Mục tiêu của VNPT từ nay đến năm 2010 là xây dựng VNPT trở thành tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam, có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và chuyên môn hoá cao ngang tầm các nước tron
Trang 1Tr-ờng đại học bách khoa hà nội
Luận văn thạc sỹ ngànH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội-2008
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn đầu tiên tôi xin gửi đến PGS TS Nguyễn Ái Đoàn, người đã tận tình giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh
tế và Quản lý, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy, mang lại cho tôi những kiến thức làm tiền đề để tôi thực hiện luận văn
Chân thành cảm ơn lãnh đạo đơn vị và các đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ tôi trong thời gian đi học và làm luận văn
Hà Nội, tháng 11 năm 2008
Hoàng Minh Thành
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ - HÌNH VẼ iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ, QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CỦA NGÀNH BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG 6
1.1 Khái quát về đầu tư và đầu tư phát triển 6
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư 6
1.1.2 Đầu tư phát triển 8
1.2 Quản lý đầu tư 13
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý đầu tư 13
1.2.2 Nội dung quản lý đầu tư 17
1.2.3 Các phương pháp quản lý hoạt động đầu tư 19
1.2.4 Công cụ quản lý hoạt động đầu tư 21
1.3 Dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư 22
1.3.1 Dự án đầu tư 22
1.3.2 Chu kỳ của dự án đầu tư 25
1.3.3 Quản lý dự án đầu tư 26
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đầu tư 35
1.4.1 Các yếu tố bên ngoài 35
1.4.2 Các yếu tố bên trong 36
1.5 Quy định quản lý đầu tư ngành Bưu chính Viễn thông 37
1.5.1 Đặc điểm dự án đầu tư ngành Bưu chính Viễn thông 37
1.5.2 Quy định quản lý đầu tư ngành Bưu chính Viễn thông 38
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN MẠNG BĂNG THÔNG RỘNG XDSL CỦA VIỄN THÔNG HÀ NỘI 41
2.1 Những nét khái quát về Viễn thông Hà Nội 41
2.1.1 Giới thiệu về Viễn thông Hà Nội 41
Trang 42.1.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh Viễn thông Hà Nội trong
thời gian 2003-2007 50
2.2 Tình hình cạnh tranh trên thị trường Internet băng thông rộng 54
2.3 Nhu cầu của thị trường đối với mạng băng thông rộng xDSL 58
2.4 Thực trạng quản lý các dự án đầu tư phát triển mạng băng thông rộng (xDSL) của Viễn thông Hà Nội thời gian qua 62
2.4.1 Kết quả đầu tư phát triển mạng băng thông rộng xDSL của Viễn thông Hà Nội thời gian qua 62
2.4.2 Phân tích tình hình quản lý các dự án đầu tư phát triển mạng băng thông rộng xDSL của Viễn thông Hà Nội 68
CHƯƠNG 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN MẠNG BĂNG THÔNG RỘNG XDSL CỦA VIỄN THÔNG HÀ NỘI 107
3.1 Đặt vấn đề 107
3.2 Định hướng và chiến lược phát triển mạng viễn thông Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020 107
3.2.1 Chiến lược phát triển ngành Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam giai đoạn 2010-2020 107
3.2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ trong công tác đầu tư phát triển mạng lưới viễn thông của VTHN trong thời gian tới 110
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển mạng băng thông rộng xDSL của Viễn thông Hà Nội 111
3.3.1 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch đầu tư 112
3.3.2 Nâng cao chất lượng lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư 117 3.3.3 Thực hiện nghiêm túc Luật đấu thầu 119
3.3.4 Thực hiện nghiêm túc công tác giám sát, đánh giá đầu tư 122
3.3.5 Nâng cao kỷ luật và chất lượng quyết toán công trình 125
3.3.6 Đẩy nhanh tốc độ quyết toán công trình 127
3.3.7 Đổi mới công tác cán bộ quản lý dự án và khai thác sử dụng 128
PHẦN KẾT LUẬN 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ
Hình 1-1: Mô hình các giai đoạn đầu tư 14
Hình 1-2: Các mục tiêu chủ yếu trong quản lý đầu tư tại doanh nghiệp 16
Hình 1-3: Mô hình dự án đầu tư 25
Hình 1-4: Các nội dung giám sát, đánh giá dự án đầu tư 33
Sơ đồ 2-1: Mô hình tổ chức của Viễn thông Hà Nội 43
Sơ đồ 2-2: Trình tự các bước thực hiện công tác đấu thầu 89
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu 2-1: Biểu đồ minh họa doanh thu viễn thông từ 2003-2007 52
Biểu 2-2: Thị phần cung cấp dịch vụ Internet trên thị trường viễn thông Việt Nam tháng 5/2008 57
Biểu 2-3: Đánh giá mức độ ưa chuộng dịch vụ Internet trên thị trường viễn thông Việt Nam tháng 5/2008 57
Biểu 2-4: Biểu đồ minh họa tỷ lệ phân cấp đầu tư phát triển mạng viễn thông tại VTHN từ 2002-2007 63
Biểu 2-5: Tỷ lệ tiến độ thực hiện các dự án phát triển mạng băng thông rộng xDSL do VTHN thực hiện từ 2005-2007 69
Biểu 2-6: Tỷ lệ giá trị các gói thầu theo lĩnh vực 92
Biểu 2-7: Tỷ lệ giá trị gói thầu theo hình thức đấu thầu 92
Bảng 2-1: Cơ cấu tổ chức của Viễn thông Hà Nội 42
Bảng 2-2: Thống kê CBCNV của Viễn thông Hà Nội tháng 3/2008 44
Bảng 2-3: Thống kê các sản phẩm dịch vụ của Viễn thông Hà Nội 46
Bảng 2-4: Tổng hợp số liệu đào tạo của Viễn thông Hà Nội từ 2002-2005 50
Bảng 2-5: Kết quả sản xuất kinh doanh của VTHN từ 2003-2007 52
Bảng 2-6: Kết quả đầu tư phát triển mạng băng thông rộng của VTHN từ 2005 - 2007 54
Bảng 2-7: Thống kê số lượng thuê bao ADSL trên thị trường Hà Nội từ 2004-2008 56
Bảng 2-8: 10 quốc gia có số thuê bao ADSL lớn nhất (30/06/2008) 60
Bảng 2-9: Mật độ thuê bao ADSL tại Hà Nội năm 2006 61
Bảng 2-10: Phân cấp phê duyệt đầu tư phát triển mạng viễn thông của VTHN từ 2002-2007 63
Bảng 2-11: Cơ cấu vốn đầu tư phần phân cấp của VTHN từ 2005-2007 64
Trang 7Bảng 2-12: Kết quả đo kiểm chất lượng dịch vụ truy cập Internet ADSL của VNPT quý 2/2008 65 Bảng 2-13: Kết quả đo kiểm kết nối dịch vụ truy cập Internet ADSL của
VNPT quý 2/2008 67 Bảng 2-14: Tiến độ triển khai các công trình đầu tư phát triển mạng băng thông rộng xDSL do VTHN thực hiện từ 2005-2007 69 Bảng 2-15: Kế hoạch vốn đầu tư mạng băng thông rộng phần đầu tư tập trung tại tập đoàn do VTHN thực hiện từ 2006-2007 73 Bảng 2-16: Kế hoạch ĐT-XDCB phần phân cấp của VTHN từ 2005-2007 78 Bảng 2-17: Kế hoạch đấu thầu của dự mở rộng 3072 cổng ADSL của VTHN giai đoạn 2006-2008 81 Bảng 2-18: Một số dự án thiếu sót trong vấn đề lập dự án từ 2007-2008 83 Bảng 2-19: Danh mục một số công trình mạng băng thông rộng chậm tiến độ
do thay đổi đơn giá từ 2007-2008 86 Bảng 2-20: Kết quả thẩm định các dự án đầu tư mạng băng thông rộng của VTHN từ 2003-2007 88 Bảng 2-21: Kết quả thực hiện công tác đấu thầu các dự án mạng băng thông rộng xDSL của VTHN từ 2005-2007 92 Bảng 2-22: Danh mục một số công trình mạng băng thông rộng tại VTHN còn thiều sót trong công tác đấu thầu từ 2007-2008 93 Bảng 2-23: Kết quả thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư các công trình mạng băng thông rộng của VTHN 94 Bảng 2-24: Danh mục một số công trình mạng băng thông rộng tại VTHN còn thiều sót trong công tác giám sát, đánh giá đầu tư 95 Bảng 2-25: Kết quả quyết toán các công trình viễn thông từ 2005-2007 100 Bảng 2-26: Thống kê CBCNV thực hiện công tác đầu tư của VTHN
(tính đến 31/09/2007) 104
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADSL Asymmetric Digital Subscriber
VTHN Hanoi Telecommunication Viễn thông Hà Nội
FPT The Corporation for Financing
and Promoting Technology
Công ty cổ phần phát triển và đầu tư công nghệ
VNPT VDC Vietnam Data Communication
Center
Trung tâm Internet Việt Nam
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tháng 11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đặt dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới Việc gia nhập WTO mang đến làn gió mới, động lực mới thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng tiếp tục được duy trì ở mức cao hơn 8%, thu hút sự quan tâm của giới đầu tư nước ngoài, hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế thương mại ngày càng minh bạch và thông thoáng hơn Thị trường viễn thông Việt Nam tiếp tục đạt được các bước tiến vượt bậc, hỗ trợ đắc lực cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển đồng thời cải thiện được vị trí trong bảng xếp hạng viễn thông châu Á
