1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế tài chính dự án đầu tư nhà máy điện có tính đến rủi ro

119 148 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trịnh kim oanh Phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế tàI chính dự án đầu tư nhà máy điện có tính đến rủi ro áp dụng với dự án nhà máy nhiệt đIện cẩm phả Luận văn thạc sỹ kinh tế Ng

Trang 2

trịnh kim oanh

Phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế tàI chính dự án đầu tư nhà máy điện

có tính đến rủi ro

(áp dụng với dự án nhà máy nhiệt đIện cẩm phả)

Luận văn thạc sỹ kinh tế

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Duệ

Hà nội - 2004

Trang 3

Chương 3: Phân tích hiệu quả kinh tế tài chính dự án đầu tư có tính

đến rủi ro Áp dụng cho dự án Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả

Trang 4

3.3 Phân tích kinh tế tài chính dự án Nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả (có

tính đến rủi ro) 82

Kết luận 100

Tài liệu tham khảo 103

Phụ lục

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với xu thế kinh tế mở cửa và hội nhập của thế giới, hoạt động đầu tư

là hoạt động không thể thiếu nếu muốn một đất nước tiến kịp với sự phát triển không ngừng của thế giới Đầu tư luôn đi cùng với sự phát triển, đầu tư để tồn tại trong môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt mà một doanh nghiệp không thể

Nhưng với đặc thù của đầu tư trong ngành điện là chi phí đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài nên gặp nhiều rủi ro trong quá trình đầu tư Do đó sự mở rộng trong đầu tư xây dựng nguồn điện và lưới điện để tham gia thị trường điện cạnh tranh bắt đầu từ ngày 1/7/2004 Tiếp theo là thị trường bán buôn điện cạnh tranh và thị trường bán lẻ điện cạnh tranh được Chính phủ cho phép các doanh nghiệp có khả năng đều có thể tham gia thị trường này Dự án nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả của Công ty Cổ phần Nhà nước mà trong đó Tổng công

ty Than Việt Nam - chủ đầu tư dự án - chiếm 60% vốn chủ sở hữu là một dự

án điển hình đáp ứng và khắc phục được những khó khăn mà ngành điện gặp phải trong đầu tư xây dựng nguồn điện

Là một lĩnh vực đầu tư lớn cùng với sự góp vốn của nhiều ngành nên việc phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án là vô cùng cần thiết Đây là mối quan tâm không chỉ của Nhà Nước, của ngành điện mà còn đặc biệt quan tâm

từ phía các cổ đông của công ty cổ phần đầu tư dự án này

Trang 6

Để đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế tài chính của các dự án đầu tư trong ngành điện là rất khó vì tính chất đặc thù trong đầu tư của ngành là vốn đầu tư lớn thời gian đầu tư dài, các thông số đầu vào thường xuyên biến động đi cùng với nó là độ rủi ro cao

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng trong phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế - tài chính dự án đầu tư ngành điện nên tôi đã chọn đề tài:

“Phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế – tài chính dự án đầu tư nhà máy điện có tính đến rủi ro Áp dụng với dự án nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả”

làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

Bố cục luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các phân tích kinh tế dự án đầu tư

Chương 2: Đặc điểm các dự án đầu tư nhà máy điện

Chương 3: Phân tích hiệu quả kinh tế tài chính dự án đầu tư có tính đến rủi ro Áp dụng với dự án nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả

Mục đích của đề tài là hệ thống hoá những vấn đề liên quan đến đầu tư

và dự án đầu tư nói chung và trong ngành điện nói riêng từ đó trình bày các phương pháp cụ thể để phân tích đầy đủ kinh tế tài chính một dự án đầu tư trong ngành điện với các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế như: NPV, B/C, IRR, Thv Kết hợp giữa lý thuyết nghiên cứu và thực tế dự án nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả để chạy chương trình phân tích hiệu quả kinh tế tài chính dự án đầu tư có tính đến yếu tố rủi ro, phần mềm Crystal Ball Đây cũng là kết quả

mà luận văn đạt được

Với kết quả nghiên cứu, luận văn có một ý nghĩa khoa học và thực tiễn

là cơ sở, là các bước hướng dẫn cụ thể, chi tiết để có thể ứng dụng phân tích hiệu quả kinh tế dự án đầu tư không chỉ riêng cho ngành điện mà có thể cho các ngành khác khi phân tích có tính đến độ rủi ro Bởi đây là một chương

Trang 7

trình mới hy vọng sẽ được phổ dụng đến những đối tượng khi nghiên cứu để lập dự án và thẩm định các dự án đầu tư trong điều kiện kinh doanh đầy biến động

Đạt được kết quả của luận văn này đó là sự hướng dẫn tận tình của PGS TS Nguyễn Minh Duệ, sự giúp đỡ của TS Nguyễn Thành Sơn - Giám đốc Công ty tư vấn Điện Than và các đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC PHÂN TÍCH KINH TẾ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

1.1.1 Khái niệm về đầu tư

Đầu tư là một trong những hoạt động tất yếu khách quan không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của xã hội phát triển hiện nay Trong kinh doanh, đầu tư đóng một vai trò hết sức quan trọng Có thể nói không có một công ty, doanh nghiệp nào lại không có những dự án đầu tư hấp

dẫn, một cơ hội kinh doanh đầy triển vọng trong suốt quá trình kinh doanh Với nhịp độ phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại như hiện nay thì các dự án đầu tư ngày càng nhiều và hiệu quả đầu tư đạt ngày càng cao Vậy

để đạt được hiệu quả đầu tư ta phải hiểu sâu sắc những vấn đề liên quan đến đầu tư và dự án đầu tư Hiện nay có nhiều cách hiểu về đầu tư và dự án đầu tư theo mục tiêu của việc tiếp cận Có thể hiểu đầu tư như sau:

Đầu tư là hoạt động sử dụng các tài nguyên trong một thời gian tương đối dài nhằm thu lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội

Nếu đầu tư vào nhà xưởng, máy móc, vật tư thì được gọi là đầu tư cho các đối tượng vật chất Hoặc để mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay lấy lãi gọi

là đầu tư tài chính Ở đây những tài sản đầu tư này có thể sinh lợi dần hoặc thoả mãn dần một nhu cầu nhất định nào đó cho người bỏ vốn cũng như toàn

xã hội ở một thời gian nhất định trong tương lai (thường gọi là tuổi thọ của dự

án) Hoặc cũng có một vài cách hiểu nữa về đầu tư như sau: Đầu tư đó là sử

d ụng vốn nhằm tạo nên các dự trữ và tiềm năng về tài sản để sinh lợi dần theo thời gian trong tương lai Ở đây hiểu nghĩa của danh từ "dự trữ" như

sau: Ví dụ, một nhà máy công nghiệp được xây dựng lên không phải là để sử dụng hết ngay một lúc mà phải khai thác và vận hành nó trong nhiều năm,

Trang 9

phần chưa sử dụng hết của nó có thể coi như một dự trữ hay một tiềm năng

Hay hiểu Đầu tư là sử dụng các khoản tiền đã tích được của xã hội, của các

cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ, tiền tiết kiệm của dân cư vào việc tái sản xuất của xã hội nhằm tạo ra các tiềm lực lớn hơn về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội

- Tài nguyên: Vốn, vật tư, lao động, tài nguyên thiên nhiên (Trong một thời gian tương đối dài thì tài nguyên là cái hữu hạn, quí giá phải sử dụng có hiệu

quả)

