đáp có/ không 65
2.2.1.3 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định là câu trả lời trong cặp câu hỏi-đáp có từ nghi vấn w(h) 68
2.2.2 Cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu phủ định thành phần 70
Trang 62.2.2.1 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định thành phần chủ ngữ 70
2.2.2.2 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định thành phần bổ ngữ 73
2.2.2.3 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định thành phần trạng từ 76
2.2.3 Cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu phủ định khác 79
2.2.3.1 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định dùng phương tiện hình thái học 79
2.2.3.2 Cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu phủ định dùng phương tiện từ vựng 84
2.2.3.3 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định dựa vào vị trí của từ phủ định 86
2.2.3.4 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định siêu ngôn ngữ 88
2.2.4 Vai trò, tác động của từ only, even và any trong cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu phủ định 89
2.2.4.1 Cấu trúc tiêu điểm của câu có từ only 90
2.2.4.2 Cấu trúc tiêu điểm của câu có từ even 93
2.2.4.3 Cấu trúc tiêu điểm câu phủ định có từ any 94
2.2.5 Vai trò, tác động của trọng âm-ngữ điệu trong câu phủ định tiếng Anh 96
2.2.5.1 Trọng âm 96
2.2.5.2 Ngữ điệu 999
2.3 TẦM TÁC ĐỘNG TRONG CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG ANH 100
2.4 TIỂU KẾT 102
CHƯƠNG 3: CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN CỦA CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG VIỆT (LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH) 1066
3.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG VIỆT 106
3.1.1 Khái niệm câu phủ định tiếng Việt 1066
3.1.1.1 Câu phủ định tiếng Việt 106
3.1.1.2 Phương tiện biểu hiện câu phủ định tiếng Việt 107
3.1.2 Phân loại câu phủ định tiếng Việt 1155
3.1.3 Quan điểm về câu phủ định tiếng Việt của luận án 117
3.1.3.1 Về nòng cốt câu và thành phần câu 117
3.1.3.2 Về câu phủ định 118
Trang 73.2 MÔ HÌNH CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN CỦA CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG
VIỆT 119
3.2.1 Cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu phủ định toàn bộ 119
3.2.1.1 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định toàn bộ có từ phủ định đứng trước vị tố của câu 120
3.2.1.2 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định toàn bộ có từ phủ định đứng trước cấu trúc chủ ngữ-vị tố 1255
3.2.1.3 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định là câu trả lời trong cặp câu hỏi-đáp có- không 126
3.2.2 Cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu phủ định thành phần 129
3.2.2.1 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định thành phần chủ ngữ 130
3.2.2.2 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định thành phần bổ ngữ 1322
3.2.2.3 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định thành phần gia ngữ 1344
3.2.3 Cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu phủ định khác 1377
3.2.3.1 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định dùng phương tiện từ vựng 137
3.2.3.2 Cấu trúc tiêu điểm của câu phủ định dựa vào vị trí của từ phủ định 141
3.2.4 Cấu trúc tiêu điểm thông tin trong câu phủ định kép 1422
3.2.5 Từ tình thái và cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu có từ tình thái 145
3.2.5.1 Sơ lược về từ tình thái trong tiếng Việt 145
3.2.5.2 Cấu trúc tiêu điểm của câu có từ tình thái 146
3.2.6 Vai trò, tác động của trọng âm-ngữ điệu trong câu phủ định tiếng Việt 1488
3.2.6.1 Trọng âm 149
3.2.6.2 Ngữ điệu 151
3.3 TẦM TÁC ĐỘNG TRONG CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG VIỆT 153
3.4 MỘT VÀI KHẢO SÁT VỀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN TRONG CHUYỂN DỊCH CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 154
3.5 TIỂU KẾT 159
KẾT LUẬN 163
Trang 8DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI CỦA LUẬN ÁN 167 TÀI LIỆU THAM KHẢO 168
Trang 9QUY ƢỚC VIẾT TẮT
[y] số trang của thứ tự tài liệu tham khảo
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1: Tóm tắt hình thức động từ của câu phủ định có trợ
2 Bảng 2.2: Tóm tắt mô hình CTTĐ của câu phủ định có trợ
3 Bảng 2.3: Mô hình CTTĐ của câu phủ định là câu trả lời trong
4
Bảng 2.4: Mô hình CTTĐ của câu phủ định là câu trả
lời trong cặp câu hỏi-đáp có từ nghi vấn trong tiếng Anh
70
8 Bảng 3.1: Bảng đối chiếu quan điểm về câu phủ định tiếng
9
Bảng 3.2: Tương quan CTTĐ và các thành tố tác động thông
tin tiêu điểm đối với câu phủ định toàn bộ trong tiếng Việt và
tiếng Anh, trường hợp câu có TPĐ đứng trước bộ phận vị tố
121
10
Bảng 3.3: Tương quan CTTĐ và các thành tố tác động thông
tin tiêu điểm đối với câu phủ định toàn bộ trong tiếng Việt và
tiếng Anh, biến thể thứ nhất của trường hợp câu có TPĐ đứng
trước bộ phận vị tố
123
Trang 1111
Bảng 3.4: Tương quan CTTĐ và các thành tố tác động thông
tin tiêu điểm đối với câu phủ định toàn bộ trong tiếng Việt và
tiếng Anh, biến thể thứ hai của trường hợp câu có TPĐ đứng
trước bộ phận vị tố
124
12 Bảng 3.5: Tương quan mô hình CTTĐ câu trả lời phủ định
trong cặp câu hỏi-đáp có-không trong tiếng Việt và tiếng Anh 128
13 Bảng 3.6: Khuôn hình cấu tạo câu phủ định thành phần chủ
15
Bảng 3.8: Tương quan mô hình CTTĐ câu phủ định thành
phần gia ngữ trong tiếng Việt và các hình thức phủ định tương
ứng trong tiếng Anh
137
16
Bảng 3.9: Tương quan mô hình CTTĐ của câu phủ định dùng
phương tiện từ vựng trong tiếng Việt và phương tiện hình thái học
trong tiếng Anh
139
Trang 12MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với việc nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình hành chức, việc khảo sát lời nói gắn liền với ngữ cảnh giao tiếp đã mở ra một triển vọng lớn Từ cách tiếp cận này, hàng loạt vấn đề mà ngôn ngữ học truyền thống đánh giá là thuộc ngoại vi lại trở thành những vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Một trong những vấn đề đó là sự phân bố thông tin trong các phát ngôn gắn liền với từng ngữ cảnh cụ thể Đây là một trong những vấn đề liên quan đến ngôn ngữ học lý thuyết
và ngôn ngữ học ứng dụng Thành tựu của nó chủ yếu là tập trung trên cứ liệu tiếng Anh
Xét trên cứ liệu tiếng Việt, theo quan sát chưa đầy đủ của chúng tôi, ngoại trừ luận án tiến s và bài viết có liên quan của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền [21], [22], hầu như chưa có một chuyên luận nào khảo sát về vấn đề này mà chỉ có
một số khảo cứu ngữ pháp và một vài giản yếu dụng học như: Giới thiệu lý thuyết
về phân đoạn thực tại câu của Lý Toàn Thắng [35], Tiếng Việt- Sơ thảo Ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo [14], Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp [13], Hệ thống liên kết văn bản của Trần Ngọc Thêm [38] các bài viết của Nguyễn
Hồng Cổn [7], [8], [9] và một vài bài viết của các tác giả khác
Dựa trên những kinh nghiệm giảng dạy ngoại ngữ kết hợp với kết quả khảo sát từ thực tế, chúng tôi nhận thấy tất cả các vấn đề như: việc tạo lập tiêu điểm thông tin của người phát ngôn đối với người thụ ngôn; việc xác định cấu trúc tiêu điểm thông tin; việc nhận diện tiêu điểm và giải mã chúng; cùng với một số phương tiện khác như ngữ điệu, trọng âm, đều có ý ngh a rất quan trọng trong quá trình nâng cao hiệu quả giao tiếp Thế nhưng, từ góc độ sư phạm, từ phía người dạy lẫn người học, hầu như vấn đề này chưa được chú ý một cách thoả đáng, đặc biệt là trong từng loại câu cụ thể
