1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc tu từ phần dẫn nhập bài báo nghiên cứu tiếng việt và tiếng anh chuyên ngành ngôn ngữ học ứng dụng

249 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hợp của một số hành động ngôn ngữ nhằm đạt được mục đích giao tiếp cụ thể trong luận án này gọi là hành động tu từ và đặc điểm ngôn ngữ giúp hiện thực hóa cấu trúc này trong phần dẫn nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

-ĐỖ XUÂN HẢI

CẤU TRÚC TU TỪ PHẦN DẪN NHẬP BÀI BÁO NGHIÊN CỨU TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC ỨNG DỤNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

-ĐỖ XUÂN HẢI

CẤU TRÚC TU TỪ PHẦN DẪN NHẬP BÀI BÁO NGHIÊN CỨU TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

2 TS NGUYỄN HOÀNG TRUNG

3 TS NGUYỄN THỊ KIỀU THU

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Quy trình thực hiện và kết quả nghiên cứu đƣợc mô tả trong luận án là trung thực và chính xác Các kết quả nghiên cứu của luận án chƣa đƣợc công bố trong công trình nào khác

Trang 4

làm nghiên cứu bậc Tiến sĩ ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu tại trường ĐH

Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM

Tôi biết ơn sâu sắc hai người thầy hướng dẫn khoa học của luận án là TS Phó Phương Dung (trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM ) và PGS TS Nguyễn Văn Nở (trường ĐH Cần Thơ) Cô Dung và thầy Nở

đã vui lòng nhận người học trò khá xa lạ là tôi lúc tôi liên hệ với cô và thầy để nhờ được hướng dẫn Cô và thầy luôn có những góp ý chiến lược, kịp thời, phản hồi bản thảo nhanh và tận tình hỗ trợ tôi thực hiện luận án

Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến quý thầy cô sau vì đã cho tôi những nhận xét và gợi ý quý báu: GS.TS Nguyễn Đức Dân, GS.TS Bùi Khánh Thế, PGS.TS Lê Khắc Cường, PGS.TS Đinh Điền, PGS.TS Nguyễn Công Đức, PGS.TS Nguyễn Thị Hai, PGS.TS Đặng Ngọc Lệ, PGS.TS Trịnh Sâm, PGS.TS

Lê Kính Thắng, PGS.TS Phạm Văn Tình, TS Nguyễn Hoàng Chương, TS Đinh

Lư Giang, TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh, TS Nguyễn Thị Như Ngọc, TS Nguyễn Thị Kiều Thu, TS Nguyễn Hoàng Trung và TS Nguyễn Hoàng Tuấn

Trong thời gian theo học chương trình NCS và viết luận án tôi may mắn được quý thầy Huỳnh Trung Tín (khoa Ngoại ngữ), thầy Chim Văn Bé (khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn), và TS Thái Công Dân (khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn) của trường Đại học Cần Thơ quan tâm, cho lời khuyên, khích lệ và tiếp thêm lửa ham thích nghiên cứu ngôn ngữ học PGS.TS Trần Văn Minh (khoa Sư phạm)

đã giúp tôi định hướng phân bố thời gian hợp lý cho chương trình học và TS Bùi

Trang 5

Thanh Thảo (khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn) luôn nhiệt tình hỗ trợ những lúc tôi cần Xin chân thành cám ơn quý thầy cô!

Tôi cám ơn tất cả thầy cô mà tôi đã có may mắn được theo học hay đọc qua sách/bài viết, và những anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp, học trò mà trong quá trình học tập và giảng dạy tôi đã được tiếp xúc

Góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành luận án là sự giúp đỡ tìm tài liệu

có liên quan và cập nhật cho đề tài Tôi cám ơn TS Trần Thị Mỹ Duyên (khoa Thủy sản, trường ĐH Cần Thơ), TS Đào Duy Tùng (trường ĐH Cửu Long), và nhóm học trò cũ chuyên Anh Quốc Học Huế: Nguyễn Thị Thúy Bình, Nguyễn Song Huyền Châu, Lê Thúy Hạnh, Hoàng Thị Linh Giang và Nguyễn Lê Hồng Phúc về sự trợ giúp thiết yếu này

Cuối cùng, tôi tri ân mọi thành viên trong gia đình đã yêu thương và ủng hộ

trong suốt quá trình tôi thực hiện luận án trong bản thân nó và vì chính nó

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN viii

DẪN NHẬP 1

0.1 Lý do thực hiện đề tài 1

0.2 Mục đích, đối tượng, và phạm vi nghiên cứu 3

0.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu 5

0.4.1 Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu 5

0.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 6

0.5 Giải thích thuật ngữ 6

0.6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

0.6.1 Nghiên cứu đối chiếu CTTTừ trong PDNBBNC 8

0.6.2 Nghiên cứu về chuỗi từ vựng trong PDNBBNC 13

0.7 Bố cục của luận án 14

CHƯƠNG MỘT: TỔNG QUAN 17

1.1 Tu từ học đối chiếu 17

1.2 Nghiên cứu thể loại trong chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng 24

1.2.1 Trường phái Tu từ mới 25

1.2.2 Trường phái Sydney 26

1.2.3 Trường phái ESP 29

1.3 Mô hình CARS 1990 và các mô hình có liên quan khác của Swales 34

1.4 Chuỗi từ vựng 44

1.5 Tiểu kết 45

Trang 7

CHƯƠNG HAI:PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

2.1 Xác định TCs (Tertia comparationes) cho nghiên cứu 46

2.1.1 TC1 – Tương đương ở cấp độ khái niệm 47

2.1.2 TC2 – Tương đương ở cấp độ văn bản 66

2.1.3 TC3 – Tương đương ở cấp độ từ vựng – ngữ pháp 72

2.2 Quy trình phân tích khối liệu 73

2.2.1 Quy trình phân tích để xác định CTTTừ 73

2.2.2 Xác định chuỗi từ vựng 75

2.3 Tiểu kết 75

CHƯƠNG BA: CẤU TRÚC TU TỪ VÀ CHUỖI TỪ VỰNG TRONG PHẦN KHỐI LIỆU TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 76

3.1 Cấu trúc tu từ trong phần khối liệu tiếng Việt 76

3.2 Cấu trúc tu từ trong phần khối liệu tiếng Anh 78

3.3 Chuỗi từ vựng phát hiện được trong phần khối liệu tiếng Việt 80

3.3.1 Chuỗi từ vựng dùng trong hành động tu từ M1 80

3.3.2 Chuỗi từ vựng dùng trong hành động tu từ M2 83

3.3.3 Chuỗi từ vựng dùng trong hành động tu từ M3 85

3.4 Chuỗi từ vựng phát hiện được trong phần khối liệu tiếng Anh 88

3.4.1 Chuỗi từ vựng dùng trong hành động tu từ M1 88

3.4.2 Chuỗi từ vựng dùng trong hành động tu từ M2 98

3.4.3 Chuỗi từ vựng dùng trong hành động tu từ M3 100

3.5 Tiểu kết 109

CHƯƠNG BỐN: ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC TU TỪ VÀ CHUỖI TỪ VỰNG PHÁT HIỆN ĐƯỢC TRONG KHỐI LIỆU 110

4.1 Đối chiếu các kiểu CTTTừ phát hiện được 110

4.2 Đối chiếu các hành động tu từ/bước thể hiện phát hiện được 121

4.3 Đối chiếu chuỗi từ vựng tìm thấy trong khối liệu 133

Trang 8

4.4 Lỗi từ vựng – ngữ pháp trong phần khối liệu tiếng Việt và việc sử dụng thì

trong phần khối liệu tiếng Anh 140

4.5 Gợi ý sƣ phạm 145

4.6 Tiểu kết 146

KẾT LUẬN 147

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ 239

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU

Hình 1.1 Minh họa của Kaplan về cấu trúc đoạn văn do các nhóm sinh viên khác

nhau viết (phỏng theo Kaplan, 1966, tr 15) 19

Bảng 1.1 Mô hình CARS 1990 (Phỏng theo Swales, 1990, tr 141) 39

Bảng 1.2 Mô hình CARS 2004 (Phỏng theo mô tả của Swales, 2004, tr 230-232) 42

Bảng 2.1 Mô tả TC1: Tương đương ở cấp độ khái niệm (phát triển dựa trên Swales, 1990, tr 141 và Swales, 2004, tr 230-232) 48

Bảng 2.2 Mô tả TC2: Tương đương ở cấp độ văn bản (phát triển dựa trên Connor & Moreno, 2005, tr 159 và Connor & Rozycki, 2013a, tr 435) 67

Bảng 2.3 Bài báo chuyên ngành được chọn để xây dựng khối liệu tiếng Anh 71

Bảng 2.4 Bài báo chuyên ngành được chọn để xây dựng khối liệu tiếng Việt 71

Bảng 3.1 CTTTừ trong phần khối liệu tiếng Việt 76

Bảng 3.2 CTTTừ trong phần khối liệu tiếng Anh 79

Bảng 4.1 Các kiểu CTTTừ trong khối liệu 110

Bảng 4.2 Hành động tu từ M1 và những bước thể hiện 122

Bảng 4.3 Hành động tu từ M2 và những bước thể hiện 125

Bảng 4.4 Hành động tu từ M3 và những bước thể hiện 127

Bảng 4.5 Chuỗi từ vựng tìm thấy trong khối liệu 134

Bảng 4.6 Hình thức của chuỗi từ vựng tìm thấy trong khối liệu 137

Trang 10

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

CTTTừ: Cấu trúc tu từ

NNHUD: Ngôn ngữ học ứng dụng

PDNBBNC: Phần dẫn nhập bài báo nghiên cứu

CARS: Create A Research Space

EAP: English for Academic Purposes

EBP: English for Business Purposes

EMP: English for Medical Purposes

EOP: English for Occupational Purposes

ESP: English for Specific Purposes

IMRAD: Introduction – Method – Results – (and) Discussion

M: Move

S: Step

TC: Tertium comparationis

Trang 11

DẪN NHẬP 0.1 Lý do thực hiện đề tài

Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ đã được thực hiện từ nhiều thế kỷ (Fisiak, 1981; Bùi Mạnh Hùng, 2008; Lê Quang Thiêm, 2008) Nhưng phải đến thế

kỷ XX thì hướng nghiên cứu đối chiếu này mới được thực hiện với đối tượng, mục đích và phương pháp nghiên cứu riêng

Hiện nay, đa số giới chuyên môn nhận thức rõ rằng ngôn ngữ là một đối tượng cần phải tiếp cận từ nhiều hướng, ở nhiều bình diện mới mong hiểu được đầy

