Nhiệm vụ của luận án là đối chiếu văn bản thương mại tiếng Anh với tiếng Việt trên các phương diện cấu trúc hình thức, mô hình các bước thoại, chiến lược và đặc điểm ngôn ngữ nổi trội củ
Trang 1-
TRỊNH NGỌC THANH
ĐỐI CHIẾU VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH
VỚI TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
TP HỒ CHÍ MINH – năm 2020
Trang 2-
TRỊNH NGỌC THANH
ĐỐI CHIẾU VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH
VỚI TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 62.22.01.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS TRỊNH SÂM
2 PGS.TS DƯ NGỌC NGÂN PHẢN BIỆN DỘC LẬP:
Trang 3tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Nghiên cứu sinh
Trịnh Ngọc Thanh
Trang 4Tác giả xin chân thành cám ơn PGS TS Trịnh Sâm, PGS TS Dư Ngọc Ngân đã hướng dẫn tác giả viết luận án này
Chân thành cảm ơn các Giáo sư, Tiến sĩ đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cám ơn Hội đồng chấm luận án đã phê bình và góp ý cho luận án Cám ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã luôn khích lệ, động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả nghiên cứu và thực hiện luận án
Mặc dù tác giả đã dồn hết tâm trí và công sức vào luận án, nhưng vì khả năng còn hạn chế nên luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để tác giả hoàn thiện công trình
Nghiên cứu sinh
Trịnh Ngọc Thanh
Trang 51 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
6 Đóng góp mới của luận án 11
7 Bố cục luận án 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13
1.1 VĂN BẢN VÀ DIỄN NGÔN 13
1.2 Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản 16
1.2.1 Đặc điểm ngôn ngữ từ bình diện sử dụng 16
1.2.1.1 Tính hoàn chỉnh 17
1.2.1.2 Tính cấu trúc 18
1.2.1.3 Tính liên kết mạch và mạch lạc 19
1.2.1.4 Tính thực hiện giao tiếp 20
1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ văn bản từ bình diện lý thuyết 22
1.2.2.1 Văn bản là một hệ thống, vừa là một sản phẩm vừa là một quá trình 22
1.2.2.2 Văn bản là một hệ thống nghĩa có quan hệ đến nhiều văn bản khác 23
1.2.2.3 Văn bản là một hệ thống nghĩa có tính chất tiềm tàng 24
1.3 Văn bản thư tín thương mại 25
1.3.1 Đặc điểm của văn bản thư tín thương mại 25
1.3.1.1 nh thức tr nh b 25
1.3.1.2 ấu tr c t chức văn bản thư tín 26
Trang 61.3.2.3 Nhận diện thể oại thư tín theo ngữ vực 34
1.3.2.4 Nhận diện thể oại thư tín theo mục đích 35
1.3.2.5 ấu tr c bước thoại v chiến ược của các thể oại thư tín 35
1.4 Các mô hình lý thuyết được vận dụng 38
1.4.1 Phương pháp ph n tích thể oại 40
1.4.1.1 Mục tiêu của phân tích thể loại 40
1.4.1.2 Mô hình tiềm năng cấu trúc thể loại 41
1.4.1.3 Mô hìnhcấu trúc biểu đồ 43
1.4.2 Ngữ vực ng n vực) 44
1.4.2.1 Ngữ cảnh tình huống và Ngữ cảnh văn hóa trong thư tín 44
1.4.2.2 rư ng h ng khí v hức 45
1.4.2.3 Nguyên tắc lịch sự v chiến ược giao tiếp trong thư tín 46
1.4.2.4 Phương pháp xác định bước thoại v chiến ược 49
TIỂU KẾT 50
CHƯƠNG 2 VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH 52
2.1 VĂN BẢN N N ẠI 53
2.1.1 nh thức tr nh b 53
2.1.2 L i ch o đầu thư 53
2.1.3 Cấu trúc hình thức của văn bản thư tín 55
2.2 Ấ B ỚC THOẠ V Đ N N N N 57
2.2.1 hư bán h ng 58
2.2.1.1 ấu tr c bước thoại 58
Trang 72.2.2.1 ấu tr c bước thoại 73
2.2.2.2 Đặc điểm ng n ngữ 76
2.2.3 hư từ chối 82
2.2.3.1 Cấu tr c bước thoại 83
2.2.3.2 Đặc điểm ng n ngữ 87
TIỂU KẾT 90
CHƯƠNG 3 VĂN BẢN THƯ TÍN THƯƠNG MẠI TIẾNG VIỆT 93
3.1 VĂN BẢN N N ẠI 94
3.1.1 nh thức tr nh b 94
3.1.2 Cấu trúc hình thức thư tín tiếng Việt 96
3.1.3 h o hỏi đầu thư v cuối thư 101
3.2 Ấ B ỚC THOẠ V Đ Đ Ể N N N 103
3.2.1 hư bán h ng 103
3.2.1.1 ấu tr c bước thoại 103
3.2.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ 114
3.2.2 hư xin việc 117
3.2.2.1 Cấu trúc hình thức 117
3.2.2.2 Đặc điểm ng n ngữ 124
3.2.3 hư từ chối ứng viên 128
3.2.3.1 ấu tr c bước thoại 128
3.2.3.2 Đặc điểm ng n ngữ 132
TIỂU KẾT 134
Trang 84.1.1 nh thức tr nh b 137
4.1.2 L i ch o đầu thư 138
4.1.3 h o hỏi đầu thư v cuối thư 141
4.2 N Ấ B ỚC THOẠI V Đ Đ Ể N N N 144
4.2.1 hư bán h ng 144
4.2.1.1 o sánh cấu tr c bước thoại 144
4.2.1.2 o sánh đặc điểm ng n ngữ 158
4.2.2 hư xin việc 160
4.2.2.1 o sánh cấu tr c bước thoại 162
4.2.2.2 o sánh đặc điểm ng n ngữ 168
4.2.3 hư từ chối ứng viên 169
4.2.3.1 o sánh cấu tr c bước thoại 169
4.2.3.2 o sánh đặc điểm ng n ngữ 173
TIỂU KẾT 181
KẾT LUẬN 183
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 188
TÀI LIỆU THAM KHẢO 189
Trang 9SS: (Schematic Structure) Mô hình c u trúc bi
TC: (Stipulating Terms and Conditions of Employment) Nêu yêu
Trang 10B ử dụng từ, bi u thức 34
B ụ 36
B ng 1.4: C 36
B ng 1.5: C c tho i trong th lo i thông tin x u 37
B ng 1.6: C c tho i trong th lo i thông tin thiện chí 38
B ờ đầ -Mỹ 54
B ng 2.2: Tỉ ệ ử ụ ờ đầ - ỹ 54
B 58
B 59
B ng 2.5: Tần su t c tho i và chi c trong t i Anh-Mỹ 60
B ng 2.6: S ởng trong b 63
B ng 2.7 hàng 65
B đ ừ 69
B ng 2.9: Tỉ ệ ử ụ độ p 72
B ệ 74
B ng 2.11: Tỉ ệ ừ - ỹ 85
B ng 3.1: Mô hình lờ đầ ệt 100
B ng 3.2: Tần su ờ đầ 100
B 104
B ng 3.4: Tần su ừ 114
B ng 3.5 ệ 121
B ng 3.6 c tho i ừ 129
B ng 4.1: So sánh hình thứ a Anh-Mỹ và Việt Nam 138
Trang 11B ng 4 145
B ng 4 146
B ng 4.7: So sánh tần s xu t hiện các c tho i và chi c 147
B ần su 149
B ng 4.9: So - ỹ Việt Nam 152
B ệ 164
B ng 4.11: ệ 167
B ng 4.12: Mô hình so sánh khái quát th lo ừ ch i 170
B ng 4.13: Tỉ ệ ừ - ỹ ệt Nam 171
B ng 4.14: Tần su t các hình thức mở đầ a Anh-Mỹ 174
B ng 4.15: Tỉ ệ ức mở đầ ừ ệt Nam 175
B ng 4.16: Tần su ứ ừ - ỹ 175
B ng 4.17: Tần su t gi i thích và từ ch a Anh-Mỹ 176
B ng 4.18: Tỉ ệ ừ Anh- ỹ 176
B ừ ng Việt 179
B ng 4.20: Tỉ ệ ử ụ đ ệ - ỹ 179
Trang 12Biểu đồ 2 c c ức 39
S đồ c u c 68
Biểu đồ S tần su c c c c b c 152
Biểu đồ S c c c c c 155
Biểu đồ S c c - t Nam 157
Biểu đồ 4.4 S c tín - i t Nam 181
Trang 13sẽ giúp ích rất nhiều trong giao tiếp trong quá trình hội nhập, Hơn nữa, kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ rất hữu ích cho việc giảng dạy các môn học có liên quan đến văn bản thương mại và đối dịch Anh-Việt, Việt-Anh
Việt Nam đang từng bước tiếp cận thế giới và nỗ lực làm cho thế giới biết chúng
ta thông qua nhiều phương diện khác nhau như kinh tế, chính trị, thể thao, văn hóa, giáo dục Kinh tế Việt Nam ngày nay đang trên đà phát triển và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Hệ thống pháp luật của Việt Nam càng phát triển và hoàn thiện với hàng loạt các bộ luật, các văn bản dưới luật, thông tư, nghị định ra đời và hoàn chỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kính tế thế giới của Việt Nam Tiếp theo đó là hàng loạt các đạo luật quan trọng của nền kinh tế thị trường đã được hình thành tại Việt Nam
và hàng trăm các văn bản pháp lệnh, nghị định của chính phủ đã được ban hành nhằm