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn Cấu trúc tiêu điểm thông tin trong câu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt làm đề tài nghiên cứu của luận án này
Trang 132 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
2.1 Việc nghiên cứu tiêu điểm và cấu trúc tiêu điểm thông tin trong tiếng Anh
Từ trước Thế chiến thứ hai, các học giả của trường phái Praha đã thực hiện những nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến tiêu điểm và cấu trúc tiêu điểm thông
tin với tên gọi là cấu trúc thông tin (information structure) Tuy nhiên, có thể kể
đến M.A.K Halliday là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này thông qua một bài viết về hiện tượng ngôn điệu trong lời nói vào năm 1967 [64], [65] Trong bài viết
này, ông đã nhắc lại những khái niệm về cái đã biết/ cái chưa biết (known/unknown) - là những đơn vị có chức năng chuyển tải thông tin trong quá
trình giao tiếp - vốn từ trước đó đã được V Mathesius (1929) - người sáng lập trường phái Praha - đề cập đến [44] và sau đó là các học trò của ông (như J Firbas
[59], E Hajicova [63] qua lý thuyết về Phân đoạn thực tại câu (Functional sentence perspective - FSP) Trong lý thuyết này, ông đề xuất các khái niệm như cái đã biết (known), cái chưa biết (unknown), hạt nhân/tiêu điểm (nuclear/ focus) Đây cũng là
lần đầu các khái niệm này được biết đến với tư cách là những thành tố cơ bản của đơn vị thông tin và được thể hiện thông qua hai bộ phận chức năng của câu: phần
thứ nhất đóng vai trò điểm xuất phát của nhận định, gọi là phần Chủ đề (Theme)- thể hiện cái đã biết; phần sau gọi là phần Thuật đề (Rheme)- chứa nội dung mới, cái
mới, cái được coi là phần hạt nhân thông tin (nuclear) Và theo lý thuyết này, thông tin được tổ chức, sắp xếp trên bề mặt câu trong ngôn bản và văn bản thành hai thành
tố là cái cũ và cái mới (given-new) dựa trên quan hệ chức năng Đề-Thuyết Rheme/ Topic-Comment) của câu
(Theme-Tuy nhiên, điều đáng chú ý trên hết là M.A.K Halliday [65,66] đã phân định
rõ ràng phạm trù của hai thành tố thông tin, cụ thể là: thông tin cũ (TTC) và thông tin mới (TTM) Theo ông, TTM là thông tin mà người nói cho rằng người nghe chưa biết, và TTC là thông tin mà người nói cho rằng người nghe đã biết (do dựa vào ngữ cảnh giao tiếp hiện tại, hoặc do đã được đề cập đến trước đó trong diễn ngôn) Trật tự tự nhiên của hai thành tố thông tin này là TTC-TTM Bên cạnh đó, ông còn đề cập đến chức năng của ngữ điệu trong việc đánh dấu TTC và TTM
Trang 14Việc nghiên cứu về cấu trúc thông tin (CTTT) trên bình diện ngữ pháp chức năng cũng được nhiều tác giả khác quan tâm như: J.D.L Bolinger [49], R Van Valin [106], [121], v.v
Càng về sau, các khảo cứu có xu hướng tập trung nhiều vào vấn đề tiêu điểm (TĐ) trong CTTT Từ đó xuất hiện thêm nhiều thuật ngữ có tên gọi khác nhau; nhưng, về cơ bản, đều dùng để chỉ những đơn vị tương đương với TTC và TTM
Chẳng hạn như: Tiền giả định -Tiêu điểm (presupposition- focus), Tiền đề-Tiêu điểm (background/ground-topic), Chủ đề-Tiêu điểm (topic- focus)
Với cặp thuật ngữ Tiền giả định -Tiêu điểm (TGĐ-TĐ), N Chomsky là người
đầu tiên dùng nó để thể hiện hai tính chất cũ-mới của thông tin [55] Theo ông, hai thành phần cơ bản và có tính khác biệt với nhau trong nội dung thông tin là TGĐ và
TĐ Trong đó, TGĐ có thể là một bộ phận của câu, tồn tại độc lập với họat động ngôn từ, nó cũng có thể là cái tồn tại bên ngoài, không có mặt trong thành phần câu nói Nó là tiền đề cho thông tin TĐ được thực hiện TĐ của câu là thành tố hoặc ngữ đoạn nằm trong trung tâm ngữ điệu và có nhiệm vụ chỉ ra mối quan hệ (i) giữa một câu trả lời thực tế với những câu/ phát ngôn hay những câu hỏi khác nhau; (ii) giữa một câu trả lời có thể có với nhiều câu/ phát ngôn khác nhau; (iii) hoặc là xác định mối quan hệ giữa những câu/ phát ngôn khác nhau trong cùng một diễn ngôn
Cùng quan điểm với N Chomsky, các nhà ngôn ngữ học như R Jackendoff [72], E Prince [88], M Rooth [92], [93], K Lambrecht [80], D Buring [115], M
Krifka [77], S Calhoun [53], v.v cũng đã sử dụng cặp thuật ngữ TGĐ-TĐ khi khảo
sát cơ cấu thông tin trong hoạt động diễn ngôn, và tìm ra mối liên quan giữa các bình diện ngôn ngữ khác nhau trong quá trình trao và nhận thông tin cũng như tác động của những yếu tố khác bên ngoài ngôn ngữ
Còn cặp thuật ngữ Tiền đề- Tiêu điểm thì được dùng bởi M Krifka (2006) và
một số tác giả khác
Với cặp thuật ngữ Chủ đề - Tiêu điểm (Topic- Focus), đã có nhiều tác giả sử
dụng nó từ những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX Cụ thể như: E Hajicova và
P Sgall [63], K Lambrecht [80], J.K Gundel & T Fretheim [115], R A Jacobs
Trang 15[74], v.v Điều này cho thấy những tác động qua lại chặt chẽ giữa Chủ đề (CĐ) và
TĐ trong cấu trúc câu, nhất là tầm quan trọng của của cả hai thành tố này trong xu hướng phân tích câu theo quan điểm thông báo
Chính vì vậy, bên cạnh thực tế cũng có nhiều tác giả sử dụng đồng thời cùng lúc hai thuật ngữ như: T Fretheim [115], C Breul [50], v.v…, xu hướng dùng thuật
ngữ cấu trúc tiêu điểm thông tin (CTTĐTT) hay cấu trúc tiêu điểm (CTTĐ) thay
thế CTTT, trong đó hai thành tố giữ vai trò chủ chốt trong việc biểu hiện ý ngh a
thông tin là CĐ và TĐ, được nhiều tác giả quan tâm từ những năm 1990 đến nay Trong số đó có K Lambretch và Nomi E Shir là hai nhà ngôn ngữ có nhiều nghiên cứu đặc biệt về l nh vực này [80], [95], [96], [97], [98], [99]
2.2 Việc nghiên cứu tiêu điểm và cấu trúc tiêu điểm thông tin trong tiếng Việt
Trong nghiên cứu câu tiếng Việt, sự phân đoạn câu theo quan điểm thông tin thực tại hay quan điểm thông báo là một hướng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học bên cạnh phương thức phân đoạn câu về mặt ngữ pháp Xét trong mối quan hệ giữa thông tin người nói định truyền đạt và người nghe muốn
tiếp nhận, cấu trúc câu được phân chia thành hai phần là Đề (Theme, Topic) và Thuyết (Rheme, Comment), trong đó Đề là bộ phận biểu thị “cái đã biết” hay
“thông tin cũ” còn Thuyết biểu thị “cái chưa biết” hay là “thông tin mới”
Sự phân đoạn cấu trúc thông tin thực tại của câu thành Đề-Thuyết theo tiêu chí “cũ - mới” này được phân biệt với sự phân đoạn cấu trúc cú pháp của câu thành Chủ ngữ -Vị ngữ dựa trên các tiêu chí hình thức và/ hoặc ngữ ngh a [44]
Cấu trúc Đề - Thuyết trong tiếng Việt là cách phân tích câu theo hướng khác với cấu trúc Chủ- Vị do Lưu Vân Lăng đề xuất, Cao Xuân Hạo vận dụng lý thuyết
của châu Âu nhưng có cách tiếp cận triệt để qua công trình “Tiếng Việt – Sơ thảo
Ngữ pháp chức năng” Theo tác giả, “Đề và Thuyết là những thành tố quan trọng cấu tạo nên nòng cốt câu, hạt nhân Đề -Thuyết là cấu trúc hạt nhân của câu Đây chính là cấu trúc tối giản.” Tác giả cũng chỉ ra “phân tích Đề -Thuyết là phân tích cú pháp, xét cả hình thức cấu trúc lẫn nội dung ngữ ngh a, chức năng Đề là bộ phận chỉ cái được nêu lên để nhận định Thuyết là bộ phận mang nội dung thuyết minh rõ
Trang 16về cái được nêu lên.” Như vậy, theo quan điểm của tác giả, câu có thể được tiếp cận với tư cách là đơn vị “thông báo một mệnh đề” hay “phản ánh một nhận định”
được cấu trúc hóa thành hai phần Đề và Thuyết, trong đó “Đề là điểm xuất phát, là cái cơ sở, cái điểm tựa, làm bàn đạp cho đà triển khai của câu ở “phần Thuyết”
Về phân đoạn thực tại câu tiếng Việt, có thể kể đến V.X Panfilov (1993) như là người đầu tiên áp dụng cách phân đoạn thực tại câu tiếng Việt theo tiêu chí lưỡng phân “cũ-mới” và mô tả khá chi tiết các kiểu phân đoạn thực tại khác nhau của chúng qua bài báo “ Sự phân đoạn thực tại của câu trong tiếng Việt” [ 45, 116]