đủ Stern (1983, tr 129) gọi ngôn ngữ là một ―tổng thể mênh mông‖ (vast totality),

vì vậy nỗ lực thực hiện đối chiếu ngôn ngữ một cách toàn thể và thấu đáo trong một công trình của một cá nhân hay thậm chí của một nhóm nghiên cứu là bất khả thi (Bùi Mạnh Hùng, 2008; Lê Quang Thiêm, 2008) Ngày nay, ngôn ngữ không chỉ được hiểu theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học ở thế kỷ 20 (ví dụ: Saussure, 1916; Bloomfield, 1933; Harris, 1951) như một hệ thống hay cấu trúc trừu tượng, tự trị, với một số bộ phận hợp thành như hệ thống âm vị, hình vị, các qui tắc cú pháp, các mối quan hệ ngữ nghĩa trong câu Các nhà nghiên cứu đã mở rộng phạm vi tìm

hiểu, bao hàm cả việc xem xét thêm ngữ cảnh (danh từ dùng để dịch thuật ngữ context theo Đỗ Hữu Châu, 2003, tr 9; Nguyễn Hòa, 2008, tr 161; Nguyễn Văn

Hiệp, 2008, tr 355; Đinh Văn Đức, 2012, tr 51) mà trong đó ngôn ngữ thực sự được sử dụng để giao tiếp (James, 1980; Stern, 1983; Đinh Văn Đức, 2012)

Lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu cho thấy, ở những thập niên

1960 – 1970, việc đối chiếu ngôn ngữ thường được thực hiện ở các bình diện ngữ

âm, ngữ pháp, từ vựng, và phải đến thập niên 1980 thì mới được mở rộng sang các bình diện khác như ngữ dụng và diễn ngôn (Bùi Mạnh Hùng, 2008) Ở Việt Nam, tuy đã có nhiều nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ trên nhiều bình diện, nhưng hướng tiếp cận từ bình diện diễn ngôn vẫn còn là mảnh đất chưa có nhiều người khai phá (Nguyễn Hòa, 1999; Ton, 2005; Bùi Mạnh Hùng, 2008; Tôn Nữ Mỹ Nhật, 2013), đặc biệt là mảng đối chiếu diễn ngôn viết sử dụng trong bối cảnh học thuật Lý do

Trang 12

cơ bản của hiện trạng này là tài liệu hướng dẫn nghiên cứu chuyên sâu thiếu phong phú Trong số ít tài liệu có liên quan mà chúng tôi tiếp cận được (James, 1980; Krzeszowski, 1990; Bùi Mạnh Hùng, 2008; Lê Quang Thiêm, 2008; Nguyễn Thiện Giáp, 2012), việc đối chiếu ngôn ngữ ở bình diện diễn ngôn viết trong bối cảnh học thuật không được xem xét hay chỉ được đề cập khái lược

Thực ra, diễn ngôn là khái niệm có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau

và được tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau (Brown & Yule, 1983; Johnstone, 2008; Gee, 2010; Cook, 2011; Nguyễn Văn Hải, 2013; Dương Hữu Biên, 2016) Tuy nhiên, theo Schiffrin, Tannen và Hamilton (2015, tr 1), có thể quy các định nghĩa về diễn ngôn trong văn liệu về thành ba nhóm lớn Nhóm định nghĩa thứ nhất

xem diễn ngôn là bất kỳ cái gì ở cấp độ ngôn ngữ trên câu Nhóm định nghĩa thứ hai đồng nhất diễn ngôn với việc sử dụng ngôn ngữ và nhóm định nghĩa thứ ba quan niệm diễn ngôn như là một tập hợp rộng lớn những tập quán xã hội và giả định ý thức hệ có liên quan đến ngôn ngữ

Luận án này kế thừa quan niệm của Flowerdew (2012, tr 1) về khái niệm

diễn ngôn theo cả hai nghĩa rộng và hẹp mà ông giới thuyết Hiểu theo nghĩa rộng thì diễn ngôn là ngôn ngữ trong ngữ cảnh sử dụng của nó (language in its context of use), bao hàm cả ngôn ngữ sử dụng ở cấp độ trên câu (language above the level of the sentence) Hiểu theo nghĩa hẹp hơn thì diễn ngôn là một loại tri thức và ngôn ngữ được chuyên biệt hóa và được một nhóm xã hội cụ thể sử dụng (a type of

specialized knowledge and language used by a particular social group) Vì quan niệm của Flowerdew (2012) về diễn ngôn đã bao quát được cả ba nhóm định nghĩa

mà Schiffrin, Tannen và Hamilton (2015, tr 1) đề xuất, có thời gian xuất bản khá gần đây và tương thích cao với hướng tiếp cận nghiên cứu của luận án, nên định nghĩa này được chọn làm cơ sở để triển khai đề tài

Từ trước thời điểm chúng tôi bắt tay vào thực hiện đề tài (tháng 8/2013) đến nay, ở trong nước, chưa xuất hiện công trình nghiên cứu nào trình bày có hệ thống kết quả đối chiếu cấu trúc diễn ngôn viết ở cấp độ trên câu, thể hiện bằng trật tự kết

Trang 13

hợp của một số hành động ngôn ngữ nhằm đạt được mục đích giao tiếp cụ thể

(trong luận án này gọi là hành động tu từ) và đặc điểm ngôn ngữ giúp hiện thực hóa

cấu trúc này trong phần dẫn nhập bài báo nghiên cứu (viết tắt là PDNBBNC) viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh của một chuyên ngành học thuật cụ thể Nhằm lấp đầy khoảng trống được phát hiện này trong văn liệu, chúng tôi khảo sát và đối chiếu cấu

trúc nói trên (luận án gọi là cấu trúc tu từ, viết tắt CTTTừ) trong PDNBBNC viết

bằng tiếng Việt và tiếng Anh của những nhà ngôn ngữ học ứng dụng quan tâm đến

các mảng Giảng dạy tiếng Anh, Dụng học và Phân tích diễn ngôn Ngoài ra, luận án còn vận dụng khái niệm lexical bundles (Biber et al., 1999, tr 989-990; Biber &

Barbieri, 2007, tr 267-268) – biểu thức ngôn ngữ gồm từ 3 đơn vị từ chính tả (chữ)

trở lên, xuất hiện thường xuyên trong khối liệu (danh từ dùng để dịch thuật ngữ corpus theo Đỗ Hữu Châu, 2005, tr 223; Đào Hồng Thu, 2007, tr 9) - để tìm hiểu

mối liên hệ giữa loại đặc điểm ngôn ngữ này với CTTTừ PDNBBNC trong khối

liệu của đề tài Luận án sử dụng tên gọi tiếng Việt cho khái niệm lexical bundles là chuỗi từ vựng

Chúng tôi chọn CTTTừ làm thuật ngữ tiếng Việt tương đương với một số

thuật ngữ tiếng Anh như move structure, rhetorical structure, schematic structure, organizational pattern, discourse structure, thường được sử dụng thay thế lẫn nhau

trong văn liệu để chỉ trật tự kết hợp của một số hành động bằng ngôn ngữ nhằm đạt được mục đích giao tiếp cụ thể (hành động tu từ) của một thể loại văn bản là ngôn ngữ sử dụng ở cấp độ trên câu, trong bối cảnh học thuật hay nghề nghiệp Cấu trúc này có tính quy ước và được những người có nhiều kinh nghiệm sử dụng dễ dàng nhận ra

0.2 Mục đích, đối tượng, và phạm vi nghiên cứu

Luận án có mục đích làm sáng tỏ những sự khác nhau và giống nhau giữa đối tượng nghiên cứu của đề tài là CTTTừ trong PDNBBNC thường nghiệm tiếng Việt

và tiếng Anh chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng (từ đây viết tắt là NNHUD), mảng nghiên cứu Giảng dạy tiếng Anh, Dụng học và Phân tích diễn ngôn Thêm

Trang 14

vào đó, để góp phần tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của cấu trúc này, luận án còn xác lập mối liên hệ giữa CTTTừ với chuỗi từ vựng tìm thấy trong khối liệu

Luận án giới hạn khối liệu phân tích là tập hợp ngữ liệu gồm 80 PDNBBNC thường nghiệm (cấu thành từ hai tập hợp con, mỗi tập hợp gồm 40 PDNBBNC viết bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh) Những bài báo mà từ đó PDNBBNC được tách ra

do người bản ngữ Việt hoặc Anh viết và được đăng trên tạp chí có uy tín học thuật cao trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 Nội dung nghiên cứu của

các bài báo có liên quan đến các mảng Giảng dạy tiếng Anh, Dụng học và Phân tích diễn ngôn của chuyên ngành NNHUD Luận án không đặt mục tiêu khảo sát mối

tương quan giữa yếu tố giới tính tác giả và ngôn ngữ sử dụng trong các PDNBBNC của khối liệu

Khái niệm NNHUD trong luận án được hiểu là lĩnh vực nghiên cứu liên

ngành có mục đích giúp giải quyết những vấn đề có liên quan đến ngôn ngữ trong thực tế đời sống (Schmitt & Celce-Murcia, 2010; Wei, 2013; Paltridge & Phakiti,

2015) Xét theo tiêu chí đề tài nghiên cứu (topics of inquiry) thì Giảng dạy ngôn ngữ, Dụng học và Phân tích diễn ngôn là những mảng nghiên cứu nhỏ hơn của

chuyên ngành NNHUD (Schmitt & Celce-Murcia, 2010; Paltridge & Phakiti, 2015) Những bài báo mà từ đó PDNBBNC được tách ra để xây dựng khối liệu cho luận án đều có nội dung khảo sát thuộc những mảng nghiên cứu kể trên của lĩnh vực NNHUD

0.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án đặt ra những nhiệm vụ cần phải thực hiện sau đây:

1 Xây dựng khối liệu phân tích, đảm bảo tiêu chí tương đương tối đa giữa tập hợp PDNBBNC tiếng Việt và tập hợp PDNBBNC tiếng Anh của khối liệu

2 Xác lập mô hình phân tích để xác định CTTTừ cho tất cả PDNBBNC trong khối liệu

Trang 15

3 Xác lập qui trình phân tích CTTTừ trong khối liệu

4 Phân tích CTTTừ trong khối liệu theo qui trình đã xác lập

5 Khảo sát, làm sáng tỏ mối liên hệ giữa chuỗi từ vựng và CTTTừ phát hiện được trong khối liệu

6 Đối chiếu kết quả phân tích và giải thích những điểm giống nhau và khác nhau của kết quả nghiên cứu

0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

0.4.1 Ý nghĩa khoa học của nghiên cứu

Đề tài của luận án có thể xem là một trong những nghiên cứu đầu tiên tính đến nay nhằm khảo sát sự giống nhau và khác nhau của CTTTừ và chuỗi từ vựng trong PDNBBNC thường nghiệm chuyên ngành NNHUD viết bằng tiếng Việt và

tiếng Anh thuộc các mảng nghiên cứu Giảng dạy ngôn ngữ, Dụng học và Phân tích diễn ngôn Ngoài ra, trong những nghiên cứu đối chiếu CTTTừ của PDNBBNC thường nghiệm chuyên ngành NNHUD đã thực hiện trong lĩnh vực ESP và Tu từ học đối chiếu (Gao, 2014; Sheldon, 2011), chưa có nghiên cứu nào sử dụng bài báo

từ lĩnh vực Dụng học & Phân tích diễn ngôn để xây dựng khối liệu Do vậy, kết quả

nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp thêm hiểu biết khoa học vào khối lượng kiến

thức hiện thời trong lĩnh vực Ngôn ngữ học đối chiếu ở Việt Nam, cũng như các lĩnh vực ESP và Tu từ học đối chiếu

