1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại thành phố hồ chí minh (trường hợp bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa)

259 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 259
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế đó, kết hợp cùng với đặc thù chuyên môn nghề nghiệp và yêu cầu công tác trong lĩnh vực quản lý văn hóa, chúng tôi chọn vấn đề “Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn

Trang 1

TRUNG TÂM VĂN HÓA)

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 62317001

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Trang 2

Tôi xin cam đoan luận án Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại thành phố Hồ Chí Minh (Trường hợp bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa) là công trình nghiên cứu khoa học của

riêng tôi, không có sự trùng lắp, sao chép của bất kỳ đề tài luận án hay công trình

nghiên cứu khoa học của các tác giả khác

Tác giả luận án

Trịnh Đăng Khoa

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 3

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 5

3 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

3.1 Đối tượng nghiên cứu 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu 10

3.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Quan điểm, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 12

4.1 Quan điểm nghiên cứu 12

4.2 Câu hỏi nghiên cứu 13

4.3 Giả thuyết nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

5.1 Phương pháp khảo sát định lượng và định tính 13

5.2 Phương pháp thống kê – so sánh 15

5.3 Phương pháp tiếp cận liên ngành 16

6 Đóng góp mới của luận án 17

7 Bố cục của luận án 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 18

1.1 Cơ sở lý luận 18

1.1.1 Một số khái niệm 18

1.1.2 Đặc điểm hoạt động phục vụ giải trí công cộng 28

1.1.3 Phân loại hoạt động phục vụ giải trí công cộng 31

1.1.4 Vai trò của Nhà nước đối với hoạt động phục vụ giải trí công cộng 33

1.1.5 Lý thuyết nghiên cứu 34

1.2 Cơ sở thực tiễn 41

1.2.1 Khái quát về hoạt động giải trí công cộng ở Thành phố Hồ Chí Minh 41

1.2.2 Tổng quan về các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập phục vụ giải trí công cộng tại Thành phố Hồ Chí Minh 56

Trang 4

CỘNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VĂN HÓA CÔNG LẬP TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 66

2.1 Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của bảo tàng 67

2.1.1 Nhu cầu giải trí công cộng đối với bảo tàng 67

2.1.2 Tổ chức hoạt động phục vụ giải trí công cộng của bảo tàng 68

2.1.3 Đánh giá hoạt động phục vụ giải trí công cộng của bảo tàng 77

2.2 Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của nhà hát 79

2.2.1 Nhu cầu giải trí công cộng đối với nhà hát 79

2.2.2 Tổ chức hoạt động phục vụ giải trí công cộng của nhà hát 80

2.2.3 Đánh giá hoạt động phục vụ giải trí công cộng của nhà hát 89

2.3 Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của trung tâm văn hóa 91

2.3.1 Nhu cầu giải trí công cộng đối với trung tâm văn hóa 91

2.3.2 Tổ chức hoạt động phục vụ giải trí công cộng của trung tâm văn hóa 94

2.3.3 Đánh giá hoạt động phục vụ giải trí công cộng của trung tâm văn hóa 105 CHƯƠNG 3 NHẬN ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ GIẢI TRÍ CÔNG CỘNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VĂN HÓA CÔNG LẬP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 111 3.1 Nhận định về các mặt tồn tại trong hoạt động phục vụ giải trí công cộng và những vấn đề đặt ra 111

3.1.1 Một số tồn tại trong hoạt động phục vụ giải trí công cộng 111

3.1.2 Những vấn đề đặt ra 117

3.2 Kinh nghiệm phát triển ở các nước và xu hướng hoạt động phục vụ giải trí công cộng ở nước ta 124

3.2.1 Chính sách văn hóa phát triển hoạt động giải trí công cộng ở một số nước 124

3.2.2 Những xu hướng biến đổi trong hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập ở Việt Nam 133

3.3 Khuyến nghị các giải pháp 149

3.3.1 Nhóm giải pháp về tổ chức hoạt động phục vụ giải trí công cộng 149

3.3.2 Nhóm giải pháp về quản lý hoạt động phục vụ giải trí công cộng 153

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 170 PHỤ LỤC 181

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo Từ điển Tiếng Việt thì giải trí được định nghĩa là làm cho trí óc thảnh thơi bằng cách nghỉ ngơi hoặc tham gia các hoạt động vui chơi (Hoàng Phê, 2003, tr.388)

Giải trí là nhu cầu văn hóa xã hội không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người Để đáp ứng và làm thỏa mãn nhu cầu giải trí, từ lâu, con người đã

tự mình tìm các thú chơi trong những lúc nhàn rỗi như: chăm sóc chim, hoa, cá cảnh, làm thơ, vẽ tranh, đọc sách, xem truyền hình, nghe đài phát thanh… hay tụ họp thành các nhóm bạn bè cùng sở thích để vui chơi, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao ở những nơi công cộng… hoặc tự nguyện tham dự vào các hoạt động giải trí công cộng do một chủ thể khác (nhà nước, cộng đồng, tư nhân) đứng ra tổ chức phục vụ

Hiện nay, hoạt động giải trí công cộng đã được thị trường tham gia cung ứng ngày càng nhiều hơn, nhưng nhà nước vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong phục vụ các hoạt động giải trí chung của toàn xã hội Bởi, có những nhu cầu hoạt động giải trí chung, chính đáng của người dân và cộng đồng, xã hội

có thể sẽ bị sự từ chối của các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ giải trí tư nhân,

do không hoặc khó đảm bảo việc thu hồi vốn và tìm kiếm lợi nhuận Mặt khác, hoạt động giải trí công cộng nếu chỉ có khu vực tư nhân độc quyền cung cấp có thể sẽ dẫn tới việc độc quyền thị trường và kéo theo sự tăng giá, ảnh hưởng tới người tiêu dùng Chưa kể việc chạy theo mục tiêu lợi nhuận tối đa có thể sẽ dẫn tới các sản phẩm giải trí kém chất lượng, ảnh hưởng tiêu cực cho đời sống văn hóa của cá nhân và cộng đồng, xã hội

Chính vì lẽ đó, hoạt động văn hóa ở nước ta nói chung, trong đó có hoạt động giải trí công cộng, tới nay vẫn đồng thời tồn tại cơ chế hoạt động sự nghiệp văn hóa công lập, gắn với vai trò quản lý, điều tiết và cung ứng của nhà nước Tuy nhiên, quan điểm nhà nước quản lý, điều tiết và thậm chí trực tiếp phục vụ các hoạt động văn hóa giải trí không có nghĩa là nhà nước bao tiêu tràn lan và độc quyền toàn bộ lĩnh vực này như trước đây trong thời bao cấp Mà chủ trương

Trang 7

của nhà nước kể từ khi đổi mới tới nay là khuyến khích xã hội tham gia ngày càng nhiều hơn vào việc tổ chức phục vụ các hoạt động vui chơi giải trí chính đáng của nhân dân Nhà nước chỉ tham gia tổ chức phục vụ các hoạt động giải trí công cộng nào mà khu vực tư nhân và xã hội khó, không hoặc chưa thể thực hiện

Hoạt động giải trí công cộng từ sau 1975 tới nay đã có những biến chuyển khá rõ qua từng phân kỳ lịch sử kinh tế chính trị khác nhau Thời kỳ bao cấp (trước năm 1986) tất cả hoạt động văn hóa đều do nhà nước quản lý từ khâu sản xuất, bảo quản, phân phối cho đến tiêu dùng Bắt đầu vào thời kỳ đổi mới - kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với chủ trương xã hội hóa các hoạt

động văn hóa vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX, hoạt động văn hóa nói chung, trong đó có lĩnh vực giải trí công cộng trở nên sôi động và phong phú hơn Nhiều hoạt động giải trí công cộng do các tổ chức kinh tế, tư nhân đứng ra

thực hiện theo chủ trương xã hội hóa có khuynh hướng tăng nhanh, hoạt động

khá đa dạng về nội dung, hình thức và cả thời gian phục vụ Một số loại hình phổ biến như chiếu phim, biểu diễn ca múa nhạc, vui chơi giải trí… đã đáp ứng tốt nhu cầu của người dân, được người dân chấp nhận chi trả (mua) theo giá cả thị trường

Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, một số loại hình giải trí công cộng đòi hỏi phải có vai trò của nhà nước để đảm bảo khả năng tiếp cận của người dân như bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa… Nhưng có thể nói, công tác phục vụ hoạt động giải trí công cộng cho người dân, cộng đồng, xã hội ở thành phố vẫn còn nhiều bất cập, chậm đổi mới và chưa xứng tầm với những tiềm năng vốn có, dẫn tới hiệu quả chưa cao và lãng phí về nhiều mặt

Từ thực tế đó, kết hợp cùng với đặc thù chuyên môn nghề nghiệp và yêu cầu công tác trong lĩnh vực quản lý văn hóa, chúng tôi chọn vấn đề “Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh (Trường hợp bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa)” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ chuyên ngành văn hóa học

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Giải trí là nhu cầu thiết yếu của con người, vì vậy thu hút được rất nhiều

sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước Trong phần

Trang 8

này, chúng tôi sẽ giới thiệu tổng quan về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về văn hóa giải trí, về dịch vụ công và dịch vụ văn hóa công cộng và các hoạt động giải trí tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

2.1.1 Về văn hóa giải trí và giáo dục giải trí

- Công trình Giáo dục giải trí (2008) của hai tác giả Ю.А Стрельцов и

Е.Ю Стрельцова gồm 6 chương, tiếp cận giải trí theo khuynh hướng giáo dục học, đã xem hoạt động văn hóa giải trí là một hoạt động giáo dục – bồi dưỡng khai sáng trong quá trình nghỉ ngơi, giải trí của con người; qua hoạt động văn hóa giải trí nhằm giáo dục bồi dưỡng khai sáng cho con người để hoàn thiện và phát triển toàn diện về nhân cách Hoạt động văn hóa giải trí còn giúp con người nâng cao năng lực thẩm mỹ, thông qua các hoạt động hưởng thụ và sáng tạo nghệ thuật không chuyên Đặc biệt, hoạt động văn hóa giải trí phản ánh động lực văn hóa xã hội của con người, là quá trình để con người thực hiện các hành vi giao tiếp xã hội trong thời gian rỗi, góp phần hình thành và nâng cao văn hóa giao tiếp của cá nhân trong cộng đồng xã hội (Стрельцов Ю.А и Стрельцова Е.Ю, 2008, tr 459-461)

Chúng tôi nhận thấy quan điểm của các tác giả trên có sự tương đồng với quan điểm, cách nhìn nhận về hoạt động văn hóa của Việt Nam, xem giáo dục là chức năng cơ bản, bao trùm trong số các chức năng của một thiết chế văn hóa – đơn vị sự nghiệp văn hóa Từ đó, các hoạt động văn hóa kể cả hoạt động vui chơi, giải trí công cộng của các thiết chế văn hóa luôn chứa đựng và chuyên chở chức năng giáo dục đối với công chúng