Trần Ngọc Thêm xem xét câu dựa theo lý thuyết phân đoạn thông báo nhưng các khái niệm của tác giả có phần khác biệt [38] Tác giả chia cấu trúc câu thành hai phần là “phần Nêu” (cái mà người đọc đã biết hoặc giả định đã biết) và “phần Báo” (cái mới, thông báo về phần Nêu)”, và phân biệt chúng với cặp Đề-Thuyết ở bình diện ngữ pháp: “Nêu-Báo là sự phân đoạn thông báo, được áp dụng cho từng phát ngôn cụ thể trong vị trí thực tại của nó ở một văn bản cụ thể; còn Đề-Thuyết là sự phân đoạn cấu trúc với các mô hình cấu trúc áp dụng cho từng loạt phát ngôn”
Với Lý Toàn Thắng (1981) trong bài viết về vấn đề Phân đoạn thực tại câu,
tác giả nhấn mạnh ngữ pháp học truyền thống đã nghiên cứu câu một cách cô lập, không đặt nó vào trong hành động giao tiếp cụ thể [35], [36] Do vậy, nó đã bỏ qua một sự kiện ngôn ngữ đáng lẽ cần được quan tâm là: cùng một câu nói nhưng tùy ý định của người nói/ người viết trong những tình huống giao tiếp cụ thể mà câu nói
đó thực hiện những nhiệm vụ khác nhau.Trên cơ sở suy luận này, tác giả đã phân biệt hai loại thông tin khác nhau trong cùng một câu/lời nói, đó là thông tin sự kiện
và thông tin thực tại Thông tin sự kiện “được thể hiện qua cấu trúc ngữ pháp- ngữ ngh a của câu”, và thông tin thực tại là “thông tin về một phương diện của sự kiện, được người nói coi là quan trọng, là cần phải chú ý trong tình huống giao tiếp đó”
và được thể hiện chủ yếu nhờ vào trật tự từ (thành hai phần Chủ đề (CĐ) và Thuật đề) và ngữ điệu Ví dụ [35]:
<1> a Tôi// có biết chuyện ấy
b Chuyện ấy// tôi có biết
Trang 17Hai câu trên tuy có cùng một nội dung thông tin sự kiện nhưng thông tin thực tại của chúng khác nhau Sự khác biệt thể hiện ở chỗ chúng có trật tự từ không giống nhau dẫn đến cơ cấu Đề- Thuyết khác nhau
Và theo tác giả, trong phân đoạn thực tại, bất cứ thành phần nào cũng có thể
là chủ đề Phương pháp xác định Chủ đề và Thuật đề là sử dụng câu hỏi chung và câu hỏi riêng Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh là có hai cách hiểu Chủ đề - Thuật đề: cách hiểu thứ nhất là hai thành phần này đồng ngh a với cái cũ-cái mới; và cách hiểu thứ hai thì cho rằng chúng không liên quan gì với cái cũ-cái mới của câu, vì thông thường Chủ đề - Thuật đề trùng với cái cũ-cái mới, nhưng có khi thực tế cái mới lại nằm trên Chủ đề
Ví dụ[35]:
<2> a - Anh Nam// về, mẹ ơi!
b - Ai?
c - Anh Nam// về, mẹ ra đây!
Trong <2a>, anh Nam là CĐ, là cái đã biết, nhưng lại là cái mới trong <2c>
vì trả lời cho câu hỏi Ai?
Ngoài ra, Lý Toàn Thắng [35] và Diệp Quang Ban [3] cũng vận dụng sự đối
lập lưỡng phân (Đề -Thuyết) của lý thuyết phân đoạn thực tại để phân tích cấu trúc phân đoạn thực tại của câu tiếng Việt nhưng nghiên theo tiêu chí mở rộng, coi Đề là
“cái được nói đến” hay là “phần được giải thích” còn Thuyết là cái “nói về chủ đề”
hay “giải thích cho chủ đề”
Tuy nhiên, giữa hai tác giả cũng có điểm khác biệt Theo Lý Toàn Thắng,
Chủ đề (thuật ngữ Lý Toàn Thắng dùng để chỉ phần Đề) có thể đứng trước hoặc sau Thuật đề (phần Thuyết) và trật tự đó có thể trùng hay không trùng hợp với trật tự
của chủ ngữ, vị ngữ Nếu câu hai thành phần có trật tự xuôi chủ ngữ-vị ngữ được
phát âm với ngữ điệu bình thường thì Chủ đề trùng với chủ ngữ, Thuật đề trùng với
vị ngữ, và câu có trật tự khách quan Còn nếu chủ ngữ được nhấn mạnh bằng một
trọng âm logic thì Thuật đề lại rơi vào chủ ngữ, Chủ đề trùng với vị ngữ và câu có
trật tự chủ quan [33, 51]
Trang 18Trái lại, Diệp Quang Ban lại cho rằng, trong cấu trúc phân đoạn thực tại của câu, “phần đề luôn luôn đứng trước phần thuyết” và “ trong câu đơn hai thành phần
với trật tự chủ ngữ-vị ngữ, chủ ngữ sẽ là phần Đề, vị ngữ sẽ là phần Thuyết”
Mặc dù về mặt lý thuyết các tác giả theo cách tiếp cận lưỡng phân này chủ
trương khu biệt sự phân đoạn thực tại (Đề-Thuyết hay Nêu-Báo) với phân đoạn ngữ
pháp (chủ-vị) nhưng trên thực tế việc phân định và xác lập mối tương liên giữa các chức năng của hai bình diện này rất phức tạp bởi vì tiếng Việt không có các dấu hiệu hình thức thỏa đáng nào cho phép phân biệt rạch ròi các cấu trúc lưỡng phân của hai bình diện
Về cấu trúc thông tin, Lê Quang Thiêm (2004) cho rằng cấu trúc thông tin (hay cấu trúc thông báo) là một cách phân chia câu/ lời theo chủ đích của người nói
nhằm thể hiện cái mới- thông tin chủ yếu trong câu/ lời đó [39] Cách phân chia này
cần phải căn cứ vào văn cảnh và tình huống giao tiếp để biết được chính xác ý định
của người nói Về vị trí trong câu, cái cũ thường được đặt trước để phân biệt với cái mới đứng ở phần sau Cái cũ còn được gọi tên là phần Nêu (Theme) và cái mới là phần Báo (Rheme) và thường được nhận biết thông qua ngữ điệu, chẳng hạn, phần Báo được phát âm mạnh hơn
Nguyễn Hồng Cổn (2001, 2004, 2010) là người có nhiều bài viết liên quan
cụ thể đến cấu trúc thông tin và TĐ thông tin [7], [8], [9] Theo Nguyễn Hồng Cổn, cấu trúc thông tin có vai trò phản ánh sự khác biệt về vị thế thông tin giữa các thành phần câu, trong mỗi cấu trúc thông tin đều có hai bộ phận thông tin: thông tin tiền giả định (TGĐ) và TTM (chính là TĐ thông tin)
Việc nhận diện TĐ là cơ sở để phân biệt một cấu trúc thông tin này với một cấu trúc thông tin khác Tác giả phân biệt ba loại TĐ khác nhau, gồm: TĐ hỏi, TĐ khẳng định và TĐ tương phản Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến các vấn đề về TĐ
và TGĐ Tiếp thu quan điểm của D Buring [115], tác giả cho rằng cấu trúc thông
tin của câu gồm hai phần, đó là Cơ sở (Background) và Tiêu điểm (Focus), cơ cấu
Cơ sở -Tiêu điểm và Đề -Thuyết của câu có thể hoặc có khi không trùng nhau Tác
giả cũng xét vai trò của cấu trúc thông tin đối với các biến thể cú pháp, các biến thể
Trang 19ngôn điệu, cũng như đề cập đến biến thể cú pháp có từ tình thái tiêu điểm; vấn đề tỉnh lược và không tỉnh lược trong cấu trúc thông tin; cấu trúc thông tin với biến thể
cú pháp trật tự từ
Cao Xuân Hạo phân biệt rõ cấu trúc thông tin (hay cấu trúc thông báo) với
cấu trúc Đề -Thuyết [14], [15] Theo quan điểm của ông, cấu trúc thông báo thuộc bình diện dụng pháp - bình diện của phát ngôn, của lời nói Cấu trúc Đề - Thuyết
thuộc l nh vực logic ngôn từ (ngữ ngh a-ngữ pháp) và cũng là cấu trúc cú pháp cơ bản của tiếng Việt
Như vậy, có thể nói cấu trúc thông báo là bình diện của cách sử dụng câu, là
việc sử dụng những cấu trúc Đề - Thuyết trong những tình huống và văn cảnh cụ thể
vào những mục đích thông báo khác nhau Trong nhiều trường hợp, sự phân đoạn
thông báo có trùng hợp với sự phân đoạn Đề-Thuyết Ông cho rằng cấu trúc thông
báo có ảnh hưởng quan trọng đối với cấu trúc câu, nó gây áp lực đối với việc lựa
chọn cấu trúc Đề -Thuyết của câu Cấu trúc thông báo thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của cấu trúc Đề -Thuyết Sự khác nhau cơ bản giữa cấu trúc Đề -Thuyết và cấu trúc thông báo là ở chỗ cấu trúc Đề -Thuyết luôn chia hết câu làm hai phần, trong
khi đó TTM trong cấu trúc thông tin có thể bao trùm hết cả câu, có thể là một phần bất kỳ hoặc hai phần cách nhau trong câu
Về vấn đề TĐ, Cao Xuân Hạo cho rằng TĐ là “một từ hay một ngữ được nêu bật lên trong TTM của câu bằng trọng âm cường điệu Sự nhấn mạnh từ/ ngữ này nếu rõ sự đối lập giữa nó với những từ/ ngữ cùng hệ đối vị lẽ ra có thể đặt ở vị trí của nó trong câu” [16]
Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong Dụng học Việt ngữ cũng có cùng quan
điểm như Cao Xuân Hạo khi bàn về cấu trúc Đề-Thuyết và cấu trúc thông báo [13] Theo ông, hai cấu trúc này hoàn toàn độc lập với nhau Tương tự, Diệp Quang Ban cũng khẳng định: “Cấu trúc tin và cấu trúc Đề -Thuyết là hai hiện tượng khác nhau
về bản chất, chúng được phân định trên những cơ sở khác nhau và trong các bộ phận của mỗi cấu trúc cũng được phân bố khác nhau” [3]