Đồng thời, do công trình này sẽ làm sáng tỏ sự giống nhau và khác nhau trong việc sử dụng CTTTừ và chuỗi từ vựng ở một thể loại diễn ngôn học thuật (PDNBBNC chuyên ngành NNHUD) để đạt được mục đích giao tiếp trong hai cộng đồng văn hóa xã hội khác nhau (nhóm tác giả PDNBBNC là người bản ngữ Việt và Anh) nên kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể đóng góp thêm hiểu biết cho lĩnh vực nghiên cứu liên ngành văn hóa-ngôn ngữ-tư duy (ví dụ: Đỗ Hữu Châu, 2000; Lý Toàn Thắng, 2001; Nguyễn Đức Tồn, 2010; Trần Hoàng Anh, 2014), một hướng nghiên cứu còn khá mới mẻ ở Việt Nam

Trang 16

0.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Trên bình diện thực tiễn, kết quả của nghiên cứu có thể được ứng dụng để xây dựng tài liệu giảng dạy cho những học phần có dạy cách đọc, viết bài báo khoa học chuyên ngành NNHUD bằng tiếng Việt và tiếng Anh trong các trường đại học ở Việt Nam Kết quả của nghiên cứu còn có thể được sử dụng làm nội dung để giảng dạy, cho thảo luận hay làm bài tập nhóm Ngoài ra, những nhà nghiên cứu NNHUD

ở Việt Nam đã hay đang thực hiện đề tài nghiên cứu mà chưa có nhiều kinh nghiệm xuất bản bài báo khoa học và dự định sẽ viết bài bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh để công bố trong tạp chí chuyên ngành có uy tín học thuật cao cũng có thể hưởng lợi từ kết quả khảo sát, đối chiếu của luận án Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể làm cơ sở để phát triển tiêu chí đánh giá và thẩm định chất lượng bài báo nghiên cứu khoa học cho ban biên tập và chuyên gia bình duyệt của các tạp chí chuyên ngành ngôn ngữ học có công bố nghiên cứu ứng dụng, thường nghiệm ở Việt Nam

0.5 Giải thích thuật ngữ

Sau đây chúng tôi giải thích sơ lược một số thuật ngữ được sử dụng trong luận án Những thuật ngữ này sẽ được xem xét chi tiết hơn và được thảo luận kỹ hơn trong công trình

Thể loại: Tập hợp những sự kiện giao tiếp có chung một hay nhiều mục đích

giao tiếp trong một cộng đồng thuộc một bối cảnh học thuật/nghề nghiệp cụ thể (Swales, 1990, tr 58; Bhatia, 1993, tr 13)

Hành động tu từ: Đơn vị diễn ngôn ―thực hiện một chức năng giao tiếp mạch

lạc‖ (―performs a coherent communicative function‖) (Swales, 2004, tr 228)

CTTTừ: Trật tự kết hợp của một số hành động tu từ nhằm đạt được mục đích

giao tiếp cụ thể của một thể loại diễn ngôn viết học thuật/nghề nghiệp (Swales, 1990, 2004; Bhatia, 1993, 2004)

Chuỗi từ vựng: Biểu thức gồm từ 03 đơn vị từ chính tả (chữ) trở lên, có

khuynh hướng xuất hiện cùng nhau, lặp đi lặp lại trong một kiểu loại ngôn ngữ xác định trong tình huống cụ thể nào đó, không nhất thiết phải có tính

Trang 17

chất đặc ngữ hay có cấu trúc ngữ pháp hoàn chỉnh (Biber và cộng sự., 1999,

tr 989-990)

Ngữ cảnh cao/ngữ cảnh thấp: Cụm từ dựa trên quan niệm của Hall (1976, tr

91) để mô tả nền văn hóa mà trong đó thông tin của thông điệp giao tiếp tùy thuộc nhiều hay ít vào ngữ cảnh của sự kiện giao tiếp

Người đọc/người viết có trách nhiệm: Cụm từ dựa trên quan niệm của Hinds

(1987, tr 144) để mô tả nền văn hóa mà trong đó trách nhiệm diễn đạt nội dung thông điệp đầy đủ, chi tiết khi giao tiếp là của người đọc hay người viết

0.6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu được thực hiện trong luận án này là bước tiếp nối hướng nghiên

cứu của trường phái ESP và Tu từ học đối chiếu về CTTTừ và đặc điểm ngôn ngữ

trong một phần hay toàn bộ bài báo nghiên cứu thường nghiệm Từ hơn ba thập kỷ nay, bài báo nghiên cứu (research articles) đã là mục tiêu tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu phân tích thể loại và NNHUD Kết quả của những công trình khoa học này đã được báo cáo hay trình bày lại trong nhiều ấn bản khoa học bằng tiếng Anh như sách chuyên khảo, báo cáo khoa học và bài báo nghiên cứu (Kanoksilapatham,

2005, 2011; Samraj, 2005; Weissberg & Buker, 1990)

Có nhiều lý do để cộng đồng NNHUD quan tâm đến thể loại bài báo nghiên cứu Thứ nhất, thể loại này có tầm quan trọng đặc biệt trong giới làm khoa học do tính ―cống hiến nguyên gốc‖ (original contributions) (Nguyễn Văn Tuấn, 2011, tr 135) về mặt học thuật của nó: đóng góp tri thức mới cho hiểu biết khoa học của loài người Theo Nguyễn Văn Tuấn (2011, tr 135), thể loại này có giá trị cao nhất trong các loại bài báo khoa học và tính cống hiến nguyên gốc có thể hiểu theo hai nghĩa: (i) tác giả nghiên cứu trình bày kết quả nghiên cứu trên dữ liệu mới hoặc (ii) có ý tưởng hoặc phương pháp nghiên cứu mới Peacock (2002) và Kousantoni (2006) cũng nhận định tương tự khi cho rằng, trong giới khoa học, bài báo nghiên cứu có tầm quan trọng to lớn cho việc truyền bá và công nhận kiến thức

Trang 18

Bên cạnh đó, trước khi được xuất bản, thể loại bài báo này thường phải trải qua một qui trình phản biện ―gian nan‖ (―an arduous and laborious review process‖ Johns & Swales, 2002, tr.13) bởi một số chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, do vậy chỉ riêng việc được xuất bản cũng đã mang lại giá trị khoa học/học thuật cao cho bản thân bài báo nghiên cứu (―already valorized and ratified‖, Johns & Swales,

2002, tr 13) Ngoài giá trị đóng góp cho kiến thức khoa học ra, việc công bố nghiên cứu còn mang lại nhiều lợi ích cho tác giả bài báo như nâng cao uy tín học thuật trong cộng đồng khoa học, giúp tác giả được cấp kinh phí cho những nghiên cứu tiếp theo, giữ được đam mê nghiên cứu khoa học và được thăng tiến trong công việc (Swales, 1990; Kanoksilapatham, 2015)

Do đối tượng nghiên cứu cụ thể của luận án là CTTTừ trong PDNBBNC thường nghiệm chuyên ngành NNHUD, hướng tiếp cận của luận án có liên quan trực tiếp đến mảng nghiên cứu nhằm tìm hiểu CTTTừ trong một hay tất cả những phần quan trọng của bài báo nghiên cứu, tiêu biểu như các công trình của Hirano (2009), Kanoksilapatham (2011), Lim (2006), Martin-Martin (2003), và Posteguillo (1999), đặc biệt là những nghiên cứu khảo sát CTTTừ trong PDNBBNC Ngoài ra, luận án còn tiếp thu hướng nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong thể loại bài báo nghiên cứu (ví dụ: Thompson & Ye, 1991; Salager-Meyer, 1994; Peterlin, 2005; Pho, 2009), mà gần gũi nhất là những nghiên cứu của Cortes (2013), Shi (2014) và Alamri (2017) về mối liên hệ giữa chuỗi từ vựng và CTTTừ trong PDNBBNC

0.6.1 Nghiên cứu đối chiếu CTTTừ trong PDNBBNC

Trong văn liệu đối chiếu diễn ngôn ở nước ngoài, đã xuất hiện một số nghiên cứu đối chiếu CTTTừ trong PDNBBNC viết bằng những ngôn ngữ khác nhau và thuộc về nhiều chuyên ngành khác nhau, vận dụng mô hình CARS của Swales (1990, 2004) làm công cụ phân tích Mô hình này là mô tả về cấu trúc PDNBBNC được biết đến nhiều nhất (Flowerdew, 2012, tr 146) và giá trị của nó đã được kiểm chứng qua nhiều nghiên cứu Những cặp ngôn ngữ đã được đối chiếu gồm: tiếng

Trang 19

Hàn và tiếng Anh (Lee, 2001; Shim, 2005), tiếng In-đô-nê-xi-a và tiếng Anh

(Mirahayuni, 2002; Rahman et al., 2012), tiếng Thái và tiếng Anh

(Kanoksilapatham, 2005, 2007), tiếng Hung-ga-ry và tiếng Anh (Arvay & Tanko, 2004), tiếng Ả Rập và tiếng Anh (Al-Quahtani, 2006; Alotaibi, 2013), tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Anh (Hirano, 2009), tiếng Trung và tiếng Anh (Loi, 2010; Zhang &

Hu, 2010; Gao, 2014), tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh (Sheldon, 2011), tiếng Ba

Tư và tiếng Anh (Zand-Vakili & Kashani, 2012; Sattarpour, 2014; Rahimi & Farnia, 2017) Những chuyên ngành có PDNBBNC được khảo sát bao gồm: Giáo dục học (Rahman et al., 2012), Nha khoa (Rahimi & Farnia, 2017), Địa lý và quy hoạch môi trường (Sattarpour, 2014), Tâm lý học giáo dục (Al-Quahtani, 2006; Loi, 2010; Alotaibi, 2013), Xã hội học (Alotaibi, 2013), Ngôn ngữ học lý thuyết (Arvay

& Tanko, 2004; Zand-Vakili & Kashani, 2012), Hóa sinh (Kanoksilapatham, 2005, 2007), và NNHUD (Lee, 2001; Mirahayuni, 2002; Shim, 2005; Hirano, 2009; Sheldon, 2011; Gao, 2014)