Theo đánh giá của Businees Monitor International (BMI) (nguồn: Tạp chí Công nghệ thông tin & Truyền thông - Tháng 3/2008), thị trường viễn
thông Việt Nam đang trên đà khởi sắc Tính đến cuối năm 2006, đã có 14,7 triệu người sử dụng Internet (quy đổi) tăng 37%, 517.000 thuê bao băng rộng tăng 146% so với năm trước Đến tháng 5/2007, đã có thêm 1,5 triệu người sử dụng Internet và khoảng 236.000 thuê bao băng rộng, dự kiến đến cuối năm
2007 thị trường dịch vụ băng rộng sẽ đạt khoảng 1 triệu thuê bao Dịch vụ điện thoại cố định có chiều hướng giảm dần do người tiêu dùng chuyển hướng sang sử dụng các dịch vụ di động và băng rộng Thị trường di động đang diễn
ra sự cạnh tranh sôi động giữa 6 nhà cung cấp dịch vụ như Vinaphone, Mobifone, Viettel, EVN Telecom, SPT, HTC, qua đó thúc đẩy thị trường di động đạt mức tăng trưởng nhanh Trên bảng xếp hạng phát triển viễn thông châu Á, BMI xếp thị trường viễn thông Việt nam đứng thứ 13 (sau Thái Lan)
về cả quy mô và tốc độ phát triển của cả linh vực cố định, di động và Internet Tốc độ tăng trưởng vượt bậc trên là hệ quả của việc gia nhập WTO
Trên phương diện quản lý vĩ mô, Chính phủ Việt Nam đã cơ cấu lại Bộ
Trang 10Bưu chính Viễn thông thành Bộ Thông Tin và Truyền thông (MIC) Theo đó
mở rộng phạm vi quản lý nhà nước theo xu hướng hội tụ viễn thông – công nghệ thông tin – phát thanh truyền hình Chức năng quản lý nhà nước sẽ đáp ứng cả quản lý, cấp cấp phép khai thác mạng, dịch vụ viễn thông và các nội dung thông tin truyền tải trên mạng Xu thế này nằm trong động thái thực hiện cam kết trong WTO, theo đó Nhà nước không can thiệp quá sâu vào thị trường và hoạt động của doanh nghiệp
Thị trường viễn thông Việt Nam hiện nay đã có sự cạnh tranh tương đối bình đẳng, nhu cầu thông tin của các tầng lớp dân cư và toàn xã hội được đáp ứng tốt hơn với nhiều sự lựa chọn hơn Trước áp lực của quá trình cạnh tranh, VNPT là một doanh nghiệp chủ đạo trong lĩnh vực bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin trong những năm qua, nhiều thách thức đòi hỏi phải có sự chuẩn bị tốt về chiến lược đầu tư và nhân lực để thích ứng tiếp tục phát triển bền vững, xứng đáng là doanh nghiệp chủ lực của Việt nam trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin VNPT sẽ phải chuẩn
bị “cuộc chơi thực sự” với các đối thủ không chỉ trong nước mà còn là những công ty nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia không chỉ dày dạn kinh nghiệm
mà còn hùng mạnh về tiềm lực tài chính Mục tiêu của VNPT từ nay đến năm
2010 là xây dựng VNPT trở thành tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam, có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và chuyên môn hoá cao ngang tầm các nước trong khu vực; kinh doanh đa ngành, trong đó BCVT và CNTT là ngành kinh doanh chính với nhiều loại hình sở hữu, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu, đào tạo; nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động hướng ra thị trường khu vực và thế giới; phát triển nhanh và bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, phấn đấu tổng doanh thu của tập đoàn trong giai đoạn 2006-2010 dự kiến là 229.420 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 10,7%/năm, riêng năm 2010, dự kiến doanh thu của tập đoàn đạt 55.700 tỷ đồng; trên cơ sở phấn đấu phát triển mới 21,1 triệu
Trang 11máy điện thoại các loại, nâng tổng số máy điện thoại trên mạng của VNPT vào năm 2010 lên 34 triệu máy; phát triển mới thêm 5 triệu thuê bao internet, trong đó chủ yếu là thuê bao băng rộng
Trước biến động của thị trường như đã nêu trên, Viễn thông Hà Nội (VTHN) là một trong những doanh nghiệp chủ lực trực thuộc VNPT với nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ viễn thông - công nghệ thông tin trên địa bàn thủ đô là đầu não tập trung bộ máy điều hành về chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước Sự xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới trên thị trường viễn thông Việt Nam có công nghệ hiện đại, khả năng cung cấp dịch vụ với nhiều
ưu điểm vượt trội, thì việc đầu tư phát triển đúng hướng là một yêu cầu hết sức quan trọng và để công tác đầu tư đạt hiệu quả cao đồng thời đảm bảo tuân thủ chặt chẽ các qui định của Nhà nước về công tác quản lý đầu tư xây dựng
cơ bản thì bắt buộc công tác quản lý đầu tư của đơn vị phải từng bước hoàn thiện đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và doanh nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, đề tài “Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển mạng băng thông rộng (xDSL) của Viễn thông Hà Nội” được lựa chọn làm luận văn tốt
nghiệp cao học quản trị kinh doanh
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lý luận chung về đầu tư, quản lý đầu tư
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý đầu tư phát triển mạng băng thông rộng (xDSL) của VTHN từ đó tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu, những cơ hội, thách thức của VTHN trong công tác quản lý đầu tư phát triển mạng băng thông rộng (xDSL)
- Trên cơ sở phân tích đánh giá toàn diện, luận văn đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển mạng băng thông
rộng (xDSL) của VTHN, góp phần huy động tối đa, sử dụng với hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư, chống mọi hành vi tham ô lãng phí trong sử dụng
Trang 12vốn đầu tư và khai thác các kết quả của các dự án đầu tư
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Luận văn chủ yếu nghiên cứu lý luận
về đầu tư, quy trình và nội dung công tác quản lý đầu tư phát triển mạng băng thông rộng (xDSL) của VTHN
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tư
và quản lý đầu tư phát triển mạng băng thông rộng (xDSL) tại địa bàn VTHN quản lý, để từ đó đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện quy trình quản lý đầu tư của đơn vị Luận văn tập trung vào những vấn đề quản lý đầu
tư nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả công tác đầu tư chứ không đi vào
phân tích hiệu quả kinh tế tài chính của một dự án cụ thể
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để có cơ sở cho việc phân tích và đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý đầu tư mạng băng thông rộng xDSL của VTHN, luận văn đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu, thu thập thông tin qua những số liệu thu thập từ Phòng ĐT-XDCB, Phòng Kế hoạch Kinh doanh, Phòng Phát triển thị trường, Phòng Mạng và dịch vụ của VTHN, Trung tâm Thông tin Bưu điện
và số liệu công bố trên mạng, …
- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh trên cơ sở điều tra, quan sát thực tế và các số liệu thống kê thu thập thông tin từ sách, tài liệu nghiên cứu chuyên ngành có liên quan để đánh giá tình hình một cách sát thực, làm cơ sở vững vàng để đưa ra những nhận xét đánh giá và đề xuất các giải pháp thực hiện
- Phương pháp phân tích thống kê để đánh giá các số liệu thống kê từ các nguồn: Tạp chí của Bộ Bưu chính viễn thông, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, các báo cáo tổng kết của các Công ty kinh doanh lĩnh vực viễn thông
Trang 13- Phương pháp chuyên gia, tư vấn cũng được coi trọng trong việc thực hiện giải pháp có tính mới trong lĩnh vực viễn thông và dự báo nhu cầu phát triển dịch vụ viễn thông
5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Những nội dung cơ bản của luận văn gồm chương sau đây:
Chương I: Cơ sở lý luận về đầu tư, quản lý dự án đầu tư và một số quy định về quản lý đầu tư của ngành Bưu chính viễn thông