Trang 20Trong đề tài nghiên cứu về Cấu trúc tiêu điểm thông tin trong câu tiếng Việt
và tiếng Anh, tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền đã “mở biên độ khảo sát cấu trúc
tiêu điểm từ phạm vi câu đơn giản sang phạm vi rộng hơn, ở những cấu trúc cú pháp tình thái của tiếng Việt và tiếng Anh” Tác giả cũng đã “làm rõ hơn mối quan
hệ chặt chẽ giữa cấu trúc tiêu điểm với cú pháp câu dưới tác động của các phương diện ngôn ngữ khác như ngữ điệu-trọng âm và từ vựng-ngữ ngh a” ở cả hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh [22]
Có thể kể đến một số tác giả có bài viết liên quan đến l nh vực nghiên cứu về CTTĐTT/ CTTT (hay cấu trúc thông báo) và vấn đề TĐ trong tiếng Việt như: Lý Toàn Thắng [35], [36], Nguyễn Hồng Cổn [7], [8], [9] Trần Ngọc Thêm [38], Cao Xuân Hạo [14], [15], [16], [17], Hồ Lê [24], [25], [26], Nguyễn Thiện Giáp [13],
Đỗ Hữu Châu [4], [5], Diệp Quang Ban [2], [3], Nguyễn Văn Hiệp [18], v.v Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa có những nghiên cứu sâu vào từng loại câu cụ thể, câu phủ định là một trong những trường hợp vừa nêu
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Bên cạnh chức năng biểu hiện ý ngh a trên bình diện cấu trúc - cú pháp, ngôn ngữ còn thể hiện chức năng chuyển tải thông điệp theo từng bối cảnh giao tiếp cụ thể trong quá trình hành chức Để thực hiện các chức năng này, các nhà ngôn ngữ
đã xây dựng các quy tắc, cấu trúc tương ứng với từng trường hợp cụ thể, trong đó phần lớn tập trung vào cấu trúc cú pháp
Chúng tôi thực hiện luận án này với mục đích xác định và miêu tả các mô hình CTTĐ câu phủ định tiếng Anh trên bình diện ngữ dụng, từ đó vận dụng vào xác định và miêu tả mô hình CTTĐ câu phủ định tiếng Việt Với kết quả nhận được, chúng tôi đối chiếu những nét tương đồng và dị biệt để từ đó rút ra những kết luận hữu dụng có thể áp dụng cho các l nh vực như: biên phiên dịch, giảng dạy tiếng Anh cho người Việt hoặc tiếng Việt như một ngoại ngữ
Trang 214 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trọng tâm nghiên cứu của luận án là nhận diện, miêu tả, và phân tích các mô hình CTTĐ của câu phủ định tiếng Anh để phát hiện tổ chức cú pháp và cơ cấu thông tin khác nhau; từ đó, liên hệ vấn đề với câu phủ định tiếng Việt Nói cách khác, đối tượng của nghiên cứu trong luận án là TĐ và CTTĐ của câu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ dụng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
TĐ thông tin và CTTĐ của câu là một vấn đề khá rộng Vì vậy, luận án chỉ tập trung vấn đề này đối với câu phủ định Lịch sử nghiên cứu cho thấy có nhiều nhà ngôn ngữ quan tâm đến l nh vực này, tuy nhiên, chúng tôi chỉ dựa vào quan điểm của Nomi E Shir (1997), chấp nhận hệ thống lý thuyết của tác giả để:
(i) Miêu tả mô hình CTTĐ cơ bản của câu tiếng Anh, đó là mô hình CTTĐTT chính và CTTĐTT phụ
(ii) Xác lập năm cấu trúc cụ thể (dựa trên lý thuyết về mô hình CTTĐ chính);
từ đó, áp dụng vào miêu tả mô hình CTTĐ của câu phủ định tiếng Anh; cuối cùng
là vận dụng vào miêu tả mô hình CTTĐ của câu phủ định tiếng Việt (đồng thời có liên hệ với các mô hình CTTĐ câu phủ định tiếng Anh.)
(iii) Khẳng định các yếu tố như: cấu trúc - cú pháp, từ vựng - ngữ ngh a (từ tình thái), ngữ cảnh, trọng âm - ngữ điệu có tác động đến sự phân bố vị trí, qui mô
và tầm tác động của TĐ cũng như mô hình CTTĐ của câu phủ định trong hai ngôn ngữ
(iv) Song song với việc miêu tả này, chúng tôi cũng miêu tả và phân biệt các loại TĐ có liên quan trong quá trình thực hiện xác lập mô hình CTTĐ như: TĐ chính, TĐ tương phản, TĐ không tương phản, TĐ giới hạn và TĐ không giới hạn
Lý do giới hạn đề tài nghiên cứu ở câu phủ định:
- Trong các vấn đề vừa xác lập, câu phủ định có vị trí đặc biệt Tuy nhiên, câu phủ định trong tiếng Anh và tiếng Việt được nghiên cứu chủ yếu trên bình diện
Trang 22cấu trúc cú pháp hoặc chỉ dừng lại ở những vấn đề khái quát; chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về chúng trên bình diện ngữ dụng
- Câu phủ định có cấu tạo bằng nhiều hình thức khác nhau và các hình thức này có tác động nhất định đến việc xác lập vị trí, qui mô và mô hình CTTĐ câu Tuy nhiên, trong kết quả nghiên cứu của Nomi E Shir [98], tác giả chỉ dừng lại ở việc đề cập sơ lược đến vị trí TĐ và mô hình CTTĐ của một vài hình thức câu phủ định, mà chưa miêu tả đầy đủ mô hình CTTĐ của các loại câu phủ định khác
- Các hình thức phủ định trong câu tiếng Anh và tiếng Việt rất đa dạng, góp phần bộc lộ nét đặc trưng riêng và độc đáo của hai ngôn ngữ, tiêu biểu cho hai loại hình ngôn ngữ khác nhau
- Trong đối dịch thực tế còn nhiều bất cập vì câu phủ định trong tiếng Anh và tiếng Việt có nhiều đặc điểm cấu tạo khác nhau
- Tầm phủ định có tác động đến sắc thái biểu cảm và dụng ý của người nói trong giao tiếp, góp phần đem lại hiệu quả cao cho những người tham gia giao tiếp
5 NGUỒN NGỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Nguồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu phục vụ cho việc khảo sát và minh họa các nội dung trình bày trong luận án được sưu tầm từ các thể loại có phong cách, chức năng khác nhau, chủ yếu ở hình thức văn bản Để đảm bảo tính khách quan và tiện cho việc nhận diện các TĐ thông tin cũng như các mô hình CTTĐ, các ngữ liệu phải đảm bảo được tính hoàn chỉnh và nội dung cung cấp các thông số về ngữ cảnh tương đối đầy
đủ
Cụ thể nguồn ngữ liệu được trích từ: tác phẩm văn học, truyện ngắn, sách ngữ pháp, các truyện dịch Anh-Việt và Việt-Anh Bên cạnh đó, luận án cũng có những ví dụ được trích dẫn từ các luận án, luận văn khoa học, công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, chuyên luận trên tạp chí, từ điển, trang web và từ quan sát thực tế của chúng tôi
Trang 235.2 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh việc sử dụng một số các thủ pháp thông dụng như sưu tập tài liệu, liệt kê, phân loại để lấy đó làm cơ sở tiến hành phân tích, luận án dựa vào phương pháp chính là phương pháp miêu tả có sử dụng thao tác đối chiếu trong một số nội dung
Các bước thực hiện như sau: xuất phát từ những luận điểm cơ bản về CTTĐ của các nhà ngôn ngữ, chúng tôi tổng kết, nhận xét, và tiếp thu những thành tựu này
để tiến hành khảo sát tổ chức, hoạt động của các thành tố đơn vị thông tin mà trọng tâm là TĐ và CTTĐ trong câu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt dưới tác động của phương thức cấu tạo, phương tiện ngôn ngữ, ngữ cảnh, và trọng âm-ngữ điệu Khi thực hiện việc này đối với tiếng Việt, chúng tôi có liên hệ với tiếng Anh để tìm những nét tương đồng và dị biệt Trên cơ sở đó, chúng tôi mạnh dạn kết luận bước đầu về mô hình CTTĐ của câu phủ định cũng như những tác động của các phương tiện ngôn ngữ trong việc chỉ xuất TĐ thông tin trong cả tiếng Anh và tiếng Việt; đồng thời đề xuất những cách tiếp cận câu phủ định trong hai ngôn ngữ trên bình diện ngữ dụng
đã xác lập, đồng thời chỉ ra tính chất đặc thù của tiếng Việt
b/ Một số mô hình CTTĐ, chủ yếu là CTTĐ chính, CTTĐ phụ và các mô hình CTTĐ của các câu phủ định cụ thể như: phủ định toàn phần, phủ định thành phần, phủ định khác (phủ định dùng phương tiện hình thái học, phủ định dùng phương tiện từ vựng, phủ định siêu ngôn ngữ, )
Trang 24c/ Phân tích cụ thể đối với câu phủ định cho thấy tác động của cấu trúc cú pháp, phương tiện ngôn ngữ, ngữ cảnh, và trọng âm-ngữ điệu tạo nên những khác biệt nhất định về câu phủ định tiếng Anh và câu phủ định tiếng Việt trên bình diện thông báo
- Luận án là minh chứng cho việc vận dụng thành công lý thuyết CTTĐ của nhà ngôn ngữ học Nomi E Shir vào miêu tả CTTĐ câu phủ định trong tiếng Anh và đặc biệt là trong tiếng Việt