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu xác nhận giá trị mô tả CTTTừ trong PDNBBNC viết bằng tiếng Anh và các ngôn ngữ được đối chiếu của mô hình CARS (1990, 2004), đặc biệt là ở cấp độ hành động tu từ Tuy nhiên, tỷ lệ xuất hiện, sự lặp lại của các hành động tu từ và đặc biệt là số lượng và tỷ lệ sử dụng các bước thể hiện trong các khối liệu được đối chiếu cho thấy có sự khác nhau Cụ thể hơn, kết quả thường được phát hiện là các hành động tu từ và bước thể hiện trong PDNBBNC thường nghiệm viết bằng tiếng Anh đăng trên tạp chí quốc tế được sử dụng đa dạng và nhiều hơn so với phần khối liệu viết bằng các ngôn ngữ còn lại Ngoài ra, các phần dẫn nhập viết bằng tiếng Anh thường có kiểu CTTTừ cấu tạo từ nhiều hành động tu từ, đặc biệt là các cấu trúc có từ ba hành động tu từ khác nhau trở lên Một kết quả nghiên cứu quan trọng nữa là khi áp dụng các mô hình CARS

1990, CARS 2004 để phân tích, trong một số trường hợp, trên thực tế khối liệu khảo sát, người phân tích còn phát hiện được và bổ sung thêm bước thể hiện mới vào mô hình phân tích của nghiên cứu (Arvay & Tanko, 2004; Kanoksilapatham, 2005, 2007; Loi, 2010; Sheldon, 2011)

Trang 20

Trong nhiều nghiên cứu, bên cạnh việc sử dụng cơ sở lý thuyết thể loại theo

đường hướng ESP và các mô hình phân tích CARS (Swales, 1990, 2004), các tác

giả đã chú ý đến việc hoàn thiện phương pháp nghiên cứu nhằm đạt được kết quả phân tích có giá trị và đáng tin cậy Nhiều nhà nghiên cứu (Arvay & Tanko, 2004; Loi, 2010; Sheldon, 2011; Gao, 2014; Sattapour, 2014) đã có nhiều cố gắng để đảm bảo khối liệu phân tích có tính tương đương cao bằng cách thiết lập một số tiêu chí tương đương quan trọng phục vụ cho việc xây dựng khối liệu cũng như sử dụng tiêu chí khách quan cho việc chọn lựa tạp chí chuyên ngành phục vụ cho việc xây dựng

khối liệu (ví dụ: Kanoksilapatham, 2005, 2007) Ngoài tiêu chí ngôn ngữ nói chung

(viết bằng hai ngôn ngữ khác nhau), một số nghiên cứu đã chú ý xây dựng khối liệu

với những sự phân biệt chi tiết hơn nữa, như việc xem xét thêm yếu tố nền tảng đào tạo của người viết (ví dụ: Lee, 2001; Al-Quahtani, 2006) hoặc ngôn ngữ sử dụng là tiếng mẹ đẻ hay là ngôn ngữ thứ hai (ví dụ: Sheldon, 2011) Bên cạnh đó, để góp

phần tăng cường tính tin cậy của kết quả phân tích, nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng quy trình tăng cường tính tin cậy bằng cách sử dụng người cùng phân tích khối liệu (ví dụ: Arvay & Tanko, 2004; Kanoksilapatham, 2005; Sheldon, 2011) và lặp lại quá trình phân tích bởi chính tác giả nghiên cứu (ví dụ: Kanoksilapatham, 2015)

Một số tác giả cũng đã chú ý xây dựng khối liệu có kích cỡ (size) được xem

là đủ lớn nhằm tăng cường tính khái quát cho kết quả nghiên cứu (ví dụ: Lee, 2001; Kanoksilapatham, 2005; Loi, 2010) Bên cạnh đó, một số tác giả (ví dụ: Arvay & Tanko, 2004; Loi, 2010; Sheldon, 2011) đã chú ý đến việc phát triển công cụ phân tích có khả năng bao quát hết tất cả những bước thể hiện có trong khối liệu thay vì chỉ dựa vào một mô hình CARS (CARS 1990 hay CARS 2004) mà không xem xét đến thực tế khối liệu được xây dựng phục vụ cho đề tài

Bên cạnh các ưu điểm được trình bày trên đây, trong một số nghiên cứu đã được thực hiện và công bố còn tồn tại một số hạn chế cần phải được xem xét, khắc phục

Trang 21

1 Trong một số nghiên cứu, khối liệu có số lượng mẫu phân tích nhỏ Hirano (2009), Gao (2014), và Sattarpour (2014) phân tích khối liệu chỉ gồm 20 phần dẫn nhập (02 khối liệu con, mỗi khối liệu con gồm 10 phần dẫn nhập) Al-Quahtani (2006) và Zand-Vakili và Kashani (2012) phân tích khối liệu còn nhỏ hơn, chỉ có 05 phần dẫn nhập trong mỗi phần khối liệu con Do số lượng mẫu phân tích nhỏ, nên giá trị khái quát của kết quả nghiên cứu có thể bị ảnh hưởng đáng kể (Larson-Hall, 2010; Đỗ Văn Thắng & Phan Thành Huân, 2012; Lowie & Seton, 2013; Kanoksilapatham, 2015) Cho đến nay, nghiên cứu có kích cỡ khối liệu con lớn nhất

là công trình của Rahimi và Farnia (2017), với 35 PDNBBNC cho mỗi phần khối liệu

2 Trong những nghiên cứu thường nghiệm về ngôn ngữ, đặc biệt là các công trình theo định hướng định lượng thì việc hiểu biết và sử dụng công cụ thống kê đóng vai trò quan trọng cho việc thực hiện nghiên cứu cũng như diễn giải kết quả nghiên cứu (Larson-Hall, 2010; Kanoksilapatham, 2015) Tuy nhiên, trong đại đa số nghiên cứu đã công bố, tác giả chỉ dừng lại ở việc mô tả và chỉ ra sự khác biệt về tần suất hay tỷ lệ phần trăm của các hành động tu từ hay/và các bước thể hiện trong khối liệu Một phép kiểm tra thống kê thích hợp sẽ giúp tăng cường tính thuyết phục

và giá trị khoa học cho kết quả nghiên cứu

3 Mức độ tương đương của nhiều khối liệu phục vụ nghiên cứu còn hạn chế Trong một số khối liệu, thời gian xuất bản của các bài báo không trùng nhau (Mirahayuni, 2002; Sheldon, 2011; Alotaibi, 2013), tác giả nghiên cứu không giới hạn tác giả bài viết phải là người bản ngữ của ngôn ngữ đó (Hirano, 2009; Gao, 2014; Sattapour, 2014), hay khối liệu không giới hạn thể loại bài báo là nghiên cứu thường nghiệm (Arvay & Tanko, 2004; Zhang & Hu, 2010) Ngoài ra, khi chọn tạp chí chuyên ngành từ đó tuyển ra bài báo phục vụ cho việc xây dựng khối liệu, một

số tác giả hoặc không trình bày rõ tiêu chí, hoặc chỉ dựa trên ý kiến chủ quan của bản thân hay của một vài chuyên gia trong chuyên ngành (Al-Quahtani, 2006; Alotaibi, 2013) Thiếu sự tham chiếu đến một cơ sở xếp hạng tạp chí được giới khoa học chuyên ngành thừa nhận (ví dụ: các bảng xếp hạng tạp chí quốc tế Journal

Trang 22

Citation Reports, Scimago Journal Rank hoặc danh mục tạp chí được hội đồng khoa học hàng đầu của chuyên ngành bình chọn và xếp loại), khối liệu xây dựng cho nghiên cứu có thể chưa đại diện cho những bài báo có chất lượng học thuật cao của chuyên ngành

4 Một số nghiên cứu tìm hiểu và đối chiếu CTTTừ trong PDNBBNC chỉ ở một cấp độ Chẳng hạn, Hirano (2009), Zhang và Hu (2010) thực hiện đối chiếu ở cấp độ hành động tu từ và Rahimi và Farnia (2017) ở cấp độ bước thể hiện Rõ ràng, các nghiên cứu tiến hành đối chiếu xuyên ngôn ngữ CTTTừ PDNBBNC thường nghiệm ở cả hai cấp độ hành động tu từ và bước thể hiện sẽ cung cấp kết quả nghiên cứu đầy đủ, bao quát và chi tiết hơn là các nghiên cứu chỉ thực hiện ở một cấp độ

5 Trong khi một số nhà nghiên cứu chỉ vận dụng một mô hình phân tích CARS 1990 để làm công cụ phân tích khối liệu (Hirano, 2009; Zhang & Hu, 2010; Sattapour, 2014), một số tác giả khác lại kết hợp cả hai mô hình CARS 1990 và CARS 2004 (Loi, 2010; Alotaibi, 2013) hoặc bổ sung thêm một số bước thể hiện

mà tác giả phát hiện có trong khối liệu nhưng không được mô tả trong những mô hình Swales (1990, 2004) đề xuất (Arvay & Tanko, 2004; Sheldon, 2011; Kanoksilapatham, 2015) Nhìn chung, nếu mục đích nghiên cứu của tác giả chỉ là xác định CTTTừ trong PDNBBNC, đặc biệt là trong tiếng Anh, ở cấp độ hành động

tu từ (Hirano, 2009; Đỗ Xuân Hải, 2014) thì mô hình CARS 1990 là đủ để phân tích Tuy nhiên, trong những nghiên cứu thực hiện phân tích ở cả hai cấp độ, rõ ràng việc bám theo mô tả của chỉ một hay một số công cụ phân tích mà không xem xét đến khối liệu thực tế để điều chỉnh mô hình phân tích có thể sẽ dẫn đến kết quả khảo sát bỏ sót một số bước thể hiện có trong khối liệu nhưng không được mô tả trong mô hình CARS 1990 Những trường hợp như vậy sẽ ảnh hưởng đến kết quả thống kê cũng như kết quả đối chiếu các bước thể hiện và các hành động tu từ trong khối liệu phân tích

Trang 23

0.6.2 Nghiên cứu về chuỗi từ vựng trong PDNBBNC

Cho đến nay, số lượng nghiên cứu khảo sát chuỗi từ vựng trong mối liên hệ với CTTTừ PDNBBNC theo mô hình CARS của Swales (1990, 2004) còn khá ít ỏi Cortes (2013) có thể xem là người đầu tiên quan tâm đến vấn đề này Trước Cortes (2013), Amnuai (2012) có tìm hiểu vấn đề này, nhưng cách làm của Amnuai (2012)

ít nhiều mang tính chất thăm dò, vì chủ yếu là xác nhận lại một số tổ hợp chữ mà tác giả lưu ý khi thực hiện phân tích CTTTừ trong khối liệu trước đó Chú ý đến chức năng chung là những khối ngôn ngữ dùng để xây dựng diễn ngôn (building

blocks to be used in the construction of discourse) của hai khái niệm hành động tu

từ và chuỗi từ vựng trong văn liệu (Cortes, 2013, tr 35), Cortes đã khảo sát và thiết

lập được mối liên hệ giữa hai khái niệm này từ khối liệu gồm 1372 PDNBBNC (hơn một triệu chữ) của nhiều chuyên ngành, viết bằng tiếng Anh Cũng từ kết quả nghiên cứu, Cortes (2013, tr 42) có lưu ý rằng tỷ lệ xuất hiện của chuỗi từ vựng càng cao khi khối liệu xây dựng càng có phạm vi giới hạn