Chương II: Phân tích thực trạng công tác quản lý đầu tư phát triển mạng băng thông rộng xDSL của VTHN
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển mạng băng thông rộng xDSL của VTHN
6 ĐÓNG GÓP, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CỦA LUẬN VĂN
- Làm rõ lý luận và phương pháp luận về đầu tư và quản lý đầu tư xây dựng
- Phân tích thực trạng, những mặt đã làm được và những điểm còn hạn chế, gây vướng mắc trong công tác quản lý đầu tư phát triển mạng băng thông rộng xDSL của VTHN
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng tại VTHN
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ, QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CỦA NGÀNH BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
1.1 Khái quát về đầu tư và đầu tư phát triển
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư
* Khái niệm đầu tư:
Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực
về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, của ngành Bưu chính Viễn thông (BCVT) nói riêng Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến
hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả
đó Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các
nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận
và lợi ích kinh tế xã hội
* Đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư :
- Là hoạt động phải bỏ vốn nên các quyết định đầu tư trước hết là quyết
định sử dụng các nguồn lực biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như tiền,
Trang 15vật tư thiết bị, đất đai, tài sản, giá trị trí tuệ
Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi Dưới các hình thức khác nhau nhưng vốn có thể xác định được dưới hình thức tiền tệ, vì vậy các quyết định đầu tư thường được xem xét từ phương diện tài chính (tốn phí bao nhiêu vốn? có thể huy động được không? huy đồng từ nguồn nào? có khả năng thu hồi được không? mức sinh lợi là bao nhiêu? ) Nhiều dự án có thể khả thi ở các phương diện khác (kinh tế, xã hội) nhưng không khả thi về phương diện tài chính và vì thế trên thực tế cũng không thể thực hiện được
- Là hoạt động có tính chất lâu dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến
50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án
Do tính chất lâu dài nên mọi dự trù liệu đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố Chính điều này là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến trong mọi nội dung phân tích, đánh giá của quá trình thẩm định dự án
- Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai: Đầu tư về một phương diện nào đó là sự hy sinh lợi ích hiện
tại để đánh đổi lấy lợi ích tương lai (vốn để đầu tư không phải là các nguồn lực để dành), vì vậy luôn luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai Rõ ràng rằng, nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư chỉ trong điều kiện lợi ích thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện họ tạm thời phải hy sinh (không tiêu dùng hoặc không đầu tư vào nơi khác)
- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: Lợi ích tài
chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội) Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của
Trang 16chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng
- Là hoạt động mang nặng tính rủi ro: Các đặc trưng nói trên đã cho
thấy hoạt động đầu tư là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro Bản chất của
sự đánh đổi lợi ích và thực hiện trong một thời gian dài không cho phép nhà đầu tư lượng tính hết những thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính Vì vậy, chấp nhận rủi ro như là bản năng của nhà đầu
tư Tuy nhiên nhận thức rõ điều này nên nhà đầu tư cũng có những cách thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế để khả năng rủi ro xảy ra sự sai khác với
dự tính là ít nhất
1.1.2 Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật để tạo ra những yếu tố cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất kinh doanh mới, thông qua việc mua sắm lắp đặt thiết bị, máy móc, xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc và tiến hành các công việc có liên quan đến sự phát huy tác dụng của các cơ sở vật chất kỹ thuật do hoạt động đầu tư phát triển tạo ra
Đầu tư phát triển là một nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế -
xã hội, là chìa khoá để tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nhằm tạo ra thế và lực đưa nền kinh tế cả nước cũng như mỗi địa phương phát triển và hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
Đầu tư phát triển vừa là nhiệm vụ chiến lược vừa là một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền vững Bất kỳ quốc gia nào muốn có tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cải thiện đều phải quan tâm đến đầu tư phát triển
Trong thực tế, có rất nhiều hình thái biểu hiện cụ thể của đầu tư Tuỳ từng góc độ tiếp cận với những tiêu thức khác nhau người ta có thể có các cách phân chia hoạt động đầu tư khác nhau Một trong những tiêu thức
Trang 17thường được sử dụng đó là tiêu thức quan hệ quản lý của chủ đầu tư Theo
tiêu thức này, đầu tư được chia thành đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp (đã trình bày ở trên)
Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp Hoạt động của đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội Đây là hình thức đầu tư trực
tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia
1.1.2.1 Vai trò của đầu tư phát triển
- Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Đầu tư có tác động
đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua những chính sách tác động đến cơ cấu đầu tư Trong điều hành chính sách đầu tư, Nhà nước có thể can thiệp trực tiếp như thực hiện chính sách phân bổ vốn, kế hoạch hoá, xây dựng cơ chế quản lý dầu tư hoặc điều tiết gián tiếp qua các công cụ chính sách như thuế, tín dụng, lãi suất để xác lập và định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn
- Đầu tư tác động làm tăng năng lực khoa học công nghệ của đất nước:
Đầu tư và đặc biệt là đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng, năng lực sản xuất, phục vụ của nền kinh tế và của các đơn vị cơ sở Chính vì vậy, đầu tư cũng là điều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ của quốc gia
Trang 18- Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế: Đầu tư (I) là một trong những bộ phận quan trọng của tổng cầu
(AD=C+I+G+X-M) Vì vậy, khi qui mô đầu tư thay đổi cũng sẽ có tác động trực tiếp đến qui mô tổng cầu
* Trên góc độ vi mô:
Trên góc độ vi mô thì đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của các cơ sở sản xuất, cung ứng dịch vụ và của cả các đơn vị vô vị lợi Để tạo dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở, đơn vị sản suất và cung ứng nào đều phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác
và thực hiện các chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu kỳ của các cơ
sở vật chất kỹ thuật vửa được tạo ra Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư Đối với các đơn vị đang hoạt động, khi cơ sở vật chất kỹ thuật đã
hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học, kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, đó chính là hoạt động đầu tư
1.1.2.2 Nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Vốn đầu tư là một nguồn lực quan trọng cho hoạt động đầu tư
* Nguồn vốn đầu tư phát triển trên góc độ vĩ mô:
Đứng trên góc độ vĩ mô, nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
- Nguồn vốn trong nước bao gồm : nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn
khu vực dân doanh :
+ Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước
+ Nguồn vốn dân doanh bao gồm phần tích luỹ của dân cư, của các
Trang 19doanh nghiệp dân doanh (Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, Công ty Cổ phần, hợp tác xã… ) được đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển
- Nguồn vốn nước ngoài bao gồm nguồn tài trợ phát triển chính thức
(ODF) trong đó ODA chiếm tỷ trọng cơ bản; nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ; nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại nước ngoài và nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
* Nguồn vốn đầu tư phát triển trên góc độ vi mô:
Trên góc độ vi mô, nguồn vốn đầu tư của các cơ sở cũng được hình thành từ hai nguồn :
- Nguồn vốn tự tài trợ: bao gồm vốn chủ sở hữu, thu nhập giữ lại và
khấu hao tài sản cố định
- Nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài: bao gồm nguồn tài trợ gián tiếp qua
các trung gian tài chính như các ngân hàng, các tổ chức tín dụng… và nguồn tài trợ trực tiếp qua thị trường tài chính dài hạn như thị trường chứng khoán, thị trường tín dụng thuê mua…
Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mình với những mục tiêu đầu tư khác nhau mà các cơ sở, các đơn vị sản xuất kinh doanh và cung ứng dịch vụ có thể huy động các nguồn vốn đầu tư với qui mô và cơ cấu phù hợp đảm bảo chi phí và hiệu quả đầu tư cho từng dự án cụ thể
Tuỳ thuộc vào từng đơn vị cụ thể mà cơ cấu và đặc trưng của các nguồn vốn có thể khác nhau :
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở hoạt động phúc lợi công cộng : vốn đầu tư có thể hình thành từ ngân sách cấp, từ vốn viện trợ
không hoàn lại trực tiếp cho cơ sở và vốn tự có của đơn vị
- Đối với doanh nghiệp quốc doanh : vốn đầu tư có thể hình thành từ
nguồn ngân sách, từ khấu hao cơ bản, từ phần tự tích luỹ, từ nguồn vốn vay hoặc góp vốn liên doanh liên kết
Trang 20- Đối với doanh nghiệp dân doanh: nguồn vốn có thể bao gồm vốn tự
có, vốn cổ phần, góp liên doanh liên kết từ vốn vay
1.1.2.3 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển là một khái niệm rất rộng và tổng hợp bao hàm ý nghĩa toàn diện về kinh tế, chính trị - xã hội
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển là mối quan hệ so sánh giữa các lợi ích trực tiếp và gián tiếp mà nền kinh tế xã hội thu được so với các đóng góp trực tiếp và gián tiếp mà nền kinh tế xã hội phải bỏ ra trong quá trình thực hiện đầu tư
Các lợi ích ở đây bao gồm lợi ích mà nhà đầu tư, người lao động, địa phương và cả nền kinh tế được hưởng
Còn các chi phí mà xã hội phải gánh chịu bao gồm chi phí của nhà đầu
tư, của địa phương, ngành và của cả nước là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, sức lao động, môi trường, môi sinh mà xã hội phải bỏ ra trong quá trình thực hiện đầu tư và khai thác sử dụng
Như vậy, hiệu quả kinh tế xã hội của việc sử dụng vốn đầu tư chính là kết quả so sánh giữ cái giá mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình và lợi ích do hoạt động đầu tư phát triển tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế xã hội chứ không phải chỉ riêng cho một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Khái niệm này được minh hoạ bằng công thức :
-
Hiệu quả sử dụng vốn
Đầu tư phát triển
= Tổng lợi ích do ĐTPT mang lại
Tổng chi phí để tạo ra lợi ích đó
Trang 21là một đòi hỏi khách quan của sự công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, là một biện pháp tích cực nhất để giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữ yêu cầu tăng trưởng kinh tế ở tốc độ cao, bền vững với khả năng tích luỹ có hạn của nền kinh tế
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển góp phần làm tăng đầu tư tài sản cố định, tăng tích luỹ để tái sản xuất mở rộng với quy mô ngày càng lớn hơn Nếu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển đạt hiệu quả cao nó
sẽ tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Ngược lại nó sẽ ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế như phá sản, thất nghiệp thậm chí tăng gánh nặng nợ nần nước ngoài cho hiện tại và cả thế hệ mai sau Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả đầu tư là việc làm cần thiết, giúp cho các nhà hoạch định chiến lược phát triển nền kinh tế xã hội, các nhà quản lý, các nhà đầu tư ra các quyết định đúng đắn về đầu tư phát triển cho từng thời kỳ, nhằm đem lại hiệu quả kinh tế
xã hội cao nhất
1.2 Quản lý đầu tư
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý đầu tư
1.2.1.1 Khái niệm quản lý đầu tư
Quản lý theo nghĩa chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản
lý vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đề ra
Quản lý đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, vận hành kết quả đầu tư) và các yếu tố đầu tư, bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất, trong điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan và quy luật đặc thù của đầu tư
Quản lý đầu tư là thực hiện các chức năng của quản lý (kế hoạch; tổ chức; kiểm tra; điều chỉnh) đối với đối tượng cụ thể là đầu tư
Trang 221.2.1.2 Các giai đoạn đầu tư
Các bước công việc của các giai đoạn hình thành và thực hiện một dự
án đầu tư viễn thông có thể được minh họa tóm tắt theo Hình 1-1
Hình 1-1: Mô hình các giai đoạn đầu tư
* Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Trong giai đoạn này cần giải quyết các
công việc như nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong và ngoài nước để xác định nguồn tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng ; Lập
dự án đầu tư Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư Giai đoạn này kết thúc khi nhận được văn bản quyết định đầu tư nếu đây là đầu tư của nhà nước hoặc văn bản Giấy phép đầu tư nếu đây là của các thành phần kinh tế khác
Kết thúc xây dựng và Khai
thác sử dụng
Thực hiện đầu tư
Hoàn tất các thủ tục để triển khai thực hiện đầu
tư ( đấu thầu, mua sắm vật tư, thiết bị.) Thi công xây lắp công trình Chạy thử, nghiệm thu bàn giao công trình
Vận hành, hướng dẫn sử dụng, bảo hành công
trình Quyết toán, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư
hoàn thành
Nghiên cứu cơ hội đầu tư / phát triển thị trường
- Lập quy hoạch Khảo sát - lập dự án đầu tư/báo cáo kinh tế kỹ
thuật Thiết kế và lập tổng dự toán, dự toán công trình
Chuẩn bị đầu tư
Trang 23* Giai đoạn thực hiện đầu tư: Giai đoạn này gồm các công việc như
xin giao đất hoặc thuê đất (đối với các dự án có sử dụng đất); Xin giấy phép xây dựng nếu yêu cầu phải có giáy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên); Thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi (đối với dự án có yêu cầu tái định
cư và phục hồi); Chuẩn bị mặt bằng xây dựng; Mua sắm thiết bị, công nghệ; Thực hiện việc khảo sát thiết kế xây dựng; Thẩm định phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình; Tiến hành thi công xây lắp; Kiểm tra và thực hiện các hợp đồng; Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng; Vận hành thử; Nghiệm thu, bàn giao công trình
* Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa dự án vào khai thác sử dụng:
Giai đoạn này gồm các công việc như: Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình; Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình; Bảo hành công
trình; Quyết toán vốn đầu tư; Phê duyệt quyết toán
1.2.1.3 Mục tiêu của quản lý đầu tư
* Mục tiêu chung của quản lý đầu tư:
- Đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ của quốc gia
- Huy động tối đa, sử dụng với hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tận dụng và khai thác tốt các tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trường sinh thái, chống mọi hành vi tham ô, lãng phí trong sử dụng nguồn vốn đầu tư và khai thác các kết quả của các dự án đầu tư
- Đảm bảo quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng công trình theo quy hoạch kiến trúc và thiết kế kỹ thuật được duyệt, đảm bảo sự bền vững và mỹ quan, áp dụng công nghệ xây dựng tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý
* Trên giác độ từng cơ sở:
Trang 24Doanh nghiệp có vốn đầu tư, mục tiêu của quản lý đầu tư suy cho cùng
là nhằm đạt được hiệu quả kinh tế tài chính cao nhất với chi phí vốn đầu tư thấp nhất trong một thời gian nhất định, trên cơ sở đạt được các mục tiêu quản
lý của từng giai đoạn của từng dự án đầu tư
- Đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư: mục tiêu chủ yếu của quản lý là
đảm bảo chất lượng và mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu, dự toán
- Đối với giai đoạn thực hiện đầu tư: mục tiêu chủ yếu của quản lý là
đảm bảo tiến độ, chất lượng với chi phí thấp nhất
- Đối với giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư: là nhanh chóng thu hồi
đủ vốn đã bỏ ra và có lãi đối với các công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, hoặc đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất với chi phí thấp nhất đối với các hoạt động đầu tư khác
Quản lý đầu tư là thực hiện các chức năng quản lý với đối tượng là các
dự án đầu tư nhằm thực hiện các mục tiêu: Chất lượng - Thời gian - Chi phí (Hình 1-2)
Hình 1-2: Các mục tiêu chủ yếu trong quản lý đầu tư tại doanh nghiệp
Các mục tiêu này không phải lúc nào cũng có thứ tự ưu tiên ngang bằng nhau Trong những trường hợp cụ thể thứ tự ưu tiên có thể khác nhau Trong ngành viễn thông: mục tiêu về chất lượng (đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật) và thời gian (tính kịp thời) luôn là ưu tiên số một Có thể vì những mục tiêu này
Mục tiêu
Chất lượng
Chi phí
Trang 25mà chúng ta phải chấp nhận những hy sinh nhất định về mục tiêu chi phí (có thể chấp nhận giá bị tăng lên)
1.2.1.4 Các nguyên tắc quản lý hoạt động đầu tư
- Thống nhất giữa chính trị và kinh tế, kết hợp hài hoà giữa hai mặt
kinh tế và xã hội Thể hiện ở vai trò quản lý của nhà nước (về chính sách, cơ chế quản lý đầu tư, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng…), vai trò của cơ sở (đảm bảo quyền lợi người lao động, hiệu quả kinh doanh, thực hiên các nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội)
- Tập trung dân chủ, tuân theo sự lãnh đạo thống nhất từ một trung tâm, đồng thời phát huy cao độ chủ động sáng tạo của địa phương, các ngành và cơ
sở trên cơ sở dựa vào ý kiến nguyện vọng, lực lượng và tinh thần chủ động sáng tạo của các đối tượng quản lý nhằm phát huy dân chủ, kích thích sáng tạo
- Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển, tận dụng năng lực dư thừa của nhau, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư
- Kết hợp hài hoà các loại lợi ích trong đầu tư, nhằm tạo động lực quan trọng thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế
- Tiết kiệm và hiệu quả (Hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất với Chi phí đầu tư thấp nhất)
1.2.2 Nội dung quản lý đầu tư
Có nhiều tác nhân tham gia công tác quản lý đầu tư, bao gồm: Nhà nước, các Bộ, ngành, địa phương và các cơ sở Chức năng nhiệm vụ của từng tác nhân như sau:
* Nhà nước: Xây dựng và giám sát việc thực hiện khung pháp lý như:
Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp và những văn bản dưới luật liên quan đến hoạt động đầu tư nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư, mặt khác đảm bảo cho các công cuộc đầu tư thực hiện đúng luật và đạt hiệu quả cao ;
Trang 26Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch đầu tư trên cơ sở tổng thể phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngành, địa phương, từ đó xác định danh mục
các dự án ưu tiên ; Ban hành các chính sách chủ trương đầu tư (chính sách tài chính tiền tệ, tín dung linh hoạt, ưu đãi đầu tư….) nhằm cải thiện môi trường
và thủ tục đầu tư; Ban hành các định mức kinh tế - kỹ thuật, các chuẩn mực đầu tư
* Bộ, ngành, địa phương: Xây dựng chiến lược, quy hoạch đầu tư của
địa phương ; Xây dựng danh mục các dự án cần đầu tư; Ban hành những văn bản quản lý thuộc ngành, địa phương mình liên quan đến đầu tư ; Hỗ trợ và trực tiếp xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình đầu tư ; Kiến nghị với cấp trên điều chỉnh, sửa đổi bổ sung những bất hợp lý trong cơ chế chính sách, quy định dưới luật …nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư
* Các cơ sở (doanh nghiệp): Quản lý đầu tư ở các cơ sở (doanh
nghiệp) là một bộ phận không thể tách rời của hoạt động quản lý nói chung và sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng, là hạt nhân cơ bản trực tiếp tổ chức thực hiện các chức năng quản lý dự án đầu tư theo khuôn khổ các văn bản pháp lý đã quy định Nội dung quản lý đầu tư ở cấp cơ sở bao gồm:
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch đầu tư phải phải phù hợp và phục vụ chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị Kế hoạch đầu tư bao gồm: kế hoạch huy động vốn, kế hoạch triển khai đầu tư, kế hoạch thu chi của các công trình đầu tư, …
- Tổ chức lập dự án đầu tư Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, quản lý hoạt động đầu tư được thực hiện từ từ khi xây dựng ý tưởng dự án đến các giai đoạn lập dự án tiền khả thi và khả thi
- Tổ chức và quản lý quá trình thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư Nội dung quản lý trong giai đoạn thực hiện đầu tư là tổ chức đấu thầu
để lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng, quản lý tiến độ, vốn đầu tư, chất
Trang 27lượng Trong giai đoạn vận hành, nội dung cơ bản của quản lý đầu tư là quản
lý tốt máy móc thiết bị, thực hiện duy tu bảo dưỡng thường xuyên, sử dụng tối đa công suất
- Điều phối, kiểm tra, đánh giá hoạt động đầu tư của cơ sở nói chung và của từng dự án đầu tư trong cơ sở nói riêng
1.2.3 Các phương pháp quản lý hoạt động đầu tư
* Phương pháp kinh tế:
Là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng các chính sách và đòn bẩy kinh tế như tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, giá cả, lợi nhuận, tín dụng, thuế,….phương pháp kinh tế thông qua các chính sách và đòn bẩy kinh tế để hướng dẫn, kích thích, động viên và điều chỉnh các hành vi của những đối tượng tham gia quá trình thực hiện đầu tư theo mục tiêu nhất định của nền kinh tế xã hội Như vậy, phương pháp kinh tế trong quản lý đầu
tư chủ yếu dựa vào lợi ích kinh tế của đối tượng tham gia vào quá trình đầu tư với sự kết hợp hài hoà lợi ích của nhà nước, xã hội với lợi ích của tập thể và các cá nhân người lao động trong lĩnh vực đầu tư
* Phương pháp hành chính:
Là phương pháp được sử dụng trong quản lý cả lĩnh vực xã hội và kinh
tế trong mọi nước Đây là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng những văn bản, chỉ thị, những qui định về tổ chức Ưu điểm của phương pháp này là góp phần giải quyết trực tiếp và nhanh chóng những vấn đề cụ thể, nhưng cũng dễ dẫn đến tình trạng quan liêu máy móc,
bộ máy hành chính độc quyền và độc đoán
Phương pháp hành chính trong quản lý được thể hiện ở hai mặt:
Mặt tĩnh: thể hiện ở những tác động có tính ổn định về mặt tổ chức
thông quan thể chế hoá tổ chức (gồm cơ cấu tổ chức và chức năng quản lý) và tiêu chuẩn hoá tổ chức (định mức và tiêu chuẩn tổ chức)
Trang 28Mặt động: là sự tác động thông qua quá trình điều khiển túc thời khi
thực hiện các vấn đề cần giải quyết trong quá trình quản lý
* Phương pháp giáo dục:
Nội dung của các biện pháp giáo dục bao gồm giáo dục về thái độ lao động, ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, khuyến khích phát huy sáng kiến, thực hiện các biện pháp kích thích sự say mê hăng hái lao động, giáo dục về tâm lý tình cảm lao động, về giữ gìn uy tín đối với người tiêu dùng Các vấn
đề này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực đầu tư do những đặc điểm của hoạt động đầu tư (lao động vất vả, di động luôn đòi hỏi tính tự giác trong lao động cao để đẩm bảo chất lượng công trình tránh tình trạng phá đi làm lại gây thất thoát lãng phí,….)