6.2 Thực tiễn
Như đã nói, thành tựu nghiên cứu về CTTĐ và TĐ thông tin trên cứ liệu tiếng Việt chỉ mới bắt đầu Kết quả nghiên cứu từ luận án này chắc chắn sẽ rất bổ ích trong việc ứng dụng giảng dạy tiếng Anh cho người Việt hoặc tiếng Việt như một ngoại ngữ, và đặc biệt là trong đối dịch (đối với ngành biên phiên dịch) Kết quả nghiên cứu hẳn cũng là những kiến thức bổ ích cho các biên tập viên, xướng ngôn viên, phóng viên trong việc tạo lập các TĐ thông tin trong ngôn ngữ báo chí
Kết quả của luận án cũng phần nào giúp cho người học ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng hiểu được ngôn ngữ không chỉ chứa đựng trong nó cấu trúc cú pháp phức tạp mà còn luôn vận động đa chiều trên bình diện ngữ dụng dưới tác động của nhiều yếu tố bên ngoài Vì vậy, để có thể sử dụng tốt một ngoại ngữ, người học cần có ý thức nắm bắt bản chất và hoạt động của ngôn ngữ cũng như sự tương tác và ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài
Kết quả của luận án có thể đóng góp vào nguồn tài liệu cho những nghiên cứu tiếp theo về câu trên bình diện ngữ dụng
7 BỐ CỤC LUẬN ÁN
Chính văn của luận án được chia làm ba phần: Mở đầu, các chương (chương
1, chương 2, chương 3), và kết luận Cụ thể:
Phần Mở đầu trình bày lý do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu vấn đề, mục
đích, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, nguồn ngữ liệu, và những đóng góp của luận án
Trang 25Chương 1: Tổng quan về cấu trúc tiêu điểm thông tin, giới thiệu lý thuyết và
các khái niệm liên quan đến CTTĐTT, chủ yếu dựa trên quan điểm của nhà ngôn ngữ học Nomi Erteschik- Shir và Knud Lambrecht Đồng thời, chương 1 cũng xác định quan điểm của tác giả Nomi Erteschik- Shir được vận dụng là cơ sở lý thuyết của luận án
Chương 2: Cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu phủ định tiếng Anh, xác lập
và miêu tả các mô hình CTTĐTT của câu phủ định tiếng Anh
Chương 3: Cấu trúc tiêu điểm thông tin của câu phủ định tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh), xác lập và miêu tả các mô hình CTTĐTT của câu phủ định tiếng
Việt, có liên hệ với tiếng Anh
Phần Kết luận đúc kết những kết quả cũng như khẳng định những đóng góp
và ứng dụng từ kết quả đạt được của luận án
Trang 26CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM TH NG TIN
TĐ thông tin, CTTĐTT /hay CTTĐ của câu là những vấn đề từ lâu đã được các nhà ngôn ngữ học chức năng, trong đó lý thuyết phân đoạn thực tại nổi lên như một phân nhánh của trường phái này, chú ý từ rất lâu Thế nhưng, từ khi xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình hành chức xuất hiện, đặc biệt là việc nghiên cứu ngôn ngữ với quá trình tư duy được chú ý thì chúng mới thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
K Lambrecht (1994) và Nomi E Shir (1997) là hai nhà nghiên cứu điển hình
và có những đóng góp đáng kể về l nh vực nói trên Tuy nhiên, khuynh hướng khai thác vấn đề giữa họ cũng có những nét riêng Do vậy, chương 1 của luận án nhằm tập trung miêu tả những quan điểm lý thuyết cơ bản về các vấn đề trên theo quan điểm của hai nhà ngôn ngữ này để minh chứng sự khác biệt Từ đó, luận án sẽ dựa vào quan điểm của Nomi E Shir làm cơ sở lý thuyết để vận dụng vào việc mô tả CTTĐ của câu nói chung và câu phủ định nói riêng trong tiếng Anh ở góc độ ngữ dụng; và sau đó là liên hệ với tiếng Việt trong chương tiếp theo
1.1 CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN THEO QUAN ĐIỂM CỦA NUD LAMBRECHT
1.1.1 Tiêu điểm
Có nhiều cách định ngh a TĐ khác nhau, nhìn chung TĐ là phần quan trọng nhất của một chuỗi thông tin Hai thành tố tạo nên một đơn vị thông tin là TTC và
TTM Tuy nhiên, tính chất cũ / mới của hai yếu tố này không mang tính tuyệt đối
mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Như vậy, theo cách hiểu này, khi xét tới TĐ thì điều quan tâm lớn nhất không phải là tính chất cũ hay mới của nội dung thông tin mà chính là giá trị ngữ dụng được chuyển tải trong nội dung thông điệp
Trang 27Theo D Bolinger [49, 152], “TĐ là nơi tập trung thông tin chính trong câu
TĐ có thể được làm nổi bật bằng trọng âm cường điệu, mà nhờ đó, người nghe dễ dàng nắm bắt cho dù không có giải thích,” Về bản chất, tác giả nhận định mọi TĐ
đều mang tính tương phản cho dù nó thuộc phần Đề hay Thuyết của câu
M.A.K Halliday [43], [66] và E Selkirk [94, 206] thì quan niệm: “TĐ thông tin là một hình thức nhấn mạnh”, “ là thành tố TTM được đưa vào diễn ngôn bằng cách nhấn giọng ”
M Rooth [92], [93] lại xác định: “TĐ là yếu tố chỉ ra những yếu tố khác hiện diện ở đâu đó, có thể thay thế nó trong những biểu thức ngôn ngữ đang dùng.” Hay
R Jackendoff [73, 16] cho rằng: “TĐ của câu dùng để chỉ thông tin mà người nói
và người nghe chưa cùng chia s ” (xem Nguyễn Thị Thanh Huyền [22, 28])
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm của các nhà ngôn ngữ, K Lambrecht [80, 207] đã đúc kết về TĐ như sau: “TĐ của câu, hay cụ thể hơn, TĐ của một mệnh đề được thể hiện bằng một câu trong một ngữ cảnh diễn ngôn cụ thể được coi
là thành tố thông tin mà nhờ nó, ta có thể phân biệt được sự khác nhau giữa TGĐ và thuyết định (assertion) TĐ là phần chưa biết tại thời điểm nói; trong phát ngôn, nó
là yếu tố không thể đoán định được hay không thể khôi phục lại về phương diện ngữ dụng TĐ là cái làm cho một phát ngôn trở thành một nhận định” Và ông đưa
ra định ngh a: “TĐ là thành tố ngữ ngh a của cấu trúc mệnh đề ngữ dụng, là công cụ
để phân biệt Thuyết định với Tiền giả định”
Ví dụ (xin mượn ví dụ của K Lambrecht để phân tích):
<3> “x urged Nixon to appoint Carswell.” [80, 213]
trong đó [x= Mitchell]”
(x giục Nixon bổ nhiệm Carswell), trong đó [x= Mitchell]
Phần nội dung [x urged Nixon to appoint Carswell] là TGĐ ngữ dụng, là TTC và cụm từ [x= Mitchell] là thuyết định, là TTM và cũng là TĐ câu (thành tố giúp cấu thành thuyết định)
Từ những định ngh a khác nhau của các nhà ngôn ngữ học, có thể rút ra một
số điểm chính về TĐ như sau: TĐ là thành tố mang trọng tâm thông tin mới; có tính
Trang 28tương phản; được nhấn mạnh hoặc làm nổi bật bằng trọng âm cường điệu; và có thể
là một thành tố, hoặc một ngữ đoạn, hoặc có thể là một cú đoạn/một câu
c i tiêu điể
Xét về bản chất, mọi TĐ, dù có xuất hiện dưới hình thức nào đều chứa đựng thông tin quan trọng nhất Tuy nhiên, xét về tính chất, K Lambrecht phân TĐ ra thành hai loại: (i) TĐ thông báo (informative focus)- cung cấp TTM, còn gọi là TĐ thông tin mới (TĐTTM); (ii) TĐ tương phản (contrastive focus) - nhấn mạnh tương phản thành tố nào đấy nhằm đối lập nó với một hay nhiều thành tố khác qua quan
hệ liên tưởng (TĐTP) [80]
Tương tự như cách phân loại TĐ của K Lambrecht, D Brun phân biệt hai loại TĐ: TĐ thông tin mới (new information focus) (TĐTTM) và TĐ tương phản (contrastive focus) (TĐTP) [5]
TĐTTM được xác định trên cơ sở phân đoạn thực tại câu theo trật tự Chủ đề
- Tiêu điểm (topic-focus) hay TGĐ- TĐ (presuposition-focus), cung cấp tin mới cho
TĐ câu hỏi; và TĐTP được đánh dấu bằng trọng âm nổi trội TĐTP có thể hiện diện trên bất kỳ phần nào, trên bất kỳ yếu tố nào của câu
Như vậy, có thể nhìn nhận TĐTP là một loại TĐ không thuần nhất vì nó có thể xuất hiện trên bất cứ phần nào của câu; vì thế, đôi lúc thông tin mà nó chứa đựng không hẳn là mới về mặt lý tính nhưng lại là mới ở khía cạnh tâm lý, do nó có thể hàm chứa một lớp tin hàm ẩn có được từ luận suy
Còn TĐTTM, thường là phần trả lời cho cái chưa biết của câu hỏi hoặc là phần chứa cái mới của thông báo Tuy nhiên, bản thân TĐTTM nhiều khi chứa đựng luôn cả TĐTP Ví dụ:
<4> Q: Do you know WHO called the meeting?