- Trong công trình Lý luận và kỹ thuật hoạt động văn hóa giải trí, tác giả

A.D Zarkov (2007) cho rằng:

Giải trí là một phần của thời gian rỗi, được sử dụng để trao đổi, tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, vui chơi và thực hiện các kiểu hoạt động không thường xuyên (không quy định) khác, những hoạt động này đảm bảo cho sự nghỉ ngơi (tĩnh dưỡng) à, hoạt động văn hóa giải trí như là một hiện tượng xã hội đa chiều, là hệ thống sáng tạo, giữ gìn, truyền bá và tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, quy phạm chuẩn mực, tri thức khoa học, và

Trang 9

c ng như là những giá trị – ý nghĩa của những biểu tượng Hoạt động văn hóa giải trí có hai đặc điểm: (1) thường là hoạt động phi lao động sản xuất (2) được lựa chọn một cách chủ động, độc lập theo cách riêng của mỗi người (tr.68)

- Công trình Hoạt động văn hóa giải trí của hai tác giả A.D Zarkov và

V.M Chizikov (1998) trình bày về phương pháp hoạt động văn hóa – giải trí như

là một hệ thống nguyên v n (thống nhất) hệ thống này có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tất cả các thành tố, được biến đổi theo đặc điểm, nội dung và cấu trúc của nó Phương pháp hoạt động giải trí là một hệ thống gồm các bộ phận công việc khác nhau, gắn bó hữu cơ thống nhất trên cơ sở ý tưởng và cách thức để thực hiện ý tưởng đó, trong sự tương tác giữa chủ thể và khách thể để đạt mục tiêu hoạt động

Nội dung này sẽ được chúng tôi kế thừa trong luận án nghiên cứu như là một tiêu chí khoa học – mang tính quan điểm nghiên cứu để phân tích, nhận định, đánh giá thực tiễn hoạt động giải trí công cộng tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.2 Về dịch vụ công và dịch vụ văn hóa công cộng

- Công trình Đổi mới tổ chức trong các dịch vụ công cộng của ba nhà biên

soạn V Pekka, J.B Stephen, W.A Ari (2013), trên nền cảnh khủng hoảng kinh

tế, kéo theo nhiều dịch vụ công phải đối mặt với môi trường cạnh tranh khốc liệt Các dịch vụ công phải cung cấp các dịch vụ tốt hơn, nhưng nguồn kinh phí được

hỗ trợ lại giảm sút Các tác giả đã phân tích thực trạng và đặt ra những câu hỏi liên quan đến cải cách dịch vụ công và nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của cải cách và đổi mới các dịch vụ khu vực công là điều cần thiết; bàn về cách thức để mang lại hiệu quả tối ưu và sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại nhằm góp phần làm chuyển đổi tình trạng các dịch vụ công

- Công trình Quản lý chiến lược đối với dịch vụ công (Quản lý dịch vụ công) của tác giả Paul Joyce (1999) có giá trị lý luận và thực tiễn về quản trị dịch

vụ công, cụ thể là quản lý chiến lược đối với dịch vụ công Nội dung được tác giả khái quát gồm: (1) cung cấp hiểu biết về lý thuyết quản lý chiến lược; (2) giới thiệu những ý tưởng hướng dẫn thực hành có hiệu quả trong quản lý chiến lược các dịch vụ công (không sao chép những thói quen của khu vực tư nhân

Trang 10

mù quáng); (3) đưa ra các công cụ và tài liệu khái niệm (dưới dạng bảng) có thể được sử dụng để thực hiện việc phân tích và lập kế hoạch; (4) tìm hiểu các vấn đề chính cho các nhà quản lý khu vực công bao gồm quản trị, các chiến lược công, biến đổi, quản lý khủng hoảng và lập kế hoạch chiến lược liên tổ chức; (5) dựa trên nghiên cứu từ các quốc gia khác nhau; (6) xem xét cách quản lý chiến lược

có thể được áp dụng và phát triển để giúp cải thiện các dịch vụ công

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

2.2.1 Về văn hóa giải trí và văn hóa thời gian rỗi

- Công trình Xã hội học văn hóa của tác giả Đoàn ăn Chúc (1997b) phân

tích mối quan hệ giữa nhu cầu và nhu cầu giải trí, qua đó tác giả luận giải vấn đề thời gian rỗi và hoạt động rỗi như sau:

Nhu cầu giải trí – tái sáng tạo là nhu cầu nghỉ ngơi về thể chất và tinh thần bằng chuyển trạng thái hoạt động: từ các hoạt động sinh tồn sinh vật sang các hoạt động thẩm mỹ, đó chính là các hoạt động giải trí Nhu cầu chính yếu là tái nhận thức hiện thực theo phương thức thẩm mỹ; các nhu cầu phụ thuộc là sự sản xuất và tiêu thụ các tác phẩm biểu tượng tính, sự phát triển các năng lực cảm thụ thẩm mỹ, chế độ thời gian rỗi, các thiết chế rỗi

và các phương tiện giải trí (tr.197)

Nhu cầu giải trí là tiền đề để con người thực hiện các hoạt động giải trí Hoạt động giải trí là quá trình con người sản xuất và tiêu thụ các tác phẩm văn hóa Tác phẩm văn hóa, theo ông, là những sản phẩm do một xã hội sản xuất bằng các phương tiện (vật liệu) là những ký hiệu – biểu tượng Tính biểu tượng

là đặc trưng căn bản nhất của tác phẩm văn hóa Nhờ tính biểu tượng mà tác phẩm văn hóa, thông qua những kết cấu bằng hình ảnh, âm thanh, động tác… hay các dấu hiệu sinh động khác, mà nó có thể đối thoại với thế giới cảm xúc, tức là với tâm hồn công chúng, từ đó gây ra khoái cảm cho họ Khoái cảm ấy đáp ứng nhu cầu giải trí, tức nhu cầu tái nhận thức hiện thực theo phương thức thẩm mỹ (Đoàn ăn Chúc, 1997b, tr.30)

Tác giả Đoàn ăn Chúc đã phân tích về khái niệm thời gian rỗi, phân biệt giữa nghỉ, chơi với giải trí và cho rằng hoạt động chơi (giải trí) là hoạt động rỗi, bởi chúng diễn ra trong khoảng thời gian rỗi của mỗi người; bản chất của hoạt

Trang 11

động rỗi khác với lao động và không hoạt động (Đoàn ăn Chúc, 1997b, tr.231, 232)

- Kỷ yếu hội thảo “ ăn hóa thời gian rỗi” của Khoa ăn hóa học Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (2012) đã chỉ ra những vấn đề mang tính khoa học cốt lõi của thời gian rỗi và văn hóa thời gian rỗi trong đời sống văn hóa tinh thần của con người Chính thời gian rỗi làm phát triển mạnh các nhu cầu hoạt động về thể chất, nghệ thuật hoặc tri thức ăn hóa thời gian rỗi chính là hoạt động văn hóa trong khoảng thời gian tự do – nghỉ ngơi của con người

2.2.2 Về nhu cầu giải trí và hoạt động giải trí

- Công trình Nhu cầu giải trí của thanh niên của Đinh Thị Vân Chi

(2002b), đã phân tích những hoạt động giải trí công cộng được thanh niên ưa thích nhưng không có điều kiện tham gia và thực trạng đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu giải trí công cộng của thanh niên Theo đó, tác giả cho rằng những điểm giải trí công cộng (nhà nước và tư nhân) thực hiện một chức năng hết sức quan trọng, đó là thỏa mãn nhu cầu giải trí tại chỗ một cách trực tiếp và thường xuyên, khác hẳn những điểm giải trí loại khác Những mặt tích cực trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí công cộng của thanh niên là: có nhiều chủ thể khác nhau cùng quan tâm đáp ứng, xuất hiện nhiều loại hình giải trí mới, chất lượng phục

vụ được nâng cao Bên cạnh các hạn chế là: khu vực nhà nước hoạt động còn mang tính kỳ dịp, nặng tính ganh đua (nhiều cuộc thi); khu vực tư nhân xuất hiện hiện tượng thương mại hóa dịch vụ giải trí, những tiêu cực trong đáp ứng nhu cầu giải trí cho thanh niên; các điểm giải trí công cộng hiện nay còn ít về số lượng và kém về chất lượng, cho nên chức năng này chưa được đảm bảo và nhu cầu giải trí ngoài trời hàng ngày của thanh niên chưa được thỏa mãn đầy đủ

- Công trình Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam do

Đình Quang và các tác giả khác (2005) thực hiện điều tra xã hội học khá quy mô

về đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam (khảo sát ở ba thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng cùng với Khu công nghiệp Bình Dương) Nhu cầu sáng tạo và giải trí, c ng như mức độ đáp ứng các nhu cầu này

là một trong số những nội dung quan trọng được phản ánh trong thực trạng văn

Trang 12

hóa – xã hội khu vực đô thị Các tác giả cho rằng, các tụ điểm công cộng có một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa đô thị “Đó là những không gian kiến trúc có chức năng đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt công cộng của người dân - một hoạt động có tính chất tiêu biểu của đời sống đô thị.” Dù có tính chất khác nhau, công năng khác nhau, nhưng đây là các tụ điểm sinh hoạt mà cư dân thông qua

đó để sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Tuy nhiên, thực trạng tại thời điểm nghiên cứu cho thấy số lượng các thiết chế văn hóa c ng như các tụ điểm văn hóa công cộng còn thiếu, chưa đáp ứng đủ các nhu cầu sinh hoạt của người dân; các thiết chế văn hóa phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở khu trung tâm; các vùng nông thôn, ngoại ô chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức

- Công trình Hoạt động giải trí ở đô thị Việt Nam hiện nay – Những vấn

đề lý luận và thực tiễn của Phạm Duy Đức và các tác giả khác (2004) Các bài

viết đã phân tích cơ sở khoa học của hoạt động giải trí, nhu cầu giải trí ở đô thị nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nó trong xã hội đô thị; đánh giá thực trạng các loại hình giải trí gắn với các hoạt động cộng đồng ở đô thị (qua các đơn vị sự nghiệp văn hóa như thư viện, bảo tàng, sân thể thao, trung tâm văn hóa) hoạt động nghệ thuật với việc đáp ứng các yêu cầu giải trí của công chúng hiện nay; các dịch vụ văn hóa

c ng như các phương tiện thông tin đại chúng với việc đáp ứng yêu cầu giải trí của người dân đô thị hiện nay; dự báo xu hướng phát triển hoạt động giải trí ở đô thị nước ta c ng như đề xuất phương hướng và giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong các hoạt động vui chơi giải trí ở khu vực đô thị thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.2.3 Về hoạt động giải trí tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Công trình Nghiên cứu và xây dựng mô hình nhà văn hóa tại Thành phố