* Vận dụng tổng hợp các phương pháp:
Áp dụng phương pháp này cho phép nâng cao hiệu quả của quản lý trong hoạt động đầu tư vì mỗi phương pháp quản lý đều có những phạm vi áp dụng nhất định và những nhược điểm khác nhau Do đó, sử dụng tổng hợp các phương pháp này sẽ bổ sung cho nhau các ưu điểm, khắc phục các nhược điểm Tuy nhiên, khi vận dụng các phương pháp quản lý trên đây cần tìm ra phương pháp nào là chủ yếu tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể, trong đó phương pháp kinh tế xét cho cùng vẫn là phương pháp quan trọng nhất vì nó thường đem lại hiệu quả rõ rệt, là tiền đề vững chắc và lâu dài để vận dụng các phương pháp còn lại Phương pháp kinh tế cũng là phù hợp với điều kiện của các doanh nghiêp hoạt động trong điều kiện kinh tế thị trường
Trang 29- Phương pháp toán thống kê: Phương pháp này được sử dụng để xử lý
và phân tích các số liệu thống kê trong hoạt động đầu tư, kiểm tra và dự báo trong xây dựng công trình Trong toán thống kê, phương pháp hàm tương quan giữ một vai trò quan trọng nhất là đối với việc phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động đầu tư
- Mô hình toán kinh tế: Đó là sự phản ánh mặt lượng và thuộc tính cơ
bản của các đối tượng bị nghiên cứu trong đầu tư và là sự trừu tượng hoá khoa học các quá trình và hiện tượng kinh tế diễn ra trong hoạt động đầu tư
- Điều khiển học: Đó là môn khoa học về điều khiển các hệ thống kỹ
thuật và kinh tế phức tạp, trong đó quá trình vận động thông qua đóng vai trò chủ yếu
Với việc vận dụng phương pháp toán kinh tế trong quản lý đầu tư cho phép người ta có thể nhận thức sâu sắc hơn quá trình kinh tế trong đầu tư, cho phép lượng hoá để chọn ra các phương án đầu tư, xây dựng tối ưu, các phương án thiết kế và quy hoạch tối ưu
1.2.4 Công cụ quản lý hoạt động đầu tư
Có nhiều công cụ quản lý hoạt động đầu tư Dưới đây là những công cụ chủ yếu:
- Các quy hoạch tổng thể và chi tiết của ngành và địa phương về đầu tư
- Các định mức và tiêu chuẩn quan trọng có liên quan đến quản lý đầu
tư và lợi ích của toàn xã hội
Trang 301.3 Dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư
1.3.1 Dự án đầu tư
1.3.1.1 Khái niệm
Theo luật đầu tư thì dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định
Như vậy dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:
* Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một
cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
* Về góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng
vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài
* Về góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế
hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh
tế - xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ Xét trên góc độ này, dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác
kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung (một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án)
* Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động chi phí cần
thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
1.3.1.2 Vai trò của dự án đầu tư
* Đối với nhà nước và các định chế tài chính: dự án đầu tư là cơ sở để
thầm định và ra quyết định đầu tư, quyết định tài trợ vốn cho dự án
Trang 31* Đối với chủ đầu tư:
- Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng nhất để bỏ vốn đầu tư;
- Dự án đầu tư là cơ sở để xin phép được đầu tư hoặc được ghi vào kế hoạch đầu tư và cấp giấy phép hoạt động;
- Dự án đầu tư là cơ sở để xin phép được nhập khẩu máy móc thiết bị , xin hưởng các khoản ưu đãi trong đầu tư;
- Dự án đầu tư là phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư;
- Dự án đầu tư là phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vốn;
- Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để xem xét giải quyết các mối quan
hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia liên doanh, giữa liên doanh
và nhà nướcViệt Nam Đây cũng là cơ sở pháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh
1.3.1.3 Yêu cầu của dự án đầu tư:
Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
* Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư phải có một
quá trình nghiên cứu tỷ mỷ, kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác từng nội dung của dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về phương án kỹ thuật công nghệ Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư, cần có sự tư vấn của các chuyên gia tư vấn và cơ quan chuyên môn
* Tính thực tiễn: các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu
xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư
* Tính pháp lý: Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù
hợp với chính sách và luật pháp của nhà nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư
Trang 32* Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các qui định chung
của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các qui định về thủ tục đầu tư Với các dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân thủ qui định chung mang tính quốc tế
1.3.1.4 Phân loại dự án đầu tư:
* Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư:
- Đối với dự án đầu tư trong nước có 4 loại: Dự án quan trọng cấp
quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại tuỳ theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án đầu tư trong nước được phân theo 3 nhóm A, B và C tuỳ theo dự án thuộc ngành kinh tế nào và tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ
- Đối với các dự án đầu tư nước ngoài: gồm 3 loại dự án đầu tư nhóm
A, B và loại được phân cấp cho địa phương
* Phân theo trình tự lập và trình duyệt dự án:
- Nghiên cứu tiền khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo
nghiên cứu tiền khả thi
- Nghiên cứu khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo
nghiên cứu khả thi
* Theo nguồn vốn: Dự án đầu tư bằng vốn trong nước (vốn cấp phát,
tín dụng, các hình thức huy động khác) và dự án đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài (nguồn viện trợ nước ngoài ODA và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI)
* Theo hình thức đầu tư: Tự đầu tư, Liên danh, Hợp đồng hợp tác
kinh doanh, BOT, BTO, BT
* Theo các hình thức thực hiện đầu tư: Dự án đầu tư xây dựng; dự án
mua sắm hàng hóa, thiết bị
* Theo lĩnh vực đầu tư: Dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phát triển
cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội
Trang 331.3.2 Chu kỳ của dự án đầu tư
Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt đầu tư hình thành đến khi kết thúc dự án Chu kỳ của một dự
án đầu tư bao gồm 3 giai đoạn: Lập dự án đầu tư, thực hiện dự án đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư
* Lập dự án đầu tư: Lập dự án đầu tư bao gồm các bước từ nghiên cứu
cơ hội đầu tư đến nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi Tất cả các bước
nghiên cứu này phải được tiến hành đối với các dự kiến đầu tư lớn nhằm đảm
bảo từng bước phân tích sâu hơn, đầy đủ và chi tiết hơn, phát hiện và khắc
phục dần những sai sót qua từng bước nhằm đảm bảo khi dự án đầu tư hình
thành đạt được độ chính xác cao Đối với dự án đầu tư quy mô nhỏ, quá trình
nghiên cứu có thể gom lại làm một bước là nghiên cứu khả thi
Dự án đầu tư có thể gồm một hoặc nhiều loại công trình với một hoặc nhiều cấp công trình khác nhau Tuỳ theo quy mô, tính chất của công trình, việc thiết kế dự án được thực hiện như Hình 1-3
Hình 1-3: Mô hình dự án đầu tư
- Sự cần thiết đầu tư
- Mục tiêu của dự án
- Địa điểm triển khai
- Quy mô công suất dự án
- Công trình có quy mô lớn
- Giải pháp kỹ thuật, giải pháp công nghệ
- Trang thiết bị, vật tư
- Các bản vẽ : hiện trạng mặt bằng và giải pháp thi công
Dự án đầu tư
Lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật
- Công trình có quy mô nhỏ
Trang 34* Thực hiện dự án: Thực hiện dự án là giai đoạn biến các dự án đầu tư
thành hiện thực nhằm đưa dự án vào hoạt động trong thực tế của đời sống xã hội
* Vận hành, khai thác sử dụng dự án: Giai đoạn này được xác định từ
khi chính thức đưa dự án vào vận hành khai thác cho đến khi kết thúc dự án Đây là giai đoạn thực hiện các hoạt động theo chức năng của dự án và quản lý các hoạt động đó theo các kế hoạch đã dự tính
* Kết thúc dự án: Tiến hành các công việc cần thiết để chấm dứt hoạt
động của dự án (thanh toán công nợ, thanh lý tài sản và hoàn thành các thủ tục pháp lý khác)
1.3.3 Quản lý dự án đầu tư
Quản lý dự án là việc áp dụng những hiểu biết, kỹ năng, công cụ kỹ thuật vào hoạt động dự án nhằm đạt được những yêu cầu và mong muốn từ
dự án Quản lý dự án còn là quá trình lập kế hoạch tổng thể, điều phối thời gian nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm
vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép
1.3.3.1 Quản lý công tác lập kế hoạch đầu tư
* Nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư:
- Kế hoạch đầu tư phải dựa vào quy hoạch, chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của quốc gia, ngành, địa phương và quan trọng nhất là của cơ sở (doanh nghiệp)
- Lập kế hoạch đầu tư phải xuất phát từ tình hình cung, cầu của thị trường Tín hiệu thị trường cho biết nên đầu tư cái gì, bao nhiêu vốn, đầu tư
khi nào Trên cơ sở nghiên cứu thị trường để quyết định phương hướng đầu
tư mới nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư
Trang 35- Lập kế hoạch đầu tư phải coi trọng kế hoạch dự báo Dự báo là một
công cụ để kế hoạch, công tác dự báo phải bao gồm được cả trong ngắn hạn
và trong dài hạn, dự báo cung và cầu sản phẩm - dịch vụ, dự báo vốn và nguồn vốn đầu tư, dự báo tình hình đầu tư của doanh nghiệp
- Đẩy mạnh công tác kế hoạch đầu tư theo các chương trình, dự án Kế
hoạch đầu tư phải được lập theo chương trình phát triển và theo dự án Thực chất của công tác kế hoạch đầu tư theo chương trình và dự án là lập kế hoạch đầu tư phát triển trên cơ sở các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch, lựa chọn các vấn đề vào chương trình phát triển và dự án là cơ sở thực hiện thành công kế hoạch đầu tư
- Kế hoạch đầu tư phải đảm bảo tính khoa học, đồng bộ, kịp thời và linh hoạch Kế hoạch đầu tư phải dựa trên những căn cứ khoa học về khả
năng và thực trạng vốn đầu tư, tình hình cung cầu sản phẩm trên thị trường, chiến lược, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược đầu tư của ngành, địa phương và của đơn vị Kế hoạch đầu tư phải đồng bộ giữa các nội dung đầu tư, giữa mục tiêu và biện pháp, đảm bảo tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý, đồng thời có tính linh hoạt cao
- Kế hoạch đầu tư phải được xây dựng theo nguyên tắc từ dưới lên Để
kế hoạch có tính thực thi cao, thì kế hoạch đầu tư phải được thực hiện từ dưới lên Đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh nghiên cứu, cân đối nhu cầu trình lên đơn vị quản lý Đơn vị quản lý xem xét trên cơ sở đảm bảo định hướng phát triển chung của doanh nghiệp Dự án đầu tư là công cụ thực hiện kế hoạch đầu tư, tổng hợp các dự án đầu tư của các đơn vị sẽ là kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp
* Trình tự lập kế hoạch đầu tư:
Lập kế hoạch đầu tư phải tuân theo trình tự sau:
Bước 1: Xác định nhu cầu thị trường về sản phẩm và dịch vụ trong thời
kỳ kế hoạch;
Trang 36Bước 2: Xác định khả năng cung cấp sản phẩm và dịch vụ hiện tại trên thị trường;
Bước 3: Xác định khả năng của doanh nghiệp trong việc đầu tư (vốn, công nghệ, lao động );
Bước 4: Xây dựng chiến lược đầu tư dựa trên chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
Bước 5: Lập các dự án đầu tư theo từng loại sản phẩm, dịch vụ trong từng thời kỳ (tháng, quý, năm, giai đoạn)
Bước 6: Xác định tổng vốn đầu tư trên cơ sở của từng dự án, từng giai đoạn
* Quản lý kế hoạch đầu tư:
Doanh nghiệp dựa trên kế hoạch đầu tư để quản lý công tác đầu tư tại đơn vị mình Quá trình thực hiện đầu tư phải tuân thủ theo kế hoạch đầu tư Doanh nghiệp dựa vào kế hoạch đầu tư để đánh giá kết quả của quá trình đầu
tư của mình theo từng giai đoạn, thời kỳ để kịp thời điều chỉnh cho hợp lý
1.3.3.2 Quản lý công tác lập và thẩm định dự án đầu tư
a) Công tác lập dự án đầu tư
- Lập dự án đầu tư phải tuân thủ các bước theo quy định của pháp luật: lập dự án đấu tư theo 3 bước đối với các dự án lớn, có tính chất quan trọng (nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi) hay theo 2 bước đối với các dự án nhỏ (nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi) hoặc 1 bước đối với dự án mua sắm thiết bị nhỏ lẻ (nghiên cứu khả thi - báo cáo kinh tế kỹ thuật)
- Nội dung của một dự án đầu tư phải đầy đủ các thông tin: Sự cần thiết đầu tư, dự kiến quy mô đầu tư, hình thức đầu tư, công nghệ, tổng mức đầu tư, nguồn vốn đầu tư (phương án huy động vốn), hiệu quả đầu tư
- Dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, của ngành và của doanh nghiệp (kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu
Trang 37tư)
