Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Các vấn đề về lý luận và thực tiễn: các văn kiện, tài liệu về định hướng phát triển kinh tế xã hội, kinh tế đối ngoại, đầu tư nước ngoài của Đảng, nhà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TUYẾT LAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TẠI HẢI PHÒNG
Ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN NGHIẾN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TUYẾT LAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TẠI HẢI PHÒNG
HÀ NỘI 2005
Trang 3Trang Lời nói đầu
Phần I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀO KHU CÔNG NGHIỆP 04
I.2 Quá trình phát triển và vai trò của các KCN đối với sự phát triển kinh
tế xã hội
18
II.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thu hút đầu tư vào Hải Phòng 32
1.2 Một số khó khăn thách thức đối với thành phố Hải Phòng 33
1.4 Những tồn tại yếu kém ở thành phố Hải Phòng 41
2.1 Vài nét giới thiệu về ba KCN, KCX ở Hải Phòng 43 2.2 Đánh giá những thành tựu và hạn chế về đầu tư vào các KCN của
2.2.2 Những thành tựu và đóng góp của các KCN trong sự phát triển
kinh tế chung của thành phố
54
Phần III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH VÀ THU HÚT ĐẦU
TƯ VÀO CÁC KCN TẠI HẢI PHÒNG
79
III.1 Mục tiêu phát triển và thu hút đầu tư vào các KCN đến năm 2010 79
III.2 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh và thu hút đầu tư vào các KCN
2.3 Giải pháp về quy hoạch phát triển KCN của thành phố Hải Phòng 90
2.5 Giải pháp về cải thiện chất lượng đội ngũ cán bộ và người lao
động trong các KCN
97
Tài liệu tham khảo
Phụ Lục: ảnh Quy hoach tổng thể ba KCN đang hoạt động tại Hải Phòng
Trang 4MỞ ĐẦU
Một trong những biện pháp mang lại hiệu quả cao trong việc thu hút đầu tư
mà chính phủ các nước đã chủ trương phát triển đó là các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) với những ưu đãi lớn để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho các nhà đầu tư hoạt động hiệu quả
Kinh nghiệm trên thế giới đã cho thấy, hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp tập trung mang lại hiệu quả to lớn đối với sự phát triển công nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung Do đó, hình thức tổ chức kinh tế kiểu này
đã được nhiều nước thừa nhận và bắt đầu hình thành và phát triển ở Việt Nam
từ năm đầu thập niên 90 Trong thời kỳ công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, Đảng và Nhà nước ta thực thi chủ trương đổi mới để thu hút mọi nguồn lực phát triển, khuyến khích xây dựng KCN nhằm tăng sức thu hút các nhà đầu tư vào kinh doanh, sản xuất, nhất là thu hút nguồn vốn đầu tư cần thiết cho sự phát triển kinh tế bền vững, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, phấn đấu xây dựng một nước công nghiệp xã hội chủ nghĩa, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
Hải phòng là một cực tăng trưởng kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc,
là một thành phố nhiều lợi thế so sánh trong lĩnh vực thu hút đầu tư, đặc biệt
là vào các KCN Hải phòng là địa phương thứ hai (sau thành phố Hồ Chí Minh) xây dựng khu chế xuất và là địa phương đầu tiên xây dựng KCN (theo Quy chế KCN được ban hành kèm theo Nghị định 192/CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ), là địa phương đứng thứ 6 trong cả nước về giá trị nguồn vốn FDI thu hút được, dẫn đầu về tỷ lệ vốn thực hiện Hoạt động của các KCN ở Hải Phòng những năm qua đã góp phần tăng nguồn vốn đầu tư, tăng giá trị sản lượng công nghiệp, giá trị xuất khẩu, tạo việc làm, đổi mới công nghệ, từng bước nâng cao tay nghề, trình độ kỹ thuật, trình độ quản lý và nghiệp vụ cho đội ngũ công nhân làm việc trong các doanh nghiệp KCN, trong ngành xây dựng và dịch vụ, góp phần làm thay đổi bộ mặt của thành phố Tuy nhiên, mức độ thành công của các KCN còn quá khiêm tốn so với mục đích đầu tư; chưa đáp ứng được yêu cầu và mong muốn của Đảng, Nhà nước nói chung và nhân dân thành phố Hải Phòng nói riêng; còn một số tồn tại khách quan mang
Trang 5tính quốc tế và khu vực cũng như những nguyên nhân chủ quan thuộc thẩm quyền và khả năng của các cấp, ngành, các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương đang trong quá trình cần khắc phục để phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, thu hút được nhiều hơn nữa các dự án đầu tư vào các KCN
Xuất phát từ những nhận thức đó, tác giả đã chọn đề tài “Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp tại Hải Phòng” là đối tượng nghiên cứu
1 Mục đích nghiên cứu:
Từ sự nghiên cứu chung về lĩnh vực thu hút đầu tư vào các KCN của các nước trong khu vực và của Việt Nam, đề tài muốn nêu bật sự cần thiết phải đẩy mạnh việc thu hút đầu tư vào các KCN cụ thể là ở thành phố Hải phòng Phân tích những nhân tố, điều kiện của các KCN của Hải phòng có ảnh hưởng đến thu hút đầu tư, đặc biệt là FDI và đánh giá thực trạng phát triển các KCN
ở thành phố trong thời gian qua để làm cơ sở cho việc tìm ra những giải pháp hữu hiệu làm cho các KCN của Hải Phòng có sức hấp dẫn đầu tư hơn
Đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư vào các KCN, các
cơ chế chính sách ưu đãi nhằm phát triển có hiệu quả hơn việc thu hút đầu tư vào các KCN của Hải phòng
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Các vấn đề về lý luận và thực tiễn: các văn kiện, tài liệu về định hướng phát triển kinh tế xã hội, kinh tế đối ngoại, đầu tư nước ngoài của Đảng, nhà nước
và thành phố Hải Phòng (có tham khảo một số tài liệu nước ngoài) về các vấn
đề liên quan đến sự hình thành và phát triển KCN, thu hút đầu tư, đặc biệt là FDI, về những hiệu quả kinh tế - xã hội của việc thu hút đầu tư vào các KCN
ở các nước trong khu vực và Việt Nam nói chung, Hải Phòng nói riêng - Hiện trạng và giải pháp để tăng cường thu hút FDI vào các KCN tại Hải Phòng
- Không gian nghiên cứu: Khảo sát thực trạng hoạt động của các KCN, Ban quản lý các KCX và CN Hải Phòng (có tham khảo tổ chức bộ máy quản lý KCN ở một số địa phương) trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Trang 6- Thời gian nghiên cứu: Từ khi thành lập các KCN của Hải Phòng, đặc biệt là trong khoảng 5 năm gần đây từ 2001 đến nay
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Dựa trên những quan điểm về quản lý kinh tế cũng như đường lối chính
sách của Đảng, Nhà nước ta về lĩnh vực thu hút đầu tư
- Phương pháp luận: Dựa vào phương pháp thống kê, điều tra và tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn
4 Bố cục của Luận văn:
Ngoài các phần Mở đầu – Lý do chọn đề tài nghiên cứu, phần Kết luận –
một số Khuyến nghị của tác giả và phần Mục lục, Tài liệu tham khảo; Nội dung chính của Luận văn sẽ được trình bày trong 3 phần lớn sau:
Phần I: Những vấn đề chung về đầu tư vào khu công nghiệp
tập trung trình bày những vấn đề cơ bản liên quan đến thu hút đầu tư nói chung và FDI nói riêng vào KCN, như: một số khái niệm, các hình thức đầu
tư, quá trình phát triển và vai trò của các KCN với sự phát triển kinh tế xã hội, quản lý nhà nước đối với đầu tư vào các KCN ;
Phần II: Thực trạng đầu tư vào các khu công nghiệp tại Hải Phòng
tập trung trình bày các điều kiện tự nhiên, xã hội, những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và thu hút đầu tư vào các KCN tại Hải Phòng; sự hình thành và thực trạng phát triển các KCN ở Hải Phòng - đánh giá những thành tựu và hạn
chế về đầu tư vào các KCN tại Hải Phòng…;
Phần III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh và thu hút đầu tư vào các
khu công nghiệp tại Hải Phòng
tập trung trình bày phương hướng thu hút đầu tư, đặc biệt là FDI vào các KCN tại Hải Phòng giai đoạn 2005 – 2010; Một số giải pháp tăng cường thu hút đầu tư vào các KCN tại Hải Phòng giai đoạn 2005 – 2010
Trang 7Phần I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀO KHU CÔNG NGHIỆP
Thực hiện chính sách đổi mới đa dạng hóa các hình thức và hoạt động kinh tế đối ngoại, đa phương hóa thị trường và các đối tượng hợp tác, việc hình thành
và phát triển các khu chế xuất (KCX), khu công nghiệp (KCN) tập trung hoặc khu kinh tế đặc biệt, là một trong những hình thức tạo môi trường thu hút vốn đầu tư và điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, nhất là các Công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Việc phát triển các KCX, KCN (sau đây gọi chung là các KCN) không những chỉ đáp ứng nhu cầu xuất khẩu sản phẩm từ các KCN tập trung có khả năng cạnh tranh cao, mà còn tạo ra môi trường và điều kiện thích hợp để đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ quản
lý và công nhân kỹ thuật trong các lĩnh vực sản xuất khác trong nước
I.1.1 Các hình thức đầu tư:
❖ Đầu tư nói chung, theo nghĩa rộng nhất của nó có thể hiểu là quá trình
bỏ vốn, bao gồm cả tiền, nguồn lực và công nghệ để đạt được một mục đích hay một tập hợp các mục đích hoặc mục tiêu nhất định nào đó Những loại mục tiêu này có thể là mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội, và cũng có thể chỉ mang ý nghĩa nhân đạo đơn thuần
Trong hoạt động kinh tế, đầu tư có thể hiểu cụ thể hơn và mang bản chất kinh tế Đó là những hoạt động đầu tư kiếm lời Là quá trình bỏ vốn (tiền, nhân lực, nguyên liệu, công nghệ ) vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận Đây được xem như bản chất cơ bản của các hoạt động đầu tư Trong hoạt động kinh tế, không có khái niệm đầu tư không vì lợi nhuận Có thể hiểu đầu tư là việc đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạt động kinh tế nhằm thu lại một lượng lớn hơn sau một khoảng thời gian nhất định