Hồ Chí Minh - Thực trạng, nhu cầu và tổ chức thực hiện của Trần Ngọc Khánh

(cb, 2015) đã nghiên cứu chuyên sâu về thiết chế nhà văn hóa - trung tâm văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã phân tích và lý giải nguồn gốc, sự ra đời c ng như vai trò, chức năng mang tính bản chất cốt lõi của nhà văn hóa, trên

cơ sở tiếp cận từ nhiều nguồn tài liệu của các nước trên thế giới; từ đó nhận định, đối chiếu với quá trình ra đời, xây dựng và phát triển nhà văn hóa ở Việt Nam,

Trang 13

trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh Công trình c ng đã chỉ ra rằng hiện nay nhu cầu giải trí của cư dân đô thị chỉ được đáp ứng dưới hình thức thụ động, chủ yếu là các hình thức hoạt động giải trí bằng phương tiện nghe nhìn

Công trình, tập trung nghiên cứu hoạt động văn hóa của hệ thống nhà văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh có liên quan mật thiết với đối tượng và khá gần với phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án, cung cấp cho chúng tôi một cái nhìn tổng thể về phương thức hoạt động văn hóa, giải trí của hệ thống mạng lưới các trung tâm văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh Thông qua các tài liệu về chính sách văn hóa của một số nước, trong đó có lĩnh vực vui chơi giải trí qua các thiết chế nhà văn hóa, câu lạc bộ thuộc hệ thống Nhà nước là những thông tin hữu ích khi xem xét khuynh hướng vận động và phát triển của hoạt động giải trí công cộng tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay

- Công trình Hoạt động giải trí nơi công cộng của thanh thiếu niên Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng, xu hướng và giải pháp của iện Nghiên cứu Phát

triển Thành phố Hồ Chí Minh (2013), tập trung nghiên cứu những hoạt động giải trí đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghe nhìn cho thanh niên thành phố như xem phim, xem ca nhạc nhu cầu sáng tạo nghệ thuật, rèn luyện kỹ năng, phát triển năng khiếu nghệ thuật như sinh hoạt tại các câu lạc bộ, đội, nhóm nhu cầu vận động, vui chơi, giao lưu như chơi thể thao, vui chơi giải trí khác… phản ánh nhu cầu, khả năng đáp ứng nhu cầu và mức độ hài lòng c ng như không hài lòng của thanh niên đối với một số các thiết chế văn hóa, giải trí công cộng phổ biến ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra những mặt ưu điểm, nổi trội của các thiết chế giải trí tư nhân đối với sự lựa chọn của thanh niên thành phố

- Công trình Thiết chế văn hóa hướng tới việc xây dựng một thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình của Viện Nghiên cứu Phát

triển (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) và Ban Văn hóa - Xã hội (Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) (2016), tập hợp các bài viết mang tính

lý luận và tổng kết thực tiễn về thực trạng hoạt động của các thiết chế văn hóa và định hướng giải pháp phát triển hoạt động của các thiết chế này trong bối cảnh hiện nay của thành phố, trong đó có một số bài viết liên quan lĩnh vực hoạt động vui chơi giải trí công cộng, gồm có:

Trang 14

+ Bài viết “Thiết chế văn hóa hướng tới việc xây dựng một thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình” của Viện Nghiên cứu Phát triển (2016), đã phân tích về thực trạng tổ chức các hoạt động văn hóa, giải trí đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân của trung tâm văn hóa cho rằng hoạt động của các thiết chế này không đủ sức cạnh tranh với những khu vui chơi giải trí quy mô lớn và hiện đại như công viên Đầm Sen, Suối Tiên; khu vui chơi liên hợp hiện đại… Sự phân bố các thiết chế văn hóa trên địa bàn thành phố

có tác động đến mức độ thụ hưởng văn hóa, giải trí của người dân Nguyên nhân

cơ bản là do điều kiện kinh tế, khoảng cách địa lý, điều kiện thời gian rỗi, sự thiếu thốn về những thiết chế sinh hoạt văn hóa công cộng Điều này thể hiện sự chênh lệch khá lớn về quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa - nghệ thuật, giải trí giữa người dân ở nội và ngoại thành

+ Bài viết “Đặc điểm, vị trí, vai trò của thiết chế văn hóa với quản lý xây dựng đời sống văn hóa và nâng cao chất lượng sống ở Thành phố Hồ Chí Minh” của Huỳnh Quốc Thắng và Huỳnh Tuấn Kiệt (2016) cho thấy các hoạt động văn

hóa, vui chơi giải trí được xem là một bộ phận của văn hóa sống Và văn hóa sống là một trong ba yếu tố quy định nên chất lượng sống theo tiêu chuẩn của thế

giới hiện đại (ba yếu tố gồm: quản lý đời sống xã hội, điều kiện sống và văn hóa sống) Muốn nâng cao chất lượng sống phải chú ý tới mối tương quan giữa tất cả các yếu tố trên với các thiết chế văn hóa Các tác giả nhận định: các thiết chế văn hóa nhất thiết phải đóng vai trò, vị trí là một trong những mắt xích góp phần quan

trọng để giải quyết vấn đề “công nghiệp hóa - hiện đại hóa” về văn hóa của thành phố

+ Bài viết “Đánh giá về thực trạng thụ hưởng văn hóa và các thiết chế văn hóa của cư dân Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của Lê Thị Mỹ Hà (2016), cho rằng, có sự chênh lệch giàu nghèo trong việc tiếp cận văn hóa, giải trí… Nhưng, nhờ vào sự đầu tư phát triển đa dạng và phong phú của các loại hình văn hóa của thành phố… cho nên, mỗi người đều có thể tham gia vui chơi, hưởng thụ văn hóa, giải trí phù hợp với điều kiện Từ thực trạng thụ hưởng văn hóa, tác giả

đã đề xuất một số kiến nghị, giải pháp đối với hoạt động của các thiết chế văn hóa nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng đầy đủ, đa dạng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí cho người dân thành phố trong thời gian rỗi ngày càng tốt hơn

Trang 15

+ Bài viết “Thiết chế văn hóa khu vui chơi giải trí ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của õ Tô Phương và Lê Thị Ngọc Hoa (2016), cho rằng: thiết chế văn hóa vui chơi giải trí tại Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng phát triển

cả về số lượng lẫn chất lượng, với sự đa dạng, phong phú về loại hình và mang những sắc thái riêng của hệ thống mạng lưới thiết chế văn hóa vui chơi giải trí ở thành phố trong thời gian qua như rạp chiếu phim, trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, khu vui chơi giải trí, thư viện…

- Hai công trình nghiên cứu: luận văn thạc sĩ văn hóa học Tổ chức hoạt

động vui chơi giải trí dành cho thiếu nhi tại các công viên văn hóa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (2003) của Nguyễn Công Hoan và luận văn thạc sĩ văn

hóa học Vấn đề văn hóa giải trí công cộng (Trường hợp công viên văn hóa suối

tiên, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh) (2005) của Thái Thu Hoài công bố tại

Trường Đại học KHXH&N TP HCM cung cấp những cơ sở lý luận về văn hóa giải trí và hoạt động vui chơi giải trí tại các thiết chế văn hóa công cộng ở thành phố Hồ Chí Minh Cả hai công trình này đều hướng tới khảo sát, đánh giá về vai trò của các hoạt động vui chơi giải trí công cộng đối với việc đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa và giáo dục người dân tại các công viên văn hóa – khẳng định tính đa dạng, mới mẽ của các hoạt động vui chơi giải trí và đặc biệt là mô hình hoạt động đa năng, thích ứng với cơ chế thị trường của thiết chế công viên văn hóa trong bối cảnh đô thị Hai công trình này là tài liệu tham khảo hữu ích cho chúng tôi trong so sánh, đối chiếu về tính đa năng, tổng hợp trong các hình thức giải trí công cộng của các công viên văn hóa với trung tâm văn hóa

3 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: chúng tôi lựa chọn nghiên cứu hoạt động phục vụ giải trí

công cộng của hệ thống các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập trong lĩnh vực bảo tàng, nhà hát và trung tâm văn hóa cấp thành phố và cấp quận/huyện, tập trung ở

Trang 16

5 quận/ huyện của Thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm 3 quận nội thành và 2 huyện ngoại thành), cụ thể:

+ 5 bảo tàng: Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

+ 5 nhà hát: Nhà hát Kịch thành phố, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, Nhà hát Nghệ thuật Hát bội Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà hát Bông Sen, Trung tâm Ca nhạc nh Thành phố Hồ Chí Minh

+ 5 trung tâm văn hóa: Trung tâm Văn hóa quận 1, Trung tâm Văn hóa quận 3, Trung tâm Văn hóa quận 5, Trung tâm Văn hóa huyện Củ Chi, Trung tâm Văn hóa huyện Hóc Môn

- Về thời gian: luận án chủ yếu nghiên cứu vấn đề phục vụ giải trí công

cộng của hệ thống bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa công lập tại Thành phố

Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, quá trình khảo sát, nghiên cứu chúng tôi sẽ chú ý tìm hiểu theo cả hai chiều lịch đại và đồng đại, đặc biệt tập trung vào giai đoạn từ năm 2014 tới nay Đây là thời điểm ra đời các nghị quyết, quyết định quan trọng, có liên quan trực tiếp tới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập: Nghị quyết số 33-NQ/TW hội nghị lần 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2014) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Nghị quyết số 19-NQ/TW hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (2017)

về “tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”; và Quyết định số 429/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2019 phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2021, định hướng đến năm 2030

3.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập;

- Làm rõ cách thức tổ chức các hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp công lập để chỉ ra những tồn tại, hạn chế;

Trang 17

- Đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu giải trí công cộng của công chúng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập

Với những mục đích trên, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài của luận án;

- Làm rõ cơ sở lý luận hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị

sự nghiệp văn hóa công lập;

- Khảo sát nhu cầu giải trí công cộng của người dân thành phố đánh giá thực trạng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập trong lĩnh vực bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh;

- Dự báo xu hướng vận động và phát triển hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập trong thời gian tới;

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập

4 Quan điểm, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

Để nhận diện được bản chất, quy luật hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi phải dựa vào thực tiễn, thông qua quá trình khảo sát, điền dã thực địa tại các thiết chế được nghiên cứu Quá trình làm việc thực tiễn này giúp chúng tôi thu thập được những thông số phản ánh một cách khách quan các vấn đề ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế để từ đó dự báo xu hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập hiện nay trên địa bàn nghiên cứu

Các hoạt động thực tiễn để triển khai các dự báo, giải pháp mà đề tài đặt

ra phải mang lại những hiệu quả nhất định đối với việc thúc đẩy sự phát triển theo chiều hướng tích cực cho các nhóm thiết chế được nghiên cứu trong việc nâng cao khả năng, hiệu quả phục vụ nhu cầu giải trí công cộng ở các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập, góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu văn hóa giải trí đa dạng của công chúng Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

Các giải pháp mà chúng tôi đề xuất đều phải bắt nguồn từ thực tiễn nghiên cứu Nghĩa là, các giải pháp này phải dựa trên nền tảng là thực trạng hoạt động giải trí công cộng ở các thiết chế được nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh; đến lượt mình, khi áp dụng vào thực tế (nghĩa là triển khai thực tiễn), phải có tính khả thi và phát huy được hiệu quả thiết thực

4.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?

- Vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh ra sao?

- Cần có những giải pháp gì để nâng cao chất lượng phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh? 4.3 Giả thuyết nghiên cứu

- Các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chưa hiệu quả hoạt động phục vụ giải trí công cộng trong bối cảnh hiện nay Hoạt động của các đơn vị này chủ yếu thực hiện theo chỉ tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu

do nhà nước đề ra, chưa hướng tới tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu giải trí của người dân, cộng đồng xã hội

- Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập còn nhiều tồn tại hạn chế, bất cập Phải chăng là vì chưa hoàn chỉnh hành lang pháp lý cụ thể, rõ ràng để các đơn vị

sự nghiệp văn hóa phát huy tự chủ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực giải trí công cộng

- Nên chăng cần có những giải pháp cải cách, đổi mới về tổ chức và quản

lý để nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập trong thời gian tới Cần đa dạng hóa một cách thực chất, mạnh mẽ phương thức cung ứng dịch vụ giải trí công trong lĩnh vực giải trí công cộng và đổi mới phương thức hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn

vị sự nghiệp văn hóa công lập

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp khảo sát định lượng và định tính

Trang 19

a Khảo sát định lượng

- Đối tượng được chọn để khảo sát: người dân sử dụng dịch vụ và cán bộ, nhân viên tại các thiết chế văn hóa được nghiên cứu

- Quy mô của mẫu: 317 người

- Phương pháp chọn mẫu: luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất với hình thức mẫu thuận tiện Nghĩa là, để khảo sát 317 người dân và cán bộ tại các bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa, chúng tôi cử khảo sát viên đến trực tiếp tại các đơn vị cần khảo sát Tại đây, khảo sát viên sẽ chọn những người dễ tiếp cận nhất

để thực hiện khảo sát phiếu

- Xử lý kết quả khảo sát: để xử lý kết quả khảo sát, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 20.0 Để đảm bảo kết quả xử lý số liệu chính xác, chúng tôi đặc biệt lưu tâm đến quá trình mã hóa các phương án trả lời, nhập dữ liệu, xuất dữ

liệu

b Khảo sát định tính (phỏng vấn sâu)

- Đối tượng được chọn để khảo sát: người dân sử dụng dịch vụ và cán bộ quản lý tại các thiết chế văn hóa được nghiên cứu

- Quy mô của mẫu: 30 người (người dân 15 người, cán bộ 15 người)

- Phương pháp chọn mẫu: chúng tôi dùng phương pháp chọn mẫu thuận tiện - phi xác suất Cụ thể, để tìm được người trả lời phỏng vấn phù hợp, chúng tôi trước hết làm quen để dò ý đối tượng Sau đó, nếu chúng tôi nhận thấy họ sẵn lòng chia sẻ với chúng tôi về các vấn đề liên quan đến luận án, thì chúng tôi sẽ tiến hành phỏng vấn chính thức

- Nội dung phỏng vấn:

+ Đối với cán bộ quản lý tại các thiết chế được nghiên cứu: tìm hiểu những nhận định, đánh giá của lãnh đạo đơn vị về chất lượng các hoạt động giải trí công cộng của đơn vị mình; nhận định về xu hướng, nhu cầu của công chúng

về các hoạt động giải trí công cộng; và đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong

việc tổ chức các hoạt động giải trí công cộng phục vụ người dân

+ Đối với người dân sử dụng dịch vụ: tìm hiểu những nhận định, đánh giá của họ về chất lượng các hoạt động phục vụ giải trí công cộng ở các thiết chế văn

Trang 20

hóa mà họ đến; tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của họ về các hoạt động giải trí công cộng

- Cách thức tiến hành phỏng vấn: dù chúng tôi đã xác định những nội dung chính cần trao đổi trong cuộc phỏng vấn, nhưng toàn bộ cuộc phỏng vấn được thực hiện “mở” theo kiểu trò chuyện, để người trả lời phỏng vấn có thể tự nhiên thể hiện những quan điểm, đánh giá của mình Tất cả những cuộc phỏng vấn đều được ghi âm theo sự đồng ý của người trả lời phỏng vấn

5.2 Phương pháp thống kê – so sánh

Chúng tôi tiến hành thu thập các số liệu thứ cấp liên quan đến đề tài thông qua các báo cáo thường niên, báo cáo đột xuất của các thiết chế được nghiên cứu Đồng thời, chúng tôi c ng tiến hành thu thập số liệu sơ cấp thông qua các đợt khảo sát thực địa Các nhóm số liệu mà chúng tôi tiến hành thu thập gồm: quy

mô dân số, lượt người sử dụng các hoạt động giải trí công cộng, số lượng, tần suất các sản phẩm, chương trình giải trí công cộng được tổ chức trong năm giá

cả dịch vụ…

Để đảm bảo số liệu thu thập được chính xác, chúng tôi tiếp cận các nguồn đáng tin cậy như: niên giám thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2015; tiếp cận lãnh đạo tại các đơn vị cần khảo sát để trực tiếp thu thập các báo cáo; trực tiếp đếm số, kiểm kê tại các đơn vị được khảo sát trong các đợt điền dã thực địa Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu phân tích dữ liệu, chúng tôi thu thập những số liệu mới nhất có thể

Sau khi các số liệu được thu thập, chúng tôi tiến hành tổng hợp để kiểm tra, đối chiếu - so sánh, chỉnh lý, hệ thống hóa thông qua bảng thống kê, phân loại nhóm dữ liệu theo các nhóm thiết chế văn hóa khảo sát Việc này giúp chúng tôi kiểm soát được hệ thống cơ sở dữ liệu mà chúng tôi đã thu thập, nhận diện được tính đủ/thiếu; chính xác/thiếu chính xác của các số liệu đã thu thập được từ các thiết chế được nghiên cứu

Từ các số liệu được tổng hợp, chúng tôi thực hiện các thao tác tính toán tỷ trọng, tần suất, tỷ lệ trung bình, dựng biểu đồ, sơ đồ… của các vấn đề liên quan đến luận án như quy mô, số lượng và tần suất tổ chức các hoạt động phục vụ giải trí công cộng… từ đó có cơ sở để đưa ra những nhận định về đặc điểm, tính chất

Trang 21

và xu hướng phát triển các hoạt động giải trí công cộng tại các thiết chế văn hóa được nghiên cứu

5.3 Phương pháp tiếp cận liên ngành

- Phương pháp liên ngành văn hóa học - xã hội học - tâm lý học cho phép chúng tôi nhận diện, phân tích, đánh giá nhu cầu của công chúng đối với các dịch

vụ công tại các thiết chế được nghiên cứu trên cơ sở các đặc điểm về không gian sống, nghề nghiệp, độ tuổi, thu nhập, trình độ, thị hiếu thẩm mỹ…

- Tính liên ngành đối với hành chính học cho phép chúng tôi phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động dịch vụ công tại các thiết chế được nghiên cứu,

từ góc độ xem những thiết chế văn hóa này có những thuộc tính của một dạng cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa đồng thời vừa là đơn vị cung ứng dịch vụ công phục vụ nhu cầu văn hóa giải trí của người dân, cộng đồng xã hội

- Tính liên ngành đối với kinh tế học được thể hiện trong luận án ở chỗ chúng tôi xem xét hệ thống các nguồn lực con người, vị trí địa lý, cơ sở vật chất, tài chính của các thiết chế văn hóa được nghiên cứu Đó là các nguồn lực công quan trọng mà các đơn vị này có thể khai thác dưới góc độ kinh tế để tăng doanh thu cho đơn vị Ngoài ra, tiếp cận từ góc độ kinh tế học, chúng tôi còn quan tâm đến vấn đề thị trường, cạnh tranh trên thị trường văn hóa nghệ thuật ở Thành phố

Hồ Chí Minh giữa các thiết chế được nghiên cứu và các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa giải trí khác trong quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ ra thị trường

- Tính liên ngành đối với phương pháp so sánh - nghiên cứu trường hợp -

hệ thống được thể hiện trong việc chúng tôi phân tích, so sánh các dữ liệu liên quan đến luận án giữa các thiết chế được nghiên cứu với nhau; so sánh giữa ý muốn chủ quan của nhà cung cấp dịch vụ công với đánh giá của công chúng để nhận diện ra sự tương thích giữa chúng

Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu trong luận án khá rộng về phạm vi không gian và chủ thể nghiên cứu Trong khi đó, chúng tôi lại bị giới hạn về nguồn lực tài chính, thời gian và khả năng tiếp cận đầy đủ, toàn diện hệ thống cơ sở dữ liệu

để phục vụ nghiên cứu Vì vậy, chúng tôi đã chọn phương pháp “nghiên cứu trường hợp” thông qua việc chọn ra 15 thiết chế văn hóa công được phân thành

03 nhóm: bảo tàng, nhà hát và trung tâm văn hóa, với cơ cấu mỗi nhóm thực hiện

Trang 22

khảo sát 05 đơn vị Các đơn vị này được lựa chọn trên cơ sở một số tiêu chí cụ thể và khả năng tiếp cận, khai thác hệ thống cơ sở dữ liệu mà các đơn vị đang lưu trữ để phục vụ cho nghiên cứu

6 Đóng góp mới của luận án

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động văn hóa giải trí, quản lý công trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

- Giới thiệu một cách có hệ thống thực tiễn công tác tổ chức phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh; phân tích, đánh giá, dự báo xu hướng vận động và phát triển hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập ở Việt Nam nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

- Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng trong lĩnh vực văn hóa, các nhà nghiên cứu, cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách văn hóa, cơ quan quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa ở Việt Nam

7 Bố cục của luận án

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị

sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Nhận định và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập trong giai đoạn hiện nay

Trang 23

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm giải trí công cộng

Thuật ngữ giải trí xuất hiện khá phổ biến trong xã hội ta ngày nay Giải thích về nó có lẽ xin bắt đầu từ cách hiểu của xã hội truyền thống: Theo Từ điển tiếng Việt (2005) thì “Giải trí là làm cho trí óc thảnh thơi, khỏi lo nghĩ” (tr.836),

tức là làm cho tinh thần được sảng khoái, giảm bớt những căng thẳng về mặt trí não

Đào Duy Anh (2016) quan niệm: “Giải trí là khi làm việc rỗi, làm cho trí

não được khoan khoái” Gần nghĩa với giải trí là tiêu khiển, “Tiêu khiển là làm

cho khuây khỏa và tan biến sầu muộn” (tr.1918)