- Lập phương án thiết kế và công nghệ phải phù hợp (đồng bộ, phù hợp phương án phát triển công nghệ) với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện tại
- Quá trình lập dự án đầu tư phải tính đến vấn đề an toàn trong xây dựng, vận hành, phòng chống cháy nổ
- Dự án đầu tư phải đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội
b) Thẩm định án đầu tư
* Khái niệm: Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét đánh giá
một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện và hiệu quả của dự án để từ đó ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc tài trợ vốn cho dự án
* Mục đích của thẩm định dự án đầu tư:
- Đánh giá được tính hợp lý của dự án: Tính hợp lý được thể hiện ở từng nội dung và cách thức tính toán của dự án Ví dụ: Dự án có phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; công nghệ sử dụng có phù hợp, đồng bộ với công nghệ hiện đang sử dụng, có phù hợp với yêu cầu phát triển công nghệ trong thời gian tới;
- Đánh giá được hiệu quả của dự án (hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội)
- Đánh giá được khả năng thực hiện của dự án: kế hoạch tổ chức thực hiện, môi trường pháp lý của dự án
* Yêu cầu của thẩm định dự án đầu tư:
Thẩm định dự án đầu tư là giai đoạn tiếp theo của quá trình lập dự án Kết quả của thẩm định dự án là cơ sở để ra quyết định chấp thuận hay bác bỏ
dự án Chính vì vậy, yêu cầu chung được đặt ra đối với công tác thẩm định dự
án là:
Trang 38- Lựa chọn được dự án đầu tư có tình khả thi cao (có khả năng thực hiện, đem lại hiệu quả chắc chắn)
- Loại bỏ được các dự án đầu tư không khả thi, nhưng không bỏ lỡ mất
cơ hội đầu tư có lợi
Để công tác thẩm định đạt chất lượng tốt, người làm công tác thẩm định cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành, của địa phương, và các quy chế, luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành
- Nắm vững tình hình sản xuất kinh doanh, các số liệu tài chính của doanh nghiệp, các quan hệ tài chính - kinh tế ứng dụng của doanh nghiệp với ngân hàng và ngân sách nhà nước
- Thường xuyên cập nhật các văn bản pháp lý đối với đầu tư xây dựng
và các văn bản khác có liên quan, cập nhật các thông tin về giá cả, thị trường
để phân tích hoạt động chung của doanh nghiệp Áp dụng đúng các định mức theo quy định của nhà nước, của ngành trong quá trình thẩm định
* Nội dung thẩm định dự án đầu tư:
- Thẩm định phần thuyết minh của dự án: Sự cần thiết và mục tiêu đầu tư; các giải pháp thực hiện như phương án thiết kế, phương án công nghệ; tổng mức đầu tư của dự án, khả năng thu xếp vốn, nguồn vốn
- Thẩm định nội dung thiết kế thi công của dự án: Bản vẽ thi công, khối lượng thi công, phương pháp thi công
- Thẩm định dự toán, tổng dự toán công trình: Tính đúng đắn của việc
áp dụng các định mức, đơn giá, chế độ, chính sách và các khoản mục chi phí theo quy định của Nhà nước có liên quan đến các chi phí tính trong dự toán, tổng dự toán; Sự phù hợp của khối lượng xây dựng tính từ thiết kế với khối lượng xây dựng dự tính trong dự toán, tổng dự toán;
- Thẩm định phương án phòng chống cháy nổ và bảo về môi trường
Trang 39- Thẩm định hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án
1.3.3.3 Quản lý công tác đấu thầu
* Khái niệm: Đấu thầu được hiểu là một cách thức thực hiện hoạt động
mua bán (hàng hóa, công trình hoặc dịch vụ) mà trong đó người mua và người bán phải tuân thủ theo các quy định do tỏ chức quản lý nguồn vốn sử dụng cho hoạt động mua bán này đề ra Đấu thầu là bắt buộc đối với các hoạt động mua sắm sử dụng vốn do nhà nước quản lý
* Vai trò của đấu thầu:
Đối với bên mời thầu - người mua, thì đấu thầu mang lại những lợi ích sau:
- Tiếp cận với các nhà cung cấp mới, tiềm năng Bằng việc tổ chức cuộc thi cho nhiều nhà thầu tham gia thì bên mời thầu có cơ hội phát hiện ra những nhà cung cấp mới trên thị trường
- Chọn lựa được sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất qua quá trình chọn lựa đánh giá các sản phẩm do nhà thầu chào bán
- Có được giá mua hợp lý nhất Các nhà thầu tham gia đấu thầu đều mong muốn trúng thầu, vì vậy họ cạnh tranh với nhau về cả chất lượng sản phẩm lẫn giá bán sản phẩm Chính sự cạnh tranh này tạo cơ hội cho bên mời thầu lựa chọn được sản phẩm hợp lý xét về mối quan hệ chất lượng/giá cả
Đối với nhà thầu - người bán thì đấu thầu mang lại những lợi ích sau:
- Tiếp cận với khách hàng mới Với việc tham gia đấu thầu thì nhà thầu
có cơ hội gặp gỡ với khách hàng mới để tìm hiểu các nhu cầu mua sắm, đây là yếu tố quan trọng trong hoạt động nghiên cứu thị trường của nhà thầu
- Tiếp cận với đối thủ cạnh tranh Qua đấu thầu nhà thầu được cọ sát, được tìm hiểu nhiều nhà cung cấp là đối thủ cạnh tranh của mình trên thị trường
- Tiếp cận với những quy định về đấu thầu của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức quản lý vốn khác
Trang 40- Hoàn thiện sản phẩm
* Nguyên tắc của đấu thầu:
- Công bằng: Tất cả các nhà thầu đều được đối xử như nhau khi tham gia dự thầu, không có nhà thầu nào được hưởng điều kiện thuận lợi hơn những nhà thầu khác, trừ trường hợp có quy định cụ thể
- Cạnh tranh: Bên mời thầu phải tạo điều kiện thuận lợi để nhiều nhà thầu có thể tham gia, không được đưa những quy định không hợp lý để hạn chế số lượng nhà thầu
- Minh bạch: Quy trình đấu thầu phải được tuân thủ một cách nghiêm túc, không có sự thông đồng giữa bên mời thầu và các nhà thầu cũng như giữa các nhà thầu với nhau
- Công khai: Mọi thông tin về hoạt động đấu thầu như thời gian tổ chức hay kết quả đấu thầu phải được thông báo công khai
* Quản lý công tác đấu thầu:
- Đảm bảo công tác đấu thầu phải tuân thủ theo những quy định pháp lý của nhà nước về đấu thầu
- Kế hoạch đấu thầu của dự án phải được người có thẩm quyền quyết định phế duyệt trên cơ sở báo cáo thẩm định của cơ quan/phòng chức năng có trách nhiệm thẩm định Kế hoạch đấu thầu phải đảm bảo các dự án không bị chia quá nhỏ thành nhiều gói thầu để thực hiện chỉ định thầu hoặc chia quá lớn để hạn chế sự tham gia của các nhà thầu
- Trình tự đấu thầu phải tuân thủ theo quy định của nhà nước trong các văn bản pháp lý về đấu thầu Trình tự đấu thầu cần tuân thủ theo trình tự: Chuẩn bị đấu thầu → Tổ chức đấu thầu → Xét thầu → Thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu → Công bố kết quả đấu thầu → Hoàn thiện hợp đồng
và ký hợp đồng
- Công tác quản lý đầu thầu phải đảm bảo khâu lập hồ sơ mời thầu phải thể hiện được đầy đủ yêu cầu đặt ra, tránh tình trạng hạn chế tối đa các yêu