❖ Đầu tư trong nước (DI) là việc nhà đầu tư (tổ chức, cá nhân) của nước
sở tại sử dụng tiền vốn, tài nguyên để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội
Trang 8❖ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài
trực tiếp đưa vào nước chủ nhà một lượng vốn bằng tiền mặt hoặc bất
kỳ một loại tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư và tham gia trực tiếp quản lý các hoạt động đầu tư đó theo quy định của pháp luật nước sở tại Nếu xét FDI dưới góc độ kinh tế có thể hiểu đó là những khoản đầu tư do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài đưa vào một nước để trực tiếp sản xuất kinh doanh hoặc dưới dạng góp vốn liên doanh với các tổ chức hoặc cá nhân trong nước theo quy định của pháp luật nước
sở tại
Đầu tư nước ngoài là một tất yếu khách quan, có tính quy luật phát triển lâu dài cả bề rộng và chiều sâu bắt nguồn từ quá trình quốc tế hoá sâu sắc nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội, từ sự cuốn hút mạnh
mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ, từ sự gia tăng tích luỹ tư bản và công nghệ, từ nhu cầu tái cấu trúc lại nền kinh tế của các quốc gia trước sức ép của cuộc cạnh tranh gay gắt, quyết liệt của nền kinh tế toàn cầu
Cùng với sự phát triển của thương mại và thị trường tài chính quốc tế, các công ty xuyên quốc gia đã tạo điều kiện cho FDI phát triển mạnh
mẽ Trong những thập kỷ qua, các công ty xuyên quốc gia thường chiếm trên 70% tổng nguồn vốn FDI quốc tế Công ty mẹ thường chuyển giao vốn của mình qua các công ty chi nhánh ở nước ngoài Vì vậy, khi nói tới FDI, người ta thường đề cập đến dòng lưu chuyển vốn quốc tế, trong đó một công ty ở một nước tạo ra hoặc mở rộng chi nhánh ở nước khác
Việc chuyển giao vốn không đơn thuần là sự chuyển giao nguồn lực mà còn là sự mở rộng thị trường, mở rộng sự kiểm soát và quản lý
I.1.2 Khu công nghiệp (KCN): là khu tập trung các doanh nghiệp khu công
nghiệp (chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp), các doanh nghiệp khu chế xuất (chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu) có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
Trang 9Khu chế xuất (KCX): là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp
KCX chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
❖ Các loại doanh nghiệp hoạt động trong KCN và các lĩnh vực được
đầu tư: Doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế; Doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Các bên tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài được đầu tư vào các lĩnh vực:
- Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng;
- Sản xuất, gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu
và tiêu thụ tại thị trường trong nước; phát triển và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ;
- Nghiên cứu – triển khai khoa học – công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra sản phẩm mới;
- Dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp
Doanh nghiệp chế xuất: là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất
khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao;
Doanh nghiệp khu công nghiệp: là doanh nghiệp được thành lập và
hoạt động trong KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất KCN (là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp) và doanh nghiệp dịch vụ KCN (thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng KCN, dịch vụ sản xuất công nghiệp)
❖ Cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN:
- Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Giấy phép đầu tư
có giá trị là Giấy đăng ký kinh doanh (theo quy định tại điều 60 Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam);
Trang 10- Đối với các nhà đầu tư trong nước khi đầu tư vào KCN phải có quyết định thành lập doanh nghiệp theo quy định hiện hành đối với mỗi loại hình doanh nghiệp
- Thời hạn hoạt động của doanh nghiệp trong KCN được tính từ ngày doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền ra quyết định chấp thuận đầu tư (đối với Doanh nghiệp đầu tư trong nước) hoặc cấp Giấy phép đầu tư (đối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và không vượt quá
50 năm và thời hạn hoạt động của Công ty phát triển hạ tầng KCN
I.1.3 Quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp
❖ Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh (BQL): là cơ quan quản lý
trực tiếp các KCN, KCX trong phạm vi địa lý hành chính của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Thủ tướng Chính phủ quyết định
thành lập
❖ Vai trò của Ban quản lý KCN cấp tỉnh và nội dung quản lý nhà
nước đối với các khu công nghiệp:
Giai đoạn đầu, cùng với việc thành lập khu chế xuất đầu tiên của cả nước là KCX Tân Thuận – ra đời Ban quản lý gọi là Ban quản lý khu chế xuất, có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý nhà nước đối với khu chế xuất theo quy định tại Điều 57 Quy chế KCX tại Việt Nam (Nghị định 322/HĐBT ngày 18/10/1991 của Hội đồng Bộ trưởng) Cuối năm 1994, KCN Nomura – Hải Phòng là KCN được thành lập đầu tiên ở nước ta và tiếp sau đó, xu thế thành lập các KCN là phổ biến; do vậy, Ban quản lý được gọi là Ban quản lý KCN có chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn quản lý trực tiếp KCN theo quy định tại Điều 20 Quy chế KCN (Nghị định 192/CP ngày 25/12/1994 của Chính Phủ)
Trước khi có Ban quản lý các khu công nghiệp Việt Nam (tháng 12/1996), việc quản lý các KCN ở Trung ương được thực hiện theo chức năng và thẩm quyền của các Bộ, ngành quy định trong pháp luật Ngày 27/8/1996, Thủ tướng Chính phủ có quyết định 595/TTg thành lập Văn phòng quản lý KCN trực thuộc Văn phòng Chính phủ
Trang 11Xuất phát từ việc hình thành và tình hình hoạt động của các KCN trên
cả nước, đòi hỏi cần có một cơ quan giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những vấn đề quan trọng liên ngành, thúc đẩy phát triển nhanh các KCN Căn cứ theo khoản 4, Điều 20 Luật
tổ chức Chính phủ năm 1992 và ý kiến của Ban tổ chức cán bộ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 969/TTg ngày 28/12/1996 thành lập Ban quản lý các KCN Việt Nam
Năm 1987, Nhà nước ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và
đã nhiều lần điều chỉnh theo hướng ngày càng thông thoáng và phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn và thông lệ quốc tế (lần điều chỉnh gần nhất
là ngày 09/6/2000 được thông qua tại kỳ họp thứ 7 khóa X Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam) Tiếp đó, một loạt Luật khác được ban hành: Luật công ty (1990), Luật doanh nghiệp tư nhân (1990), Luật phá sản doanh nghiệp (1993), Luật khuyến khích đầu tư trong nước (1994), Luật doanh nghiệp nhà nước (1995), Luật thương mại (1997), Luật thuế Giá trị gia tăng (1997), Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (1999), Luật ngân hàng, Luật bảo vệ môi trường… cùng với các văn bản dưới luật khác đã tạo thành hành lang pháp lý cho các nhà đầu tư hoạt động Theo quy định tại quyết định 969/TTg và Nghị định 36/CP năm 1997 của Chính phủ ban hành Quy chế KCN, Ban quản lý các KCN Việt Nam là một tổ chức tư vấn, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ về hoạt động KCN, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ
về việc chuẩn bị, xây dựng, phát triển và quản lý KCN đã được quy hoạch và phê duyệt Ban quản lý các KCN Việt Nam là đầu mối tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ giải quyết các vấn đề liên quan đến KCN; đầu mối phối hợp với các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển KCN
Ngày 24/4/1997, Chính phủ ban hành Nghị định 36/CP về quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao, thay thế hai Nghị định 322/HĐBT ngày 18/10/1991 của Hội đồng Bộ trưởng và 192/CP ngày 25/12/1994 của Chính Phủ Để phù hợp với tình hình phát triển của các KCN, Ban
Trang 12quản lý các KCN cấp tỉnh ra đời Ban quản lý các KCN cấp tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 27 của Quy chế này:
1 Xây dựng điều lệ quản lý KCN trên cơ sở Điều lệ mẫu do Bộ Kế hoạch và đầu tư ban hành trình UBND cấp tỉnh phê duyệt
2 Tổ chức xây dựng và quản lý thực hiện quy hoạch chi tiết, tiến độ xây dựng, phát triển KCN bao gồm: quy hoạch phát triển công trình kết cấu hạ tầng, quy hoạch bố trí ngành nghề; tham gia phát triển công trình kết cấu hạ tầng ngoài KCN liên quan và khu dân cư phục
vụ cho công nhân lao động tại KCN
3 Đôn đốc, kiểm tra việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN liên quan để đảm bảo việc xây dựng và đưa vào hoạt động đồng bộ theo đúng quy hoạch và tiến độ được duyệt
4 Hỗ trợ vận động đầu tư vào KCN
5 Tiếp nhận đơn xin đầu tư kèm theo dự án đầu tư, tổ chức thẩm định
và cấp giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư nước ngoài theo ủy quyền
6 Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện cấp giấy phép đầu tư, hợp đồng gia công sản phẩm, hợp đồng cung cấp dịch vụ, hợp đồng kinh doanh, các tranh chấp kinh tế theo yêu cầu của đương sự
7 Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về lao động trong việc kiểm tra, thanh tra các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, an toàn lao động, tiền lương
8 Quản lý hoạt động dịch vụ trong KCN
9 Thỏa thuận với Công ty phát triển hạ tầng KCN trong việc định giá cho thuê lại đất gắn liền với công trình kết cấu hạ tầng đã xây dựng, các loại phí dịch vụ theo đúng chính sách và pháp luật hiện hành