Shi (2014) đã khảo sát mối liên hệ giữa chuỗi từ vựng và hành động tu từ

trong bài báo nghiên cứu viết bằng tiếng Anh thuộc chuyên ngành Khoa học Nông nghiệp Khối liệu xây dựng gồm 45 bài báo nghiên cứu thường nghiệm xuất bản

trong khoảng 2007-2013 trong các tạp chí chuyên ngành có uy tín ở Trung Quốc Phần khối liệu còn lại bao gồm 45 bài báo nghiên cứu thường nghiệm khác xuất bản

từ năm 2009 đến năm 2013 trong các tạp chí chuyên ngành quốc tế có hệ số ảnh hưởng cao Các bài báo dùng để xây dựng khối liệu được chọn có chủ ý Tiêu chí để Shi (2014) nhận diện chuỗi từ vựng là: (i) cấu tạo từ 3 chữ trở lên, (ii) xuất hiện ít nhất là 3 lần, trong 3 văn bản khác nhau, và (iii) có đóng góp vào mục đích giao tiếp của hành động tu từ mà nó thuộc về Kết quả nghiên cứu của Shi (2014) cho thấy nhiều chuỗi từ vựng được phát hiện hơn trong phần khối liệu là bài báo xuất bản trong tạp chí quốc tế so với phần khối liệu là bài báo xuất bản ở Trung quốc

Alamri (2017) khảo sát mối liên hệ giữa chuỗi từ vựng và hành động tu từ

trong các phần Dẫn nhập, Phương pháp nghiên cứu, Kết quả nghiên cứu, Thảo luận

Trang 24

và Kết luận trong khối liệu gồm 15 bài báo nghiên cứu đăng trong các tạp chí

chuyên ngành có chất lượng học thuật cao ở Ả Rập Xê Út và 15 bài báo nghiên cứu đăng trong tạp chí quốc tế Tác giả không giới hạn tác giả bài báo phải là người bản ngữ Anh hay Ả Rập Xê Út Tất cả các bài báo được viết bằng tiếng Anh, thuộc lĩnh vực NNHUD, và được xuất bản trong khoảng 2011-2016 Tiêu chí xác định chuỗi

từ vựng là nó phải xuất hiện trong hai văn bản khác nhau và gồm 4 chữ Riêng với

phần Dẫn nhập, kết quả nghiên cứu cho thấy chuỗi từ vựng được phát hiện nhiều

hơn trong phần khối liệu là PDNBBNC xuất bản ở Ả Rập Xê Út so với phần khối liệu còn lại

Luận án kế thừa thành quả nghiên cứu của Cortes (2013), Shi (2014) và Alamri (2017) về mối liên hệ đã được xác lập giữa chuỗi từ vựng và CTTTừ của PDNBBNC Chúng tôi tiếp thu ý kiến của Cortes (2013, tr 42) về tương quan giữa

tỷ lệ xuất hiện của chuỗi từ vựng và phạm vi rộng hẹp của khối liệu phân tích Kích

cỡ khối liệu mà Shi (2014) và Alamri (2017) đã xây dựng cũng là cơ sở tham chiếu quan trọng để xây dựng khối liệu phân tích của luận án Khác với những nghiên cứu vừa đề cập, luận án mở rộng tìm hiểu chuỗi từ vựng trong khối liệu là PDNBBNC viết bằng hai ngôn ngữ khác loại hình là tiếng Việt và tiếng Anh thay vì giới hạn chỉ trong tiếng Anh

Trang 25

Chương 1: Tổng quan

Trong chương này, chúng tôi trình bày có nhận xét, phản biện một số cơ sở

lý thuyết và phương pháp luận mà luận án chọn lọc vận dụng từ các lĩnh vực Tu từ học đối chiếu, và Phân tích thể loại theo trường phái ESP Ngoài ra, chúng tôi còn

giới thiệu và nhận xét về hai mô hình CARS 1990 và CARS 2004 mà Swales (1990, 2004) đề nghị dùng để phân tích CTTTừ của PDNBBNC thường nghiệm trong tiếng Anh Luận án kế thừa, vận dụng có điều chỉnh một số cơ sở lý thuyết và phương pháp luận phù hợp từ những lĩnh vực nghiên cứu hữu quan được đề cập Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Trong chương này, chúng tôi xem xét khái niệm tertium comparationis, một lưu ý phương pháp luận quan trọng trong nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ, và trình bày việc thao tác hóa khái niệm này trong luận án Ngoài ra, chúng tôi còn mô tả chi

tiết việc xây dựng khối liệu, việc phát triển mô hình phân tích, và các giai đoạn cũng như thao tác thực hiện trong qui trình phân tích Những mô tả này là cần thiết

vì chúng không chỉ đáp ứng những yêu cầu cơ bản của một bài báo nghiên cứu

thường nghiệm (Malmfors và cộng sự., 2006; Nguyễn Văn Tuấn, 2011, 2013;

Brown, 2014; Phakiti, 2014), mà còn tạo điều kiện cho những nhà nghiên cứu khác thực hiện nghiên cứu lặp lại (replication studies) (Porte & Richards, 2012; Basturkmen, 2014; Altman, 2015) hoặc nghiên cứu tổng kết đánh giá (meta-analyses)

Chương 3: Cấu trúc tu từ và chuỗi từ vựng phát hiện được trong khối liệu

Trong chương này, trước hết chúng tôi trình bày kết quả phân tích CTTTừ xuất hiện trong cả hai phần khối liệu tiếng Việt và tiếng Anh Nội dung trình bày tiếp theo là những chuỗi từ vựng giúp hiện thực hóa CTTTừ trong PDNBBNC viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh của khối liệu

Chương 4: Đối chiếu kết quả nghiên cứu

Các kết quả nghiên cứu liên quan đến CTTTừ và chuỗi từ vựng trong PDNBBNC của khối liệu sẽ được đối chiếu Trong trường hợp có thể vận dụng

Trang 26

được, phép kiểm tra thống kê phù hợp sẽ được thực hiện nhằm xác định mức độ lớn hay nhỏ của những khác biệt có ý nghĩa thống kê được phát hiện Ngoài ra, kết quả nghiên cứu sẽ được so sánh với những kết quả hữu quan khác trong văn liệu Kiến giải cho kết quả tìm được của luận án và gợi ý sư phạm của nghiên cứu cũng sẽ được trình bày trong chương này

Kết luận

Phần này tổng kết một số kết quả nghiên cứu có ý nghĩa mà luận án xác định được và một số nhận xét khái quát từ quá trình thực hiện nghiên cứu Đồng thời, một số đề xuất cho những đề tài có thể thực hiện trong tương lai ở Việt Nam cũng

sẽ được đưa ra nhằm mở rộng hướng nghiên cứu mà luận án theo đuổi

Trang 27

CHƯƠNG MỘT TỔNG QUAN

Ý tưởng manh nha cho đề tài nghiên cứu của luận án nảy sinh khi chúng tôi

có dịp tìm hiểu về hai lĩnh vực Tu từ học đối chiếu và Phân tích thể loại theo trường phái ESP Một điểm chung gặp gỡ của hai lĩnh vực này là mối quan tâm đến việc sử

dụng CTTTừ và đặc điểm ngôn ngữ của một số thể loại diễn ngôn viết trong bối

cảnh học thuật hay nghề nghiệp

Luận án kế thừa những thành tựu lý thuyết và phương pháp luận của ngôn ngữ học đối chiếu truyền thống như xác định ngôn ngữ để đối chiếu (tiếng Việt và tiếng Anh), hướng tiếp cận đối chiếu hai chiều (khảo sát đối tượng nghiên cứu trong

cả hai ngôn ngữ, không có ngôn ngữ nào là nguồn hay đích), nguyên tắc nghiên cứu đồng đại (bài báo dùng để xây dựng khối liệu được xuất bản trong khoảng 2011-2015), đối chiếu sự giống nhau với sự giống nhau (CTTTừ và chuỗi từ vựng trong

PDNBBNC thường nghiệm), và khái niệm TC (tertium comparationis) - cơ sở tham

chiếu chung cho nghiên cứu (James, 1980; Krzeszowski, 1990; Bùi Mạnh Hùng, 2008) Bên cạnh đó, luận án còn đi theo đường hướng của nhiều nghiên cứu đối chiếu hiện nay (ví dụ: Sheldon, 2011; Gao, 2014) là không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau của yếu tố ngôn ngữ được đối chiếu mà còn tìm cách lý giải cho những sự giống nhau và khác nhau này

Dưới đây, chúng tôi lần lượt điểm qua những lĩnh vực nghiên cứu hữu quan

(Tu từ học đối chiếu, Phân tích thể loại theo trường phái ESP), với trọng tâm trình

bày là cơ sở lý thuyết và phương pháp luận mà luận án tiếp thu trong từng lĩnh vực 1.1 Tu từ học đối chiếu

Góp phần lớn cho quá trình nghiên cứu trong luận án này là hiểu biết chúng

tôi lĩnh hội được từ lĩnh vực Tu từ học đối chiếu Đây là lĩnh vực nghiên cứu đã

thực hiện nhiều khảo sát đối chiếu cấu trúc của diễn ngôn viết, cấp độ trên câu, trong các bối cảnh học thuật và nghề nghiệp của những cộng đồng người thuộc

Trang 28

những nền văn hóa khác nhau (Connor, 1996, 2008; Paltridge, 2012) và đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận

Lĩnh vực nghiên cứu Tu từ học đối chiếu được Kaplan (1966) khai sinh với

bài viết ‗‗Cultural thought patterns in intercultural education‘‘, đăng trên tạp chí

Language Learning, số 16, trang 1-20 Trong bài viết này, Kaplan chủ trương rằng

ngôn ngữ/văn hóa của một dân tộc ảnh hưởng đến lối suy nghĩ của dân tộc đó Ông chứng minh cho luận điểm này qua sự khác nhau trong cách cấu trúc thông tin/ý tưởng của đoạn văn trong bài luận chứng minh/tranh luận (expository essays) tiếng

Anh (để cho gọn, từ đây trở đi gọi là bài luận tiếng Anh) do người bản ngữ Anh và

một số nhóm sinh viên đại học ở Mỹ nhưng đến từ các nước không phải là các nước nói tiếng Anh bản ngữ viết Kaplan (1966, tr 15) sử dụng thuật ngữ CTTTừ (rhetorical structure) để chỉ cấu trúc thông tin trong những đoạn văn mà ông khảo sát, gồm ý chính của đoạn văn và những ý bổ trợ Trong bài viết đã nêu, quan niệm của Kaplan (1966) về diễn ngôn thiên về khía cạnh hình thức của văn bản (tổ chức của các đơn vị ngôn ngữ ở cấp độ trên câu) hơn là nhấn mạnh đến khía cạnh ngôn ngữ trong sử dụng (language in use) hay ngôn ngữ trong ngữ cảnh (language in context), hay là sự tổng hợp của tất cả những khía cạnh này trong một số quan niệm

về diễn ngôn gần đây (ví dụ: Bax, 2011; Flowerdew, 2012; Strauss & Feiz, 2014)

Các nhóm sinh viên nước ngoài trong nghiên cứu của Kaplan (1966) bao gồm: (i) sinh viên đến học đại học ở Mỹ nhưng là người bản ngữ các nước nói tiếng

Ả Rập (nhóm Semitic), (ii) sinh viên đến học đại học ở Mỹ là người bản ngữ các ngôn ngữ các nước Đông Á như Hàn Quốc, Trung Quốc (nhóm Oriental), (iii) sinh viên đến học đại học ở Mỹ là người bản ngữ các nước sử dụng các ngôn ngữ châu

Âu như tiếng Pháp, hay Tây Ban Nha (nhóm Romance), và (iv) nhóm sinh viên Nga (nhóm Russian) đến học đại học ở Mỹ

Sau khi xem xét CTTTừ của đoạn văn trong 598 bài luận tiếng Anh do các nhóm sinh viên trong nghiên cứu viết, và so sánh với CTTTừ đoạn văn tiếng Anh được cho là người bản ngữ Anh thường sử dụng, Kaplan (1966) phác họa sơ đồ cho

Trang 29

năm CTTTừ mà ông cho là mang đặc thù văn hóa/tư duy của 05 nhóm đối tượng: người bản ngữ Anh (English), người nói tiếng Ả Rập như bản ngữ (Semitic), người nói các thứ tiếng ở Đông Á như bản ngữ (Oriental), người nói các thứ tiếng gốc La

Mã như bản ngữ (Romance), và người bản ngữ Nga (Russian) (xem Hình 1.1)

Kaplan (1966) nhận định rằng CTTTừ phổ biến mà người bản ngữ Anh sử dụng trong đoạn văn của bài luận tiếng Anh (và lối suy nghĩ của người bản ngữ Anh) là tiếp cận vấn đề trực tiếp, tuyến tính, còn cấu trúc tương đương do các nhóm người khác viết (và lối suy nghĩ của các dân tộc này) thì mang tính gián tiếp hay lan man

Hình 1.1 Minh họa của Kaplan về cấu trúc đoạn văn do các nhóm sinh viên

khác nhau viết (phỏng theo Kaplan, 1966, tr 15)

Nghiên cứu của Kaplan (1966) đã mở ra một hướng nghiên cứu mới là đối chiếu ngôn ngữ ở bình diện diễn ngôn cho các nhà ngôn ngữ và NNHUD (Connor, 1996; Atkinson, 2012) Hướng nghiên cứu này đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia Bên cạnh nhiều ý kiến và bằng chứng ủng hộ quan điểm của Kaplan (Connor, 1996, 2008; Connor & Rozycki, 2013a), cũng xuất hiện nhiều ý kiến phê bình Nhiều nghiên cứu được thực hiện sau đó (ví dụ: Hinds, 1983; Mohan & Lo, 1985; Taylor & Chen, 1991) được tiến hành trên cơ sở phê phán phương pháp nghiên cứu của Kaplan (1966) và không đồng tình với một số ý kiến ông đưa ra trong bài viết

Đồng tình với nhiều nhà nghiên cứu khác (ví dụ: Mohan & Lo, 1985, Taylor

& Chen, 1991), chúng tôi cho rằng Kaplan (1966) đã bộc lộ một số bất cập trong phương pháp nghiên cứu Những hiểu biết cập nhật hơn hiện nay trong việc xây dựng cơ sở tương đương cho nghiên cứu (ví dụ: Connnor & Moreno, 2005; Connor

Trang 30

& Rozycki, 2013a) cho ta thấy rằng nhiều cơ sở tương đương trong khối liệu phân tích của Kaplan đã không được đảm bảo Chẳng hạn, Kaplan (1966) đã không xây dựng khối liệu bao gồm bài luận cùng thể loại do sinh viên là người bản ngữ Anh viết để đối chiếu CTTTừ đoạn văn trong các bài luận này với phần khối liệu là bài luận do các nhóm sinh viên khác trong nghiên cứu viết Việc ông đã làm là sử dụng

mô tả CTTTừ của đoạn văn trong tài liệu hướng dẫn viết bài luận trong tiếng Anh

Vì mô tả CTTTừ của một thể loại trong tài liệu hướng dẫn có thể không đúng với khối liệu thực tế được phân tích (Samraj, 2002; Swales & Feak, 2004), thao tác nghiên cứu này của ông có thể làm giảm giá trị của kết quả nghiên cứu

Bên cạnh đó, khối liệu trong nghiên cứu mà ông xây dựng là các bài luận viết bằng tiếng Anh do các nhóm sinh viên không phải là người bản ngữ viết cũng

là một cơ sở không tương đương khác, vì các sinh viên này phải viết các bài luận bằng ngôn ngữ thứ hai thay vì bằng tiếng mẹ đẻ Kaplan (1966) đã không lưu ý rằng các nhóm sinh viên này có thể viết bài luận với yêu cầu tương tự và có CTTTừ đoạn văn được xem là tốt trong tiếng mẹ đẻ, nhưng do hạn chế về kiến thức ngôn ngữ thứ hai, nên họ có thể đã không viết tốt bài luận bằng tiếng Anh

Ngoài ra, một số nhận xét khái quát của ông cần phải được xem xét lại Chẳng hạn, chỉ từ kết quả khảo sát CTTTừ của đoạn văn thuộc bài luận giải thích/chứng minh viết bằng tiếng Anh trong nghiên cứu của mình dẫn đến nhận xét khái quát rằng người bản ngữ Anh có lối tư duy trực tiếp, tuyến tính, mạch lạc, còn lối tư duy của các dân tộc khác trong nghiên cứu thì không được như vậy là hơi vội vàng Tương tự, một nhận xét khác của ông rằng CTTTừ của đoạn văn trong bài luận của người bản ngữ Anh thì đạt chuẩn, còn cấu trúc tương đương trong bài luận

do sinh viên các nhóm khác của nghiên cứu viết thì lệch chuẩn Rõ ràng là Kaplan (1966) đã nhìn từ góc nhìn của người bản ngữ Anh, thiên vị tiếng Anh và theo quan điểm của người bản ngữ Anh, hơn là từ góc nhìn của những dân tộc mà các nhóm sinh viên trong nghiên cứu là đại diện Như nhiều tác giả sau này (ví dụ: Atkinson, 2004; Paltridge & Starffield, 2007; Connor, 2008) đã tranh luận hay chứng minh, việc xem CTTTừ của một văn bản là trực tiếp, tuyến tính hay mạch lạc hay không

Trang 31

còn tùy thuộc vào góc nhìn của người đọc hay người viết là người ở trong hay ngoài nền văn hóa đó

Mặc dù vậy, như nhiều tác giả khác (ví dụ: Connor, 1996; Bloch, 2013, dẫn theo Belcher, 2014, tr 60), chúng tôi cho rằng nghiên cứu của Kaplan (1966) có nhiều ý nghĩa tích cực cho nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ trên bình diện diễn ngôn Nhờ vào bài viết của ông mà phạm vi nghiên cứu và đối chiếu ngôn ngữ đã vượt qua đơn vị cơ bản trước đó là câu trong ngữ pháp truyền thống Không những thế, quan niệm của Kaplan (1966) trong bài viết về mối liên hệ giữa CTTTừ với văn hóa

và lối tư duy của cộng đồng người sử dụng diễn ngôn viết là một trong những xuất phát điểm lý thuyết quan trọng cho nghiên cứu

Tiếp bước Kaplan (1966), Connor (1996) là người đã có công lao to lớn

trong việc thiết lập lĩnh vực Tu từ học đối chiếu với công trình Contrastive rhetoric: Cross-cultural aspects of second-language writing Theo Connor (1996), với sự phát triển từ mô hình truyền thống của Kaplan (1966), Tu từ học đối chiếu đã chứng

kiến một sự thay đổi hệ hình (paradigm shift) trong những thập niên 1990 do sự vận động của những yếu tố bên trong lẫn những yếu tố bên ngoài Các yếu tố bên trong

bao gồm các chỉ trích chỉ ra những hạn chế của lý thuyết Tu từ học đối chiếu truyền

thống (ví dụ: Hinds, 1983; Matalene, 1985) Các yếu tố bên ngoài nảy sinh từ việc thay đổi trọng tâm nghiên cứu viết luận bằng ngôn ngữ mẹ đẻ và những phát triển

mới trong các lĩnh vực Phân tích văn bản và Phân tích diễn ngôn trong khoảng thời

gian đó Các nhà nghiên cứu như Hinds (1983), Taylor và Chen (1991) đã quan tâm hơn đến việc xem xét CTTTừ trong văn bản viết bằng tiếng mẹ đẻ của những người không phải là người bản ngữ Anh thay vì xem xét cấu trúc này trong văn bản viết bằng tiếng Anh, ngôn ngữ thứ hai của những người này, rồi suy ra CTTTừ trong ngôn ngữ mẹ đẻ của họ như cách Kaplan (1966) đã làm

Tu từ học đối chiếu được xem là có cơ sở lý thuyết khả thi và giá trị đóng

góp khoa học của lĩnh vực nghiên cứu này đã được thời gian kiểm chứng (Ostler,

2002) Trong tiến trình phát triển, Tu từ học đối chiếu mở rộng phạm vi nghiên cứu

Trang 32

thông qua việc liên kết với các lĩnh vực khác (Atkinson, 2012; Connor & Rozycki, 2013a) Phạm vi nghiên cứu đã được mở rộng từ xem xét và đối chiếu xuyên văn

hóa CTTTừ của đoạn văn trong thể loại bài luận sang khảo sát và đối chiếu các thể loại khác như bài báo nghiên cứu hay một phần nào đó của bài báo nghiên cứu (Koutsantoni, 2006; Salager-Meyer và cộng sự., 2011; Kuhi & Rezaei, 2014), luận văn, luận án (Al-Ali & Sahawneh, 2011; Soler-Monreal, Carbonell-Olivares & Gil- Salom, 2011; Cheng, 2012), thư tiến cử (Precht, 1998; Quanbari, Nemati & Tohidian, 2014), thư bán hàng (Wolfe, 2008 ; Cheung, 2009), và bài bình luận báo chí (Wang, 2007, 2008)

Trong thập niên đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba, Ulla Connor (2004, 2008)

đã đề nghị thay đổi tên gọi từ Tu từ học đối chiếu (contrastive rhetoric) bằng Tu từ học liên văn hóa (intercultural rhetoric) Thuật ngữ mới này được sử dụng để bao

quát không chỉ các nghiên cứu xuyên ngôn ngữ về các đặc điểm diễn ngôn viết bản ngữ của hai nhóm tác giả thuộc về hai nền văn hóa khác nhau mà còn bao quát cả những nghiên cứu về các tình huống tương tác bằng cùng một ngôn ngữ thứ hai trong những bối cảnh cụ thể của những người thuộc các nền văn hóa và có tiếng mẹ

đẻ khác nhau Connor (2004, 2008) cho rằng tên gọi mới thể hiện chính xác hơn

những tiến bộ đạt được của lĩnh vực Tu từ học đối chiếu hiện nay trên các phương

diện mở rộng khái niệm, phạm vi nghiên cứu, thể loại nghiên cứu, ngôn ngữ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, đồng thời định hướng phát triển tiếp theo cho lĩnh vực Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đối chiếu diễn ngôn vẫn thích sử dụng thuật

ngữ cũ, Tu từ học đối chiếu để mô tả công trình họ thực hiện, đặc biệt là những

nghiên cứu định lượng, dựa trên khối liệu (Connor, 2014) như trong luận án này

Luận án kế thừa khái niệm CTTTừ của Kaplan (1966, tr 15) là cách sắp xếp

của thông tin hay ý tưởng ở cấp độ trên câu của một loại diễn ngôn viết Đây là một

cách hiểu của khái niệm diễn ngôn (Bax, 2011; Schiffrin, Tannen & Hamilton,

2015) Tuy nhiên, cách hiểu này còn quá rộng vì nó hoàn toàn có thể được áp dụng cho nhiều loại văn bản khác nhau, miễn là đáp ứng yêu cầu về hình thức thể hiện là một tập hợp câu biểu đạt nội dung nào đó Ngoài ra, luận án này khảo sát CTTTừ

Trang 33

trong thể loại là PDNBBNC thường nghiệm, không phải là thể loại bài luận mà Kaplan (1966) đã xem xét, nên cần một mô tả khác, cụ thể hơn và phù hợp hơn với đối tượng tìm hiểu của đề tài Mô hình lý thuyết bổ sung này được tiếp thu từ những

mô hình CARS của Swales (1990, 2004) Những mô hình này sẽ được trình bày rõ

hơn ở mục 1.3 của luận án

Tham chiếu với sự phân biệt của Connor (2004, 2008) giữa nghiên cứu đối chiếu xuyên văn hóa và liên văn hóa, công trình của chúng tôi được thực hiện theo

định hướng xuyên văn hóa (đối chiếu giữa hai ngôn ngữ là bản ngữ) Đồng thời,

chúng tôi kế thừa thành tựu về việc thiết lập các cấp độ và cơ sở tương đương cho

nghiên cứu từ lĩnh vực Tu từ học đối chiếu, đặc biệt là định hướng của Connor và

Moreno (2005), và Connor và Rozycki (2013a) Một hiểu biết quan trọng khác cũng được kế thừa là tính bền vững tạm thời của thể loại trong các không gian và thời gian nhất định (Bhatia, 1993; You, 2010; Kirpatrick & Xu, 2012) Đây là cơ sở quan trọng đảm bảo cho tính khả thi và giá trị khoa học cho việc xây dựng và phân tích khối liệu của đề tài luận án

Bên cạnh đó, hiểu biết về tính vận động, thay đổi của thể loại theo thời gian (Li & Ge, 2009; Maswana, 2015) giúp chúng tôi giới hạn thời gian xuất bản của khối liệu Đây cũng là một căn cứ quan trọng khác cho sự cần thiết phải khảo sát đối tượng nghiên cứu trên một khối liệu cập nhật trong bối cảnh đã có nhiều nghiên cứu tương tự đã được thực hiện và công bố Kết quả phân tích khối liệu thu thập trong khoảng thời gian cập nhật sẽ giúp đưa ra mô tả sát thực tế nhất và có thể cho thấy thể loại có biến đổi hay không khi so sánh với kết quả của những nghiên cứu tương tự đã công bố

Với việc ngày càng nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận ý tưởng về mối liên hệ

giữa các yếu tố ngôn ngữ sử dụng, tư duy, và văn hóa trong các cộng đồng người sử

dụng ngôn ngữ và ủng hộ nghiên cứu ngôn ngữ trong mối liên hệ với các yếu tố hữu quan này (Nguyễn Đức Tồn, 2010; Mukarami, 2012; Sharifian, 2015), luận án hướng đến một đóng góp nhỏ cho hướng nghiên cứu ngôn ngữ trên bình diện diễn

Trang 34

ngôn ở Việt Nam với hướng tiếp cận liên ngành nói trên Tuy nhiên, mối quan tâm trong luận án chỉ giới hạn trong mối liên hệ giữa cấu trúc ở cấp độ trên câu của một loại diễn ngôn viết cụ thể và yếu tố văn hóa của cộng đồng người sử dụng loại diễn ngôn đó Mối liên hệ giữa yếu tố ngôn ngữ được khảo sát và lối tư duy của cộng đồng người sử dụng loại diễn ngôn có chứa yếu tố ngôn ngữ đó không được tìm hiểu trong luận án

1.2 Nghiên cứu thể loại trong chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng

Thể loại là khái niệm được nhiều lĩnh vực nghiên cứu quan tâm (Hyland,

2002; Bawashi & Reiff, 2010) và có lịch sử nghiên cứu lâu đời (Hammond & Derewianka, 2001; Corbett, 2006) Ít nhất thì từ thời Hy Lạp cổ đại, khái niệm thể loại đã được sử dụng trong lý thuyết văn chương để phân loại văn chương thành nhiều phạm trù khác nhau dựa trên tiêu chí đáp ứng qui ước về hình thức, nội dung, hay việc sử dụng ngôn ngữ Một ví dụ cho sự phân loại này là việc người Hy Lạp cổ đại chia thơ ca thành ba thể loại anh hùng ca (epic), trữ tình (lyric) và kịch (drama) dựa trên tiêu chí là giọng nói của người kể chuyện hay là của các nhân vật (Corbett, 2006) Trong thể loại trữ tình, ta chỉ nghe được giọng nói của người kể chuyện Trong thể loại kịch, ta chỉ nghe được giọng nói của các nhân vật, nhưng trong thể loại anh hùng ca, ta nghe được cả giọng nói của người kể chuyện lẫn giọng nói của các nhân vật Trong một thời gian dài, thuật ngữ thể loại được dùng cho mục đích phân loại trong địa hạt văn chương và một số hình thức diễn đạt có tính chất sáng tạo khác như nghệ thuật hay điện ảnh (Hammond & Derewianka, 2001)

Mối quan tâm đến khái niệm thể loại và phân tích thể loại trong lĩnh vực NNHUD xuất hiện muộn hơn, bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỷ trước, phát triển trong hai thập niên tiếp theo, và tiếp diễn mạnh mẽ cho đến tận ngày nay Hướng tiếp cận thể loại của những nhà NNHUD thường được biết đến dưới ba hình thức là

trường phái Tu từ mới (New Rhetoric School), trường phái Sydney (Sydney School)

và trường phái ESP (ESP School) (Hyon, 1996; Bawashi & Reiff, 2010; Martin,

2013) Tuy thuộc trường phái khác nhau, những nhà nghiên cứu vẫn có những mối

Trang 35

quan tâm chung và cùng chia sẻ một số quan niệm về thể loại Chẳng hạn, họ thống nhất với ý tưởng rằng thể loại là hành động có tính chất xã hội bằng ngôn ngữ để đạt được mục đích giao tiếp, và đều có hứng thú với việc tìm hiểu hành vi ngôn ngữ trong những tình huống giao tiếp có tính lặp đi lặp lại nhằm phục vụ cho mục đích giảng dạy ngôn ngữ (Miller, 1984; Swales, 1990; Loi & Evans, 2010) Sau đây chúng tôi sẽ điểm qua quan niệm về thể loại và hướng nghiên cứu thể loại của ba

trường phái này, bắt đầu bằng trường phái Tu từ mới, tiếp theo là trường phái Sydney, và sau cùng là trường phái ESP

1.2.1 Trường phái Tu từ mới

Trong lĩnh vực NNHUD, thể loại và tìm hiểu về thể loại nhận được sự quan tâm của một nhóm học giả, đa số làm việc tại các trường đại học ở Bắc Mỹ Những học giả này thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau như tu từ học, viết luận, hay hoạt động viết có tính chất nghề nghiệp, nhưng có chung mối quan tâm đến việc giảng dạy ngôn ngữ (tiếng Anh) cho sinh viên bậc đại học, phần lớn là người Anh bản ngữ ở khu vực địa lý này (Hyon, 1996; Yunick, 1997) Hướng tiếp cận này

thường được biết đến dưới tên gọi là trường phái Tu từ mới và quan niệm của Miller

(1984) về thể loại đóng vai trò là tư tưởng nền tảng cho nghiên cứu của trường phái

Theo Miller (1984, tr 151, tr 163), thể loại là hành động xã hội, gồm những hành động tu từ được điển hình hóa dựa trên những tình huống giao tiếp được lặp đi lặp lại trong bối cảnh học thuật hay nghề nghiệp Từ định nghĩa này, có thể hiểu rằng trong những tình huống xảy ra lặp đi lặp lại trong một bối cảnh xã hội cụ thể thì những người thường xuyên tham dự vào những tình huống đó có thể nhận ra và phản ứng lại trong những tình huống tương tự bằng một số hành động quen thuộc bằng ngôn ngữ để đạt được mục đích giao tiếp nào đó Tập hợp những hành động quen thuộc được nhận ra và sử dụng trong bối cảnh tình huống lặp đi lặp lại này gọi

là thể loại Miller (1984) không chủ trương có một bảng phân loại thể loại có tính chất đóng kín, mà việc phân loại này, nếu có, cần có tính mở vì thể loại vận động và biến đổi tùy theo sự đa dạng và phức tạp của xã hội cụ thể mà trong đó nó được sử

Trang 36

dụng Quan niệm này của Miller (1984) nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà nghiên

cứu trong trường phái Tu từ mới (ví dụ: Freedman & Medway, 1994; Berkenkotter

sử dụng của thể loại thông qua những khía cạnh như thái độ, niềm tin, hoạt động, giá trị, và khuôn mẫu hành vi của cộng đồng người sử dụng thể loại (Hammond & Derewianka, 2001; Hyland, 2002; Solin, 2010; Flowerdew, 2012) Việc xem nhẹ

tìm hiểu yếu tố ngôn ngữ của thể loại của trường phái Tu từ mới, trong chừng mực

nào đó, là có thể hiểu được, vì phần lớn những học giả thuộc trường phái này không được đào tạo từ chuyên ngành ngôn ngữ học Ngoài ra, thái độ hoài nghi cơ sở ngữ nghĩa và cú pháp trong việc xác định thể loại của Miller (1984) có thể cũng có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu trong trường phái này

Luận án này không đi theo hướng tiếp cận của trường phái Tu từ mới, vì

nghiên cứu thể loại theo trường phái này không chủ trương tìm hiểu yếu tố ngôn ngữ của thể loại được khảo sát, trong khi mối quan tâm của luận án là khảo sát và đối chiếu CTTTừ và chuỗi từ vựng tương ứng của thể loại PDNBBNC chuyên ngành NNHUD trong tiếng Việt và tiếng Anh Ngoài ra, quan niệm rằng thể loại là hành động xã hội của Miller (1984, tr 151) cũng đã được Swales (1990) tiếp thu

1.2.2 Trường phái Sydney

Trong một hướng tiếp cận khác, những nghiên cứu phân tích thể loại của

Trường phái Sydney chịu ảnh hưởng từ cách hiểu về thể loại của James Martin

Trang 37

(1992, 1999), và Ruqaiya Hassan (1989) Điểm chung của hai tác giả này là họ đều xuất phát từ khung lý thuyết về ngữ vực (register) của Halliday (1978, 1989)

Đóng góp to lớn của Martin (1992, tr 505; 1999, tr 28) cho nghiên cứu thể

loại theo trường phái Sydney là cách hiểu về thể loại như là quá trình xã hội, hướng

đến mục đích giao tiếp và bao gồm nhiều giai đoạn (staged, goal-oriented, social processes) Đây là quan niệm về thể loại được nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực

SFL chấp nhận và vận dụng (ví dụ: Cope & Kalantzis, 1993; Christie &

Derewianka, 2008) Khi xem thể loại là quá trình, Martin (1992, 1999), đã liên kết văn bản được xem xét với bối cảnh sử dụng của nó chứ không quan niệm văn bản như là một sản phẩm được tạo ra nhưng lại tách biệt với bối cảnh xã hội tạo ra nó Martin (2009, tr 159) giải thích thêm cho định nghĩa về thể loại của ông như sau: (i) thể loại được tạo ra có mục đích hướng đến một đối tượng người đọc/người nghe nào đó bất kể đối tượng này có hiện diện trực tiếp để hồi đáp lại hay không, (ii) phần lớn thể loại cần nhiều hơn một giai đoạn [hành động giao tiếp] để hiện thực

nó, và (iii) nếu những giai đoạn của thể loại không diễn ra như chúng ta kỳ vọng thì chúng ta có cảm giác không hoàn chỉnh và không hài lòng

So với quan niệm về ngữ vực của Halliday (1978, 1989), thì Martin (1992,

1999) đã mở rộng việc xem xét ý nghĩa của một văn bản từ bối cảnh tình huống sang bối cảnh văn hóa bằng cách chú ý đến mục đích giao tiếp của các loại văn bản trong một bối cảnh văn hóa xã hội, mà cụ thể hơn, là bối cảnh dạy đọc-viết (literacy) ở các trường tiểu học và trung học ở Úc Ngoài ra, đề xuất của ông rằng một thể loại thường bao gồm nhiều giai đoạn tương ứng với nhiều mục đích giao tiếp khác nhau cùng trong thể loại đó là một hiểu biết sâu sắc hơn và có giá trị mô tả

rõ ràng hơn quan niệm về ngữ vực của Haliday (1978, 1989)

Martin (1992, tr 505) cũng là người đề xuất thuật ngữ cấu trúc lược đồ

(schematic structure) để chỉ cấu trúc diễn ngôn của thể loại Cấu trúc này được xác định từ văn bản căn cứ trên mục đích giao tiếp của thể loại Lấy ví dụ, ở thể loại

Quy trình thực hiện thí nghiệm/quan sát (Procedure) thì cấu trúc lược đồ gồm ba

Trang 38

giai đoạn là Mục đích (Purpose) ^ Trang thiết bị (Equipment) ^ Các bước tiến hành

(Steps) (Rose & Martin, 2012, tr 130)

Hasan (1989, tr 82) cũng có đóng góp tương tự Martin (1992) khi bà đưa ra

khái niệm tiềm năng cấu trúc thể loại (generic structure potential) để giúp mô tả cấu

trúc văn bản của thể loại Về cơ bản, Hasan (1989) cho rằng văn bản, xét theo cơ sở nội dung/thuộc tính ngữ nghĩa, có chứa một số thành tố cấu trúc có tính bắt buộc (obligatory), luôn luôn xuất hiện trong những văn bản được khảo sát, và một số thành tố cấu trúc xuất hiện không thường xuyên khác, mà bà gọi là thành tố tùy chọn (optional) Trong một văn bản, những thành tố này được sử dụng kết hợp với nhau và có thể được sử dụng lặp lại

Theo Hasan (1989), sự có mặt của tập hợp những thành tố bắt buộc là cơ sở

để xem các văn bản được khảo sát có cùng một thể loại hay không Hasan (1989, tr 64) cho ví dụ về một mô tả tiềm năng cấu trúc thể loại của hội thoại mua hàng

(service encounters), trong đó có các thành tố bắt buộc là Yêu cầu bán hàng (Sale request), Chấp nhận yêu cầu bán hàng (Sale compliance), Bán hàng (Sale), Mua hàng (Purchase), Kết thúc mua hàng (Purchase closure) Trong thể loại giao tiếp này, các thành tố được xem là tùy chọn bao gồm Chào hỏi (greeting) hay Chào kết thúc (Finis) Khác với Martin (1992), Hasan (1989) không đưa ra được một khái

niệm về thể loại đủ rõ ràng Ngoài ra, quan niệm của bà về cơ sở để phân loại văn bản dựa trên tập hợp một số ít những thành tố bắt buộc về nội dung bị phê phán là cứng nhắc, phiến diện và không đủ mạnh mẽ để đạt được mục đích phân loại văn bản trong thực tế (Paltridge, 1995, 1997; Martin & Rose, 2008)

Đối với diễn ngôn viết, phần lớn những nghiên cứu phân tích thể loại thuộc

trường phái Sydney được thực hiện để xác định cấu trúc lược đồ và mô tả đặc điểm

từ vựng – ngữ pháp trên các chiều kích trường (field), không khí (tenor) và cách thức (mode) của các loại văn bản mà học sinh ở bậc tiểu học và trung học thường phải viết như giải thích (explanations), kể chuyện (recounts) hay miêu tả

(descriptions) (Martin & Rose, 2008; Bawashi & Reiff, 2010; Solin, 2010) Trong

Trang 39

ba hướng tiếp cận nghiên cứu thể loại của lĩnh vực NNHUD, hướng nghiên cứu của

trường phái Sydney có thế mạnh là sau khi đã xác định được cấu trúc lược đồ của

thể loại thì người phân tích còn có thể xác định đặc điểm ngôn ngữ (từ vựng - ngữ pháp) của thể loại dựa vào khung lý thuyết chức năng hệ thống SFL Tuy nhiên, theo Martin-Martin (2003), cách tiếp cận thể loại này của trường phái Sydney hàm

ý tính chất tĩnh, bền vững của thể loại thông qua việc xác định những đặc điểm từ vựng – ngữ pháp bắt buộc sử dụng Điều này ngược lại với quan điểm về tính chất

động, vận động, biến đổi của thể loại mà các trường phái Tu từ mới và ESP chủ

trương

Quan niệm về thể loại của trường phái Sydney có một số điểm tương thích để

vận dụng vào nghiên cứu của luận án, ví dụ như quan niệm rằng thể loại là phương tiện ngôn ngữ nhằm đạt mục đích giao tiếp, có dấu hiệu hình thức nhận biết được và được cấu thành từ nhiều hành động giao tiếp đặt trong bối cảnh xã hội Tuy nhiên,

chúng tôi không đi theo hướng nghiên cứu thể loại của trường phái Sydney Lý do

chính là vì chúng tôi chưa tìm được tài liệu nào trình bày đủ rõ ràng mối liên hệ giữa mô tả ngôn ngữ theo khung lý thuyết chức năng hệ thống (Systemic Functional Linguistics) và CTTTừ của thể loại PDNBBNC thường nghiệm viết bằng tiếng Việt

và tiếng Anh của khối liệu để vận dụng

1.2.3 Trường phái ESP

ESP - Tiếng Anh cho các mục đích chuyên biệt (English for Specific

Purposes) là một lĩnh vực của NNHUD được khai sinh vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước Từ những phát triển mạnh mẽ trong những năm đầu thập

niên 1990, đến nay ESP đã được thừa nhận là một lĩnh vực nghiên cứu mang tính

chất đã được thiết lập (established) Nó có tác động to lớn đến việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng Anh (Swales, 2004; Hyland, 2007) Mối quan

tâm chủ yếu của lĩnh vực ESP là hỗ trợ việc giảng dạy tiếng Anh như là ngôn ngữ

thứ hai hay ngoại ngữ cho đối tượng người học điển hình là người trưởng thành có mục đích học tiếng Anh để sử dụng trong bối cảnh học thuật hay nghề nghiệp với

Trang 40

các lĩnh vực nhỏ hơn của nó như Tiếng Anh cho mục đích học thuật (EAP – English for Academic Purposes), Tiếng Anh cho mục đích nghề nghiệp (EOP – English for Occupational Purposes), Tiếng Anh cho mục đích y khoa (EMP – English for Medical Purposes), và Tiếng Anh cho mục đích kinh doanh (EBP – English for

Business Purposes) (Hammond & Derewianka, 2001; Hyland, 2007; Solin, 2010; Paltridge, 2013)

Khái niệm thể loại trong lĩnh vực ESP được giới thiệu lần đầu tiên vào năm

1981 trong hai bài viết, một của Tarone và cộng sự, và một của Swales (Paltridge,

2001, 2013) Tuy nhiên, chính Swales (1981, 1990, 2004) mới là người phát triển

khái niệm này lên mức đầy đủ, và lĩnh vực nghiên cứu ESP hưởng lợi rất nhiều từ

thành tựu này của ông, bên cạnh phương pháp phân tích thể loại (genre analysis) cũng do ông đề xướng

Trong chuyên khảo Aspects of article introductions, Swales (1981, tr 10) sử dụng thuật ngữ thể loại khi đề cập đến CTTTừ của PDNBBNC Theo Swales (1981,

tr 17, chúng tôi dịch), thể loại là “một sự kiện giao tiếp tương đối chuẩn hóa có một hay một số các mục đích được những người tham gia trong sự kiện đó cùng hiểu Các mục đích này tồn tại trong một bối cảnh chức năng hơn là trong một bối cảnh xã hội hay bối cảnh cá nhân” Cũng theo Swales (1981), việc khái niệm hóa

thể loại từ cách tiếp cận này sẽ thuận lợi cho việc thiết lập một số tuyên bố khái quát có thể ứng dụng được trong giảng dạy nhờ vào việc giới hạn phạm vi mục đích giao tiếp, xem xét tính chất qui ước, và mối quan hệ giữa chức năng và hình thức ngôn ngữ sử dụng của một loại văn bản

Với phác thảo bước đầu này về khái niệm thể loại, Swales (1981) đã có

đóng góp lớn cho việc nghiên cứu diễn ngôn và giảng dạy ngôn ngữ Ông đã vượt qua giới hạn xem xét diễn ngôn như là hình thức ngôn ngữ ở cấp độ lớn hơn câu (văn bản) để đặt nó vào bối cảnh sử dụng cụ thể Từ đó, ông cho thấy mục đích sử dụng thể loại của nhóm người sử dụng nó là cơ sở chức năng quyết định việc sử dụng ngôn ngữ của thể loại Rõ ràng, cách tiếp cận này giúp cho người học ngôn

Ngày đăng: 22/01/2021, 11:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w