- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương nói chung và cho công ty Vilexim nó[r]
Trang 1i
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO với hàng loạt các cam kết giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ sẽ khiến môi trường kinh doanh ngày càng có tính cạnh tranh cao hơn Hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam đặt trước sức ép phải vươn lên để tồn tại và thích nghi với những tiêu chuẩn mới và phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa
Theo Nghị định 29/2004/NĐ-CP ngày 16/1/2004 của Chính phủ, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về thương mại, cung ứng các dịch vụ công và thực hiện vai trò của đại diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước 1 thuộc phạm vi quản lý theo quy định pháp luật Với hàng trăm doanh nghiệp thương mại nhà nước trực thuộc, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nhằm thúc đẩy và đảm bảo cân bằng cán cân xuất nhập khẩu và ổn định thị trường trong nước
Trước đây, các doanh nghiệp nhà nước này được hưởng nhiều những ưu đãi
và bảo hộ của Nhà nước, trước hết là được cấp vốn ban đầu từ ngân sách nhà nước, được cấp đất xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, hỗ trợ hoạt động tìm kiếm thị trường, trợ cấp xuất khẩu Hiện nay, việc Nhà nước giảm thiểu các hàng rào bảo hộ phù hợp với cam kết gia nhập WTO, các ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước hầu như không còn nữa, các doanh nghiệp phải tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
tự chủ trong lĩnh vực tài chính và phải trực tiếp đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt cả trên thị trường trong và ngoài nước Trước sức ép đó, không còn cách nào khác các doanh nghiệp này buộc phải tự điều chỉnh, thích nghi và phải nâng cao năng lực cạnh tranh khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh trong môi trường cạnh tranh toàn cầu ngày càng đa dạng và phức tạp
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách nêu trên, đề tài: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước trong điều kiện Việt Nam hội nhập WTO (Trường hợp Công ty VILEXIM) được lựa chọn để nghiên cứu
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam nhưng hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập có hệ thống các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Nhà nước thuộc Bộ Công Thương trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO Công trình nghiên cứu của Đinh Văn Ân, Lê Xuân Bá (2006): “Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu trên cơ sở cắt giảm chi phí” mới đề cập đến phương thức cạnh tranh về giá cả mà chưa xây dựng bức tranh tổng thể về cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước Đề tài của Nguyễn Vĩnh Thanh
1
(Theo khoản 22, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005, Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.)
Trang 2ii
(2005): “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” mặc dù đã đánh giá được thực trang năng lực cạnh tranh và đã đưa ra được một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, nhưng chưa đi sâu đến đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bô Công Thương gắn với việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO Do đó, đề tài của luận văn bảo đảm tính thời sự, cập nhật và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện hội nhập WTO
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại
nhà nước về bộ máy quản lý, thương hiệu, nguồn nhân lực và hiệu quả kinh doanh
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại
nhà nước thuộc Bộ Công Thương Việt Nam (Trường hợp Công ty VILEXIM)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để giải quyết vấn đề và kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…
Nguồn dữ liệu được thu thập từ Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Tài chính, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Tổng cục Thống kê và từ mạng Internet
6 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý thuyết về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương Việt Nam (Trường hợp Công ty VILEXIM)
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương nói chung và cho Công ty VILEXIM nói riêng trong điều kiện Việt Nam hội nhập WTO
7 Kết cấu
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương (Trường hợp Công ty VILEXIM)
- Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng năng lực cạnh tranh của các
Trang 3iii
doanh nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương trong điều kiện Việt Nam hội nhập WTO (Trường hợp Công ty VILEXIM)
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Những vấn đề chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
1.1.1 Khái niệm
Trên thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên các quan niệm đều đề cập đến hai khía cạnh cơ bản khi nói về cạnh tranh đó là chiếm lĩnh thị trường và thu lợi nhuận cho nhà sản xuất, kinh doanh, trong đó mục tiêu cuối cùng là thu được lợi nhuận cao nhất Có thể nói, cạnh tranh của doanh nghiệp là tập hợp những hành vi nhằm giành lấy những lợi thế để thực hiện được phương án kinh doanh thu được lợi nhuận cao nhất trong những điều kiện khách quan cụ thể nhất định
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của chủ thể trong sản xuất kinh doanh hàng hoá với mức độ có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong những điều kiện khách quan cụ thể nhất định
1.1.2 Các lý thuyết
Để tạo dựng và phát triển năng lực cạnh tranh một cách có hiệu quả, cần phân định rõ năng lực cạnh tranh ở mỗi cấp độ khác nhau Trên lý thuyết cạnh tranh và năng lực cạnh tranh được tiếp cận trên năm cấp độ: toàn cầu, quốc gia, ngành, doanh nghiệp, sản phẩm
- Năng lực cạnh tranh của một quốc gia có thể được hiểu là năng lực của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế tương đối bền vững và đặc trưng nền kinh tế khác
- Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành là khả năng của một ngành tồn tại và phát triển bền vững các đặc trưng kinh tế, khi các quá trình kinh tế nội sinh thay đổi hoặc thay thế lẫn nhau
- Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp cũng được định nghĩa là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp đó trên thị trường
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là “sức mạnh” hoặc “tính vượt trội” của hàng hóa đó trên thị trường, nó có thể thay thế hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác cung cấp để chiếm lấy vị trí thống lĩnh thị trường tại cùng một thời điểm Đồng thời nó thỏa mãn yêu cầu của khách hàng về giá cả, chất lượng, số lượng, tính tiện dụng, độc đáo hay kiểu dáng, bao bì, thương hiệu, các dịch vụ chăm sóc khách hàng trước và sau bán hàng nhờ đó thị phần mà nó chiếm lĩnh cao hơn so với thị phần của hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường
Trang 4iv
- Lợi thế cạnh tranh trong môi trường kinh doanh quốc tế
Lợi thế cạnh tranh được xem như là những ưu thế vượt trội riêng có nhằm giúp cho quốc gia và các công ty vượt qua các đối thủ cạnh tranh và đạt được mục tiêu nhất định của mình Để có được lợi thế này, một số quốc gia có thể dựa vào nguồn tai nguyên thiên phú nhờ khai thác điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình, vị trí địa lý… và phát triển những ngành công nghiệp tương thích với chúng, tạo ra các sản phẩm mang đậm nét đặc trưng riêng có mà những nơi khác, những công ty khác khó có thể theo kịp Những điều kiện này tạo ra lợi thế tuyệt đối cho quốc gia
và công ty Một nguyên tắc cơ bản là để tồn tại và không ngừng tăng trưởng trong môi trường cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp cần phải nhận diện và khai thác những cơ hội, né tránh sức ép của các đối thủ cạnh tranh lớn, tận dụng lợi thế cạnh tranh riêng có, tạo dựng hình ảnh của công ty và sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng,
có giải pháp hợp lý kích thích tích cực đến hành vi mua sắm của khách hàng, đặc biệt trong phân đoạn thị trường trọng điểm, với các nhóm khách hàng mục tiêu
- Lý thuyết cạnh tranh của M Porter
* Lợi thế cạnh tranh quốc gia
Trong tác phẩm lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Viên kim cương” Các yếu tố quyết định của mô hình
là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp Ngoài ra, còn có hai biến số
bổ sung là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ, cơ hội kinh doanh
Lý luận của Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương mại quốc tế trên góc độ các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể
Sự thành công của các quốc gia ở ngành kinh doanh nào đó phụ thuộc vào 3 vấn đề
cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành
* Chiến lược cạnh tranh theo mô hình năm áp lực
