1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng việt và các từ tương đương trong tiếng anh

174 157 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngữ liệu nghiên cứu Với đề tài này, ngữ liệu được khảo sát trong luận án là khoảng 1.000 từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt và tiếng Anh ở cả phương diện nghĩa biểu vật gọi tê

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRONG TIẾNG ANH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRONG TIẾNG ANH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Lí luận Ngôn ngữ

Mã số: 62 22 01 01

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN CÔNG ĐỨC Phản biện độc lập:

1 GS TS HOÀNG VĂN VÂN

2 PGS TS BÙI MẠNH HÙNG

3 PGS TS PHẠM HÙNG VIỆT Phản biện :

1 PGS TS PHẠM HÙNG VIỆT

2 PGS TS ĐẶNG NGỌC LỆ

3 TS HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH

TP HỒ CHÍ MINH - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả luận án là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Hải

   

Trang 4

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

2.1 Đối tượng nghiên cứu 6

2.2 Phạm vi nghiên cứu 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

3.1 Mục đích nghiên cứu 7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu 8

4.1 Ngữ liệu nghiên cứu 8

4.2 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn 9

5.1 Ý nghĩa lí luận 9

5.2 Ý nghĩa thực tiễn 10

6 Cấu trúc của luận án 11

Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 14

1.1 Những vấn đề cơ bản 14

1.1.1 Lí thuyết tầng nghĩa của từ 14

1.1.2 Lí thuyết trường nghĩa và ngôn ngữ văn hoá học 16

1.1.3 Ngôn ngữ học tri nhận 21

1.2 Tình hình nghiên cứu các từ chỉ bộ phận cơ thể người 25

1.3 Hướng tiếp cận của luận án 37

1.3.1 Tiếp cận từ lí thuyết nghĩa từ 37

1.3.2 Tiếp cận từ góc độ văn hoá 40

1.4 Tiểu kết 44

Trang 5

2

Chương 2: KHẢO SÁT CÁC TỪ “ĐẦU”, “MÌNH/THÂN”, “TAY”,

“CHÂN” TRONG TIẾNG VIỆT VÀ CÁC TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG

TRONG TIẾNG ANH 45

2.1 Từ “đầu” trong tiếng Việt và từ tương đương trong tiếng Anh 45

2.1.1 Trong tiếng Việt 45

2.1.2 Trong tiếng Anh 52

2.2 Từ “mình”, “thân” trong tiếng Việt và từ tương đương trong tiếng Anh 57

2.2.1 Trong tiếng Việt 57

2.2.2 Trong tiếng Anh 61

2.3 Từ “tay” trong tiếng Việt và từ tương đương trong tiếng Anh 63

2.3.1 Trong tiếng Việt 63

2.3.2 Trong tiếng Anh 67

2.4 Từ “chân” trong tiếng Việt và từ tương đương trong tiếng Anh 73

2.4.1 Trong tiếng Việt 73

2.4.2 Trong tiếng Anh 77

2.5 Tiểu kết 84

Chương 3: KHẢO SÁT CÁC TỪ “MẮT”, “MŨI”, “MIỆNG”, ”TIM”, “GAN”, “LÒNG/BỤNG/DẠ” TRONG TIẾNG VIỆT VÀ CÁC TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG ANH 86

3.1 Từ “mắt” trong tiếng Việt và từ tương đương trong tiếng Anh 86

3.1.1 Trong tiếng Việt 86

3.1.2 Trong tiếng Anh 90

3.2 Từ “mũi” trong tiếng Việt và từ tương đương trong tiếng Anh 92

3.2.1 Trong tiếng Việt 92

3.2.2 Trong tiếng Anh 95

3.3 Từ “miệng” trong tiếng Việt và từ tương đương trong tiếng Anh 96

3.3.1 Trong tiếng Việt 96

3.3.2 Trong tiếng Anh 98

Trang 6

3

3.4 Từ “tim” trong tiếng Việt và từ tương đương trong tiếng Anh 99

3.4.1 Trong tiếng Việt 99

3.4.2 Trong tiếng Anh 104

3.5 Từ “gan” trong tiếng Việt và từ tương đương trong tiếng Anh 108

3.5.1 Trong tiếng Việt 108

3.5.2 Trong tiếng Anh 111

3.6 Từ “lòng/bụng/dạ” trong tiếng Việt và từ tương đương trong tiếng Anh 112

3.6.1 Trong tiếng Việt 112

3.6.2 Trong tiếng Anh 120

3.7 Tiểu kết 121

Chương 4: SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG TIẾNG VIỆT VÀ CÁC TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG ANH 123

4.1 So sánh về mặt định lượng 123

4.2 So sánh về mặt định danh 125

4.3 So sánh về phương diện chuyển nghĩa 127

4.4 So sánh về hàm nghĩa 144

4.5 Tiểu kết 154

KẾT LUẬN 156

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 159

TÀI LIỆU THAM KHẢO 160

NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT 170

Trang 7

cơ thể mình, với những bộ phận cơ thể và sự vận động, hoạt động của chúng

Từ nhận thức về vị trí, cấu tạo, công năng của các từ chỉ bộ phận cơ thể mà ngôn ngữ học xác lập ý nghĩa của chúng Theo đó, trong đời sống sinh hoạt, các bộ phận cơ thể người một mặt biểu đạt các hoạt động tự thân vốn có mà tạo hoá đã sinh ra cho con người, mặt khác còn biểu đạt hoạt động phối hợp của chúng với các bộ phận, các hoạt động khác nhau của cơ thể, từ đó hình thành ý nghĩa quan hệ qua các tổ hợp, các kết hợp từ song tiết đến đa tiết (thành ngữ)

Mặt khác, cũng từ đây, các bộ phận cơ thể người được sử dụng một cách sáng tạo, đa dạng sang những biểu vật khác, từ chuyển nghĩa đó hình thành ý nghĩa ẩn dụ, hoán dụ hay ẩn - hoán dụ của chúng

Như đã nói, các từ chỉ bộ phận cơ thể người của mỗi cộng đồng mang tính thuần gốc bản địa của cộng đồng ngôn ngữ đó Tuy nhiên, cách thức chuyển nghĩa, cách sử dụng chúng để biểu đạt ở mỗi ngôn ngữ lại khác

Trang 8

5

nhau tuỳ thuộc vào cách tư duy, phương thức phản ánh của mỗi dân tộc, mà chỉ có sự đối chiếu, so sánh mới cho ta thấy được nét tương đồng cũng như

sự khác biệt giữa chúng trong từng ngôn ngữ Những nét, những đặc điểm

đó của nhóm từ này sẽ tạo nên sự khác biệt giữa các ngôn ngữ trong cách gọi tên sự vật cũng như biểu đạt mối quan hệ của chúng trong hoạt động hành chức của chúng Hơn nữa, dưới góc độ văn hoá, những sự phong phú

đa dạng trong việc sử dụng những từ này thể hiện lối tư duy, cách thức phản ánh, làm nên giá trị của những trầm tích văn hoá trong các ngôn ngữ Chẳng hạn, trong khi người Việt “phân khúc” một con phố, họ nói “đầu phố”, “giữa phố” và “cuối phố” thì người Anh, tuỳ vào vị trí họ đứng, họ không nói “the head of a street” mà nói “the end of the street” để chỉ luôn

cả hai khái niệm “đầu phố” và “cuối phố” Thế thì trong trường hợp này từ

“đầu” của người Việt không tương đương với từ “head” của tiếng Anh Hoặc người Việt vẫn thấy có sự giống nhau giữa cái đầu người (phần “trên cùng”, “trước hết”) và khoảng thời gian khởi nguyên của một chiết đoạn thời gian trong năm và do đó gọi một cách rất tự nhiên là “ đầu tuần”, “đầu tháng”, “đầu mùa”, “đầu vụ”, “đầu xuân” Trong khi đó, người Anh, đối với chiết đoạn thời gian, trong sự liên tưởng, họ không thấy có gì giống với cái đầu người, nên họ thường gọi là “beginning” (khởi nguyên): beginning

of spring, beginning of a harvest… Tuy nhiên, khi cảm nhận một khái niệm

về “chỉ huy”, người nói tiếng Anh và người Việt đều hiểu là có sự giống nhau về ẩn dụ của từ “đầu”: “đứng đầu một tổ chức” (head of an organization)

Đó là lí do chính chúng tôi đặt vấn đề khảo sát, tìm hiểu cấu tạo, ý nghĩa định danh ban đầu và sự chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người của tiếng Việt trong sự so sánh với các từ tương đương trong tiếng Anh

Trang 9

6

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về các từ chỉ bộ phận người, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong bối cảnh như vậy, chúng tôi chọn

đề tài Các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt và các từ tương

đương trong tiếng Anh nhằm nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ văn hoá của

chúng, từ đó làm cơ sở ngữ liệu cho việc ứng dụng thiết thực trong thực tiễn dạy học, cụ thể là dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ và dạy tiếng Anh cho người Việt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể

người, đó là các từ:“đầu”, “mình”, “thân”, “tay”, “chân”, “mắt” “mũi”,

“miệng”, “tim”, “gan”, “lòng”, “dạ” trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Anh là “head”, “body”, “arm”, “hand”, “leg”, “foot”,

“heart”, “liver” “belly/stomach”, “eyes” Các từ này được khảo sát từ

góc độ ngôn ngữ văn hoá học, tức là kết hợp ngôn ngữ học với văn hoá học, trong sự so sánh giữa tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Anh

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Như trên đã nói, với đề tài khảo sát nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người này, luận án nghiên cứu nghĩa định danh, chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ tạo nên sự chuyển nghĩa) và hàm nghĩa Ở đây có thể coi nghĩa định danh là nghĩa tường minh, trực tiếp của từ, còn chuyển nghĩa là kết quả của các phương thức chuyển nghĩa phổ biến là ẩn dụ, hoán dụ, ẩn dụ-hoán dụ… (nghĩa phong cách) của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt

và các từ tương đương trong tiếng Anh

Trang 10

“mình”, “thân”, “tay”, “chân”, “mắt”, “mũi”, “miệng”, “tim”, “gan”,

“lòng”, “dạ” của người Việt và các từ tương đương trong Anh, thể hiện qua cách định danh, cũng như sự chuyển nghĩa và các hàm nghĩa văn hoá tiềm