10 Cấp, điều chỉnh và thu hồi các loại giấy chứng chỉ thuộc thẩm quyền hoặc theo ủy quyền; Cấp, điều chỉnh và thu hồi các loại giấy phép theo ủy quyền
11 Được mời đại diện tham dự các cuộc họp của các cơ quan Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi bàn về việc hình thành, xây dựng, phát triển và quản lý KCN
Trang 1312 Báo cáo định kỳ và hàng năm theo quy định của pháp luật về tình hình hình thành, xây dựng, phát triển và quản lý KCN về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ban quản lý các KCN Việt Nam, các cơ quan Chính phủ có liên quan
Như vậy Ban quản lý các KCN cấp tỉnh trở thành cơ quan quản lý nhà nước đa lĩnh vực – nhiều hơn bất cứ Sở, Ban, Ngành nào thuộc tỉnh;
vận hành cơ chế “một cửa, tại chỗ”; do Thủ tướng Chính phủ quyết
định thành lập và bổ nhiệm Trưởng Ban; được sử dụng con dấu có hình Quốc huy; thực hiện nội dung quản lý nhà nước theo ủy quyền của một
số Bộ, Ban, Ngành thông qua các văn bản sau:
- Quyết định 161/BKH-KCN ngày 26/6/1997 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ủy quyền cho Ban quản lý trong việc hình thành dự
án, tiếp nhận, thẩm định hồ sơ dự án; cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy phép đầu tư và quản lý hoạt động các dự án đầu tư nước ngoài trong các KCN, KCX
- Quyết định số 0911/TM-XNK ngày 28/10/1997 của Bộ Thương mại
về việc ủy quyền cho Ban quản lý xét duyệt kế hoạch và quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cho các doanh nghiệp khu chế xuất, doanh nghiệp khu công nghiệp và cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu D cho các sản phẩm được sản xuất tại KCN, KCX
- Quyết định 1414/1967/QĐ-BLĐTBXH ngày 17/11/1997 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc ủy quyền cho Ban quản
lý thực hiện một số nhiệm vụ quản lý lao động tại các KCN, KCX
- Thông tư 151/TCCP-TC ngày 04/8/1997 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ “ Hướng dẫn về công tác tổ chức và tiền lương của Ban quản lý các KCN, KCX, KCNC”
- Thông tư 04/BXD-KTQH ngày 24/4/1997 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện việc lập, xét duyệt quy hoạch chi tiết, quản lý xây dựng theo quy hoạch…
- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có Quyết định số 393/PTM-PC ngày 13/9/1997 ủy quyền cho các Ban quản lý KCN
Trang 14cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận xuất xứ cho các sản phẩm được sản xuất tại các KCN, KCX và KCNC
- Ngoài ra còn một số văn bản ủy quyền của UBND tỉnh hoặc thành phố
Đến nay, trên địa bàn các tỉnh thành phố trực thuộc TW, ngoài các Bộ, ngành TW và UBND cấp tỉnh, đã có 42 Ban quản lý KCN cấp tỉnh được Chính phủ thành lập để trực tiếp quản lý các KCN trong phạm vi địa lý hành chính của một tỉnh thực hiện cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ” Có Ban quản lý chỉ quản lý một KCN (trường hợp đặc biệt) là Ban quản lý KCN Dung Quất, Ban quản lý khu công nghệ cao Hòa lạc, Ban quản lý khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh và Ban quản lý KCN Việt Nam – Singapore Riêng tỉnh Bình Dương có hai Ban quản
lý là Ban quản lý các KCN Bình Dương và Ban quản lý KCN Việt Nam – Singapore
Do hệ thống tổ chức bộ máy quản lý các KCN nói trên có một số điểm bất cập, ngày 17/8/2000 tại các Quyết định số 99/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 100/2000/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh lại
như sau: “Chuyển giao tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của
Ban quản lý KCN Việt Nam về Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Chuyển giao các Ban quản lý KCN cấp tỉnh về trực thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố…”
Vì vậy, hiện nay các Ban quản lý KCN cấp tỉnh là cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý trực tiếp các KCN trên địa bàn và
thực hiện quản lý hoạt động KCN theo nguyên tắc “một cửa, tại chỗ”
thông qua cơ chế ủy quyền của các Bộ, ngành và UBND tỉnh để giải quyết các vấn đề về thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động đầu
tư và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN Với quyền được cấp dấu Quốc huy, với phạm vi được ủy quyền khá rộng từ các
Bộ, ngành Trung ương, có thể nói quyền hạn của các Ban quản lý cấp
tỉnh là đủ lớn và rộng để thực hiện cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ”:
thông qua việc kiểm soát, điều chỉnh, thúc đẩy phát triển các KCN; tích
Trang 15cực hướng dẫn, hỗ trợ, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp có thể hoạt động một cách có hiệu quả, giảm chi phí tối
đa, giúp đỡ doanh nghiệp giải quyết các khó khăn trong quá trình triển khai dự án… được các nhà đầu tư trong và ngoài nước ghi nhận như một đóng góp tích cực trong công cuộc cải các thủ tục hành chính, thúc đẩy đầu tư
❖ Ban quản lý các KCX và CN Hải Phòng và thẩm quyền quản lý
nhà nước đối với hoạt động của các khu công nghiệp tại Hải Phòng:
Ban Quản lý các KCX và KCN Hải Phòng (tên giao dịch HEPIZA) là
cơ quan được Chính phủ thành lập theo Quyết định số 240/TTg ngày
27 tháng 4 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện việc quản
lý trực tiếp các khu chế xuất (KCX), khu công nghiệp (KCN) sau đây gọi chung là các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Trên cơ sở các quyết định uỷ quyền của các Bộ, Ban, Ngành Trung ương, Uỷ ban nhân dân thành phố và các quy chế phối hợp với các ngành chức năng của thành phố, HEPIZA quản lý các KCN tại Hải Phòng theo cơ chế “Một cửa” nhằm đơn giản hoá các thủ tục, tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho nhà đầu tư HEPIZA thực hiện các chức năng và nhiệm vụ chủ yếu sau đây trong thời gian nhanh nhất:
-1 Hướng dẫn các nhà đầu tư lập dự án, tiếp nhận, thẩm định hồ sơ dự
án, cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đầu tư và quản lý hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài trong các KCN tại Hải Phòng (Thời gian từ 1-7 ngày);
2 Xét duyệt kế hoạch XNK và quản lý các hoạt động thương mại của các doanh nghiệp trong KCN (Thời gian: trong ngày);
3 Cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá Form D (trong vòng 2 giờ);
4 Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Giấy phép đầu tư, các hợp đồng gia công sản phẩm, hợp đồng cung cấp dịch vụ, hợp đồng kinh doanh và giải quyết các tranh chấp theo yêu cầu của các nhà đầu tư;
Trang 165 Quản lý nhà nước về lao động đối với các KCN và các doanh nghiệp trong KCN Hải Phòng Kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động theo uỷ quyền của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
6 Giới thiệu, cung cấp lao động theo yêu cầu của nhà đầu tư (miễn phí);
7 Cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc trong KCN Hải Phòng (Thời gian: trong vòng 7 ngày);
8 Quản lý quy hoạch chi tiết KCN, thẩm định thiết kế quy hoạch; cấp Giấy xác nhận đăng ký báo cáo quyết toán công trình và đăng ký báo cáo quyết toán vốn đầu tư cho các dự án trong KCN;
9 Quản lý các hoạt động dịch vụ trong KCN
Trang 17CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA BAN QUẢN LÝ CÁC KCX VÀ CN HẢI PHÒNG
❖ Văn phòng: giúp việc cho Trưởng ban điều hành các hoạt động của Ban quản lý, tham mưu cho lãnh đạo Ban về công tác tổ chức cán bộ, quản lý hoạt động tài chính, xây dựng kế hoạch, chương trình làm việc của lãnh đạo Ban
❖ Phòng quản lý đầu tư: tham mưu, giúp việc Trưởng ban trong lĩnh vực vận động, thu hút đầu tư hình thành dự án đầu tư; tiếp nhận, thẩm định hồ sơ dự án; cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đầu tư; quản lý dự
án đầu tư trong giai đoạn xây dựng cơ bản để hình thành doanh nghiệp
❖ Phòng quản lý xuất nhập khẩu: tham mưu, giúp việc Trưởng ban trong lĩnh vực xét duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu, cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá và quản lý các hoạt động thương mại của các doanh nghiệp trong KCN theo nội dung uỷ quyền của Bộ Thương mại
❖ Phòng quản lý doanh nghiệp: tham muu, giúp việc Trưởng ban quản
lý nhà nước về lĩnh vực tài chính, công nghệ và môi trường của doanh nghiệp trong KCN
❖ Phòng quản lý lao động: tham mưu, giúp việc Trưởng ban về lĩnh vực quản lý lao động đối với các doanh nghiệp trong KCN theo quy định của pháp luật; thực hiện việc cấp giấy phép lao động cho lao động là người nước ngoài
❖ Trung tâm dịch vụ việc làm: có chức năng hoạt động dịch vụ công nghiệp, tư vấn đầu tư trong các KCN và tổ chức các dịch vụ việc làm theo quy định của pháp luật
TRƯỞNG BAN
Văn
phòng
Phòng quản lý đầu tư
Phòng quản lý doanh nghiệp
Phòng quản lý XNK
Phòng quản lý lao động
PHÓ TRƯỞNG BAN
Trung tâm dịch
vụ việc làm
Trang 18SƠ ĐỒ TRÌNH TỰ VÀ THẨM QUYỀN CẤP GIẤY PHÉP ĐẦU TƯ CỦA BAN QUẢN LÝ CÁC KCX VÀ CN HẢi PHÒNG (HEPIZA)
Đối với những dự án không thuộc phạm vi uỷ quyền cấp Giấy phép đầu tư:
a.- Dự án nhóm A (hiểu theo quy định của Nghị định số 24/2000/NĐ-CP); b.- Dự án doanh nghiệp chế xuất có vốn đầu tư đăng ký lớn hơn 40 triệu USD;
c.- Dự án doanh nghiệp KCN có vốn đầu tư đăng ký lớn hơn 5 triệu USD;
Trong thời hạn 07 ngày sau khi tiếp nhận hồ sơ dự án, HEPIZA có trách nhiệm chuyển hồ sơ dự án kèm theo ý kiến của mình về dự án đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định cấp Giấy phép theo quy định phân cấp hiện hành (cho hạng mục thuộc nhóm a., b.) hoặc có thỏa thuận cho HEPIZA cấp Giấy phép đầu tư (hạng mục c.)