Theo cách giải nghĩa trên thì, giải trí là những hoạt động nhằm giúp con người giải tỏa được những căng thẳng trí não sau thời gian lao động Đồng thời, giải trí là những hoạt động trong thời gian rỗi, hay hoạt động giải trí chính là những hoạt động vui chơi trong lúc con người rảnh rỗi Như vậy, thời gian rỗi và nhu cầu mong muốn được giải tỏa căng thẳng trí não, tìm sự sảng khoái tinh thần chính là hai điều kiện tiên quyết của hoạt động giải trí

Bên cạnh đó, hoạt động giải trí thường được đặt trong sự khu biệt và đối trọng với hoạt động làm việc Thời gian rỗi để dành cho hoạt động giải trí là thời gian còn lại sau khi con người đã làm hết công việc nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của mình với bản thân, gia đình và xã hội

Lý giải về lý do tại sao con người cần phải giải trí, A.D Zarkov (1998) cho rằng:

Giải trí - là một phần của thời gian rỗi, được sử dụng để trao đổi, tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, vui chơi và thực hiện các kiểu hoạt động không thường xuyên (không quy định) khác, những hoạt động này đảm bảo cho sự nghỉ ngơi (tĩnh dưỡng) (tr.68)

Có thể thấy, giải trí là những hoạt động để giải tỏa căng thẳng trí não, nhằm đạt tới sự vui thú, sảng khoái tâm hồn trong thời gian rỗi Giải trí không

Trang 24

phải là sự nghỉ ngơi thụ động (như đi ngủ), mà giải trí là sự hoạt động để làm cho tinh thần được sảng khoái Nghĩa là, nó c ng vận động, nhưng sự vận động này không phải là sự lao động sản xuất vật chất, mà là quá trình sản xuất tinh thần Chính vì lẽ đó, giải trí còn được xem như là sự chuyển trạng thái hoạt động; giải trí là sự nghỉ ngơi mang tính chủ động hành động, nhằm tạo ra niềm vui và sự sảng khoái tinh thần

Trong công trình nghiên cứu “Nhu cầu giải trí của thanh niên”, Đinh Thị

ân Chi (2003) c ng đã phân tích:

Là một nhu cầu của con người, nhu cầu giải trí c ng hàm chứa hai khía cạnh: khía cạnh sinh học - giải trí là những hoạt động nhằm giải tỏa sự căng thẳng trí não, giúp nó thư giãn, phục hồi khả năng hoạt động sau quá trình lao động mệt mỏi, để có thể tiếp tục làm việc; khía cạnh xã hội - mọi hoạt động của con người đều có mục đích, và bởi vậy, giải trí c ng nhằm mục đích mang lại cho cá nhân sự thư thái, sảng khoái và những khoái cảm thẩm mỹ, tạo điều kiện cho sự phát triển về trí tuệ và nhân cách (tr.17-19)

Từ những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng, nhu cầu giải trí không những chỉ mang yếu tố sinh học, giúp con người giải tỏa căng thẳng trí não, phục hồi sức khỏe tinh thần; hoặc mang yếu tố xã hội, giúp con người đạt mục đích thể hiện bản thân, mở rộng mối quan hệ sinh hoạt, giao tiếp, kết nối cộng đồng…

mà còn là yếu tố văn hóa Thông qua hoạt động giải trí, con người còn sáng tạo

và sử dụng các biểu tượng để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ

Ngoài ra, để phân biệt các loại hình giải trí cá nhân và công cộng, Nguyễn Khắc Viện (1994) quan niệm: “Giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân,

mà còn là nhu cầu của đời sống cộng đồng.” (tr.116)

Thuật ngữ “công cộng” trong đề tài được quan niệm là yếu tố thuộc về mọi người, của chung mọi người, mọi người đều được dùng chung Cho nên,

chúng tôi xác định: giải trí công cộng là quá trình con người chủ động, tự do, tự nguyện sử dụng thời gian rỗi tham gia vào các hoạt động văn hóa chung của

Trang 25

cộng đồng, xã hội để giải tỏa những căng thẳng trí não, tìm sự vui thú, sảng khoái tâm hồn và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần

- Chức năng giải trí công cộng

Giải trí công cộng là một dạng hoạt động văn hóa Do vậy, hoạt động này

c ng chứa đựng những chức năng của văn hóa, bao gồm: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng điều tiết, chức năng giao tiếp

+ Chức năng nhận thức: có thể thấy, thông qua các hoạt động giải trí như

đọc sách, xem triển lãm, trò chơi, thưởng thức nghệ thuật… con người sẽ có được nhiều cơ hội để phát triển các năng lực cảm giác, cảm nhận về cái đ p qua thị giác, cái hay qua âm thanh, về sự nhanh nh n, nhạy bén hay khéo tay, tinh mắt qua các trò chơi, cuộc thi… đồng thời, trong lúc sáng tạo và sử dụng các ký hiệu mang tính biểu tượng từ các sản phẩm giải trí như sách, tranh, tượng, bài hát, điệu múa, vở diễn, trò chơi… như vậy, người chơi biết phân biệt được đâu là nghĩa thật, đâu là nghĩa biểu tượng (ý nghĩa) của các sự vật, hiện tượng đó, tức là rèn luyện được khả năng tri giác của mình để từ đó làm cơ sở cho sự phán đoán

và hình thành, nâng cao dần năng lực nhận thức của bản thân Như vậy, qua các hoạt động giải trí, người dân có thể rèn luyện, nâng cao và phát triển khả năng nhận thức của bản thân mình ngày càng tốt hơn

+ Chức năng giáo dục: hoạt động giải trí là hoạt động tự giác, cho nên

chức năng giáo dục trong hoạt động giải trí c ng là do con người tự giáo dục bản thân mình thông qua hoạt động sáng tạo và sử dụng các sản phẩm văn hóa giải trí Có thể thấy, trong quá trình sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa, con người đã dựa trên những kết cấu thẩm mỹ nhất định để tạo nên các câu chuyện, bài ca, điệu múa, vở kịch… Mỗi sản phẩm ấy đều chứa đựng những nội dung nhất định nào đó, như là tình yêu quê hương đất nước, truyền thống, đạo lý, lịch sử hay cả những tri thức dân gian, kiến thức khoa học… mà con người mong muốn được bộc lộ, thể hiện và truyền đạt đến người tiếp nhận, hưởng thụ, tiêu dùng văn hóa

Tiếp đó, quá trình sử dụng các sản phẩm văn hóa giải trí c ng chính là quá trình con người tự học, tự nhận thức và tự rút ra được những thông tin, kiến thức, tình cảm nào đó do các sản phẩm văn hóa giải trí mang lại Những bài học về lịch

sử, truyền thống, đạo lý, đạo đức cho tới các tri thức dân gian hay khoa học… có

Trang 26

được trong và sau những cuộc vui chơi giải trí đó giúp con người không ngừng bổ sung và hoàn thiện tri thức của bản thân, và làm giàu thêm cho kho tàng tri thức của xã hội Mỗi sản phẩm của hoạt động vui chơi giải trí công cộng đích thực (tích cực) đều mang vác, chuyên chở những thông điệp hướng tới các giá trị tốt đ p cho con người, phù hợp với các chuẩn mực của xã hội

+ Chức năng điều tiết: khi tham gia vào một hoạt động sáng tạo văn nghệ

như sáng tác âm nhạc, người chơi có thể bắt đầu việc sáng tác từ nguồn cảm hứng chủ quan hoàn toàn của bản thân, để phác thảo nên các giai điệu, ca từ, mô típ âm nhạc… song, để có thể hoàn tất thành một ca khúc, người chơi phải quy

nó về một thể điệu nào đó, với những yêu cầu mang tính nguyên tắc về nhịp nhạc, khuông nhạc, nốt nhạc mang tính hình thức và thể loại âm nhạc nhất định

Nhờ chức năng điều tiết này mà hoạt động giải trí công cộng luôn tạo cho con người có sự năng động, để chủ động thích nghi và điều chỉnh nhận thức, thái

độ và hành vi của mình trong quá trình vui chơi, c ng như trong lao động sản xuất theo hướng phù hợp với những giá trị và chuẩn mực chung của xã hội

+ Chức năng giao tiếp: hoạt động giải trí công cộng xuất phát từ nhu cầu

giải trí của số đông người dân trong cộng đồng; cho nên, có thể khẳng định hoạt động này chính là cuộc vui chơi chung của cả cộng đồng

Thông qua các cuộc lễ hội, các cuộc thi, diễn văn nghệ, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, đội, nhóm sở thích với nhau…, nhiều người có thể được giao lưu, tiếp xúc với nhau và với cộng đồng, xã hội Thông qua các cuộc giao tiếp đó, mỗi người được dịp bộc lộ, thể hiện những tài năng của mình trước nhiều người để tranh thủ tìm được sự ủng hộ, ngợi khen làm niềm vui thú đồng thời, từ đó khẳng định những giá trị của bản thân trước cộng đồng xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu tự hoàn thiện và tạo dựng uy tín bản thân Qua cuộc vui chơi công cộng này, mỗi người sẽ có thêm những người bạn mới, những câu chuyện mới, những tình cảm mới, từ đó mở rộng thêm những mối quan hệ cá nhân, nhóm xã hội mới, gắn kết cộng đồng với nhau, tạo nên những niềm vui chung, sức mạnh chung cho

cả cộng đồng xã hội

1.1.1.2 Khái niệm thiết chế văn hóa

Trang 27

Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa

ở nước ta kể từ những năm 1970 đến nay Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 4, (2003) định nghĩa:

Thiết chế văn hóa được coi là một chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí Chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa (tr.230)

Trong tập bài giảng “Quản lý thiết chế văn hóa”, Nguyễn Hữu Thức cho rằng:

Thiết chế là một tổ chức do con người lập ra có mối ràng buộc chặt chẽ ở bên trong giữa con người với công việc thông qua các quy tắc, quy định và điều kiện để thực hiện công việc theo ý muốn chủ quan của con người Trong cuộc sống có các thiết chế: Thiết chế kinh tế, thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội

Có thể hiểu thiết chế là một tổ chức xã hội có kết cấu bên trong khá chặt chẽ Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thường xuyên của con người, cho nên nó tồn tại bền vững trong đời sống xã hội Trong đó, thiết chế văn hóa có các dạng hình thức đó là: nhà văn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, thư viện, cung văn hóa, nhà hát, rạp xiếc, rạp chiếu bóng, công viên, vườn hoa

Đối với thiết chế văn hóa, Trần Ngọc Khánh (2017), quan niệm:

Theo nghĩa rộng, thiết chế văn hóa là một phức hợp, tổng hòa các lĩnh vực hoạt động, nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển đời sống văn hóa và xã hội Theo nghĩa h p, thiết chế văn hóa là tập hợp các lĩnh vực hoạt động văn hóa trong khuôn khổ của thiết chế, bao gồm cả thể chế, cơ chế và chính sách