ẩn trong cấu trúc và qua sự sử dụng trong giao tiếp của người bản ngữ ở mỗi quốc gia

- Bổ sung cứ liệu cho ngôn ngữ học tri nhận, một ngành khoa học còn nhiều mới mẻ ở Việt Nam, có khả năng lí giải các biểu thức ngôn ngữ theo hướng giải thích lí do nhận thức và cách tư duy của người bản ngữ ở mỗi dân tộc là khác nhau

- Thông qua việc khảo sát ngữ nghĩa của các từ chỉ bộ phận cơ thể người để giải thích rõ hơn về thực tế sử dụng các từ liên quan đến bộ phận

cơ thể người và các mối quan hệ của các từ này với những từ khác trong mỗi ngôn ngữ

- Góp phần nâng cao chất lượng nội dung dạy và học tiếng Việt, tiếng Anh như những ngoại ngữ

- Giúp cho việc soạn thảo từ điển đối chiếu Việt - Anh và Anh Việt có

cơ sở chính xác hơn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Anh

- Khảo sát, phân tích ý nghĩa của các từ chỉ bộ phận cơ thể người ở nghĩa định danh và ở nghĩa tổ hợp (từ ghép, thành ngữ, tục ngữ), cũng như

Trang 11

8

sự chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ, ẩn - hoán dụ) và nghĩa văn hàm (hàm nghĩa văn hoá) của các từ đó trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Anh

- So sánh tìm ra sự tương đồng và khác biệt về các mặt nghĩa (định danh và chuyển nghĩa) của các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt

và các từ tương đương trong tiếng Anh về hàm nghĩa văn hoá của chúng

4 Ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Ngữ liệu nghiên cứu

Với đề tài này, ngữ liệu được khảo sát trong luận án là khoảng 1.000 từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt và tiếng Anh ở cả phương diện nghĩa biểu vật (gọi tên sự vật) lẫn nghĩa hàm ẩn, thuộc về hai nền văn hoá khác nhau Số lượng từ được khảo sát này được thống kê từ trong các cuốn

từ điển giải thích ngôn ngữ Việt ngữ; từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt;

từ điển giải thích Anh ngữ; từ điển thành ngữ, tục ngữ Anh – Việt; các tác phẩm văn học Việt Nam; các tác phẩm văn học xuất bản bằng Anh ngữ, hoặc song ngữ Việt-Anh, Anh -Việt

Hơn nữa, hàm nghĩa thường không chỉ được thể hiện ở ý nghĩa tự thân của chúng mà còn được biểu hiện trong các tổ hợp với tư cách là một yếu

tố cấu thành các tổ hợp đó Điều này giải thích tại sao trong việc khảo sát nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người, chúng tôi thống kê cả các tổ hợp có chứa các từ được khảo sát để làm rõ đặc trưng văn hoá dân tộc hàm chứa trong đó; để thấy hết được sự biểu hiện ý nghĩa của chúng qua các mối quan hệ của chúng với các yếu tố khác trong tổ hợp Cụ thể là, các từ được nghiên cứu vừa ở dạng riêng lẻ vừa như các thành tố trong các từ ghép, các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh

Trang 12

9

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng một số phương pháp thống phương pháp như khảo cứu tư liệu, từ điển; phương pháp phân tích từ nguyên; phương pháp miêu

tả, phân tích, tổng hợp; phương pháp liên ngành (ngôn ngữ học và văn hóa học); các thủ pháp kê, phân loại; thủ pháp so sánh, đối chiếu…

Các thông tin số liệu cho thấy, các từ chỉ các bộ phận cơ thể người được nghiên cứu dựa trên quan điểm của ngôn ngữ học kết hợp với quan điểm văn hóa học, với phương pháp chính mà luận án sử dụng là phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích ngữ nghĩa vốn là những phương pháp được sử dụng để chỉ ra giá trị ngữ nghĩa tường minh và ngữ nghĩa hàm ẩn của nhóm các từ trong các biểu thức ngôn từ Và với các thủ pháp tương thích, hi vọng luận án sẽ cố gắng chỉ ra được các hàm nghĩa phong phú của các từ đối tượng, là những nghĩa khó phát hiện và thường được ghi nhận trong các từ điển tường giải, từ điển thành ngữ, tục ngữ thông thường, nhưng vẫn là những cái có thực, đang tồn tại và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả giao tiếp ngôn ngữ của người Việt và người nước ngoài học tiếng Việt

5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa lí luận

Luận án khảo sát, mô tả nghĩa của nhóm từ chỉ các bộ phận cơ thể người của luận án với hi vọng sẽ góp một phần vào việc khảo sát kĩ hơn việc sử dụng, về cách tri nhận của người Việt và người Anh về nhóm từ này trong giao tiếp

Các phân tích được trình bày trong luận án này có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu khác, những người muốn đạt được kiến thức toàn diện về các từ liên quan đến bộ phận cơ thể người bằng tiếng Việt và tiếng Anh

Trang 13

10

Cơ sở lí luận của luận án là kết hợp ngôn ngữ học tri nhận và ngữ nghĩa học từ vựng để làm rõ vấn đề, qua sự so sánh, phân tích và giải thích liên quan đến các khái niệm về các bộ phận cơ thể người ở hai ngôn ngữ khác nhau từ hai nền văn hóa khác biệt, tức là tiếng Việt và tiếng Anh

Luận án đóng góp thêm bằng chứng cho lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, từ vựng học ngữ nghĩa, ngôn ngữ văn hóa học, và ngôn ngữ học văn bản; và để phục vụ thiết thực cho việc dạy và học tiếng Việt cũng như tiếng Anh

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án cung cấp tài liệu, số liệu, cứ liệu và dẫn chứng cho việc nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt và ngoại ngữ trong nhà trường Cụ thể:

Kết quả nghiên cứu nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người (“đầu”, “mình”,

“thân”, “tay”, “chân”) và các từ tương ứng trong tiếng Anh (“head”,

“body”, “arm”, “hand”, “leg” và “foot”) có thể được ứng dụng thiết thực trong thực tiễn dạy học, cụ thể là dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ và dạy tiếng Anh cho học viên Việt Nam theo một số hướng sau đây

Một là, nên dạy các từ chỉ bộ phận cơ thể người không phải theo các từ

riêng lẻ, mà theo hệ thống, có nghĩa là dạy từ trong kết cấu tổ hợp, trong

quan hệ với các từ khác trong nhóm từ đối tượng Nói cách khác là dạy các

từ này theo trường nghĩa từ biểu thị các bộ phận cơ thể người Chẳng hạn,

khi dạy từ “đầu”, nên có liên hệ với các từ “chân”, “mình”, “cổ”; vì người Việt thường hay nói: “từ đầu đến chân” (từ chỗ cao nhất đến chỗ thấp nhất, tức là muốn nói về tổng thể, cả một con người); “được đằng chân lân đằng đầu” (từ chỗ thấp nhất lên chỗ cao nhất, chỉ sự lấn lướt, lợi dụng cơ hội, lòng tốt…); “đầu Ngô mình Sở” (chỉ sự không ăn nhập, không tương thích, không thống nhất…); “đè đầu cưỡi cổ” (đầu và cổ là những chỗ cao nhất

Trang 14

11

trong cơ thể người, biểu tượng cho uy thế, danh dự của một con người, nhưng đã bị hạ nhục)

Từ “chân” cũng nên được dạy trong mối liên hệ với các từ “đầu”,

“mình”, “tay” Chẳng hạn: “chân son mình rỗi” khi nói về sự tự do, không

bị ràng buộc bởi con cái của người đàn bà; “chân lấm tay bùn”, “chân yếu tay mềm” (cả chân và tay gộp lại là biểu tượng cho con người nói chung: câu trên là nói về người vất vả trong lao động chân tay khi làm nông nghiệp, câu sau là nói về đàn bà con gái vốn liễu yếu đào tơ)

Hai là, cung cấp thông tin cho người học biết đến các hàm nghĩa của

các từ này Như “Bảng tổng hợp định lượng” trong luận án cho thấy, tổng

số lượng các trường hợp chuyển nghĩa của nhóm từ đối tượng trong tiếng Việt là 45, trong tiếng Anh là 93 Trong khi đó, tổng số lượng các hàm

nghĩa lần lượt là 45 và 46 Như vậy số lượng hàm nghĩa là rất đáng kể mà

trên thực tế các hàm nghĩa này không được cung cấp trong bất kì từ điển ngôn ngữ thông thường nào (từ điển Việt - Việt, Anh - Anh, Việt - Anh, Anh - Việt, v.v.)

Ba là, giúp cho người học được thực hành so sánh - đối chiếu Việt-Anh, Anh-Việt từng cặp từ một (chẳng hạn: “đầu” - “head”, “đầu” - “chân”,

v.v.), cung cấp ngữ liệu cho môn dịch là một môn học trong các trường

chuyên ngữ, mà việc nghiên cứu không thể thiếu kiến thức phông về môn

“Đất nước học”, làm nền cho sự tiếp thu và đối chiếu ngôn ngữ giữa các nước, vùng lãnh thổ khi đối chiếu ngôn ngữ, phục vụ cho việc dịch thuật và giao lưu văn hoá

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận án

sẽ gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết

Trang 15

12

Chương này giới thiệu cơ sở lí thuyết của luận án; điểm qua lịch sử nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người; quan niệm và hướng triển khai đề tài của luận án

Chương 2: Khảo sát các từ “đầu”, “mình/thân”, “tay”, “chân” trong

tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Anh

Chương này khảo sát các từ nằm bên ngoài cơ thể, có thể quan sát sự

hoạt động của chúng bằng trực giác

Chương 3: Khảo sát các từ “mắt”, “mũi”, “miệng”, “tim”, “gan”,

“lòng/dạ”, trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Anh

Các từ được khảo sát trong chương này có 3 bộ phận nằm ở phía bên ngoài cơ thể (mắt, mũi, miệng) và 3 bộ phận bên trong cơ thể con người (tim, gan, lòng/dạ) với tư cách là những bộ phận được dùng để biểu thị các hoạt động và trạng thái tinh thần, trí tuệ, tâm lí của con người