- DNKCN có vốn đầu tư từ lớn hơn
5 triệu đến 40 triệu USD (sau khi có
ý kiến thoả thuận của Bộ KH-ĐT)
Bộ kế hoạch và Đầu tư cấp phép
cho các dự án:
DNCX và DN KCN có vốn đầu tư đăng ký trên 40 triệu USD và thoả thuận việc cấp phép cho các dự án DNKCN có vốn đầu tư đăng ký từ trên 5 triệu USD đến 40 triệu USD
Ban quản lý các KCX và KCN Hải Phòng tiến hành thẩm định
Nhà đầu tư trình
Hồ sơ dự án
Nhà đầu tư nhận Giấy phép đầu tư
Trang 19Trong quá trình hoạt động, HEPIZA đã sớm tập trung chỉ đạo các hoạt động đổi mới cơ chế quản lý và cải cách thủ tục hành chính; xúc tiến đầu tư được đưa thành nhiệm vụ quan trọng và chủ động: hình thành bộ phận Thông tin – Xúc tiến đầu tư phối hợp với các công ty đầu tư cơ sở
hạ tầng hỗ trợ cho các hoạt động tuyên truyền, vận động đầu tư Tranh thủ sự ủng hộ của Ủy ban nhân nhân thành phố Hải Phòng, quá trình vận hành cơ chế quản lý “một đầu mối” đối với mọi vấn đề liên quan tới hoạt động của các KCN đã có nhiều thuận lợi, bước đầu tạo niềm tin, chỗ dựa cho các nhà đầu tư, tạo điều kiện hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã đầu tư vào trong khu Việc cải tiến phương pháp và thủ tục quản lý nhà nước về các nội dung hoạt động: thẩm định, cấp giấy phép…đã được HEPIZA quan tâm đặc biệt, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp Thời gian cấp phép theo quy định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bộ hồ sơ hợp lệ, HEPIZA chỉ thực hiện từ 1 đến 3 ngày, bỏ hoàn toàn các loại phí cấp giấy phép xuất nhập khẩu, thẩm định, giới thiệu việc làm… cùng doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình hoạt động kể từ sau khi được cấp phép đầu tư
I.1.4 Những yếu tố cơ bản thường được các nhà đầu tư nước ngoài quan
tâm khi xem xét quyết định đầu tư:
Xét về toàn cục, khả năng cạnh tranh để thu hút FDI ở Hải phòng thuộc vào 4 yếu tố có tính quyết định:
- Tình hình chính trị xã hội ổn định
- Tình hình kinh tế trong nước không ngừng được cải thiện
- Quan hệ chính trị đối ngoại được mở rộng, tổ chức quản lý được cải tiến nhằm tạo môi trường hấp dẫn, đương đầu với cuộc cạnh tranh vốn FDI
Theo kết quả điều tra của tổ chức FIAS (Indonesia): Phần đánh giá tầm quan trọng dựa theo điều tra đầu tư của FIAS (Indonesia) (rất quan trọng (RQT) nếu từ 90% các nhà đầu tư được hỏi cho là cực kỳ có ý nghĩa đối với quyết định đầu tư; quan trọng (QT) nếu con số đó là từ
Trang 2080% đến 89%; quan trọng là vừa phải (QTvp) nếu con số đó là dưới 80% (Việc đưa ra đây chỉ là tham khảo – xem Bảng I.1)
Bảng I.1
TÓM TẮT CÁC NHÂN TỐ THƯỜNG ĐƯỢC CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUAN TÂM
NHÂN TỐ TẦM QUAN TRỌNG
YẾU TỐ CHÍNH SÁCH NGẮN
C Các điều kiện kinh doanh
D Khuôn khổ điều tiết
- Điều tiết về chuyển lợi nhuận về nước RQT *
- Luật & các điều tiết về lao động RQT *
- Thời gian xét và chấp thuận dự án RQT *
- Các thủ tục và điều kiện trình duyệt RQT *
- Ưu thế được đặt tại khu chế xuất, khu công nghiệp QTvp *
Trang 21I.2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC KCN ĐỐi
VỚi SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘi
I.2.1 Vài nét về tình hình phát triển KCN trên thế giới:
Lịch sử hình thành và phát triển các KCN trên thế giới với nhiều loại hình và tên gọi khác nhau: Thương cảng tự do đầu tiên được xây dựng
ở Italia vào năm 1547, KCX đầu tiên được xây dựng tại sân bay Shanon (Cộng hòa Ailen) năm 1959 Việc xây dựng các KCN bùng nổ
ở các nước phát triển và đang phát triển trong những năm 70 và 80, nhằm hình thành các khu phát triển khoa học – kỹ thuật – công nghệ và thu hút đầu tư Nhiều thập kỷ qua, KCN ngày càng được coi như cửa ngõ quan trọng để các nước đang phát triển hội nhập nhanh hơn với thế giới, tạo điều kiện cho các quốc gia vừa khai thác được các lợi thế quốc
tế, vừa phát huy được tiềm năng trong nước thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, rút ngắn sự chênh lệch so với các nước phát triển Quốc gia nào có KCN cũng đều cố tìm mọi cách tạo sức hấp dẫn nhất cho KCN của mình: Trung Quốc – Chính phủ bỏ tiền xây dựng cơ sở
hạ tầng đạt tiêu chí “tam thông, nhất bình” ở thời kỳ đầu rồi tiến lên
“ngũ thông, nhất bình” đó là: giao thông, điện, nước, nước thải, thông tin liên lạc và mặt bằng; Thái Lan cho phép nhà đầu tư nước ngoài có quyền sở hữu đất đai với giá ban đầu rất thấp…
Bên cạnh KCN có khu vực giành cho việc ăn, ở, giải trí phục vụ người lao động làm việc trong KCN, mô hình KCN (Industrial Zones) với toàn bộ là nhà máy sản xuất đã dần được mở rộng thành công viên công nghiệp (Industrial Parks), thành phố công nghiệp (Industrial City); trên thế giới còn có một số loại hình KCN phổ biến khác như: vùng công nghiệp (Industrial Districts), cụm công nhiệp (Industrial Clusters), khu chế xuất (Export Processing Zones), khu chế biến công nghiệp (Industrial Development Zones), khu công viên thương mại (Business Parks), khu công viên văn phòng (Office Parks), khu công viên khoa học và nghiên cứu (Science and Research Parks), trung tâm công nghệ cao (High Tech Centre), khu công viên công nghệ sinh học (Bio
Trang 22Technology Parks), khu công viên công nghiệp sinh thái (Eco Industrial Parks), đặc khu kinh tế (Special Economic Zones)…
Tóm lại, các loại KCN có thể sắp xếp thành hai nhóm cơ bản:
- Các KCN mang một chức năng riêng biệt bao gồm các khu thương mại tự do, KCN tự do, khu công nghệ cao… chủ yếu tập trung vào một mục tiêu Các chính sách cho những khu này cũng nhằm phát huy tối
đa cho mục tiêu đó Chẳng hạn, khu bảo thuế được áp dụng các mức thuế suất bằng không (=0) đối với hàng hóa ra vào khu vực này KCN tập trung được áp dụng các ưu đãi về đầu tư Khu chế xuất được ưu đãi
về gia công hàng xuất khẩu Khu công nghệ cao được ưu đãi về nghiên cứu - triển khai các công nghệ mới
- Các KCN mang tính tổng hợp được hình thành bao gồm trong nó nhiều khu kinh tế mang chức năng riêng biệt và nhằm tới mục tiêu tổng hợp hơn, loại hình này thường được gọi là “đặc khu kinh tế” hay “khu kinh tế mở” Cơ chế chính sách trong đặc khu kinh tế mang tính tổng hợp và đa dạng hơn (ví dụ như các đặc khu kinh tế của Trung Quốc như Thâm Quyến, Chu Hải, Hồ Môn, Sán Dần bao gồm trong nó các
cơ chế chính sách, loại hình kinh tế như một quốc gia với những chế độ gần như riêng biệt) Các đặc khu kinh tế mang tính tổng hợp thường đóng vai trò cửa ngõ đối với đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế Xét về bản chất, các loại hình khu công nghiệp đều có đặc trưng giống nhau đó là khu kinh tế được vận hành theo những quy chế riêng Mỗi quốc gia quy định cho mỗi loại hình kinh tế này những ưu đãi đặc biệt
về đất đai, tài chính, thuế, hải quan, xuất nhập cảnh… và một cơ chế hành chính đặc biệt mang tính ưu việt vượt trội so với các địa bàn kinh
tế ngoài khu, nhằm tạo mọi thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư
Số lượng khu công nghiệp tăng lên nhanh chóng ở những nước phát triển từ những năm 70, đặc biệt những nước công nghiệp hóa mạnh ở châu Á Đến giữa thập niên 90, Hàn Quốc đã có 147 KCN, Singapore
có 28 KCN, Thái Lan có 23 KCN, Philipin có 63 KCN, Malayxia có
165 KCN, Indonesia có 117 KCN, Nhật Bản có 95 khu… Năm 1996,
Trang 23cả thế giới có 12.000 KCN trong đó 500 khu thuộc loại hình KCX; tuy nhiên không phải KCN nào được thành lập cùng đều thành công Nói chung, các KCN đều có đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia
I.2.2 Tình hình phát triển KCN ở Việt Nam:
Đất nước đã trải qua gần 20 năm thực hiện chủ trương “Đổi mới”, “Mở cửa” của Đảng và Nhà nước Trong tiến trình đó, kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đưa nền kinh
tế nước nhà vượt ra khỏi cuộc khủng hoảng triền miên trong nhiều năm
để từng bước tăng trưởng và hội nhập quốc tế, phát triển mạnh và vững chắc