Về lý thuyết, yếu tố văn hóa đòi hỏi thiết chế này phải bảo đảm tính đặc thù của từng cộng đồng, địa phương, quốc gia, dân tộc, thể hiện tính khác biệt, đa dạng thuộc về bản sắc trên các lĩnh vực hoạt động của chủ thể văn hóa; yếu tố xã hội làm cho thiết chế mang tính toàn thể, tổng hòa các hoạt

động trong đời sống của các cộng đồng, đặt ra yêu cầu phức hợp, tương tác giữa các thiết chế Yếu tố xã hội còn quy định thiết chế không thuộc về

Trang 28

cá nhân hoặc đặc quyền dành riêng cho bất kỳ nhóm người nào Thiết chế

c ng không phải là công cụ của nhóm người này áp đặt chủ quan, dưới

mọi danh nghĩa, hình thức lên nhóm người khác

Về thực hành, thiết chế có nội hàm của thể chế, cơ chế và chính sách, nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của các thực thể cộng đồng, bao gồm hệ thống các quy chuẩn, quy tắc, quy chế, quy định các yêu cầu về tiêu chuẩn, chế độ hoặc điều kiện, cách thức tiến hành và các chương trình, kế hoạch tổ chức các hoạt động Thiết chế vừa bao hàm các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện trang bị, vừa thể hiện các cách thức vận hành có tính mục đích của các dự liệu, chương trình, kế hoạch, biện pháp nhằm tổ chức thực hiện đạt hiệu quả

Thiết chế văn hóa bao gồm nhiều mô hình hoạt động khác nhau, gắn với các cơ sở vật chất như: bảo tàng, thư viện, trường học, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm thông tin – triển lãm, nhà sách, nhà hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, phòng tập, sân vận động, trường đua, công viên, công trình, tượng đài lịch sử, điểm tham quan du lịch, khu vui chơi giải trí, kể cả các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo, di tích lịch sử văn hóa (tr.15)

Trần Thị Kim Cúc (2014) quan niệm thiết chế văn hóa đóng vai trò là nơi trung chuyển các giá trị văn hóa trong cộng đồng xã hội:

Trong đời sống văn hóa, hệ thống các thiết chế văn hóa đóng vai trò là nơi lưu giữ và chuyển tải các giá trị văn hóa của cộng đồng đến từng cá nhân

Đó là môi trường đảm bảo cho các hoạt động văn hóa diễn ra trong đời sống xã hội Đó là nơi các hoạt động văn hóa diễn ra một cách tập trung, phản ánh những giá trị kết tinh của đời sống văn hóa cộng đồng Nó là chiếc cầu nối giữa sáng tạo và thưởng thức, là nơi diễn ra quá trình chuyển tải những giá trị văn hóa tới cộng đồng (tr.107)

Như vậy, có thể thấy, thiết chế văn hóa là một chỉnh thể văn hóa hội đủ các yếu tố về nhân lực, vật lực, tài lực, thể chế và hoạt động văn hóa Thiết chế văn hóa là nơi đảm bảo cho các hoạt động sáng tạo/sản xuất, bảo quản/phân phối,

Trang 29

trao đổi/tiêu dùng các sản phẩm văn hóa được diễn ra một cách tập trung để lưu giữ và chuyển tải các giá trị văn hóa đến từng cá nhân và cộng đồng, xã hội

1.1.1.3 Khái niệm hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập

Giải trí, như đã phân tích là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa Trong lĩnh vực hoạt động văn hóa ở nước ta hiện nay, phân chia một cách tương đối có thể thấy tồn tại 3 nhóm chủ thể tổ chức cung ứng, phục vụ là: (1) nhà nước, thông qua hệ thống các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập; (2) tư nhân, thông qua mạng lưới các cơ sở kinh doanh; (3) cộng đồng xã hội, thông qua mạng lưới các cơ sở,

tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật viên chức 2010, đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước

Các đơn vị sự nghiệp công lập này đều có chung những đặc điểm: (1) được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; (2) là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (3) có tư cách pháp nhân; (4) cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; (5) viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị

Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung xuất phát từ phía xã hội và người dân; nhưng những đáp ứng cụ thể, ở mức độ nào, loại hình gì là tùy vào sự xác định của mỗi nhà nước Chủ thể thực hiện các hoạt động phục vụ công bao gồm các tổ chức thuộc khu vực nhà nước và kể cả khu vực ngoài nhà nước nhưng có sự ủy nhiệm của nhà nước để thực hiện

Theo Chu ăn Thành (2004, tr.19), nhà nước có vai trò, trách nhiệm đối với dịch vụ công: (1) xây dựng, ban hành thể chế, cơ chế, chính sách về dịch vụ công, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động dịch vụ công; (2) thống nhất chỉ đạo cung cấp dịch vụ công trong toàn xã hội và theo từng ngành, lĩnh vực, từng địa phương, kiểm tra việc cung cấp dịch vụ công; (3) trực tiếp tổ chức thực

Trang 30

hiện một số dịch vụ công Ông cho rằng, hoạt động sự nghiệp và dịch vụ công có mối quan hệ với nhau:

Khái niệm “sự nghiệp” là một khái niệm được dùng quen thuộc ở Việt Nam Trong thời bao cấp thường được dùng để chỉ các hoạt động của cơ quan nhà nước thuộc các lĩnh vực phi sản xuất gồm giáo dục, y tế, văn hóa… Cho đến nay, ở nước ta trong cách hiểu, hoạt động sự nghiệp để chỉ hoạt động của các tổ chức nhà nước thực hiện phúc lợi xã hội trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, bảo hiểm xã hội Với nội hàm này, sự nghiệp đồng nghĩa với khái niệm dịch vụ công…, hoạt động sự nghiệp là một bộ phận của dịch vụ công (2004, tr.18)

Ở nước ta, hiện nay Nhà nước thực hiện chức năng phục vụ công các phúc lợi xã hội trong các lĩnh vực: văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, thể dục thể thao… thông qua hệ thống mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập Tương ứng với mỗi lĩnh vực hoạt động trên, nhà nước hình thành nên các đơn vị sự nghiệp công lập để thực hiện chức năng quản lý và tổ chức hoạt động chuyên môn phục

vụ công cho nhu cầu của người dân, cộng đồng xã hội Theo đó, có các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập, đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập, đơn vị sự nghiệp y tế công lập, đơn vị sự nghiệp thể thao công lập…

Như vậy, đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập là một bộ phận cấu thành của

bộ máy cơ quan nhà nước, là công cụ để thông qua đó nhà nước thực hiện chức năng quản lý và phục vụ xã hội trong lĩnh vực văn hóa Hoạt động của các đơn vị

sự nghiệp văn hóa công lập mang nội dung của một thiết chế văn hóa và đặc tính của một dịch vụ công

Theo đó, các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập đều có đầy đủ các yếu tố: (1) Có sự điều hành của bộ máy quản lý hoạt động văn hóa;

Trang 31

(5) Có nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực chuyên môn và trực tiếp

tổ chức, điều hành các hoạt động phục vụ công cho nhu cầu văn hóa giải trí công cộng của người dân, cộng đồng xã hội

Trên cơ sở những quan niệm và phân tích ở trên và căn cứ vào đối tượng, phạm vi nghiên cứu mà đề tài đã xác định, chúng tôi nêu ra định nghĩa về hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập như

sau: Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập là quá trình nhà nước sử dụng các nguồn lực công để tạo ra sản phẩm văn hóa, phục vụ nhu cầu giải trí chung của người dân, cộng đồng, xã hội; theo nguyên tắc không vụ lợi; đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội

Theo đó:

- Cán bộ văn hóa ở các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập có trách nhiệm

sử dụng các nguồn lực công để sản xuất, bảo quản, phân phối các sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu giải trí chung của người dân, cộng đồng xã hội; và thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa

ới tính chất của một dịch vụ công, hoạt động phục vụ giải trí công cộng

ở các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập sẽ không loại trừ bất cứ chủ thể tiêu dùng giải trí nào ra khỏi đối tượng của sự phục vụ Mọi người dân đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ giải trí công cộng do nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua ủy nhiệm cho các cá nhân, tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực văn hóa) cung cấp Một cá nhân, tập thể, tổ chức có thể hưởng dụng lợi ích do dịch vụ công đem lại, nhưng các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập chỉ thực hiện dịch vụ văn hóa công cộng đáp ứng nhu cầu văn hóa chung của toàn xã hội

- Đối tượng của hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập là các sản phẩm văn hóa và quá trình mà cán bộ văn hóa

sử dụng các nguồn lực công để sản xuất, bảo quản và phân phối các sản phẩm văn hóa tinh thần Sản phẩm của nền sản xuất tinh thần có thể tồn tại dưới các

dạng khác nhau như: dạng vật thể, được thể hiện dưới hình thức các tác phẩm văn

hóa sử dụng các phương tiện ký hiệu ngôn ngữ, văn tự, âm thanh, hình ảnh, tổng

Trang 32

hợp… dạng phi vật thể, bao gồm các hình thức hoạt động như chương trình sự

kiện văn hóa nghệ thuật, lễ hội, diễn thuyết, cuộc thi, liên hoan, dạy học, trò chơi…

Có thể nói, dù xuất hiện dưới hình thức vật thể hay phi vật thể thì đặc trưng cơ bản nhất của sản phẩm văn hóa tinh thần c ng chính là tính biểu tượng

Do đó, Đoàn Văn Chúc (1997b) cho rằng:

Bằng những kết cấu hình ảnh hoặc âm thanh… sinh động cụ thể (những kết cấu được gọi là biểu tượng), tác phẩm văn hóa làm cho cái không tri giác được như các giá trị trừu tượng (tự do, dân chủ, hạnh phúc…), các đức hạnh, các thói xấu, quyền lực, v.v trở thành tri giác được Nhờ sự trình bày

và diễn tả bằng biểu tượng mà tác phẩm văn hóa đối thoại với thế giới cảm xúc, tức là với tâm hồn công chúng và c ng do đó mà gây khoái cảm cho

họ Khoái cảm ấy đáp ứng nhu cầu giải trí, tức là nhu cầu tái nhận thức hiện thực theo phương thức thẩm mỹ Đặc trưng này khu biệt tác phẩm văn hóa với các tác phẩm tinh thần khác chủ yếu đối thoại với thế giới lý tính của công chúng (khoa học, triết học…) (tr.29-30)

Sản phẩm văn hóa tinh thần được phân phối trực tiếp qua hành động thể hiện, biểu diễn của người sáng tạo, và gián tiếp thông qua các vật thể là những tác phẩm văn hóa mang tính biểu tượng được bảo quản thông qua các thiết chế văn hóa, bằng những biện pháp bảo đảm cho chúng tính thường trực lâu dài được truyền bá không giới hạn về không gian, thời gian