Lý thuyết cạnh tranh của M Porter mô hình hóa các ngành kinh doanh và chỉ ra ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm áp lực cạnh tranh bao gồm: năng lực thương lượng của người cung ứng, nguy cơ bị thay thế, nguy cơ
từ đối thủ tiềm ẩn mới, năng lực thương lượng của khách hàng và cường độ cạnh tranh trong ngành
1.1.3 Các công cụ cạnh tranh
Chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm
+ Sản phẩm có chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, kích thích khách hàng mua hàng và mở rộng thị trường
+ Chất lượng sản phẩm cao sẽ làm tăng khả năng sinh lợi, cải thiện tình hình tài
Trang 5v
chính của doanh nghiệp
Giá cả
Giá cả được sử dụng như một công cụ cạnh tranh thông qua chính sách định giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với từng loại thị trường và có sự kết hợp của một số điều kiện khác Định giá là việc ấn định một cách có hệ thống giá cả cho đúng với hàng hoá hay dịch vụ bán cho khách hàng Việc ấn định giá căn cứ vào: lượng cầu đối với sản phẩm và chi phí sản xuất, giá thành đơn vị sản phẩm
Tổ chức hệ thống phân phối có hiệu quả
Công tác tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm là tập hợp nhiều biện pháp khác nhau nhằm tăng khả năng tiêu thụ, mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Công tác tổ chức hệ thống phân phối bao gồm một số nội dung cơ bản sau: lựa chọn các kênh phân phối hợp lý; đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng …
Các công cụ khác như dịch vụ sau bán hàng, phương thức thanh toán, vận dụng yếu tố thời gian
Ngoài các yếu tố trên, quy mô doanh nghiệp hay uy tín của doanh nghiệp cũng là một công cụ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
Thị phần: Là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh
Tỷ suất lợi nhuận: Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh trên thị trường rất gay gắt, ngược lại nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh rất thuận lợi
Doanh số bán ra: Doanh số bán lớn đảm bảo có doanh thu để trang trải các chi phí bỏ ra, mặt khác thu được một phần lợi nhuận và có tích luỹ để tái mở rộng sản xuất Như vậy số bán ra càng lớn thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao
Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu: Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu cho phép doanh nghiệp đánh giá được liệu một đồng chi phí marketing
bỏ ra thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm
Uy tín của doanh nghiệp: Đây là yếu tố tác động rất lớn đến tâm lý người tiêu dùng và đến quyết định mua của khách hàng
Ngoài ra còn phải kể đến một số chỉ tiêu khác như sự nổi tiếng của nhãn mác, lợi thế thương mại
1.2.Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại, để phát triển, để thực hiện thành công các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1.1 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
- Nhóm các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô bao gồm yếu tố kinh tế, chính trị, luật pháp, khoa học công nghệ, văn hóa xã hội
- Nhóm các yếu tố thuộc môi trường vi mô như khách hàng, số lượng các DN trong ngành và cường độ cạnh tranh của ngành, khả năng thâm nhập thị trường của doanh
Trang 6vi
nghiệp tiềm ẩn, các đơn vị cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp, sức ép của sản phẩm thay thế
1.2.1.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp như tài chính; công nghệ; nguồn nhân lực…
1.2.2 Những cam kết gia nhập WTO của Việt Nam
Việt Nam buộc phải tuân thủ hàng loạt các quy tắc, cam kết khi gia nhập WTO, có thể tóm tắt như sau:
Cam kết đa phương
Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và quy định mang tính ràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên do Việt Nam là một nước đang phát triển ở trình độ thấp lại đang trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam yêu cầu và được WTO chấp nhận cho hưởng một thời gian chuyển đổi để thực hiện một số cam kết có liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp và quyền kinh doanh
Đối với doanh nghiệp thương mại nhà nước, cam kết trong lĩnh vực này là nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động DNNN Tuy nhiên, nhà nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của DN như các cổ đông khác Việt Nam cũng đồng ý cách hiểu mua sắm của DNNN không phải là mua sắm Chính phủ
Cam kết về thuế nhập khẩu