Mở rộng kinh tế đối ngoại là một xu hướng phát triển tất yếu của mỗi nước trong thời đại này, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển Đối với Việt Nam, kinh tế đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; Việc tăng cường kinh tế đối ngoại
ở nước ta xuất phát từ yêu cầu xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn chặt với các quan hệ đa dạng và sự phát triển phong phú của kinh tế thế giới Các thành phần kinh tế được động viên tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại theo quy hoạch và phân công hợp lý, lấy sản xuất là khâu trọng tâm, bảo đảm cho kinh tế quốc doanh nắm được khâu then chốt, phát huy vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần tham gia kinh tế đối ngoại Hoạt động kinh tế đối ngoại ở nước ta có nhiều hình thức, trong đó hoạt động hợp tác đầu tư nước ngoài chiếm một vị trí quan trọng Đầu tư nước ngoài giữ vai trò chủ yếu trong việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp Ngược lại, khu công nghiệp là địa bàn thuận lợi cho các nhà đầu tư tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… với thủ tục hành chính đơn giản hơn, hiệu lực quản lý nhà nước được phát huy rõ nét hơn
Khu công nghiệp – mô hình kinh tế mới ở nước ta ra đời cùng với chủ trương mở cửa và đường lối đổi mới do Đại hội Đảng lần thứ VI năm
Trang 241986 khởi xướng Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 xác
định: “… hình thành các khu công nghiệp tập trung (bao gồm cả khu
chế xuất và khu công nghệ cao), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị Ở các thành phố, thị xã, nâng cấp cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp mới xen lẫn với khu dân cư…” Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa VIII chỉ rõ phương hướng phát triển khu công nghiệp
trong những năm tiếp theo là: “Phát triển từng bước và nâng cao hiệu
quả các khu công nghiệp…” Đây cũng là những định hướng quan
trọng của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển các KCN nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại đại hội lần thứ IX của Đảng về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2005
tiếp tục khẳng định “Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên cả
nước Phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn
và khu kinh tế mở”
Các KCX, KCN đã được thành lập nhiều và chủ yếu tập trung ở ba vùng kinh tế trọng điểm: vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 23 khu, với tổng diện tích 3.345 ha, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 50 khu, với tổng diện tích 11.579 ha, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
có 17 khu, với diện tích 2.466 ha và khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi) diện tích 14.000 ha, khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam); ngoài
ra, các khu vực khác có 16 khu, diện tích 2.837 ha Khu công nghiệp có quy mô diện tích lớn nhất là KCN Phú Mỹ I tại Bà Rịa – Vũng Tàu với diện tích 954,4 ha; khu công nghiệp có diện tích nhỏ nhất là KCN Bình Chiểu tại Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 28 ha
Tính đến hết 6 tháng đầu năm 2005, cả nước có 123 KCN (trong đó có
5 KCX) được thành lập và 03 KCN được mở rộng với tổng diện tích tự nhiên đạt 25.156 ha trong đó có 71 khu đã đi vào hoạt động và 52 khu
Trang 25đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng kết cấu
hạ tầng KCN Nói chung, các KCN do doanh nghiệp trong nước đầu tư
hạ tầng mà nguồn vốn chủ yếu từ nguồn tín dụng ưu đãi và từ tiền thuê đất ứng trước của các nhà đầu tư thứ cấp hoặc vốn tự có của doanh nghiệp – vốn ít, vừa đầu tư, vừa khai thác kinh doanh dẫn đến việc xây dựng hạ tầng KCN chậm và chất lượng không bằng các KCN do các công ty nước ngoài đầu tư xây dựng
Trong 6 tháng đầu năm 2005, các KCN thu hút được 131 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 40% so với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài trên cả nước) - tăng 13,9% so với cùng kỳ năm ngoái với tổng vốn đầu tư đăng ký 450 triệu USD – chiếm gần 30% tổng số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký của cả nước Cũng trong thời gian này, tại các KCN có 169 dự án đầu tư nước ngoài tăng vốn với tổng số vốn đầu tư đăng ký tăng thêm đạt 469 triệu USD, chiếm 55% tổng số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tăng thêm của cả nước Như vậy tính chung cả vốn cấp mới và tăng thêm trong 6 tháng đầu năm 2005, các KCN trên cả nước đã thu hút được 919 triệu USD vốn đăng ký Nhìn chung các dự
án đầu tư vào KCN, KCX triển khai nhanh và thuận lợi hơn so với các
dự án đầu tư bên ngoài KCN Các doanh nghiệp trong KCN phải thuê lại đất của công ty phát triển hạ tầng với giá thường cao hơn so với giá thuê đất ngoài KCN (do phải tính cả chi phí đầu tư vào hệ thống kết cấu hạ tầng sẵn có), do vậy, phần lớn các doanh nghiệp đầu tư vào các KCN là doanh nghiệp FDI (chủ yếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) - đã góp phần tạo thêm nhiều năng lực sản xuất mới trong các ngành kinh tế then chốt, tập trung chủ yếu vào các dự án sản xuất công nghiệp (tỷ trọng khoảng 40% tính riêng các ngành công nghiệp sản xuất trừ dầu khí, bất động sản và dịch vụ - chiếm 21.5% vốn đăng ký của tất cả các doanh nghiệp FDI đã được cấp Giấy phép trên cả nước) Các dự án đầu tư vào KCX, KCN phần lớn là trong ngành công nghiệp nhẹ, cơ khí chính xác, lắp ráp điện tử, may mặc, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp thực phẩm… được đánh giá là có trang thiết bị và trình độ công nghệ ở mức tiên tiến so với trình độ chung của cả nước
Trang 26Ngoài ra, một số KCN đã thu hút được những dự án có trình độ công nghệ cao như các công ty Rorze Robotech ở KCN Nomura-Hải Phòng (Hải Phòng), Fujisu ở KCN Biên Hòa (Đồng Nai), Canon ở KCN Thăng Long (Hà Nội)… Các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào KCN chưa nhiều – chủ yếu là những doanh nghiệp được thành lập từ trước khi có KCN nay đầu tư vào KCN do chủ trương di dời từ nội thành ra theo quy hoạch tránh khả năng gây ô nhiễm môi trường, hoặc xây dựng KCN trên cơ sở quy hoạch các doanh nghiệp trước
Với hệ thống cơ sở hạ tầng sẵn có và những chính sách ưu đãi nổi trội cùng cơ chế quản lý đặc biệt, thủ tục đầu tư đơn giản, thuận tiện hơn rất nhiều so với bên ngoài đã làm cho các KCX, KCN của Việt Nam ngày một hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Tính đến hết tháng 12 năm 2004, các nhà đầu tư từ hơn 40 nước và vùng lãnh thổ
đã đầu tư vào các KCN trên cả nước và đã thu hút được 3.108 dự án đầu tư (1.495 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 1.613 dự án đầu tư trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 11,6 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài và 80,3 ngàn tỷ đồng vốn đầu tư trong nước, chưa kể
969 triệu USD và 22,6 ngàn tỷ đồng vốn đầu tư phát triển hạ tầng KCN của 19 dự án; thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Phú Yên… là những địa bàn thu hút nhiều doanh nghiệp trong nước đầu tư kinh doanh Trong các vùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là khu vực có nhiều điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cho phát triển công nghiệp cũng như trao đổi với các nước và có thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn nên thu hút được nhiều dự án nhất, với khoảng 1.080 dự án FDI - tổng vốn đầu tư gần 8,6 tỷ USD Tiếp theo là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, thu hút 91 dự án với tổng vốn đăng
ký 850 triệu USD và 23 dự án trong nước với 340 tỷ đồng
Để thực hiện việc di chuyển các cơ sở công nghiệp ra khỏi nội đô và thu hút đầu tư, ở một số địa phương và nhiều tỉnh thành khác trên cả nước đã xây dựng các cụm công nghiệp nhỏ Hiện nay, theo số liệu thống kê, trên địa bàn 19 tỉnh, thành phố có 124 cụm công nghiệp hoặc