Việc tiêu dùng, thưởng thức các tác phẩm văn hóa cần có thời gian và trình

độ nhất định mới có thể thẩm thấu, tri giác được hết các giá trị mang tính biểu tượng của nó Khi tiêu dùng, lớp vỏ vật chất của sản phẩm văn hóa tinh thần có thể

bị hao mòn, nhưng giá trị của sản phẩm văn hóa tinh thần không bị hao mòn, hủy hoại hay mất đi; nó có thể được trao truyền, sáng tạo, nhân rộng và phát triển thêm gấp nhiều lần hơn, một khi đã được công chúng tiêu dùng thừa nhận Khác với, sản phẩm vật chất thường không mang tính biểu tượng, không trừu tượng hóa (nếu có thì chủ yếu để thực hiện một vài chức năng thực dụng nào đó, chúng không phải là yếu tố quyết định sự tồn tại của sản phẩm vật chất) đồng thời, qua quá trình sử dụng của người tiêu dùng, sản phẩm vật chất sẽ hao mòn và đi tới hủy hoại

Trang 33

Quá trình sản xuất tinh thần với các công đoạn sản xuất, bảo quản, phân phối, trao đổi, tiêu dùng có thể diễn ra lần lượt theo trình tự độc lập từng khâu khi sản phẩm đó mang dạng thức vật thể, c ng có thể các khâu này sẽ đồng thời diễn

ra cùng một lúc khi sản phẩm đó hiện ra dưới dạng thức là các hoạt động chương trình sự kiện – phi vật thể

- Mục đích của hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập

Chủ thể phục vụ giải trí thông qua quá trình hoạt động sản xuất, bảo quản, phân phối các sản phẩm văn hóa để đáp ứng nhu cầu giải trí chung của người dân, cộng đồng xã hội; tức là quá trình chiếm lĩnh đối tượng để đạt mục đích đáp ứng tốt nhu cầu giải trí công cộng của người dân

Mức độ hài lòng của người dân trong quá trình tiêu dùng văn hóa giải trí tại các thiết chế văn hóa sự nghiệp sẽ tỉ lệ thuận với mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ văn hóa Thông qua hoạt động tổng hợp, phân tích, so sánh, nhận định

về sự phản hồi của công chúng đối với hiệu quả phục vụ giải trí công cộng của bản thân và đơn vị nhằm đo lường, đánh giá mức độ, chất lượng và hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ công tác của cán bộ văn hóa, của thiết chế văn hóa sự nghiệp; đồng thời, nhận diện ra các giá trị, lợi ích của hoạt động phục vụ công trong lĩnh vực hoạt động văn hóa đối với xã hội

1.1.2 Đặc điểm hoạt động phục vụ giải trí công cộng

Diễn đạt theo thuật ngữ kinh tế, hoạt động sản xuất nào c ng thường bao gồm các khâu chủ yếu gắn với bảo quản, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Với tư cách là hoạt động sản xuất tinh thần, hoạt động văn hóa c ng là quá trình sản xuất, phân phối, bảo quản, trao đổi và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa Người nghệ sĩ tạo ra các tác phẩm nghệ thuật, nhà tư tưởng sáng lập ra các học thuyết… là sản xuất ra sản phẩm văn hóa; quá trình lưu giữ của các bảo tàng, lưu trữ của thư viện… là bảo quản sản phẩm văn hóa; nghệ sĩ biểu diễn tác phẩm nghệ thuật, diễn giả diễn thuyết trước công chúng… là phân phối sản phẩm văn hóa; những cuộc trao đổi, tọa đàm, tranh luận, thi tài… qua đó mà cung cấp c ng như thu nhận thêm các kiến thức mới là hoạt động trao đổi sản phẩm văn hóa; công chúng xem các

Trang 34

cuộc biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, tham dự lễ hội… là hoạt động tiêu dùng sản

Phân chia một cách tương đối có thể thấy, các hoạt động sản xuất, phân

phối, bảo quản thuộc về yếu tố cung còn các hoạt động trao đổi, tiêu dùng thuộc về yếu tố cầu Theo đó, hoạt động phục vụ nhu cầu giải trí công cộng là quá trình các

chủ thể cung (nhà nước, tư nhân và cộng đồng xã hội) sáng tạo/sản xuất ra các sản phẩm văn hóa và tổ chức phân phối/bảo quản các sản phẩm đó, để đáp ứng nhu cầu trao đổi/tiêu dùng văn hóa cho toàn thể người dân, cộng đồng xã hội

Hoạt động sáng tạo/sản xuất, phân phối/bảo quản các sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu giải trí công cộng với tư cách là hoạt động sản xuất hàng hóa tinh thần, nó vừa chứa đựng những đặc điểm chung của quy trình sản xuất hàng hóa thông thường, vừa mang những đặc điểm riêng của loại sản phẩm văn hóa tinh thần Mỗi hoạt động này có những nội dung tương đối rõ ràng, độc lập và giữa chúng có mối quan hệ gắn bó, thâm nhập vào nhau một cách chặt chẽ, thống nhất Quá trình phục vụ giải trí công cộng thường bao gồm bốn dạng hoạt động với những đặc điểm sau:

(1) Hình thành các ý tưởng sáng tạo: ý tưởng sáng tạo là hạt nhân cảm xúc

ban đầu, là chất men để tạo dựng nên sản phẩm văn hóa và sức hấp dẫn của chúng đối với người tiêu dùng Ý tưởng sáng tạo có thể có tính mới hoặc tính độc đáo trong giới hạn của chủ thể, không gian và thời gian tiêu dùng cụ thể Đó có thể là những suy nghĩ, phát hiện về sự vật, sự việc mới, khác với các sự vật, sự việc đã có hoặc là phát hiện về cách sử dụng mới của các đồ vật đã có, phương thức mới trong sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm… Ý tưởng sáng tạo sản phẩm văn hóa không chỉ mang yếu tố mới, độc đáo mà còn phải mang lại những giá trị tốt đ p hơn cho con người, mang tính khả thi, có khả năng thực

Trang 35

hiện trong thực tế Tính khả thi liên quan đến các điều kiện thực tiễn về phía người nghệ sĩ, nhà sản xuất (cung), nhu cầu tiêu dùng (cầu) và các điều kiện xã hội khác

(2) Sáng tác/sản xuất: là giai đoạn biến ý tưởng thành sản phẩm Đặc điểm

chung của hoạt động sáng tạo nghệ thuật thường mang nặng tính cảm xúc, tính thẩm mỹ và tính sáng tạo Chủ thể của quá trình sáng tác/sản xuất sản phẩm văn hóa là nghệ sỹ, nghệ nhân, nhà hoạt động văn hóa, nhà sản xuất như nhà xuất bản, nhà tổ chức biểu diễn… Phương tiện, công cụ, điều kiện lao động là nguồn nguyên liệu, công nghệ sản xuất, đối tác trong sản xuất, nguồn tài chính, thời gian và địa điểm sản xuất

(3) Phân phối: là các hoạt động đưa sản phẩm văn hóa tới người tiêu dùng

như: các hoạt động quảng bá, giới thiệu cho sản phẩm văn hóa Tùy đặc thù của mỗi loại sản phẩm mà có các phương thức phân phối khác nhau như: thông qua trưng bày, triển lãm, sắp đặt tại các phòng tranh, bảo tàng, nhà hàng, khu mua

sắm, không gian công cộng như vườn hoa, công viên, sàn đấu giá…

Ở một số nước, hoạt động sản xuất và phân phối tác phẩm mỹ thuật được chuyên môn hóa theo phương thức sản xuất công nghiệp văn hóa

Theo Đặng Hoài Thu, Phạm Bích Huyền (2009):

Các nhà quản lý hay người môi giới thường hỗ trợ cho họa sĩ trong việc đưa sản phẩm nghệ thuật đến công chúng Họ có thể quản lý một hoặc một

số nghệ sĩ, xác định và tìm cách tiếp cận các mảng thị trường phù hợp cho sản phẩm của nghệ sĩ Nhà quản lý c ng đứng ra tổ chức trưng bày cho tác phẩm của nghệ sĩ, trợ giúp nghệ sĩ tham gia festival hay sự kiện mỹ thuật

trong nước và quốc tế… (tr.31)

Thông qua hoạt động trình diễn, biểu diễn tại các sân khấu, tụ điểm, nhà hát, hội trường hoặc trong các không gian công cộng khác như quảng trường, phố

đi bộ, công viên, sảnh các tòa nhà, khu chung cư Bên cạnh các chương trình,

vở diễn nghệ thuật được phân phối thông qua biểu diễn trực tiếp tại các không gian, địa điểm trên, một số các chương trình biểu diễn nghệ thuật còn có thể được ghi âm, ghi hình, lưu trữ lại và phân phối, phổ biến thông qua các kênh khác như máy phát đĩa ghi âm, ghi hình, đài phát thanh, đài truyền hình, mạng internet

Trang 36

(4) Bảo quản: các sản phẩm văn hóa cần được bảo quản để lưu truyền các

giá trị văn hóa thẩm mỹ, cái hay, cái đ p cho thế hệ tương lai đảm bảo sự kế thừa và phát triển trong đời sống văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Đó c ng

là điều kiện đảm bảo cho tính đa dạng trong sự biểu đạt văn hóa Việc bảo quản tốt các sản phẩm văn hóa sẽ góp phần tích cực cho việc phục vụ nhu cầu văn hóa giải trí công cộng của người dân càng được tốt hơn

1.1.3 Phân loại hoạt động phục vụ giải trí công cộng

a Phân theo tiêu chí phương thức cung ứng dịch vụ công, hoạt động phục

vụ giải trí công cộng được chia thành năm loại chủ yếu:

(1) Nhà nước trực tiếp phục vụ: Nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp cung ứng đối với các dịch vụ giải trí công cộng mà chỉ có cơ quan công quyền mới có

đủ tư cách pháp lý để làm (lễ hội đền Hùng, hội diễn nghệ thuật, đại hội thể dục thể thao, giải thưởng chuyên môn nhiều lĩnh vực toàn quốc…) Nhà nước, với vai trò chủ đạo của mình, c ng trực tiếp cung ứng các dịch vụ giải trí công cộng thuộc các lĩnh vực và địa bàn không thuận lợi đầu tư mà thị trường không thể hoặc không muốn tham gia do chi phí quá lớn hay không có lợi nhuận (vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo) Các đơn vị sự nghiệp do nhà nước thành lập (trung tâm văn hóa, thư viện, bảo tàng…) hoạt động tương tự các công ty, nhưng không

vì mục tiêu lợi nhuận Ban đầu, nhà nước đầu tư cho các đơn vị đó, sau đó các đơn vị tự chủ hoạt động, có thể có sự hỗ trợ, bù đắp từ ngân sách nhà nước