Mức cam kết chung của Việt Nam là đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600 dòng) Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình 5 - 7 năm Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% thực hiện trong khoảng 5 năm Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn 12,6% thực hiện chủ yếu trong vòng 5 - 7 năm
Cam kết về mở của thị trường dịch vụ
Về diện cam kết, trong Hiệp định thương mại song phương (BTA) với Hoa
Kỳ Việt Nam đã cam kết 8 ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành) Trong thỏa thuận WTO, Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng
110 ngành
1.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Trung Quốc
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
* Đối với cấp Chính phủ
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về hội nhập quốc tế của Việt Nam nói chung và các cam kết WTO nói riêng Trung Quốc đã phải xem xét, sửa đổi hơn 3 nghìn điều luật và các qui định, hơn 800 qui định hạn chế đã bị bãi
bỏ Hệ thống luật pháp của Trung Quốc đã có nhiều cố gắng để tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, cải thiện môi trường đầu tư và xã hội Đồng thời, Trung Quốc đã áp dụng phương pháp mà thu hút vốn thông qua FDI bằng hàng rào kỹ thuật Mở cửa lĩnh vực nhạy cảm để học hỏi kiến thức, công nghệ và kinh nghiệm quản lý Bên cạnh đó, chú trọng việc đào tạo đội ngũ chuyên gia am tường luật của WTO và các nước trên thế giới để sẵn sàng đối diện với những cuộc khiếu kiện, và khi cần thì cũng khởi kiện lại Nhanh chóng chuyển đổi kinh tế trong nước thành nền kinh tế
Trang 7vii
thị trường và tranh thủ được càng nhiều nước công nhận càng tốt để có lợi thế khi xảy ra tranh chấp Cuối cùng, phải chuẩn bị tốt cho hoạt động của các lĩnh vực dịch
vụ quan trọng như tài chính và ngân hàng để đủ sức cạnh tranh Chính phủ hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại, giới thiệu hình ảnh đất nước, văn hoá, con người Trung Quốc trên toàn thế giới Nói đến Trung Quốc là nói đến hàng hoá phong phú
về mẫu mã, chất lượng và giá rẻ
* Đối với Doanh nghiệp
Để nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp thương mại Trung Quốc thực hiện các biện pháp chủ yếu như: đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực
và hoàn thiện bộ máy quản lý, liên kết để hỗ trợ nhau trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp, giải thể những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả
1.3.2 Bài học đối với Việt Nam
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về WTO và các cam kết gia nhập của Việt Nam, nâng cao nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế cho toàn xã hội Hoàn thiện thể chế luật pháp, xem xét sửa đổi, bổ sung và ban hành luật trong nước để phù hợp với hoạt động và cam kết khi tham gia WTO Chính phủ hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại, giới thiệu hình ảnh đất nước, văn hoá, con người Việt Nam trên toàn thế giới
Thu hút đầu tư nước ngoài để lợi dụng nguồn vốn, chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại, thông qua FDI bằng hàng rào kỹ thuật Mở cửa lĩnh vực nhạy cảm để học hỏi kiến thức, công nghệ và kinh nghiệm quản lý Đổi mới và hiện đại hoá công nghệ, không ngừng nâng cao năng suất giảm thiểu chi phí, nghiên cứu, sáng chế công nghệ mới, học hỏi trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới
Chú trọng việc đào tạo đội ngũ chuyên gia am tường luật của WTO, phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện tổ chức, bộ máy quản lý Coi trọng công tác marketing, lập kế hoạch và chiến lược kinh doanh, chiến lược cạnh tranh phù hợp với điều kiện mới Liên kết để hỗ trợ nhau trong từng khâu của quá trình kinh doanh, trong tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp, giải thiể các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả
Ơ
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC THUỘC BỘ
CÔNG THƯƠNG (TRƯỜNG HỢP CÔNG TY VILEXIM)
2.1 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương
2.1.1 Lĩnh vực hoạt động
- Công ty phải tiến hành kinh doanh theo đúng luật pháp, chịu trách nhiệm về kinh tế và dân sự đối với các hoạt động kinh doanh và tài sản của mình
- Phát huy ưu thế, uy tín của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế, củng cố
và mở rộng các quan hệ kinh tế, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản xuất trong và ngoài nước
Trang 8viii