cụ thể hóa việc thực hiện luật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Các văn bản luật có liên quan đến các yếu tố nước ngoài thường được dịch sang tiếng Anh và các ngôn ngữ khác Điều khó khăn là làm thế nào để chúng ta có thể soạn thảo, dịch được các văn bản, đặc biệt là các văn bản thương mại theo đúng tập quán giao tiếp chuyên ngành Vì thế, với luận án này, chúng tôi muốn đối chiếu các đặc trưng ngôn ngữ trong các văn bản thương mại tiếng Anh với tiếng Việt về cả hình thức trình bày lẫn nội dung biểu đạt
Các bộ ngành luôn đòi hỏi phải nâng cao chất lượng các văn bản pháp quy liên quan đến thương mại Việt Nam để các văn bản này hoàn toàn phù hợp với các nghĩa vụ
Trang 14quốc tế Pháp luật thương mại của Việt Nam còn chưa bảo đảm được tính thống nhất
và đồng bộ, còn có những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, hoặc chưa hẳn phù hợp thông lệ quốc tế Ngôn ngữ trong các văn bản này cũng cần phải phù hợp với các chuẩn mực và thực tiễn quốc tế Đây là một tất yếu khách quan của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Vì tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn “Đối chiếu thư tín thương mại tiếng
Anh với tiếng Việt” làm đề tài của luận án
Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện đề tài nầy vì những mục đích nghiên cứu như sau:
- Tìm hiểu đặc trưng hình thức và nội dung của một số thể loại văn bản thư tín thương mại tiếng Anh
- Xác lập hệ thống văn bản thương mại và các thể loại, đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong các bước thoại, chiến lược và một số bình diện ngôn ngữ trong văn bản thương mại tiếng Anh
- Tìm hiểu đặc trưng hình thức và nội dung của một số thể loại văn bản thư tín thương mại tiếng Việt
- Xác lập hệ thống văn bản thương mại và các thể loại, đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong các bước thoại, chiến lược và một số bình diện ngôn ngữ trong văn bản thương mại tiếng Việt
Nhiệm vụ của luận án là đối chiếu văn bản thương mại tiếng Anh với tiếng Việt trên các phương diện cấu trúc hình thức, mô hình các bước thoại, chiến lược và đặc điểm ngôn ngữ nổi trội của 4 thể loại: Thư bán hàng, Thư xin việc, Thư từ chối ứng viên, Thư từ chối việc làm, nhằm tìm ra sự tương đồng cũng như sự khác biệt giữa chúng trong thực tế cuộc sống
Trang 152 Lịch sử vấn đề
Tình hình nghiên cứu trên thế giới về văn bản thư tín thương mại
Văn bản thương mại tiếng Anh nói chung, văn bản thư tín thương mại tiếng Anh nói riêng, do nhiều lý do khác nhau, từ lâu đã được nghiên cứu rất nhiều trên thế giới Các học giả Anh - Mỹ đã xây dựng khá nhiều giáo trình thư tín thương mại chuẩn mực
và đã đưa ra các mô hình cấu trúc thể loại cho từng kiểu loại thư tín nhằm cung cấp cho người sử dụng các nguyên tắc, chiến lược viết trong giao tiếp kinh doanh như chiến lược lịch sự, chiến lược lấy người đọc làm trung tâm, nguyên tắc tạo lòng tin cho người đọc
Chẳng hạn, Bhatia (1993a, tr 51) trong tác phẩm “Analyzing genre: language use in professional settings” đã sử dụng thủ pháp tiếp cận thể loại, phân tích khá chi tiết về diễn ngôn thương mại tiếng Anh Trong tác phẩm này, ông cũng đã đưa ra mô hình 7 bước thoại dành cho thư bán hàng và thư xin việc tiếng Anh Henry và Roseberry (2001, tr 94) khi nghiên cứu thể loại thư tín thương mại của người Anh -
Mỹ, đã đưa ra mô hình 14 bước thoại trong thư xin việc Bovee (2003, tr 65) khi nghiên cứu về thư tín thương mại tiếng Anh cũng đưa ra phương pháp lấy người đọc làm trung tâm “You Approach”, với các nguyên tắc viết: nhấn mạnh chiến lược lịch sự dương tính, tránh phân biệt về giới tính (sex disicrimination), nhấn mạnh hành văn trực tiếp (direct arrangement) …trong thư tín thương mại tiếng Anh
Về khác biệt văn hóa thể hiện trong thư tín thương mại giữa phương Đông và phương Tây, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Chẳng hạn, Maier (1992, tr 67) xem xét sự khác biệt trong cách viết thư tín giữa người bản ngữ và người phi bản ngữ, chủ yếu là sinh viên người phương Đông (Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc) Sử dụng các mô hình của Brown và Levinson (1987) về chiến lược lịch sự, tác giả phân tích chiến lược viết mang tính khẳng định và phủ định Kết luận của tác giả là người bản ngữ Anh - Mỹ sử dụng các chiến lược dương tính nhiều hơn người phi bản ngữ, là những người thích chiến lược lịch sự âm tính nhưng mang tính rủi ro hơn
Trang 16Zdenka (2008) khi nghiên cứu về sự khác biệt trong chiến lược lịch sự trong thư trả lời khiếu nại, việc từ chối khiếu nại trong hai nền văn hóa Nhật và Mỹ, đã phát hiện thấy rằng, thư trả lời khiếu nại của Nhật thường mang tính gián tiếp hơn trong giao tiếp
so với thư của Mỹ
Naoki Kameda (2005, tr 452) khi khảo sát về cách viết thư tín tiếng Anh của sinh viên tại Mỹ, phát hiện thấy rằng trong cấu trúc tu từ, người Nhật thường viết theo mô hình: giải thích (nguyên nhân) trước và kết quả (tác động) sau Trong thư tín, người Nhật thường có xu hướng đặt vấn đề cần giải quyết (tác động, kết quả, hoặc hành động yêu cầu) sau cùng
Tương tự như vậy, Suzuki (1999, tr 236), một nhà Nhật ngữ học, cho rằng, trái với người Phương Tây, trong giao tiếp nói chung và giao tiếp thương mại nói riêng, người Nhật không thích giải thích cặn kẽ về quan điểm của mình Theo văn hóa Nhật, người chịu trách nhiệm chính để hiểu người nói hoặc người viết là người nghe hay người đọc
Hinds (1990, tr 95) đã so sánh thư khiếu nại về thương mại của Anh - Mỹ và của Hàn Quốc ở mô hình bước thoại cùng với đặc điểm ngôn ngữ và phát hiện thấy rằng, người Hàn Quốc thường có thêm bước thoại rào đón (opening buffer) ở phần mở đầu bao gồm các cách chào hỏi về thời tiết, nhận xét chung, xin lỗi về việc đã khiếu nại… trong khi đó bước thoại này không có trong thư của Anh-Mỹ Đặc biệt, trong bước thoại yêu cầu giải quyết, người Hàn Quốc thường sử dụng hành vi lời nói gián tiếp nhằm giữ thể diện cho người nhận
Michael Haugh (2005, tr 174) đã phân tích về thể diện trong diễn ngôn thương mại của Nhật và cho rằng trong đàm phán thương mại, người Nhật thường thể hiện chiến lược lịch sự âm tính nhằm thể hiện tính khiêm nhường, sự tôn trọng đối với các đối tác thay vì chiến lược lịch sự dương tính như của phương Tây
Như vậy có thể nói về mặt lý thuyết cũng như ứng dụng, việc nghiên cứu văn bản thương mại tiếng Anh nói chung, văn bản thư tín thương mại tiếng Anh nói riêng là
Trang 17khá nhiều Trong đó, các công trình cũng đã tiến hành so sánh tiếng Anh ở những lĩnh vực khác nhau, cũng có không ít đề tài tiến hành so sánh văn bản thương mại tiếng Anh bản ngữ với tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về văn bản thư tín thương mại
Ở Việt Nam, có thể nói rằng trước đây việc nghiên cứu phân tích diễn ngôn thương mại hầu như chưa được quan tâm do ảnh hưởng của nền kinh tế bao cấp và do ảnh hưởng của ngôn ngữ học Xô Viết, thì ngày nay, do nhu cầu phát triển của một nền kinh tế thị trường, một vài học giả cũng đã nghiên cứu chuyển dịch loại văn bản này Tác giả Lê Hùng Tiến (1999), trong luận án tiến sĩ ngữ văn “Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt”, đã đề cập đến đặc điểm của diễn ngôn văn bản luật pháp, đưa ra một số ứng dụng trong biên dịch văn bản luật pháp từ tiếng Việt sang tiếng Anh, trong đó có các văn bản hợp đồng thương mại
Tác giả Nguyễn Xuân Thơm (2001), trong luận án tiến sĩ ngữ văn “Các yếu tố ngôn ngữ trong đàm phán thương mại quốc tế” đã so sánh đối chiếu phân tích đặc điểm
về ngữ vực trong ngôn ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong đàm phán thương mại quốc tế
Tác giả Nguyễn Đức Hoạt (1995), trong luận án tiến sĩ ngữ văn bằng tiếng Anh“Politeness Markers in Vietnamese requests”, cũng đã so sánh phân tích sự khác biệt về một số chiến lược sử dụng câu có đánh dấu (markers) trong việc thể hiện tính lịch sự trong diễn ngôn thương mại tiếng Việt và tiếng Anh
Về diễn ngôn thư tín thương mại, có hai tác giả đã phân tích về diễn ngôn của loại văn bản này, đó là Nguyễn Trọng Đàn (1996), trong luận án tiến sĩ ngữ văn “Phân tích diễn ngôn thư tín thương mại”, đã phân tích đối chiếu một số đặc điểm về ngữ vực giữa thư tín tiếng Anh và tiếng Việt Hà Văn Riễn (1998) đã nêu ra một số phương pháp dịch thuật thư tín Pháp-Việt và Việt-Pháp trong luận án tiến sĩ ngữ văn “Ngôn ngữ học với việc dịch thuật văn bản giao dịch thương mại”
Trang 18Như vậy, có thể thấy số lượng công trình nghiên cứu về diễn ngôn thương mại nói chung và thư tín thương mại nói riêng ở Việt Nam là không đáng kể và chưa có công trình nào tập trung khảo sát một cách toàn diện về văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt, đặc biệt việc so sánh đối chiếu cả trên bình diện lý thuyết cũng như ứng dụng là còn hết sức ít ỏi
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Văn bản thương mại theo truyền thống học thuật phương Tây là một hệ thống phức tạp, trong đó bao gồm nhiều tiểu hệ thống nhỏ hơn Điều đặc biệt là giới học thuật dựa vào mục đích và chức năng để có những cách phân loại khác nhau Sau này, trường phái ngữ pháp chức năng hệ thống của Úc dựa vào ngữ vực cũng có những cách phân loại hết sức khác biệt, chẳng hạn như các văn bản quảng cáo cũng có thể xếp vào loại văn bản thương mại hay thư tín xin việc, thư tín giới thiệu mặt hàng cũng có thể xếp vào một loại thư thuyết phục
Trong khi đó, ở Việt Nam vì lý do lịch sử nền kinh tế thị trường còn hết sức mới
mẻ, xu hướng xếp văn bản thương mại vào hệ thống văn bản pháp lý và hành chính
Để tiện cho việc đối chiếu, luận án sẽ lựa chọn bốn thể loại thư tín thương mại sau đây:
Thư bán hàng
Thư xin việc
Thư từ chối ứng viên
Thư từ chối việc làm
Như đã biện giải, hệ thống văn bản thư tín thương mại tiếng Anh, do nhiều lý do khác nhau, là một hệ thống khá hoàn chỉnh, trong khi đó, ở tiếng Việt mới chỉ hoàn thành Đó là chưa kể, có sự khác biệt khá lớn, trong mục đích/chức năng, giá trị và cả
tổ chức diễn ngôn Luận án, chọn thể loại thư bán hàng là hướng đến sự tương đồng và cũng xuất phát từ đặc điểm của tiếng Việt, là hiện nay, tổ chức văn bản tiếng Việt cho
Trang 19thấy có nhiều dấu ấn mô phỏng Chọn thư/đơn xin việc là nhằm làm rõ sự khác biệt, và hiện nay, xét trên nhiều phương diện, bản chất của loại văn bản này rất khác biệt trong tiếng Việt và tiếng Anh Còn việc hai thể loại thuộc lịch sự, âm tính là từ chối ứng viên
và từ chối việc làm, luận án muốn xem xét sự bù đắp thể diện trong xã hội phương Tây như thế nào Ngoài ra, như dự báo, hai thể loại này, chỉ mới bắt đầu xuất hiện ở khu vực buôn bán tư nhân, còn trong khu vực nhà nước thì hầu như không xuất hiện
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm văn bản thư tín thương mại của Anh - Mỹ và Việt Nam, trong đó luận án đi sâu nghiên cứu cấu trúc hình thức,
mô hình các bước thoại, các chiến lược và một số đặc điểm ngôn ngữ nổi trội của các thể loại thư tín thương mại, bao gồm thể loại thuyết phục và thể loại thông tin xấu, nghiên cứu về tổ chức hình thức văn bản, về mô hình các bước thoại và chiến lược, và một số phương diện ngôn ngữ nổi bật
Câu hỏi nghiên cứu:
Luận án sẽ cố gắng trả lời các câu hỏi sau:
Đặc điểm văn bản thư tín thương mại, cụ thể là đặc điểm của thể loại, bao gồm Thư bán hàng, Thư xin việc, Thư từ chối ứng viên, Thư từ chối việc làm tiếng Anh là
Trang 204 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh một số thủ pháp thông dụng như phân loại, thống kê, luận án sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp miêu tả
Giúp luận án phác họa một bức tranh toàn cảnh về văn bản thư tín thương mại tiếngAnh nói chung hiện đang được sử dụng tại Việt Nam Phương pháp này cũng giúp luận án miêu tả đặc điểm về thể loại và ngôn ngữ của văn bản thư tín được tạo lập bởi những người viết có nguồn gốc văn hóa khác nhau Trên cơ sở miêu tả, luận án sẽ đưa
ra các mô hình cấu trúc thể loại và mô hình sử dụng ngôn ngữ thư tín cho từng vùng văn hóa
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
Luận án chú ý đến ngữ cảnh giao tiếp, bao gồm cả ngữ cảnh hẹp tức bị chi phối bởi các yếu tố ngôn ngữ và cả ngữ cảnh rộng, tức chi phối bởi các yếu tố văn hoá; xác lập đặc trưng ngôn ngữ trong cấu tạo hình thức lẫn nội dung văn bản trong cả hai hệ thống tiếng Anh và tiếng Việt; chú ý đến cả hai thao tác top-down process lẫn bottom-
up process
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
Được sử dụng để đối sánh các văn bản thư tín tiếng Anh của Phương Tây và thư tín tiếng Việt ở hai cấp độ: Mô hình cấu trúc thể loại và đặc điểm ngôn ngữ nhằm tìm
ra những điểm tương đồng và khác biệt
Việc so sánh - đối chiếu được thực hiện theo trình tự các bước:
i) Xác định mô hình đối chiếu;
ii) Đối chiếu mẫu;
iii) Đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về bình diện cấu trúc hình thức văn bản thư tín và đặc điểm ngôn ngữ Kết quả có được nhờ vận dụng
Trang 21phương pháp so sánh - đối chiếu có thể góp phần hữu ích hỗ trợ cho công tác dịch thuật, giảng dạy thư tín tiếng Anh tại các trường đại học ở Việt Nam
- 60 thư xin việc (Application letters): 30 thư tiếng Anh của người Anh - Mỹ và
30 thư tiếng Việt
- 140 thư từ chối (Rejection letters): 70 thư do người Anh - Mỹ viết và 70 thư của người Việt bao gồm 2 loại thư: từ chối ứng viên và từ chối việc làm
Lí do chúng tôi lựa chọn bốn loại thư này để so sánh đối chiếu là, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, thư tín thương mại tiếng Anh thường vươn tới cái phổ quát và mang nhiều đặc điểm tương đồng, sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa được thể hiện rõ nét và điển hình hơn trong các thể loại thư tín mang tính thuyết phục như: Thư bán hàng, Thư xin việc, và trong thể loại thông tin xấu như Thư từ chối ứng viên, Thư từ chối việc làm
Chúng tôi cũng khảo sát các bức thư được chọn lọc trong một số tài liệu, sách, giáo trình như:
- Ashley, A (2003) Oxford Hanbook of Commercial Correspondence Oxford
University press
- Gartside, L (1992) Model Business Letters Longman: Pitman Publishing
- Insley, R ( 2016) Business Letters and Memos Kendall Hunt Publishing
- John, A (2002) Business letters for busy people Book-mart Press
- Muckian, Michael and John Woods (1996) The business letter handbook: how
to write effective letters & memos for every business situation Hol-brook,
Massachusetts: Adams Media Corporation
Trang 22- Poe, W (2004) The McGraw-Hill handbook of Business letters, McGraw-Hill
Inc
- Taylor, S (2012) Model Business Letters, Email and other business documents
Longman: Pitman Publishing
Ngoài nguồn ngữ liệu trên, số văn bản thư tín này còn được sưu tầm từ các công
ty, đơn vị kinh doanh Việt Nam hoặc kinh doanh ở Việt Nam Như vậy, đối tượng khảo sát là các văn bản tiếng Anh, tiếng Việt thư tín thương mại thuộc 4 thể loại: Thư bán hàng, Thư xin việc, Thư từ chối ứng viên, Thư từ chối việc làm, với các nguồn khác nhau từ sách, giáo trình, các cơ quan, đơn vị kinh tế trong và ngoài nước, liên doanh và đầu tư nước ngoài và Việt Nam
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Luận án này không có tham vọng giải quyết những vấn đề lý thuyết, mà cố gắng khắc họa một số đặc trưng của văn bản thương mại nói chung, thư tín thương mại nói riêng trong tiếng bản ngữ Anh - Mỹ và tiếng Việt Đồng thời luận án cũng chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong việc nhận diện và phân loại các tiểu thể loại văn bản thương mại cụ thể Sự khác biệt này, hiện nay, trong tình hình giao tiếp thương mại của tiếng Việt là không thuận lợi trong quá trình hội nhập, cần thiết phải điều chỉnh Cụ thể
là nên xếp các thể loại, đối tượng khảo sát của luận án này, vào hệ thống văn bản giao dịch hơn là xếp vào văn bản hành chính
Ý nghĩa thực tiễn
- Trong giáo dục: kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc đối dịch văn bản thương mại Việt-Anh, Anh-Việt, nó cũng có thể dùng làm tài liệu giảng dạy về văn bản thương mại tiếng Anh, tiếng Việt nói chung, thư tín thương mại theo hướng phân tích thể loại
Trang 23- Trong kinh doanh: những kết quả của luận án có thể giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam hiểu rõ và ứng dụng kết quả nghiên cứu văn bản thương mại trong hoạt động kinh doanh và xây dựng thương hiệu, hình ảnh của mình, đặc biệt là doanh nghiệp phải điều chỉnh theo hướng ngôn ngữ văn bản giao dịch chứ không phải văn bản hành chính
6 Đóng góp mới của luận án
Luận án nghiên cứu và tìm ra các đặc điểm văn bản thương mại tiếng Anh và tiếng Việt, xác lập ngôn vực cũng như sự ràng buộc của ngữ cảnh đối với cấu trúc hệ thống của các thể loại này Cách tiếp cận được thực hiện trong luận án là nghiên cứu cấu trúc hình thức và sự phân bố bước thoại, chiến lược của văn bản thư tín thương mại tiếng Anh và tiếng Việt Qua đối chiếu, luận án cũng chỉ ra được đặc trưng của từng hệ thống văn bản thương mại, sự tương đồng và khác biệt về hình thức tổ chức văn bản, đặc trưng các bước thoại, chiến lược trong từng thể loại và một số phương diện ngôn ngữ nổi trội
Trang 247 Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục; luận án gồm bốn chương chính như sau:
Chương 1 Cơ sở lý thuyết
Chương này trình bày hệ thống lý thuyết liên quan đến đề tài của luận án Đây là
cơ sở mà chúng tôi làm xuất phát điểm để nghiên cứu những vấn đề cụ thể ở các chương sau
Chương 2 Văn bản thư tín thương mại tiếng Anh
Nghiên cứu đặc điểm hình thức, cách tổ chức các bước thoại, một số đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong 4 thể loại thư tín thương mại tiếng Anh - Mỹ
Chương 3 Văn bản thư tín thương mại tiếng Việt
Tương tự như chương 2, luận án khảo sát một số đặc điểm hình thức, cách tồ chức các bước thoại, một số đặc điểm ngôn ngữ của 4 thể loại thư tín thương mại tiếng Việt
Chương 4 Văn bản thư tín thương mại tiếng Anh, tiếng Việt: Một số đối chiếu Dựa vào 3 đặc điểm: hình thức tổ chức văn bản, sự phân bố các bước thoại, chiến lược và một số đặc điểm ngôn ngữ nổi trội để đối chiếu nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa chúng
Trang 25Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 VĂN BẢN VÀ DIỄN NGÔN
Văn bản được giới ngữ văn học chú ý từ rất lâu Nhưng phải thừa nhận rằng, từ khi ngành Ngôn ngữ học văn bản và sau này là Phân tích diễn ngôn ra đời thì văn bản mới trở thành đối tượng của ngôn ngữ học một cách chính danh Cách tiếp cận này một mặt cho thấy, khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình hành chức theo hướng dụng học, mặt khác, còn bộc lộ cái nhìn từ bỏ giới hạn thường được coi là cuối cùng của đơn vị câu để vươn tới các đơn vị lớn hơn câu Và ở giai đoạn đầu, người ta chú ý nhiều đến văn bản viết và nó được hình dung như sau:
Văn bản là sản phẩm của quá trình sáng tạo lời mang tính hoàn chỉnh, được khách quan hoá dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt văn chương theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu đề) và một loạt đơn vị riêng những thể thống nhất trên câu hợp nhất bằng những loại hình liên kết khác nhau về từ vựng, ngữ pháp, logic, tu từ, có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng, (Galperin, 1987)
Văn bản ở đây được xác định là văn bản viết, việc xem xét nó trong giao tiếp có ý nghĩa quan trọng Nói khác, văn bản được quan sát từ góc nhìn là một sản phẩm hay trong quá trình tương tác sẽ chi phối cách nhìn nhận và lý giải khách thể nghiên cứu Bởi vì, việc nhìn nhận văn bản như một sản phẩm hay một quá trình không những chi phối cách nhận diện, phân loại mà còn liên quan đến việc xác lập các đặc trưng cơ bản của hai đơn vị này
Trước hết, giai đoạn mở rộng tầm nhìn ra ngoài phạm vi câu, dùng những thành tựu nghiên cứu về câu để xem xét văn bản, khái niệm văn bản được hình dung khá đơn giản Đó là một đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh không kể là nói hay viết Gắn liền với cách
nhận diện này, có thể ghi nhận các ý kiến sau, nó là đơn vị giao tiếp lớn nhất, (Louis
Trang 26Hjemslev, 1953); một đơn vị ngôn ngữ trong sử dụng; một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa Halliday & Hasan (1976)
Cũng ở vào giai đoạn này, từ một góc độ khác, văn bản được hình dung như một đơn vị có cấu trúc trừu tượng xét về mặt lý thuyết, trong khi diễn ngôn là đơn vị cụ thể
để gắn liền với những ngữ cảnh giao tiếp (van Dijk T A 1977) Cách lý giải này rất gần với sự phân biệt câu/phát ngôn mà về mặt sâu xa là bắt nguồn từ sự lưỡng phân ngôn ngữ/lời nói của Ferdinard de Sausure (1857-1903)
Trần Ngọc Thêm (1985,1999), trong một cuốn sách nổi tiếng và có tầm ảnh
hưởng rất lớn ở Việt Nam, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt xác định: Nói một cách
chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử Ngoài
các câu - phần tử trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra
vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung
Cũng trong chiều hướng mở rộng cách tiếp cận ngoài phạm vi, Hồ Lê (1996, tr 203), trong một công trình ít chịu ảnh hưởng của Âu Mỹ nhất, hình dung cơ chế ngôn giao gồm có các đơn vị lời, từ lớn đến nhỏ như sau: văn bản/ngôn bản, đoạn văn/đoạn
ngôn, câu/phát ngôn, và văn bản/ngôn bản được xác định là “đơn vị ngôn giao lớn nhất
mà chủ đề và tư tưởng chủ đề của nó là động lực cho sự sinh thành từng phát ngôn cụ thể kế tiếp nhau trên kết cấu tuyến tính để cấu thành văn bản/ ngôn bản
Khi trào lưu phân tích diễn ngôn nở rộ, hai thuật ngữ văn bản, diễn ngôn, theo trường phái, góc nhìn mà cách hình dung cũng rất khác nhau Ít nhất là có hai khuynh hướng chính sau:
Trang 27(ii) Phân biệt
- Văn bản là để chỉ văn bản viết còn diễn ngôn chỉ văn bản nói
- Văn bản để chỉ sự thể hiện bằng bất kỳ ngôn ngữ viết một sự kiện giao tiếp (ngôn ngữ nói: một bài thuyết giáo, một cuộc thoại tình cờ …; ngôn ngữ viết: một bài thơ, một mẫu quảng cáo trên báo …), còn diễn ngôn để chỉ sự diễn thuyết, sự giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh (D Numan, 1989)
- Văn bản là một chuỗi ngôn từ giải thuyết được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh, còn diễn ngôn là một chuỗi ngôn từ được nhận biết là trọn vẹn về nghĩa được hợp nhất lại và có tính mục đích (G Cook, 1989)
- Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, điệu bộ được nhận dạng vì mục đích phân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví
dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích …, còn diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể
có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, một cuộc tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể…
Trên bình diện lý thuyết, sự phân biệt như trên tất yếu dẫn đến sự phân biệt giữa phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn Ở chiều hướng thứ nhất, sự phân tích hướng đến các đặc điểm có tính chất hình thức bên ngoài ngữ cảnh ngôn ngữ Còn ở chiều hướng thứ hai, sự phân tích tập trung khảo sát khía cạnh chức năng Nói một cách khái quát, một đằng chú ý đến cấu trúc, nhất là cấu trúc hình thức và một đằng lại quan tâm đến quá trình hành chức
Ngày nay theo một quan niệm phổ biến, diễn ngôn có nghĩa khá rộng bao gộp cả văn bản, nhiều loại hình giao tiếp, cả nói và viết bao gồm ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, bản ngôn ngữ, xuất phát từ việc hoặc thừa nhận văn bản/diễn ngôn là một sản phẩm ngôn từ đã hình thành hoặc xem xét như một quá trình hoặc chú ý cả hai đặc điểm này
Trang 28Thực tế giao tiếp cho thấy khó lòng phân biệt một cách rạch ròi, đâu là văn bản, đâu là diễn ngôn mà thường chúng không nhoè vào nhau trong văn bản đã có diễn ngôn và ngược lại
Cách hình dung của luận án sau đây, chủ yếu là nhằm xác lập một số thao tác để tiện làm việc:
Văn bản là một cấu trúc ngôn từ hoàn chỉnh, bao gồm nhiều yếu tố mạch lạc, tồn tại dưới dạng viết hay nói, chuyển tải một nội dung, nhắm đến một đối tượng, gắn liền với một mục đích giao tiếp nhất định
Ở đây, cần lưu ý, ở điển dạng, văn bản thường có một cấu trúc với một độ phức tạp nhất định nào đấy còn trường hợp cá biệt, văn bản có thể là một từ, một ngữ, một câu và trong chuyên luận này chúng tôi dùng văn bản như một thuật ngữ đại diện, bao gồm cả diễn ngôn
1.2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA VĂN BẢN
Trong một công trình giới thiệu tổng quát về Ngữ pháp văn bản, de Beaugrande R
& Dressler W (1981) đã chỉ đã chỉ ra một số đặc điểm của văn bản như sau:
Trang 291.2.1 Đặc điểm ngôn ngữ từ bình diện sử dụng
Quan sát từ thực tiễn sử dụng, để hoàn thành chức năng giao tiếp một văn bản, trong nhận thức của luận án, phải bao gồm các đặc điểm sau:
Hoàn chỉnh bao gồm cả hoàn chỉnh về nội dung và hoàn chỉnh về mặt hình thức
Ở dạng lý tưởng, văn bản đơn vị giao tiếp, phân biệt với một tập hợp câu chưa trọn vẹn, trước hết ở bản chất chính thể của nó Vì là một đơn vị nghĩa nên việc xác nhận văn bản/phi văn bản không thể dựa vào mặt định lượng, mà phải là định tính Nói
rõ hơn, văn bản dài ngắn không quan trọng mà quan trọng là ở chỗ đã thông báo một nội dung hoàn chỉnh hay chưa
Một văn bản có thể đề cập đến một chủ đề hay nhiều chủ đề, chúng có thể bình đẳng với nhau hoặc phụ thuộc vào nhau theo trật tự lớn nhỏ, chủ đề lớn/chủ đề nhỏ hoặc theo quan hệ hạt nhân và vệ tinh Nhưng phải đảm bảo tính thống nhất và trọn vẹn
về mặt chủ đề, nghĩa là phải tuân thủ tính nhất thể nội dung, hiểu theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này Với tư cách là một sản phẩm ngôn ngữ hoàn chỉnh, về mặt nội dung khái quát, văn bản thường có thể phân xuất hành 6 cấu tố (5 W + H) như giới báo chí học đã làm từ lâu, hoặc có thể hình dung đơn giản, mỗi văn bản đều có thể được qui về
3 yếu tố đó là Đề của văn bản Đ, Thuyết của văn bản T, và thành phần giải thích I, có thể giải thích cho Đ hoặc T, hoặc có khi cho cả Đ và T như cách một số nhà phân tích gần đây đã tiến hành Tất nhiên, tùy theo mức độ đơn giản hay phức tạp, tùy theo độ dài/ngắn các yếu tố này có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ trong một văn bản,thậm chí ngay trong cùng một cấu tố có thể tiếp tục phân xuất thành những biến thể khác nhau
Trang 30Từ phía tạo lập văn bản, xuất phát từ nội dung để lựa chọn hình thức biểu đạt, dù dưới hình thức nói hay viết, dù độc thoại hay đối thoại, bao giờ anh ta cũng hướng tới một cuộc tương tác trọn vẹn Tương tự, từ phía nhận hiểu văn bản, xuất phát từ những đặc điểm hình thức, nhất là những chỉ báo quan yếu, anh ta bao giờ cũng chờ đợi một
sự tiếp nhận trọn vẹn
Từ góc độ phân tích thể loại, với phương pháp tìm năng cấu trúc thể loại (generic structure potential), R Hasan (1985), có yếu tố bắt buộc trong một thông lệ diễn ngôn như là tiêu chuẩn để xác lập tính hoàn chỉnh của văn bản Một văn bản cụ thể với sự phân bố các yếu tố bắt buộc dù không đầy đủ cũng có thể xem là hoàn chỉnh nhưng chúng hoàn chỉnh với những kiểu khác nhau như thô ráp, rời rạc, nghèo nàn, như vậy hoàn chỉnh cũng có ý nghĩa là có mức độ (xem phân tích thể loại)
Trong quan hệ với nội dung,tính hoàn chỉnh về một về mặt hình thức cho thấy đâu là chỗ mở đầu, đâu là diễn biến, đâu là chỗ triển khai, đâu là chỗ kết thúc, cũng như các mối quan hệ giữa các yếu tố hình thức làm nên những khuôn hình văn bản nhất định Nói khác, mỗi văn bản trong quan hệ với nội dung thường có một bố cục nhất định, một khung hình nhất định mà về nguyên tắc ta có thể tiến hành mô hình hóa Như vậy, văn bản là một tổng thể hợp nhất từ hai phương diện nội dung và hình thức
Trang 31Còn cấu trúc nội dung là mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các cấu tố làm nên văn bản Cấu trúc này chỉ ra, trước hết là nội dung tường minh, bao gồm tri thức nền, nội dung
sự kiện (nội dung mệnh đề) và nội dung tình thái nổi rõ trên bề mặt văn bản Để hiểu cấu trúc nội dung tường minh, thường người ta dựa vào nguyên lý giải thuyết cục bộ (the principle of local intertpretation) Từ cấu trúc nghĩa này có thể nảy sinh cấu trúc hàm ẩn cũng bao gồm nội dung sự kiện và nội dung tình thái một cách tiềm năng, không hiển lộ một cách tường minh mà thường thông qua con đường suy luận hoặc đoán định Để hiểu nội dung này, thường người ta phải dựa vào nguyên lý loại suy (the principle of analogy)
1.2.1.3 Tính liên kết và mạch lạc
Trong văn bản các cấu tố không tồn tại một cách rời rạc mà thường có mối quan
hệ gắn bó với nhau Để chỉ sự liên thông gắn bó ấy, hiện nay trong phân tích diễn ngôn tồn tại hai thuật ngữ: liên kết (cohesion) và mạch lạc (coherence)
Liên kết là tập hợp tất cả các mối quan hệ trên bề mặt của văn bản, là sợi dây được thiết lập một cách hình thức trong văn bản,nó ràng buộc các cấu tố trong văn bản thành một mạng mạch chằng chịt, điều này tạo ra tính văn bản (texture), Hallidy & Hasan (1976) Dù tồn tại dưới dạng thức đối thoại hay độc thoại, văn bản được không gian hóa bằng hình thức chữ viết và thời gian hóa bằng hình thức nói theo một trật tự nhất định Chính điều này cho thấy vai trò của sự tuyến tính hóa và sự kế thừa thông báo trong quan hệ với sự liên kết trong diễn ngôn Nói rõ hơn, việc xuất hiện của sự kiện nào, phát ngôn nào, ở vị trí nào trong diễn ngôn sẽ ảnh hưởng đến việc triển khai
và nhận hiểu các phát ngôn sau đó Bởi ở đây phát ngôn mở đầu với cách sửa đề hóa thế nào đó, là chỗ dựa cho các phát ngôn sau và đến lượt nó, các phát ngôn sau là chỗ dựa cho các phát ngôn sau nữa Tất cả những điều ấy không thể không chi phối mạng lưới liên kết và đặc điểm của văn bản
Như vậy, theo Halliday & Hasan (1976), quan hệ liên kết được hình thành trên
cơ sở giải quyết một yếu tố nào đó trong diễn ngôn tùy thuộc vào việc giải thuyết một
Trang 32yếu tố khác Trong phạm vi có tính hướng nội, liên kết nội chỉ (endophora) có hai phương thức liên kết bao trùm lên các phương thức liên kết cụ thể là hồi chỉ (anaphora)
và khứ chỉ (cataphora)
Mạch lạc là mối quan hệ về nghĩa Tuy biện giải liên kết là nhân tố nào làm nên tính văn bản, nhưng nhiều lần Halliday & Hasan (1976) cũng thừa nhận, chính quan hệ ngữ nghĩa bên dưới mới là sức mạnh chi phối quan hệ liên kết Do vậy, không ngạc nhiên, khi bên cạnh một số phương thức liên kết có tính hình thức, các tác giả này cũng
bỏ nhiều công sức cho việc mô tả biện pháp phối hợp từ vựng (lexical relationship, collocation)
Mạch lạc có nghĩa rộng hơn liên kết, nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi nội chỉ
mà còn liên quan đến ngoại chỉ (exophoric) Nói đến mạch lạc là nói đến chủ đề của văn bản, nói đến sự phân bổ nội dung, phân bổ các ý lớn, ý nhỏ trong văn bản Thực tế giao tiếp cho thấy, có khá nhiều trường hợp, nhất là trong hội thoại, trên bề mặt văn bản không cung cấp bất kỳ một quan hệ liên kết nào, nhưng do tương tác với ngữ cảnh, văn bản vẫn đảm bảo sợi dây mạch lạc Cũng có không ít trường hợp, mạch lạc sử dụng phương tiện liên kết để triển khai nội dung, nhưng có thể nói, mạch lạc không nhất thiết lúc nào cũng cần đến phương tiện liên kết và nhiều khi liên kết được khai thác dày đặt nhưng vẫn không đảm bảo tính mạch lạc Đó cũng là lý do vì sao các nhà Ngữ pháp văn bản cũng như phân tích diễn ngôn hay dùng những ví dụ phản chứng rời
xa thực tế, bằng cách lấy một tập hợp câu có liên kết nhưng vẫn không là văn bản, để chứng minh cho vai trò và chức năng của mạch lạc
1.2.1.4 Tính thực hiện giao tiếp
Trước hết, việc thực hiện giao tiếp là được hiểu là văn bản bao giờ cũng tồn tại trong những ngữ vực (register) nhất định, trong những thể loại nhất định Nói như ngôn ngữ học truyền thống, trong hành chức, văn bản là văn bản của một phong cách chức năng nhất định, tức là các yếu tố như nội dung giao tiếp, đối tượng giao tiếp, mục đích
Trang 33giao tiếp, tình huống giao tiếp sẽ là những nhân tố chi phối đặc điểm ngôn ngữ của một loại hình văn bản và cả những văn bản cụ thể
Hơn thế nữa, văn bản bao giờ cũng gắn liền với một ngữ cảnh nhất định Chính ngữ cảnh tạo nghĩa ngữ dụng cho văn bản, thậm chí ngữ cảnh khác, nghĩa văn bản sẽ khác Đề cập đến phân tích diễn ngôn không một khuynh hướng nào lại không nhắc đến tầm quan trọng của ngữ cảnh, thế nhưng, tùy theo cách nhìn,thuật ngữ này được hiểu rất khác nhau Đáng chú ý là ở sự lưỡng phân: ngữ cảnh tình huống (context of situation) và ngữ cảnh văn hóa (context of culture) của Malinowski B (1946) Trên những nét chung nhất, có thể chia ngữ cảnh ra làm hai loại: ngữ cảnh hẹp (co-text) và ngữ cảnh rộng (context) Ngữ cảnh hẹp, có người gọi là đồng văn bản, là ngữ cảnh chịu
sự tương tác thuần ngôn ngữ, các giải thuyết văn bản chỉ dựa vào chu cảnh ngôn ngữ
có tính hướng nội hoặc xa hoặc gần Còn ngữ cảnh rộng (extending context, G Brown
& G Yule (2002) thì phức tạp hơn, có thể là một sự tương tác Bao gồm nhiều yếu tố như tri thức nền, tình huống và cả yếu tố văn hóa
Bốn đặc điểm vừa nêu trên được khái quát từ những văn bản điển dạng Trên thực
tế không ít trường hợp, văn bản không phải lúc nào cũng đầy đủ các yếu tố ấy, các trường hợp văn bản tối giản, hoặc diễn ngôn của những người mắc bệnh về ngôn ngữ là những ví dụ
Về tính chỉnh thể và mạch lạc, thực tế giao tiếp cung cấp nhiều dữ liệu khá phức tạp, thật ra vấn đề còn cho thấy mức độ thể hiện của các đặc điểm này, một văn bản của học sinh hiển nhiên, xét trên nhiều phương diện, không thể nào so sánh với các văn bản của những người trưởng thành có nhiều kinh nghiệm trong tạo lập văn bản
Góc độ “thực hành chủ yếu mang ý nghĩa sư phạm” (Diệp Quang Ban, 2009, tr
219-220) cũng đã xác lập 6 đặc trưng phổ biến của văn bản như sau:
- Mục đích sử dụng văn bản
- Yếu tố nội dung
- Yếu tố cấu trúc
Trang 34- Mạch lạc và liên kết
- Yếu tố chỉ định
- Yếu tố định biên
1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ văn bản từ bình diện lý thuyết
Nếu xuất phát từ thực tiễn sử dụng, việc minh định các đặc điểm ngôn ngữ của văn bản nhằm hướng đến việc nhận diện chúng thông qua một số yếu tố cụ thể có ý nghĩa thực hành thì trên bình diện lý thuyết, đi tìm các đặc điểm này, người nghiên cứu buộc lòng phải trừu xuất khỏi cái riêng và cố gắng hướng đến cái phổ biến, cái trừu tượng, có tính chất bản thể của văn bản Đó cũng là cách mà một số nhà ngôn ngữ học
đã làm
1.2.2.1 Văn bản là một hệ thống, vừa là một sản phẩm vừa là một quá trình,
trong đó cấu trúc nội dung và cấu trúc hình thức là những thực thể phức hợp
Với tư cách là một sản phẩm đã hình thành, văn bản là sự tập hợp của nhiều yếu
tố đồng hiện và nhiều mối quan hệ chằng chịt Dù nói hay viết, trật tự tuyến tính luôn được bảo đảm, hết phát ngôn này đến phát ngôn khác, hết lượt lời này đến lượt lời khác, cứ thế từ mở đầu cho đến kết thúc văn bản Chính điều này làm cho sợi dây mạch lạc và liên kết có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Nói đến mạch lạc là nói đến sự phân bổ nội dung và nội dung là một cấu trúc, một phức thể bao gồm nhiều yếu tố có thể xuất hiện tường minh hoặc hàm ẩn và nhờ vào mối quan hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc này mà chúng ta có thể giải thuyết được ngay nhưng cũng khó khi phải thông qua sự nghiền ngẫm, đóan định, nói khác có khi phải thông qua một quá trình giải mã phức tạp, tùy thuộc vào loại hình văn bản Có liên kết là hình thức và hình thức cũng là một cấu trúc, một phức thể, liên kết không chỉ là toàn bộ sợi dây hình thức mà còn phải kể đến bố cục của văn bản và nói rộng ra là toàn
bộ quan hệ trên bề mặt của văn bản đều là hình thức
Như vậy, văn bản là một cấu trúc của nhiều cấu trúc,trước hết là cấu trúc nội dung với nhiều thành tố và cấu trúc hình thức cũng chứa trong đó nhiều thành tố Số
Trang 35lượng các thành tố nhiều hay ít, đơn giản hay phức tạp là tùy thuộc vào loại hình văn bản Đây có thể là cơ sở, hơn thế nữa là chỗ dựa để phân loại văn bản cũng như phân xuất văn bản thành những yếu tố nhỏ hơn nhằm phục vụ yêu cầu nhận thức cũng như phân tích mang ý nghĩa sư phạm
Với tư cách là một quá trình sẽ được hình thành, văn bản là kết quả của một sự tương tác phức tạp, đối với người tạo lập văn bản là xuất phát từ nội dung để lựa chọn hình thức, xuất phát từ ý để lựa chọn lời Tại đây xảy ra hàng loạt sự lựa chọn trên cả trục dọc cũng như trục ngang, kể cả sự lựa chọn hình thức hiện thực hóa khối lời bằng hình thức nói ra hay viết ra Về mặt kết quả, chắc chắn sẽ có độ vênh giữa ý định thông báo và việc lựa chọn câu chữ để biểu đạt ý định đó, nói khác, ý định thông báo là một việc, còn việc dùng ngôn ngữ để diễn đạt ý định đó như thế nào là hoàn toàn khác nhau Có khá nhiều truyện cười dân gian minh họa cho độ vênh này Từ phía nhận hiểu văn bản, quá trình này ngược lại, ở đây xuất phát từ hình thức để nắm bắt nội dung, xuất phát từ nhận hiểu ý, tại đây cũng diễn ra một quá trình không đơn giản Nội dung trình bày trong văn bản là một việc, còn việc nhận hiểu như thế nào lại cũng là một việc không thể đồng nhất, lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều trong lịch sử văn học Việt Nam cho thấy điều này
Tất cả những nhân tố vừa nêu không thể không ảnh hưởng đến việc nhận diện, phân loại, cũng như xác định các đặc điểm ngôn ngữ của văn bản
1.2.2.2 Văn bản là một hệ thống nghĩa có quan hệ đến nhiều văn bản khác
Dù xét từ góc độ của người tạo lập hay nhận hiểu, văn bản bao giờ cũng là kết quả của một sự gắn kết nhiều văn bản trước đó Như vậy, xét từ nhiều phía, việc sử dụng một văn bản cụ thể cần phải có kiến thức của nhiều văn bản liên quan Có thể nói, mỗi văn bản đều thể hiện một mô hình tương tác bằng cách chiếm dụng (appropriating) hay lồng ghép nhiều văn bản khác Nói cách khác, tập quán diễn ngôn cho thấy rằng, chúng ta tạo ra/nhận hiểu văn bản là dựa vào nền tảng chung của một hay nhiều văn bản khác Các nhà ngôn ngữ học gọi đặc điểm khái quát này là liên văn bản (intertext)
Trang 36Đây là một thuật ngữ giáp ranh của nhiều ngành khoa học, nội hàm và ngoại diên của
nó khá phức tạp, trong đó chủ yếu người ta bàn luận về tính chất qui chiếu của liên văn bản
Thật ra, từ góc nhìn của phân tích diễn ngôn, như quan niệm của Devitte A (1991), có thể thấy, liên văn bản có 3 thuộc tính sau:
Liên văn bản quy chiếu chỉ mối quan hệ, sự tham khảo đến nhiều văn bản khác Liên văn bản chức năng chỉ mối liên hệ đến tập quán hình thành các hệ thống văn bản trong cộng đồng, theo đó các văn bản được tạo lập trong quá khứ sẽ liên kết với văn bản hiện tại và cả trong tương lai Và chúng sẽ ảnh hưởng, chính xác hơn là chi phối đến việc sử dụng ngôn ngữ, cụ thể là cấu trúc hình thức và nội dung của văn bản Liên văn bản thể loại chỉ mối quan hệ có tính chất loại hình thể loại (genre conoly) tập hợp một số đặc điểm chung về cấu trúc Chức năng,tri nhận làm thành một
hệ thống, chẳng hạn dựa vào liên văn bản thể loại, Bhatia V.K (1993a, tr 36), chia thể loại thư tín thành 24 loại khác nhau
1.2.2.3 Văn bản là một hệ thống nghĩa có tính chất tiềm tàng
Theo ngôn ngữ học hiện đại, tri thức của con người tồn tại trong não bộ, được tổ chức theo những lược đồ có quan hệ với nhau Các lược đồ này được đúc kết từ những trải nghiệm có tính tương tác, nhờ vào nó mà chúng ta có thể nhận hiểu, dự đoán những kinh nghiệm tương tự Và dựa vào những lược đồ này, bằng một cố gắng tối thiểu, con người có thể thu nhận được thông tin tối đa Điều này góp phần giải thích cho khả năng con người có thể hiểu được một phát ngôn hay văn bản hoàn toàn mới mà trước đó chưa bao giờ nghe Các lược đồ này hoàn toàn có tính chất tiềm năng trong quan hệ với thực hiện ngoài ngôn ngữ Chúng như những module chờ đợi để thu nhận và xử lý thông tin theo các thao tác ngôn ngữ như lựa chọn quan hệ đối vị và quan hệ kết hợp Dựa vào thao tác tư duy như diễn dịch, quy nạp, ngoại suy Tất nhiên để tạo lập cũng như nhận hiểu văn bản thành công, chủ thể giao tiếp cần phản ứng nhanh hàng loạt thao tác trong và ngoài ngôn ngữ Và văn bản bao giờ cũng là văn bản với anh với tôi,
Trang 37cho nên việc xử lý (tạo lập và nhận hiểu) văn bản nhanh hay chậm, các mức độ, quá trình lập mã, giải mã lại hoàn toàn không giống nhau ở mỗi cá nhân, ở mỗi giai tầng xã hội và cả ở mỗi thời đại Cho nên, ở bình diện khái quát, văn bản bao giờ cũng là một
hệ thống mở, với tất cả loại hình văn bản Văn bản thư tín thương mại cũng không ngoại lệ, tính chất mở ở đây luôn luôn gắn với quá trình tương tác văn bản, từ hai quá trình, cũng luôn như gắn liền với những tình huống cụ thể
1.3 Văn bản thư tín thương mại
Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (2009, tr 1254), thương mại, ngành kinh tế thực hiện lưu thông hàng hoá bằng mua bán Văn bản thương mại được hiểu là các văn bản liên quan đến buôn bán, bao gồm nhưng không hạn chế ở các loại văn bản mang tính pháp lý, các văn bản trao đổi, giao dịch trong thực tiễn kinh doanh
Trong luận án này, chúng tôi chỉ giới hạn phần nghiên cứu ở văn bản thư tín thương mại sử dụng trong giao dịch kinh doanh hiện nay Để có cái nhìn tổng quan về thể loại này, trong phần tiếp theo chúng tôi sẽ phân tích đặc điểm và nhận diện từng kiểu loại văn bản thư tín thương mại
1.3.1 Đặc điểm c a văn bản thư tín thương mại
Thư tín thương mại là thể loại đặc biệt sử dụng trong cộng đồng thương mại nhằm đạt được mục đích giao tiếp kinh doanh, thường mang phong cách trang trọng nhất định, sử dụng các cấu trúc và biểu ngữ tập quán theo quy ước của cộng đồng giao tiếp thương mại Tùy từng mối quan hệ, đối tượng giao dịch, bản chất của hàng hóa dịch vụ trao đổi… mỗi tiểu thể loại thư tín đều mang tính đặc thù và được cấu trúc theo các cách khác nhau để đạt được mục đích riêng
1.3.1.1 nh thức tr nh bày
Gartside (1992) và các tác giả khác đưa ra ba hình thức chính cho việc trình bày một bức thư như sau:
Trình bày lùi vào lề (“Indented”)
Trình bày bán khối (semiblock)
Trang 38Trình bày toàn khối (“full block”)
Trình này theo kiểu Indented được coi là lâu đời nhất, kiểu này rất công phu, yêu cầu người viết phải lui vào một hay hai hàng khi xuống dòng, với lời chào đầu thư được đặt phía bên trái, còn lời chào cuối thư đặt phía bên phải Do vậy, hình thức kiểu này tạo ra một sự cân bằng của bức thư khiến cho bức thư trông trang trọng và bắt mắt Hiện nay, trong các văn bản hành chính của Việt Nam, hình thức này đang được
áp dụng phổ biến Tuy nhiên, nhược điểm chính của hình thức trình bày kiểu này là người viết thường mất công hơn do phải thực hiện nhiều thao tác khi soạn thảo văn bản
Khi các giao dịch thư tín ngày nay trở nên phổ cập hơn nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin, người viết có xu hướng đơn giản hóa cách trình này bằng việc chuyển sang kiểu bán hình khối (“semi-block”) Kiểu này được trình bày thẳng từ trên xuống
và người viết không cần phải lui vào một hay hai hàng Tuy nhiên, phần lời chào cuối thư vẫn giữ vị trí bên phải bức thư Để giản tiện hơn nữa, người viết áp dụng hình thức hình khối, không có dấu câu (“Full block”) trong đó, tất cả phần địa chỉ người nhận, lời chào đầu thư, nội dung thư, phần lời chào cuối thư… được trình bày theo hình khối, thẳng từ trên xuống và loại bỏ các dấu câu sau phần tên và địa chỉ của người nhận, lời chào đầu thư, lời chào cuối thư Tùy theo tập quán văn hóa và thói quen của người viết, thư tín được trình bày theo một trong ba hình thức trên
1.3.1.2 ấu tr c tổ chức văn bản thư tín
Theo Dugger (1995), Gartside (1992) và các tác giả khác, một văn bản thư tín thương mại có cấu trúc tổ chức như sau:
Phần 1 Đầu thư: thông tin về người viết, thông tin về người nhận bao gồm tên công ty, biểu tượng công ty (logo), ngày tháng, tham chiếu
Phần 2 Mở đầu: bao gồm lời chào đầu thư, chủ đề, thăm hỏi đầu thư
Phần 3 Nội dung: ùy vào kiểu loại thư mà nhưng nói chung bức thư thường chia thành ba phần chính: (i) Nêu mục đích viết thư; (ii) thông tin chính mà người viết
Trang 39muốn gửi cho người đọc, có thể thông báo, đề nghị, yêu cầu, phàn nàn, v.v (iii) phần kết thúc thư, thường là người viết trình bày nguyện vọng muốn người đọc hành động Phần 4 Cuối thư bao gồm: chào hỏi cuối thư, lời chào cuối thư, chữ ký và chức
vụ người viết, tài liệu gửi kèm, tái bút
Thương tín thương mại ngày nay có xu hướng được trình bày với nhiều đặc điểm tương đồng hơn trước đây do tác động của môi trường giao tiếp toàn cầu trong thế giới phẳng mà tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế, tuy nhiên, sự khác biệt về văn hóa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cấu trúc và mô hình tổ chức thư tín
Tóm lại, hình thức trình bày với 3 dạng thức tiêu biểu indented, semiblock, full block hay cấu trúc các thành tố bao gồm phần nghi thức hay bố cục chính đều có tính quy thức Vì nhiều lý do khác nhau, nổi bật là truyền thống buôn bán, giao dịch lâu đời,
cả hai phương diện hình thức trình bày và cấu trúc các thành tố trong văn bản thư tín thương mại tiếng Anh là khá rõ ràng, thậm chí có thể coi chuẩn mực Sự thay đổi nếu
có chỉ là sự lược bỏ các thành tố, thay đổi vị trí giữa chúng, có hay không có phụ lục đính kèm, thành phần tái bút (P/S) Từ góc độ ứng dụng, có thể dựa vào các mô hình này để xác lập mô hình điển dạng và biến thể của chúng
1.3.2 h n diện văn bản thư tín thương mại
Trước khi đi vào phân tích nhận diện từng thể loại thư tín, cần phải xác định một
số khái niệm được sử dụng trong luận án để làm cơ sở cho việc xác định từng thể loại thư tín thương mại, sao đó phân tích so sánh sự khác biệt cũng như sự tương đồng giữa các thể loại văn bản thư tín điển hình thuộc những nền văn hóa khác nhau
1.3.2.1 ác khái niệm
(i) Thể loại
Thể loại là một sự kiện giao tiếp độc lập mang tính văn hóa, xã hội và được cho là hiệu quả trong việc bảo đảm sự thành công của dụng học trong thương mại, trong đó ngữ cảnh chuyên ngành khác được sử dụng, theo Bhatia (1993a, tr 57) Do vậy, khi nghiên cứu cần kiểm tra khía cạnh xã hội của một thể loại đặc biệt để đưa ra cách giải
Trang 40thích về xã hội cho câu hỏi “Tại sao các thành viên của những gì mà các nhà xã hội học gọi là “Văn hóa thứ hai” viết theo cách của họ?”
Bhatia (1998b, tr 135) cho rằng có nhiều phương pháp phân tích thể loại với các định hướng khác nhau, nhưng chúng đều cung cấp mảnh đất chung như sau:
- Thể loại là các sự kiện giao tiếp được công nhận, khắc họa bởi một tập hợp các mục đích để các thành viên thuộc cộng đồng học thuật hay chuyên ngành hiểu nhau
- Các thể loại được cấu trúc ở mức độ cao và có tính tập quán quy ước trong đó một đóng góp nội hàm xét về các biểu thức, hình thức và nguồn thể loại có khả năng xảy ra
- Khám phá về thể loại và sử dụng tối đa thể loại sẽ là đặc quyền của các thành viên trong một cộng đồng diễn ngôn chuyên ngành đặc thù
- Các thành viên của cộng đồng chuyên ngành và nguyên tắc thường khai thác nguồn thể loại để thể hiện không chỉ các ý định riêng mà cả các ý định tổ chức trong phạm vi các cấu trúc của mục đích giao tiếp công nhận
- Thể loại là sự phản ánh văn hóa tổ chức và kỷ luật có sự thống nhất về nội dung, thường được nhận biết bằng việc dẫn chiếu về sự kết hợp các yếu tố ngữ cảnh, suy luận
và văn bản
Tóm lại, thể loại thư tín thương mại được hiểu là một sự kiện giao tiếp trong cộng đồng thương mại, được cấu trúc theo tập quán sử dụng riêng, với cách sử dụng các biểu ngữ và từ vựng đặc thù, được cộng đồng thương mại công nhận và khai thác nhằm mục đích để các thành viên trong cộng đồng này hiểu nhau trong các giao tiếp của mình
(ii) Ngữ vực
Thuật ngữ Ngữ vực muốn đề cập đến “thực tế ngôn ngữ chúng ta nói hay viết tùy
vào kiểu loại tình huống”, Halliday (1978) Điều này có nghĩa là, tùy thuộc vào “ngữ cảnh xã hội sử dụng ngôn ngữ” Có ba quy phạm ngữ vực liên quan đến vấn đề này:
loại tương tác diễn ra giữa người nói và người nghe (gọi là Trường), mối quan hệ liên nhân giữa người nói và người nghe (gọi là Không khí), mối quan hệ mà các tham thể