(Anh có biết ai thông báo họp không?)
A1: BILL (called the meeting) (Anh BILL [thông báo họp.]) A2: (It was) BILL (who) called the meeting
A2: ((Đó là) anh BILL (anh ấy) thông báo họp.)
Q (question): câu hỏi A (answer): câu trả lời
Trang 29Câu <4A1> có “BILL” là TĐTTM, trả lời cho TĐ câu hỏi “WHO called?” Nhưng “BILL” ở câu <4A2> được đánh dấu tương phản bằng cấu trúc triển khai
“it-clefts= đấy là”, và như thế “BILL” không chỉ đơn thuần là TĐTTM mà nó còn mang tính tương phản nữa, nó gợi ra một tình huống khác: thông thường thì John gọi họp, nhưng hôm nay là do BILL thực hiện Nói cách khác, ở đây có sự tương phản trên trục đối vị (paradigmatique)
Biện pháp thông dụng nhất trong hiện thực hóa tương phản trong lời nói thường là sử dụng ngữ điệu đặc biệt hay trọng âm cường điệu, cho nên ta thấy
“BILL” trong <4A2> mang trọng âm cường điệu
1.1.2 Cấu trúc tiêu điểm thông tin
K Lambrecht cho rằng CTTĐTT hay CTTĐ là sự phát triển và tổng hợp của nhiều vấn đề liên quan đến cách thức tổ chức và thể hiện nội dung thông tin thông qua hình thức phát ngôn và được mô hình hóa bằng các kiểu cấu trúc khác nhau dựa vào nhiệm vụ giao tiếp và qui mô thông tin của TĐ [80] Cụ thể các kiểu CTTĐ theo quan điểm của K Lambrecht được trình bày ở phần 1.1.2.2 (trong luận án,
chúng tôi thống nhất tên gọi CTTĐ thay cho CTTĐTT)
c iểu cấu trúc tiêu điểm c nud Lambrecht
Trên cơ sở xác định nhiệm vụ, chức năng của các thành tố có liên quan đến việc chuyển tải và sắp xếp thông tin cũng như dựa vào ngữ cảnh giao tiếp và cả tâm
lý của các bên tham gia đối thoại, K Lambrecht đã đề xuất ba kiểu CTTĐ cơ bản:
Vị ngữ-Tiêu điểm (Vn-TĐ/Predicate-focus), Tham tố-Tiêu điểm (TT-TĐ/ Argument-focus), Câu- Tiêu điểm (Câu -TĐ/sentence-focus) [80, 226-233] Cụ thể:
a Cấu trúc Vị ngữ-Tiêu điểm (Predicate-focus structure):
Ví dụ:
- What happened to your car? (Xe của bạn bị sao vậy?)
- My car/ It broke DOWN (Xe của tôi/ Nó bị HƯ.)
Thuyết định (Assertion): chiếc xe x bị hư
Trang 30 TĐ (Focus): (bị) HƯ
Vùng TĐ (Focus domain): bị hư
b Cấu trúc Tham tố- Tiêu điểm (Argument-focus structure)
Ví dụ:
- I heard your motocycle broke down?
(Tôi nghe nói xe máy của bạn bị hư phải không?)
- My CAR broke down (Chiếc XE HƠI của tôi hư.)
TGĐ (Presupposition): một vật x của người nói bị hư
Thuyết định (Assertion): vật x = chiếc xe
Vùng TĐ (Focus domain): xe của tôi (my car), không phải của người khác
c Cấu trúc Câu –Tiêu điểm (Sentence-focus structure)
Ví dụ:
- My CAR broke down (Chiếc XE HƠI của tôi bị hư.)
TGĐ (Presupposition): có chuyện xảy ra với người nói
Thuyết định (Assertion): xe bị hư
Vùng TĐ (Focus domain): cả câu (sentence)
(Vùng TĐ là khu vực chứa thành tố TĐ thực và các yếu tố có quan hệ cú pháp với nó)
Có thể thấy mối quan hệ giữa các thuật ngữ của CTTĐ với các thuật ngữ vị ngữ, tham tố, câu của ngữ ngh a học được thể hiện khá rõ thông qua cách gọi tên của các kiểu CTTĐ Điều này cũng cho phép phân biệt các vùng TĐ trong các bộ phận cú pháp khác nhau như danh ngữ, động ngữ, tính ngữ, giới ngữ, và câu; đồng thời, mỗi vùng cú pháp được coi là một vùng TĐ
Về thông tin TGĐ, cơ cấu giữa phần thông tin TGĐ và vùng thông tin TĐ cũng khác nhau ở mỗi kiểu CTTĐ Chẳng hạn, ở cấu trúc Vn-TĐ, sự phân giới
Trang 31TGĐ và TĐ trùng với sự phân giới của cơ cấu Đề- Thuyết Trong cấu trúc TT-TĐ, thành tố TĐ giới hạn ở một vùng TĐ hẹp trong khuôn khổ của một tham tố có bất
kỳ một vai ngh a nào Riêng ở cấu trúc Câu -TĐ, thông tin TGĐ, hoặc không xuất hiện trong câu mà được hàm chỉ qua ngữ cảnh hoặc là qua một bộ phận nằm ngay trong vùng TĐ
Như vậy, có thể thấy K Lambrecht tập trung chủ yếu đến vị trí và vai trò của
TĐ khi đề xuất ba kiểu CTTĐ trên Khác với K Lambrecht, Nomi E Shir quan tâm đến cả hai thành tố thông tin là CĐ và TĐ trong việc xác lập mô hình CTTĐ câu
1.2 CẤU TRÚC TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN THEO QUAN ĐIỂM CỦA NOMI ERTESCHIK- SHIR
Trên cơ sở thừa kế thừa thành quả nghiên cứu về TĐ và các kiểu CTTĐ câu của K Lambrecht cũng như từ một số nhà ngôn ngữ khác, Nomi E Shir đã đề xuất một cách miêu tả khác về CTTĐ câu, theo đó, tác giả quan tâm đến vị trí, qui mô và nhiệm vụ của cả hai thành tố thông tin gồm CĐ và TĐ Và với đề xuất này, hầu hết các loại câu tiếng Anh đều có thể được phân tích triệt để trên bình diện thông báo
1.2.1 Một số hái niệm liên quan đến việc miêu tả cấu trúc tiêu điểm thông tin theo quan điểm của Nomi Erteschik - Shir
1.2.1.1 Hộp thông tin
Trên bình diện thông báo, từ chỉ định giữ vai trò là cầu nối nhằm liên kết các thông tin trong cùng chuỗi phát ngôn và việc giải mã thông tin được thực hiện thông qua hộp thông tin S Avrutin có bài viết khá chi tiết về vấn đề này Nomi E Shir đã
kế thừa kết quả và vận dụng tinh tế trong quá trình phân tích, giải mã thông tin của lời nói Cụ thể, giải mã thông tin ngh a là sắp xếp chúng vào hộp thông tin theo thứ
tự ưu tiên của phát ngôn Tổ chức nội tại của hộp thông tin được xác định thông qua
ba quy tắc nhằm thể hiện mối quan hệ giữa các danh từ/ ngữ danh từ và từ chỉ
định-gọi là quy tắc Hộp thông tin (file cards) Quy tắc Hộp thông tin xác định thứ tự ưu
tiên của phát ngôn trong hộp thông tin Trường hợp có nhiều hộp thông tin cùng
Trang 32được hình thành trong cùng một phát biểu thì các hộp được sắp xếp theo thứ tự được hình thành
Như vậy, hộp thông tin có vai trò rất quan trọng để duy trì mạch thông tin giữa các phát ngôn trong ngữ cảnh diễn ngôn Nói cách khác, các sở chỉ diễn ngôn luôn được kết nối chặt chẽ và thông tin được sắp xếp vào các hộp thông tin theo trật
Hộp thông tin giúp người nghe dễ dàng nắm bắt mối quan hệ về nội dung của
các sở chỉ khác nhau (được liên kết chặt chẽ) trong ngữ cảnh diễn ngôn Phương tiện điển hình thường được dùng trong tiếng Anh để thực hiện nhiệm vụ này là từ chỉ định (determiners) được xác định gồm: (i) từ chỉ định bất định (indefinite
determiners) như mạo từ không xác định (a/an), từ chỉ định số lượng (one, two, some, any, ); (ii) từ chỉ định xác định (definite determiners) như mạo từ xác định (the), từ chỉ sở hữu (my, your, his, her, its, our, their), từ chỉ định vị trí (this, that, these, those) (định ngh a từ chỉ định bất định và từ chỉ định xác định dẫn theo tự
điển Macmillan [113])
Ví dụ (xin mượn ví dụ của S Avrutin để phân tích):
Xét chuỗi phát ngôn gồm ba thông tin sau [46, 3]:
<5> A bear is sitting here He is happy The bear is eating a banana ( )
(Con gấu đang ngồi ở đây Nó rất vui Nó đang ăn chuối ( ))
Trong ý thức người nghe, một hộp thông tin thứ nhất chứa biến số #1 (variable) được hình thành để giải mã thông tin cho sở chỉ (referent) là cụm danh từ
“a bear” trong chuỗi phát ngôn như sau:
Trang 33Variable: biến số referent: sở chỉ
Biến số #1 trong hộp thông tin trên được dùng để giải mã thông tin cho sở chỉ “bear” Cụ thể: thông tin thứ nhất là “#1 is sitting here”, thông tin thứ hai là “#1
is happy” và thông tin thứ ba là “#1 is eating a banana” Thông tin thứ nhất được xếp vào vị trí ưu tiên trong hộp thông tin (vì được đề cập đầu tiên trong chuỗi phát ngôn) như sau:
<5b>
Chuỗi phát ngôn tiếp tục mở rộng với thông tin thứ hai “#1 is sitting here”
và được liên kết với thông tin thứ nhất thông qua từ chỉ định xác định “he” Đại từ
“he” cũng giúp khẳng định mối liên hệ giữa thông tin mới (thông tin thứ hai) với sở chỉ đang tồn tại trong hộp thông tin thứ nhất Vì vậy hộp thông tin được tiếp tục mở rộng như sau:
<5c>
Tương tự, thông tin thứ ba được cập nhật vào hộp thông tin nhờ có từ chỉ định xác định “the” đứng trước danh từ “bear”:
<5d>
Quy trình diễn biến tương tự khi chuỗi phát ngôn được nối dài với sở chỉ mới
có từ chỉ định không xác định “a” đứng trước danh từ: “(…) And a duck is
Trang 34ming.” (Và một chú vịt đang bơi) [46, 4] Nói rõ hơn, hộp thông tin thứ hai chứa sở chỉ mới “duck” và biến số thứ hai #2 được hình thành giúp giải mã thông tin cho sở chỉ mới:
<6> ( ) And a duck is swimming
i t c
Nhìn chung, kiến thức nền là “những hiểu biết chung giữa người nói và
người nghe về thế giới trong đó hai bên sinh hoạt, về tình huống của đối thoại, về lịch sử và cương vị của hai bên các bên giao tiếp” mà Cao Xuân Hạo còn gọi là
“những tiền ước” [14, 51]
Theo quan điểm của Nomi E Shir, kiến thức nền là phần thông tin mà người
nói và người nghe cùng có thể chia s trong ngữ cảnh diễn ngôn cụ thể Cấu trúc của kiến thức nền gồm một hệ thống các hộp thông tin (a set of file cards) tượng trưng cho các sở chỉ diễn ngôn đang tồn tại trong quá trình giao tiếp Theo diễn giải
của Nomi E Shir, nội dung của kiến thức nền chính là các thực thể (entries) trong
hộp thông tin, và chỉ có những nội dung có đặc tính của sở chỉ diễn ngôn cụ thể mới
có thể đưa vào hộp thông tin Do vậy, nội dung hay thông tin của kiến thức nền
được sắp xếp thứ tự theo chủ đề do từng sở chỉ diễn ngôn xác định [98]
c
Ngữ cảnh nói chung là những “hoàn cảnh”, “cảnh huống” trong đó ngôn ngữ
được sử dụng gồm: ngữ cảnh chung (extending context), ngữ cảnh ngữ dụng (pragmatic context), ngữ cảnh tình huống (context of situation), và ngôn cảnh (co-text) [42], [107]
Trang 35Ngữ cảnh chung là bối cảnh của phát ngôn, trong đó không gian và thời gian
liên quan đến phát ngôn được đề cập thông qua phương tiện ngôn ngữ hoặc dấu hiệu [42], [107]
Ngữ cảnh ngữ dụng là tình huống giao tiếp trong đó mối quan hệ giữa người
nói và người nghe đặc biệt được quan tâm hơn là mối quan hệ tiềm ẩn giữa câu này với câu kia Nói cách khác, đó là hoàn cảnh giúp nhà phân tích diễn ngôn mô tả điều người nói và người nghe đang làm, chứ không phải mối quan hệ tồn tại giữa câu hay mệnh đề với nhau [42, 52-53]
Ngữ cảnh tình huống là trường hợp nội dung một câu có thể được hiểu với
nhiều ý ngh a khác nhau trong những tình huống diễn ngôn khác nhau [42, 65]
Ngôn cảnh là “môi trường ngôn ngữ trong đó từ ngữ xuất hiện” Nói cách
khác, ngôn cảnh là trường hợp “ngữ cảnh có tính vật lý làm nền cho các phát ngôn đơn l ” và ít tương hợp với diễn ngôn trước nhằm để mô tả câu có qui chiếu đặc
biệt đến điều đã được nói đến từ trước (như trong các cụm từ người/ vật được đề cập trước đây.) [42,79]
i i đ
Tiền giả định (TGĐ) là “cái mà người nói xem là cơ sở chung của những
người cùng tham gia hội thoại” (Robert Stalnaker, [101, 321]) Theo cách hiểu này thì chính ngữ cảnh và kiến thức nền tạo nên thông tin TGĐ Như vậy, thông tin TGĐ được hiểu như là những thông tin về không gian, thời gian trong mối quan hệ với thực thể, sự tình đang nói đến, về quan hệ giữa các thực thể với nhau trong thế giới khách quan, và giữa thực thể đối với người đang giao tiếp TGĐ được đưa vào phát ngôn nhờ những phương tiện và cơ chế ngôn ngữ nhất định Thông tin TGĐ được gán định hoặc tri nhận bằng con đường trực tiếp (ngôn cảnh - văn bản), hay gián tiếp (không gian, thời gian) và chúng có vai trò xác lập tiền đề giúp người nghe biết được xuất xứ của diễn ngôn/phát ngôn, xác biệt được đối tượng quy chiếu, và cuối cùng là hiểu được nội dung của toàn bộ diễn ngôn/văn bản
Thông tin TGĐ là cái phải được chấp nhận trước là đúng để cho phát ngôn
có thể được sử dụng một cách bình thường và có đặc điểm là không được diễn đạt
Trang 36hiển ngôn nhưng tất cả mọi người (trong hoàn cảnh giao tiếp) đều có thể rút ra một cách như nhau
TGĐ cũng thể hiện rõ nét tính linh động trong các tình huống hay ngữ cảnh
cụ thể: một phát ngôn có thể chuyển tải đến người nghe những ý ngh a thông tin khác nhau tùy vào những ngữ cảnh phát ngôn khác nhau, và do đó, cơ cấu thông tin
cũ-mới hay TGĐ-TĐ cũng khác nhau Nói cách khác, ngữ cảnh tình huống có tác
động đến ý ngh a của phát ngôn, làm ảnh hưởng đến nội dung của TĐ và TGĐ
Ví dụ câu “ Tim bought a new car” ở những ngữ cảnh khác nhau có các cơ cấu như sau [118]:
<7> a - There is a brand-new Mercedes outside Did anyone buy a new car?
- TIM bought a new car
(- Bên ngoài có một chiếc xe Mercedes đời mới Ai mới mua phải không?) (- TIM đã mua một chiếc xe mới.)
b - Tim looks so happy these days What did he do?
- Tim bought a new CAR
(- Mấy ngày nay trông Tim vui v lắm Anh ấy có chuyện gì vậy?) (- Tim đã mua một chiếc XE mới.)
c - What did Tim do after his old car broke down? Did he lease a new car?
- No Tim BOUGHT a new car
(- Tim làm gì khi xe cũ bị hư? Anh ấy có thuê xe mới không?) (- Không Tim đã MUA một chiếc xe mới.)
Như vậy, <7a> có TIM là TĐ, TGĐ là phần còn lại; <7b> có CAR là TĐ, và phần còn lại TGĐ; và cuối cùng <7c> có BOUGHT là TĐ, TGĐ là phần còn lại
Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định, thông tin TGĐ mang tính ổn định cao trước một số phép biến đổi như: khẳng định, phủ định, trần thuật, nghi vấn, mệnh lệnh (với điều kiện giữ nguyên nội dung mệnh đề của phát ngôn) Chẳng hạn
câu <8a> và <8b> đều có TGĐ là tôi đã thực hiện việc đ một ho c một vài lần mặc
dù hai câu có hình thức khác nhau: câu (a) là câu khẳng định, trong khi câu (b) là câu phủ định [119]:
Trang 37<8> a I want to do it again
(Tôi muốn làm lại việc đó.)
b I don‟t want to do it again
(Tôi không muốn làm lại việc đó.)
Điểm khác biệt là Nomi E Shir không chỉ tán thành quan điểm của các nhà ngôn ngữ trước rằng TGĐ là phần nội dung đã được biết trước hoặc có thể chia s giữa người nói và người nghe trong ngữ cảnh diễn ngôn (là cái đã được đề cập trước đó) mà tác giả còn chỉ ra trường hợp ngược lại, ngh a là có nội dung TGĐ chưa được biết trước (là cái chưa được đề cập trước đó)
Cụ thể, (i) những TGĐ được Nomi E Shir cho là đã biết trước gồm: CĐ chính của câu (theo định ngh a về CĐ), bổ ngữ TĐ (complement of the focus) trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, và CĐ trong câu có TĐ giới hạn và TĐ tương phản trong
hệ ngữ cảnh đặc thù (context-specified set) Ví dụ: [98, 12-13]
<9> A: Who did you give the book to? (A: Bạn đã cho ai quyển sách.)
B: I gave the book to Mary (B: Tôi đã cho Mary quyển sách.)
TOP FOC
(TOP: chủ đề FOC: tiêu điểm presupposed: được biết trước)
Trong ngữ cảnh trên, “I” là CĐ, “Mary” là TĐ vì là nội dung trả lời cho nghi vấn từ “who” Vậy, phần còn lại “gave the book to” là bổ ngữ cho TĐ có tác dụng
làm rõ ngh a cho TĐ và được chia s giữa người hỏi và người trả lời; vì vậy, bổ ngữ
TĐ được biết trước
<10> A: Which one of his friends wants to marry John?
(A: Ai trong số những người bạn của anh ta muốn cưới John?)
B: JANET wants to marry John
(B: JANET muốn cưới John.) Trong hệ ngữ cảnh trên, John là CĐ và Janet là TĐ giới hạn (TĐGH) được lựa chọn từ nhóm bạn của John Do đó, CĐ được biết trước
presupposed
Trang 38
Trường hợp thứ hai (ii) là những TGĐ không được biết trước Đó là nội dung trong mệnh đề chính của câu phức có động từ chỉ ý thức, tinh thần, niềm tin, v.v Ví
dụ [98, 13]:
<11> I think // that John FELL ASLEEP (Tôi ngh John ngủ gật.)
Trong ví dụ trên, nội dung chính của câu thể hiện ở phần vị ngữ trong mệnh
đề phụ, cũng là thông tin TĐ câu TGĐ “I think” không được biết trước giữa những người tham gia giao tiếp mà người nghe chỉ tiếp nhận ngay trong tình huống diễn ngôn cụ thể
Có thể thấy, ba yếu tố ngữ cảnh, kiến thức nền, và TGĐ là những yếu tố luôn
có mối quan hệ hữu cơ, ràng buộc nhau chặt chẽ Chúng là điều kiện cần thiết để tạo nên môi trường hoạt động giao tiếp Bối cảnh giao tiếp giúp cho một định đề có thể được giải mã thành những nội dung thông tin ngữ dụng khác nhau TGĐ mang lại giá trị ngữ dụng cho thông điệp, và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các bên giao tiếp có ý ngh a quan yếu trong việc xử lý thông tin Có thể nói, ngữ cảnh và kiến thức nền
ảnh hưởng rất lớn đến việc thể hiện tính chất động hay t nh của câu nói và thông
qua trạng thái ngôn ngữ, tính ngữ dụng của thông tin cũng được phản ánh đầy đủ và
rõ nét
Ví dụ:
(Con m o đã nằm trên cái chiếu đó.)
Tùy từng trường hợp có thể có những cách giải mã thông tin khác nhau: (i)
Trường hợp thứ nhất, “ con m o” được coi là TTC và “ đã n m trên cái chiếu đ ” là
TTM nếu người nghe biết có con con m o ở trong phòng nhưng không biết nó đã làm gì; (ii) Trường hợp thứ hai, người nghe biết có con vật nào đó đã nằm trên cái chiếu nhưng không xác định được là vật gì thì “ con m o” là TTM và phần còn lại
Trang 39
là TTC (iii) Trường hợp thứ ba là người nghe không biết điều gì đã xảy ra trong phòng thì toàn bộ thông điệp được coi là mới
Những phân tích trên cho thấy TGĐ, ngữ cảnh, và kiến thức nền giữa người nói và người nghe có ảnh hưởng sâu sắc đến tình trạng thông tin
Thực tế, ngoài những yếu tố trên, kh a cạnh tâm l của người nhận thông tin
cũng là một yếu tố quan trọng cần xem xét trong vấn đề xử lý thông tin Ngh a là, thông điệp được l nh hội và giải mã thành mới hay cũ là phụ thuộc nhiều vào tầm hiểu biết, khả năng giải mã, hay mức độ quan tâm từ phía người nghe đặt vào khía cạnh nào của thông điệp đó
1.2.1.5 Giá tr chân thực
Nhìn chung, giá trị chân thực hay chân ngụy (truth value) là phạm trù lo-gic liên quan đến việc xác nhận tính đúng (true-T)/ sai (false-F) của một phát ngôn (statement) hoặc một nhận định (proposition) Ví dụ:
<13> - Nhận định “2 + 3 = 5'' có giá trị đúng (T)
- Nhận định “2 + 2 = 5” là sai (F) [122], [123], [124]
Trên bình diện ngữ dụng, giá trị chân thực biểu thị thông tin về chủ đề đối với một phát ngôn hay nhận định trong ngữ cảnh cụ thể; và như vậy, thông tin có thể đúng hoặc sai, và đôi lúc có tính tương đối theo quan sát trực giác Chẳng hạn:
<14> The King of France is bald (Vua nước Pháp hói đầu.)
là sai nếu được xác định là câu trả lời của câu hỏi “ What is the King of France like?” tại thời điểm được cho là nước Pháp không có vua [98, 23]
<15> Mary is a man (Mary là một người đàn ông.)
là sai theo quan sát trực giác [102]
Có thể thấy, giá trị chân thực có liên quan đến hai thuyết: thuyết sai (falsity theory) và thuyết tương đối (truth-value gap theory) Vì vậy, khi xem xét giá trị chân thực của câu, cần kết hợp hai thuyết này [102] Ví dụ:
<16> The Pope‟s wife is blond (Phu nhân đức Giáo Hoàng có tóc màu vàng.)
có tính tương đối vì câu có thể đúng hoặc có thể sai
Trang 40Trong tương quan với phạm trù phủ định, giá trị chân thực thể hiện ở sự quyết định tính đúng/sai của nhận định với biểu hiện của hình thức đối lập của nó
Ví dụ:
<17> She loves to chase squirrels (Cố ấy thích đuổi bắt sóc.)
Nếu nhận định trên là đúng thì hình thức đối lập của nó “ She does not love
to chase squirrels” (Cố ấy không thích đuổi bắt sóc) là sai
Giả thuyết p là một nhận định thì not p là hình thức phủ định của p, ta có
bảng tóm tắt những biểu thị về giá trị chân thực của một nhận định với hình thức đối lập (hình thức phủ định) của nó như sau:
Trên cơ sở thừa kế định ngh a CĐ của P Strawson [102, 97], Nomi E Shir
đã đưa ra khái niệm CĐ như sau: CĐ là một thành phần cơ bản trong CTTĐ câu
CĐ có ba đặc điểm: (i) là một nhận định (statement), (ii) được dùng để viện dẫn “kiến thức của người nghe (audience)”, (iii) chứa thông tin tình thái [98, 9]
Sự liên kết chặt chẽ ba đặc điểm của CĐ giúp giải thích tính tương đối về giá trị chân thực của một phát ngôn trong các ngữ cảnh diễn ngôn khác nhau
Vậy, CĐ có quan hệ quy chiếu (reference); và thông qua CĐ, câu có thể được đánh giá về nội dung và thậm chí là được đánh giá đúng hoặc sai Chẳng hạn như trong ví dụ sau [98, 10]:
<18> A: Tell me about John (A: Hãy nói cho tôi nghe về John.)