- Công ty có nhiệm vụ bảo toàn và phát triển tổng số vốn Nhà nước giao cho, thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính
- Công ty có nhiệm vụ hoàn thành các chỉ tiêu do nhà nước giao cho, có trách nhiệm nộp ngân sách cho nhà nước
2.1.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh và các công cụ cạnh tranh đã được áp dụng 2.1.2.1 Năng lực quản lý
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, mặc dù đã có chủ trương xoá bộ chủ quản, nhưng hiện đang có quá nhiều cấp, ngành trực tiếp can thiệp công việc kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp Trong nội bộ mỗi doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức quản lý còn quá cồng kềnh so với doanh nghiệp ngoài Nhà nước, nhiều thủ tục hành chính rườm rà đã làm cho doanh nghiệp không thể năng động, linh hoạt, đáp ứng kịp thời yêu cầu của thị trường Trình độ cán bộ quản lý thấp, hạn chế trong tiếp cận với những kiến thức, phong cách quản lý hiện đại, đặc biệt là kinh nghiệm giao dịch xuất nhập khẩu, nghiên cứu tiếp cận với thị trường thế giới Khả năng quản lý cả về kỹ thuật và kinh doanh kém Thiếu đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao Biên chế bộ máy quản lý của doanh nghiệp Nhà nước gấp tới 2-3 lần so với doanh nghiệp ngoài Nhà nước cùng ngành nghề và quy mô, cùng có số tài sản cố định như nhau nhưng doanh nghiệp Nhà nước có số lượng lao động gấp
10 lần doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài
2.1.2.2.Thương hiệu
Kết quả điều tra của Cục xúc tiến thương mại - Bộ Công Thương cho thấy, một số doanh nghiệp đã quan tâm đến việc xây dựng và bảo hộ thương hiệu, tuy nhiên mới chỉ có 4,2% doanh nghiệp cho rằng thương hiệu là vũ khí trong cạnh tranh, 5,4% cho rằng thương hiệu là tài sản của doanh nghiệp, còn 30% cho rằng thương hiệu sẽ giúp bán được hàng với giá cao hơn và đem lại tự hào cho người tiêu dùng Trong khi đó có đến 90% người tiêu dùng lại cho rằng thương hiệu là yếu tố quyết định khi họ lựa chọn mua sắm Mặc dù vậy, việc đầu tư phát triển thương hiệu của doanh nghiệp còn quá ít, có 80% doanh nghiệp chưa có bộ phận chức năng lo quản lý nhãn hiệu, 74% doanh nghiệp đầu tư dưới 5% doanh thu cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu, 20% không hề chi cho việc xây dựng thương hiệu Việc xây dựng và phát triển thương hiệu của các doanh nghiệp cũng gặp phải những khó khăn: 23% doanh nghiệp cho rằng có khó khăn về vốn và tài chính, nạn hàng giả và vi phạm bản quyền (19%), cơ chế, chính sách, thủ tục (14%), nguồn nhân lực (11,8%), xây dựng chiến lược và cách thực hiện (8%), thủ tục hành chính (7,2%), giá dịch vụ (6,3%) Nhiều doanh nghiệp thường xem nhẹ vai trò của thương hiệu sản phẩm hoặc thương hiệu doanh nghiệp nên không đăng
ký thương hiệu tại nước nhập khẩu
2.1.2.3 Nguồn nhân lực
Lao động là một lợi thế cạnh tranh của Việt Nam bởi chi phí lao động rẻ, trình độ dân trí của lao động Việt Nam cao, có truyền thống lao động cần cù, ham học hỏi, khéo tay, nhanh trí, Nhưng cần phải nhìn nhận chi phí lao động tuy rẻ nhưng năng suất lao động chỉ ở mức trung bình và thấp (trên 60%), chủ yếu lại là lao động thủ công, tác phong lao động công nghiệp còn kém Do đó nếu so sánh lao
Trang 9ix
động Việt Nam với lao động các nước trong khu vực thì có thể nói đây là điểm yếu của Việt Nam
2.1.2.4 Tài chính
Nhiều doanh nghiệp đang hoạt động trong tình trạng không đủ vốn cần thiết,
đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế Đây là điều đáng lo khi các chính sách - bảo hộ của Nhà nước đến năm 2006 hầu như không còn nữa, khi
đó các doanh nghiệp thương mại Việt Nam dễ bị các tập đoàn lớn của các nước trong khu vực đánh bại
Những khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn của các doanh nghiệp là rất lớn, trong khi vốn tồn đọng còn nhiều trong các nguồn và việc huy động vốn trong dân vào đầu tư sản xuất, kinh doanh chưa được cải thiện Các doanh nghiệp Nhà nước được ưu đãi hơn về vốn trước hết là được cấp vốn ban đầu từ ngân sách, cấp đất xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh Còn các doanh nghiệp ngoài Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu dựa vào vốn tự có của cá nhân Với khả năng tiếp cận nguồn vốn hạn chế, các doanh nghiệp có tình trạng phổ biến là chiếm đụng vốn lẫn nhau, làm lây nhiễm rủi ro giữa các doanh nghiệp
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty VILEXIM