Như vậy, sự phân chia các từ ở mỗi chương, nếu theo tiêu chí dựa vào đặc điểm “nằm ở bên trong” và “bên ngoài” cơ thể, thì số lượng từ chỉ các

bộ phận bên ngoài sẽ nhiều hơn các từ chỉ bộ phận bên trong, với tỷ lệ 7/3

Cụ thể là: các từ chỉ bộ phận bên ngoài gồm: đầu, mình/thân, tay, chân,

mắt, mũi, miệng, trong khi các từ chỉ bộ phận bên trong cơ thể lại chỉ có 3

từ: tim, gan, lòng Ở đây, 7 bộ phận cơ thể “bên ngoài” con người được

trình bày trong toàn bộ chương 2 và nửa đầu của chương 3 Như vậy, có thể coi chương 3 là sự tiếp nối của chương 2, vì nửa đầu của chương 3 vẫn nói

về các bộ phận “bên ngoài” cơ thể con người Còn nửa sau của chương 3 chỉ có 3 từ biểu thị hoạt động của các bộ phận “bên trong” Cho nên, chương 3 thay vì ghi chú “tiếp theo chương 2” thì việc chúng tôi chia tách các từ được khảo sát ra thành một chương độc lập là chỉ có ý nghĩa cơ giới, nhằm đảm bảo tính cân đối về dung lượng vấn đề cũng như số lượng trang trong luận án mà thôi Mặt khác, số lượng bộ phận cơ thể người được

Trang 16

13

chúng tôi khảo sát trong chương 2 và 3 là 10 bộ phận nhưng lại có 12 từ tiếng Việt chỉ các bộ phận, đó là do ở đó chúng tôi quan niệm, “mình” với

“thân”, “lòng” với “bụng” và “dạ” là đồng nghĩa

Chương 4: So sánh đặc điểm ngữ nghĩa của các từ chỉ bộ phận cơ thể

người trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Anh

Chương này so sánh tổng hợp bằng lược đồ hoá các từ chỉ bộ phận cơ

thể người trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Anh trong các phương diện nghĩa định danh, nghĩa tổ hợp, chuyển nghĩa và hàm nghĩa, đồng thời chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong sử dụng các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người ở hai ngôn ngữ này trong cách tư duy cũng như giao tiếp

Trang 17

14

Chương 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

1.1.1 Lí thuyết tầng nghĩa của từ

Trong việc nghiên cứu nghĩa của từ có nhiều cách tiếp cận khác nhau, như: bản thể luận, cấu trúc luận, hình thức luận (logic), hành vi luận, tinh thần luận, chức năng luận và tri nhận luận Chẳng hạn, theo cách tiếp cận bản thể luận và cấu trúc luận, nghĩa được coi là chính sự vật, hiện tượng hoặc quan hệ Theo cách tiếp cận chức năng luận và tri nhận luận, nói riêng

là phái triết học phân tích ngôn ngữ, người ta phân biệt cách giải thích bằng ngôn ngữ với cách giải thích bằng sự kiện bên ngoài Cách giải thích bằng

ngôn ngữ là cái nghĩa có trong hình thức ngôn ngữ, trong cách dùng ngôn

ngữ Còn cách giải thích bằng sự kiện bên ngoài là giải thích sự vật, hiện tượng, tồn tại thuộc thế giới hiện thực bằng các thuộc tính của tồn tại Từ

quan niệm đó, người ta xem nghĩa là sự sử dụng, tức là nghĩa thể hiện trong

cách dùng, trong hoạt động hàng ngày, trong việc thực hiện chức năng ngôn ngữ đa dạng trong cuộc sống, trong các mối tương tác xã hội và sự sáng tạo ngôn từ của người nói, người viết [45: 106-110] Nghĩa của từ, của đơn vị ngôn ngữ là kết quả tổng hợp của cả một quá trình tạo thành, sử dụng, sáng tạo, lập thành đơn vị của hệ thống ngôn ngữ [45: 111]

Theo cách tiếp cận chức năng luận, người ta phân biệt tầng nghĩa (thí

dụ, tầng nghĩa từ vựng, tầng nghĩa ngữ pháp), kiểu nghĩa (là cái tạo thành tầng nghĩa, cụ thể hoá thuộc tính của tầng nghĩa), chiều kích nghĩa (là

những đặc điểm, thuộc tính nội dung của nghĩa, chẳng hạn các chiều kích bản thể: phẩm chất, cường độ, đặc điểm,v.v., các chiều kích quan hệ: sự

Trang 18

15

cần thiết, sự thích đáng, sự dư thừa,v.v., các chiều kích phi miêu tả: nghĩa biểu cảm, nghĩa gợi tưởng,v.v ) [45: 115] Theo Lê Quang Thiêm, nghĩa từ vựng có các tầng nghĩa và kiểu nghĩa sau đây: a Tầng nghĩa trí tuệ, bao gồm: nghĩa biểu niệm/khái niệm khoa học và nghĩa biểu hiện; ý niệm quy ước và giá trị hệ thống; b Tầng nghĩa thực tiễn, bao gồm: nghĩa biểu thị và nghĩa biểu chỉ; và c Tầng nghĩa biểu trưng, bao gồm: nghĩa biểu trưng và nghĩa biểu tượng [45: 123]

Quan hệ giữa văn hoá với nghĩa của từ được trình bày cụ thể trong công trình “Trường nghĩa của một thực từ” của Dương Kỳ Đức Tiếp thu quan niệm về nghĩa của từ của nhà tâm lí học người Nga A.N Leont’ev (nghĩa của từ là một nội dung của ý thức xã hội) và quan niệm về văn hoá của nhà văn hoá học người Nga L.N Gumilev (coi văn hoá là hệ thống ý thức gắn liền với một cộng đồng người), Dương Kỳ Đức xem nghĩa của một thực từ trong một ngôn ngữ là hình thức tồn tại của ý thức xã hội, phản ánh sự cảm

nhận về đối tượng (sự vật hoặc hiện tượng) tương ứng theo cách riêng của cộng đồng ngôn ngữ, tức cộng đồng người nói ngôn ngữ đó Còn hệ thống

nghĩa thực từ của một ngôn ngữ phản ánh chính văn hoá của cộng đồng

người đó [11]

Về thành phần nội tại của nghĩa từ, Đỗ Hữu Châu cho rằng đó là một tập hợp của một số thành phần nhất định [4] Còn Hoàng Văn Hành lại xem nghĩa từ là phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức, tồn tại dưới dạng một cơ cấu do một chùm những thành tố có quan hệ hữu cơ với nhau, được tổ chức theo tôn ti nhất định [17] Nhưng các tác giả trên không cho

ta biết những thành phần, những thành tố đó cụ thể là gì

Từ quan niệm giáo học pháp dạy ngoại ngữ Nguyễn Ngọc Hùng cho rằng, thành tố văn hoá trong nghĩa từ là những thông tin về đặc trưng điều kiện địa lí và thiên nhiên trong đời sống của dân tộc bản ngữ, về lịch sử, về kinh tế, nghệ thuật, tâm lí dân tộc Ngoài ba nhóm thành tố văn hoá riêng

Trang 19

16

biệt được các nhà giáo học pháp ngoại ngữ nước ngoài phân ra là: nhóm từ không có từ tương đương, nhóm từ biểu cảm, nhóm từ phông nền, Nguyễn Ngọc Hùng còn bổ sung thêm nhóm từ tưởng chừng như bình thường - đó

là những từ không có tương đương trong các ngoại ngữ (kiểu như: izba, hata, đình, chùa, miếu, đền ) [25]

E.M Vereshchagin và V.G Kostomarov, hai nhà ngôn ngữ học và chuyên gia đầu ngành về giáo học pháp tiếng Nga như một ngoại ngữ cho rằng nghĩa từ không chỉ gồm phần khái niệm, mà còn có cả phần phi khái niệm Cơ sở của cách nhìn nhận của hai ông là quan niệm về từ như một đơn vị ngôn ngữ chứa đựng tri thức về hiện thực Tri thức được chứa đựng trong từ, làm thành nội dung của từ, là một trong những hình thức tồn tại của ý thức xã hội trong ngôn ngữ và được hai ông gọi là “nghĩa từ” Nghĩa

từ gồm nhiều nghĩa phần Một số nghĩa phần hợp lại thành khái niệm từ Khái niệm từ là phần nội dung của từ giúp ta phân biệt được sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác Một số nghĩa phần khác được gọi chung là nền từ

Tương tự như vậy, một thuật ngữ, trong quan niệm của hai ông, cũng gồm khái niệm khoa học và nền khoa học Giữa khái niệm khoa học với khái niệm từ, nền khoa học với nền từ có phần chồng nhau; chúng có quan

hệ tác động qua lại với nhau [38: 42-43]

1.1.2 Lí thuyết trường nghĩa và ngôn ngữ văn hoá học

a Về lí thuyết trường nghĩa

Các từ trong vốn từ vựng không tồn tại một cách cô lập mà tạo thành những loại, những nhóm cùng loại có tính chất hệ thống nào đó, cùng với một số từ khác." [Ju X Xtepanov] Tính hệ thống này "có mặt trong mọi cấp độ tổ chức từ vựng" [Nguyễn Ngọc Trâm] và được thể hiện ở các hiện

Trang 20

từ vựng, lí thuyết trường nghĩa còn cho ta nhìn nhận một cách hệ thống về quá trình phát triển của nghĩa từ và cơ cấu nghĩa của nó Do đó, người ta có thể chia hệ thống từ vựng thành những "tập hợp từ vựng có sự đồng nhất ngữ nghĩa xét theo một phương diện nào đấy để phát hiện ra tính hệ thống

và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa" [Đỗ Hữu Châu] - đó là các trường từ vựng-ngữ nghĩa Một trong những nội dung quan trọng của lí thuyết trường nghĩa là việc phân tích nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm

Theo cách hiểu chung nhất, nghĩa biểu vật là ý nghĩa khái quát về chủng loại sự vật Còn nghĩa biểu niệm là ý nghĩa được hình thành trong quá trình chúng ta nhận thức về nghĩa chủng loại sự vật Theo đó, nghiên cứu các từ theo trường nghĩa cho phép ta đi sâu vào các nét nghĩa của từng từ cũng như của cả nhóm Đây là hướng nghiên cứu rất có ích đối với việc tìm hiểu

hệ thống các từ gần nghĩa, đồng nghĩa

- Về nghĩa biểu vật của từ, các nhà từ vựng học nhận thấy rằng, một từ không chỉ có một nghĩa biều vật mà thường có nhiều nghĩa biểu vật khác nhau Ví du, phân tích các nghĩa biểu vật của từ " mũi", ta sẽ có sự phân xuất như sau:

Mũi: (1) bộ phận nhô lên ở giữa mặt người và động vật có xương sống,

là cơ quan dùng để thở và ngửi (2) bộ phận nhọn, nhô ra phía trước của một số vật dùng vận tải trên nước như tàu, thuyền (mũi tàu, mũi thuyền) (3) bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước của một số vật thường dùng

Trang 21

18

hàng ngày: mũi kim, mũi kéo, mũi dao (4) bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước của một số loại vũ khí: mũi tên, mũi giáo, mũi mác, mũi kiếm, mũi súng (5) doi đất nhọn nhô ra khỏi bờ trên sông, trên biển: mũi Né (Bình Thuận), mũi Cà Mau…

Từ mỗi nghĩa biểu vật nêu trên, trong quá trình sử dụng, từ "mũi" có thể tham gia vào nhiều kết hợp khác nhau, với các ý nghĩa khác nhau Trong

đó, “mũi” (1) tham gia vào trường nghĩa bao gồm các từ chỉ bộ phận cơ thể người

- Nghĩa biểu niệm của từ là cái nghĩa khái quát ở mức cao hơn so với nghĩa biểu vật, là tập hợp các nét nghĩa – những dấu hiệu logich được con người nhận thức, phản ánh vào nghĩa của từ Như vậy, nghĩa biểu niệm là cái nghĩa được hình thành trong quá trình nhận thức về nghĩa chủng loại của sự vật

Ví dụ: từ “chân”: (bộ phận cơ thể người) (động vật) (có chức năng đỡ

cơ thể khi đứng yên hay vận động dời chỗ) [5]

Những nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm của một từ bao gồm nét nghĩa có tính chất khái quát chung cho nhiều từ và nét nghĩa riêng cho từng

từ cụ thể Dựa vào nét nghĩa chung để xếp các từ vào cũng một nhóm; dựa vào nét nghĩa riêng để xác định ý nghĩa của từng từ trong nhóm Ví dụ: nét nghĩa (bộ phận cơ thể người) và (động vật), ta có thể xếp “tay, đầu, mình, tai, mũi…” và cùng nhóm Tuy nhiên, nét nghĩa riêng (có chức năng đỡ cơ thể khi đứng yên hay vận động dời chỗ) thì chỉ “chân” mới có

Mặt khác, các nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm chung cho nhiều từ không chỉ có ý nghĩa từ vựng mà cũng có tính ngữ pháp Từ đó, để xác định ý nghĩa biểu niệm thực có của từ, không thể không chú ý đến các giá trị ngữ pháp, đến hoạt động ngữ pháp của nó trong câu [5]

Trang 22

19

Qua các ví dụ vừa phân tích, có thể thấy rằng, để hiểu chính xác nghĩa của từ trong từng văn cảnh cụ thể, cần phải hiểu rõ các nghĩa biểu vật và các nghĩa biểu niệm của từ cũng như con đường phái sinh ý nghĩa của nó

Ở một phạm vi nghiên cứu hẹp hơn về nhóm từ vựng tiếng Việt, Dương Kỳ Đức đã phát triển một bước quan điểm của E.M Vereshchagin

và V.G Kostomarov trong công trình “Trường nghĩa của một thực từ” của mình Xuất phát từ quan niệm cho nghĩa của một thực từ phản ánh sự cảm nhận về đối tượng hiện thực theo cách riêng của cộng đồng người, tức là phản ánh một phần văn hoá của cộng đồng đó, ông phân nghĩa của một

thực từ thành hai phần là phần nghĩa ngữ hiệu và phần hàm nghĩa Phần

nghĩa ngữ hiệu là nghĩa của từ với tính cách một tín hiệu ngôn ngữ, nó thể

hiện khái niệm, tức là các đặc trưng chung của đối tượng được con người

nhận thức qua thực tiễn xã hội Phần hàm nghĩa là nghĩa của từ với tính cách một hàm tố văn hoá, nó chứa đựng động hình văn hoá, tức là cái cách

riêng trong việc tạo ra đối tượng, thao tác với nó và trong việc cảm nhận

nó Hai phần nghĩa ngữ hiệu và văn hàm (hàm nghĩa) hợp thành một chỉnh

thể mà ông gọi là trường nghĩa của thực từ Trường nghĩa này gồm tâm và

biên Phần nghĩa ngữ hiệu là tâm Phần hàm nghĩa là biên Tâm ngữ hiệu lại gồm hai phần nhỏ là nghĩa ngữ hiệu thông tục và nghĩa ngữ hiệu khoa học (tiếp đó, phần nhỏ thứ nhất lại là tâm - tức là tâm trong tâm, phần nhỏ thứ hai là biên - tức là biên trong tâm) Biên hàm nghĩa cũng gồm hai phần nhỏ là hàm nghĩa đặc thù dân tộc và hàm nghĩa liên dân tộc (tương tự, phần nhỏ thứ nhất lại là tâm - tức là tâm trong biên, phần nhỏ thứ hai lại là biên - tức là biên trong biên) [12: 155-158] và [38: 43-44]

Quan niệm trường nghĩa của Dương Kỳ Đức được minh hoạ qua từ

“chuột” Qua cứ liệu thành ngữ, tục ngữ và cách nhìn dân dã của người Việt, ông cho rằng phần hàm nghĩa đặc thù dân tộc của từ “chuột” chứa đựng những nội dung sau Chuột được coi là sợ mèo, hay bị mèo ăn thịt;

Trang 23

20

chuột thường được liên tưởng đến kẻ xấu, việc xấu: đó là đồ xấu xa (“len

lét như chuột ngày”, “cháy nhà ra mặt/mạch chuột”, “mắt dơi mày chuột ”), là quân táo tợn (“chuột gặm chân mèo”), là kẻ lâm vào thế cùng

(“chuột chạy cùng/đầu sào”), là kẻ được hưởng sung sướng do may mắn (“chuột sa chĩnh gạo” ), là quân đục khoét, v.v

Còn hàm nghĩa đặc thù của hai từ “mouse” và “rat” (có nghĩa là chuột

to, chuột cống) trong tiếng Anh lại khác hẳn Theo “Từ điển tiếng Anh và văn hoá” (Longman, 1992), không phải chỉ có người, mà cả voi cũng sợ chuột Người ta, nhất là giới nữ, rất sợ chuột Một trong những nguyên nhân của sự sợ hãi này là vì họ cho rằng chuột bẩn thỉu và hay truyền bệnh Ngoài ra khi nói đến chuột, người Việt nghĩ đến quân đục khoét, Tuy vậy, đối với người Anh, chuột được hình dung là con vật lặng lẽ và nhút nhát

(“as quiet as a mouse” - lặng lẽ như chuột), chứ không quá xấu xa, đáng

ghét và gieo mầm bệnh như trong tâm thức người Việt Nam nhưng chuột

cống thì đúng là biểu tượng cho sự bất ổn (“smell a rat” - ngửi thấy chuột,

tức là cảm thấy điều gì đó không bình thường) [12: 157] và [38: 44] trong tâm thức người Anh

Ở đây có một câu hỏi đặt ra là: Hiện tượng chuyển nghĩa của từ theo phương thức ẩn dụ, hoán dụ với việc sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ có gì khác nhau? Rõ ràng là, hiện tượng chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ, hoán dụ tạo nên nghĩa mới thực sự cho từ, các nghĩa này được giải thích trong tự điển Mặt khác, các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ là cách diễn đạt bằng hình ảnh, hình tượng mang tính biểu cảm cho câu nói, không tạo ra nghĩa mới cho từ, chỉ có nghĩa lâm thời trong một ngữ cảnh cụ thể

b Về ngôn ngữ văn hoá học

Ngôn ngữ văn hoá học là một ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu tổ

chức cấu trúc - hệ thống ngôn ngữ ở tất cả các bình diện và các đơn vị của

Trang 24

21

ngôn ngữ để phản ánh những đặc trưng văn hoá của cộng đồng nói ngôn ngữ đó Khoa học này tìm hiểu mối quan hệ tương liên giữa các đặc trưng ngôn ngữ với các đặc trưng văn hoá dân tộc [6, 66] Theo đó, từ được coi là cái chứa đựng tri thức của một dân tộc Nghĩa của từ tích luỹ tri thức xã hội, tri thức cộng đồng, nhờ có từ mà các thành viên của một cộng đồng văn hoá dân tộc kế thừa được kinh nghiệm đã tích luỹ được từ trước anh ta Nghĩa của từ thường rộng hơn rất nhiều so với những điều được ghi trong

từ điển, đó là những thông tin về hiện thực ngoài ngôn ngữ, nhất là những cái nói về đặc điểm văn hoá của một cộng đồng người Do các thông tin bổ sung về hiện thực ngoài ngôn ngữ thường gắn liền với văn hoá của một

cộng đồng nên được gọi chung là thành tố văn hoá trong nghĩa của từ

Các đặc trưng văn hoá dân tộc được thể hiện qua nhiều phương diện, trong đó đáng quan tâm hơn cả, xét từ mục đích của luận án này, là các phương diện sau: ý nghĩa của từ ngữ, việc phạm trù hoá hiện thực và “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”, định danh ngôn ngữ, hàm nghĩa và sự chuyển nghĩa qua sự so sánh giữa tiếng Việt với tiếng Anh

Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là một hình thức tồn tại của kinh nghiệm xã hội-lịch sử của loài người nói chung, của từng dân tộc nói riêng Những kinh nghiệm xã hội - lịch sử đó được phản ánh và lưu giữ rất rõ trong ý nghĩa của từ ngữ ở các ngôn ngữ, nhất là trong ý nghĩa biểu trưng (tức là trong cách dùng biểu trưng biểu vật của từ) Chẳng hạn, trong tiếng Việt, “sen” có nghĩa biểu trưng là “sự thanh cao” (“gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”), “cóc tía” có nghĩa là “gan góc” (“gan cóc tía”), “đỏ” là sự may mắn (“số đỏ”), “bụng” là ý nghĩ, tình cảm sâu kín của con người (“suy bụng ta ra bụng người”)

1.1.3 Ngôn ngữ học Tri nhận

Ngôn ngữ học Tri nhận, nói đơn giản là khoa học ngôn ngữ về sự tri nhận, tức là về quá trình nhận thức, gồm tổng thể các quá trình tâm lí (tinh

Trang 25

22

thần, tư duy), như tri giác, phạm trù hoá, tư duy, lời nói, v.v phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin Tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào nó dưới dạng những

biểu tượng tinh thần để có thể lưu lại trong trí nhớ của con người dưới dạng

ý niệm Đấy là một sản phẩm vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc

thù văn hoá - dân tộc Ngôn ngữ học tri nhận thiết lập mối quan hệ giữa trí tuệ, tư duy của con người với ngôn ngữ tự nhiên mà con người sử dụng trong giao tiếp hàng ngày [7: 90,101,103] Trong số các nhiệm vụ nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận, có: phạm trù hoá ngôn ngữ, ý niệm và ý niệm hoá thế giới, các siêu phạm trù ngữ nghĩa tri nhận, ý niệm cảm xúc của con người, ý niệm con người xác-hồn (quan hệ giữa phần xác và phần hồn của con người), quan hệ ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ Cơ sở phương pháp luận của ngôn ngữ học tri nhận là nguyên lí “dĩ nhân vi trung” (lấy con người làm trung tâm [7: 62-70]

Thế giới bao quanh loài người là sự vật khách quan chung cho cả loài người Nhưng mỗi dân tộc lại tri nhận cái thế giới đó theo những cách khác nhau, tức là chia cắt hiện thực theo những cách khác nhau, thể hiện ở sự khác nhau trong việc “phạm trù hoá hiện thực” và trong việc tạo ra “bức tranh ngôn ngữ về thế giới” Trong bức tranh này có phần hạt nhân chung cho cả loài người và có phần ngoại vi (biên) riêng của từng dân tộc Chẳng hạn, trong khi để chỉ những sợi mảnh như chỉ bằng chất sừng mọc phủ trên

da người và động vật, người Anh chỉ dùng một từ “hair”, còn người Nga dùng một từ “волосы”/ “волос”, thì người Việt lại “chia cắt” thành hai từ,

là “tóc” và “lông” Ngược lại, trong khi người Việt chỉ có một từ “xanh” để chỉ chung cho ba sắc màu: lá cây, nền trời, nước biển, thì người Anh lại dùng hai từ: “green” và “blue”, còn người Nga lại dùng ba từ: “зелённый”,

“голубой” và “синий”

Trang 26

23

Do nghiên cứu về tri nhận nên ngôn ngữ học tri nhận cũng có khả năng phục chế tri nhận, tức là tái tạo lại toàn bộ hoặc một phần nào đó của quá trình tri nhận, tức là thuyết giải ngữ nghĩa của các từ ngữ chứa đựng nội dung tri nhận, tìm ra những biểu tượng tinh thần trong đó Đơn vị phục chế biểu tượng tinh thần là ý niệm và bức tranh ngôn ngữ về thế giới với tư cách là không gian tồn tại của ý niệm Phục chế một ý niệm nào đó là “vẽ”

ra một bức tranh bằng chất liệu ngôn ngữ về nội dung của ý niệm đó, tức là trình bày sự hiểu biết của ta về ý niệm đó Bức tranh ngôn ngữ về thế giới chính là sự phục chế một mảng nào đó của thế giới mà con người tri nhận [7: 121]

Với đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp và khả năng như trên, ngôn ngữ học tri nhận có quan hệ mật thiết với tâm lí học, khoa học về trí tuệ nhân tạo, nhân họ, dân tộc học và văn hoá học Văn hoá học đem lại cho ngôn ngữ học tri nhận những cách nhìn thế giới đặc trưng cho một dân tộc và cùng với ngôn ngữ học tri nhận tạo ra những ý niệm phản ánh những bức tranh ngôn ngữ về thế giới Mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và văn hoá dẫn đến sự ra đời của ngôn ngữ văn hoá học, một khoa học có nhiều sự hợp tác với ngôn ngữ học tri nhận

Với những cách hiểu như trên, hiển nhiên là ngôn ngữ văn hoá học và ngôn ngữ học tri nhận là những cách tiếp cận hết sức hữu hiệu cho việc nghiên cứu các từ chỉ bộ phận cơ thể người, vốn là những từ ngữ chứa đựng đậm đà những bản sắc của một dân tộc trong văn hoá và trong cách tri nhận thế giới của dân tộc đó

Định danh được hiểu theo nhiều cách khác nhau, một trong những cách

đó là: sự gán cho một kí hiệu ngôn ngữ một biểu niệm phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật, nhờ đó mà kí hiệu ngôn ngữ tạo ra những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn ngữ Đặc trưng văn hoá dân tộc của định danh ngôn ngữ được biểu hiện trước hết ở việc lựa chọn đặc trưng của

Trang 27

24

đối tượng để làm cơ sở cho tên gọi Việc lựa chọn này tuỳ thuộc một phần vào đặc điểm tâm lí của dân tộc Đặc trưng được lựa chọn có thể là cái cơ bản, bản chất của đối tượng, cũng có thể là cái không cơ bản, miễn sao có thể giúp người ta phân biệt được sự vật này với sự vật khác Chẳng hạn, để gọi một phương tiện di chuyển trên bộ, người Anh chọn số lượng chi tiết của đối tượng, nên gọi là “bicycle” (tức là “cái có hai vòng tròn”), còn người Việt lại chọn cách thức tác động để tạo ra sức đẩy, nên gọi là “xe đạp” (tức là một loại xe phải dùng chân người để đạp, phân biệt với “xe kéo” là dùng sức người kéo xe ở phía sau cho chạy)

Về sự chuyển nghĩa và nghĩa biểu trưng, chuyển nghĩa được hiểu là một

kiểu chuyển từ tên gọi có cấu trúc ngữ nghĩa này sang tên gọi có cấu trúc ngữ nghĩa khác, chẳng hạn từ tự nhiên sang thế giới nội tâm của con người

và ngược lại, từ hiện tượng tự nhiên này sang hiện tượng tự nhiên khác, từ con người và hiện thực gần gũi với con người sang toàn bộ thế giới khách quan còn lại Hiển nhiên, trong sự chuyển nghĩa cũng có những cái chung của cả loài người và cả những cái riêng của từng dân tộc Gắn với sự

chuyển nghĩa có hiện tượng nghĩa biểu trưng Nghĩa này của kí hiệu ngôn

ngữ sẽ xuất hiện khi quan hệ quy chiếu của nó có nguyên do, làm cho người ta liên hội tới một ý nghĩa mới, khác với ý nghĩa gốc của nó Sự liên hội, liên tưởng này được diễn ra theo cách riêng của một dân tộc Chẳng hạn, trong khi đối với người Nga, từ “медвед” (“gấu”) có nghĩa biểu trưng

là “kẻ vụng về, chậm chạy, rù rờ”, thì từ “gấu” trong tiếng Việt lại gắn với

“kẻ hỗn xược, hung bạo” hoặc “tính tình hỗn xược, hung bạo”: “Đồ gấu!”

“Mày gấu lắm” Đối với người Việt, “liễu yếu đào tơ” biểu trưng cho người con gái trẻ, yếu ớt, mảnh dẻ Còn “nồi đồng cối đá” biểu trưng cho sự bền chắc của đồ vật

Trang 28

25

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI

Cho đến nay ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về nhóm

từ chỉ bộ phận cơ thể Chẳng hạn, nhóm Trịnh Đức Hiển nghiên cứu chúng với tư cách là từ tố trong các từ ghép [22], Bùi Khắc Việt nghiên cứu nghĩa biểu trưng của chúng [56] Nhóm Nguyễn Trọng Khánh tìm hiểu sự chuyển nghĩa của chúng trong tiếng Lào [27] Cũng có tác giả nghiên cứu các thành ngữ có thành tố là các từ chỉ bộ phận cơ thể, như, Nguyễn Thị Thu khảo sát bản chất văn hoá trong thành ngữ tiếng Việt có từ chỉ tứ chi người (139 thành ngữ có “tay”, 100 thành ngữ có “chân” [46]), còn Nguyễn Văn Trào thì xem xét các thành ngữ biểu cảm trong tiếng Anh có chứa các từ chỉ bộ phận cơ thể người [51] Nhóm Nguyễn Thị Hoài Nhân thì hạn chế ở các thành ngữ có từ “ruka”, “hand”, “tay” trong ba thứ tiếng Nga, Anh, Việt [35] Một số tác giả tìm hiểu ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm các từ chỉ bộ phận cơ thể theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận (Lê Thị Kiều Vân) [53], Trịnh Thị Thanh Huệ [24], Nguyễn Ngọc Vũ [58] Người quan tâm nhiều đến nhóm từ này là Nguyễn Đức Tồn Ông tiếp cận đối tượng từ nghiên cứu đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của người Việt và người Nga thể hiện qua cách định danh, ngữ nghĩa (cấu trúc ngữ nghĩa của trường các từ chỉ bộ phận cơ thể), cách chuyển nghĩa, nghĩa biểu trưng tâm lí -tình cảm [47, 48], quan hệ đồng nghĩa giữa các từ của trường

đó trong tiếng Việt và tiếng Nga [49]

Trang 29

26

 [24, 53, 58]; thủ pháp nghiên cứu có thể là miêu tả một ngôn ngữ [46, 48]  [56, 58] hoặc miêu tả và so sánh - đối chiếu song ngữ [23, 28, 37,

38, 42]  [27, 35, 47, 48, 51]

Ngoại trừ các công trình của Nguyễn Đức Tồn được tiến hành trên cơ

sở một hệ thống quan niệm riêng, nhất quán, các công trình còn lại chủ yếu dựa vào thành tựu chung của ngành ngôn ngữ học và nghiên cứu văn hoá Cho đến cuối năm 2008, ngoại trừ một số công trình có nói đến các từ chỉ bộ phận cơ thể người như những vấn đề được khảo sát sơ bộ, số lượng các công trình chuyên viết về nhóm đối tượng này ở Việt Nam mới có khoảng trên một chục, trong đó có thể liệt kê theo trình tự thời gian công bố như sau:

1986 Bùi Khắc Việt, Về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt [56]

1989 Nguyễn Đức Tồn, Ngữ nghĩa các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt và tiếng Nga [47]

1993 Nguyễn Đức Tồn, Đặc trưng dân tộc của tư duy ngôn ngữ qua hiện tượng từ đồng nghĩa (trên cứ liệu tên gọi bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt và tiếng Nga) [48]

1998 Nguyễn Trọng Khánh, Chăm Phôn Ma Vông, Sự chuyển nghĩa của các từ chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Lào (có sự liên hệ với tiếng Việt) [27]

2001 Nguyễn Thị Hoài Nhân, Nguyễn Thị Thu, Trần Kim Bảo, Nguyễn Xuân Hoà, Thành ngữ Nga có từ “ruka” so sánh - đối chiếu với các thành ngữ có từ “hand” trong tiếng Anh và từ “tay” trong tiếng Việt [35]

2002 Nguyễn Đức Tồn, Tìm hiểu đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác) [49]

Trang 30

cơ thể trong tiếng Việt [22]

2006 Nguyễn Văn Trào, Thành ngữ biểu cảm trong tiếng Anh có đối chiếu với tiếng Việt (Trên cứ liệu các thành ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể con người) [51]

2008 Lê Thị Kiều Vân, Về miền ý niệm “mặt” trong giao tiếp của người Việt từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận [53]

2008 Nguyễn Ngọc Vũ, Ẩn dụ ý niệm “bộ phận cơ thể như là vật chứa đựng” trong thành ngữ tiếng Anh [58]

2008 Trịnh Thị Thanh Huệ, Bước đầu nghiên cứu hiện tượng ẩn dụ bộ phận cơ thể người từ góc độ Ngôn ngữ học Tri nhận [24]

Điểm qua các công trình kể trên, ta có thể nhận thấy một số điểm sau:

- Các ngôn ngữ được khảo sát là Việt, Nga, Anh, Lào, trong đó nhiều nhất là tiếng Việt, Nga, Anh

- Phạm vi nghiên cứu có thể là 1 từ (nhóm Nguyễn Thị Hoài Nhân [35]) hoặc tới 211 từ (Nguyễn Đức Tồn - 2002 [49]), với thành ngữ thì có tới 239 đơn vị (Nguyễn Thị Thu [46])

- Khía cạnh nghiên cứu là: định danh, hàm nghĩa, chuyển nghĩa

- Đối tượng được tiếp cận từ các góc độ nghiên cứu hoặc là thuần tuý ngôn ngữ học (Bùi Khắc Việt) [56], Trịnh Đức Hiển - Đỗ Thị Thu [22]), kết hợp ngôn ngữ và văn hoá (nhóm Nguyễn Thị Hoài Nhân [35], Nguyễn Thị Thu [46]), văn hoá học (Nguyễn Văn Chiến [6]), tâm lí ngôn ngữ học

Trang 31

28

dân tộc (Nguyễn Đức Tồn - 2002 [49]), Ngôn ngữ học Tri nhận (Lê Thị Kiều Vân [53], Nguyễn Ngọc Vũ [57], Trịnh Thị Thanh Huệ [24])

- Phương pháp nghiên cứu: miêu tả đơn ngữ (Bùi Khắc Việt) [56], miêu

tả và so sánh - đối chiếu song ngữ (nhóm Nguyễn Trọng Khánh [27], nhóm Nguyễn Thị Hoài Nhân [35], Nguyễn Đức Tồn 1989, 1993, 2002 [47] [48] [49], Nguyễn Văn Trào [51], v.v.)

Dưới đây, chúng tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn về một số công trình trong số các công trình kể trên

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Hoài Nhân [35], qua ngữ liệu 150 thành ngữ tiếng Nga có từ “ruka”, 155 thành ngữ tiếng Anh có từ “hand”, 139 thành ngữ Việt có từ “tay” đã nêu lên những nét tương đồng và không tương đồng về thành tố văn hoá trong các thành ngữ Nga, Anh, Việt có từ chỉ

“tay” (tr 78-81) Chẳng hạn, về tương đồng: Để chỉ sự khéo léo, người Việt nói: “khéo tay hay miệng”, “khéo tay khéo chân”, người Nga:

“золотые руки” (bàn tay vàng), “master na vse ruki” (bậc thầy cả hai tay); người Anh: “a crack/good/great hand at smt” (tay tốt/tuyệt vời trong việc gì) Để chỉ phẩm chất xấu xa của con người, có: “lật lọng như trở bàn tay”,

“ném đá giấu tay”, “gắp lửa bỏ tay người”; người Anh: “dirty/roil one’s hand” (làm bẩn tay, tức là làm bẩn thanh danh, chơi bẩn, hạ thấp mình),

“(with) cap/ hat in hand” (tay cầm mũ, tức là quỵ luỵ, khúm núm, xun xoe, luồn cúi); người Nga: “нетит на руку” (không trong sạch về tay, tức là tắt mắt, hay ăn cắp vặt), “лизат руки” (liếm tay, tức là quỵ luỵ, bợ đỡ) Để nói

về người mà ta có thể nhờ cậy, chỉ dẫn, người Việt nói: “đánh chuông ra mặt, đánh giặc ra tay”, “miệng nói tay làm”; người Nga: “своя рука” (tay của mình, tức là người cùng hội cùng thuyền, tay trong), “большая рука” (tay lớn, tức là người có uy tín, có ảnh hưởng lớn); người Anh: “have long

hand” (có tay dài, tức là có thế lực) Khi nói về người làm việc giỏi, người

Việt bảo: “tay năm tay mười”, “mau tay hay làm”; người Nga: “скор на

Trang 32

29

руки” (nhanh tay, tức là nhanh nhẹn, thoăn thoắt), “руки горят” (tay bốc cháy, tức là khao khát làm việc); người Anh: “put in hand” (bắt tay vào)

Về người lười biếng, vô công rồi nghề, người Việt nói: “chỉ tay năm ngón”,

“mồm miệng đỡ chân tay”; người Nga: “поджавши руки” (thõng tay, tức

là ngồi không, không làm gì), “сложа руки” (khoanh tay, tức là không động chân động tay); người Anh: “fold one’s hand” (buông tay, không ngọ

nguậy) Để chỉ quan hệ đằm thắm, người Việt: “tay đứt ruột xót”, “đầu gối tay ấp”; người Nga: “рука с рукой” (tay trong tay, đoàn kết) Để chỉ quan

hệ không tốt đẹp, người Việt: “vỏ quýt dày móng tay nhọn”, “ném đá giấu

tay”; người Nga: “лизат руки” (liếm tay, tức là bợ đỡ); người Anh: “stay somebody’s hand” (làm dừng tay, tức là cản trở, ngăn cản), v.v

Về sự không tương đồng, tiếng Nga và Anh không có các thành ngữ có nội dung sau như trong tiếng Việt: “tay bắp cày, chân bàn cuốc”, “tay cầm khoán, tay bẻ măng”, “tay chèo tay lái”, “tay đã nhúng chàm”, “chân lấm tay bùn” Để chỉ người có kinh nghiệm từng trải, trong khi người Anh nói:

“an old hand” (tay già đời), thì người Nga nói: “стрелянный боробей” (con sẻ đã từng bị bắn không chết), “стрелянная птица” (con chim đã từng

bị bắn không chết)

Nghiên cứu bản sắc văn hoá và tính cách con người Việt Nam thể hiện trong các thành ngữ chỉ tứ chi người, Nguyễn Thị Thu [39] nhận thấy

những thành ngữ này phản ánh: 1/ lao động nông nghiệp, 2/ thái độ đối với

lao động, 3/ sự trọng tình cảm, lấy tình cảm làm đầu trong quan hệ giao tiếp, 4/ phương thức vận chuyển bằng sức người, 5/ hình thức bên ngoài, 6/ tính cách con người, 7/ tư thế con người khi trở về với cát bụi Về trường

hợp 1, ta có: chân bùn tay đất, tay bùn chân lấm, đầu đội trời chân đạp đất,

là những thành ngữ không có tương đương trong các tiếng Nga, Anh, Pháp

Về trường hợp 2: tay đã thành chai, tay làm hàm nhai, chỉ tay năm ngón,

bàn tay có ngón dài ngón ngắn Về trường hợp 3: tay bắt mặt mừng, tay

Trang 33

30

đứt ruột xót, đầu gối tay ấp Trường hợp 4: tay xách nách mang, tay bế tay bồng Trường hợp 5: tay que rẽ chân vòng kiềng, tay bắp cày chân bàn cuốc Về 6: chung tay góp sức, một chân một tay, theo chân nối gót, bắt cá hai tay, ném đá giấu tay Về 7: chết hai tay cắp đít, hai tay buông xuôi, nhắm mắt xuôi tay, chết chổng cẳng, chết thẳng cẳng

Tác giả chỉ rõ thành ngữ chỉ tứ chi được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói của người Việt, là giá trị tinh thần của văn hoá, phản ánh những đặc trưng của nền văn hoá loại hình gốc nông nghiệp

Khi nghiên cứu hiện tượng ẩn dụ bộ phận cơ thể người từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, Trịnh Thị Thanh Huệ [24] nhận thấy người nguyên thuỷ khi bắt đầu nhận thức thế giới thường tuân theo nguyên tắc “dĩ nhân vi trung”, tức là lấy những cái thuộc về con người và trải nghiệm của con người để nhận thức thế giới, lấy con người làm tiêu chuẩn để đo lường những sự vật xung quanh, do đó hình thành phương thức tri nhận ẩn dụ bộ phận cơ thể con người Việc tri nhận ẩn dụ bộ phận cơ thể người có một số

đặc điểm, như: có tính so sánh loại suy (chân bàn, mặt giường, đầu đường,

cổ lọ, mũi thuyền), ngữ nghĩa thì mâu thuẫn (liên kết và đánh đồng hai khái

niệm không cùng loại, dẫn đến xung đột ngữ nghĩa, tức là vi phạm quy tắc chọn ngữ nghĩa thông thường, chẳng hạn: chân núi, đầu sông, miệng núi

lửa) và có tính cố định (tri nhận ẩn dụ hoá là một cơ chế sản sinh nghĩa

quan trọng của từ, nhưng khi đã tồn tại cố định với một lớp nghĩa của từ thì tính ẩn dụ của nó ẩn đi, đến nỗi con người không nhận biết được, dần dần

ngữ nghĩa trở thành cố định), hình thức ngôn ngữ thì lặp lại (mặt bằng),

mặt cắt, mặt cân, mặt chữ, mặt đất, mặt nhà)

Còn Nguyễn Ngọc Vũ [58] cũng nghiên cứu ẩn dụ, nhưng là ẩn dụ ý niệm thể hiện trong các trường hợp “bộ phận cơ thể như là vật chứa đựng” trong thành ngữ tiếng Anh (đầu, đôi mắt, trái tim) Chẳng hạn ông thấy

Trang 34

31

rằng, đối với người Anh, cái đầu người hơi giống cái hộp cả về hình dáng lẫn kích thước, nó chứa đựng tư duy, ý tưởng:

Don’t go putting ideas into his head (Đừng có mà nhồi nhét những ý

tưởng đó vào đầu nó)

Hay:

We need a new shopping centre in our neighbourhood like we need a hole in the head (Chúng ta cần một trung tâm mua sắm mới trong xóm

này như là cần một cái lỗ trong đầu vậy)

Tiếng Việt cũng có nhưng dường như không nhiều và không hệ thống trong trường hợp ẩn dụ ý niệm “cái đầu như là vật chứa” này, mặc dầu có lúc chúng ta vẫn nói một câu kiểu như:

Trong đầu toàn hắn toàn những ý tưởng đen tối

Con mắt cũng giống như một vật chứa (“In my eyes she was the most

beautiful child in the world” - Trong mắt tôi nó là đứa bé gái xinh đẹp nhất

trần đời) Trái tim cũng vậy (“from the bottom of our hearts” - từ đáy tim,

tức là từ đáy lòng) Tác giả nhận xét do cấu trúc tiếng Việt ít sử dụng giới

từ nên ẩn dụ ý niệm bộ phận cơ thể hiếm thấy trong tiếng Việt

Cũng từ góc độ Ngôn ngữ học Tri nhận, Lê Thị Kiều Vân [53] thực

hiện phân tích ngữ nghĩa của từ “mặt” trong tiếng Việt Cụ thể, trên cơ sở

ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm, tác giả xem xét các tổ hợp ngữ pháp và thành ngữ có chứa từ “mặt”, đồng thời so sánh với cách dùng từ “face” của tiếng Anh để xác định những cái tương đồng và dị biệt về ngôn ngữ, văn hoá và tri nhận giữa hai thứ tiếng này Qua 63 cụm từ và thành ngữ có yếu

tố “mặt” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và qua các ngữ ghép trong tiếng Việt, tác giả xác định được 4 trường hợp nghĩa biểu trưng của từ

“mặt”:

Trang 35

32

1/ Diện mạo bề ngoài và sự hiện diện của con người (“Chàng Vương

quen mặt ra chào”, “Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai?”); phần quan trọng

nhất, khác biệt nhất của con người nhìn một cách tổng thể (“Thấy nàng

mặn phấn tươi son, Mừng thầm được mối bán buôn có lời”);

2/ Tính cách và xúc cảm (vui vẻ, thoả mãn: đẹp mặt, mát mặt, mặt tươi

rói, mặt hơn hớn; bực tức, giận dữ: nóng mặt, tím mặt, cau mặt, mặt nặng mày nhẹ, mặt chầu bạu; lo sợ, căng thẳng: bạc mặt, tái mặt, mặt bí rì; kiêu

ngạo, hợm hĩnh: lên mặt, vênh mặt, mặt kênh kiệu; kinh ngạc, mất phản ứng: ngây mặt, đờ mặt, thuỗn mặt Tiếng Anh và tiếng Việt có sự tương

đồng trong việc thể hiện yếu tố “mặt” chỉ cảm xúc, nhưng trong tiếng Anh hoán dụ ý niệm “khuôn mặt biểu trưng cho tính cách con người” là rất mờ nhạt (“one’s face falls” - mặt xịu xuống, “a long face” - dài mặt);

3/ Tâm điểm của mối liên hệ tương tác (“Vậy nên ngoảnh mặt làm thinh”, “Hồ công thấy mặt ân cần hỏi han”, tiếng Anh: “to laugh in smb’s

face” - cười vào mặt);

4/ Thể diện con người (“Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời”, “Sư càng

nể mặt, nàng càng vững tâm”; mở mày mở mặt, sượng mặt, mất mặt, mặt dày, mặt chai mày đá; tiếng Anh: “lose face” - mất mặt, quê mặt, mất thể

diện)

Tác giả kết luận:

Mặt người là bộ phận cơ thể hàm chứa nhiều giá trị biểu trưng Cả trong tiếng Việt lẫn tiếng Anh, dù được định danh qua ngữ tự do hay ngữ cố định, thì con đường ý niệm hoá nhìn chung vẫn là giống nhau, chỉ khác nhau về mức độ đậm nhạt

Từ góc nhìn văn hoá học, Nguyễn Văn Chiến [6] đi tìm những “mật

mã” văn hoá, ngôn ngữ trong tổ chức cấu trúc hệ thống các đơn vị từ vựng tiếng Việt biểu thị bộ phận cơ thể người Từ góc nhìn trên, tác giả gợi mở

Trang 36

Ngoài ra tác giả tìm hiểu các từ chỉ bộ phận người trong y ngôn dân dã

(tóc sâu, tóc muối tiêu, tóc bạc da mồi, răng khôn, răng sữa, đầu bạc răng

long, tức lộn ruột, bụng đói cật rét, chân chậm mắt mờ ), trong ngôn

tướng học dân gian (mặt trái soan, mắt cú vọ, tai chuột, chân vòng kiềng,

mình hổ, tay vượn, rậm râu sâu mắt, lưng ong đùi dế ) Đây kho tàng tri

thức dân gian hết sức lí thú về các hiện tượng ngoài con người: “Những

người thắt đáy lưng ong, Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con”, “Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền”, “Quăn quăn tóc trước

là người hay ghen”

Đặc biệt tác giả đi sâu vào ý nghĩa biểu tượng hàm nghĩa xã hội của các

từ chỉ bộ phận cơ thể Theo tác giả, hầu hết các từ này trong tiếng Việt ngoài ý nghĩa định danh, biểu vật, còn chứa đựng một kiểu ý nghĩa biểu tượng được cấu trúc hoá dưới các hình thức cấu tạo từ là từ đơn, từ ghép, thành ngữ và được dạng thức hoá qua các phương thức tu từ như hàm ngôn,

ẩn dụ, hoán dụ Chẳng hạn, các từ đơn chỉ bộ phận cơ thể người ở khu vực

thượng đình và hạ đình thường biểu trưng cho dáng vẻ con người, qua đó

thể hiện các đặc tính, phẩm giá trong tính cách, tư chất con người (ngượng

mặt, lên mặt, nước đến chân mới nhảy, cho biết tay, ra tay ) Còn các từ

chỉ bộ phận cơ thể thuộc khu vực trung đình có ý nghĩa biểu trưng cho tâm

lí, tình cảm, ý chí, tinh thần, tâm linh Các từ ghép, về phương diện ngữ nghĩa, thường có hai kiểu nghĩa: khái quát (đầu óc, mặt mày), đặc ngữ (còn

mặt mũi nào mà nhìn mọi người, ruột gan rối bời ) Với thành ngữ,

Nguyễn Văn Chiến đưa ra ba kiểu kết cấu hình thức: có + từ chỉ bộ phận cơ

Trang 37

và đặc thù Chúng có sức sản sinh cao theo các quy tắc chuyển đổi nghĩa sau:

1/ chuyển nghĩa chỉ cơ thể sang ý nghĩa biểu trưng;

2/ quy đổi các giá trị biểu chỉ cơ thể người (các ý nghĩa định danh) sang các giá trị khác (những ý nghĩa từ loại khác): “mình” (cơ thể) → “mình” (đại từ nhân xưng), “mày”, “mi” (lông) → “mày”, “mi” (đại từ nhân xưng); 3/ gắn các hiện tượng của đại vũ trụ với biểu chỉ cơ thể người (tiểu vũ trụ): “thái dương” (mặt trời) → “thái dương” (hai bên trán, phía trên trán); 4/ lấy các từ chỉ bộ phận cơ thể người để biểu chỉ bộ phận cơ thể con vật (nhân hoá vật), tạo ra hệ thống các giá trị ngôn tướng học động vật; 5/ lấy các từ chỉ bộ phận cơ thể người để biểu chỉ tất cả các hiện tượng bên

ngoài con người (các hiện tượng tự nhiên), tức là nhân hoá đại vũ trụ: mặt

trời, chân mây, mắt bão, rốn biển

Tác giả cho rằng, toàn bộ những điểm nêu trên là đối tượng nghiên cứu

cụ thể của ngữ nghĩa học tri nhận

Ở Nguyễn Đức Tồn [47], từ góc độ tâm lí ngôn ngữ học dân tộc, các từ

chỉ bộ phận cơ thể người được xem xét về hai phương diện: định danh và ngữ nghĩa và qua tư liệu hai thứ tiếng Việt và Nga

Về mặt định danh, theo ông trong tiếng Việt có 397 tên gọi, tiếng Nga

có 251 Trong đó, theo nguồn gốc, tên gọi thuần lần lượt là: 66,2% và 76%,

tên gọi vay mượn: 33,8% và 23% Theo kiểu ngữ nghĩa, trong cả hai

trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi chỉ bộ phận cơ thể người của hai thứ

Trang 38

35

tiếng, tên gọi nguyên sinh chỉ bộ phận cơ thể người chiếm số lượng tuyệt đối Tên gọi thứ sinh ở tiếng Nga là 11%, nhiều hơn tiếng Việt (4,5%) Khi định danh thứ sinh, người Việt quan tâm trước hết đến hình thức và vị trí

của đối tượng (52%: nhãn cầu, lá mía, xương chậu, xương sườn, xương

hông ), còn người Nga quan tâm hơn cả đến công dụng, chức năng (15%:

cái để nuốt → “горло” (họng), ống dẫn thức ăn → “пишчевод” (thực quản), cái khâu, liên kết đầu với mình → “шея” (cổ), cái vung, cái nắp đậy mắt → “веко” (mí mắt) )

Về mặt ngữ nghĩa, trong cả hai thứ tiếng Việt và Nga, ở các tên gọi chỉ

bộ phận cơ thể người, đều có 10 dạng thông tin (10 loại nghĩa vị), được xếp theo trình tự giảm dần của tần số xuất hiện trong các định nghĩa về chúng trong các từ điển: tên gọi chỉ loại (hay chỉnh thể trực tiếp), vị trí, chức năng, tính sở thuộc, cấu trúc, kích thước, hình thức/hình dạng, thuộc tính

vật lí, màu sắc, thời gian Về đặc điểm chuyển nghĩa của trường các từ chỉ

bộ phận cơ thể người, tác giả nhận thấy có bảy điểm sau đây: 1/ cả hai thứ tiếng đều dùng cách chuyển nghĩa ẩn dụ nhiều hơn hoán dụ; 2/ trong cả hai ngôn ngữ, các nghĩa vị “hình thức/hình dạng”, “vị trí”, “chức năng” đóng vai trò chủ đạo trong chuyển nghĩa; 3/ trường các từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Nga có tính biểu cảm mạnh hơn trong tiếng Việt; 4/ trong tiếng Việt chỉ có các tên gọi chuyển nghĩa không khác gì tên gọi trực tiếp: “răng (cưa)” và “răng (người)”, “chân (bàn)” và “chân (người)”; còn trong tiếng Nga có cả sự chuyển nghĩa bộ phận với sự kèm theo của biến đổi hình thức bên ngoài của từ: “zub” (răng người) và “zubets” (răng cưa); 5/ trong trường tiếng Việt, sự chuyển nghĩa đóng vai trò lớn hơn so với trong tiếng Nga; 6/ trong tiếng Việt có cả hai kiểu chuyển nghĩa nhân cách hoá (bụng

bảo dạ) và linh hồn hoá (bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền); 7/ tiếng

Việt sử dụng phép cải dung nhiều hơn tiếng Nga: 13,2% đối lại với 7,3%

(có chân trong chi uỷ, nó là tay vợt số một)

Trang 39

36

Về vấn đề biểu trưng tâm lí - tình cảm bằng các từ chỉ bộ phận cơ thể

người, Nguyễn Đức Tồn nhận xét rằng người Nga ít dùng tên gọi bộ phận

cơ thể Họ không dùng bộ phận cơ thể nội tâm nói chung của con người Trong khi đó, ở người Việt, điều đó được biểu thị bằng toàn bộ cái được chứa đựng trong bụng con người, tức là lòng người Hơn nữa, người Việt lại thường liên tưởng đến rất nhiều thứ từ các bộ phận cơ thể người: Qua xem xét một số từ chỉ bộ phận cơ thể người có ý nghĩa biểu trưng như: tim,

bụng, dạ, ruột, gan, mật, máu và tiết, tác giả rút ra sự phân công chức năng

các từ chi bộ phận cơ thể người trong việc là biểu trưng cho tâm lí - tình cảm của con người theo quan niệm dân gian của người Việt Cụ thể như sau:

- Phạm vi trí tuệ: Được liên tưởng “gán” cho các cơ quan tiêu hoá như lòng, ruột, dạ, bụng (bận lòng, bối rối trong lòng, học thuộc lòng, sáng dạ,

lú ruột )

- Phạm vi tình cảm: Để biểu trưng tâm trạng, người Việt dùng lòng (tâm) và ruột (lòng hồi hộp, đau ruột/lòng, lòng nhớ thương, lòng tương tư,

vui lòng, não lòng, mát ruột, hả dạ ) Các xúc động căm thù, tức giận

được gán cho gan hoặc tiết (sốt gan, bầm gan, lộn gan, xung tiết, sôi tiết,

ngứa tiết ) Thái độ đối với người khác được biểu trưng bằng lòng, tâm và

bụng (lòng người, rộng lòng, thực bụng, hảo tâm, ác tâm, bẩn bụng ) Sự

mong muốn, khát vọng dành cho lòng (thuận lòng, vừa lòng, lòng tham)

- Ý chí: Người Việt dùng lòng, tâm, gan (vững lòng, mềm lòng, ngã

lòng, kiên tâm, bền gan, non gan)

- Sự chú ý: Người Việt “định vị” ở tâm (để tâm, bận tâm, hảo tâm)

Tác giả nhấn mạnh rằng cách dùng bộ phận cơ thể để biểu trưng cho thế giới nội tâm của con người (lối nói, cải dung) là một đặc điểm dân tộc rất điển hình cho lối suy nghĩ nói năng của người Việt

Trang 40

37

Như vậy, chúng tôi đã điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu nhất trong mảng vấn đề từ chỉ bộ phận cơ thể người Qua đây có thể nhận thấy một số điểm sau

Một là, các từ chỉ bộ phận cơ thể người là một phần quan trọng và rất lí thú trong vốn từ vựng văn hoá của một cộng đồng người

Hai là, các từ chỉ bộ phận cơ thể người được nghiên cứu không đồng đều, có những từ được khảo sát rất sâu, có những từ chỉ được nói qua

Ba là, chúng có thể được nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học bình thường, có tính đến các nhân tố văn hoá, hoặc từ góc độ văn hoá học, hoặc theo hướng ngôn ngữ học tri nhận, hoặc tiếp cận theo kiểu tâm lí ngôn ngữ học dân tộc, hoặc từ góc nhìn của ngôn ngữ văn hoá học Mỗi cách tiếp cận đều có lợi thế riêng, đem lại cho chúng ta những tri thức bổ ích riêng Khó nói là cách nào hay hơn cách nào

Bốn là, tuy các từ chỉ bộ phận cơ thể người được nghiên cứu khá nhiều, nhưng vẫn còn những mảng trống Nói riêng, các từ “đầu”, “mình”, “thân”,

“tay”, “chân” chưa được nghiên cứu trong mối quan hệ bổ sung với nhau

và theo một cách tiếp cận thống nhất riêng

Mảng trống này sẽ được chúng tôi thử khắc phục một phần trong những phần sau này của luận án

1.3 HƯỚNG TIẾP CẬN CỦA LUẬN ÁN

1.3.1 Tiếp cận từ lí thuyết nghĩa từ

Trong luận án này, chúng tôi đi theo hướng hiểu nghĩa của từ thực từ một cách rộng vì các từ chỉ bộ phận cơ thể người đều là những thực từ, cụ thể hơn là những danh từ Khi nói đến ý nghĩa của từ theo quan điểm của lí thuyết trường nghĩa, chúng tôi đã nêu quan niệm rằng, các nét nghĩa trong

ý nghĩa biểu niệm chung cho nhiều từ không chỉ có ý nghĩa từ vựng mà cũng có tính ngữ pháp Từ đó, để xác định ý nghĩa biểu niệm thực có của

Ngày đăng: 22/01/2021, 14:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Bình (2006), Đặc trưng văn hóa Việt qua một vài ẩn dụ // “Việt Nam học và tiếng Việt”, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr. 30-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hóa Việt qua một vài ẩn dụ" // “Việt Nam học và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2006
2. Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
3. Nguyễn Phương Châm (1999), Thành ngữ, tục ngữ trong ca dao (Tiếp cận từ góc độ cấu trúc), Tạp chí “Văn hóa dân gian”, N o 3, tr. 59-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ, tục ngữ trong ca dao (Tiếp cận từ góc độ cấu trúc)", Tạp chí “Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 1999
4. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt. Hà Nội, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
5. Đỗ Hữu Châu (1996), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
6. Nguyễn Văn Chiến (2004), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt (nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa). Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt (nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa)
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004
7. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ)
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2007
8. Nguyễn Đức Dân (1986), Ngữ nghĩa thành ngữ, tục ngữ - sự vận dụng, Tạp chí “Ngôn ngữ”, N o 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ, tục ngữ - sự vận dụng", Tạp chí “Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1986
9. Nguyễn Công Đức (1996), Bình diện cấu trúc hình thái - ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình diện cấu trúc hình thái - ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Công Đức
Năm: 1996
10. Nguyễn Công Đức - Nguyễn Hữu Chương (2004), Từ vựng tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Công Đức - Nguyễn Hữu Chương
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2004
11. Dương Kỳ Đức (1996), Trường nghĩa của một thực từ // “Ngữ học Trẻ 1996”, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội, tr. 155-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường nghĩa của một thực từ" // “Ngữ học Trẻ 1996
Tác giả: Dương Kỳ Đức
Năm: 1996
12. Dương Kỳ Đức (1997), Nghĩa văn hàm của thực từ // “Ngữ học Trẻ 1997”, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội, tr. 198-200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa văn hàm của thực từ" // “Ngữ học Trẻ 1997
Tác giả: Dương Kỳ Đức
Năm: 1997
13. Dương Kỳ Đức (1998), Văn hóa trong tên người Việt // “Ngữ học Trẻ 1998”, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong tên người Việt" // “Ngữ học Trẻ 1998
Tác giả: Dương Kỳ Đức
Năm: 1998
14. Dương Kỳ Đức (1999), Nghĩa văn hàm của giới từ chỉ không gian // “Ngữ học Trẻ 1999”, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội, tr. 283- 287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa văn hàm của giới từ chỉ không gian" // “Ngữ học Trẻ 1999
Tác giả: Dương Kỳ Đức
Năm: 1999
15. Hoàng Văn Hành (1976), Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt, Tạp chí “Ngôn ngữ”, N o 1, tr. 11-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt", Tạp chí “Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1976
16. Hoàng Văn Hành (1987), Thành ngữ trong tiếng Việt, Tạp chí “Văn hóa dân gian”, N o 1, tr. 25-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ trong tiếng Việt", Tạp chí “Văn hóa dân gian
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1987
17. Hoàng Văn Hành (1991), Từ ngữ tiếng Việt - trên đường hiểu biết và khám phá, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ tiếng Việt - trên đường hiểu biết và khám phá
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1991
18. Hoàng Văn Hành (2001), Các kiểu thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng, Tạp chí “Ngôn ngữ”, N o 8, tr. 1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kiểu thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng", Tạp chí “Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 2001
19. Hoàng Văn Hành (2002), Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ tục ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
20. Hoàng Văn Hành (2003), Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng trong tiếng Việt, Tạp chí “Ngôn ngữ”, N o 6, tr. 6-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng trong tiếng Việt", Tạp chí “Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w