Những bài bình luận, những bài tham khảo về Đông phương và Tây phương đăng liên tiếp trong Đông Dương tạp chí, ngày nay giở đến người ta còn thấy là những bài có thể dựng thành những bộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ ANH THƯ
NHỮNG ĐĨNG GĨP CỦA ĐƠNG DƯƠNG TẠP CHÍ TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HỐ VĂN HỌC,
VĂN HỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.34.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Giang
Phản biện 1: PGS.TS Phan Trọng Thưởng
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thành Thi
Phản biện 3: PGS.TS Võ Văn Nhơn
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả Luận án
Tạ Anh Thư
Trang 3Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc đến Thầy hướng dẫn - PGS.TS Lê Giang đã luôn theo sát và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn các quí thầy, cô giáo của Khoa Văn học và Ngôn ngữ, các anh chị ở Phòng Sau đại học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh đã hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại Trường
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và các đồng nghiệp của tôi tại Trường Đại học Thủ Dầu Một đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành Luận án
Tôi xin dành tất cả sự yêu thương và lời cảm ơn tới bố mẹ, các anh chị em trong gia đình và người thân yêu luôn là niềm động viên mạnh mẽ cho tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Luận án
Trang 41.2 Ý nghĩa 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
2.1 Ở trong nước 3
2.1.1 Trước 1945 3
2.1.2 Từ 1945 đến 1975 4
2.1.2.1 Ở miền Bắc 4
2.1.2.2 Ở miền Nam 6
2.1.3 Từ sau năm 1975 11
2.2 Ở nước ngoài 13
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 15
3.1 Đối tượng nghiên cứu 15
3.2 Phạm vi nghiên cứu 15
4 Đóng góp mới của luận án 16
4.1 Đóng góp về mặt khoa học 16
4.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 16
5 Phương pháp nghiên cứu 17
6 Cấu trúc luận án 17
CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ 19
1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam và tầng lớp trí thức đầu thế kỷ XX 19
1.1.1 Bối cảnh xã hội 19
1.1.2 Giới trí thức Việt Nam trong một thời đại chuyển biến 33
1.2 Sự ra đời của Đông Dương tạp chí 39
1.2.1 Chủ trương của Đông Dương tạp chí 39
1.2.1.1 Nguyễn Văn Vĩnh (1882 -1936) 46
1.2.1.2 Phan Kế Bính (1875 – 1921) 61
1.2.1.3 Nguyễn Đỗ Mục (1882 – 1949) 62
1.2.3 Những chặng đường phát triển của Đông Dương tạp chí 63
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ VĂN HỌC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX 72
2.1 Đông Dương tạp chí với sự phát triển chữ quốc ngữ - ngôn ngữ văn học của dân tộc 72
2.1.1 Mục đích của việc xây dựng chữ quốc ngữ của trí thức Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 72
2.1.2 Đông Dương tạp chí với nỗ lực đưa chữ quốc ngữ đến với công chúng 76
2.2 Đông Dương tạp chí và sự tiếp thu tinh hoa văn học thế giới 95
2.2.1 Tình hình dịch thuật văn học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 95
2.2.2 Diện mạo văn học phương Tây trên Đông Dương tạp chí 98
2.2.2.1 Quan điểm lựa chọn tác giả và tác phẩm 98
2.2.2.2 Những tác giả tiêu biểu 100
2.2.2.3 Những thể loại chính 102
Trang 52.3 Vai trò của Đông Dương tạp chí trong việc hình thành các thể loại văn học mới119
2.3.1 Thơ 120
2.3.2 Tiểu thuyết 127
2.3.3 Kịch 131
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ VĂN HOÁ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX 139
3.1 Chủ trương hiện đại hoá văn hoá dân tộc của Đông Dương tạp chí 139
3.1.1 Mối liên hệ văn hoá – văn học trong Đông Dương tạp chí 139
3.1.2 Đổi mới văn hoá Việt Nam dựa trên nền tảng đổi mới học thuật 143
3.1.3 Đổi mới văn hoá Việt Nam dựa trên các giá trị cộng hoà 147
3.1.3.1 Giá trị của Công giáo và giá trị của thể chế cộng hoà ở Bắc Kì 147
3.1.3.2 Sự lựa chọn các giá trị cộng hoà của Đông Dương tạp chí 150
3.2 Đông Dương tạp chí và vấn đề canh tân giáo dục 154
3.2.1 Về tính hiệu quả của nền giáo dục truyền thống 154
3.2.2 Những phương pháp mới cho giáo dục 160
3.3 Đông Dương tạp chí và vấn đề đổi mới phong tục, tập quán 167
3.3.1 Chuyên mục Xét tật mình 167
3.3.2 Chuyên mục Việt Nam phong tục 179
3.4 Đông Dương tạp chí và vấn đề nữ quyền 183
KẾT LUẬN 193
TÀI LIỆU THAM KHẢO 197
PHỤ LỤC 198
Trang 6ta cần nhìn lại và rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích từ giai đoạn hiện đại hoá đầu thế kỷ XX, khi văn học, văn hoá Việt Nam bưóc đầu tiếp xúc với văn học, văn hoá phương Tây
Trong giai đoạn hiện đại hoá đầu thế kỷ XX, Đông Dương tạp chí nổi lên như là một hiện tượng đặc biệt Cùng với Nam Phong tạp chí, nó là một trong hai tờ
báo gây nhiều tranh luận nhất cho đến tận ngày nay Có thể nói rằng, ở thời điểm bấy giờ, lần đầu tiên báo chí quốc ngữ Việt Nam có được một tờ báo mang đường
nét rõ ràng của một dạng tạp chí nghiên cứu khoa học Đông Dương tạp chí được ví
như bộ “bách khoa toàn thư về tri thức” đối với người Việt Nam ở thời điểm đó.Tìm hiểu và đánh giá những đóng góp của tờ báo này trong quá trình hiện đại hoá sẽ cho thấy mối quan hệ giữa báo chí và văn học nói riêng, trí thức và văn hoá nói chung
1.2 Ý nghĩa
Đây không phải là một công trình nghiên cứu về lịch sử báo chí, mà là về chủ đề hiện đại hoá văn học, văn hoá dưới sự tác động của báo chí Tuy nhiên, đề tài này chú ý mối quan hệ giữa văn học, văn hoá và báo chí, mà trường hợp nghiên
cứu chính là một tờ báo cụ thể với nội dung và lịch sử của nó: Đông Dương tạp chí
Trong tinh thần đó, về mặt lý thuyết, luận án góp phần soi sáng vấn đề hiện đại hoá văn học, văn hoá trên bình diện lịch sử, thông qua nội dung và hoạt động
của một tờ báo Nghĩa là, qua việc nghiên cứu sự ra đời và hoạt động của Đông Dương tạp chí để đánh giá lại những bước vận động của văn học quốc ngữ Việt
Nam trên bước đường hiện đại hoá đầu thế kỷ XX Sự vận động này nảy sinh trong bối cảnh đặc biệt, khi mà cùng với bước chân xâm lược của thực dân Pháp là những
Trang 7thành tựu về khoa học kỹ thuật mà họ mang theo Sự xuất hiện của chữ quốc ngữ, nhà in, báo chí và những luồng tư tưởng mới từ phương Tây đã mở toang cánh cửa hội nhập với thế giới của xã hội phong kiến Việt Nam lạc hậu Cuộc đụng độ giữa thực dân Pháp và dân tộc Việt Nam không chỉ là sự đối đầu của kẻ đi xâm lược và
kẻ bị xâm lược mà còn là sự va đập giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây Sự va đập ấy đã gây ra những xáo trộn không thể né tránh cho xã hội cổ truyền Việt Nam và không còn cách nào khác, buộc nó phải thay đổi để thích nghi
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp những cứ liệu và kinh nghiệm về tác động của báo chí đối với sự phát triển của văn hoá, văn học dân tộc Bài học về hiện đại hoá từ đầu thế kỷ XX vẫn còn nguyên giá trị cho sự phát triển nhiều triển vọng
và cũng đầy thách thức của chúng ta hôm nay bởi những thế hệ trí thức đầu thế kỷ
XX không chỉ đóng trọn vai trò to lớn của họ trong quá khứ mà còn có thể tham gia trực tiếp vào cuộc đi tới tương lai của chúng ta bằng những bài học còn nóng hổi, nếu ta biết từ họ đối chiếu và ngẫm nghĩ Những câu chuyện về họ đặt cho chúng ta nhiều câu hỏi về một thế hệ những người khổng lồ trong văn hoá mà ngày nay ít thấy có Vậy những điều kiện lịch sử và nỗ lực cá nhân nào đã tạo nên “thế hệ vàng” ấy của văn hoá Việt Nam? Nền đại học nào đã tạo nên những Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Duy Tốn? Tại sao họ, những người giỏi nhất, những nhà Hán học uyên thâm nhất, được chính nền học vấn ấy tạo ra lại dám mạnh mẽ từ bỏ sách xưa, đạp đổ cái cũ, dám chống lại cái chính mình học để đi tìm cái mới, giải phóng trí tuệ cho mình và cho đất nước, dân tộc? Trả lời được những câu hỏi này tức là đã trả lời được cho chính vấn đề mà chúng ta đang gặp phải ở ngày hôm nay
Trang 82 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu vai trò, vị trí của Đông Dương tạp chí đối với nền quốc văn
mới cho đến nay tại Việt Nam vẫn chưa được quan tâm đúng mức so với vị thế của
tờ báo Rải rác trên các báo, các công trình nghiên cứu văn học Việt Nam từ trước
1945 đến nay cũng có những nhận xét về đóng góp của Đông Dương tạp chí đối với
nền quốc văn của nước nhà Tuy nhiên, những ý kiến này không thống nhất với nhau, thậm chí trái ngược nhau do quan điểm nghiên cứu và phương pháp đánh giá khác nhau Thời gian gần đây, do những chuyển động mới của xã hội, một số nhân vật, tác phẩm từng bị xem là “có vấn đề” đã được nhìn nhận và giới thiệu lại, trong
đó có Đông Dương tạp chí và chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh Đông Dương tạp chí trở
thành đề tài nghiên cứu của một vài luận văn cao học và đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Có thể chia lịch sử nghiên cứu vấn đề những đóng góp của Đông Dương tạp chí đối với quá trình hiện đại hóa văn học, văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX thành
hai bộ phận: ở trong nước và ở nước ngoài
2.1 Ở trong nước
2.1.1 Trước 1945
Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đề cập đến Đông Dương tạp chí như
là “một cơ quan văn học đầu tiên ở thời buổi mà văn chương quốc văn mới còn bỡ ngỡ Người Tây học có thể thấy trong đó những tinh hoa của nền cổ học Trung Hoa mà nước ta đã chịu ảnh hưởng lâu đời; người Hán học có thể thấy trong đó những tư tưởng mới mà người Việt Nam ta cần biết rõ để mà thâu thái Những bài bình luận, những bài tham khảo về Đông phương và Tây phương đăng liên tiếp
trong Đông Dương tạp chí, ngày nay giở đến người ta còn thấy là những bài có thể
dựng thành những bộ sách biên tập rất vững vàng và có thể giúp ích cho nền văn học Việt Nam hiện đại và tương lai…”
Ngoài ra còn có các bài Văn xuôi mới, Nguyễn Văn Vĩnh và các bản dịch của ông trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm; bài Báo giới và văn học quốc ngữ cùng những bài viết về các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng
Trang 9Kim…của Thiếu Sơn đăng trên các báo thời bấy giờ Những bài viết này chủ yếu
điểm qua tôn chỉ, ý nghĩa hoạt động của nhóm Đông Dương tạp chí
2.1.2 Từ 1945 đến 1975
2.1.2.1 Ở miền Bắc
Tình hình nghiên cứu và đánh giá đóng góp về văn học, văn hóa của Đông Dương tạp chí trở nên phức tạp khi đất nước ta tiến hành cuộc cách mạng giành độc
lập dân tộc và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Điều đó chủ yếu là
do xuất phát điểm là công cụ của chính quyền thực dân của tờ báo Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 và chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, những gì liên quan đến thực dân Pháp xâm lược cũng khiến người ta “dị ứng” Số phận những người trí thức Tây học đã từng cộng tác với Pháp và những ấn phẩm văn hóa có liên quan đến chính quyền thực dân cũng vậy
Các tác giả Lịch sử văn học Việt Nam (tập 4B) trong Tủ sách Đại học Sư phạm, đã xếp chung Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí vào khuynh hướng
«văn học nô dịch» và xem Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh là «những tên việt gian đầu sỏ» Theo sách này, «Cả Vĩnh lẫn Quỳnh đều tuyên truyền cho sự thống trị của Pháp, chống đối cách mạng một cách triệt để, việc ấy chúng làm không giấu giếm gì
nên không lừa bịp được ai» ; «Đông Dương tạp chí và Nam Phong đã lôi cuốn một
số thanh niên trí thức ham nghiên cứu, có nhiệt tình với quốc văn, làm cho họ xao lãng tình hình xã hội, đắm mình vào việc văn chương, mà coi đó là con đường phục
vụ dân tộc»; «Tóm lại, Đông Dương tạp chí và Nam Phong tuyệt nhiên không có
một công lao gì đối với văn học dân tộc cả »
Những hoạt động canh tân văn hoá của Đông Dương tạp chí, thậm chí những
bài viết chống lại sự bóc lột của người Pháp còn bị hiểu là màn kịch “để cướp ảnh hưởng trong quần chúng, để củng cố nền thống trị của đế quốc phong kiến, và để bán mình cho cao giá” (?)
Cũng theo chiều hướng đánh giá tiêu cực về Đông Dương tạp chí, Tập san
Nghiên cứu lịch sử số 116 (1968), có bài Vài nét về quá trình đấu tranh chống thực
Trang 10dân và tay sai trên lĩnh vực văn hoá của nhân dân ta trong 30 năm đầu thế kỷ 20
của tác giả Nguyễn Anh, trong đó phủ nhận những đóng góp của Đông Dương tạp
chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút Bài viết cho rằng: “…Đúng ra ở Đông Dương tạp chí vấn đề dịch thuật nổi bật hơn cả Và đây là điểm mà trước kia người
ta đã ca tụng “giá trị”, “công lao” của Đông Dương tạp chí Nhìn vào khối lượng dịch thuật của Đông Dương tạp chí, chúng ta thấy rõ ràng là một việc dịch thuật
lung tung bừa bãi Tuy có chọn lọc một số tác gia lớn nhưng tuỳ tiện, gặp đâu dịch
đấy, không có giới thiệu phê bình gì cả Đông Dương tạp chí lại còn chạy theo thị
hiếu của người đọc, “gãi vào chỗ ngứa” của đám thanh niên tân học để lôi kéo họ bằng cách dịch những bài thơ, đoạn văn nho nhỏ hấp dẫn của một số thi sĩ, văn sĩ
Điểm đặc biệt là Đông Dương tạp chí chỉ chú trọng dịch các loại sách văn học của Pháp, không đả động đến sách triết học Âm mưu của Đông Dương tạp chí là dùng
văn chương để ru ngủ tinh thần yêu nước của nhân dân, lôi kéo nhân dân ra khỏi ảnh hưởng tư tưởng tiến bộ của các sĩ phu, của cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc
Có người đã nói Đông Dương tạp chí chỉ giới thiệu văn hoá phương Tây theo kiểu
ăn sống nuốt tươi quả là xác đáng…”
Bên cạnh những nhận xét có phần “căng thẳng” thì cũng có một số ý kiến trung hoà hơn, chẳng hạn như ý kiến của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong cuốn
Phong trào thơ mới 1932 -1945 (Nxb Khoa học, 1966), trong đó có nhắc đến vai trò của tờ Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí trong việc giới thiệu các tác phẩm
văn học phương Tây Trong đó, Phan Cự Đệ nhấn mạnh:
“Trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp cho Phạm
Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh ra tạp chí Nam Phong, báo Trung Bắc tân văn và Nhà xuất bản Âu Tây tư tưởng; Nam Phong và Đông Dương tạp chí giới thiệu và dịch
các tác phẩm cổ điển của Corneille, Molière và những tác phẩm thế kỷ XIX của Chateaubriand, Lamartine, Victor Huygo, Honoré de Balzac, Guy de Maupassant, Baudelaire…Ở đây, những tư tưởng bảo thủ trong văn học Pháp như Maurice Barrès, Charles Maurras, Léon Daudet được giới thiệu xen lẫn với những tư tưởng tiến bộ của các nhà triết học khai sang thế kỷ XVIII như Rousseau, Voltaire,
Trang 11Montesquieu Trong các trường học, thanh niên bắt đầu say sưa với văn học Pháp Người ta đọc Rousseau, Bernadin de St Pierre, Chateaubriand, Boutget, Barrès, v.v Người ta ca ngợi lãng mạn của “tứ kiệt”: Hugo, Lamartine, Musset, Vigny ”
Mặc dù không trực tiếp nhắc đến những đóng góp tích cực của Đông Dương tạp chí và nhưng Phan Cự Đệ thừa nhận rằng “các nhà thơ mới ở nước ta đã biết
tiếp thu truyền thống thơ ca của dân tộc và học tập một cách sáng tạo thơ ca nước ngoài Do đó họ đã xây dựng được những thể thơ tự do, giàu nhạc điệu, màu sắc, có nhiều khả năng thể hiện tình cảm con người và thiên nhiên Ngôn ngữ của dân tộc cũng được các nhà “thơ mới” làm cho giản dị, trong sáng và giàu có hơn” Có thể
xem đó là lời khẳng định ngầm vai trò của Đông Dương tạp chí và những tờ báo
tiên phong trong việc phổ biến các tác phẩm dịch thuật thời bấy giờ
2.1.2.2 Ở miền Nam
Trong khi đó, ở miền Nam những năm 1954-1975, việc nghiên cứu và
« phán xét » Đông Dương tạp chí có phần khách quan và thỏa đáng hơn
Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam 1 , sau khi phân tích vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh - chủ bút Đông Dương tạp chí, đã đánh giá: « Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí giữ một địa vị tối yếu trong lịch sử văn học Việt Nam
là vì hầu hết những sản phẩm văn chương có giá trị hay đã gây được một ảnh hưởng sâu rộng đều xuất hiện trên hai tạp chí đó »
Sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí cũng được đánh giá với nhiều ưu ái dưới ngòi bút Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên: “Trong khoảng 10 năm, từ báo Đăng Cổ đến Đông Dương, bằng hoạt
động bằng tư tưởng, ông đã lay động mạnh cái xã hội Việt Nam cổ truyền, hối thúc
Trang 12- Ông đã tranh đấu cho việc truyền bá và thắng thế chữ quốc ngữ là thứ chữ của văn học mới
- Ông đã đem vào xã hội ta nhà in và tờ báo là hai khí cụ giúp ông gầy dựng văn học mới và sẽ giúp đắc lực cho sự phát triển của văn học mới sau này
- Ông đã làm được trong bước đầu một tờ báo rất bổ ích cho văn mới lúc
phôi thai là tờ Đông Dương tạp chí »
Trong cuốn Luận đề về Đông Dương tạp chí với Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, sách giáo khoa dành cho học sinh trung học, Trần Việt Sơn viết: “Nhóm Đông Dương tạp chí với Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế
Bính đã biết thức thời xây dựng nền văn học mới, vào lúc mà thời thế đã bị đảo lộn bởi những biến cố chính trị Cảm thấy sự quan trọng vô biên của tiếng Việt và chữ quốc ngữ, nhóm đó đã đi bước tiên phong bằng cách xây dựng cho tiếng nói và chữ viết đó trở nên vững chắc và phổ thông, đồng thời sử dụng những thể văn mới, mở đường cho biết bao tác giả sau này” [68]
Cũng là sách giáo khoa dành cho học sinh trung học, cuốn Luận đề về Đông Dương tạp chí xuất bản năm 1961 của nhóm tác giả Nguyễn Duy Diễn, Bằng Phong
đã đưa ra những lời nhận xét rất trân trọng về Nguyễn Văn Vĩnh cũng như tờ Đông Dương tạp chí mà ông chủ trì: “ Do tình trạng thiếu lối thoát của nền văn học và báo chí nước nhà vào tiền bán thế kỷ thứ 20 mà Đông Dương tạp chí xuất hiện với
mục đích xây dựng, phổ biến chữ quốc ngữ, làm giàu cho nền văn học nước nhà bằng đường lối dung hòa cũ mới và nâng cao báo chí lên xứng đáng với địa vị lãnh đạo tinh thần trong quần chúng Vì trung thành với đường lối và vì đóng góp bằng
những công việc cụ thể, hữu ích nên Đông Dương tạp chí không những có công lớn
đối với chữ quốc ngữ, đối với nền học thuật mà còn đối với báo chí nước nhà vào lúc bấy giờ nữa”
Ngoài những cuốn sách giáo khoa, chuyên khảo và lịch sử văn học, còn có
nhiều tạp chí đăng bài bình luận về Nguyễn Văn Vĩnh Tạp chí Bách Khoa thời đại (số 32 – 1958) có bài Nguyễn Văn Vĩnh – người có công to với nền quốc văn lúc mới phôi thai của Tân Phong Hiệp: “Làng văn nước Việt đã trọng ông như một
Trang 13người có công to với quốc văn: lối văn nghị luận nhờ ông phần lớn mà rạch ròi giản
dị, lối văn dịch thuật nhờ ông mà được đồng bào để ý và thêm tin tưởng những cái
«có thể» của tiếng nước nhà Đông Dương tạp chí do ông chủ trương, một cơ quan
văn học có uy thế, lúc quốc văn đang còn ở vào thời lần bước, đã gây dựng được phong trào tin yêu tiếng mẹ trong lớp thanh niên, tân, cựu học bấy giờ”
Trong bài Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh (Tạp chí Giáo dục phổ thông,
số 36, ngày 15-4-1959), Châu Hải Kỳ lưu ý: “Danh tiếng Nguyễn Văn Vĩnh vang
lừng từ khi ông xuất bản Đông Dương tạp chí (từ ngày 15-05-1913) Ông tụ họp được nhiều nhân tài…Tờ Đông Dương tạp chí xứng đáng là cơ quan hoạt động văn
hóa rất danh tiếng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20”
Lưu Trung Khảo, tác giả bài viết Vai trò tạp chí trong văn chương Việt Nam – Đông Dương tạp chí (Tạp chí Hiện đại, tháng 9-1960), có giọng điệu thẳng thắn hơn: “Trên đường xây dựng toà lâu đài quốc văn, Đông Dương tạp chí đã góp
vào một số lớn vật liệu Mặc dù tờ tạp chí đó hãy còn mắc phải nhiều khiếm khuyết nhưng không ai có thể phủ nhận được vai trò lãnh đạo tiên phong của nó Nếu người
ta có vì những tức khí nhất thời mà chê Nguyễn Văn Vĩnh là một nhà buôn, một tay sai của Pháp, một học phiệt, thì chúng ta đứng trên phương diện văn học, vô tư và khách quan, có thể nói: Nguyễn Văn Vĩnh là tên lính tiền phong trong đội quân báo
chí; Đông Dương tạp chí chính là viên gạch xây nền đắp móng cho lâu đài quốc học
Việt Nam”
Trong bài viết Nguyễn Văn Vĩnh với Đông Dương tạp chí đăng trên tạp chí Giáo dục phổ thông số 25 ngày 15 tháng 10 năm 1958, Kiêm Đạt nhận xét: “Cùng với Nam phong tạp chí, tờ Đông Dương cố gắng phát huy tư tưởng ngoại quốc trên
cơ sở dân tộc, để tiếp cái công trình đồ sộ của vị tiên phong đó là Trương Vĩnh
Ký… Cũng như nhóm Nam Phong, họ gặp nhau trên cương lĩnh rất rộng rãi là phát
huy văn học nước nhà, không phải chi phối nhau về đường chánh trị mà tùy theo khả năng, tùy theo tư tưởng riêng mỗi người phô diễn mỗi cách, chỉ nhìn chung vào mục tiêu cao cả của công trình xây dựng”
Trang 14Thiếu Sơn trong bài Ông Phan Khôi đã phê bình ông Nguyễn Văn Vĩnh như thế nào cũng đã đánh giá rất cao vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí đối với sự phát triển của chữ quốc ngữ: “Cái chánh mà ta cần phải gọi ra là một
tấm lòng tin tưởng vô biên đối với tiền đồ chữ quốc ngữ Chẳng những tin tưởng mà còn đem tất cả tài trí, cả năng lực để phục vụ cho tấm lòng tin tưởng đó Ta phải so sánh chữ quốc ngữ của ta thời đó với chữ quốc ngữ hồi Trương Vĩnh Ký, Huỳnh
Tịnh Của Rồi ta lại kiếm những liên quan giữa thời đại Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí với thời đại 1930-1940, thời đại khá gọi là phồn thịnh của văn
học Việt Nam thì ta mới thấy cái trớn thúc đẩy mãnh liệt như thế nào của những bậc tiên phong tiền bối, của những người ngay lúc đó đã dám tuyên bố rằng: “Nước ta sau này hay dở là nhờ ở chữ quốc ngữ”.3
Ở miền Nam, người phê phán Nguyễn Văn Vĩnh cũng như Phạm Quỳnh gay
gắt và quyết liệt nhất chính là Nguyễn Văn Trung Trong Chữ, văn quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc (Tủ sách “Tìm về dân tộc”), ông xem Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm
Quỳnh là “những kẻ thông minh, tài giỏi nhưng đầu hàng thực dân” Ông viết:
“Không phải ngẫu nhiên con đường cứu nước bằng tiếng nói, chữ viết do những người như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh tung ra cổ võ mà không phải ai khác, vì chủ nghĩa quốc gia bằng ngôn ngữ, văn tự xuất phát từ một lựa chọn chính trị căn bản: đầu hàng, thỏa hiệp với chế độ thuộc địa và nhằm che giấu lựa chọn chính trị căn bản đó [ ] Từ một điểm đúng: tiếng nói, chữ viết là một công cụ cứu nước,
Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh đã nhập nhằng coi chữ viết, tiếng nói như tất cả
đường lối, phương tiện duy nhất cứu nước và xây dựng tương lai dân tộc ”
Trong Chủ đích Nam Phong, trước khi vạch trần quan điểm của Phạm
Quỳnh, Nguyễn Văn Trung không quên chỉ rõ những sai lầm của Nguyễn Văn
Vĩnh thể hiện qua các bài viết trên Đông Dương tạp chí: “Nguyễn Văn Vĩnh có thể
là một nhà báo giỏi, nhưng lại rất vụng về chính trị, không những không tranh thủ được ai, đặc biệt giới sĩ phu, mà còn gây thêm đố kỵ, hận thù; Vĩnh tuyên truyền đề
3 Tạp chí Bách Khoa 1961
Trang 15cao thực dân Pháp một cách quá lộ liễu, “gia nô”, và mạt sát nhà nho, giới sĩ phu thậm tệ, đặc biệt những người làm cách mạng”
Một số nhà nghiên cứu đánh giá Đông Dương tạp chí là công cụ chính trị -
văn hóa của thực dân Pháp, nhưng có đóng góp cho văn hóa, văn học:
Lê Văn Siêu trong công trình Văn học sử thời kháng Pháp (1858-1945) 4chỉ
ra cả mặt sáng và mặt tối của Nguyễn Văn Vĩnh và các bài viết trên Đông Dương tạp chí Một mặt, Lê Văn Siêu thừa nhận, về sự nghiệp văn chương, Nguyễn Văn
Vĩnh là “người có công lớn và đầu tiên trong việc xây dựng nền văn chương Việt Nam bằng chữ quốc ngữ Với thái độ sống và thế đứng trong xã hội, ông thu hút được người đồng thế hệ cùng đem văn tài ra cộng tác với ông trong việc xây dựng này [ ] Trong khi ông sửa soạn người cho bước tiến tương lai như Phạm Quỳnh, Tản Đà, thì bằng các thể văn, các bài viết, ông cũng tạo ra những mẫu mực văn chương cho đời sau học theo, cùng nương theo đấy mà tiến hơn nữa”
Mặt khác, Lê Văn Siêu phê phán khá nghiêm khắc những hạn chế của Nguyễn Văn Vĩnh Về các công trình dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh, Lê Văn Siêu viết: “ Mục đích việc dịch thuật, đăng dần trên báo, ngoài lối chơi văn cũng chỉ
là để giải trí cho độc giả, không phải cách khiến cho độc giả hiểu biết tường tận về nền văn chương tư tưởng của nước Pháp Việc dịch lại tuỳ hứng, gặp quyển nào hay
dễ dịch thì dịch, chớ không theo một chương trình nào cả Tức là ý thức truyền bá
tư tưởng theo đường hướng kế hoạch nào, ông cũng chưa có”
Về ý thức canh tân trong những bài văn chính luận của Nguyễn Văn Vĩnh, Lê Văn Siêu nhận xét: “Ông viết trên báo đả kích những điều hủ lậu, tệ tục ở làng xã, hoặc mê tín dị đoan trong hội chùa Hương, hoặc những thói hư tật xấu của người
An Nam, những lối học hủ bại cũ Những đó chỉ là những ý kiến bất chợt tới cho nhà viết báo, ông thực chưa có ý thức về canh tân xã hội để trình bày những kế hoạch bắt đầu từ đâu, rồi đi tới đâu, theo đường lối nào Mà thường ông chỉ lấy đời sống của người Pháp làm mẫu mực để chê trách những gì còn luộm thuộm của
4 Nxb Trí Đăng, Sài Gòn
Trang 16mình” Về điểm này, không phải Lê Văn Siêu không có lý, nhưng phải chăng ông đòi hỏi quá cao ở Nguyễn Văn Vĩnh trong một hoàn cảnh lịch sử còn nhiều khó khăn và hạn chế
2.1.3 Từ sau năm 1975
Sau 1975, tuy đất nước đã hoàn toàn thống nhất nhưng không phải ngay thời gian đầu, không khí học thuật đã hoàn toàn cởi mở Việc đánh giá các tác giả, tác
phẩm vẫn còn nặng định kiến, chủ yếu dựa trên thái độ chính trị
Cuốn Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930 do nhà xuất bản Đại
học và Giáo dục chuyên nghiệp ấn hành năm 1988, có đoạn viết: “Trước sau đại chiến 1914 - 1918 thực dân Pháp cho bọn tay sai Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh
ra Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, loại sách Âu tây tư tưởng vừa tuyên
truyền cho văn học Pháp vừa đề xướng một tư tưởng yêu nước duy tân giả hiệu, đánh lạc hướng quần chúng Nhiều nhà văn, nhà báo, nhà thơ tập hợp lại quanh các
tờ báo ấy làm thơ, viết tuồng chèo, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch Một số ra mở báo
riêng, lập nhà xuất bản riêng độc lập với bọn Quỳnh, Vĩnh như Tản Đà”
Sau đổi mới, tình hình lý luận phê bình văn học trong nước đã có những chuyển biến đáng kể Nhiều hiện tượng văn học, văn hóa trước đây bị đánh giá sai lệch đã được nhìn nhận lại
Công trình Lịch sử báo chí Việt Nam 1865 -1945 do Đỗ Quang Hưng chủ biên đã nhận xét về Đông Dương tạp chí khá cô đọng: “Đông Dương tạp chí suốt
những năm chiến tranh thế giới thứ nhất thực sự là tờ báo quan trọng bậc nhất của giới thực dân Nhưng cũng cần lưu ý là tờ báo này với nghệ thuật báo chí tiên tiến của nó còn là cơ quan báo chí đi đầu trong việc truyền bá văn minh phương Tây, phê bình lối sống phong kiến, các hủ tục xa xưa còn rơi rớt ” [36]
Trong Từ điển văn học bộ mới (2004), tác giả Nguyễn Huệ Chi phân tích khá
thấu đáo sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh để đi đến kết luận: “Nguyễn Văn Vĩnh trước sau vẫn là người do chế độ thực dân Pháp đào tạo Ông chưa bao giờ đi ra ngoài cơ chế thuộc địa Nhưng trong phạm vi có thể, ông đã gắng noi theo đường lối của Phan Châu Trinh, phê phán thẳng thừng chế độ phong kiến, kêu gọi người
Trang 17Việt thực hành kỹ nghệ và thương mại, mong đưa đất nước đến chỗ phú cường [ ]
Về mặt văn học, tờ Đông Dương tạp chí do ông làm chủ bút và nhất là những tác
phẩm dịch của ông một thời đã là lò đào luyện lớp thanh niên tân học để xây dựng nền văn học mới trước sau những năm 30 của thế kỷ XX”
Năm 2009, luận văn thạc sĩ ngành Văn học của Tạ Anh Thư với đề tài “Sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh và lịch sử tiếp nhận các tác phẩm của ông”
tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ
Chí Minh đã bước đầu nghiên cứu những đóng góp về mặt văn học của Đông Dương tạp chí qua việc khẳng định sự nghiệp văn học của chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh với các tác phẩm của ông đã đăng trên Đông Dương tạp chí
Năm 2010, công trình dự thi giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học”
của Nguyễn Thị Thanh Loan với đề tài Cuộc vận động đổi mới văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX qua Đông Dương tạp chí đã cố gắng phác thảo những đóng góp của Đông Dương tạp chí đối với tiến trình đổi mới văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, cung cấp một số dẫn chứng mới làm rõ cho những nhận định về Đông Dương tạp chí trước kia
Gần đây, công trình nghiên cứu một cách có hệ thống hơn về Đông Dương tạp chí phải kể đến Luận văn Thạc sĩ Văn học của Hoàng Thị Cương, Trường Đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, Đại học quốc gia, tháng 1 năm 2012 với
tựa đề Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện đại hóa Văn học Việt Nam đầu thế
kỷ XX Trong công trình này, tác giả đã trình bày vai trò của báo chí đối với quá
trình hiện đại hóa văn học dân tộc cũng như tiền đề, tôn chỉ mục đích và sơ bộ hệ
thống chuyên mục của Đông Dương tạp chí Bên cạnh đó, vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh, chủ bút Đông Dương tạp chí cũng được nhắc đến Mặc dù đã cố gắng trình bày vai trò của Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện đại hóa Văn học Việt Nam
đầu thế kỷ XX ở hai phương diện góp phần xây dựng “chất liệu nền” cho văn học hiện đại - văn chương quốc ngữ và sưu tầm, dịch thuật, đăng tải các bài viết tư tưởng học thuật phương Tây, nhiều tác phẩm văn chương tiếng Pháp, chữ Hán, Nôm, chữ Trung Quốc nhưng luận văn mới chỉ dừng lại ở những đánh giá bước
Trang 18đầu, chủ yếu dẫn lại ý kiến của các nhà nghiên cứu về những đóng góp của tờ báo đối với tiến trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc; chưa chỉ ra một cách hệ thống
và thuyết phục những đóng góp của Đông Dương tạp chí đối với quá trình hiện đại
hóa nền văn học, văn hóa nước nhà trong giai đoạn đầu thế kỉ 20
2.2 Ở nước ngoài
Một trong những công trình nghiên cứu về Đông Dương tạp chí một cách
toàn diện phải kể đến Luận án Tiến sĩ (Thèse de doctorat) của Emmanuelle Affidi
với tựa đề Ðông Dương tạp chí (1913-1919), une tentative de diffusion du discours et de la science de l’Occident au Tonkin: l’interculturalité, un enjeu colonial entre savoir et pouvoir (1906-1936) (Đông Dương tạp chí (1913-1919),
một nỗ lực truyền bá tư tưởng và khoa học phương ở Tây Bắc Kỳ: giao thoa văn hóa, chính sách thực dân giữa kiến thức và quyền lực (1906-1936))
Luận án dài 820 trang, viết bằng tiếng Pháp, hoàn thành năm 2007, trong đó khẳng định:
Au début du XX e siècle, dans le sillage du Japon et de la Chine, les élites vietnamiennes tentent d’accéder aux outils de la modernité
se libérer du colonisateur européen Dans ce contexte, la revue ÐôngDương Tạp Chí (Tonkin,1913-1919) se présente comme une tentative remarquable visant à
méthodes et techniques), en s’attachant notamment à
sphère de pensée dans laquelle cette science s’inscrit, au travers de traductions ciblées (littérature, philosophie, morale)
Fondée par l’éditeur français F.-H Schneider avec l’appui du Gouverneur Général Sarraut, et dirigée par le journaliste et traducteur vietnamien Nguyễn Văn Vĩnh, cette revue en quốcngữ (écriture romanisée de la langue vietnamienne) était un creuset d’aspirations différentes, mais qui s’accordaient autour d’une même idée: pour les Vietnamiens, la présence française en Indochine pouvait être une opportunité
Trang 19plus facilement et de façon directe la science occidentale si convoitée; la France républicaine pouvait même servir de modèle à
d’identité, depuis que le modèle chinois avait montré
Cette thèse présente les travaux de cette revue et leurs résultats, sachant que Ðông Dương Tạp Chí n’était pas un électron libre, mais bien l’émanation d’un courant de pensée plus large, se frayant un chemin entre savoir et pouvoir dans le Việt Nam des premières années du XX e siècle (1906-1936) Vào đầu thế kỷ XX, trước sự chuyển mình của Trung Hoa và Nhật Bản, các nhà trí thức Việt Nam cố gắng tiếp cận các công cụ tân tiến của phương Tây hòng thoát khỏi ách đô hộ của người Châu Âu Trong bối cảnh ấy, Đông Dương tạp chí (1913-1919) xuất hiện như một nỗ lực tuyệt vời nhằm khai tâm người Việt đối với nền khoa học phương Tây (kiến thức, kỹ thuật và phương pháp), nhất là nhắm tới việc độc giả Việt làm quen với thế giới tư tưởng mà nền khoa học kể trên đã nảy sinh, thông qua việc dịch thuật chọn lọc (văn học, triết học, đạo đức)
Được sáng lập bởi nhà xuất bản Pháp F-H Schneider với sự hỗ trợ của Thống Đốc Toàn Quyền Sarraut, và do nhà báo dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh điều hành, tờ báo quốc ngữ này xuất hiện với nhiều khuynh hướng và lý do khác nhau, nhưng tất cả đều xoay quanh một ý chính: đối với người Việt, sự hiện diện của người Pháp tại Đông Dương có thể là cơ hội để tiếp thu dễ dàng và trực tiếp nền khoa học tiên tiến phương Tây; Cộng hoà Pháp cũng
có thể là một mô hình cho một Việt Nam đang trong quá trình tìm một sắc thái chính trị mới cho mình, kể từ khi mô hình cổ điển Trung Hoa tỏ ra lỗi thời
Luận án này trình bày những nghiên cứu về Đông Dương tạp chí và những kết quả góp nhặt được, và Đông Dương tạp chí không phải là một công trình
vô bổ, mà chính là sự khai sáng cho một trào lưu tư tưởng rộng lớn hơn,
Trang 20vạch ra một lộ trình giữa kiến thức và quyền lực trong một Việt Nam của những năm đầu thế kỷ XX (1906-1936)
Như vậy, lĩnh vực mà Emmanuelle Affidi quan tâm là ảnh hưởng của xu hướng chính trị tới sự phát triển nội dung của tờ báo và vai trò của Đông Dương tạp chí đối với công cuộc tiếp thu nền khoa học tiên tiến của phương Tây tại Việt Nam đầu thế kỉ XX Đóng góp của Đông Dương tạp chí đối với quá trình đổi mới văn học, văn hóa Việt Nam không phải là mục tiêu chính của luận án Tiếc rằng ngoài bản tóm tắt, chúng tôi chưa tiếp cận được với công trình này để tìm hiểu sâu hơn về
đề tài từ cái nhìn của một nhà nghiên cứu phương Tây Chúng tôi hy vọng rằng luận
án này sẽ là một trong những công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu một cách
hệ thống về những đóng góp của Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện đại hóa văn học, văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ XX
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những đóng góp của Đông Dương tạp chí
vào quá trình hiện đại hoá của văn hoá và văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Tiêu điểm mà luận án tập trung là vấn đề hiện đại hoá trong giai đoạn chuyển tiếp từ phạm trù văn học cổ điển sang phạm trù văn học hiện đại
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là toàn bộ nội dung của Đông Dương tạp chí có liên quan đến vấn đề hiện đại hoá, hoạt động của những người làm báo Đông
Dương tạp chí nhằm tác động vào quá trình này Cụ thể qua các số báo:
- Năm 1913 và 1914: giai đoạn đầu của ấn bản Đông Dương tạp chí từ số 01
ngày 15/05/1913 đến 31/12/1914), (Thư viện Khoa học tổng hợp TP HCM Micro film mã số MF 11845 của dự án SEAM)5
- 1915: từ số 01 ngày 10/01 tới số 50 ngày 26 /12 (Viện thông tin Khoa học
Trang 21- Năm 1917: từ số 103 đến 125, 135 tới 154 (Viện thông tin Khoa học xã hội,
số hiệu Q8142)6
- Năm 1918, bị thiếu số 168 của tháng 4 cho đến số 185 của tháng 8 (Thư viện Khoa học tổng hợp TP HCM)7
- Năm 1919: chúng tôi chỉ có số 212
Ngoài ra, luận án cũng tìm hiểu ảnh hưởng của Đông Dương tạp chí vào lúc đương
thời cũng như vào giai đoạn sau thông qua những hiện tượng văn hoá, văn học khác
4 Đóng góp mới của luận án
Bằng việc đánh giá đúng hiện tượng Đông Dương tạp chí, luận án góp phần giải
thích sự phản ứng tự nhiên của một bộ phận văn hóa, văn học bản địa và của một bộ phận con người bản địa trước sự ảnh hưởng của văn học thế giới qua con đường xâm lược của chủ nghĩa thực dân
6 Những số báo của 1917 dưới dạng vi phim bao gồm những số 109, 114 đến 124; 126, 128 đến 132, 134 không có phần về văn học Tuy nhiên, phần này lại có ở các số báo dạng giấy mà chúng tôi đã được truy cập
ở thư viện Khoa học xã hội Hà Nội
7 Phần văn học mặc dù được nêu rõ trong mục lục của từng số báo nhưng lại bị thiếu trong đa số các số báo của năm 1917 và 1918 Các số báo năm 1918 dưới dạng giấy hay Microfilm (Thư viện Khoa học hơp của TPHCM) đều không có mục “văn học” Rất có thể phần văn học đã bị tách rời ra trước khi số báo này được đưa đến thư viện (tuy nhiên, không có dấu vết cho thấy rằng những trang của mục văn học đã bị xé)
Trang 225 Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này, người viết kết hợp nhiều phương pháp khác nhau
+ Phương pháp lịch sử: người viết sẽ đặt Đông Dương tạp chí vào bối cảnh xã hội
Việt Nam thuộc địa đầu thế kỷ và quá trình phát triển của báo chí quốc ngữ để vận
dụng để nghiên cứu, lý giải hoàn cảnh ra đời và hoạt động của Đông Đương tạp chí
6 Cấu trúc luận án
Luận án gồm 195 trang Ngoài phần Dẫn nhập (18 trang), Kết luận (4 trang) và Thư mục (248 đề mục), luận án được triển khai thành 3 chương:
CHƯƠNG 1: Sự ra đời và hoạt động của Đông Dương tạp chí (53 trang)
Ở chương này, người viết sẽ trình bày bối cảnh xã hội Việt Nam và tầng lớp
trí thức đầu thế kỷ XX, tiền đề đưa đến sự ra rời của Đông Dương tạp chí và đồng
thời cũng là yếu tố chi phối sự biến chuyển về mặt nội dung của tờ báo qua từng
giai đoạn phát triển Sau đó, người viết sẽ đề cập tới những đặc điểm của Đông Dương tạp chí về mặt chủ trương và đội ngũ cũng như những chặng đường hoạt
động của tờ báo
CHƯƠNG 2: Những đóng góp của Đông Dương tạp chí trong quá trình hiện
đại hoá văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX (67 trang)
Ở chương này, người viết giới thiệu những ảnh hưởng của Đông Dương tạp chí
với sự phát triển của chữ quốc ngữ - ngôn ngữ văn học của dân tộc Sau đó, chúng
tôi sẽ trình bày vấn đề Đông Dương tạp chí và sự tiếp thu tinh hoa văn học thế giới, thể hiện qua mảng dịch thuật của tờ báo Bên cạnh đó, vai trò của Đông Dương tạp
Trang 23chí và sự phát triển các thể loại văn học mới (thơ, tiểu thuyết, kịch) cũng là đối
tượng được đánh giá trong chương mục này
CHƯƠNG 3: Những đóng góp của Đông Dương tạp chí trong quá trình hiện
đại hoá văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ XX (53 trang)
Trong chương này, chúng tôi cố gắng làm rõ những đóng góp của Đông Dương tạp chí trong vấn đề canh tân giáo dục; vấn đề đổi mới phong tục, tập quán;
và vấn đề nữ quyền Những đóng góp này đã tạo nên những tác động tích cực đến quá trình hiện đại hóa văn hóa dân tộc đầu thế kỷ XX
Trang 24CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
Từ hoà ước Nhâm Tuất 1862 giao ba tỉnh miền Đông rồi ba tỉnh miền Tây cho thực dân Pháp cho đến hoà ước Giáp Thân 1884 (Hòa ước Patenôtres, Pháp đã hoàn thành việc xâm chiếm Việt Nam bằng quân sự Một đất nước chia thành ba khu vực với ba chế độ cai trị khác nhau: thuộc địa ở Nam Kỳ, bảo hộ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ thuộc sự cai trị của Triều Nguyễn song do khâm sứ Pháp điều khiển Nếu
ở Nam kỳ dân chúng có ít nhiều quyền tự do, dân chủ, thì ở Bắc và Trung Kỳ, ách kìm kẹp của Pháp ngày càng siết chặt Những cuộc nổi dậy và phản kháng của nhân dân liên tiếp nổ ra, tiêu biểu là phong trào Cần Vương, phong trào Duy Tân, cuộc binh biến ở Thái Nguyên, cuộc dân biến ở Trung Kỳ, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh…; nhưng tất cả đều bị dìm trong biển máu Từ năm 1897 đến năm 1914 Pháp thực hiện đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất và đến năm 1919, chúng bắt đầu đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1939) Những cơ sở đầu tiên của kinh tế tư sản bắt đầu phát triển trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ
Trang 25Khi chiếm trọn được sáu tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp đã mưu toan thay đổi toàn bộ nền giáo dục Việt Nam Một số trường công lập thuộc thẩm quyền thị chính được khai sinh ngay tại Sài Gòn
Để thay đổi nền giáo dục cổ truyền vốn chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa, thực dân Pháp bắt đầu đưa chữ quốc ngữ vào dạy trong trường học Ban đầu là những biện pháp khuyến khích, chẳng hạn như cho phép “mỗi làng, thị trấn của tổng không có trường Pháp sẽ thiết lập một trường dạy quốc ngữ” hay “những làng nhỏ có một trường dạy quốc ngữ sẽ được miễn mọi thuế đóng góp cho trường hàng tổng” theo Nghị định 14.06.1880 Nhiều làng phải thuê người đi học cho đủ số lượng [86] Về sau, các biện pháp mạnh hơn được áp dụng để cưỡng chế học sinh đi học Nghị định 17.03.1879 về việc tổ chức nền học chánh mới ở Nam Kỳ đã ban hành chương trình giáo dục Pháp – Việt ở Nam Bộ Theo đó, chương trình Tiểu học (ba năm) có dạy quốc ngữ, chương trình cấp 2 (ba năm) học cả chữ Nho và quốc ngữ), chương trình cấp 3 (4 năm) dạy các văn thư, khế ước thông dụng, sử địa An Nam mỗi tuần [86]
Các kì thi theo kiểu cổ truyền cũng bị xoá bỏ Trường hậu bổ được thành lập
để đào tạo những người làm quan cho Pháp Nhiều học sinh, đặc biệt là các học sinh công giáo được cử đi du học ở Pháp và các nước thuộc địa của Pháp Số lượng học sinh được học chương trình của Pháp tăng lên ngày càng đông khi hệ thống trường Pháp -Việt được mở rộng tại Sài Gòn và một số thành phố, tỉnh lỵ lớn khác
Sự thay đổi hình thức và nội dung giáo dục đã tạo ra một tầng lớp trí thức mới cho xã hội – tầng lớp trí thức Tây học Chính tầng lớp này đã hình thành nên một đội ngũ sáng tác, một tầng lớp công chúng mới ở thành thị, tác động trực tiếp tới sự hình hành và phát triển nền văn học chữ quốc ngữ ở Nam Bộ - cái nôi của báo chí quốc ngữ cả nước
Bên cạnh đó, việc bắt buộc sử dụng chữ quốc ngữ trong tất cả các văn bản hành chính và các lĩnh vực khác cũng góp phần đẩy mạnh sự chuyển biến mạnh mẽ
về văn hoá xã hội của Việt Nam đầu thế kỷ XX Đây là một trong những biểu hiện
Trang 26rõ rệt nhất của việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng của văn hoá phương Tây ở Việt Nam
Chữ quốc ngữ là loại chữ mà các giáo sĩ phương Tây hình thành bằng cách
sử dụng bộ chữ cái la-tinh quen thuộc có bổ sung thêm các dấu phụ (mà một số ngôn ngữ phương Tây như chữ Bồ Đào Nha đã từng làm) để ghi âm tiếng Việt
Khi nói đến sự hình thành và phát triển của chữ quốc ngữ ở Việt Nam, nhiều người cho rằng linh mục Alexandre de Rhodes, đôi khi được gọi theo tên đã Việt hoá là Đắc Lộ, là người đầu tiên đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ Năm 1651, linh mục Alexandre de Rhodes đã biên soạn và cho in ở nhà in của Giáo hội La Mã tại Roma (Ý) cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium annamiticum, lusitanum et latinum)
Cũng trong năm này, ông cho in cuốn sách giảng đạo nhan đề là Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức chúa Trời, cuốn sách
đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ [5]
Tuy nhiên, sự thật thì các giáo sĩ phương Tây đã tới Việt Nam và bước đầu đặt nền móng cho việc hình thành chữ quốc ngữ từ trước đó Tháng 10-1629, một linh mục người Bồ Đào Nha là Gaspar d’Amaral lần đầu tiên tới Đàng Ngoài cùng với một người Nhật Bản là thầy Paulus Saito Trong thời gian ở Việt Nam, linh mục Gaspar d’Amaral đã đi sâu nghiên cứu và học rất nhanh chữ quốc ngữ, khi ấy mới ở dạng phôi thai, còn hết sức sơ khai Ông đã để lại hai tài liệu viết tay vào các năm
1632 và 1637, trong đó ghi lại hàng loạt chữ quốc ngữ Sau đó, ông bắt tay vào soạn
cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Diccionário anamita-português-latinum) nhưng tiếc thay
cuốn từ điển chưa kịp ấn hành thì ông đã qua đời trên đường từ Ma Cao quay trở lại Đàng Ngoài để tiếp tục truyền giáo (23-12-1645) do tàu chở ông bị đắm Cuốn từ điển mà linh mục Gaspar d’Amaral đang soạn dở dang đã bị thất lạc [8]
Một linh mục Dòng Tên thứ hai người Bồ Đào Nha cũng có những đóng góp
ở bước sơ khởi trong việc hình thành chữ quốc ngữ tại Việt Nam là linh mục
Antonio Barbosa Ông đã soạn thảo một cuốn Từ điển Bồ-Việt (Diccionário
português-anamita), từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Việt, có lẽ trong thời gian 6 năm ở Đàng Ngoài Nhưng cũng giống như số phận cuốn từ điển soạn dở của linh
Trang 27mục Gaspar d’Amaral, cuốn tự điển của linh mục Antonio Barbosa cũng bị “mất tích” và không ai biết được là nó đã bị huỷ hoại hay thất lạc đâu đó [8, 67]
Chính dựa trên những cuốn từ điển (sau bị thất lạc) này mà linh mục
Alexandre de Rhodes đã soạn ra cuốn Từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651 và được coi
như là người có công sáng tạo ra chữ quốc ngữ Công lao lớn của Alexandre de Rhodes là ở chỗ ông đã dựa trên thành quả của những người đi trước để trở thành người soạn thảo và cho in thành sách những công trình đầu tiên về chữ quốc ngữ ở Việt Nam
Ngoài ra, trong sự hình thành chữ quốc ngữ, bên cạnh những nỗ lực cá nhân của Alexandre de Rhodes, còn có sự đóng góp của nhiều người khác nữa, trong đó không loại trừ có cả những người Việt Nam
Mặc dù đã có những công trình như thế nhưng chữ quốc ngữ vẫn không được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, đặc biệt là trong quảng đại dân chúng Trong suốt hơn 200 năm sau đó, chữ quốc ngữ chỉ được sử dụng ở một phạm vi hẹp trong khuôn khổ nhà thờ Thiên Chúa giáo để phục vụ cho mục đích truyền đạo của các giáo sỹ như dịch Kinh thánh, soạn các sách truyền đạo
Trong suốt thời gian đó, một số giáo sĩ phương Tây đã nỗ lực nhằm hoàn thiện dạng thức chữ quốc ngữ sơ khai mà Alexandre de Rhodes đã tạo ra Điển hình trong số đó là những sửa đổi của Đức Giám mục Pierre Joseph Georges Pigneaux
de Béhaine, thường được biết đến ở Việt Nam dưới tên gọi Bá Đa Lộc Giám mục
Bá Đa Lộc là người đã khởi soạn Từ điển An nam-Latinh (1772-1773) Công trình đang còn dở dang thì được cố đạo Tabert tiếp nối Tới năm 1838, cha Tabert đã cho
in tại Serampur, Ấn Độ, cuốn Từ điển Việt-Latinh (Dictionarium
annamitico-latinum) có ghi thêm chữ Nôm bên cạnh chữ quốc ngữ (cuốn từ điển này thường
được biết tới dưới tên gọi là Từ điển Tabert) Trừ một số trường hợp cá biệt, chữ quốc ngữ trong Từ điển Tabert về cơ bản đã có dạng thức như ngày nay
Sau khi Pháp đã hoàn thành việc chiếm đóng và trực tiếp cai trị Nam Kỳ từ năm 1867, chính quyền cai trị đã đẩy mạnh việc dạy học tiếng Pháp và chữ quốc ngữ Một số học giả, nhà bác học thời bấy giờ, chủ yếu ở Nam Kỳ, như Trương
Trang 28Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của cũng đã có nhiều công trình nhằm phổ biến và truyền bá chữ quốc ngữ trong dân chúng trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Người đi tiên phong trong việc xây dựng và truyền bá chữ quốc ngữ, đặc biệt
ở Nam Kỳ, là Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký vốn họ tên là Trương Chánh Ký, tên thánh là Pétrus Jean Baptiste, sau đổi là Trương Vĩnh Ký, gọi tắt là Pétrus Ký Trong lĩnh vực phát triển chữ quốc ngữ, Trương Vĩnh Ký là tác gia đầu tiên và lớn nhất của văn học chữ quốc ngữ Việt Nam cuối thế kỷ XIX Ông là người Việt Nam đầu tiên cho in sách bằng chữ quốc ngữ (1866), viết du ký bằng chữ quốc ngữ, phiên âm ra chữ quốc ngữ các tác phẩm chữ Nôm và chữ Hán; là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam và ngữ pháp tiếng Việt bằng tiếng Pháp; là soạn giả Việt Nam đầu tiên làm từ điển đối dịch Pháp-Việt, Hán-Việt-Pháp; là nhà báo người Việt đầu tiên làm chủ bút một tờ
báo (tờ Gia Định báo, từ 1869, sau E.Potteaux, trước Huỳnh Tịnh Của) và ra nguyệt san (tờ Thông loại khoá trình, 1888-1889, với tư cách tư nhân)
Một học giả khác cũng có công trong việc phát triển chữ quốc ngữ buổi ban đầu là Huỳnh Tịnh Của, thường gọi là Paulus Của, có thời gian ngắn làm chủ bút tờ
Gia Định báo sau Trương Vĩnh Ký Công trình lớn nhất của ông là Đại Nam quấc (quốc) âm tự vị Đây là bộ từ điển tường giải đầu tiên về tiếng Việt do một tác giả
người Việt biên soạn theo phương pháp học thuật Âu Tây, thu thập được một vốn từ khá lớn của tiếng Việt trên phạm vi cả nước [5, 173-174]
Quá trình đấu tranh giằng co giữa chữ Hán với chữ quốc ngữ kéo dài sang đến thời kỳ đầu thế kỷ XX với sự thắng thế dần dần của chữ quốc ngữ Năm 1915, vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi hương, hội, đình ở Bắc Kỳ Năm 1918, vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ và đến năm 1919 thì bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Pháp-Việt Ngày 18-9-1924, toàn quyền Đông Dương Merlin đã ký quyết định đưa chữ quốc ngữ vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học [8]
Như vậy là sau gần ba thế kỷ từ khi cuốn từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre
de Rhodes ra đời và hơn nửa thế kỷ sau khi Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược
Trang 29Việt Nam, người Việt Nam đã chính thức đoạn tuyệt với chữ Hán của người Trung Hoa và chữ Nôm để hoàn toàn chuyển sang dùng chữ quốc ngữ
Một biểu hiện khác nữa của việc mở rộng ảnh hưởng văn hoá phương Tây tại
Việt Nam, tạo tiền đề cho sự ra đời của Đông Dương tạp chí chính là sự ra đời phát
triển của báo chí quốc ngữ đầu thế kỉ XX, khởi nguồn từ Nam Bộ
Năm 1865, vẫn đang còn trong quá trình thôn tính Nam Kỳ, thực dân Pháp
đã cho xuất bản tờ Gia Định báo bằng chữ quốc ngữ.
Gia Định báo phát hành số đầu tiên vào ngày 15- 04 - 1865, do một người Pháp tên là Ernest Potteaux, một viên thông ngôn làm việc tại Soái phủ Nam Kỳ
làm chánh tổng tài (một chức danh được hiểu là chủ nhiệm kiêm chủ bút) tới năm
1869 thì chuyển sang cho Trương Vĩnh Ký làm chủ bút (cho tới ngày
31-12-1871).[84] Tờ báo tồn tại đến ngày 31 tháng 12 năm 1909 (44 năm) và chính thức
đình bản vào 01 tháng 01 năm 1910
Xét về mặt thông tin, Gia Định báo thực chất là một tờ công báo của chính
quyền nhằm phổ biến các văn kiện chính thức của chính quyền xâm lược trong dân
chúng Việt Nam, đồng thời góp phần truyền bá chữ quốc ngữ Khi cho ra đời tờ Gia Định báo, chính quyền cai trị thực dân muốn thông qua đây để truyền bá những tư
tưởng, văn hoá, thành tựu công nghệ của Pháp, đồng thời cũng qua việc thúc đẩy học chữ quốc ngữ để đầy lùi ảnh hưởng của Nho giáo thông qua chữ Hán 8
Với mục đích như vậy, thời gian đầu Gia Định báo chỉ phổ biến về các vấn
đề chính trị, pháp lý, công quyền, đăng các công văn, nghị định, thông tư, đạo dụ của chính quyền, các tin tức địa phương trên các lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, văn hóa
- xã hội
Năm 1869, khi Trương Vĩnh Ký tiếp quản tờ báo với vai trò giám đốc và bổ
nhiệm Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút, Gia Định báo được thêm các phần khảo cứu,
nghị luận, gồm các bài dịch thuật, sưu tầm, khảo cứu, sáng tác thơ, văn, lịch sử,
truyện cổ tích Trong đó nổi bật là mục Tục ngữ An Nam, đăng làm nhiều kỳ, chủ
8 Mục đích này được thể hiện rõ trong văn thư đề ngày 9-5-1865 của Thống đốc chỉ huy trưởng Nam Kỳ lúc bấy giờ là ông G Roze gửi cho Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp
Trang 30yếu do Paulus Huỳnh Tịnh Của phụ trách, một số truyện viết bằng văn vần dài kỳ
như Nhị thập tứ hiếu diễn ca, Chánh khí ca
Để thúc đẩy việc học chữ quốc ngữ, báo có một số mục do Thế tải Trương Minh Ký (học trò của Trương Vĩnh Ký) phụ trách, trong đó có phân tích khá kỹ càng những mẹo luật trong việc sử dụng chữ quốc ngữ, cách dùng các chữ thế nào cho chính xác
Nhờ công của Trương Vĩnh Ký, Gia Định báo không chỉ làm một tờ công
báo đơn thuần nữa mà trở thành một phương tiện góp phần cổ động việc học chữ
quốc ngữ và lối học mới Gia Định báo dùng rất ít từ Hán Việt nên câu văn như lời
nói, rất dễ đọc Đây là đóng góp rất lớn của tờ báo vào thời điểm bấy giờ, khi chữ quốc ngữ còn mới manh nha được sử dụng trên báo chí như một sự thể nghiệm
Thành công này của Gia Định báo đã mở đường cho các thể loại văn xuôi Việt Nam
in bằng chữ quốc ngữ, đặt nền móng cho sự hình thành báo chí Việt Nam
Bên cạnh Gia Định báo, Trương Vĩnh Ký còn phụ trách tờ Thông loại khoá trình Đây là tờ báo tư nhân đầu tiên và cũng là tạp chí văn học đầu tiên của nước ta Mảng văn học trên Thông loại khoá trình đã dạy cho độc giả của tờ báo (là học sinh
- theo tôn chỉ ghi trên trang bìa) biết chữ nghĩa văn chương và tập viết văn chương
Sau Gia Định báo, năm 1898 Phan Yên báo 9 ra đời, chủ bút là Diệp Văn
Cương Tương tự như Gia Định báo, Phan Yên báo cũng cung cấp các tin địa
phương và thư độc giả bằng chữ quốc ngữ, nhưng do các bài được đăng có tính chính trị nên chỉ sau 7 số báo từ tháng 12 – 1898 đến tháng 2 - 1899, báo bị chính quyền thực dân Pháp cho đóng cửa
Năm 1901, Nông cổ mín đàm, tờ báo kinh tế đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ra
đời theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ban hành tại Sài Gòn
ngày 14 tháng 2 năm 1901 Nông cổ mín đàm có nghĩa là “Trà đàm về chuyện nông
nghiệp và thương nghiệp”, được chú thích bằng tiếng Pháp ngay dưới nhan đề tờ báo: “Causeries sur l’agriculture et le commerce” Số báo đầu tiên phát hành vào
9 Có giai thoại cho rằng, cái tên báo "Phan Yên" là một cách nói lái từ "Phiên An", một cái tên cũ của Gia Định
Trang 31ngày 01- 08- 1901 Chủ nhân của tờ báo là ông Canavaggio, một chủ đồn điền - nhà
buôn người Pháp
Trong suốt 23 năm tồn tại của mình (1901- 1924) Nông cổ mín đàm đã có
những đóng góp to lớn cho phát triển nền báo chí, nền văn học chữ quốc ngữ tại Nam Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung Tờ báo tập trung khá nhiều cái “đầu tiên” thú vị: tờ báo tư nhân đầu tiên; tờ báo kinh tế Việt ngữ đầu tiên; tờ báo đầu tiên đăng tiểu thuyết nhiều kì để thu hút độc giả và đây cũng là tờ báo đầu tiên tổ chức một cuộc thi viết tiểu thuyết quốc ngữ theo lối mới đầu tiên trong lịch sử văn học nước ta Tờ báo đã tập hợp và sản sinh ra những nhà văn tài năng nhất của văn học Nam Bộ thời bấy giờ như Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Trần Chánh Chiếu, Phạm Minh Kiên… Điều đó cho thấy rằng vượt ra khỏi mục đích chính ban
đầu, Nông cổ mín đàm đã trở thành “mảnh đất ươm mầm cho một thể loại văn học
mới phát triển, đơm hoa và kết trái: đó là tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ” [2]
Sáu năm sau khi Nông cổ mín đàm ra đời, Lục tỉnh tân văn xuất bản số đầu
tiên ngày 14- 11-1907 Tờ báo do F.H Schneider – một chủ nhà in người Pháp sáng lập Chủ nhiệm của tờ báo cũng là một người Pháp tên là Pierre Jeantet, chủ bút là Trần Nhật Thăng, biệt hiệu Đông Sơ tức Gilbert Trần Chánh Chiếu10 Báo xuất bản mỗi tuần 3 lần vào các ngày thứ 2, thứ 4 và thứ 6 [74]
Dưới thời của chủ bút Trần Chánh Chiếu, về chính trị, Lục tỉnh tân văn cổ
động công kích chính quyền thuộc địa qua việc đăng nhiều bài có khuynh hướng chống Pháp; về kinh tế, tờ báo kêu gọi đồng bào cạnh tranh với Hoa kiều để giành lấy quyền lợi, góp phần đưa đến phong trào tẩy chay hàng hóa của “các chú” 11
khiến chính quyền Pháp phải ra tay dàn xếp Chính vì xu hướng hoạt động đó, Lục tỉnh tân văn bị nhà cầm quyền chú ý Cuối tháng 10 năm 1908, chủ bút Trần Chánh
Chiếu bị bắt, Lương Khắc Ninh đảm nhận vai trò chủ bút tiếp theo của tờ báo
10 Trần Chánh Chiếu là một đại điền chủ có quốc tịch Pháp Ông là một trí thức yêu nước, một nhà tư sản dân tộc có tinh thần cách mạng, từng bí mật hoạt động với Hoàng thân Cường Để Sau khi sang Hongkong để gặp
Phan Bội Châu, trở về nước, Trần Chánh Chiếu công khai cổ động một phong trào gọi là Cuộc minh tân tại
Nam Kỳ Nhờ hoạt động duy tân hăng hái của ông, có hàng trăm du học sinh là con em của các địa chủ tại Nam Kỳ đã sang Nhật học tập
11 Tiếng thông dụng ở Nam Kỳ, chỉ Hoa Kiều
Trang 32Năm 1921, Schneider bán lại tờ báo cho ông huyện Của, tức tri huyện hàm Nguyễn Văn Của, một nhân vật rất nổi tiếng tại Nam Kỳ thời bấy giờ Đến ngày 03-
10-1921, Lục tỉnh tân văn hợp nhất với Nam Trung nhật báo (số đầu tiên ra ngày 03-10-1921 do Diệp Văn Kỳ làm chủ bút) lấy tên chung là Lục tỉnh tân văn Tờ báo
tiếp tục xuất bản cho đến năm 1944 với rất nhiều chủ bút khác nhau sau Lê Hoằng
Mưu Lục tỉnh tân văn là tờ báo có uy tín bậc nhất vào thời đó Nhiều cây bút của
miền Bắc, miền Trung vào học nghề làm báo tại đây Trong đó có Nguyễn Văn
Vĩnh, Phan Khôi, Trần Huy Liệu, Tản Đà Chính tờ Lục tỉnh tân văn sau này còn
có một ấn bản đặc biệt phát hành ở Bắc Kỳ cũng do Francois Henri Schneider chủ
trương, đó chính là Đông Dương tạp chí
Tuy nhiên, những tờ báo nói trên chưa phải là nhật báo Tờ báo hàng ngày
xuất bản sớm nhất có lẽ là Công Luận báo (1918)12 Công Luận báo đã đóng góp
cho tiểu thuyết Nam Bộ rất nhiều tác phẩm của các tên tuổi như Biến Ngũ Nhi, Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Dương Minh Đạt, Nam Đình Nguyễn Thế Phương, Nguyễn Ý Bửu, Trần Quang Nghiệp, Bửu Đình…
Tại miền Bắc, do những khác biệt về chế độ chính trị, sự đầu tư về mọi mặt của thực dân Pháp muộn hơn, dẫn đến sự ra đời muộn hơn của báo chí quốc ngữ
Năm 1905, Đại Việt tân báo (tên tiếng Pháp là L’Annam), tờ báo tư nhân đầu
tiên in một phần bằng chữ quốc ngữ, một phần chữ Hán xuất hiện ở Hà Nội Chủ báo là ông Ernes Babut (1878-1962), một người Pháp được biết đến trong phong trào đấu tranh đòi dân quyền cho người Việt cùng với những nhà cách mạng Việt Nam dưới thời Pháp thuộc đầu thế kỉ 20 Trụ sở báo đặt ở số 90 phố Hàng Mã với Đào Nguyên Phổ làm chủ bút Tờ báo này đã đăng những bài xã luận đầu tiên của Phan Châu Trinh Sau khi biết đến đường lối tranh đấu ôn hòa của Phan Châu Trinh, Babut liền mời ông về cộng tác Vị chủ bút người Pháp này được cho là có
12 Thực ra, tiền thân của nó – tờ Tân Đợi thời báo do Lucien Héloury sáng lập, Nguyễn Kim Đính làm chủ biên đã xuất bản số đầu tiên vào năm 1916 Lucien Héloury cũng làm chủ nhiệm tờ báo Pháp văn L’Opinion xuất bản từ 1899 đến 1934 Ngày 28 – 09 – 1916 Tân Đợi thời báo đổi tên là Công Luận báo, xuất bản tuần 2 lần Đến 1918 Công Luận báo xuất bản hàng ngày nhưng đây thực chất là ấn bản tiếng Việt của L’Opinion
Trang 33thiện cảm công khai với các nhà ái quốc người Việt và đã dùng Đại Việt tân báo là
cơ quan ngôn luận không chính thức của Đông Kinh nghĩa thục
Trước Đại Việt tân báo có Đại Nam đồng văn nhật báo xuất bản năm 1892,
chủ báo là ông F.C.Schneider nhưng ban đầu xuất bản hoàn toàn bằng chữ Hán, mãi đến năm 1907 mới có thêm phần chữ quốc ngữ bên cạnh phần Hán văn Đây chỉ là một tờ công báo, tập hợp những thông báo, thông cáo của chính quyền thuộc địa để thông tin cho người dân về các chính sách của chính quyền
Ngày 28-3-1907, tờ Đại Nam Đăng Cổ tùng báo 13 ra đời Chủ báo là F.C Schneider và chủ bút là Nguyễn Văn Vĩnh
Về nội dung, Đăng Cổ tùng báo bắt đầu có các đặc trưng của một tờ báo hiện đại như phần tin tức trong nước, ngoài nước (dưới tên gọi Việc vặt các tỉnh, Việc vặt
ở Hà Nội, Việc vặt ở Hải Phòng, Điện báo toàn cầu ); phần xã thuyết, chủ yếu do ông Nguyễn Văn Vĩnh viết ký dưới những tên gọi khác nhau như Tân Nam Tử, Mũi Tẹt Tử, Nguyễn Văn Vĩnh, bàn về các vấn đề trong xã hội, thuộc đủ mọi lĩnh vực từ
kinh tế, chính trị đến thói hư tật xấu trong đời sống của người dân
Bắt đầu từ số 799 ra ngày 9-5-1907, báo có thêm một mục mới là Nhời đàn
bà, đều do Nguyễn Văn Vĩnh viết với bút danh Đào Thị Loan (tên con gái Nguyễn
Văn Vĩnh), chủ yếu bàn về các vấn đề của phụ nữ như mối quan hệ trong gia đình, chuyện vợ chồng, ăn mặc, vợ cả vợ lẽ, trinh tiết…những chuyện mà chị em phụ nữ, lớp độc giả ngày càng quan trọng, đang quan tâm
Báo cũng dành trang để đăng những bài thơ, phú trong phần Tập thơ, phú,
ca, rao Riêng phần thơ dịch, chủ yếu do ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch những bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine như Truyện quạ, cáo; Chuyện con ve và con kiến; Chuyện con nhái muốn to bằng con bò; Ếch cầu vua Ngoài ra, báo cũng có các phần Nhời rao hẹn, Cáo bạch rao hàng, chính là tiền thân của quảng cáo trên báo
hiện đại sau này
13Đăng Cổ tùng báo, hiểu theo nghĩa nôm na, là “Khêu đèn gióng trống” Sở dĩ vẫn còn chữ Đại Nam ở đầu
bởi vì thực chất, đây chính là tiếp nối của tờ Đại Nam Đồng Văn nhật báo Do Đại Nam Đồng Văn nhật báo
đã ra đến số 792 nên số 793 của Đại Nam Đồng Văn nhật báo chính là số 1 của Đại Nam Đăng Cổ tùng báo (thường chỉ được gọi tắt là Đăng Cổ tùng báo)
Trang 34Số cuối cùng của Đăng Cổ tùng báo là số 826, ra ngày 14-11-1907 [74, 173]
Sự đóng cửa của tờ báo có liên quan đến phong trào duy tân nổi tiếng lúc bấy giờ:
Đông Kinh nghĩa thục
Vào đầu thế kỷ XX, Pháp hầu như đã hoàn thành quá trình bình định, dẹp yên các cuộc khởi nghĩa yêu nước tại Việt Nam (chỉ còn phong trào Khởi nghĩa Yên Thế của Đề Thám còn đang hoạt động, nhưng chỉ ở diện hẹp và bị dập tắt hoàn toàn vào năm 1913) Song song với sự phát triển kinh tế, những tư tưởng tư bản cũng du nhập và phát triển bên trong Việt Nam Việc nhận thức bối cảnh quốc tế của trí thức Việt Nam diễn ra trong khuôn khổ kinh tế chính trị do bốn loạt sự kiện cấu thành: duy tân Minh Trị, chiến tranh Nga – Nhật (1905), cách mạng Trung Quốc (1919) và đại chiến thế giới thứ nhất
Các nhà Nho có tư tưởng tiến bộ nhận thức được sự yếu kém của Khổng giáo, chứng kiến nước Nhật Bản duy tân mà thắng đế quốc Nga nên đã quyết định phải thay đổi tư tưởng, cách thức học tập trong nước nhằm mục đích tự cường hy vọng một cuộc đổi mới Từ đây, phong trào Duy Tân chịu ảnh hưởng của Tân Khổng giáo đã chuyển từ lý thuyết tư biện sang thực tiễn hành động chiến đấu
Tháng 3 năm 1907, Đông Kinh nghĩa thục bắt đầu được khai giảng ở phố Hàng Đào, Hà Nội dựa trên khuôn mẫu Khánh ứng nghĩa thục (Đại học Keio tại Nhật
Bản14), một mô hình vô cùng thành công của phong trào Minh Trị duy tân
Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu, chiến thắng vang dội của Nhật Bản trước nước Nga như một biểu tượng của sự phục thù huy hoàng của người da vàng đối với người da trắng đã được các trí thức Việt Nam lưu ý mà phải hàng năm sau họ mới quan tâm mặn mà hơn Việc đào sâu phân tích sự kiện này chỉ xảy ra dưới sự ảnh hưởng của các nhà cải cách Trung Quốc (nhất là Lương Khải Siêu)15
14 Dưới thời Thiên hoàng Minh Trị, học giả Fukuzawa Yukichi (Phúc Trạch Dụ Cát, 1835 - 1901) đã thành
lập Trường Khánh Ứng Nghĩa thục vào năm 1868 ở Nhật Bản theo mô hình "public school" của nước Anh bao gồm việc truyền bá bốn tính cách quan trọng cho học sinh đó là tính tự cường, ý chí độc lập, óc tháo vát
và lòng tự nguyện đóng góp vào các việc công ích, công thiện.
15 Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã từng sang Nhật gặp gỡ và đàm đạo trực tiếp với Lương Khải Siêu và mỗi người đã tiếp thu từ nhà cải cách nổi tiếng này những tư tưởng, những chủ trương khác nhau để sau đó, khi về nước, người thì chủ trương bạo động, người thì chủ trương cải lương, nhưng cả hai đều hướng về mục tiêu duy tân, mục tiêu dân tộc.
Trang 35Tiếng vang của phong trào cải lương chủ nghĩa và cải cách ở Trung Quốc đã được các nhà trí thức Việt Nam lĩnh hội sâu sắc bởi sự tương đồng về văn hoá cũng như tộc người và sự tương đồng về lịch sử “đồng văn, đồng chủng, đồng cảnh ngộ” Mặt khác, do sự tiếp giáp về biên giới nên “Tân thư” của các nhà duy tân Trung Quốc có thể thâm nhập một cách nhanh chóng vào Việt Nam, tạo nên một sự hâm
mộ chưa từng có trong đông đảo tầng lớp trí thức Việt Nam
Có thể nói rằng phong trào Duy Tân và Đông Kinh nghĩa thục ở Việt Nam
chịu ảnh hưởng của các nhà duy tân Trung Quốc nhiều hơn là từ các nhà cải cách của Việt Nam thế hệ trước đó như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch hay Phạm Phú Thứ mà những cải cách của họ, nếu được Triều đình nhà Nguyễn áp dụng thì
có lẽ chúng ta còn có một cuộc duy tân sớm hơn duy dân Minh Trị ở Nhật Bản Điều này một lần nữa chứng tỏ sự phụ thuộc vô cùng to lớn về ý thức hệ của trí thức Việt Nam từ người láng giềng Trung Quốc
Tuy nhiên, ảnh hưởng của Minh Trị duy tân ở Việt Nam cũng khác đôi chút với Trung Quốc Trong khi gương sáng duy tân Minh Trị khuyến khích ý chí thay đổi của các trí thức Trung Quốc và tạo điều kiện dễ dàng cho các cuộc cải tổ lịch sử của họ (như Mậu Tuất chính biến – 1898), thì các cuộc cải cách ở Việt Nam còn gắn bó bền bỉ với truyền thống nuôi dưỡng lòng yêu nước Do vậy, thành quả cao nhất của phong trào duy tân ở Việt Nam là ở lĩnh vực tư tưởng, là sự thắng thế của
“tân học” trong nhận thức của trí thức Việt Nam thời bấy giờ Sự thắng thế đó càng quí báu hơn nữa khi phần lớn những người ủng hộ “tân học” là những người đỗ đạt cao trong các kỳ thi Như vậy, ít nhất điều này cho thấy khả năng vượt qua quan điểm dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi cơ cựu và tính bảo thủ truyền thống của Khổng giáo của trí thức nho học Việt Nam nhằm hướng tới văn minh hiện đại
Việc xích lại gần Nhật Bản của trí thức Việt Nam không phụ thuộc vào cơ hội chiến thuật hay chiến lược Nó nằm trong tầm nhìn mang tính toàn cầu hơn và văn hoá hơn Trên thực tế, khuôn mẫu Nhật Bản đã mê hoặc người Việt bởi hai lí do: đó là họ thể hiện khả năng lớn trong việc cải cách và cuộc cải cách đã thành
Trang 36công vang dội, trong khi vẫn giữ nguyên vẹn những nền tảng văn hoá, luân lý của Khổng giáo và sự phụ thuộc vào vùng ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc
Vì Nhật Bản đã trở thành “tấm gương chung cho chúng ta” (Phan Bội Châu,
Đề tinh quốc dân ca) nên các trí thức Việt Nam muốn dựa vào tình đoàn kết giống
nòi và văn hoá để cứu dân tộc Việt Nam khỏi sự xâm lược từ phương Tây Họ mong ước có một sự liên kết giữa các trí thức Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản trong cùng một trận chiến văn hoá để chống lại văn hoá phương Tây
Sự khác biệt giữa phong trào Duy Tân Minh Trị của Nhật Bản và phong trào
duy tân ở Việt Nam mà đại diện là Đông Kinh nghĩa thục đến từ nhiều yếu tố
Trong đó, nguyên nhân lớn nhất là từ tầng lớp lãnh đạo phong trào
Người sáng lập và đứng đầu phong trào Duy Tân ở Nhật Bản là Thiên hoàng Mutsuhito Không có gì lợi thế hơn cho một cuộc cải cách khi người đứng đầu cuộc cải cách đó lại là người có quyền lực cao nhất Từ Thiên Hoàng đến các đại danh đều có sự nhất trí cao vì một mục tiêu duy tân Nhật Bản Minh Trị duy tân do vậy thành công vì nó không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị
Trong khi đó ở Việt Nam, Đông Kinh nghĩa thục được sáng lập bởi các nhà
Nhocó tư tưởng tiến bộ Do là một nhóm tự phát, những người sáng lập và phong
trào Đông Kinh nghĩa thục phải chịu sự lệ thuộc vào chính quyền thuộc địa Lẽ dĩ
nhiên, chính quyền thực dân không thể nào ủng hộ một phong trào có thể trở thành một mối nguy đối với chế độ thuộc địa Những hoạt động của các văn thân và sỹ phu yêu nước khi ấy, tuy về danh nghĩa mới chỉ nằm ở trong phạm vi giáo dục, nhưng cũng đã khiến cho giới chức cầm quyền thực dân lo ngại Vì thế, tuy rằng
ban đầu cho phép Đông Kinh nghĩa thục hoạt động hợp pháp nhưng về sau nhận
thấy những đe dọa từ phong trào này, vào tháng 11 năm 1907 trường bị chính quyền thực dân buộc phải giải tán
Do phong trào duy tân Nhật Bản là một chính sách ở tầm vóc quốc gia, do những tầng lớp cai trị điều hành, lẽ dĩ nhiên, nó diễn ra ở tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội của Nhật Bản từ quân sự đến pháp luật, giáo dục, kinh tế v.v Còn đối với Việt Nam, duy tân mới thực sự diễn ra ở lĩnh vực văn hoá, giáo dục
Trang 37Về chính trị-xã hội, phong trào duy tân đầu thế kỉ XX ở Việt Nam là một
cuộc vận động dân tộc, dân chủ; về tư tưởng, nó là một cuộc vận động khai sáng Công việc có ý nghĩa nhất mà phong trào đem lại là tuyên truyền, giáo dục cho đông đảo dân chúng những tư tưởng mới Để có thể trình bày, giải thích những tư tưởng mới đó cần phải có một hệ thống ngôn ngữ chính xác, minh bạch; nghệ thuật trình bày, biện luận chặt chẽ, khúc chiết để cho quần chúng nghe Nhưng đại đa số
nhân dân không biết chữ Hán và chữ Nôm, vì vậy những người tham gia Đông Kinh nghĩa thục đã bắt tay vào cải cách chữ quốc ngữ, cải cách văn tự, cách tân nghệ
thuật văn chương thông qua việc dịch thuật và biên soạn “tân thư” Trên phương diện văn học, nếu như ở Nhật Bản và Trung Quốc, “tân thư” là cơ sở để hình thành tân văn (văn bạch thoại), phê phán cổ văn, đưa đến cho văn học các nước này những phẩm chất mới về ngôn ngữ, thể loại và chức năng thẩm mỹ của văn học… thì ở Việt Nam, “tân thư” cũng là một trong số những yếu tố tác động tích cực để hình thành nền tân học và tân văn Sáng tác của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền… và các tiểu luận của Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế… thể hiện một quan niệm mới về văn học, phá vỡ quy phạm quen thuộc, gò bó của từ chương Trung Hoa Thơ văn từ chỗ là thú chơi tao nhã, để tỏ chí tỏ lòng, để thù tạc ngâm vịnh, đến lúc này đã trở thành lợi khí duy tân, thành công cụ tư tưởng, gắn bó mật thiết với đời sống xã hội và mang hơi thở của thời đại16
Dù không thành công nhưng ngọn gió duy tân Đông Kinh nghĩa thục thực sự ảnh hưởng sâu sắc đến con đường hoạt động của Đông Dương tạp chí
Với chủ trương duy tân, tư sản hoá đất nước để giành độc lập, Đông Kinh nghĩa thục đã mở cánh cửa về phía Âu Mỹ để cải cách văn học Việt Nam Việc làm
có ý nghĩa này đã tạo ra một di sản quí báu cho những nhà cải cách sau đó kế thừa
và phát huy để duy tân đất nước Đông Dương tạp chí là tờ báo đã kế thừa và thực hiện tiếp tục những cải cách còn dang dở của Đông Kinh nghĩa thục
16 Nguyễn Đình Hảo, bản tóm tắt Luận án tiến sĩ ngữ văn, đề tài: “Tạp chí Nam Phong trong tiến trình phát
triển nền quốc văn mới đầu thế kỷ XX (1900 -1930)”
Trang 381.1.2 Giới trí thức Việt Nam trong một thời đại chuyển biến
Là những người vừa nhạy cảm, vừa hiểu biết thời đại, đứng trước tình hình đất nước lúc bấy giờ, giới trí thức Việt Nam đã có những phản ứng và chọn lựa khác nhau về mặt chính trị và văn hoá
Có thể khái quát thành bốn cách phản ứng và chọn lựa trước thời cuộc của trí thức Việt Nam ba thập niên đầu thế kỷ 20:
Cách thứ nhất là đi theo con đường bạo động để tìm cách lật đổ ách thống trị của Pháp Những người chủ trương con đường này cương quyết không chấp nhận
sự đô hộ của giặc Pháp trên đất nước mình, đã tập họp và vũ trang những người yêu nước để chống Pháp Họ tiếp tục con đường của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Phan Liêm, Phan Tôn, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám Điều lúng túng nhất đối với những nhà chí sĩ yêu nước này là tìm một cương lĩnh và chỗ dựa tinh thần cho cuộc chiến đấu Lúc đầu đó là lời kêu gọi cần vương (giúp vua) của Hàm Nghi, nên phong trào được gọi là phong trào Cần vương (1885-1896) Khi Hàm Nghi bị Pháp bắt và đưa đi đày sang Algérie, hai vị vua chống Pháp tiếp theo là Thành Thái và Duy Tân bị đày sang đảo Réunion, Khải Định quay sang hợp tác với giặc thì khái niệm “Cần vương” không còn lý do tồn tại nữa Nhưng cán cân lực lượng giữa ta và Pháp quá mất cân bằng: vũ khí thô sơ, trình độ quân sự non kém, lực lượng phân tán, thiếu sự lãnh đạo thống nhất, nên sự thất bại
là không tránh khỏi Mặc dù vậy, tinh thần đề kháng của nhân sĩ trí thức Việt Nam không bao giờ bị khuất phục, họ đã lãnh đạo những cuộc nổi dậy chống sưu thuế, đòi quyền dân sinh, dân chủ…Họ đưa thanh niên đi đào tạo ở nước ngoài để chuẩn
bị lực lượng Đó là con đường của Phan Bội Châu Để giương ngọn cờ quân chủ,
Kỳ Ngoại Hầu Cường Để đã từng được chọn làm minh chủ Những người theo con đường này muốn dựa vào Nhật Bản là một nước “đồng chủng, đồng văn” Họ đã phải trả giá đắt: các du học sinh người Việt bị Nhật trục xuất, phong trào Đông Du thất bại, Phan Bội Châu bị quản thúc thành “Ông già Bến Ngự”…Tiếp tục con đường bạo động, về sau có những người đứng ra thành lập Việt Nam quốc dân đảng
mà Nguyễn Thái Học là đảng trưởng và hành động quả cảm của họ thể hiện qua
Trang 39tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái cũng như cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930) với tinh thần “không thành công thì cũng thành nhân”
Cách thứ hai là con đường học tập nền dân chủ phương Tây để duy tân đất nước, làm cho dân tộc tự cường mà từng bước giành lại độc lập từ trong tay thực dân Pháp Đây là con đường mà Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền cổ xuý Những nhà văn hoá này nhận thấy tương quan lực lượng giữa ta và Pháp quá mất cân bằng, dùng giải pháp bạo động ngay như Phan Bội Châu sẽ tốn nhiều xương máu mà không thể thành công Vì vậy công cuộc giành độc lập là một sự nghiệp dài lâu Phải nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, học theo nền dân chủ tư sản mà mở trường, lập hội, ra báo Khi ý thức độc lập của dân ta vững vàng rồi, ta sẽ có đủ điều kiện và lực lượng không chỉ cho mục tiêu độc lập dân tộc mà cả mục tiêu dân chủ, dân quyền và dân sinh Khuynh hướng này không đề cao bạo động nên không uy hiếp trực tiếp chế độ thực dân Nhưng Pháp biết rõ rằng về lâu dài nó là mối nguy
cơ lớn của chúng, khi chủ nghĩa ngu dân mất hiệu lực, nên Pháp đã tìm cách triệt hạ người tiên phong: Phan Châu Trinh bị bắt giam và đưa đi đày tận Côn Đảo
Cách thứ ba là giải pháp mà lịch sử đã chứng minh là hiệu quả nhất Đó là con đường mà Nguyễn Ái Quốc đã chọn lựa: vận động thành lập một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân để lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, gắn phong trào giải phóng dân tộc với phong trào cộng sản thế giới mà đại diện là Quốc
tế thứ ba Đó là một sự nghiệp toàn diện trên tất cả các mặt trận: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại giao…và khi điều kiện cũng như thời cơ chín muồi, sẽ phát động khởi nghĩa giành chính quyền Con đường này manh nha từ thập niên 10 cuả thế kỷ trước, phát triển vào những năm 20, qua những cuộc tranh luận, thảo luận trong thời gian Nguyễn Ái Quốc ở Pháp, trong Đại hội Tours cuả Đảng Xã hội Pháp, ngày càng sáng rõ về mục tiêu Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc và những người đồng chí hướng đã tác động đến sự hình thành và thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước (Đông Dương cộng sản đảng, An Nam cộng sản đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn) dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm
Trang 401930 Từ đây lịch sử Việt Nam sẽ diễn ra chủ yếu theo con đường của sự chọn lựa này
Chúng ta tóm tắt trong mấy dòng những con đường đó, nhưng trên thực tế đó
là những chọn lựa rất phức tạp, đầy trăn trở và bi kịch Đó không phải chỉ là suy nghĩ mà là hành động, vào tù ra khám, đối diện với cái chết để xác định lý tưởng của mình Trong hoàn cảnh như vậy, đã có những người trí thức tránh né những con đường gai góc, chọn con đường thứ tư, con đường hoạt động văn hoá để góp phần hiện đại hoá dân tộc Điều oái oăm là họ không thể làm văn hoá thuần tuý mà không quan hệ với chính trị, lại là chính trị của chủ nghĩa thực dân Đó là con đường mà Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của trải qua cuối thế kỷ 19 và Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh đi theo đầu thế kỷ 20 So với hai người trên, thì hai người sau này ngày càng dấn sâu hơn vào chính trị Nhưng giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tuy cùng một con đường nhưng lại có những ngả rẽ khác nhau, một phần do thời điểm lịch sử mà hai ông hoạt động quy định, một phần do tính cách và chí hướng của hai người khác nhau: một người năng động, hoạt bát, thực tiễn; một người uyên bác, thâm trầm, kín đáo
Nguyễn Văn Vĩnh lớn hơn Phạm Quỳnh mười tuổi, cả hai ông đều cộng tác với Pháp, được người Pháp sử dụng cho những mục tiêu giai đoạn của họ, trong những thời điểm khác nhau Nguyễn Văn Vĩnh được người Pháp ưu ái chủ yếu vào những năm trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), Phạm Quỳnh thì từ khi cuộc chiến tranh này nổ ra Điểm chung giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh là trước con đường đối thoại văn hoá do các viên toàn quyền nắm trong tay quyền lãnh đạo Đông Dương như Paul Doumer, Paul Beau, A Sarraut…vạch ra, người Việt Nam phải nhanh chóng nắm bắt lấy như một cơ hội quan trọng để thay đổi đất nước Đối với những người trí thức quan tâm đến thời cuộc, ngay từ đầu họ
đã có thể nhận ra tham vọng và dã tâm của thực dân Pháp Nhưng dù sao, chế độ thực dân càng được củng cố thì những ảo tưởng về “khai hoá”, “văn minh” càng mau tan vỡ Chính vì vậy, mà những “ngây thơ”, “cả tin” của Nguyễn Văn Vĩnh, nếu có, dễ hiểu hơn là của Phạm Quỳnh