Trang 27KCN vừa và nhỏ do các địa phương thành lập với tổng diện tích hơn 6.500 ha Trong số này, nhiều cụm công nghiệp và các KCN vừa và nhỏ được thành lập mang tính tự phát, không dựa trên quy hoạch, chủ yếu tập trung phát triển nghề thủ công, làng nghề truyền thống, công nghiệp địa phương và di dời các cơ sở ô nhiễm ra khỏi các khu vực dân
cư Hiện nay, nhiều địa phương đang kiến nghị thành lập KCN, có gần
350 khu vực kinh tế ở 54/61 tỉnh thành được kiến nghị đưa vào xây dựng thành KCN, với tổng diện tích khoảng 35.000 ha
Các KCN, KCX còn là nơi thu hút được nhiều lực lượng lao động Việt Nam làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp và trong các lĩnh vực xây dựng, cung cấp dịch vụ cho KCX, KCN Tính đến hết tháng 12 năm 2004 các KCN ở Việt Nam đã thu hút trên 75 vạn lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp Đây là số lượng lao động chưa phải là nhiều so với nhu cầu phát triển của các KCN, KCX cũng như so với nhu cầu việc làm của lực lượng lao động ở các địa phương, nhưng điều quan trọng là nhờ đó mà chất lượng nguồn nhân lực đã từng bước được nâng lên thông qua việc tiếp cận với các công nghệ sản xuất và phương thức quản lý mới tiên tiến, hiện đại
Trang 2810 N ƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ DẪN ĐẦU VỀ ĐẦU TƯ
VÀO CÁC KCN VÀ KCX VIỆT NAM Stt Nước, vùng lãnh thổ Số dự án Vốn đầu tư (USD)
Trang 29I.2.3 Vai trò của các KCN, KCX đối với sự phát triển kinh tế xã hội:
Các KCN xuất hiện trong nền kinh tế thị trường hiện đại Ở những nước có nền công nghiệp chưa phát triển, việc xây dựng và phát triển KCN đóng vai trò là một mũi đột phá, cơ bản trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: thu hút đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, du nhập và áp dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học công nghệ mới và phương pháp quản trị kinh doanh tiên tiến vào quá trình sản xuất kinh doanh, phát triển hàng xuất khẩu và tiếp cận thị trường quốc tế, tạo công ăn việc làm, thỏa mãn một số lợi ích về tài chính, về quản lý khoa học - kỹ thuật v v
Ở Việt Nam, phát triển bền vững phải là mục tiêu cơ bản, gắn quyện và xuyên suốt trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường (với các tiêu chí
cơ bản: đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống)
Các KCN, KCX ở Việt Nam thực sự đóng góp vai trò và rất quan trọng, kể từ khi hình thành và phát triển đến nay Tuy thời gian phát
triển chưa lâu, nhưng các KCN Việt Nam bước đầu đã khẳng định được vai trò tiên phong của mình, là một lực lượng công nghiệp mạnh, có đóng góp ngày càng lớn trong công cuộc phát triển kinh tế-
xã hội của đất nước: KCN nghiệp được coi là nơi thử nghiệm chính
sách kinh tế mới tốt nhất đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại Những thành công bước đầu của các KCN ở Việt Nam cũng đã khẳng định đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng và phát triển các KCN là nhằm góp phần tạo động lực thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra thế và lực cho nền kinh tế phát triển bền vững phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Phát triển các KCN theo đúng chiến lược và quy hoạch sẽ tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, đồng bộ cả về kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ
Trang 30thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, làm thay đổi bộ mặt những vùng nông thôn, mang lại văn minh đô thị, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế, mọi thành viên của cộng đồng, tiếp cận được với các nguồn lực; cho phép thực hiện sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì sự bền vững Các KCN được xây dựng sẽ hình thành lên các khu dân cư, khu đô thị mới, kéo theo các dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu cho cả sản xuất và tiêu dùng Phát triển các KCN sẽ là đầu tầu tăng trưởng thúc đẩy các ngành nghề khác phát triển Đồng thời với sự xuất hiện của các KCN với nhiều ưu đãi buộc các doanh nghiệp phân bố rải rác trên địa bàn sẽ phải tính toán đến hiệu quả kinh tế mà quy tụ vào các KCN – tiết kiệm được quỹ đất, các nhà đầu tư cũng giảm bớt chi phí tìm đối tác đầu tư, tránh các thủ tục hành chính rườm rà trong việc cấp phép và hoạt động sản xuất kinh doanh
Các KCN là nơi tiếp nhận, huy động vốn và khai thác có hiệu quả nguồn vốn, thành tựu khoa học – công nghệ, trình độ tổ chức quản
lý của các nhà đầu tư quốc tế vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở
Việt Nam: Sau một thời gian xây dựng và phát triển, các KCN ở Việt nam trở thành đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn FDI Phát triển các KCN là phát triển hình thức bố trí sản xuất công nghiệp mới, góp phần quan trọng để ngành công nghiệp Việt Nam phát triển hiệu quả; tăng năng lực sản xuất và sản lượng công nghiệp để xuất khẩu và phục vụ nhu cầu trong nước; KCN còn là trọng điểm của kinh tế địa phương, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách, mở mang thêm ngành nghề mới, tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân góp phần xóa đói, giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực Các KCN là những dự án đầu tư quy mô lớn, dài hạn, giải quyết những vấn đề cơ bản, lâu dài như quy hoạch, môi trường, tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ xã hội Lợi ích to lớn của việc phát triển các KCN là thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư cần thiết từ bên ngoài để phát triển
Trang 31sản xuất, tăng giá trị sản xuất hàng công nghiệp Thực tiễn cho thấy, phát triển các KCN ở Việt Nam những năm qua đã tạo động lực lớn cho quá trình tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Các KCN, KCX là nơi có môi trường và điều kiện tốt cho việc đào tạo nguồn nhân lực – đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời là nơi mà ở đó người lao động vừa có cơ hội vừa phải cố gắng học tập, tiếp thu và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu tiên tiến của khoa học – công nghệ vào quá trình sản xuất và quản trị kinh doanh Do vậy, người lao động biết cần phải tự giác tham gia vào quá trình đào tạo và tự đào tạo lại để có thể thích ứng được với yêu cầu luôn biến đổi vì sự phát triển của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có năng lực quản lý chính là động lực góp phần to lớn, mang tính quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển bền vững
Các KCN tạo hiệu quả về kinh tế cho xã hội: Nhờ áp dụng nguyên lý
tập trung theo chiều dọc trong xây dựng các nhà máy ở KCN nên nguồn nguyên liệu tại chỗ có thể được sử dụng tối đa và giá thành sản phẩm giảm đáng kể Hơn nữa, do cơ sở hạ tầng được chuẩn bị sẵn cùng với nhiều ưu đãi đặc biệt về giá thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với từng đối tượng các nhà đầu tư, chính sách phát triển cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào đấu nối với KCN, KCX, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp - nhất là hỗ trợ tài chính nên khi đầu tư vào các KCN các nhà đầu tư giảm được rất nhiều chi phí doanh nghiệp (như phí mua đất xây dựng nhà máy với giá cao, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, phí xây dựng đường dây tải điện, đường giao thông vận tải và nhà máy…) Các chủ đầu tư không mất nhiều thời gian đi khảo cứu địa bàn, xin Giấy phép xây dựng những thủ tục này do thời gian hoàn tất thường bị kéo dài có thể làm mất đi cơ hội đầu tư Khi các KCN hoạt động và quản lý tốt sẽ tạo điều kiện dẫn dắt công nghiệp phụ trợ và các dịch vụ cần thiết
đi theo từ dịch vụ công nghiệp, tài chính, ngân hàng, cung cấp nguyên