(2) Nhà nước ủy quyền phục vụ: ủy quyền cho các công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ cung ứng dịch vụ giải trí công cộng mà nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và thường có nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước Công ty tư nhân và tổ chức phi chính phủ được ủy quyền phải tuân thủ những điều kiện do nhà nước quy định và được nhà nước cấp kinh phí (loại dịch vụ giải trí nào có thu tiền của người thụ hưởng thì chỉ được nhà nước cấp một phần kinh phí); chuyển giao trách nhiệm cung ứng dịch vụ giải trí công cộng cho các tổ chức khác đối với dịch vụ mà các tổ chức này có điều kiện thực hiện có hiệu quả (các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội…) Các tổ chức này tuy là đơn vị tư nhân hoặc phi chính phủ nhưng được khuyến khích hoạt động theo cơ chế không vì lợi

Trang 37

nhuận, chỉ thu phí để đủ trang trải Chẳng hạn, Sân khấu kịch 5B (Hội Sân khấu

(4) Nhà nước hợp đồng mua từ bên ngoài phục vụ: Nhà nước mua dịch vụ giải trí công cộng từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ giải trí mà tư nhân có thể làm tốt và giảm được số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước Như việc mua các bộ phim, chương trình nghệ thuật, vở diễn, tác phẩm mỹ thuật, tác phẩm văn học; công nghệ tổ chức sáng tác, dàn dựng, biểu diễn các chương trình, sự kiện chuyên nghiệp cả trong và ngoài nước…

(5) Nhà nước thực hiện các ưu đãi phục vụ: xây dựng các chính sách ưu đãi như miễn giảm về thuế, về mặt bằng, về cơ sở vật chất, về nguồn nhân lực…;

hỗ trợ tìm kiếm các cơ hội kinh doanh khác có lời để bù vào khoản thất thu khi các tổ chức, doanh nghiệp tham gia cung ứng phục vụ giải trí công cộng cho xã hội như: mua các suất diễn, hỗ trợ cộng đồng tiền vé…

b Phân theo tiêu chí chủ thể cung ứng dịch vụ công, hoạt động phục vụ giải trí công cộng được chia thành hai loại chủ yếu:

(1) Hoạt động giải trí công cộng do nhà nước trực tiếp thực hiện, thông qua hệ thống mạng lưới các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập của nhà nước như bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa, trung tâm thể dục thể thao, trung tâm ca múa nhạc

(2) Hoạt động giải trí công cộng do nhà nước ủy nhiệm cho các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, tư nhân thực hiện (nhưng nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm) Đây là những hoạt động giải trí công cộng mà nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không trực tiếp thực hiện mà ủy nhiệm cho các tổ chức, cá nhân

Trang 38

ngoài nhà nước cung ứng, nhưng nhà nước vẫn giữ vai trò quản lý, điều tiết nhằm đảm bảo tính hiệu quả, công bằng trong quá trình cung ứng các sản phẩm này; đồng thời khắc phục những nhược điểm, mặt trái của thị trường hàng hóa trong lĩnh vực văn hóa

Trong luận án này, chúng tôi chọn cách phân loại theo chủ thể cung ứng dịch vụ công và xác định phạm vi nghiên cứu là những hoạt động phục vụ giải trí công cộng mang đặc tính của một dịch vụ công, do các thiết chế văn hóa sự nghiệp của nhà nước là chủ thể trực tiếp thực hiện

1.1.4 Vai trò của Nhà nước đối với hoạt động phục vụ giải trí công cộng

Quản lý và phục vụ là hai chức năng cơ bản của Nhà nước, trong đó, quản

lý đóng vai trò cai trị; còn phục vụ thể hiện vai trò đáp ứng các nhu cầu thiết yếu,

cơ bản chung của xã hội Chất lượng phục vụ công phản chiếu tính ưu việt của một chế độ xã hội Bởi, dịch vụ công là những hoạt động phục vụ công của nhà nước đối với các nhu cầu, lợi ích tối cần thiết của người dân, cộng đồng xã hội, đảm bảo các quyền lợi cơ bản, chính đáng của người dân và giúp cho xã hội phát triển một cách ổn định, bền vững, có kỷ cương, trật tự

Nhà nước cần nắm vai trò sự nghiệp trong tổ chức các hoạt động giải trí công cộng là do:

- Nhà nước không chỉ trực tiếp phục vụ các nhu cầu giải trí công cộng cho người dân, xã hội, mà còn có vai trò - nhiệm vụ hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức phi chính phủ, tổ chức tự quản của cộng đồng, tổ chức tư nhân… tham gia vào việc phục vụ này

- Nhà nước là người chịu trách nhiệm cuối cùng trước xã hội về số lượng, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động giải trí công cộng Trong lĩnh vực văn hóa giải trí công cộng, định hướng những mục tiêu văn hóa gắn với các giá trị mang tính cốt lõi, nền tảng chung, nhằm đảm bảo việc xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam trong từng hoàn cảnh xã hội cụ thể Song, không phải lúc nào các mục tiêu này c ng đảm bảo được thực hiện một cách tích cực, chuẩn mực; khi mà các công ty, tổ chức ngoài nhà nước thường đặt mục tiêu lợi nhuận

là yếu tố hàng đầu trong phục vụ giải trí công cộng; còn hoạt động phục vụ công nhu cầu giải trí công cộng ở các thiết chế văn hóa sự nghiệp thì thường rơi vào

Trang 39

trạng thái hoạt động cầm chừng, bị động và chậm đổi mới, thiếu tiếp cận với nhu cầu người dân, cộng đồng xã hội

Có thể nói, với việc thực hiện đầy đủ và tối ưu các vai trò quản lý, giám sát và điều tiết của mình, Nhà nước có thể tạo ra một môi trường xã hội tích cực,

để hoạt động phục vụ công các nhu cầu giải trí công cộng ngày càng có nhiều sản phẩm văn hóa giải trí có giá trị cao, đáp ứng tốt nhu cầu văn hóa tinh thần chung của xã hội, hướng tới các giá trị văn hóa phù hợp với chuẩn mực xã hội, phục vụ tích cực các mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong trong giai đoạn hiện nay

1.1.5 Lý thuyết nghiên cứu

Nhu cầu giải trí và thời gian rỗi là hai điều kiện cơ bản, cần và đủ để có thể xuất hiện hoạt động giải trí Song, nhu cầu giải trí của con người chỉ có thể trở thành hiện thực hay đạt mục đích khi có đối tượng để thỏa mãn nhu cầu Đó chính là hoạt động tổ chức cung ứng các sản phẩm văn hóa phục vụ nhu cầu giải trí

Trên cơ sở đó, chúng tôi sử dụng lý thuyết nhu cầu để nhận diện các loại

nhu cầu của con người, từ đó xác định một cách có cơ sở khoa học về nhu cầu

giải trí và nhu cầu giải trí công cộng; sử dụng lý thuyết thời gian rỗi và hoạt động rỗi để nhận diện bản chất của hoạt động rỗi, bản chất của thời gian rỗi và mối

quan hệ giữa chúng với nhau trong sự hình thành nên hoạt động giải trí, từ đó xác định bản chất của hoạt động giải trí Giới hạn nội dung nghiên cứu của đề tài là

hoạt động phục vụ giải trí công cộng, cho nên chúng tôi sử dụng lý thuyết hoạt động để xác định rõ chủ thể, đối tượng và mục đích của hoạt động phục vụ giải

trí công cộng Bên cạnh đó, giới hạn không gian nghiên cứu là những hoạt động giải trí công cộng do các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập thực hiện (mang bản

chất của một dịch vụ công), vì vậy chúng tôi chọn lý thuyết dịch vụ công để giới

thiệu bản chất và những đặc điểm của một dịch vụ công gắn với vai trò cung ứng của nhà nước, từ đó xác lập những đặc trưng, bản chất và yêu cầu của hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập

1.1.5.1 Lý thuyết nhu cầu

Nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đều thống nhất, cho rằng, nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để

Trang 40

tồn tại và phát triển Gia Hiền (2005) quan niệm, nhu cầu của con người có những đặc điểm cơ bản sau: (1) nhu cầu bao giờ c ng có đối tượng Đối tượng của nhu cầu được trải qua một thời gian để nhận thức; khi đối tượng của nhu cầu được nhận thức đầy đủ, nhu cầu sẽ trở thành động cơ thúc đẩy con người nhắm tới đối tượng; (2) nội dung của nhu cầu do cấu trúc sinh lý, những điều kiện tự nhiên và xã hội, những phương thức thỏa mãn nó quy định; (3) nhu cầu có tính tất yếu, phụ thuộc vào chu kỳ, tuổi, điều kiện lịch sử, tự nhiên - xã hội của cá nhân; (4) nhu cầu của con người khác xa về bản chất so với nhu cầu của con vật

Đinh Thị Vân Chi (2003) quan niệm, nhu cầu của con người mang tính bản chất của cái tự nhiên và cái xã hội và là khả năng điều chỉnh xã hội - tự nhiên của nhân cách Nhu cầu của con người rất đa dạng, có thể dựa vào một số tiêu chí

để phân chia như: theo tính chất sẽ có nhu cầu tự nhiên, nhu cầu xã hội; theo đối tượng thỏa mãn nhu cầu sẽ có nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; theo lĩnh vực hoạt động sẽ có nhu cầu kinh tế, nhu cầu chính trị, nhu cầu văn hóa, nhu cầu giáo dục, nhu cầu tâm linh… theo phương thức sử dụng sản phẩm của xã hội sẽ

có nhu cầu sản xuất và nhu cầu tiêu dùng; theo mức độ cấp thiết phải đáp ứng sẽ

có nhu cầu tuyệt đối và nhu cầu tương đối…và nhiều cách phân loại khác (tr 19, 20)

Theo Abraham Maslow (1908-1970), nhu cầu của mỗi người phụ thuộc vào trình độ nhận thức, môi trường sống và đặc điểm tâm sinh lý của mỗi cá nhân Các nhu cầu của con người có thể xếp vào một “thang nhu cầu”, theo trật

tự cao thấp, phụ thuộc mức độ thiết yếu của chúng, bao gồm: (1) Nhu cầu sinh học - là nhu cầu cơ bản, cấp thiết nhất Con người trước hết phải đáp ứng nhu cầu sinh học rồi mới có thể quan tâm tới các nhu cầu tiếp theo; (2) Nhu cầu an toàn -

trong cuộc sống ai c ng mong muốn được an toàn, yên ổn, không bị chi phối bởi bất trắc Đáp ứng được nhu cầu này con người mới thực sự an tâm thực hiện các

hoạt động sống của mình; (3) Nhu cầu xã hội - con người không thể tồn tại đơn

lẻ, nên không thể không tham gia vào các quan hệ xã hội và thực hiện các hoạt

động xã hội; (4) Nhu cầu uy tín - khi tham gia vào các hoạt động xã hội, con người mong muốn thành công, có uy tín, được xã hội tôn trọng; (5) Nhu cầu tự hoàn thiện - chủ động thực hiện quá trình xã hội hóa; tự ý thức để điều chỉnh

hành vi, với mục đích hoàn thiện nhân cách, tự học hỏi, khám phá, tìm hiểu để

Ngày đăng: 22/01/2021, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w