Công ty cổ phầnxuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư Vilexim là một đơn vị kinh doanh lớn của Bộ Công Thương; công ty có quan hệ với nhiều bạn hàng trong
và ngoài nước Ngoài ngành nghề kinh doanh chính là xuất nhập nhập khẩu, công
ty còn nhiều hoạt động kinh doanh khác
2.2.1 Đánh giá năng lực cạnh tranh
2.2.1.1 Năng lực quản lý
Trong một thời gian dài duy trì cơ chế tập trung quan liêu nên sự thiếu năng động so với các công ty tư nhân hay các công ty thuộc các thành phần kinh tế khác
là điều không thể tránh khỏi Hơn nữa, Công ty VILEXIM lại là công ty xuất nhập khẩu trực thuộc Bộ Công Thương, trước đây được Nhà nước giao cho độc quyền ngoại thương, việc xuất nhập khẩu bao nhiêu là theo kế hoạch của Bộ Công Thương nên không hề phải cạnh tranh với công ty nào, quản lý theo cơ chế tập trung Kể từ khi hạch toán độc lập, nhất là cổ phần hoá doanh nghiệp, năng lực quản lý ngày càng được đổi mới nhằm thích ứng nhanh nhạy với yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường Tuy nhiên, sự quản lý này vẫn còn mang tính tập trung, chưa phân cấp và giao quyền quản lý cho từng phòng kinh doanh, phòng kinh doanh chưa thực sự được tự chủ trong kinh doanh, đôi khi vẫn chậm trễ trong việc quyết định, mất cơ hội kinh doanh tốt…
2.2.1.2.Thương hiệu
Trước đây, thương hiệu ít được công ty quan tâm chú ý bởi cơ chế điều hành xuất nhập khẩu tập trung vào các công ty đầu mối, khách hàng tự tìm đến doanh nghiệp Công tác phát triển, khai phá, xâm nhập thị trường với hàng hoá và dịch vụ gắn với tên tuổi công ty chưa được chú trọng, chỉ cần tiêu thụ được hàng hoá, dịch
vụ và có lãi thì sẽ được ưu tiên
Trang 10x
Công ty Vilexim đã tiến hành các hoạt động xúc tiến, khuyếch trương tên tuổi và uy tín của công ty, cùng với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực xuất nhập khẩu công ty đã đang và sẽ là một đối tác uy tín và được các đơn vị nhập khẩu trong nước tín nhiệm Tuy nhiên, việc phát triển thương hiệu không được công ty thực sự đặt ra trong chiến lược kinh doanh một cách bài bản, , chưa xây dựng được cho mình chương trình quảng bá, phát triển hình ảnh công ty khoa học, hợp lý Công ty vẫn chỉ làm theo kiểu đến đâu phát triển đến đó, chưa thực sự làm cho khách hàng nhận thấy thương hiệu VILEXIM gắn với sản phẩm hàng hoá và dịch
vụ của mình
2.2.1.3 Nguồn nhân lực
Do vẫn còn ảnh hưởng của cơ chế nhà nước, nên còn một số cán bộ làm việc
từ thời bao cấp chưa thích ứng với cơ chế làm ăn mới, chưa có sự chủ động cao trong công việc, trình độ của đội ngũ nhân viên còn chưa đồng đều, Công ty đang phải trải qua giai đoạn trẻ hoá đội ngũ lao động nên sự kết hợp để trở thành những
ê kíp làm việc tốt còn rất khó khăn
2.2.1.4.Tài chính
Công ty VILEXIM luôn phát huy vai trò lòng cốt cho ngành dịch vụ và thương mại bằng nguồn vốn khá lớn của mình Tổng nguồn vốn của Công ty là 450
tỷ đồng do nhiều nguồn hình thành như: vốn cấp, vốn vay, vốn tự có, vốn huy động
từ các cổ đông
Công ty thực hiện giao vốn kinh doanh cho các bộ phận và thực hiện quản lý vốn theo các phương án kinh doanh đã được duyệt đảm bảo sử dụng vốn an toàn Ngoài ra Công ty còn tích cực chào bán hàng chậm bán kém, mất phẩm chất và có
kế hoạch bù lỗ bán hàng tồn kho
Việc gia nhập WTO, với hàng loạt các “đại gia” có tiềm lực mạnh về tài chính, sự cạnh tranh về giá sẽ làm ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh và năng lực cạnh tranh của công ty nếu như không có sự chuẩn bị kỹ về phát triển, mở rộng nguồn vốn
2.2.2 Các công cụ cạnh tranh
2.2.2.1 Giá cả
Công ty sử dụng chính sách giá linh hoạt, giá cả có thể thay đổi trong điều kiện cho phép, và điều này phụ thuộc vào khách hàng
2.2.2.2 Chất lượng sản phẩm
Sản phẩm và chủng loại sản phẩm là công cụ cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ trên thị trường Trong những năm gần đây Công ty đã rất chú trọng và quan tâm đến việc đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng cung ứng, ngoài ra Công ty còn tích cực chuyên sâu và nâng cao chất lượng phục vụ những sản phẩm là thế mạnh cuả Công ty
Do tính chất của mặt hàng kinh doanh, là những mặt hàng đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn, đặc biệt là phải có được nguồn cung cấp tin cậy, đối với mặt kinh doanh của Công ty là tương đối nhạy cảm đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay khi mà đất nước đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá, thì những mặt