Trang 32liệu đến dịch vụ cung cấp lao động trong KCN Đồng thời việc thu hút lao động tạo nên khu dân cư tập trung hình thành các khu đô thị, thành phố công nghiệp, giúp phân bố và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của địa phương Phát triển các KCN tập trung còn là một biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Đối với các nước đang phát triển, do thiếu vốn chưa thể cùng một lúc hoàn thiện toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng, do vậy việc xây dựng và phát triển các KCN là một giải pháp tốt tập trung nguồn lực vốn hạn hẹp vào một số khu vực trọng điểm có nhiều lợi thế hơn các khu vực khác trên địa bàn Trong kCN tập trung, các doanh nghiệp ít nhiều có liên quan đến nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tạo nên mối liên kết hợp tác kinh tế làm giảm các chi phí giao dịch; mặt khác, doanh nghiệp còn có thể tận dụng các nguyên phụ liệu của nhau để hạ thấp giá thành sản phẩm Các KCN phát triển (kéo theo các ngành phục vụ đời sống: chợ, siêu thị, dịch vụ bưu điện, giao thông vận tải công cộng, du lịch, cùng phát triển, hình thành các khu dân cư, đô thị mới) có tác dụng lan tỏa sang các khu phụ cận các vùng lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế của cả vùng
KCN góp phần bảo vệ môi trường sinh thái: Vấn đề ô nhiễm môi
trường được hạn chế do các nhà máy được xây dựng xa các khu dân cư KCN là địa điểm tốt để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ nội thành , phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Do tập trung các cơ sở sản xuất nên KCN có điều kiện thuận lợi trong việc tập trung kiểm soát,
xử lý chất thải và bảo vệ môi trường
Các KCN tạo việc làm cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Các nhà đầu tư ở các nước phát triển phải chịu sức ép của
tình trạng khan hiếm lao động và giá nhân công cao, họ phải lựa chọn giải pháp đầu tư vào các KCN của các nước đang phát triển nhằm sử dụng lao động dư thừa và giá nhân công rẻ Mở mang các KCN để tạo nhiều hơn chỗ làm việc, thực hiện chiến lược toàn dụng lao động là một trong những mục tiêu quan trọng của các nước đang phát triển Các KCN vừa là nơi du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh
Trang 33nghiệm quản lý vừa là môi trường đào luyện ra những người quản lý có trình độ cao, có bản lĩnh và kinh nghiệm và đội ngũ công nhân có tay nghề cao, có ý thức, tác phong công nghiệp do được tiếp cận với những dây chuyền công nghệ tiên tiến với kỷ luật lao động cao, buộc các nhà quản lý và người trực tiếp lao động phải tự rèn luyện, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn KCN còn mang lại kết quả gián tiếp – không dễ dàng đo đếm được những con số Đó là việc tìm thấy lối ra, hướng đi của các địa phương nghèo, sản xuất nông nghiệp là chính nay chuyển sang CNH-HĐH; đó là việc một số lượng không nhỏ nông dân nhường đất cho phát triển các KCN, trở thành người lao động trong các doanh nghiệp đầu tư vào KCN, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân chí, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, làm tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp của cả nước và địa phương nơi có các KCN Các KCN sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn th ngoại tệ cho doanh nghiệp, tái mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị, tích lũy kinh nghiệm quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh KCN được hình thành và phát triển đem lại lợi ích cho cả nước nhận đầu tư và nhà đầu tư bởi mục tiêu của các nhà đầu tư là giảm chi phí và tăng thu lợi nhuận
Các KCN được hình thành và phát triển sẽ là cầu nối cho nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế quốc tế: Các KCN là nơi sản xuất
hàng hóa xuất khẩu hướng ra thị trường thế giới, là cửa ngõ khai thông nền kinh tế trong nước với bên ngoài, góp phần đẩy nhanh quá trình hoà nhập vào nền kinh tế thế giới Thông qua các KCN, nước chủ nhà đẩy mạnh hoạt động ngoại thương KCX được thiết lập và hoạt động tương tự như KCN, là khu được coi như tách khỏi Việt Nam về mặt thuế quan Các doanh nghiệp được quyền tự do xuất khẩu, nhập khẩu không qua quan thuế Hàng từ Việt Nam vào KCX được coi như Việt Nam xuất khẩu và ngược lại, hàng từ KCX nhập vào thị trường Việt Nam được coi như hàng nhập khẩu từ nước ngoài Đối với các chủ
Trang 34doanh nghiệp, ngoài các tiện ích của KCN với quy chế xuất nhập khẩu đặc biệt trên đây, sẽ làm hàng xuất khẩu với giá nhân công rẻ của Việt Nam và nhập khẩu những nguyên liệu vật tư cần thiết từ nước ngoài (KCX Tân Thuận là một điển hình thành công không chỉ ở Việt Nam
mà còn được xếp vào hạng tốt nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: trong 10 năm đầu hoạt động đã xuất siêu đem về cho Việt Nam 0,5 tỷ USD, ngoài ra Việt Nam còn thu thêm được tiền lương Nhân công – coi như xuất khẩu lao động tại chỗ) Chỉ ở KCN, KCX, các nhà đầu tư mới có đủ các điều kiện cần thiết để phát huy mọi lợi thế và tính chủ động, sáng tạo của mình trong việc lựa chọn mặt hàng cần sản xuất, số lượng và chất lượng, cách thức sản xuất, địa chỉ và phương thức tiêu thụ; trên cơ sở đó mà có quyết sách ứng dụng hoặc liên kết ứng dụng những thành tựu khoa học – công nghệ một cách tối ưu Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn ở một số KCN, KCX nước ta cho thấy, việc tiếp nhận những thành tựu khoa học – công nghệ trong các KCN
có nhiều ưu thế hơn hẳn so với các đơn vị sản xuất kinh doanh ở ngoài các KCN Nhờ đó mà các KCN đang tạo ra cho đất nước nhiều sản phẩm xuất khẩu và nhiều sản phẩm chất lượng cao thay thế hàng nhập khẩu mà phần lớn là dựa vào nguồn nhân lực và nguyên liệu tại chỗ, tạo nên thế đứng mới của nền kinh tế nước ta
Trang 35Phần II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀO CÁC KCN TẠI HẢI PHÒNG
II.1 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH THU HÚT
ĐẦU TƯ VÀO HẢi PHÒNG
II.1.1 Những thời cơ – vận hội của cả nước:
Các nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn yên tâm về tình hình chính trị-xã hội ở Việt Nam ổn định – một điểm đến an toàn, vì vậy mà các nhà đầu
tư đã mạnh dạn bỏ vốn đầu tư tăng dần qua các năm: tính đến tháng 7 năm 2005, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thu hút mới của cả nước đạt khoảng 48,79 tỷ USD, tổng vốn pháp định gần 21,58 tỷ USD, trong đó đã thực hiện được khoảng 25,83 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2004 Theo bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước có 5.563 dự
án đầu tư còn hiệu lực, trong 7 tháng đầu năm 2005 cả nước có thêm
419 dự án được cấp mới với tổng vốn đăng ký 2,1 tỷ USD tăng 21,1%
về số dự án và tăng gấp hơn hai lần về số vốn đăng ký so với 7 tháng đầu năm 2004 Đồng thời có 277 lượt dự án đang hoạt động xin tăng vốn với tổng vốn đăng ký tăng thêm 1,12 tỷ USD, tăng 40,6% về số lượt dự án và 13,1% về vốn đăng ký bổ sung; như vậy, tính cả vốn cấp phép mới lẫn vốn bổ sung tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới đạt khoảng 3,2 tỷ USD tăng 66,6% và bằng 72% kế hoạch cả năm Tốc độ thu hút vốn kỷ lục kể từ 10 năm trở lại đây cho thấy hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đang khẳng định xu hướng hồi phục và chuyển biến tích cực kể từ giữa năm 2004 “Điều đó chứng tỏ môi trường đầu tư ở Việt Nam đã được cải thiện, sự tin cậy của các nhà đầu
tư đối với Việt nam đã gia tăng” (Phó Thủ tướng Vũ Khoan – tại cuộc gặp giữa Chính phủ với các nhà đầu tư nước ngoài tại Hà Nội tháng 4/2005)
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, việc Việt Nam sớm ra nhập WTO, đồng thời tích cực áp dụng những định chế mới sẽ cho phép tạo ra một sân chơi công bằng
Trang 36cho cả đầu tư trong và ngoài nước “Sự công bằng và môi trường kinh doanh có thể dự đoán trước được xem là những yếu tố còn quan trọng hơn cả những ưu đãi đầu tư”, một nhà đầu tư nước ngoài nhận định Hiệp định thương mại Việt Mỹ (BTA) có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút đầu tư của Mỹ (thế mạnh của họ là các dự án lớn, ngành công nghệ cao và dịch vụ), EU (mạnh ở lĩnh vực dịch vụ tài chính và công nghệ cao: viễn thông, vi tính, kỹ thuật, kiến trúc, quy hoạch…) và các nước trong khu vực vào Việt Nam Theo nghiên cứu mới đây do Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với dự án Star Việt Nam thực hiện: có 49% công ty tham gia điều tra khẳng định