- Thời gian xây dựng tương đối dài: xây dựng một nhà máy, cầu cống,

đường xá cần một khoảng thời gian từ 2 năm trở lên Có dự án thực hiện trong thời gian nhiều năm, tuỳ thuộc vào qui mô của dự án Thời gian thực

hiện khai thác dự án người ta còn gọi là tuổi thọ của dự án

- Tuổi thọ của dự án: Tính từ khi dự án đi vào khai thác đến khi kết thúc dự

án; Các dự án khác nhau thì có tuổi thọ khác nhau; Khi một trong ba tuổi thọ dưới đây hết thì dự án cũng kết thúc

Tuổi thọ về mặt kỹ thuật Tuổi thọ về mặt công nghệ Tuổi thọ về mặt sản phẩm

* Tuổi thọ về mặt kỹ thuật: Tính từ khi bắt đầu sử dụng cho đến khi hiệu suất của nó nhỏ hơn hiệu suất cho phép

* Tuổi thọ về mặt công nghệ: Sự bắt đầu đưa công nghệ vào sử dụng cho đến khi có một công nghệ khác mang tính phổ biến đưa vào sử dụng với những tính năng vượt trội và việc vẫn sử dụng công nghệ cũ với những chi phí cao hơn

* Tuổi thọ về mặt sản phẩm: Tính từ khi ra đời sản phẩm cho đến khi thị trường không chấp nhận

- Thu được lợi nhuận, lợi ích xã hội:

Trang 10

Về lợi nhuận (trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh): Mục tiêu là cực tiểu chi phí và cực đại lợi nhuận Có thể nói cực đại lợi nhuận là mục tiêu quan trọng

và phổ biến nhất đối với các nhà kinh doanh Tuy nhiên khi sử dụng mục tiêu này đòi hỏi phải đảm bảo tính chắc chắn của các chỉ tiêu lợi nhuận thu được theo dự kiến của dự án đầu tư qua các năm Yêu cầu này trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện vì tình hình thị trường luôn luôn biến động và việc dự báo chính xác lợi nhuận cho hàng chục năm sau là rất khó

Ngoài ra đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh còn có những mục tiêu quan trọng khác như: Cực đại khối lượng hàng hoá bán ra trên thị trường (nếu lợi nhuận cho một đơn vị sản phẩm có thể thấp nhưng khối lượng bán ra thị trường nhiều thì tổng lợi nhuận sẽ lớn); Duy trì sự tồn tại và an toàn của doanh nghiệp (trong trường hợp này các nhà kinh doanh chủ trương đạt được một mức độ thoả mãn nào đó của doanh nghiệp về lợi nhuận, nhưng đảm bảo được sự tồn tại lâu dài và an toàn cho doanh nghiệp còn hơn là chạy theo lợi nhuận cực đại nhưng có nhiều nguy cơ rủi ro và phá sản Quan điểm này chúng ta có thể vận dụng để phân tích và quyết định một dự án đầu tư); Đầu

tư để nâng cao chất lượng sản phẩm và uy tín đối với khách hàng và khả năng cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường nhiều hơn, nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới; Đầu tư theo chiều sâu để đổi mới công nghệ, đón đầu nhu cầu mới sẽ xuất hiện trên thị trường, tăng khả năng độc quyền doanh nghiệp; Đầu tư để liên doanh với nước ngoài, tranh thủ công nghệ mới, mở rộng thị trường xuất khẩu; Đầu tư để cải thiện điều kiện lao động của doanh nghiệp, đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường theo yêu cầu của doanh nghiệp

Về lợi ích kinh kế xã hội (đối với chủ đầu tư là Nhà nước): Mục tiêu là đầu tư cơ sở hạ tầng công cộng dài hạn, mục tiêu văn hoá, xã hội dài hạn Ví

dụ, đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng văn hoá và xã hội, các công trình thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo, ytế, thể thao, nghệ thuật Đảm bảo

Trang 11

sự phát triển kinh tế, kỹ thuật chung dài hạn của đất nước, ví dụ đầu tư cho các công trình phục vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ có tính chiến lược, các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và kinh tế quan trọng, các công trình công nghiệp trọng điểm có tác dụng đòn bẩy đối với nền kinh tế quốc dân Đảm bảo yêu cầu về quốc phòng và an ninh tổ quốc, bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên của đất nước Đảm bảo vị trí kinh tế của đất nước trên trường Quốc tế, đầu tư vào các lĩnh vực vốn lớn mà các doanh nghiệp tư nhân không có khả năng đáp ứng nhu cầu của vốn, độ rủi ro cao mà các lĩnh vực này không thể thiếu đối với sự phát triển chung của đất nước và rất cần thiết cho đời sống con người

1.1.2 Phân loại đầu tư

1.1.2.1 Phân loại theo mục đích và tính chất đầu tư

- Đầu tư mới: Chủ đầu tư bỏ vốn ra để xây dựng mới hoàn toàn nhằm mục tiêu sản xuất kinh doanh, dịch vụ để thu lợi nhuận

- Đầu tư mở rộng: Chủ đầu tư bỏ vốn mở rộng sản xuất, qui mô của doanh nghiệp Đầu tư để đẩy mạnh tiêu thụ những sản phẩm hiện có trong những thị trường đang được kiểm soát, dự án đầu tư nhằm thâm nhập thị trường mới, tạo sản phẩm mới, hay dự án cải tạo thị trường hiện có (sử dụng vốn từ quỹ đầu tư phát triển)

- Đầu tư thay thế: Chủ đầu tư lấy vốn để thay thế những thiết bị cũ, hư hỏng (Nguồn từ quỹ khấu hao)

1.1.2.2 Phân loại theo cấp quản lý và sử dụng vốn

- Theo cấp quản lý thì có các loại dự án đầu tư thuộc nhóm A, B, C phân loại này được quy định rất cụ thể trong Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08-7-

1999 và sửa đổi tại Nghị định số 07/2003/NĐ- CP ngày 30-01-2003 của Chính phủ Quy định về mức vốn đầu tư và các cấp quyết định đầu tư

Trang 12

- Theo tính chất sử dụng vốn có đầu tư trực tiếp : Đầu tư mà người sử dụng vốn và người bỏ vốn ra là chủ thể; Đầu tư gián tiếp: Đầu tư mà người sử dụng

khác với người bỏ vốn ra đầu tư

1.1.2.3 Phân loại đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài

- Đầu tư trong nước: Chủ đầu tư là người ở nước sở tại

- Đầu tư của nước ngoài: Chủ đầu tư là người nước ngoài

- Đầu tư liên doanh giữa trong và ngoài nước: Nhà nước phân loại đầu tư và phân loại cho việc quản lý: BOT; BTO

1.1.3 Các giai đoạn đầu tư

Các giai đoạn hoạt động đầu tư là cả quá trình từ khâu chuẩn bị đầu tư đến thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư

MÔ HÌNH CÁC GIAI ĐOẠN ĐẦU TƯ

1.1.3.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Nội dung công việc của giai đoạn chuẩn bị đầu tư:

- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư

Chu ẩn bị thực hiện đầu

t ư Chu ẩn bị đầu tư

Th ực hiện đầu tư

Khai thác sử dụng

Trang 13

- Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư

- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm

- Lập dự án, thẩm định và quyết định đầu tư

1.1.3.2 Giai đoạn chuẩn bị thực hiện đầu tư

Nội dung công việc của giai đoạn chuẩn bị thực hiện đầu tư:

- Khảo sát, thiết kế, lập dự toán và thẩm tra các hồ sơ

-Đặt mua thiết bị, vật tư, kỹ thuật, công nghệ

- Tổ chức đấu thầu, giao nhận thầu (tuỳ vào mức độ quan trọng của dự án - Thường đấu thầu cho những dự án thuộc nhóm A)

-Giải phóng, bàn giao mặt bằng, địa điểm

-Chuẩn bị xây lắp

1.1.3.3 Giai đoạn thực hiện đầu tư

Nội dung công việc của giai đoạn thực hiện đầu tư:

- Thi công các công trình chính, phụ

- Lắp đặt thiết bị chính, phụ

- Chạy thử và nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư

- Bàn giao đưa vào khai thác, bảo hành

- Đào tạo cán bộ công nhân viên thực hiện dự án

1.1.3.4 Giai đoạn khai thác

Nội dung công việc của giai đoạn khai thác sử dụng

- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình

- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình

- Bảo hành công trình

Trang 14

1.1.4 Khái niệm dự án đầu tư

Ở mỗi một thời kỳ, các công ty thường có những cơ hội đầu tư, mỗi một cơ hội đầu tư như vậy được gọi là một dự án đầu tư hay đơn giản là một

dự án Trong đó chức năng đầu tư là chức năng ra các quyết định về các dự án đầu tư (lựa chọn hay loại bỏ) Muốn vậy công ty phải có những “phát hiện”

cơ hội đầu tư, ước lượng những tổn thất và những lợi ích của các hiệu quả đầu

tư không đánh giá được bằng tiền, phân tích và lựa chọn dự án theo một tiêu chuẩn nào đó phù hợp với mục tiêu của từng công ty Vậy dự án đầu tư là gì?

Ở Việt nam, khái niệm về dự án được quy định rất cụ thể và chi tiết trong văn bản pháp quy của Chính phủ Trong Nghị định 52/1999/NĐ - CP đã chỉ rõ:

Dự án đầu tư là tập hợp các tài liệu thuyết trình những dự định trong tương lai với việc sử dụng nguồn tài nguyên một cách khoa học, có hệ thống Trên cơ sở đó, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên để thu được những lợi ích mong muốn

Mục tiêu của dự án là mục tiêu tài chính của các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư dự án và mục tiêu kinh tế xã hội chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Đặc trưng của dự án đầu tư là có mục đích, mục tiêu rõ ràng; Có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn; Liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án; Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo (hiện đại, cải tiến và mới lạ); Dự án thường trong trạng thái bất định và độ rủi ro cao vì vậy phải xem xét tính toán và lập dự án tốt là kim chỉ nam, là cơ sở vững chắc, tiền đề cho việc thực hiện các công cuộc đầu tư đạt hiệu quả kinh tế xã hội mong muốn

1.1.5 Các loại nghiên cứu dự án đầu tư

@ Nghiên cứu tiền khả thi (PFS: Pre- Feasibility Studies)

@ Nghiên cứu khả thi (FS: Feasibility Studies)

Trang 15

1.1.5.1 Nghiên cứu tiền khả thi

Sau khi có cơ hội đầu tư chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu tiền khả thi, bước nghiên cứu này chỉ lập đối với các dự án có tổng vốn đầu tư lớn - Nhóm A, hoặc những dự án có tính chất quan trọng, phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian thu hồi vốn lâu, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất định Đây là bước sàng lọc, lựa chọn các cơ hội đầu tư hoặc để khẳng định lại cơ hội đầu tư đã được lựa chọn có đảm bảo tính khả thi hay không Sở dĩ phải nghiên cứu tiền khả thi trước khi nghiên cứu khả thi bởi vì việc nghiên cứu khả thi rất tốn kém về công sức, tiền bạc cũng như trí tuệ và thời gian Thậm chí có những dự án sau khi nghiên cứu khả thi xong kết luận dự án không có hiệu quả phải loại bỏ thì mọi chi phí bỏ ra để nghiên cứu là vô ích Bên cạnh đó nghiên cứu tiền khả thi còn giúp chúng ta tìm ra con đường tối ưu trong bước tiếp theo của quá trình nghiên cứu khả thi dự án đầu tư Đối với những dự án đầu tư nhỏ, không quá phức tạp thì chúng ta có thể bỏ qua giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi

Nghiên cứu tiền khả thi bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

♦ Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó khăn Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, lao động, thị trường tiêu thụ, chính sách đầu tư của vùng lãnh thổ, ngành kinh doanh

♦Dự kiến qui mô và lựa chọn hình thức đầu tư

♦ Chọn khu vực, địa điểm và nghiên cứu nhu cầu, diện tích sử dụng, giảm đến mức tối đa những ảnh hưởng về môi trường, xã hội và tái định cư (có phân tích và đánh giá cụ thể)

♦ Phân tích sơ bộ công nghệ, kỹ thuật và xây dựng, các điều kiện cung cấp vật tư, thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ hạ tầng

♦ Phân tích tài chính nhằm xác định sơ bộ tổng mức đầu tư và các nguồn vốn, phương án huy động và khả năng hoàn vốn, trả nợ, trả lãi

Trang 16

♦ Tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư trên quan điểm của chủ đầu tư, của xã hội

và của Nhà nước

♦ Nghiên cứu lợi ích kinh tế xã hội của dự án: dự tính khối lượng đóng góp vào GDP, nộp ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp, số lượng ngoại tệ thu được từ dự án, tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương nơi đặt dự án Đặc điểm của giai đoạn nghiên cứu này là mang tính sơ

bộ không chi tiết do vậy độ chính xác của dự án chưa cao, chưa tính đến mức

độ rủi ro của dự án

1.1.5.2 Nghiên cứu khả thi

Đây là giai đoạn nghiên cứu cuối cùng để lựa chọn dự án tối ưu hay bác

bỏ đầu tư dự án Trong nghiên cứu tiền khả thi thì chúng ta mới tính toán sơ

bộ còn đối với nghiên cứu khả thi thì ta phải chỉ rõ tính hiệu quả hay không hiệu quả của dự án Mọi xem xét dự án phải được đặt trong trạng thái luôn luôn biến động tức là phải đặt các tình thế có thể xảy ra các rủi ro tác động đến dự án và các biện pháp để tránh những rủi ro cũng như đảm bảo hiệu quả của dự án

Nghiên cứu khả thi bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

 Những căn cứ xác định sự cần thiết phải đầu tư

 Lựa chọn hình thức đầu tư

 Lập chương trình sản xuất và chương trình đáp ứng nhu cầu

 Các phương án địa điểm cụ thể (trong đó có đề xuất giải pháp hạn chế tới mức tối thiểu ảnh hưởng đến môi trường và xã hội)

 Phương án giải phóng mặt bằng

 Phân tích lựa chọn kỹ thuật, công nghệ

 Các phương án thiết kế và giải pháp xây dựng, thiết kế sơ bộ của các phương án đề nghị lựa chọn, giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường

Trang 17

 Xác định rõ nguồn vốn, khả năng tài chính, tổng mức đầu tư và nhu cầu vốn theo tiến độ Phương án hoàn trả vốn đầu tư (đối với dự án yêu cầu thu hồi vốn đầu tư)

 Phương án quản lý khai thác dự án, sử dụng lao động

 Phân tích hiệu quả đầu tư

 Các mốc thời gian chính thức thực hiện dự án: Mốc thời gian đấu thầu, thời gian khởi công, thời hạn hoàn thành đưa công trình vào khai thác sử dụng

 Kiến nghị hình thức quản lý thực hiện dự án

 Xác định chủ đầu tư

 Mối quan hệ của các cơ quan liên quan đến dự án

Việc nghiên cứu khả thi dự án đầu tư là cơ sở cuối cùng của chủ đầu tư ra quyết định đầu tư, là căn cứ để các cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án, là tài sản để huy động vốn từ các đối tác hay các tổ chức tín dụng

1.2 CÁC LOẠI PHÂN TÍCH KINH TẾ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Để quyết định đầu tư một dự án đầu tư phải tiến hành phân tích theo trình tự như sau:

Trang 18

SƠ ĐỒ 1.1: CÁC LOẠI PHÂN TÍCH KINH TẾ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

ĐỀ XUẤT CÁC

PH ƯƠNG ÁN KỸ THUẬT

PHƯƠNG ÁN TỐI ƯU

QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ

DỰ ÁN KHẢ THI

Phân tích kinh tế – kỹ thuật

THỰC HIỆN ĐẦU TƯ

Trang 19

Nhìn vào sơ đồ ta thấy: Để phân tích một dự án đầu tư nhất thiết phải phân tích ba vấn đề chính sau:

Phân tích kinh tế – Kỹ thuật dự án đầu tư Phân tích kinh tế – Xã hội dự án đầu tư Phân tích kinh tế – Tài chính dự án đầu tư

1.2.1 Phân tích kinh tế - kỹ thuật dự án đầu tư

Trong đầu tư nếu phân loại theo hình thức thì có đầu tư vào đối tượng vật chất và đầu tư tài chính Đầu tư đối tượng vật chất luôn gắn với một phương án kỹ thuật như thiết bị và máy móc cho dây chuyền công nghệ, các giải pháp xây dựng dự án đầu tư Vì vậy, việc phân tích và đánh giá dự án về mặt kinh tế kỹ thuật là rất cần thiết Có rất nhiều phương pháp đánh giá các phương án về mặt kinh tế kỹ thuật nhưng trong khuôn khổ của đề tài chỉ đề cập đến những lợi ích đem lại từ việc phân tích kinh tế kỹ thuật dự án đầu tư Phân tích kinh tế kỹ thuật là tiền đề cho việc tiến hành phân tích kinh tế tài chính các dự án đầu tư Những dự án không khả thi về mặt kỹ thuật phải được loại bỏ để tránh những tổn thất trong quá trình thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư sau này Chẳng hạn như việc nhập hàng loạt các dây chuyền sản xuất mía đường của Trung Quốc đã gây thiệt hại rất lớn cho kinh

tế đất nước bởi sự lạc hậu của công nghệ, tương tự cũng như ngành mía đường, đó là công nghệ sản xuất xi măng lò đứng gây rất nhiều lãng phí không đạt hiệu quả

Quyết định đúng đắn trong phân tích kinh tế kỹ thuật là tìm ra những

dự án khả thi về mặt kỹ thuật, điều này cho phép một mặt tiết kiệm được nguồn lực, mặt khác làm tăng thêm nguồn lực Ngược lại nếu chấp nhận dự án không khả thi do nghiên cứu chưa kỹ hoặc do coi nhẹ yếu tố kỹ thuật, hoặc

Trang 20

bác bỏ dự án khả thi về mặt kỹ thuật do bảo thủ, do quá thận trọng thì hoặc là gây tổn thất nguồn lực hoặc bỏ lỡ cơ hội tăng nguồn lực

Phân tích kinh tế kỹ thuật là một công việc phức tạp, đòi hỏi phải có các chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu về từng khía cạnh kỹ thuật của từng dự án Chi phí nghiên cứu kinh tế kỹ thuật chiếm khoảng trên dưới 80% chi phí nghiên cứu khả thi và từ 1%-5% tổng chi phí đầu tư của dự án Trong mô hình phân tích kinh tế kỹ thuật của các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghiệp bao gồm tương đối đầy đủ các vấn đề kỹ thuật cơ bản như đặc tính sản phẩm

và kiểm tra chất lượng sản phẩm, phương pháp và kỹ thuật sản xuất, đặc tính

và công suất máy móc thiết bị, đặc tính và nhu cầu nguyên vật liệu, cơ sở hạ tầng, địa điểm xây dựng nhà máy, vấn đề xử lý nước thải Có thể nói tùy từng dự án cụ thể mà các vấn đề về kỹ thuật được chú trọng xem xét ở mức

độ khác nhau trong nghiên cứu Dự án càng lớn các vấn đề kỹ thuật càng phức tạp, cần phải xem xét xử lý nhiều thông tin

Khi phân tích các vấn đề về kinh tế kỹ thuật dự án đầu tư điều quan trọng nhất là ta phải quan tâm đến nguồn cung cấp công nghệ kỹ thuật, phương thức cung cấp công nghệ (thuê, mua hay liên doanh liên kết với nhà cung cấp công nghệ), quyền sở hữu công nghiệp, trình độ phổ dụng của công nghệ và giá cả, ngoại tệ Bên cạnh đó yếu tố rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sử dụng công nghệ Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước nghèo bởi giới hạn thị trường của các loại công nghệ hiện đại do đó người mua công nghệ luôn ở thế bị động trong việc mua phụ kiện và mua nguyên vật liệu đặc chủng Đã có trường hợp phải ngừng sản xuất do sự phụ thuộc vào một số người cung cấp nguyên vật liệu hay sự vận chuyển nguyên vật liệu thì những nơi xa đến Rất nhiều rủi ro từ công nghệ kỹ thuật sản xuất nên kinh nghiệm rút ra là phải xem xét toàn diện các khía cạnh kinh tế kỹ thuật Nghiên cứu kỹ thị trường công nghệ, chủng loại, độ phổ dụng của công nghệ

Trang 21

và nhất là chọn loại công nghệ có nhiều nguồn cung cấp nhằm tạo sự cạnh tranh trong cung cấp công nghệ, từ đó sẽ lựa chọn được công nghệ tối ưu và mua được với giá cả hợp lý đồng thời tạo được thế chủ động trong các hoạt động sau này

1.2.2 Phân tích kinh tế – Tài chính dự án đầu tư

Phân tích kinh tế tài chính dự án đầu tư là một khâu quan trọng trong xem xét tính khả thi của một dự án Dự án có khả thi về mặt kinh tế, kết hợp với sự phù hợp về môi trường sinh thái, khả thi về mặt kỹ thuật thì mới là dự

án tối ưu Bởi vậy phân tích kinh tế tài chính dự án là xác định hiệu quả về tài chính đối với doanh nghiệp, lợi nhuận mang lại cho chủ đầu tư Nếu như phân tích kinh tế xã hội thì đứng trên góc độ vĩ mô về lợi ích của toàn xã hội, của Nhà nước thì phân tích về kinh tế tài chính đứng trên góc độ vi mô của chủ đầu tư dự án xem xét về tính hiệu quả và lãi sinh ra từ dự án với mục tiêu tối

đa hoá lợi nhuận kết hợp với an toàn kinh doanh

Việc tính toán tài chính được tiến hành theo những nội dung và trình tự như sau:

* Tổng vốn đầu tư ban đầu cho dự án

* Cơ cấu nguồn vốn: Vốn tự có, vốn đi vay, vốn góp khi có vốn vay thì quan tâm đến lãi suất đi vay và thời gian vay như: dài hạn, trung hạn và ngắn hạn

* Khả năng đáp ứng vốn, điều này sẽ ảnh hưởng đến quy mô của dự án Nếu khả năng đáp ứng vốn lớn thì quy mô lớn và ngược lại

* Tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư: NPV, B/C, IRR, Thời gian hoàn vốn cùng với phân tích độ nhạy và rủi ro của dự án

* So sánh và lựa chọn các phương án khác nhau để tìm một phương án tối ưu nhất

Để phân tích một cách cặn kẽ tài chính của một dự án đầu tư ta phải hiểu về dòng tiền của dự án, về các cách quy đổi dòng tiền dự án, cách tính

Trang 22

các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư, tính khấu hao, trả vốn và trả lãi cho các nguồn vốn vay, tính thuế thu nhập doanh nghiệp, xây dựng được dòng tiền trước thuế (CFBT) và dòng tiền sau thuế (CFAT)

Trang 23

1.2.3 Phân tích kinh tế – Xã hội dự án đầu tư

Nếu như phân tích kinh tế tài chính xem xét dự án theo giác độ lợi ích trực tiếp của chủ đầu tư thì trái lại phân tích kinh tế xã hội lại đánh giá dự án xuất phát từ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội Việc phân tích kinh tế xã hội là rất cần thiết bởi vì:

Trong nền kinh tế thị trường việc đầu tư là do bản thân nhu cầu của doanh nghiệp nhưng không được trái với những quy định của pháp luật và phù hợp với đường lối phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước, mà ở đó lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của đất nước được kết hợp chặt chẽ với nhau Do vậy yêu cầu là phải được thể hiện thông qua phần phân tích kinh tế

xã hội

Phân tích kinh tế xã hội đối với nhà đầu tư đó là căn cứ chủ yếu để thuyết phục Nhà nước xét duyệt cấp giấp phép đầu tư, các cơ quan có thẩm quyền chấp nhận dự án, thuyết phục các ngân hàng cho vay vốn, thuyết phục nhân dân địa phương đặt dự án ủng hộ chủ đầu tư thực hiện dự án

Đối với các tổ chức viện trợ dự án, phân tích kinh tế xã hội cũng là một căn cứ quan trọng để họ chấp thuận viện trợ, nhất là đối với các tổ chức viện trợ nhân đạo, viện trợ cho các mục đích xã hội, viện trợ cho việc bảo vệ môi trường

Đối với các dự án phục vụ lợi ích công cộng do Nhà nước trực tiếp bỏ vốn thì phần phân tích lợi ích kinh tế xã hội đóng vai trò chủ yếu trong dự án, loại dự án này ở nước ta hiện nay đang phổ biến và chiếm một nguồn vốn khá lớn Chính vì vậy mà việc phân tích kinh tế xã hội của dự án luôn luôn giữ một vai trò quan trọng

Để thấy rõ đặc điểm của phân tích kinh tế tài chính và kinh tế xã hội ta

có một số so sánh sau:

Trang 24

Phân tích kinh tế tài chính xem xét dự án theo giác độ lợi ích trực tiếp của chủ đầu tư thì trái lại phân tích kinh tế xã hội lại đánh giá dự án xuất phát

từ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội Chủ đầu tư xuất phát từ lợi ích trực tiếp của chính mình nhưng phải nằm trong phạm vi pháp luật cho phép (như khuôn khổ của luật môi trường, luật đất đai, luật kinh

doanh, luật đầu tư, danh mục các sản phẩm bị cấm v.v )

Lợi ích của quốc gia, xã hội và lợi ích của chủ đầu tư có mặt thống nhất thể hiện ở chỗ các dự án đầu tư một mặt đem lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp, nhưng mặt khác cũng góp phần phát triển đất nước (thông qua nộp thuế) Nhưng hai lợi ích trên có thể mâu thuẫn nhau, nhất là theo giác độ bảo

mà xã hội phải từ bỏ khi chấp nhận khi phải chấp nhận một quyết định nào đó của dự án đầu tư Còn trong phân tích tài chính người ta thường dùng giá thị trường là chủ yếu Điều này sẽ thể hiện khi tính toán tài chính trong dự án nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả với những mức giá thị trường cụ thể

Một ví dụ thể hiện hai lợi ích trái ngược nhau giữa chủ đầu tư và xã hội: Khi phân tích kinh tế tài chính thì thuế bị coi là một khoản chi phí đối với

Trang 25

chủ đầu tư, nhưng khi phân tích kinh tế xã hội nó được coi là một khoản thu nhập đối với Nhà nước Khoản trợ cấp của Nhà nước đối với dự án được coi

là một khoản thu nhập còn đối với phân tích kinh tế xã hội lại là một khoản chi

Trang 26

Một số chỉ tiêu phân tích lợi ích kinh tế xã hội của dự án:

* Chỉ tiêu giá trị sản phẩm hàng hoá gia tăng năm t: Lt

Trong đó: Bt là doanh thu của dự án tại năm t

Ct là chi phí của dự án thuộc năm t (không tính chi phí đầu tư)

Dt khấu hao tại năm t Lg: giá trị sản phẩm gia tăng thu được gián tiếp ở các lĩnh vực lân cận nếu có

Đây là biểu hiện của lao động vừa mới sáng tạo và thể hiện phần đóng góp vào thu nhập quốc dân của dự án

Việc tính toán Lg rất khó khăn vì đây chỉ là ý chủ quan của người thống kê nhiều khi trị số này lại do nhiều ngành khác tạo nên Do đó phải tính Lg của các ngành một cách gần đúng như sau:

Trong đó : Lgc là giá trị gia tăng của ngành lân cận khi có dự án đầu

tư đang xét tính cho năm;

Lgo là giá trị gia tăng của ngành lân cận không có dự án

Nếu tính giá trị gia tăng của cả đời dự án (ký hiệu là Ld) ta có:

Trang 27

Trong đó : Lt : Giá trị gia tăng của năm t; n: tuổi thọ của dự án

* Chỉ tiêu mức đóng góp cho ngân sách Nhà nước

Nội dung của các khoản đóng góp của dự án ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đất, thuế tài nguyên, thuế cơ sở hạ tầng

Khi phân tích kinh tế xã hội của dự án còn thấy được sự tác động của

dự án để phát triển các ngành kinh tế khác như: Dự án có thể làm xuất hiện những ngành sản xuất mới, cung cấp đầu vào cho dự án, các ngành sản xuất mới sử dụng sản phẩm đầu ra của dự án Đồng thời dự án góp phần cải thiện các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh các ngành lân cận thông qua các chỉ tiêu như gia tăng khối lượng sản phẩm, tăng thêm lợi nhuận và mức đóng góp cho Nhà nước, tận dụng công suất dư thừa hiện có

* Phân tích kinh tế xã hội dự án còn thấy được sự góp phần phát triển kinh tế địa phương thực hiện dự án: Xuất hiện các ngành nghề mới, góp phần phát triển các doanh nghiệp hiện có ở địa phương, tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế cho địa phương, giải quyết nạn thất nghiệp, cải thiện môi sinh, tăng cường ytế

và giáo dục

Trên đây là những vấn đề liên quan đến phân tích kinh tế xã hội dự án đầu tư Có thể nói trong phân tích này có những tiêu chuẩn có thể định lượng được nhưng cũng có những tiêu chuẩn phải dùng phương pháp định tính để xem xét các khía cạnh của các vấn đề liên quan đến dự án như: Sự phù hợp của dự án đối với chiến lược phát triển chung của địa phương, của đất nước;

Sự góp phần vào phát triển các ngành mũi nhọn, những ngành kinh tế trọng điểm của cả nước

Trang 28

1.3 PHÂN TÍCH RỦI RO DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Trong đầu tư người ta luôn luôn tính đến điều kiện rủi ro của các dự án:

Rủi ro là khả năng sai lệch xảy ra giữa giá trị thực tế và kỳ vọng kết quả, sai lệch càng lớn rủi ro càng nhiều Hay rủi ro còn có cách hiểu khác: Rủi ro là toàn bộ biến cố ngẫu nhiên tiêu cực tác động lên quá trình đầu tư làm thay đổi kết quả đầu tư theo chiều hướng bất lợi

Rủi ro thường là bất khả kháng và việc xảy ra rủi ro đều ảnh hưởng không tốt tới các bước tiếp theo của dự án Rủi ro thường xảy ra trong các khâu như: lập dự án; thực hiện dự án; quản lý dự án Rủi ro thường là do chất lượng các số liệu dự báo thị trường, dự báo tài chính kinh tế (như đơn giá, định mức, suất thu lợi được dùng làm ngưỡng hiệu quả) được dùng để lập và phân tích dự án đầu tư Các rủi ro về thị trường đầu vào và đầu ra làm cho dự

án không đạt hiệu quả như mong muốn Các rủi ro về kinh tế vĩ mô như: thuế,

tỷ giá hối đoái, lạm phát, sự thay đổi các chủ trương và chính sách kinh tế vĩ

mô Nguy cơ hao mòn vô hình do tốc độ phát triển của khoa học công nghệ Tình hình cạnh tranh trên thị trường, các rủi ro do hội nhập kinh tế và khu vực

Việc xem xét ảnh hưởng của sự biến động trên thị trường ảnh hưởng đến dự

án đầu tư chính là phân tích rủi ro dự án đầu tư

- Có rất nhiều loại rủi ro chung như: rủi ro về chính trị; rủi ro về chính sách của luật pháp; rủi ro về thương mại, rủi ro về thông tin khi ra quyết định, rủi

ro về công nghệ, tổ chức

- Rủi ro bộ phận: rủi ro trong xây dựng; rủi ro trong vận hành; rủi ro về tài chính; rủi ro về doanh thu

* Các phương pháp phân tích rủi ro dự án đầu tư

Có hai nhóm phương pháp được sử dụng để phân tích rủi ro dự án đầu tư:

Phương pháp phân tích rủi ro gián tiếp bao gồm:

Trang 29

- Phương pháp tính toán gần đúng mức độ rủi ro

- Phương pháp phân tích độ nhạy

Phương pháp phân tích rủi ro trực tiếp bao gồm:

- Phương pháp mô phỏng Monte Carlo

- Phương pháp cây quyết định

1.3.1 Phương pháp tính toán gần đúng mức độ rủi ro

1.3.1.1 Phương pháp rút ngắn tuổi thọ dự án:

Thông thường dự án đầu tư đều có tuổi thọ như đã trình bày phần 1.1.1 tuổi thọ đó căn cứ vào từng dự án mà có độ dài ngắn khác nhau Nhưng để giảm bớt rủi ro cho các chủ đầu tư người ta dùng phương pháp rút ngắn tuổi thọ của dự án như sau: Dự án có tuổi thọ n năm, rút ngắn a năm như vậy dự

án chỉ còn (n-a) năm để tính các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế Ví dụ khi tính NPV người ta chỉ tính cho (n-a) năm thay vì tính n năm

Co i

SV i

Ct Bt NPV

1

)1(

*)

1(

*)(

Trong đó : NPV là giá trị hiện tại thuần của dự án

Bt: Doanh thu tại năm t Ct: Chi phí khai thác tại năm t Co: Chi phí đầu tư ban đầu SV: Giá trị còn lại

n: Tuổi thọ của dự án i: lãi suất

Khi 0 < NPV(n-a) <NPVnthì dự án vẫn được chấp nhận và đã tính trong điều kiện rủi ro Như vậy khi tính NPV trong trường hợp này là đã giảm đi một phần để bù đắp khi có rủi ro xảy ra đối với dự án Đây là phương pháp tính gần đúng mức độ rủi ro Vì các nhà đầu tư không tính được một cách

Trang 30

chính xác sẽ phải giảm đi bao nhiêu năm thì mới tránh được rủi ro vì vậy nó

là phương pháp tính gần đúng Nhưng trên thực tế thì phương pháp này rất ít được sử dụng

1.3.1.2 Phương pháp giảm dòng lãi của dự án

Để bù đắp được những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án, người ta đưa ra phương pháp làm giảm dòng lãi của dự án bằng cách nhân vào dòng lãi với một hệ số ỏt < 1 rồi tính NPV khi phải nhân với hệ số ỏt đó

1.3.1.3 Phương pháp tăng hệ số chiết khấu

Hệ số chiết khấu cơ sở i, khi áp dụng phương pháp tăng hệ số chiết khấu trong trường hợp rủi ro ta tăng thêm hệ số chiết khấu là r gọi là hệ số rủi ro Như vậy, hệ số chiết khấu có tính đến rủi ro là: i’ = i + r từ đó ta tính NPV với hệ số i’ ta được NPV’ tức là đã tính yếu tố rủi ro

1.3.2 Phương pháp phân tích độ nhạy

Quá trình phân tích độ nhạy dự án sẽ dựa trên phương án cơ sở với những giả thiết chắc chắn nhất, sau đó chúng ta thay đổi một biến trong khi vẫn giữ nguyên các biến khác như phương án cơ sở Từ những thay đổi này chúng ta đi đến nhận xét các kết quả đầu ra nào (NPV, IRR, B/C, Thv) thay đổi nhiều nhất khi thay đổi một biến Chủ đầu tư chỉ cần xem xét sự thay đổi

đó để có hướng điều chỉnh cho phù hợp tránh những lãng phí và cũng có biện pháp phòng tránh rủi ro khi dự án liên quan nhiều đến biến mà tác động lớn đến sự thay đổi của các kết quả Có các giả thiết thường được sử dụng để đánh giá độ nhạy của dự án đầu tư là: Tăng vốn đầu tư; giảm doanh thu do mức sản xuất và tiêu thụ không như dự kiến; tăng vốn đầu tư cùng với giảm doanh thu Chúng ta có thể sử dụng phân tích độ nhạy để xem xét quyết định lựa chọn phương án tốt nhất trong các phương án xem xét lựa chọn Phương

án tốt nhất là phương án ít nhạy cảm nhất so với các yếu tố thay đổi

Trang 31

1.3.3 Phương pháp cây quyết định

Phương pháp này là dùng cách mô tả dự án dưới dạng hình cây với các giá trị xác suất ở các đầu mút và đầu quyết định Cây quyết định chỉ ra các phương án lựa chọn với các giá trị xác suất xác định

Cây quyết định bắt đầu từ trái sang phải với hình vuông là nút quyết định, hình tròn là biểu thị các tình huống bất định, qua mỗi đường đi của các tình huống đều tính được giá trị NPV của các dự án tương ứng với các xác suất

Ý nghĩa của cây quyết định:

* Việc xây dựng cây quyết định cho chúng ta có một cách nhìn nhận rất logíc

và khoa học về những tình huống có thể xảy ra của một dự án đầu tư

* Trình diễn được tất cả các quyết định kết quả của tất cả các phương án một cách có hệ thống, nên áp dụng trong tính toán các dự án có tính đến rủi ro

* Biểu diễn được tiến trình phân tích dự án

Nhưng ngược lại phương pháp cây quyết định cũng có một số nhược điểm:

- Trong trường hợp bài toán nhiều thông số, nhiều tình huống, nhiều thời kỳ biểu diễn trên cây quyết định sẽ rất phức tạp

- Phương pháp cây quyết định đã đưa được xác suất của các tình huống bất định vào trong chỉ tiêu hiệu quả dưới dạng kỳ vọng nhưng nó không cho biết khoảng giao động của chỉ tiêu này Điều này sẽ được khắc phục bằng phương pháp mô phỏng Monte Carlo

1.3.4 Phương pháp mô phỏng Monte Carlo

Phương pháp mô phỏng Monte Carlo được dùng để xây dựng phân bố xác suất cho các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư như: NPV, IRR, B/C thông qua phân bố xác suất của các thông số đầu vào như: Chi phí đầu

tư, chi phí vận hành, giá nguyên vật liệu, giá bán trong đó có một số thông

số đầu vào luôn luôn biến đổi do nhiều nguyên nhân Kết quả đầu ra của dự

án tính đến giá trị hiện tại thuần NPV, B/C, IRR, Thv Nhưng vấn đề là chúng

Trang 32

ta phải sử dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo để xác định phân bố xác suất của chỉ tiêu hiệu quả từ các thông số đầu vào

Nội dung của phương pháp mô phỏng Monte Carlo:

Mục đích của việc mô phỏng là xây dựng xác suất chỉ tiêu hiệu quả của

dự án NPV hoặc IRR dựa trên phân bố xác suất của các thông số đầu vào và xem xét mối tương quan giữa các thông số ngẫu nhiên Bằng cách lấy ngẫu nhiên lần lượt từng giá trị phân bố xác suất của thông số đầu vào từ đó sẽ tạo nên được sự phân bố xác suất của chỉ tiêu NPV hay IRR Và khi lặp lại quá trình này nhiều lần sẽ xây dựng được sơ đồ phân bố xác suất của các chỉ tiêu Phương pháp mô phỏng đòi hỏi một khối lượng tính toán rất lớn và bằng sự

hỗ trợ của phần mềm máy tính, phân tích rủi ro áp dụng mô phỏng Monte Carlo như Risk Maste, Risk Analysis, Crystal Ball

Các bước tiến hành mô phỏng:

Khi xác định được phân bố xác suất cho mỗi thông số đầu vào thì thực hiện mô phỏng theo các bước sau:

* Bước 1: Lập các thông số bất định của dự án cùng với phân bố xác suất của chúng Việc này có thể dựa vào các số liệu thống kê hoặc dựa vào kinh nghiệm chuyên gia, kiểm tra các biến độc lập

* Bước 2: Xây dựng bảng phân tích tài chính dự án, xác định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án đem lại cho chủ đầu tư Thiết lập mối quan hệ giữa các chỉ tiêu cần mô phỏng với bảng thông số rủi ro dự án

* Bước 3: Gắn cho các trị số của mỗi bảng thông số bất định các miền tự nhiên, ngẫu nhiên bất kỳ Tiến hành thực hiện phương pháp mô phỏng Monte Carlo, việc này được máy tính thực hiện và phép thử có thể tới hàng vạn lần

* Bước 4: Xác định phân bố xác suất của các chỉ tiêu hiệu quả dự án NPV, IRR, B/C, Thv

Trang 33

* Bước 5: Tính toán đo lường mức độ rủi ro của dự án (sử dụng các giá trị kỳ vọng, độ lệch chuẩn cùng với hệ số độ lệch chuẩn tương đối)

Ghi chú: Xác định các thông số đầu vào là vô cùng quan trọng cho việc phân tích rủi ro dự án Đầu vào chính xác thì việc kết luận cũng chính xác, đây là quá trình xây dựng các đặc tính phân bố xác suất của các thông số đầu vào bất định

1.4 CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1.4.1 Giá trị theo thời gian của dòng tiền

Một dự án đầu tư thường kéo dài nhiều năm (nhiều thời đoạn) Ở mỗi một thời đoạn đó đều có phát sinh các khoản thu và chi (hoặc chỉ có thu, hoặc chỉ có chi, hoặc thậm chí không có cả thu lẫn chi) Để thuận lợi cho việc tính toán, người ta thường quy ước các thời đoạn bằng nhau và các khoản thu chi

đó đều xảy ra ở cuối mỗi thời đoạn (trừ vốn đầu tư ban đầu được quy ước bỏ

ra ở thời điểm 0) Hiệu số thu và chi ở mỗi một thời đoạn có thể là âm hay dương Hiệu số thu chi đó xảy ra theo thời gian và được gọi là dòng tiền tệ (CASH- FLOW) viết tắt là CF Vì lý do dự án đầu tư thường có tuổi thọ tương đối dài, các khoản doanh thu và chi phí thường xảy ra ở các thời điểm khác nhau

Trong thực tế, đồng vốn phải luôn luôn được sử dụng dưới mọi hình thức để sinh lợi và không được để vốn nằm chết Nếu đồng vốn không được

sử dụng sẽ gây một khoản thiệt hại do ứ đọng vốn Một đồng vốn bỏ ra kinh doanh ở thời điểm hiện tại khác hẳn một đồng vốn bỏ ra trong tương lai Do

đó cần phải xem xét vấn đề giá trị của đồng tiền theo thời gian và tính giá trị tương đương của chúng tại các thời điểm khác nhau đó Đó là vấn đề giá trị tiền tệ theo thời gian Đồng tiền luôn thay đổi giá trị theo thời gian dưới tác động của lãi suất

Trang 34

Để phân tích, so sánh và lựa chọn các phương án đầu tư, ta cần phải tính toán giá trị tương đương của dòng tiền dự án bằng cách: Qui đổi về một thời điểm nào đó trong thời gian thực hiện dự án Thường người ta hay qui đổi dòng tiền về hiện tại, tương lai hoặc về dòng tiền phân bố đều và ngược lại

Trang 35

Bảng 1.1: Tóm tắt những công thức qui đổi giữa giá trị hiện tại, giá trị

tương lai và giá trị đều hàng năm

MÁY TÍNH

CÔNG THỨC THEO ĐỊNH NGHĨA

1 F= P(F/P,i%,n) FV(rate,nper,0,-pv,type) P(1+i) n

2 P = F(P/F,i%,n) PV(rate,nper,0,-fv,type) F/(1+i) n

3 F = A(F/A,i%,n) FV(rate,nper,-pmt,0,type)

i

i A

n

1 ) 1 ( + −

4 A = F(A/F,i%,n) Pmt(rate,nper,0,-fv,type)

1 ) 1 ( + n

i

i F

5 P = A(P/A,i%,n) PV(rate,nper,-pmt,0,type) n

n

i i

i A

) 1 (

1 ) 1 ( +

− +

6 A = P(A/P,i%,n) Pmt(rate,nper,-pv,0,type)

1 ) 1 (

) 1 (

− +

+

n n

i

i i P

Trong đó: P: Giá trị hiện tại; F: Giá trị tương lai; A:giá trị đều

Trong EXCEL có 3 hàm tổng quát có thể dùng để biến đổi tương đương các đại lượng P, F, A thông qua n và i% trong đó PV = P, FV = F, Pmt

= A

type: Nếu ở đầu thời đoạn lấy giá trị 1, nếu ở cuối thời đoạn lấy giá trị 0

(F/P,i,n) Hệ số qui đổi giá trị tương lai

(F/A,i,n) Hệ số quy đổi giá trị tương lai của dòng tiền đều

(P/F,i,n) Hệ số qui đổi về giá trị hiện tại

1.4.2 Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư

1.4.2.1 Giá trị hiện tại thuần NPV (Net Present Value)

Để đánh giá đầy đủ quy mô lãi của cả đời dự án trong phân tích tài chính

Trang 36

Giá trị hiện tại thuần NPV của một dự án là tổng lãi các năm của dự

án quy đổi về hiện tại (tại năm 0)

Chỉ tiêu này xác định giá trị tuyệt đối của lãi dự án đã quy về hiện tại Công thức tính như sau:

Co i

SV i

Ct Bt NPV

1

) 1 (

* )

1 (

* ) (

Trong đó : NPV là giá trị hiện tại thuần của dự án

Bt: Doanh thu tại năm t

Ct: Chi phí khai thác tại năm t

Co: Chi phí đầu tư ban đầu

SV: Giá trị còn lại n: Tuổi thọ của dự án i: lãi suất

Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần NPV được xem là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá dự án đầu tư

Điều kiện của NPV:

- NPV > 0: Dự án có lãi, chấp nhận dự án

- NPV < 0: Dự án lỗ , loại bỏ dự án

- NPV ⇒ max dự án tối ưu, chấp nhận dự án

Trong một số trường hợp, để so sánh và lựa chọn các dự án đầu tư có chi phí giống nhau thì dự án tối ưu là dự án có tổng giá trị hiện tại của doanh thu lớn nhất (PVB max), ngược lại những dự án có doanh thu giống nhau thì dự

án tối ưu là dự án có chi phí nhỏ nhất (PVC min) Mặt khác, khi tính được NPV thì ta cũng dễ dàng tính được giá trị tương lai của lãi (NFV) và giá trị phân bố đều của lãi (NAV)

Việc lựa chọn các dự án có tuổi thọ khác nhau chúng ta phải quy về thời

kỳ phân tích đó là bội số chung nhỏ nhất của tuổi thọ của các dự án Sau đó tính NPV của các dự án theo thời kỳ phân tích, dự án nào có NPV lớn nhất thì được chọn

Trang 37

Nhưng tiêu chuẩn NPV có một nhược điểm như sau: Giá trị của NPV sẽ thay đổi nếu lãi suất thay đổi Thay đổi lãi suất ảnh hưởng lớn đến giá trị hiện tại của lợi ích và chi phí Dự án thường phải sử dụng những khoản đầu tư lớn

ở những năm đầu, các khoản doanh thu chỉ xuất hiện khi dự án đi vào khai thác Do vậy lãi suất tăng thì giá trị hiện tại của lợi ích sẽ giảm nhanh hơn giá trị hiện tại của chi phí vì vậy mà giá trị hiện tại thuần của dự án sẽ giảm xuống

Khi lãi suất vượt quá một mức độ nào đó thì giá trị của NPV sẽ chuyển

từ âm sang dương Đây cũng là phân tích độ nhạy của dự án khi các yếu tố đầu vào thay đổi thì kéo theo kết quả của dự án thay đổi mức độ thay đổi lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào sự nhạy cảm của các yếu tố đầu vào Điều này rất cần thiết trong phân tích tài chính dự án đầu tư vì thường các dự án của chúng ta xảy ra trong một thời gian dài cho nên chúng ta phải lường tới sự thay đổi của yếu tố đầu vào để có thể điều chỉnh các rủi ro có thể xảy ra

1.4.2.2 Tiêu chuẩn tỷ suất thu hồi nội tại IRR (Internal Rate of Return)

Tỷ suất thu hồi nội tại IRR là mức lãi suất mà tại đó NPV = 0 tức là:

0 ) 1 (

* ) (

0

= +

t

IRR Ct

Bt NPV

IRR là một chỉ tiêu cơ bản trong phân tích tài chính dự án Nó cho biết mức lãi suất mà dự án có thể đạt được, cho nên chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá dự án Nếu ta huy động vốn với lãi suất i* để thực hiện dự án đem lại

tỷ suất lợi nhuận thì điều kiện của IRR là:

IRR ≥ i*: Chấp nhận dự án

IRR < i*: Loại bỏ dự án

IRR → max : Dự án tối ưu, chấp nhận dự án

Trang 38

Để xác định được IRR ta phải giải phương trình NPV = 0 bằng phương pháp nội suy tức là: Tìm i1 và i2 sao cho NPV1 ≥ 0 và NPV2 ≤ 0 Vì NPV là một hàm liên tục nên trong khoảng giữa NPV1 và NPV2 sẽ tồn tại NPVi* = 0 nằm giữa i1 và i2 với i*, việc nội suy i* sẽ được thực hiện theo công thức sau:

2 1

1 1

2

NPV NPV

NPV i

i i IRR

+

− +

=

Trong đó: IRR là tỷ suất thu hồi nội tại

i1:: Lãi suất để tính NPV1

i2: Lãi suất để tính NPV2

Hình 1.1: Biểu diễn tiêu chuẩn IRR

Nếu khoảng cách i1 và i2 còn lớn chúng ta tiếp tục nội suy với khoảng cách thu hẹp hơn để xác định chính xác hơn tỷ suất IRR Khi sử dụng phương pháp nội suy không nên chọn khoảng cách quá rộng, cần quan tâm đến lãi

Trang 39

suất ban đầu, vì lãi suất này càng gần tỷ suất nội tại thì việc tính toán càng nhanh chóng và chính xác

Tiêu chuẩn IRR là một tiêu chuẩn hay được sử dụng để mô tả tính hấp dẫn của dự án vì đó là tiêu chuẩn hữu ích để tổng kết tính doanh lợi của dự án Trong một số trường hợp nó cho phép tránh được những khó khăn khi phải xác định trước lãi suất thích hợp

1.4.2.3 Tỷ lệ lợi ích/ chi phí (Benifits On Costs)

Tỷ lệ lợi ích/ chi phí (B/C) xác định mối quan hệ giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra Xác định tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của lợi ích với giá trị hiện tại của

chi phí bỏ ra Ta có công thức như sau:

Trong đó:

Bt: Doanh thu của dự án tại năm t; Ct: Chi phí của dự án tại năm t; i: lãi suất

Điều kiện sử dụng tỷ lệ lợi ích trên chi phí là:

Nếu B/C > 1: Chấp nhận dự án có nghĩa là doanh thu lớn hơn chi phí

Nếu B/C < 1: Loại bỏ dự án, doanh thu không bù đắp được chi phí bỏ ra Nếu B/C - Max: Dự án tối ưu, chấp nhận dự án

Tỷ lệ B/C có ưu điểm là nhanh chóng xác định được mối quan hệ giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra (xác định được một đồng vốn bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu) Giúp chủ đầu tư bước đầu có những quyết định nhanh chóng kịp thời Đồng thời dùng để xếp hạng các dự án độc lập theo nguyên tắc ưu tiên cho những dự án có tỷ lệ B/C cao hơn Tuy nhiên, là chỉ tiêu đánh

t

i Ct

Bt

PWC

PWB C

B

0

0

) 1 (

*

) 1 1 (

* /

Trang 40

Vì tỷ lệ này mang tính tương đối nên tiêu chuẩn này ảnh hưởng rất nhỏ đến quyết định đầu tư Chính vì vậy khi sử dụng chỉ tiêu B/C phải kết hợp với chỉ tiêu khác nữa mới đi đến kết luận

1.4.2.4 Thời gian hoàn vốn – Thv

Thời gian hoàn vốn là thời gian tính từ khi dự án đi vào khai thác cho đến khi NPV = 0 (Xác định khoảng thời gian số vốn đầu tư bỏ ra thu hồi được hoàn toàn)

Thể hiện thời gian hoàn vốn trong công thức như sau:

0 ) 1 (

* ) (

0

= +

t

i Ct

Bt NPV

Hình 1.2: Biểu diễn thời gian hoàn vốn của dự án

Để tính thời gian hoàn vốn Thv ta có một số cách sau đây:

Bằng phương pháp nội suy ta có:

1 1

2

NPV NPV

NPV t

t t T

Ngày đăng: 22/01/2021, 13:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w