Mục đích Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ GTĐT tiếng Việt có liên hệ với tiếng Anh nhằm mục đích giúp cho học viên, sinh viên và nhân lực ngành GTĐT Việt Nam có cách tiếp cận nhanh hơn, sử
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác Nội dung luận án có tham khảo và sử dụng ngữ liệu được trích dẫn từ các tác phẩm và nguồn tư liệu đăng tải trên các trang thông tin điện tử theo danh mục tài liệu tham khảo của luận án
Trang 3Cám ơn Hội đồng chấm luận án đã phê bình và góp ý cho luận án
Cám ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã luôn khích lệ, động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả nghiên cứu và thực hiện luận án
Mặc dù tác giả đã dồn hết tâm trí và công sức vào luận án, nhưng vì khả năng còn hạn chế nên luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để tác giả hoàn thiện công trình
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt viii
Danh mục các bảng ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Nhiệm vụ 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: 3
4.2 Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: 4
4.3 Phương pháp so sánh đối chiếu 4
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 5
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án 5
6.1 Về lý luận 5
6.2 Về thực tiễn 6
7 Bố cục luận án 6
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu 7
1.1.1 Những nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa 7
1.1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài 7
1.1.1.2 Nghiên cứu trong nước 9
1.1.2 Những nghiên cứu về ngữ dụng 10
Trang 51.1.2.1 Nghiên cứu nước ngoài 10
1.1.2.2 Nghiên cứu trong nước 11
1.1.3 Những nghiên cứu về ngôn ngữ giao thông đường thủy 12
1.1.3.1 Nghiên cứu nước ngoài 12
1.1.3.2 Nghiên cứu trong nước 14
1.2 Cơ sở lý thuyết 15
1.2.1 Lý thuyết trường từ vựng ngữ - nghĩa 15
1.2.1.1 Khái niệm trường từ vựng ngữ - nghĩa 15
1.2.1.2 Đặc điểm trường từ vựng ngữ - nghĩa 16
1.2.1.3 Phân loại trường từ vựng - ngữ nghĩa 17
1.2.1.4 Tiêu chí xác lập trường từ vựng - ngữ nghĩa 19
1.2.1.5 Hiện tượng chuyển nghĩa 21
1.2.2 Lý thuyết định danh 22
1.2.2.1 Khái niệm “định danh” 22
1.2.2.2 Khái niệm “đơn vị định danh” 22
1.2.2.3 Cơ chế định danh của đơn vị định danh bặc hai 23
1.2.3 Lý thuyết thuật ngữ 24
1.2.3.1 Khái niệm thuật ngữ 24
1.2.3.2 Vị trí của thuật ngữ trong ngôn ngữ 26
1.2.3.3 Phân biệt thuật ngữ với một số đơn vị phi thuật ngữ 28
1.2.4 Lý thuyết về dụng học giao tiếp 31
1.2.4.1 Ngữ cảnh 31
1.2.4.2 Vai giao tiếp và nhân vật giao tiếp 32
1.2.4.3 Chiếu vật và chỉ xuất 33
1.2.5 Lý thuyết hội thoại 34
1.2.5.1 Khái niệm hội thoại 34
1.2.5.2 Cấu trúc hội thoại 35
1.2.5.3 Quy tắc hội thoại 37
1.2.5.4 Sự trao đáp trong hội thoại 40
1.3 Tiểu kết 42
Trang 6Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CÁC TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA TRONG
GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY 44
2.1 Khái quát về các trường từ vựng của ngôn ngữ giao thông đường thủy 44
2.2 Đặc điểm hình thức 44
2.2.1 Định danh bậc một 45
2.2.2 Định danh bậc hai 50
2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa 57
2.3.1 Trường Nhân lực hoạt động giao thông đường thủy 58
2.3.1.1 Trường Hoạt động trên bờ 58
2.3.1.2 Trường Hoạt động trên phương tiện 60
2.3.2 Trường địa hình giao thông đường thủy 62
2.3.2.1 Trường Đặc điểm bờ bến 62
2.3.2.2 Trường Đặc điểm tuyến luồng 63
2.3.2.3 Kết quả khảo sát trường Địa hình giao thông đường thủy 64
2.3.3 Trường Khí tượng thủy văn 64
2.3.3.1 Trường Sóng 65
2.3.3.2 Trường Gió 66
2.3.3.3 Trường Bão 66
2.3.3.4 Trường Thủy triều 67
2.3.3.5 Trường Tầm nhìn 68
2.3.4 Trường phương tiện giao thông đường thủy 69
2.3.4.1 Trường Các loại phương tiện 70
2.3.4.2 Trường Cấu trúc phương tiện 71
2.3.4.3 Trường Trang thiết bị trên phương tiện 72
2.3.5 Trường Nghiệp vụ thuyền nghệ 74
2.3.5.1 Trường Trạng thái phương tiện 74
2.3.5.2 Trường Thao tác nghiệp vụ 74
2.3.6 Trường Giao tiếp trên tàu 76
2.3.6.1 Trường Phương thức giao tiếp 76
2.3.6.2 Trường Nội dung giao tiếp 77
2.3.7 Trường hàng hóa 79
Trang 72.3.7.1 Trường Các loại hàng hóa 79
2.3.7.2 Trường Nghiệp vụ hàng hóa 80
2.4 Tiểu kết 82
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ GIAO TIẾP TRONG GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY 84
3.1 Các đặc điểm liên quan đến ngôn ngữ giao tiếp trong giao thông đường thủy 84
3.1.1 Đặc điểm các nhân tố giao tiếp 84
3.1.1.1 Đặc điểm nhân vật giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp 84
3.1.1.2 Đặc điểm vai giao tiếp 85
3.1.1.3 Đặc điểm chiếu vật và chỉ xuất 86
3.1.2 Đặc điểm hội thoại: 87
3.1.3 Đặc điểm văn hóa – ngôn ngữ 88
3.1.3.1 Đặc điểm phát âm chữ cái bằng một từ 88
3.1.3.2 Đặc điểm phương tiện mang tính nữ 89
3.1.3.3 Đặc điểm kiêng kỵ trong ngôn ngữ giao thông đường thủy 90
3.2 Những tình huống giao tiếp trong giao thông đường thủy 92
3.2.1 Những tình huống thông dụng 95
3.2.1.1 Tình huống neo đậu 98
3.2.1.2 Tình huống cập bến 100
3.2.1.3 Tình huống rời bến 102
3.2.1.4 Tình huống trực ca 103
3.2.1.5 Tình huống bảo quản hàng hóa 104
3.2.2 Những tình huống bất trắc 106
3.2.2.1 Giao tiếp nội bộ tàu trong những tình huống bất trắc 107
3.2.2.2 Giao tiếp với bên ngoài tàu trong những tình huống bất trắc 120
3.3 Tiểu kết 137
KẾT LUẬN 139
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 143
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Các từ viết tắt tiếng Việt
GTĐB Giao thông đường biển
GTĐT Giao thông đường thủy
GTĐTNĐ Giao thông đường thủy nội địa
GTVT Giao thông vận tải
TCHHTG (IMO) Tổ chức hàng hải thế giới
Các từ viết tắt tiếng Anh:
International Maritime Organization (TCHHTG) Motor Vessel (tàu chạy bằng máy)
SAR Search And Rescue (tìm kiếm và cứu nạn)
SMCP Standard Marine Communication Phrases (những cụm từ
liên lạc hàng hải chuẩn)
SMNV Standard Marine Navigational Vocabulary (Từ vựng hàng
UTC
VHF
Universal Time Co-ordinated (giờ thế giới) Very High Frequency (tần số rất cao) VTS Vessel Traffic Service (Dịch vụ hướng dẫn tàu thuyền lưu
thông)
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Báng 2.2.1.1 Đơn vị định danh bậc một trong các trường từ vựng GTĐTNĐ 45
Báng 2.2.1.2 Đơn vị định danh bậc một trong các trường từ vựng IMO 47
Báng 2.2.1.3 Đơn vị định danh bậc một trong các trường từ vựng HNĐB 48
Bảng 2.2.1.4 Đối chiếu tần suất sử dụng các đơn vị định danh bậc một 50
Báng 2.2.2.1 Định danh bậc hai trong các trường từ vựng GTĐTNĐ 51
Báng 2.2.2.2 Định danh bậc hai trong các trường từ vựng IMO 52
Báng 2.2.2.3 Định danh bậc hai trong các trường từ vựng HNĐB 53
Bảng 2.2.2.4 Đối chiếu tần suất sử dụng các đơn vị định danh bậc hai 54
Bảng 2.3.1.3 Kết quả khảo sát trường từ vựng Nhân lực hoạt động 61
Bảng 2.3.2.3 Kết quả khảo sát trường từ vựng Địa hình 64
Bảng 2.3.3.6 Kết quả khảo sát trường từ vựng Khí tượng thủy văn 69
Bảng 2.3.4.4 Kết quả khảo sát trường từ vựng Phương tiện GTĐT 73
Bảng 2.3.5.3 Kết quả khảo sát trường từ vựng Nghiệp vụ thuyền nghệ 75
Bảng 2.3.6.3 Kết quả khảo sát trường từ vựng Giao tiếp trên tàu 79
Bảng 2.3.7.3 Kết quả khảo sát trường từ vựng Hàng hóa 81
Bảng 3.1.3.1 Bảng quy ước cách phát âm chữ cái trong giao tiếp 88
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống xã hội của một cộng đồng, “ăn, mặc, ở, đi lại” là điều kiện tồn tại của con người Giao thông đường thủy (GTĐT) trong quan niệm thông thường, là thuộc về sự “đi lại trên mặt nước sông, biển, kênh, hồ, dùng cho tàu thuyền”, là một loại giao thông
Chương trình giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng và các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho ngành giao thông đường thủy (GTĐT), câu hỏi được đặt ra: Làm thế nào người học có thể nhớ một cách tốt nhất những kiến thức đã học trong nhà trường và vận dụng vào thực tế? Để trả lời câu hỏi này, cần phải nghiên cứu riêng về ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực GTĐT, phân định từ vựng theo từng tập hợp có những nét nghĩa chung, đó chính là trường từ vựng ngữ nghĩa (trường nghĩa) Đồng thời, cần xác định những tình huống hàng hải cụ thể có sự xuất hiện của những đơn vị ngôn ngữ này với tần suất cao, khuyến khích người học ứng dụng ngay trên lớp học hoặc trong phòng mô phỏng, phòng thực hành hải đồ Qua đó, người học
sẽ nắm vững kỹ năng sử dụng ngôn ngữ chuyên ngành trong thực tế
Việc nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh cho thủy thủ trên những con tàu vượt biển là cấp thiết, nhằm khắc phục những hiểu lầm không đáng có do sự bất đồng ngôn ngữ giữa các thành viên khác quốc tịch trong một thủy thủ đoàn, hoặc giữa thủy thủ đoàn với những bến cảng quốc tế; đồng thời đẩy nhanh quá trình hội nhập của GTĐT Việt Nam với các quốc gia trên thế giới Từ khi mở cửa giao thương với bạn bè quốc tế, nhiều cá nhân và công ty nước ngoài đã đến Việt Nam, khai thác hiệu quả kinh tế từ đường biển và đường sông Như vậy, nắm vững những đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng trong giao tiếp GTĐT bằng song ngữ Việt - Anh có thể xem là điều kiện cần cho thủy thủ Việt Nam
Trong chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành GTĐT, tiếng Anh là một trong những môn học tiên quyết, đòi hỏi người học phải nắm được cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, và phải vận dụng được vào thực tế Hầu hết những tài liệu học tập
và giảng dạy đều căn cứ vào nguồn ngữ liệu của tổ chức hàng hải thế giới (IMO) Đây
là những từ ngữ, những lời thoại, cách diễn đạt đã được qui chuẩn, được thể hiện bằng tiếng Việt trong quan hệ với tiếng Anh, phản ánh phần nào những yêu cầu thực tế của
Trang 11công việc trong GTĐT và phần nào nét văn hóa của một cộng đồng, những mối quan
hệ phong phú và phức tạp giữa người với người; giữa người với thế giới xung quanh
Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có tài liệu nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ và giao tiếp GTĐT bằng tiếng Việt trong sự đối chiếu với tiếng Anh, mặc dù GTĐT từ lâu đã là một tuyến giao thông quan trọng bậc nhất đối với một quốc gia có nhiều sông ngòi và bờ biển dài như Việt Nam Vì vậy, đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ giao thông đường thủy tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)” là hết sức cần thiết Kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ngành GTĐT trong việc sử dụng từ ngữ chuyên ngành bằng tiếng Việt và tiếng Anh trong các tình huống giao tiếp của ngành GTĐT nội địa và quốc tế Bên cạnh ý nghĩa thực tiễn trong việc ứng dụng vào giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành, đề tài còn có ý nghĩa về mặt lý thuyết giao tiếp
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ GTĐT tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) nhằm mục đích giúp cho học viên, sinh viên và nhân lực ngành GTĐT Việt Nam có cách tiếp cận nhanh hơn, sử dụng chính xác ngôn ngữ trong từng tình huống GTĐT cụ thể, nắm vững những đặc điểm chung và riêng về ngữ nghĩa của bảy trường từ vựng có tần suất cao trong lĩnh vực GTĐT, đưa ra kết quả tổng hợp, phân tích những đặc điểm về ngữ nghĩa và các tình huống giao tiếp thường gặp
2.2 Nhiệm vụ
Luận án phải hoàn thành những nhiệm vụ sau
- Hệ thống những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như các nghiên cứu về trường nghĩa, về định danh, về thuật ngữ, về ngữ dụng và hội thoại
- Thống kê, xác lập và phân tích được hệ thống các trường từ vựng, các tiểu trường, các đơn vị định danh bậc một, bậc hai của ngôn ngữ GTĐT; bên cạnh đó, luận án cũng thống kê, xác lập và phân tích những nét nghĩa biểu trưng của các trường, các tiểu trường từ vựng GTĐT tiếng Việt, đặt trong mối liên hệ với tiếng Anh để so sánh số lần xuất hiện của các từ ngữ này trong hai ngôn ngữ; chỉ ra được tính hệ thống, tính tầng bậc và tính giao thoa trong lòng mỗi trường
Trang 12- Nêu lên một số nét đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt làm nghề sông nước
và so sánh với ngôn ngữ qui chuẩn của Tổ chức Hàng Hải thế giới; khái quát những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ giao tiếp GTĐT và một số khuôn mẫu hội thoại bằng song ngữ Việt - Anh
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của ngôn ngữ GTĐT trong nhiều ngành nghề thuộc lĩnh vực GTĐT: Hàng hải, Kỹ thuật tàu thủy, Kinh tế vận tải, Quản trị Logistic, Hoa tiêu v.v., nhưng tập trung chủ yếu vào ngôn ngữ nói (khẩu ngữ) của ngành hàng hải Cụ thể, luận án tập hợp và phân tích các đơn vị định danh chỉ người (ngành nghề), chỉ sự vật, hiện tượng (bờ, bến, bão tố ); các động từ và động ngữ chỉ hoạt động GTĐT; các tính từ và tính ngữ chỉ trạng thái phương tiện, trạng thái dòng chảy, tuyến luồng Về ngữ dụng, luận án nghiên cứu 7 tình huống thông dụng và 10 tình huống bất trắc trong hoạt động GTĐT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là đặc điểm các trường từ vựng trong ngôn ngữ GTĐT và đặc điểm sử dụng ngôn ngữ giao tiếp trong GTĐT Để đáp ứng cho luận án, chúng tôi sử dụng 3 nguồn ngữ liệu chính, có độ tin cậy cao, đó là: i/ Từ điển thuật ngữ Đường thủy nội địa do Ngô Xuân Sơn chủ biên, xuất bản năm 2002; ii/ Thành ngữ giao tiếp chuẩn trong hàng hải của IMO do thuyền trưởng Cổ Tấn Anh Vũ biên dịch và thuyền trưởng Nguyễn Văn Thư hiệu đính, năm 2010; iii/ Từ điển Hàng Hải Anh Việt (thực tế là sổ tay ghi chép) của Hội người đi biển, ghi chép của nhiều thủy thủ, thuyền trưởng, máy trưởng trên các tàu viễn dương qua nhiều năm Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi
có tham khảo các giáo trình đang được sử dụng giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho ngành đường biển, đường sông như các cuốn Marlins - Engish For Seafarer - Study Pack 2 ( Tony Grice, 1998), English For Mariners (2009) v.v…
4 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài, luận án đã sử dụng những phương pháp và thủ pháp sau:
4.1 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: giúp phân tích và diễn giải, tổng hợp kết
quả nghiên cứu Phương pháp này còn giúp trình bày kết quả nghiên cứu, dựa trên cơ
Trang 13sở vận dụng tri thức nền là ngôn ngữ học, và lí giải các nội dung nghiên cứu được tích hợp trong ngữ liệu
Cụ thể: Từ những nguồn ngữ liệu đã thu thập, luận án tiến hành miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa và nghĩa biểu trưng của từ ngữ thuộc bảy trường từ vựng, miêu tả những đặc điểm về giao tiếp của đối tượng nghiên cứu qua những tình huống hội thoại trong liên lạc hàng hải Trong khi sử dụng phương pháp này, chúng tôi kết hợp hai thủ
pháp:
Thủ pháp thống kê, phân loại: bao gồm việc chỉ ra những quy luật xuất hiện của
các hiện tượng ngôn ngữ trong các ngữ liệu Thủ pháp này cũng nhằm phân loại xác lập được các tiểu trường, các nhóm từ ngữ trong mỗi trường nghĩa, xác định số lượng
và tỉ lệ các từ ngữ trong mỗi trường nghĩa
Thủ pháp phân tích, tổng hợp: là những cách thức thực hiện cần thiết giúp phân
tích các trường từ vựng ngữ nghĩa của ngôn ngữ GTĐT, cùng với các cuộc thoại trong liên lạc hàng hải trên bình diện giao tiếp Từ đó, luận án có thể trình bày những nhận xét, đánh giá, làm sáng tỏ hơn những đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm giao tiếp của ngôn ngữ GTĐT theo đề tài luận án
4.2 Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: là cơ sở cho việc phân lập các
trường từ vựng ngữ nghĩa thành các tiểu trường và các nhóm từ Đồng thời cũng là cơ
sở để phân tích các hướng chuyển nghĩa của từ ngữ thuộc các trường nghĩa khác nhau
của ngôn ngữ GTĐT bằng tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)
4.3 Phương pháp đối chiếu
Phương pháp đối chiếu được sử dụng trong luận án ở hai phương diện:
Thứ nhất: đối chiếu về hình thức và nội dung các từ ngữ thuộc những trường
nghĩa khác nhau của tiếng Việt với tiếng Anh, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về phạm vi biểu vật, từ đó chỉ ra những đặc điểm về ngữ nghĩa của ngôn ngữ GTĐT bằng tiếng Việt và tiếng Anh
Thứ hai: đối chiếu cách sử dụng ngôn ngữ qua các tình huống hội thoại, giữa ngôn
ngữ quy chuẩn với ngôn ngữ sử dụng thực tế
Trang 14Ngoài phương pháp phân tích thành tố nghĩa, phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh, đối chiếu và thủ pháp thống kê, luận án còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học khác như thủ pháp phân tích ngữ cảnh, phương pháp nghiên cứu trường hợp,… để giải quyết các vấn đề cụ thể của luận án Bên cạnh đó, sưu tầm tài liệu là công việc cần thiết, phục vụ cho cơ sở lí luận, cho việc minh họạ các luận điểm, luận cứ có trong luận án Những tài liệu được sưu tầm có thể là văn bản gốc, văn bản dịch, tư liệu có trong sách, báo, tạp chí, bài viết hay các luận văn, luận án chuyên ngành ngôn ngữ, hay ngôn ngữ - văn hóa Trước hết, trong các tài liệu sưu tầm được có các từ ngữ, các trường từ vựng và các tình huống giao tiếp là đối tượng nghiên cứu của luận án
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên về những đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của ngôn ngữ GTĐT Chúng tôi đã tổng hợp, phân tích, miêu tả và hệ thống hóa những đơn vị từ vựng dùng trong GTĐT, trong các khẩu lệnh hàng hải; phân chia thành các trường và các tiểu trường từ vựng, chỉ ra những đặc điểm cơ bản về cách định danh, những yếu tố tạo nên ngữ nghĩa của những lượt thoại, cặp thoại hay tình huống GTĐT Luận án cũng bước đầu chỉ ra một số nét khác biệt về văn hóa giao tiếp của người Việt làm nghề sông nước với văn hóa giao tiếp được qui chuẩn cho ngành khoa học hàng hải trên thế giới
6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1 Về lí luận
Kết quả mô tả những đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa của các trường từ vựng,
về các tình huống giao tiếp trong lĩnh vực GTĐT (tiếng Việt và tiếng Anh), kết quả đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh sẽ là những luận chứng về tính đa dạng, tính dân tộc và tính khoa học trong hệ thống từ vựng ngành GTĐT
Luận án góp phần làm rõ tính hệ thống cấu trúc, tính tầng bậc, sự tích hợp và tính giao thoa trong ngôn ngữ GTĐT bằng tiếng Việt trong quan hệ với tiếng Anh, góp phần vào việc nghiên cứu lý thuyết về trường nghĩa và giao tiếp hội thoại Kết quả luận án có thể làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lí thuyết và thực tiễn của ngôn ngữ GTĐT chuyên ngành, trên bình diện từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ dụng học
Trang 156.2 Về thực tiễn
Tư liệu và kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp người học sẽ tiếp cận nhanh hơn với những qui luật giao tiếp của một ngành khoa học đã phổ biến trên thế giới Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy tiếng Anh trong các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho ngành GTĐT
Đây có thể được xem là cơ sở ban đầu hướng tới việc tập hợp từ vựng để biên soạn từ điển Việt - Anh hoặc Anh - Việt chuyên ngành GTĐT, tạo điều kiện cho người học tiếng tiếp cận nhanh và dễ dàng vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế; góp phần nắm vững tính hệ thống của ngôn ngữ GTĐT
7 Bố cục luận án
Luận án gồm có hai quyển: chính văn và phụ lục
Quyển Chính văn, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận liên quan đến đề tài luận án như lý thuyết trường nghĩa, lý thuyết định danh, lý thuyết thuật ngữ, lý thuyết dụng học giao tiếp và lý thuyết hội thoại
Chương 2: Đặc điểm các trường từ vựng ngữ nghĩa trong giao thông đường
thủy
Trình bày sự phân lập trường và phân tích thành tố nghĩa để tìm ra những đặc điểm về hình thức, đặc điểm về ngữ nghĩa của ngôn ngữ GTĐT, đặt trong mối liên hệ với tiếng Anh để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ; đưa ra kết quả thống kê số lần xuất hiện của từng thành tố nghĩa trong một trường lớn, và của trường lớn trong toàn bộ ngữ liệu
Chương 3: Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ giao tiếp trong giao thông đường thủy
Trình bày những đặc điểm về ngôn ngữ giao tiếp và miêu tả, phân tích cách sử dụng từ ngữ trong các tình huống giao tiếp GTĐT
Quyển Phụ lục gồm có 03 phần:
+ Phụ lục 01: Từ vựng đường thủy nội địa
+ Phụ lục 02: Từ vựng IMO + Phụ lục 03: Từ vựng Hội người đi biển
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa
Từ cuối thế kỷ XIX, các nhà ngôn ngữ học đã quan tâm đến việc nghiên cứu ngữ nghĩa của ngôn ngữ Humboldt và F de Saussure là những người đặt tiền đề cho lý
thuyết về trường nghĩa Sau đó, rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra những
quan điểm về trường nghĩa, nhưng chỉ đến thời của Trier, lý thuyết về trường mới thực
sự đi vào lịch sử ngữ nghĩa học Từ đó đến nay, lý thuyết trường nghĩa ngày càng hoàn thiện và đạt được nhiều thành tựu lớn Ở Việt Nam, từ những năm 1954, các công trình nghiên cứu về từ vựng học đã ra đời, đó là các giáo trình như “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại”, “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại”của Nguyễn Văn Tu, giáo trình “Từ hội học” của Đỗ Hữu Châu Sau đó là những nghiên cứu về từ vựng tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành, Hồ Lê, Lê Quang Thiêm Các tác giả đã nghiên cứu ngữ nghĩa gắn liền với lý thuyết trường nghĩa Có thể nói, từ năm 1978 trở lại đây, lý thuyết trường nghĩa là một trong những nghiên cứu rất thành công của ngôn ngữ học
1.1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài
Đầu tiên, phải kể đến học thuyết về dạng lời nói bên trong của ngôn ngữ (inner speech-form of language) của Humboldt Học thuyết của ông phản ánh khả năng nhận
thức riêng biệt về thế giới và đặc trưng của từng nhóm sắc tộc và là tiền đề cho tất cả các lý thuyết về trường Còn F de Saussure (1973) đã nêu quan điểm “giá trị của bất
cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố ở xung quanh quy định” (105) Ông đã lấy ví dụ bàn cờ và quân cờ để nói rằng chất liệu quân cờ không quan trọng, danh vị quân cờ (tướng, sĩ, tốt) không quan trọng bằng quan hệ của nó trong bàn cờ đang đấu và “phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng” Trên tư tưởng đó, vấn đề trường nghĩa đã được Porzig, Stern, Trier, Jolles, Ohman, Matoré, Ullmann, Oskaar, Buttler, Perchonock và Werner, Kleparski, Lehrer tiếp tục nghiên cứu Trong những nghiên cứu này, lý thuyết về trường của Trier đã mở
ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử ngữ nghĩa học, nhưng ông không dùng tên “trường nghĩa”, mà gọi tên là “trường ngôn ngữ” Ông lý giải rằng, “mỗi ngôn ngữ phân chia
Trang 17thực tế theo cách của mình, do đó mà tạo ra cái cách nhìn của mình đối với thực tế và thiết lập nên những khái niệm riêng của mình” (như trích dẫn ở Đỗ Hữu Châu, 1998, tr.135) Trái với lý thuyết của Trier, một nhà ngôn ngữ học người Đức khác là Porzig
đã phát triển một ý tưởng lý thuyết trường nghĩa được các học giả khác gọi là trường
cú pháp Nghiên cứu của Porzig dựa vào sự phân tích mối quan hệ bên trong đồng xuất hiện giữa các từ Ông cho rằng nghĩa của từ bị giới hạn bởi ngữ cảnh mà chúng được
sử dụng và các từ xung quanh chúng quy định Ông giải thích, có một từ trung tâm (thường là động từ), xung quanh từ đó, nghĩa là các từ khác được xác định (46, tr.191) Như vậy, lý thuyết của Porzig, cú pháp đóng vai trò quan trọng hơn là ngữ nghĩa G Muller (1957) lại quan niệm trường từ vựng là trường khái niệm còn trường ngôn ngữ là trường kết hợp, tức là loạt các từ được thống nhất bởi ý nghĩa cú pháp nào
đó Cả W Porzig lẫn G Muller đều gọi những quan hệ này là những trường kết hợp
Một nhà nghiên cứu khác là Weisgerber cho rằng các trường có ba mặt, không phải hai mặt như của J Trier (như trích dẫn ở Nguyễn Thiện Giáp, 2012) Ông cho rằng khái niệm là cầu nối trung gian giữa chủ thể và hiện tượng khách quan Ông chia các trường thành trường một tầng và trường nhiều tầng Trường một tầng là kết quả của cái
mà chúng ta nhìn xuất phát từ một quan điểm duy nhất Ngược lại, trường nhiều tầng là trường có từ hai quan điểm trở lên
Theo Đỗ Hữu Châu (2007), Bally là người đầu tiên đưa ra khái niệm trường liên tưởng Bally cho rằng, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng như
từ bò của tiếng Pháp chẳng hạn, có thể gợi ra do liên tưởng: 1 Bò cái, bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ, nhai trầu…2 Sự cày bừa, cái cày, cái ách…3 Những ý niệm về tính
thụ động mà chúng ta gặp trong các lối so sánh, trong các thành ngữ Pháp.v.v… (tr.186)
Một nhà ngôn ngữ học có đóng góp to lớn trong việc phát triển lý thuyết trường
là Ohman Lý thuyết của Ohman tập trung vào sự tương đồng của các trường nghĩa trong một số ngôn ngữ hiện đại, nhằm chỉ ra sự phụ thuộc vào những đặc điểm dị biệt thực tế có của một ngôn ngữ cho trước (như trích dẫn ở Grzegorz A Kleparski,
Angelina Rusinek, 2007, tr.192-193)
Trang 18Cùng với các tác giả kể trên là những tên tuổi đã đóng góp nhiều quan điểm cho
lý thuyết về trường nghĩa, ví dụ như Lyons, R Hallig, W Von Warburg, P.M Roget
Từ những năm 2000 trở lại đây, trên thế giới có nhiều nghiên cứu áp dụng lý thuyết
trường nghĩa để nghiên cứu các trường hợp cụ thể trong một hay một vài ngôn ngữ
1.1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Tiếp thu những thành tựu của các tác giả nước ngoài, ở Việt Nam có một số tác giả đã giới thiệu lí thuyết trường nghĩa như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu… Người giới thiệu lý thuyết trường nghĩa đầy đủ và chi tiết nhất là Đỗ Hữu Châu, thông qua một loạt các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành và trong các công trình như “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” và “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” Tác giả cho rằng “giữa các từ có không ít những sự đồng nhất về hình thức và về ý nghĩa Căn cứ vào những cái chung giữa các từ, chúng ta sẽ phân lập toàn bộ từ vựng của tiếng Việt thành những hệ thống nhỏ hơn và phát hiện ra những quan hệ giữa các từ trong từ vựng” (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr.169) Tuy nhiên, bởi hệ thống từ vựng của ngôn ngữ quá lớn nên khó có thể tìm ra liên
hệ ngữ nghĩa trực tiếp giữa các từ được lựa chọn ngẫu nhiên, nên tác giả đưa ra giải pháp là “đặt các từ (nói cho đúng ra là các ý nghĩa của từ) vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng” (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr.170) Do vậy, những tập hợp từ đồng nhất với nhau về một phạm trù ngữ nghĩa được gọi là tiểu trường nghĩa và từ vựng của một ngôn ngữ được phân định thông qua những quan hệ ngữ nghĩa thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và những quan
hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường Như vậy, hệ thống ngữ nghĩa của từ vựng một ngôn ngữ được nhận diện qua các mối quan hệ giữa ý nghĩa của các từ trong trường nghĩa và mối quan hệ giữa các từ khác trường với nhau
Đỗ Việt Hùng (2010), trong “Một số khía cạnh ứng dụng trường nghĩa trong hoạt động giao tiếp”, cho rằng “trong mỗi trường nghĩa, các từ ngữ được phân bổ thành các từ ngữ trung tâm (hướng tâm) và các từ ngữ ngoại vi (hướng biên) Các từ ngữ trung tâm của trường nghĩa là các từ ngữ biểu thị các sự vật, hoạt động, tính chất, quan hệ v.v đặc trưng cho trường nghĩa đó Các từ ngữ ngoại vi là các từ ngữ biểu thị
Trang 19những sự vật, hoạt động, tính chất, quan hệ v.v không chỉ thuộc về trường nghĩa đó
mà còn có thể thuộc về trường nghĩa (những trường nghĩa) khác” Từ khẳng định này tác giả đã đưa ra mô hình giao thoa giữa hai trường và chỉ ra từ ngữ trung tâm cũng như ngoại vi và các khả năng khác của từ ngữ trong trường và giữa các trường với nhau, để từ đó phân tích các trường hợp cụ thể trong tiếng Việt Đặc biệt, từ ngữ khi sử dụng xuất hiện các kết hợp với các từ ngữ trung tâm của các trường khác nhằm tạo ra các hiệu quả tu từ trong diễn đạt, hiện tượng chuyển trường này là phổ biến, có tính hệ thống và khi từ được dùng chuyển trường thường kéo theo sự chuyển trường của các
1.1.2 Những nghiên cứu về ngữ dụng
1.1.2.1 Nghiên cứu nước ngoài
Dụng học hay Ngữ dụng học (pragmatics), là một chuyên ngành thuộc ngôn
ngữ học, nghiên cứu về sự đóng góp của bối cảnh tới nghĩa Ngữ dụng học bao hàm cả
lý thuyết hành động ngôn từ, hàm ngôn hội thoại, tương tác lời nói và cả những cách tiếp cận khác tới hành động ngôn từ Ngữ dụng học nghiên cứu về cách thức chuyển tải nghĩa qua cấu trúc, qua sự tri nhận ngôn ngữ của các bên tham thoại, và qua ngữ cảnh của phát ngôn Trên thế giới, ngữ dụng học được quan tâm từ thời Hy Lạp cổ đại Aristotles đã nhấn mạnh đến việc vận dụng từ ngữ trong những tương tác thực tế để đạt được hiệu quả giao tiếp Nhưng phải đến những năm 1960, ngữ dụng học mới phát
triển mạnh mẽ, khởi đầu bằng sự ra đời của Lý thuyết hành động ngôn từ (speech act)
mà tác giả là J.L Austin và J.Searle Từ đó đến nay, ngữ dụng học đã góp phần lớn trong việc mở rộng phạm vi quan tâm của ngôn ngữ học, bao quát đến từng lời nói, từng tình huống giao tiếp cụ thể của con người
Người khởi xướng lý thuyết hành động ngôn từ (HĐNT) (Speech act theory) - một lí thuyết đặt nền móng cho ngữ dụng học chính là nhà triết học J L Austin với
Trang 20công trình nổi tiếng được công bố sau khi ông qua đời “How to do things with words” (Austin,1962) Ngay từ trang đầu tiên, Austin đã nêu ra chủ đề và mục tiêu của công
trình nghiên cứu của mình là nói tức là làm hay nói tức là hành động Lý thuyết về bản
chất hành động của ngôn ngữ trong công trình của Austin đã làm thay đổi hẳn quan niệm tĩnh trạng về ngôn ngữ và lời nói theo quan điểm của F de Saussure Nói đến các nhà nghiên cứu kế thừa và phát triển lý thuyết HĐNT của Austin, trước hết phải kể đến J Searle với công trình “Speech acts” (Các HĐNT, J Searle, 1969) Khi thực hiện một phát ngôn trong một tình huống giao tiếp cụ thể, qua cung cách phát ngôn và cấu trúc của nó, người nói đã thực hiện những HĐNT nhất định và người nghe cảm nhận được điều này Có hiện tượng đó xảy ra là do các HĐNT mang tính xã hội, được ước chế bởi xã hội (như trích dẫn ở Nguyễn Đức Dân, 1998, tr.220)
Về lý thuyết hội thoại (Conversation theory), hiệu lực giao tiếp của ngữ dụng học được trình bày trong công trình nổi tiếng của H P Grice là Lô gích và Hội thoại (Logic and Conversation,1967) Trong công trình này, ông đã đi tới một phát hiện rất quan trọng, đồng thời đưa ngành ngữ dụng học phát triển sang một giai đoạn mới
Grice là người đầu tiên nêu ra nguyên lý cộng tác hội thoại (cooperative principle) Nguyên lý này gồm có một nguyên lý khái quát và 4 phương châm (hay 4
nguyên tắc nhỏ) Nguyên lý khái quát được phát biểu như sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của mình ở giai đoạn mà cuộc hội thoại được xem xét đúng như mục đích hay phương hướng mà cuộc hội thoại đòi hỏi và mình đã chấp nhận tham gia” Còn 4 phương châm mà Grice đã đề xướng là phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức (như trích dẫn ở Nguyễn Đức Dân,
1998, tr.130)
1.1.2.2 Nghiên cứu trong nước
Ngữ dụng học được nhiều người biết đến thông qua những công trình tiêu biểu
như Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân (tập 1, 1998), Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đại cương Ngôn ngữ học của Đỗ Hữu Châu (tập hai, Ngữ dụng học, (2003), Giáo trình ngữ dụng học của Đỗ Thị Kim Liên (2005) và một số công
trình khác
Trang 21Trong Ngữ dụng học (tập 1, 1998), Nguyễn Đức Dân đã giới thiệu nguyên lý
lịch sự và giao tiếp dựa trên quan điểm về thể diện của P Brown và S Levinson Bên cạnh đó, tác giả còn bàn luận về vấn đề chưa thoả đáng trong quan niệm của G Leech,
lý thuyết về giao tiếp ngôn ngữ cũng được trình bày một cách khái quát trong công trình này thông qua việc kết hợp lý thuyết với các ví dụ cụ thể trích dẫn từ các tác phẩm văn học
Dụng học Việt ngữ (2000) của Nguyễn Thiện Giáp đã giới thiệu một số khái
niệm dụng học như: ngữ cảnh và ý nghĩa, lý thuyết hội thoại, lịch sự và giao tiếp, nguyên tắc hợp tác và hàm ý hội thoại…với sự phân tích và minh họa trên các dẫn liệu Việt ngữ một cách ngắn gọn, dễ hiểu
Đỗ Hữu Châu với công trình Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Ngữ dụng học
(2003), đã giới thiệu đầy đủ, cụ thể các quan điểm và lý thuyết hội thoại trong giao tiếp Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu bổ sung phép lịch sự của R Lakoff, G Leech, P Brown và S Levinson Ông đã đưa ra một hướng tiếp cận mới, với những khám phá mới trên bình diện dụng học đối với tiếng Việt, nhiều vấn đề lý thuyết về dụng học được trình bày một cách hệ thống, đầy đủ
Đỗ Thị Kim Liên cũng đã viết một số giáo trình về dụng học như Ngữ nghĩa lời hội thoại (1999), Giáo trình ngữ dụng học (2005), Ngôn ngữ học đại cương (2013)
Trong các công trình này, tác giả không chỉ khái quát lý thuyết dụng học một cách có
hệ thống mà còn phân tích sâu sắc những dẫn chứng được trích dẫn từ các tác phẩm văn học, điện ảnh, báo chí và ngôn ngữ hội thoại trong đời sống hàng ngày
1.1.3 Những nghiên cứu về ngôn ngữ giao thông đường thủy
1.1.3.1 Nghiên cứu nước ngoài
Ngành hàng hải đã có mặt từ rất lâu trên thế giới, nhưng hệ thống ngôn ngữ qui chuẩn cho hàng hải chỉ mới xuất hiện gần đây Trước kia, những người đi biển chủ yếu
là thương gia và những người lính Họ đã ra khơi trên những chiếc thuyền buồm tự đóng, đến những vùng đất xa lạ để chinh phục hoặc buôn bán Dù đi đến đâu họ cũng dùng chính ngôn ngữ của họ, hoặc ngôn ngữ cơ thể Vấn đề họ quan tâm là tiền bạc, hàng hóa và đất đai Đến năm 1948, tiền thân của tổ chức Hàng hải thế giới ra đời Tổ chức này xác định, để giảm thiểu những tai nạn trên biển, hạn chế những bất đồng
Trang 22không đáng có trong thủy thủ đoàn, cần phải có một ngôn ngữ chung để giao tiếp giữa các thủy thủ không cùng quốc tịch, giao tiếp với tàu bạn và giao tiếp với cảng, với những trạm kiểm soát ven bờ Mặc dù vậy, mãi đến năm 1982, Tổ chức Hàng hải thế giới (International Maritime Organization - IMO) mới đưa ra những qui định về sử dụng ngôn ngữ chung cho tất cả các đoàn tàu lưu thông trên biển Đặc thù của nghề hàng hải là đa quốc gia, mỗi quốc gia có một ngôn ngữ và cách phát âm khác nhau Vì vậy, IMO đã đưa ra các từ, cụm từ tiêu chuẩn dùng trong liên lạc hàng hải, nhằm giảm thiểu sự nhầm lẫn trong việc nghe hiểu khi giao tiếp trong nội bộ tàu giữa các thủy thủ đến từ nhiều quốc gia, trong liên lạc giữa tàu với tàu, giữa tàu với các trạm bờ và ngược lại
Với tên gọi Standard Marine Communication Phrases - SMCP (tạm dịch là Các
cụm từ giao tiếp chuẩn trong hàng hải), đây là cuốn tài liệu được soạn thảo để giúp nâng cao sự an toàn trong hàng hải và điều khiển tàu, tiêu chuẩn hoá ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp khi hành trình trên biển, vào cảng, trong luồng lưu thông, ở cảng
và ở trên tàu Những cụm từ này bao gồm cả lĩnh vực thông tin liên lạc về an toàn trên biển, đáp ứng được yêu cầu của Công ước quốc tế 1978 về tiêu chuẩn huấn luyện cấp bằng và trực ca cho người đi biển (STCW-1978), có sửa đổi bổ sung về liên lạc đàm thoại SMCP chia làm 4 phần: ngôn ngữ tổng quát, thuật ngữ, những cụm từ liên lạc với bên ngoài tàu và những cụm từ liên lạc trong nội bộ tàu Ngay lập tức, nó đã trở thành cẩm nang cho mỗi đoàn tàu, mỗi thủy thủ, và được dùng làm tài liệu giảng dạy cho các cơ sở đào tạo nhân lực ngành hàng hải trên gần khắp thế giới
Từ năm 2008 trở lại đây đã có thêm một số bài báo, luận văn nghiên cứu về ngôn ngữ GTĐT, đó là:
i) Simon Jonathon Isserlis (2008), The language of the sea: A corpus driven examination of the influence of Britain’s Maritime tradition on standard English, Luận
văn thạc sĩ, Đại học Birmingham;
ii) Ana Bocanegra (2011), The Language of Seafaring: Standardized Conventions and Discursive Features in Speech Communications, Tạp chí Đại học
Murcia;
Trang 23iii) Laura Cignoni & Rita Marinelli, (2012), Learning the ropes: A software tool for CLIL courses in Maritime school and institution, Kỷ yếu Hội thảo Proceedings of Edulearn Conference, từ 2 - 4/7/2012, Barcelona, Tây Ban Nha;
iv) Se-Eun Jhang & Sung-Min Lee (đại học Hàng Hải và Đại Dương Hàn Quốc), (2013), Visualization of Collocational Networks: Maritime English Keywords, Tạp chí Language Research 49.3, 781-802;
v) Dr Sanela Kovačević Pejaković, (2015), Maritime English Language - General Features, Tạp chí European Journal of Language and Literature Studies;
vi) Milena Dževerdanović-Pejović, 2017, Verbs in the standard Marine Communication Phrases as a sublanguage of Maritime English, Tạp chí Journal of Interdisciplinary Approaches
Như vậy, mặc dù đã và đang được sử dụng rộng rãi, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm trường nghĩa và đặc điểm ngữ dụng của ngôn ngữ GTĐT
1.1.3.2 Nghiên cứu trong nước
Về đường thủy nội địa: Việt Nam là một quốc gia có bờ biển dài 3.260km, và
có hệ thống sông ngòi rộng khắp từ Bắc vào Nam, trong đó, 191 tuyến sông, kênh với tổng chiều dài 67.346 km được xem là tuyến đường sông quốc gia Người Việt từ xa xưa đã biết dựa vào đặc điểm địa lí này để làm ăn, sinh sống Cũng giống như những nhà hàng hải đầu tiên trên thế giới, dù làm nghề trên chiếc thuyền câu hay những thương thuyền lớn, họ luôn sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, ngôn ngữ vùng miền Cục Đường sông Việt Nam ra đời, là cơ quan quản lí chung các tuyến sông ngòi, kênh rạch trên cả nước Một trong những người lãnh đạo của cơ quan này đã cùng với ê kíp của mình nghiên cứu về ngôn ngữ được sử dụng trong các làng chài, trên các phương tiện làm nghề sông, nghề biển, sau đó tìm ra những từ tiếng Anh tương đương, hoặc giải nghĩa bằng tiếng Anh Công trình “Từ điển thuật ngữ giao thông đường thủy nội địa”
do tác giả Nguyễn Xuân Sơn chủ biên, xuất bản năm 2005, vẫn là một công trình có
giá trị tính đến thời điểm hiện tại Từ điển Thuật ngữ Đường thủy nội địa Việt Nam lần
đầu tiên được biên soạn gồm có khoảng 4.000 danh mục thuật ngữ có định nghĩa và chuyển ngữ tiếng Anh Trong danh mục thuật ngữ của từ điển có khoảng 10% là những thuật ngữ đại cương về khoa học tự nhiên và nhân văn được lựa chọn, không
Trang 24thể bỏ qua như thủy động học, thủy tĩnh học, doanh nghiệp, thiên văn, luật pháp, tài nguyên Khoảng 20% số thuật ngữ liên quan nữa là kĩ thuật cơ sở của chuyên ngành đường thủy như: khí hậu, thủy văn, môi trường, công nghệ, đóng tàu, xây dựng bến cảng, công trình thủy, vật liệu Phần chủ yếu còn lại là thuật ngữ chuyên ngành đường thủy nội địa như: phương tiện giao thông, bến cảng, tàu, thuyền, sông nước, vận tải, xếp dỡ, hàng hóa, báo hiệu giao thông, ngôn ngữ giao tiếp, v.v
Về hàng hải, có nhiều cuốn từ điển của các tác giả như Nguyễn Văn Phòng, Vũ Phi Hoàng đã được xuất bản và sử dụng rộng rãi, trong đó phải kể đến Từ điển Hàng hải (Martime dictionary) Anh-Việt và Việt-Anh của tác giả Cung Kim Tiến, được Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2004 Cuốn Từ điển Hàng hải Anh-Việt và Việt-Anh gồm khoảng 2.500 thuật ngữ phần Anh-Việt và 18.000 thuật ngữ phần Việt-Anh thuộc
các lĩnh vực liên quan đến biển như hải dương học, khí tượng biển, thủy văn, luật biển, công nghệ đóng và chữa tàu, v.v
Năm 2016, Phạm Văn Đôn, giảng viên trường Đại học hàng Hải Hải Phòng
cũng đã hoàn thành luận án mang tên “Đặc điểm ngôn ngữ điện tín Hàng hải tiếng Anh” Luận án này có liên quan đến GTĐT, nhưng cũng chỉ dừng lại ở góc độ điện tín
1.2 Cơ sở lý thuyết
Đề tài luận án sử dụng các cơ sở lý thuyết về trường nghĩa, định danh, thuật ngữ, dụng học và hội thoại làm tiền đề cho nghiên cứu của luận án Do đó, chúng tôi
sẽ trình bày những quan điểm chính yếu của các tác giả nước ngoài và trong nước về
năm mảng lý thuyết này
1.2.1 Lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa
1.2.1.1 Khái niệm về trường từ vựng - ngữ nghĩa
Mỗi hệ thống ngữ nghĩa do một tập hợp các từ biểu hiện được gọi là một trường nghĩa, trong đó các từ có liên quan đến nhau về ngữ nghĩa hay có cùng một phạm trù ngữ nghĩa Đối với quan hệ ngữ nghĩa trong trường nghĩa thì “chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường” (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr.170)
Như vậy, mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ với nhau phải được xem xét trong
Trang 25hệ thống trường nghĩa Các nét nghĩa trong trường có các mối quan hệ với nhau, đan xen và quy định lẫn nhau Các yếu tố cấu thành trường có những nét nghĩa chung (ngoài nét nghĩa khác biệt) Ngược lại, mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường với nhau phải được xem xét trong hệ thống trường lớn hơn Điều này càng khẳng định tính hệ thống trong ngữ nghĩa của ngôn ngữ
1.2.1.2 Đặc điểm của trường nghĩa
Trường nghĩa có tính hệ thống, tính tầng bậc, tính giao thoa, hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa Trong luận án này, chúng tôi không đề cập đến hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, mà chỉ lựa chọn những đặc điểm có liên quan đến các vấn đề luận án cần giải quyết
Cùng với tính hệ thống, trường nghĩa còn mang tính tầng bậc (cấp loại, tôn ti),
nghĩa là một trường có thể phân cấp ra thành các trường nhỏ hơn Trong đó, có những trường có quan hệ trái ngược nhau, có những trường có quan hệ bình đẳng đối với nhau và có những trường có quan hệ đan xen, lồng vào nhau Ngược lại, có những trường có quan hệ tôn ti, cấp bậc đối với nhau Một trường lớn có thể bao hàm trong
nó nhiều trường nhỏ Trường cấp trên chi phối các trường cấp dưới Nói cách khác, các trường có thể độc lập hoàn toàn, có thể giao nhau và cũng có thể bao chứa lẫn nhau, tùy theo điều kiện chúng có hay không có những từ thuộc vùng ngoại vi đối với
nhau Ví dụ: trường Nhân lực hoạt động GTĐT bao gồm các tiểu trường Nhân lực hoạt động trên bờ và Nhân lực hoạt động trên phương tiện Hai tiểu trường này lại bao gồm
những nhóm từ nhỏ hơn, và tiếp tục phân chia như vậy cho đến khi còn lại từng nhóm
từ hoặc từng từ cụ thể Dựa vào đặc tính tầng bậc mà chúng tôi đã xác lập được các trường cấp dưới trong lòng các trường cấp trên cũng như các trường đồng cấp với nhau, tạo ra các tầng bậc song song nhau, đan xen lẫn nhau và lồng ghép vào nhau
Trường nghĩa có tính giao thoa Các từ không đơn thuần có một nghĩa mà trong
lòng mỗi từ có thể có nhiều nghĩa Mỗi nghĩa có thể thuộc một trường, miền khác nhau tạo ra hiện tượng giao thoa trong các trường Có rất ít những từ chỉ thuộc một trường nghĩa Ngoài những từ trung tâm, điển hình của trường còn các từ nằm vùng ngoại vi Các từ này không chỉ nằm ở một trường mà có thể nằm ở những trường khác nhau Đây chính là sự giao thoa giữa các trường với nhau Chính vì đặc điểm này mà trong
Trang 26phần phân xuất các từ vào các tiểu trường của chúng tôi có xuất hiện những hiện tượng giao thoa giữa các tiểu trường, ví dụ như từ “lái” vừa nằm trong tiểu trường thao tác nghiệp vụ, vừa nằm trong tiểu trường cấu trúc phương tiện
1.2.1.3 Phân loại trường nghĩa
Đỗ Hữu Châu đã phân chia trường nghĩa thành hai loại: trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) Căn cứ vào kiểu loại ý nghĩa của từ để phân ra trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm trong trường nghĩa trực tuyến Ngoài ra còn căn cứ vào đặc trưng liên tưởng để xác lập trường nghĩa liên tưởng (Đỗ Hữu Châu, 2007, tr.170)
Trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ có liên quan đến nhau về nghĩa
biểu vật hoặc có sự đồng nhất với nhau về một phạm trù nghĩa (biểu vật) Các trường biểu vật khác nhau về số lượng, cách thức tổ chức các đơn vị, miền phân bố ở từng ngôn ngữ Khi từ có nhiều nghĩa biểu vật thì một từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau Các trường đó có thể thẩm thấu vào nhau, giao thoa với nhau khi một số từ của trường này cùng nằm trong trường kia Quan hệ của các từ đối với một trường biểu vật không giống nhau Có những từ gắn rất chặt với trường (những từ, ngữ điển hình)
có những từ, ngữ gắn lỏng lẻo hơn Căn cứ vào tính chất, quan hệ giữa từ với trường, chúng ta hiểu rằng có một lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường, gồm những từ điển hình cho nó Ngoài cái lõi của trường là các lớp từ khác mỗi lúc một đi xa khỏi lõi, liên hệ với trường mờ nhạt đi
Ví dụ: trường nghĩa biểu vật “tàu” có thể bao gồm những từ điển hình như:
Cấu tạo của tàu: mũi, mạn, boong, thượng tầng, hầm hàng…
Chất liệu của tàu: sắt, tôn, gỗ, bê tông cốt thép…
Trạng thái của tàu: đằm, không tải, chúi, ăn lái, rê neo…
Trong luận án này, chúng tôi chủ yếu phân tích các trường nghĩa ở phương diện trường nghĩa biểu vật
Trường nghĩa biểu niệm là một tập hợp các từ có cùng một cấu trúc biểu niệm
Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có những miền, những mật độ khác nhau Do từ có nhiều nghĩa biểu niệm nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm khác nhau Các trường
Trang 27biểu niệm giao thoa, thẩm thấu vào nhau, có lõi trung tâm là các từ điển hình và các lớp ngoại vi là các từ kém điển hình Để xác lập một trường biểu niệm chúng ta dựa vào một cấu trúc nghĩa biểu niệm làm gốc đồng nhất nào đó trong nghĩa biểu niệm
Ví dụ: Trường biểu niệm Thao tác nghiệp vụ có thể phân lập được các trường
nhỏ như:
Thao tác điều khiển phương tiện: chạy lùi, cập mạn, thẳng lái…
Thao tác làm dây: xông dây, quăng dây, bắt dây chéo…
Thao tác vận hành máy: chuẩn bị máy, tăng vòng tua, nhóm, giảm nửa máy…
Sự phân lập thành trường nghĩa biểu vật hay trường nghĩa biểu niệm dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Ý nghĩa của từ sẽ được hiểu sâu sắc hơn nhờ sự định vị từng từ trong trường nghĩa thích hợp
Trường nghĩa tuyến tính, còn gọi là trường nghĩa ngang, trước hết xuất phát từ
tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ, các tín hiệu phải lần lượt kế tiếp thành một chuỗi mà không thể đồng thời xuất hiện, do đó quan hệ tuyến tính còn gọi là quan hệ hàng ngang hay quan hệ ngữ đoạn Muốn có quan hệ ngữ đoạn với nhau, các yếu tố phải cùng thực hiện một chức năng về ngôn ngữ hoặc về nội dung giao tiếp Thông qua các kết hợp ngữ đoạn, các từ sẽ bộc lộ các ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp của chúng
Để lập một trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những
từ có mối quan hệ thiết yếu về nghĩa với từ gốc đó và có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính chấp nhận được trong ngôn ngữ
Ví dụ: trường tuyến tính của “luồng” là tập hợp tất cả những từ có thể kết hợp ở
trước và sau nó để tạo nên các sản phẩm lời nói: luồng tàu chạy, luồng xa bờ, dòng chảy phủ luồng, luồng chính, tim luồng, …
Cùng với các trường nghĩa dọc, trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ
Trường liên tưởng là tập hợp các từ biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động,
tính chất…có quan hệ liên tưởng với một từ trung tâm Như vậy, mỗi từ đều có thể trở thành từ trung tâm của một trường liên tưởng Trường liên tưởng có tính chủ quan cao nên không ổn định Trong luận án này, chúng tôi chủ yếu tập hợp, phân tích những từ,
Trang 28ngữ mang nghĩa tường minh, chưa đặt vấn đề nghiên cứu sâu về trường liên tưởng
1.2.1.4 Tiêu chí xác lập trường nghĩa
Phân lập từ vựng của ngôn ngữ thành các trường nghĩa là để phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của từ vựng về mặt ngữ nghĩa, từ đó giải thích các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp Các trường nghĩa là những sự kiện ngôn ngữ, nên tiêu chí
để phân lập chúng phải là tiêu chí ngôn ngữ Không thể xuất phát từ phạm vi của sự vật, hiện tượng ngoài ngôn ngữ và cũng không thể xuất phát từ phạm vi của khái niệm
có trong tư duy Từ cơ sở ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm, cơ sở để phân lập trường (trực tuyến) là sự tương đồng nào đó trong ý nghĩa biểu vật và sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu niệm Do đó, cơ sở để phân lập trường là ý nghĩa của từ, tức
là những ý nghĩa ngôn ngữ
Ranh giới giữa các trường mang tính tương đối, vì thế một từ có thể có mặt ở một số trường Để xác lập được trường, trước tiên chúng ta phải tìm ra được các trường hợp điển hình, nghĩa là chỉ lấy những trường hợp mang đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa làm cơ sở Những từ điển hình cho trường lập thành tâm của trường Còn những từ có thể đi vào một số trường lập thành vùng ngoại vi của các trường Dựa vào các lớp nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm, ta xác lập được trường biểu vật và trường biểu niệm
Cơ sở để lập trường biểu vật phải xuất phát từ ý nghĩa biểu vật của từ Tất cả các ý nghĩa biểu vật nào cùng có chung một phạm trù nghĩa (biểu vật) thì có thể được đưa vào một trường Tiêu chí để xác lập các trường biểu vật chỉ là sự đồng nhất ở một phạm trù nghĩa (biểu vật) Các nghĩa phạm trù khác sẽ được sử dụng để phân lập các trường lớn thành các trường bộ phận theo các cấp loại khác nhau Chúng ta chọn các danh từ làm gốc Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là các tên gọi của các phạm trù biểu vật như người, động vật, thực vật, khí tượng,…Các danh từ này
có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những ý nghĩa cụ thể, thu hẹp nghĩa của từ
Ví dụ: chúng ta lấy danh từ “biển” làm trung tâm để tập hợp các từ tạo nên
Trang 29trường biểu vật: đại dương, đảo, nước mặn, tàu, thuyền, hải âu, hải tặc,…Đến lượt mình, từ đảo lại là tâm điểm tạo nên một tiểu trường nghĩa gồm các từ: quần đảo, bán đảo, hoang đảo, đảo san hô,…
Luận án của chúng tôi tập hợp bảy trường từ vựng mang nghĩa biểu vật lớn, tất
cả các từ có chung một phạm trù nghĩa (biểu vật) về GTĐT
Khi phân lập các trường biểu niệm, chúng ta có thể dựa trên các nguyên tắc phân lập các trường biểu vật, hoặc có thể phân lập theo sự đồng nhất của toàn bộ cấu trúc biểu niệm gồm những nét nghĩa phạm trù Để xác lập trường nghĩa biểu niệm ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc, trên cơ sở đó thu thập các từ có chung cấu trúc biểu niệm gốc đó
Ví dụ: Trường Nghiệp vụ hàng hóa có cấu trúc biểu niệm là hoạt động của con
người tác động vào hàng hóa, tạo nên các trường biểu niệm sau:
+ Tác động bằng tay: chằng, móc, buộc, gói, chèn, lót, …
+ Tác động bằng thiết bị: xếp, dỡ, vận chuyển, chuyển tải, ,…
+ Tác động bằng tư duy: tính toán, chi phí, phân loại,…
Cơ sở để xác lập trường nghĩa tuyến tính là mối quan hệ trên trục ngữ đoạn của các đơn vị ngôn ngữ Để lập một trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có quan hệ với từ gốc đó về nghĩa và có thể kết hợp với từ gốc đó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản
Ví dụ: Từ “mạn” tạo nên một trường nghĩa tuyến tính: mạn tàu, mạn trái, mạn phải, áp mạn, qua mạn phải 20 độ, cặp cầu bên mạn trái,…
Từ những cơ sở lý thuyết trên, có thể xác định được 3 tiêu chí để phân lập trường nghĩa như sau
Tiêu chí thứ nhất: phải dựa vào ý nghĩa của ngôn ngữ để xác lập trường nghĩa
Xét một mặt nào đó, nghĩa của ngôn ngữ chính là ý nghĩa của từ Như vậy, là dựa vào các ý nghĩa của từ làm cơ sở để tập hợp các từ thành trường
Tiêu chí thứ hai: phải tìm được từ điển hình (trung tâm) chỉ mang các đặc trưng
Trang 30từ vựng - ngữ nghĩa của trường đó
Tiêu chí thứ ba: phải dựa vào ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và sự đồng
nhất ở những nghĩa phạm trù (biểu vật và biểu niệm) của từ để xác lập trường biểu vật
và trường biểu niệm; dựa vào ngữ nghĩa của từ trung tâm và các từ kết hợp theo trục ngang để xác lập trường tuyến tính
1.2.1.5 Hiện tượng chuyển trường
Các đơn vị ngôn ngữ trong hành chức luôn ở trạng thái vận động, biến đổi và chuyển hóa Ban đầu, những biến đổi đó xuất phát từ những cá nhân đơn lẻ, qua thời gian được xã hội thừa nhận và sử dụng rộng rãi Vấn đề tính nhiều nghĩa và sự chuyển biến ý nghĩa của từ cũng gắn liền với vấn đề trường nghĩa Có những từ mang nhiều nghĩa biểu vật nên chúng có thể nằm trong nhiều trường biểu vật, hoặc trong nhiều tiểu trường, tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của chúng Sự chuyển nghĩa của từ thường kéo theo sự chuyển trường nghĩa Những từ cùng một trường nghĩa thường có hướng chuyển nghĩa giống nhau Khi các từ này xuất hiện trong ngữ cảnh với nghĩa mới, chúng vẫn giữ được một sắc thái nghĩa nào đó của nghĩa gốc, làm cho các từ thêm phong phú về nội dung biểu đạt Hiện tượng này không những góp phần khẳng định tính đa trị trong ngôn ngữ, mà còn làm cho ngôn ngữ trở nên hàm súc, linh hoạt hơn, đồng thời khẳng định việc lĩnh hội ngôn ngữ là cả một quá trình tư duy phức hợp mang sắc thái riêng của văn hóa tộc người, tư duy và cả quy luật của ngôn ngữ
Ví dụ: Từ “chân” có nghĩa gốc chỉ bộ phận của cơ thể người hay động vật, ở vị trí dưới cùng, có chức năng giúp cho con người đi lại được Trong hoạt động hành chức, từ “chân” chuyển nghĩa và chuyển sang các trường khác:
+ Chuyển sang trường nghĩa chỉ đồ vật: chân bàn, chân giường, chân vịt,… + Chuyển sang trường nghĩa chỉ thiên nhiên: chân mây, chân núi, chân trời,… + Chuyển sang trường nghĩa chỉ vị trí việc làm: có chân trong Ban quản trị, chân phục vụ,…
Thế nhưng, trong trường hợp từ “chân” vẫn với nghĩa gốc ban đầu, nhưng được
chuyển nghĩa để chỉ các bộ phận khác của cơ thể người như chân tóc, chân mày, thì
không xảy ra hiện tượng chuyển trường
Trang 311.2.2 Lý thyết về định danh
1.2.2.1 Khái niệm “định danh”
Thuật ngữ định danh được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo quan niệm truyền thống phổ biến của Ngôn ngữ học thì: định danh là sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm (significat) phản ánh cái đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của đối tượng , nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ có nghĩa và thực hiện được chức năng trong giao tiếp ngôn từ
Định danh là một trong những chức năng của các đơn vị từ ngữ của ngôn ngữ Hiểu một cách đơn giản nhất thì đây chính là chức năng gọi tên: gọi tên những đối
tượng, thuộc tính hoặc những hành động… Yêu cầu của một tên gọi là: i) Phải khái
quát, trừu tượng, phải mất khả năng gợi đến những đặc điểm, những thuộc tính riêng rẽ tạo thành đối tượng vì nó là sản phẩm của tư duy trừu tượng Về mặt ngữ nghĩa, nó phải
tách hẳn với những dấu vết của giai đoạn cảm tính; ii) Các tên gọi có tác dụng phân biệt
đối tượng này với đối tượng khác trong cùng một loại hay phân biệt các loại nhỏ trong cùng một loại lớn Sự phân biệt này phải dứt khoát, có nghĩa là khi đã có tên gọi thì sự vật này, loại nhỏ này cũng trở thành độc lập với nhau, riêng rẽ với nhau Nhờ có tên gọi mà sự vật có đời sống độc lập trong tư duy (Chafe W.L, 1998, tr.190)
Tất cả các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ đều có chức năng biểu nghĩa nhưng phải là một đơn vị cấp độ từ mới có thể định danh Nhưng cũng chỉ có các thực từ mới
có chức năng định danh, còn các thán từ, liên từ, giới từ… không có chức năng này (Chafe W.L, 1998, tr.59)
1.2.2.2 Khái niệm “đơn vị định danh”
Khi xem xét các đơn vị của ngôn ngữ, lí thuyết định danh phân biệt các loại đơn
vị định danh khác nhau Căn cứ vào số lượng đơn vị có nghĩa tham gia vào đơn vị định
danh thì có sự phân biệt: định danh đơn giản (định danh tổng hợp), là kiểu định danh được tạo bởi một đơn vị có nghĩa; định danh phức hợp (định danh phân tích, định danh miêu tả), là kiểu định danh được tạo bởi từ hai đơn vị có nghĩa trở lên
Từ góc độ ngữ nghĩa có thể phân biệt ra hai loại định danh, đó là định danh gốc
và định danh phái sinh
Định danh gốc (định danh bậc một): là kiểu định danh được tạo nên bởi những
đơn vị tối giản về mặt hình thái cấu trúc, mang nghĩa đen, được dùng làm cơ sở để tạo
ra các đơn vị định danh khác Hồ Lê gọi đây là định danh phi liên kết hiện thực: “gọi tên những mẩu nhỏ nhất trong hiện thực mà một cộng đồng ngôn ngữ quan niệm đã chia cắt ra được và nắm bắt được từ hiện thực” (Hồ Lê, 2003, tr.102) Ví dụ như:
Trang 32vườn, hoa, cây, trái, đất,…
Định danh phái sinh (định danh bậc hai): là kiểu định danh được tạo nên từ
những đơn vị định danh có hình thái cấu trúc phức tạp hơn đơn vị gốc, mang nghĩa biểu trưng hóa (dưới hình thức ẩn dụ hay hoán dụ) (Hồ Lê, 2003, tr.8) Hồ Lê gọi là
đây là định danh liên kết hiện thực: “Để phản ánh hiện thực khách quan một cách đầy
đủ, không chỉ gọi tên từng mẩu hiện thực nhỏ nhất mà còn phải gọi tên những tập hợp gồm nhiều mẩu hiện thực liên kết lại” (Hồ Lê, 2003, tr.102) Ví dụ: nợ khất lại, nhà phân tích, tăng giá trị, làng nước, đất đai, cây lá, nói vã, cười khẩy…
Trong luận án, chúng tôi sử dụng khái niệm đơn vị định danh bậc một và đơn vị định danh bậc hai để tập hợp từ và thống kê, miêu tả
1.2.2.3 Cơ chế định danh của đơn vị định danh bậc hai
Các đơn vị định danh bậc hai được tạo nên theo những cơ chế nhất định Theo
tác giả Hoàng Văn Hành:“muốn xác định rõ cơ chế của nó thì cần phải làm rõ hai vấn
đề cốt yếu là: a) Có những yếu tố nào tham gia vào cơ chế này và tư cách của mỗi yếu
tố ra sao? b) Mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố đó như thế nào mà khiến ta có thể coi đó là một cơ chế? (Hoàng Văn Hành, 1988, tr.26)
Sự phân tích cứ liệu trong các ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt là tiêu biểu) cho phép khẳng định rằng, để một cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc hai có thể vận hành được một cách hiệu quả thì cần những điều kiện sau:
Một là, phải có một hệ thống những đơn vị làm yếu tố gốc (nguyên tố)
Hai là, phải có một hệ thống những yếu tố có giá trị hình thái, nghĩa là có thể
dùng làm phương tiện để tạo lập những đơn vị định danh bậc hai
Ba là, để có đơn vị định danh bậc hai, điều cốt yếu là có một hệ quy tắc vận
hành để sử dụng các yếu tố làm phương tiện mà tác động vào nguyên tố theo một cách nhất định Cơ chế vừa nêu trên thuộc về hệ thống của ngôn ngữ Nó có tính chất tiềm năng, xét về mặt lí thuyết Những sản phẩm của cơ chế này trở thành đơn vị định danh được ghi nhận vào vốn từ vựng của ngôn ngữ hay không còn phụ thuộc vào nhân tố thứ tư nữa, một nhân tố không kém phần quan trọng, nhân tố xã hội Đó chính là tính đắc dụng hay không đắc dụng của các đơn vị định danh mới được sản sinh đối với cộng đồng bản ngữ (Hoàng Văn Hành, 1988, tr.26-28)
Như vậy, có hai con đường để tạo ra một đơn vị định danh bậc hai, đó là: ngữ nghĩa và hình thái cú pháp
Theo con đường ngữ nghĩa, ta có thể nhân khả năng định danh của đơn vị tổng
hợp lên nhiều lần Một từ cùng với một vỏ ngữ âm phát triển ra bao nhiêu nghĩa sẽ có
Trang 33bấy nhiêu đơn vị định danh Mỗi một biến thể từ vựng - ngữ nghĩa sẽ tương ứng với
một đơn vị định danh Ví dụ: chân trong chân tay là đơn vị định danh bậc một, nhưng chân trong có chân trong ban quản trị lại là đơn vị định danh bậc hai được tạo ra bằng
con đường ngữ nghĩa
Theo con đường hình thái cú pháp, người ta có thể tạo ra hàng loạt các đơn vị
định danh bậc hai với các đặc trưng khác nhau về cấu trúc và ngữ nghĩa Theo cách
này thường có hai quá trình: Quá trình thứ nhất là quá trình tạo từ với các phương thức thường gặp là: Phương thức suy phỏng: kiểu như bóp - móp, dìm - chìm…; Phương thức láy: kiểu như bé - be bé, nhỏ - nho nhỏ, mảnh - mảnh mai…; Phương
thức ghép: trong phương thức này có hai cách: ghép đẳng lập (hội nghĩa, hợp nghĩa)
(như: giày dép, quần áo, đi đứng…) và ghép chính phụ (phân nghĩa, phụ nghĩa) (như
áo tắm, cười ruồi, nói đểu…) và phương thức phụ gia (tuy nhiên tiếng Việt không sử dụng phương thức này); Quá trình thứ hai để tạo các đơn vị định danh bậc hai bằng
con đường cú pháp là quá trình từ vựng hóa những tổ hợp Đó là quá trình chuyển hóa những tổ hợp thành những đơn vị mang tính thành ngữ Tính thành ngữ của các đơn vị này biểu hiện ở tính bền vững về mặt hình thái cấu trúc và tính bóng bẩy về mặt ngữ
nghĩa với những mức độ khác nhau Có hai loại tổ hợp thường được từ vựng hóa: “tổ hợp tự do và tổ hợp cố định” (Hoàng Văn Hành, 1988, tr.28-29)
Định danh bậc hai theo con đường hình thái cú pháp bằng phương thức ghép chính phụ (phụ nghĩa) (dù là tạo từ hay từ vựng hóa tổ hợp tự do) cũng chính là gắn
việc khu biệt tên gọi với việc phân loại Quá trình này gồm hai bước: “quy loại khái niệm của đối tượng được định danh và lựa chọn đặc trưng để định danh” (Hoàng Văn
Hành, 1988, tr.30-43)
1.2.3 Lý thuyết thuật ngữ
1.2.3.1 Khái niệm “thuật ngữ”
Mỗi nhà nghiên cứu tiếp cận thuật ngữ từ những góc nhìn khác nhau, nên cũng
có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ Golovin B.N., trong bài báo năm 1970, đã đưa ra 7 định nghĩa khác nhau về thuật ngữ Danilenko V.P (1997) đã đưa ra 19 định nghĩa trong cuốn sách của mình và nói rằng chưa hết còn có thể kể thêm nữa (tr.5)
Thậm chí Reformatxki A.A trong “Thế nào là thuật ngữ và hệ thuật ngữ” cho rằng có
thể viết hẳn một cuốn sách về định nghĩa thế nào là thuật ngữ (tr.100) Superanskaja A.V (2007) còn tổng kết và nêu ra 7 cách định nghĩa của giới khoa học và ngôn ngữ học về thuật ngữ, đó là cách định nghĩa của triết học - nhận thức luận, logic, kí hiệu
Trang 34học, tin học, ngôn ngữ học, logic-ngôn ngữ học, thuật ngữ học Superanskaja (2007)
đã giải thích lí do có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ, là do: khi đó bộ môn thuật ngữ học chưa hình thành, chưa ổn định; thuật ngữ là đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau nên mỗi ngành nhấn mạnh một đặc điểm, hoặc đưa ra các cách tiếp cận riêng
Mặc dù có rất nhiều quan niệm về thuật ngữ, nhưng có thể nhận thấy ba xu hướng định nghĩa thuật ngữ cơ bản dưới đây
Xu hướng thứ nhất: Thuật ngữ có sự khác biệt với từ thông thường Moiseev A.I (1970) khẳng định:"Chính biên giới giữa thuật ngữ và phi thuật ngữ không nằm giữa các loại từ và cụm từ khác nhau mà nằm trong nội bộ mỗi từ và cụm từ định danh" (tr.10) Cùng quan niệm này Kapanadze L.A.cũng nhấn mạnh:"Thuật ngữ không gọi tên khái niệm như từ thông thường mà là khái niệm được gán cho nó dường như là gắn kèm theo nó cùng với định nghĩa" (Kapanadze L A., 1965, tr.4)
Xu hướng thứ hai: Thuật ngữ có những chức năng “đặc biệt" Vinokur G.O (1939) cho rằng: "Thuật ngữ - đấy không phải là những từ đặc biệt, mà chỉ là những từ
có chức năng đặc biệt" và đó là "chức năng gọi tên" (tr.4) Ông cũng cho rằng, bất cứ
từ nào cũng được cấu tạo để có vai trò là một thuật ngữ Quan niệm của Vinokur G.O cho thấy nền tảng của thuật ngữ chính là ngôn ngữ, cụ thể là các đơn vị từ vựng Tương tự, Gerd A.X (1968) trong định nghĩa của mình cũng nhấn mạnh chức năng
định nghĩa của thuật ngữ: "Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa" (tr.19)
Xu hướng thứ ba: Thuật ngữ có “ý nghĩa đặc biệt" trong quan hệ với khái niệm
Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Tu (1960) là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về thuật ngữ, trong đó ông chỉ rõ thuật ngữ không chỉ biểu thị khái niệm khoa học còn biểu thị cả
tên các sự vật: "Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học kĩ thuật, chính trị ngoại giao, nghệ thuật và có một ý nghĩa đặc biệt" (tr.176)
Trong nghiên cứu của mình, Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh thuật ngữ không chỉ biểu thị khái niệm khoa học mà thuật ngữ còn chỉ tên cả sự vật, hiện tượng khoa học:
"Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lý, ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao, v.v Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm, hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định" (Đỗ Hữu Châu, 1998, tr.367)
Trang 35Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khác (Lê Khả Kế, Hoàng Văn Hành (1983); Lưu Vân Lăng và Như Ý (1977); Dương Kỳ Đức (1981); Nguyễn Thiện Giáp (1985), Vương Toàn (1986) ) cũng đưa ra các định nghĩa về thuật ngữ Nhìn chung các định
nghĩa đều nhấn mạnh đến tính chính xác của khái niệm và đối tượng chuyên môn mà thuật ngữ biểu thị Chẳng hạn, Hoàng Văn Hành (1983) định nghĩa: "Thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ" Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: "Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định
là tên gọi chính xác của các khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của con người" (Nguyễn Thiện Giáp, 2010, tr.270)
Về khái quát, các nhà nghiên cứu đã xem xét “thuật ngữ” từ nhiều góc độ khác nhau như: vị trí, chức năng, hình thức, nội dung, phạm vi sử dụng Tuy nhiên, có hai nội dung quan trọng, mang tính đặc trưng bản chất của khái niệm“thuật ngữ”, đó là:
Về hình thức: thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ
Về ngữ nghĩa: thuật ngữ biểu thị chính xác các khái niệm hoặc đối tượng
chuyên môn của một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn nhất định
Hai nội dung cơ bản trên chính là tiêu chí để xác định thuật ngữ và phân biệt thuật ngữ với các đơn vị phi thuật ngữ
1.2.3.2 Vị trí của thuật ngữ trong ngôn ngữ
i/ Thuật ngữ - một bộ phận đáng kể của từ vựng
Theo cách nhìn của các nhà triết học - nhận thức luận, thuật ngữ được dùng như phương tiện chuyển tải các kết quả của quá trình nhận thức khoa học Nhờ có thuật ngữ mà con người ghi lại được các kết quả của nhận thức trong quá trình hoạt động của các nhà chuyên môn, đồng thời với chức năng ghi lại đó, nó còn có chức
năng khai mở tri thức mới (Danh từ chuyên khoa trong thuật ngữ, 1958, tr.5) Thuật
ngữ là những từ ngữ đặc biệt chủ yếu do con người tạo ra một cách có ý thức sâu sắc,
là sản phẩm của lao động trí tuệ bởi vì thuật ngữ ra đời cùng với với sự lao động sáng
tạo của đội ngữ trí thức "Thuật ngữ không chỉ hiểu đơn giản là từ và ngữ chuyên môn dùng trong khoa học kĩ thuật, công nghệ, dịch vụ mà đó là hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học, là tri thức khoa học công nghệ là trí tuệ dân tộc và nhân loại được chung đúc qua hình thức ngôn ngữ" (Kandelaki T L., tr.8)
Xét về mặt ngôn ngữ, thuật ngữ là các đơn vị thuộc về vốn từ vựng: "Thuật ngữ
là đơn vị từ vựng của một ngôn ngữ nhất định dùng cho những mục đích chuyên biệt,
Trang 36biểu đạt khái niệm chung-cụ thể hay trừu tượng của lý thuyết thuộc một lĩnh vực chuyên môn nhất định của các tri thức hay hoạt động" (Danh từ chuyên khoa trong
thuật ngữ, 1958, tr.10) Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và đội ngũ trí
thức, thuật ngữcũng ngày càng phát triển.“Thuật ngữ được hình thành và phát triển không ngừng cùng với sự phát triển của các ngành khoa học khác nhau trong xã hội Khoa học, kỹ thuật và công nghệ chính là cái nôi sản sinh ra từ mới cho bất kỳ một ngôn ngữ nào và rất nhiều từ ngữ mới này sẽ trở thành các thuật ngữ khoa học”
(Kandelaki T L., tr.94) Khi ngôn ngữ càng phát triển thì thuật ngữ cũng càng phát triển Thuật ngữ hiện nay trở thành một bộ phận rất lớn của từ vựng và chúng được nhìn nhận không phải chỉ là một lớp từ giống lớp từ địa phương, từ nghề nghiệp…như quan niệm trước kia, bởi vì so với các lớp từ này, thuật ngữ là bộ phận từ vựng rất lớn
và phát triển nhất trong hệ thống ngôn ngữ "Thuật ngữ chiếm một phần rất lớn trong lớp từ vựng của các ngôn ngữ hiện đại và chúng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển các ngôn ngữ đó" (Kandelaki T L.) Theo tổng kết của một số nhà nghiên cứu, hầu hết các từ ngữ mới xuất hiện trong từ điển đều là thuật ngữ Budagov
R.A (1976) nhận định: "Số lượng thuật ngữ trong mỗi ngành khoa học đang phát triển
quả thật không phải từng ngày mà là từng giờ" (tr.44)
ii/ Thuật ngữ - đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học
Thuật ngữ hiện nay rất phát triển và trở thành đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học, một ngành khoa học đã được công nhận ở trên thế giới Mặc dù hiện nay còn
có những tranh luận cũng như chưa có được câu trả lời thỏa đáng cho vấn đề thuật ngữ học nằm ở đâu trong ngôn ngữ học, nhưng nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài khẳng định:"Thuật ngữ học là chuyên ngành được độc lập, ra đời và phát triển từ ngôn ngữ
học trong thế kỷ 20, gồm 2 lĩnh vực chính: thuật ngữ học lí thuyết và thuật ngữ học ứng dụng Trong đó, đối tượng của thuật ngữ học là thuật ngữ với các lớp, loại khác
nhau và hệ thống thuật ngữ hiểu theo nghĩa rộng” (Kulebakin V.X & Cơlimôvitxki I.A, 1970, tr.23)
iii/ Thuật ngữ - thành phần chủ yếu của ngôn ngữ khoa học
Thuật ngữ là bộ phận quan trọng nhất của ngôn ngữ khoa học Đó là ngôn ngữ chuyên dùng trong phạm vi của các ngành khoa khoa học và trong các lĩnh vực chuyên môn Chức năng cơ bản của ngôn ngữ khoa học không chỉ là thông báo các sự kiện mà điều quan trọng là phải giải thích, chứng minh tính chân thực của thông báo nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của chúng với tư cách là cơ sở cho một luận điểm hay một quan niệm
lí thuyết nhất định (Đỗ Hữu Châu, 1998, tr.142) Từ đó, gợi mở cho con người những
Trang 37suy nghĩa tìm tòi để tiến tới nắm bắt được những vấn đề của khoa học Như vậy, thông báo-chứng minh là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ khoa học, trong đó
"chứng minh được coi là đặc trưng khu biệt của phong cách khoa học, làm cho nó không giống với các phong cách khác" (Danilenko V P, tr.83) Ngôn ngữ khoa học có
vai trò to lớn đối với cuộc sống của con người, chúng phục vụ cho quá trình nghiên cứu và truyền bá tri thức khoa học, kĩ thuật, công nghệ của con người để duy trì cuộc sống và phát triển xã hội
1.2.3.3 Phân biệt thuật ngữ và một số đơn vị phi thuật ngữ
i) Phân biệt thuật ngữ và danh pháp
Việc phân biệt thuật ngữ và danh pháp lần đầu tiên được Vinokur G.O.(1939) bàn đến Ông cho rằng bản chất của danh pháp là võ đoán và không có quan hệ trực tiếp
với tư duy Khác với thuật ngữ, danh pháp:"là một hệ thống phù hiệu hoàn toàn trừu tượng và ước lệ, công dụng duy nhất của nó là tạo những phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để biểu đạt những sự vật không quan hệ trực tiếp với những nhu cầu của
tư duy lí luận lấy các sự vật ấy làm căn cứ” (tr.7)
Cùng với VinokurG.O, Reformatxki G.O (1961) cũng chỉ ra sự khác biệt giữa
thuật ngữ và danh pháp: “Hệ thuật ngữ trước hết có mối liên hệ với hệ khái niệm của một môn khoa học nào đó, còn danh pháp chỉ nhãn hiệu hóa đối tượng của khoa học thôi Vì vậy, danh pháp có thể coi là thế liên tục của các chữ cái (vitamin A, vitamin B…), hay là thể liên tục của các con số (MAC -5, MAC-8) và của mọi thứ dấu hiệu có tính ước lệ, tùy tiện khác Danh pháp không tương quan trực tiếp với các khái niệm của khoa học Vì vậy, danh pháp không tiêu biểu cho hệ khái niệm của khoa học” (tr.145-146) So với thuật ngữ số lượng của danh pháp là rất lớn: “Nếu cái máy nào đó chẳng hạn có mấy nghìn chi tiết và mỗi chi tiết như thế lại có tên gọi riêng của mình thì điều này cũng không có nghĩa là phải có bằng ngần ấy khái niệm” (tr.145)
Tương tự, Superanskaja khẳng định:“mặc dù danh pháp có gắn với khái niệm nhưng nó hướng đến sự vật nhiều hơn và số lượng của nó nhiều vô kể Còn thuật ngữ của mỗi ngành khoa học lại là một số lượng hữu hạn, vì người ta phản ánh hệ khái niệm của nó bằng từ ngữ” (tr.9)
Nguyễn Thiện Giáp (2005) cũng phân biệt thuật ngữ và danh pháp một cách
khá rõ Ôngkhẳng định:“danh pháp không gắn liền trực tiếp với khái niệm của một khoa học như thuật ngữ mà danh pháp chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học đó mà thôi “Về bản chất, danh pháp là tên riêng của các đối tượng Nếu như ở thuật ngữ người ta nhấn mạnh đến chức năng định nghĩa của nó thì đối với danh pháp chức
Trang 38năng gọi tên mới là chức năng quan trọng" (tr.309)
Như vậy, danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học như thuật ngữ, danh pháp chỉ là tên gọi các sự vật, hiện tượng cụ thể trong một ngành khoa
học nhất định Tuy nhiên, theo Hà Quang Năng (2009), “giữa thuật ngữvà danh pháp cũng có điểm giống nhau duy nhất đó là “tính độc lập của danh pháp và của thuật ngữ khỏi ngữ cảnh và tính chất trung hòa về tu từ của chúng, tính mục đích rõ ràng trong
sử dụng, tính bền vững và khả năng tái hiện trong lời nói” (tr.124) Ngoài ra, trong
một số trường hợp, danh pháp có thể chuyển hóa thành thuật ngữ Superanskaja A.V
cho rằng, thực ra, "giữa thuật ngữ và danh pháp không có ranh giới tuyệt đối, hai lớp
từ vựng này tác động qua lại lẫn nhau, danh pháp, trong những trường hợp nhất định,
có thể chuyển thành thuật ngữ khi nó rơi vào trong hệ thống từ vựng khác" (tr.7)
ii) Phân biệt thuật ngữ và từ thông thường
Trước hết, về bản chất khái niệm của hai đơn vị này rất khác nhau So với từ thông thường, thuật ngữ có ngoại diên hẹp hơn nhưng nội hàm sâu hơn và được biểu thị một cách lôgíc chặt chẽ hơn Mặc dù từ thông thường cũng biểu thị khái niệm
nhưng đó chỉ là “khái niệm đời thường” còn khái niệm mà thuật ngữ biểu thị là là
“khái niệm khoa học” có tính nghiêm ngặt Điều này cũng có nghĩa là "Nghĩa biểu vật của thuật ngữ trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng có thực trong thực tế của ngành
kĩ thuật tương ứng Và ý nghĩa biểu niệm của thuật ngữ cũng là những khái niệm về các sự vật hiện tượng này đúng như chúng tồn tại trong tư duy” (Đỗ Hữu Châu, 1981,
tr.241) Vì vậy, mặc dù cả hai đơn vị này đều có chức năng định danh, nhưng định danh ở từ thông thường chỉ là gọi tên sự vật, hiện tượng, còn ở thuật ngữ là gọi tên khái niệm
Khác với từ thông thường, vì ý nghĩa của thuật ngữ là định nghĩa một cách lô gích khái niệm, chứa đựng nội dung thuần lí trí, nên thuật ngữ không mang tính biểu cảm, biểu thị sự đáng giá chủ quan của con người, không có đồng nghĩa, trái nghĩa và các biến thể phong cách chức năng Nội dung của thuật ngữ chỉ phụ thuộc một cách khách quan vào sự phát triển của khoa học chứ không phải do việc sử dụng thuật ngữ trong những hoàn cảnh khác nhau thường ngày tạo nên Nghĩa là, nội dung của thuật ngữ chỉ thay đổi khi khái niệm mà thuật ngữ diễn đạt được xác lập lại khi mà khoa học
phát triển.Ví dụ, nguyên từ thời cổ đại được hiểu khác với nguyên tử ngày nay Điều này rất đúng với nhận định của Superanskaja: “Hầu như mỗi bước tiến của khoahọc cũng là một sự thiết lập hoặc làm chính xác các thuật ngữ khoa học” (tr.10)
Về mặt sử dụng, từ thông thường được dùng phổ biến trong xã hội còn thuật
Trang 39ngữ chủ yếu chỉ được sử dụng nhiều trong phạm vi hoạt động của khoa học đó Teresa Cabré (1999) cho rằng, những người sử dụng từ thông thường đều là những người nói ngôn ngữ, còn những người sử dụng thuật ngữ là những nhà chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể
Ngoài sự khác biệt, thuật ngữ và từ thông thường còn có mối quan hệ khá gần gũi với nhau (Lê Khả Kế, 1979; Nguyễn Thiện Giáp, 1985; Lotte D.S, 1978) Thuật ngữ và từ thông thường đều tuân theo quy luật ngữ âm và ngữ pháp của ngôn ngữ Tuy nhiên, giữa thuật ngữ và từ thông thường luôn có sự xâm nhập qua lại, thuật ngữ có thể trở thành từ thông thường và từ thông thường có thể được thuật ngữ hóa Khi từ thông thường trở thành thuật ngữ, ý nghĩa của chúng bị hạn chế chỉ còn lại tính chất chuyên môn hóa Ngược lại, khi thuật ngữ trở thành từ thông thường thì không phải toàn bộ khái niệm mà thuật ngữ diễn đạt đều chuyển vào ngôn ngữ toàn dân mà chỉ là cái vỏ ngữ âm của chúng được sử dụng Đồng thời, thuật ngữ sẽ mở rộng phạm vi hoạt động, không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi hệ thống thuật ngữ nào đó mà nó còn được sử dụng cả trong phạm vi của ngôn ngữ văn học Như vậy, sự khác biệt cơ bản của những
từ ngữ thông thường được thuật ngữ hóa với các từ ngữ thông thường được thể hiện rõ
ở đặc điểm sử dụng
iii) Phân biệt thuật ngữ và từ nghề nghiệp
Thuật ngữ và từ nghề nghiệp có một số điểm tương đồng và khác biệt như sau:
Về mặt nội dung, từ nghề nghiệp và thuật ngữ đều là những tên gọi duy nhất của
hiện tượng trong thực tế, đồng thời, cả thuật ngữ và từ nghề nghiệp đều có thể chuyển hóa thành từ thông thường khi những khái niệm của chúng được sử dụng phổ biến
trong xã hội, làm giàu thêm vốn từ vựng chung của dân tộc “Từ ngữ nghề nghiệp là những tên gọi duy nhất của hiện tượng thực tế Chúng không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân Cho nên từ nghề nghiệp đều dễ dàng trở thành từ vựng toàn dân khi những khái niệm riêng của chúng trở thành phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội” (Phạm Tất Thắng, 2003, tr.303) Về điểm này, Đỗ Hữu Châu (1981) cho rằng:"thuật ngữ và từ nghề nghiệp đều có đặc tính cơ bản là ý nghĩa biểu vật trùng với sự vật hiện tượng thực có trong ngành nghề và ý nghĩa biểu niệm đống nhất với các khái niệm về
Trang 40trong ngành nghề đó biết và sử dụng” (Phạm Tất Thắng, 2003, tr.303)
Tuy nhiên, khác với thuật ngữ, từ nghề nghiệp gắn liền với những hoạt động sản xuất hoặc ngành nghề cụ thể một cách trực tiếp, cho nên từ nghề nghiệp thường mang tính cụ thể, gợi hình ảnh cao Vì vậy, từ nghề nghiệp còn được dùng cả trong phong cách của ngôn ngữ văn học, và nghệ thuật, đặc biệt các nhà nghiên cứu đều cho rằng mức độ khái quát của các ý nghĩa biểu niệm của chúng thấp hơn thuật ngữ khoa
học “Thuật ngữ chuyên môn gồm thuật ngữ những ngành khác nhau trong khoa học, các thuật ngữ - định nghĩa, xác định ra khái niệm, nghĩa những thuật ngữ này không mang bất cứ thành tố xúc cảm và biểu cảm nào Từ nghề nghiệp là những hiện thực của các ngành sản xuất khác nhau, của các nghề thủ công … có thể mang sắc thái xúc cảm và biểu cảm” (Lotte D.S, tr.132-133) Bên cạnh đó, Kapanadze (1965) chỉ ra một
đặc điểm khác biệt khá quan trọng của từ nghề nghiệp so với thuật ngữ đó là từ nghề
nghiệp “không bao giờ tạo thành một hệ thống khép kín- đó là những đơn vị rời rạc không liên kết với nhau” (tr.92)
Giữa thuật ngữ và từ nghề nghiệp còn diễn ra sự xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau Từ nghề nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển có thể chuyển hóa thành thuật ngữ khi các ngành nghề thủ công đó được công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành ngành khoa học Bên cạnh đó, các ngành nghề thủ công nghiệp đang tồn tại song hành cùng với các ngành công nghiệp tương ứng cũng có thể tiếp nhận các thuật ngữ khoa học trở thành từ nghề nghiệp để hiện đại hóa cho và làm phong phú thêm cho
Đỗ Thị Kim Liên tách nhân tố nhân vật giao tiếp thành một nhân tố riêng Vì thế, tác giả cho rằng ngữ cảnh trùng với nhân tố hoàn cảnh giao tiếp của Đỗ Hữu
Châu Ngữ cảnh được chia ra ngữ cảnh giao tiếp rộng và ngữ cảnh giao tiếp hẹp Ngữ cảnh giao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết của các nhân vật giao tiếp về thế giới vật
lí, sinh kí, tâm lí, xã hội, văn hóa… chúng tạo nên không gian - thời gian đang diễn ra
hội thoại, cho phép nhân vật giao tiếp với nhau không lệch kênh Ngữ cảnh giao tiếp