có tính đến BTA trong việc mở rộng đầu tư Một tác động lớn của BTA
là sẽ mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các nhà đầu tư đến từ các nước khác trong khu vực, khiến họ có thái độ tích cực hơn đối với Việt Nam,
“Hiệp định làm cho Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn trong con mắt các
nhà đầu tư láng giềng” – Báo cáo khẳng định Việc thực hiện các cam
kết trong BTA sẽ giúp cải thiện môi trường đầu tư, dỡ bỏ các rào cản đối với đầu tư nước ngoài, thể hiện quyết tâm của Việt Nam thực hiện cải cách theo các chuẩn mực quốc tế và WTO
Việc luật Doanh nghiệp và Đầu tư chung, luật Hải quan, luật Thương mại…đang được soạn thảo trình Quốc hội, việc khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, đẩy nhanh cổ phần hóa và phát hành trái phiếu ra công chúng, 85/125 tiểu mục của sáng kiến chung Việt Nhật đã được khởi động và đặc biệt là 20 tiểu mục trong đó đã hoàn thành… là những dấu hiệu mạnh mẽ cho thấy Việt Nam đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh (như ông Alain Cany, chủ tịch phòng Thương mại và Công nghiệp châu Âu –
Eurocharm nhận xét.) – (Hy vọng về “làn sóng” đầu tư mới – Báo Đầu
tư số 50 ra ngày 27/4/2005)
II.1.2 Một số khó khăn thách thức đối với thành phố Hải Phòng:
Trong 18 năm qua kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành (1987), Việt Nam đã đạt được những kết quả khá ấn tượng về thu hút
Trang 37vốn FDI Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam vẫn chưa tận dụng một cách tối ưu các cơ hội thu hút vốn FDI và chưa tối đa hóa được lợi ích mà đầu tư nước ngoài có thể mang lại Theo thứ trưởng Bộ
Kế hoạch và đầu tư Nguyễn Bích Đạt: “Kết quả thu hút đầu tư nước
ngoài tuy tăng đáng kể so với các năm trước, nhưng vẫn thấp hơn so với tiềm năng, so với các nước trong khu vực và bản thân nhu cầu thu hút vốn cho tăng trưởng của đất nước” Dòng vốn FDI chảy vào Việt
Nam (cũng như Hải Phòng nói riêng diễn biến bất thường – xem hình II.1), tỷ lệ thực hiện vốn FDI so với vốn đăng ký còn thấp, vốn FDI chỉ tập trung trong một số ngành, vùng, khả năng tuyển dụng lao động còn khiêm tốn…Phần lớn dự án đầu tư nước ngoài có quy mô nhỏ, công nghệ sử dụng chủ yếu có nguồn gốc từ châu Á và đạt mức trung bình Việt Nam chưa được chọn là điểm đầu tư của phần lớn công ty đa quốc gia (TNCs) có tiềm năng lớn về công nghệ, sản xuất những sản phẩm
có hàm lượng chất xám cao và sẵn sàng chuyển giao công nghệ và tri thức; thực trạng này cùng với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn
về thu hút đầu tư nước ngoài của Trung Quốc và các nước trong khu vực đã tạo ra thách thức lớn cho Việt Nam
Việt Nam còn thiếu sự ổn định và minh bạch các chính sách liên quan
đến đầu tư, “Nhiều khi chính sách của Chính phủ thì cởi mở nhưng khi
về địa phương lại không được hiểu thấu đáo hoặc gây trở ngại” – (ông
Atsushi Mise, chủ tịch Hiệp hội các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam), còn nhiều tiêu cực trong cấp phép, đất đai, quota, thuế, hải quan…Theo các nhà nghiên cứu kinh tế ở nước ta, cho dù có nhiều thay đổi trong chính sách đầu tư nước ngoài đã được thực hiện nhưng hiệu lực và tính thực thi chính sách thấp có thể là một nguyên nhân làm giảm dòng vốn FDI đăng ký và gây khó khăn cho việc giải ngân nguồn vốn này Điều này sẽ gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh trong khu vực về thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt hơn
Trang 38Chất lượng các KCN chưa đồng đều cũng như công tác tiếp thị, vận động đầu tư vào các KCN ở các tỉnh thành trong cả nước chưa thống nhất, dẫn đến tình trạng “mạnh ai nấy lôi kéo”, mỗi tỉnh tùy tiện đặt ra các cơ chế chính sách ưu đãi cho riêng mình; gây ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh – tranh giành, lôi kéo các nhà đầu tư giữa các tỉnh trong cả nước
Điểm kém hấp dẫn nữa ở Việt Nam hiện nay là những quy định về sở hữu đất đai và thuê đất: đến nay các doanh nghiệp đầu tư vào các KCN vẫn nằm trong tình trạng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong công tác thế chấp vay vốn kinh doanh
Những năm qua, chúng ta đã phát triển kinh doanh có hiệu quả kết cấu
hạ tầng các KCN, nên các nhà đầu tư vào lĩnh vực này chỉ quan tâm đến việc lấp đầy các KCN mà không quan tâm đến giá trị đầu tư vào các KCN Vì thế giá trị đầu tư cho 1 ha kết cấu hạ tầng ở Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với giá trị đầu tư cho 1 ha kết cấu hạ tầng ở các nước trong khu vực và trên thế giới Điều này làm giảm ưu thế và sức cạnh tranh của nền kinh tế nước nhà đang trong điều kiện “đất chật, người đông”
Chi phí dịch vụ công cộng của Việt Nam cũng còn cao so với các nước trong khu vực (gần đây cước điện thoại đã giảm mạnh nhưng vẫn cần phải giảm nữa), các loại phí và thuế cũng vậy; trong khi đó công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn yếu Tác giả Christopher W.Runckel báo
điện tử “Kinh doanh ở châu Á” ngày 17/4/2005 trong bài viết “Việt
Nam mở cửa cho đầu tư” đã so sánh khá chi tiết môi trường đầu tư của
Việt Nam với hai quốc gia lân cận là Thái Lan và Trung Quốc (Xem bảng II.2)
Trang 3910% đánh vào lợi tức
Không đánh vào lợi nhuận
Lợi thế thuộc về Trung Quốc
công
nghiệp hỗ
trợ
Chưa nhiều Có rất nhiều Có nguồn rộng lớn
Trung Quốc & Thái Lan có lợi thế hơn so với Việt Nam Chi phí vận
Bảo hộ
quyền sở
hữu trí tuệ
Còn yếu nhưng đang được cải thiện
Mạnh hơn Yếu Thái Lan rõ ràng là mạnh hơn Khả năng
Trung Quốc và Thái Lan như nhau, Việt Nam cần cải thiện Chất lượng
Đang cải thiện
Thái Lan cung cấp nhiều hoạt động sâu hơn
Nguồn: Báo Lao động – thứ 5, ngày 21/4/2005
Trang 40II.1.3 Những thế mạnh của thành phố Hải Phòng:
Hải Phòng có một vị trí chiến lược quan trọng – một trong ba cực của tam giác phát triển kinh tế trọng điểm phía Bắc Việt Nam (Hải Phòng,
Hà Nội, Quảng Ninh), là một thành phố Cảng nằm trong vùng Duyên hải Bắc bộ, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Bắc giáp Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình Hải Phòng cách Thủ đô Hà Nội 102 km, có cảng biển lớn nhất và là cửa ngõ thông ra biển – đầu mối giao lưu quốc tế của miền Bắc, có hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao thông thuỷ, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường hàng không phát triển… các yếu tố này tạo cho Hải phòng trở thành đầu mối giao thông quan trọng của miền Bắc và của cả nước
Trong thời gian 10 năm trở lại đây, cơ sở hạ tầng của thành phố đã đổi thay, nâng cấp – Hải Phòng đã tranh thủ tối đa đầu tư của nhà nước thông qua việc phối hợp thực hiện có hiệu quả các dự án viện trợ phát triển của Chính phủ (ODA) và dự án đầu tư trong nước: xây dựng và trang bị các phương tiện bốc dỡ hiện đại cho cảng container, nâng cấp sân bay Cát Bi (phấn đấu đến năm 2010 sẽ đạt tiêu chuẩn cảng hàng không quốc tế), hoàn thành dự án quốc lộ 5A và tiếp tục triển khai dự
án đường cao tốc 5B nối liền Hải Phòng với Hà Nội, đưa vào sử dụng quốc lộ 10 nối liền 5 tỉnh miền duyên hải, nạo vét và chỉnh luồng cảng, đường 353 nối Hải Phòng với khu chế xuất Hải Phòng-96 và khu nghỉ mát Đồ Sơn, xây dựng cầu Bính, đường cao tốc Hải Phòng – Hà Nội… Vùng biển Hải phòng với hàng trăm đảo lớn nhỏ như quần đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Long Châu, Bán đảo Đồ sơn đã tạo nên tài nguyên du lịch sinh thái biển giá trị, đầy triển vọng phát triển Trên đất liền tài nguyên quan trọng và quý của Hải phòng là nguồn đá vôi có trữ lượng lớn (riêng trữ lượng mỏ đá vôi Tràng Kênh đã khoảng 200 triệu tấn), là nguồn nguyên liệu để sản xuất xi măng cao cấp và các loại vật liệu xây dựng khác
Hải Phòng đang tích cực tìm kiếm các nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu