Quan điểm của những tác giả trên - phủ nhận sự tồn tại của từ loại dựa trên những khác biệt về mặt loại hình giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ biến hình - có cơ sở hạt nhân hợp lý nhưng n
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
0.1 Lý do chọn đề tài
Tính từ (TT) tiếng Việt, như các từ loại từ vựng khác, có vai trò rất quan trọng Có thể nói, hầu hết các tài liệu về ngữ pháp tiếng Việt đều ít nhiều đề cập đến từ loại này Quan điểm cũng như những nghiên cứu về nó cho thấy đây là đối tượng nghiên cứu phức tạp, còn nhiều bất đồng trong giới Việt ngữ học Trong tiếng Việt, từ loại này được nhiều học giả cho là có nhiều nét tương đồng với từ loại động từ (ĐT) tuy nhiên cơ sở cho kết luận như vậy thường chủ yếu dựa trên những tương đồng về hoạt động cú pháp Bằng cách khảo sát cấu trúc tham tố (CTTT), luận án này góp phần tìm hiểu bản chất của tính từ (TT) tiếng Việt cũng như sự tương đồng của TT với động từ (ĐT) trong tiếng Việt ở một góc độ khác
Đó cũng chính là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài: "Cấu trúc tham tố của tính từ trong tiếng Việt (đối chiếu với cấu trúc tương ứng trong tiếng Anh)"
Đề tài của Luận án được phát triển từ cùng một đề tài của luận văn Luận văn đã khảo sát, làm rõ CTTT của TT dựa trên tập hợp TT đơn tiết ở một mức độ nhất định, như:
- Phân chia TT thành TT nội động và TT ngoại động
- Xác định những tham tố cơ bản trong CTTT của TT (diễn tố, chu tố)
- Tìm hiểu khả năng làm hạt nhân của TT trong CTTT (kết hợp với một tham tố và hai tham tố)
- Mối liên hệ giữa CTTT và cấu trúc cú pháp của TT tiếng Việt
- Đối chiếu CTTT của TT tiếng Việt với CTTT của TT tiếng Anh ở phương diện CTTT
Ở luận án này, chúng tôi tiếp tục làm rõ những vấn đề chưa được xử lý triệt
để, những vấn đề mới được đặt ra trong luận văn, bằng cách củng cố thêm cơ sở lý luận, khảo sát thêm tập hợp TT đa tiết để xác định đúng hơn bản chất CTTT của
TT tiếng Việt
Trang 2Vấn đề trọng tâm mà đề tài đặt ra, cần tiếp tục giải quyết là: xác định CTTT của TT tiếng Việt để thấy sự tương đồng của nó với CTTT của ĐT tiếng Việt Để giải quyết được vấn đề này, phải làm rõ được:
(i) Về vấn đề phân định từ loại
(ii) Về ý nghĩa đặc trưng của TT
(iii) Những đơn vị đơn tiết và đa tiết làm TT
(iv) Về phạm trù nội động/ ngoại động
(v) Mối liên hệ giữa CTTT và cấu trúc cú pháp của TT trong câu tiếng Việt (vi) Các vai nghĩa cơ bản trong cấu trúc tham tố có tính từ làm hạt nhân trong tiếng Việt
(vii) So sánh CTTT của TT tiếng Việt với CTTT của TT tiếng Anh một cách toàn diện hơn
Giải quyết được các vấn đề trên, chúng tôi hy vọng tìm hiểu một cách hệ thống, đầy đủ hơn về CTTT của TT tiếng Việt Từ đó, cung cấp thêm cơ sở chứng minh cho sự gần gũi giữa TT và ĐT trong tiếng Việt
0.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
0.2.1 Quan điểm của giới Việt ngữ học về từ loại, về tính từ
0.2.1.1 Quan điểm cho rằng tiếng Việt không có từ loại
Vấn đề từ loại trong ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Việt nói riêng, luôn
là vấn đề phức tạp và gây tranh cãi Nhiều nhà Việt ngữ học, do bị ảnh hưởng bởi
lý luận ngôn ngữ châu Âu, đã nghi ngờ về khả năng phân định từ loại trong tiếng Việt
Grammont - Lê Quang Trinh (1911-1912), xuất phát từ thực tế tiếng Việt
đã cho rằng không thể xác định từ loại trong ngôn ngữ này vì lẽ ở đó từ không có các đặc trưng như ở ngôn ngữ châu Âu Các tác giả này khẳng định: “Trong tiếng Việt, không có quán từ, danh từ, cũng không có đại từ, ĐT, không có giống, không có số: chỉ có từ không thôi, những từ đó nhất loạt là đơn âm tiết, nói chung không biến hình và ý nghĩa cơ bản của chúng là do những từ đặt trước hay đặt sau, nghĩa là do tác dụng và vị trí của chúng ở trong câu làm cho biến đổi đi và rõ ra
Trang 3Bởi vậy từ xe có thể có nghĩa là roule (ĐT), roulé, roulant (TT), char (danh từ); từ
thương có thể có nghĩa aimer, amour; từ trên có thể có nghĩa sur (giới từ),
au-dessus (phó từ), supérieur (TT)” (tr 17)
Cùng quan điểm như trên, Hồ Hữu Tường (1949) quan niệm Tiếng Việt cơ
cấu theo một lối khác hẳn với các ngôn ngữ phương Tây, nên không có “từ loại” Người ta có thể so sánh mỗi tiếng trong tiếng Việt như là một người trong một phường hát, mỗi câu như một vở kịch Tùy theo vở kịch mà người ta phải chia đào kép thích ứng để đóng tuồng Rồi tùy theo mỗi vai trò mà các tiếng phải đến ngôi thứ của nó theo những quy củ rành rẽ Lắm khi một tiếng lại được dùng nhiều lần, mỗi lần với một vai trò, một ý nghĩa khác, thì cũng như có vở kịch mà một người
có thể đóng vai này rồi đóng vai khác vậy
Nguyễn Hiến Lê (1952) sau khi phân tích một số ví dụ trong tiếng Việt và
so sánh đối chiếu với các ngôn ngữ biến hình cũng cho rằng tiếng Việt không có
từ loại nhất định Lý do ông đưa ra là các từ của tiếng Việt có thể tham gia vào các
vị trí cú pháp khác nhau mà không thay đổi hình thái: “[…] rất nhiều tiếng đứng ở đây thuộc vào tự loại này, đứng ở chỗ khác lại thuộc vào tự loại khác mà không
hề thay đổi tự dạng Ta có thể nói bất kỳ một danh từ, ĐT, tĩnh từ nào cũng có thể biến loại được”, và ông cho rằng sở dĩ “[…] từ trước đến nay có những tiếng chưa biến là chỉ vì chưa có cơ hội nào để biến đó thôi” (tr.28)
Quan điểm của những tác giả trên - phủ nhận sự tồn tại của từ loại dựa trên những khác biệt về mặt loại hình giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ biến hình - có
cơ sở hạt nhân hợp lý nhưng nó không hướng tới tìm kiếm những đặc điểm, những tiêu chí để phân loại ngôn ngữ - một nhu cầu có ý nghĩa cả về lý thuyết lẫn thực hành
0.2.1.2 Quan điểm cho rằng tiếng Việt có từ loại
0.2.1.2.1 Quan điểm cho rằng tiếng Việt có từ loại trong đó TT là một từ loại
Trái với khuynh hướng trên, phần lớn các nhà Việt ngữ học đều cho rằng
có tồn tại từ loại TT, và từ loại này thường được miêu tả khá đầy đủ trong mối tương quan với từ loại danh từ và ĐT Các tác giả đi theo khuynh hướng này, một mặt, cố gắng xuất phát từ thực tiễn tiếng Việt để đề xuất vấn đề, mặt khác bằng
Trang 4con đường lý luận cố gắng lấp bớt sự ngăn cách về mặt đặc điểm loại hình giữa các ngôn ngữ Khuynh hướng này đã xác nhận sự có mặt các từ loại trong tiếng Việt, chứng minh khả năng phân định từ loại dựa trên những tiêu chí khách quan Theo hướng này, một số tác giả đề nghị phân chia từ loại theo một tiêu chí, một số tác khác lại chủ trương xác định các từ loại qua một tập hợp tiêu chí (Nguyễn Thiện Giáp, 2006)
Chúng tôi xin trích bảng thống kê sơ bộ về các quan điểm cơ bản trong
nghiên cứu từ loại tiếng Việt trong Ngữ pháp tiếng Việt của một nhóm tác giả
thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội (1983) Bảng phân loại này đã thể hiện được các
xu hướng, quan điểm cơ bản về phân chia từ loại tiếng Việt của giới Việt ngữ học trước những năm 90 của thế kỉ 20
Bảng 0.1: Phân chia từ loại tiếng Việt “Nguồn: Ủy ban Khoa học Xã hội 1983”
Tên tác giả Tiêu chí xác định
Lê Văn Lý
1948,1968 Giá trị kết hợp 6
Danh từ, ĐT, TT, ngôi từ, số từ, phụ từ
Phan Khôi
Danh từ, đại danh từ, ĐT, hình dung từ, phó từ, giới từ, liên từ, thán từ
từ, trợ từ); loại từ, thántừ Trương Văn
Chình 1963
Ý nghĩa;
Thể từ (danh từ); trạng từ (sự trạng động, sự trạng tĩnh), trợ
từ
Trang 5Vị trí, chức năng, vai trò của từ trong ngữ đoạn
2 loại lớn
Từ nòng cốt (danh từ, đại từ,
ĐT, TT); từ phụ gia (hạn từ, phó từ, hệ từ, hiệu từ)
Nguyễn Tài
Cẩn 1975
Khả năng tổ chức đoản ngữ
2 loại lớn
Từ có thể làm trung tâm đoản ngữ (danh từ, ĐT, TT); từ không thể làm trung tâm đoản ngữ (định từ, trạng từ, quan hệ
từ, trợ từ…); từ chưa biết có thể làm trung tâm hay không thể làm trung tâm (thán từ, tiểu từ tình thái,…)
Đái Xuân
Ninh 1978
Vị trí của từ;
Khả năng kết hợp; Ý nghĩa của từ
8
Danh từ, đại từ, ĐT, TT, từ kèm, từ định chức, từ nghi vấn,
Trang 6V X Panfilov
5 loại lớn
Bảng tiêu chí phân loại trên cho thấy các tác giả này đều thừa nhận sự tồn tại của phạm trù từ loại mặc dù có những khác biệt trong tiêu chí và kết quả phân loại Một số tác giả dựa vào tiêu chí thuần túy ý nghĩa khái quát (Rhode, Panfilov), một số tác giả khác lại dựa trên tiêu chí chức vụ cú pháp (Phan Khôi) Nhìn chung, không có sự thống nhất trong việc lựa chọn các tiêu chí phân định từ loại tiếng Việt giữa các nhà Việt ngữ học
Lê Văn Lý (1968) là một trong những người đầu tiên đã vạch ra được ranh giới đối lập của danh từ với ĐT và TT trong tiếng Việt nhờ khả năng kết hợp từ Dấu hiệu của khả năng kết hợp là những “từ chứng” Với ĐT, đó là những từ như:
đã, sẽ, đang, từng, còn, chưa,…; với TT, đó là những từ như: rất, lắm, hơi Ông là
người đầu tiên xếp TT (phạm trù B’) cạnh ĐT (phạm trù B) trong thế đối lập với danh từ (phạm trù A) Nguyễn Tài Cẩn (1975) vẫn duy trì sự phân biệt giữa ĐT và
TT, mặc dù ông cho rằng hoàn toàn có thể khái quát thành một loại lớn Ông cũng cho rằng ĐT và TT là hai từ loại rất gần nhau và khó phân biệt, nhưng trong tiếng Việt vẫn có những “ĐT điển hình và những TT điển hình” (tr.334-335) Các tác giả
cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1983) của Ủy ban Khoa học Xã hội cho rằng: “ĐT và
TT có thể cùng một từ loại, mặc dù thế vẫn có thể căn cứ vào những đặc điểm ngữ pháp khác, những đặc điểm ở bậc cấu tạo ngữ cũng như vào nghĩa khái quát, mà xác định ĐT và TT là hai loại từ có ý nghĩa khác nhau” (tr.70)
Một số tác giả khác dùng từ chứng để xác định từ loại, như Nguyễn Kim
Thản (1977) đã dùng các từ tình thái như đã, đang, sẽ để phân định từ loại ĐT, dùng hãy, đừng, chớ như một tiêu chí để phân biệt “ĐT” (+) với “TT” (-) Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1991) cũng dùng hãy, đừng, chớ để phân biệt ĐT
Trang 7với danh từ và TT Nhóm Bùi Tất Tươm (chủ biên), Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Thị Quy, Hoàng Diệu Minh (1994) chia kho từ vựng thành hai mảng: thực từ (danh từ, ĐT, TT, số từ, đại từ); hư từ (phụ từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ) Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1994) cũng chia kho từ vựng thành 3 mảng là: thực từ (danh từ, ĐT, TT, số từ, đại
từ), hư từ (phó từ, kết từ-quan hệ từ, trợ từ), thán từ
Nhiều nhà Việt ngữ học đã bàn trực tiếp, gián tiếp về sự tồn tại của từ loại này thông qua việc lý giải ý nghĩa đặc trưng của TT dựa trên sự đối lập giữa hai thuộc tính ‘động’ và ‘tĩnh’, dựa trên mối liên hệ giữa ‘động’, ‘tĩnh’ với ý nghĩa đặc trưng của TT để xác lập một từ loại (TT) chỉ tồn tại trên phương diện đặc trưng Đinh Văn Đức (1986) đã phân biệt rõ: trong những ngôn ngữ châu Âu điển hình, đặc trưng cho những gì thuộc về thực thể được “dán nhãn” TT, đặc trưng cho hành động, quá trình,… được “dán nhãn” trạng từ Còn trong tiếng Việt, tất
cả các đặc trưng này thường được “dán nhãn” TT Đinh Văn Đức, một mặt thừa
nhận sự tồn tại của từ loại TT, một mặt vẫn hoài nghi khi cho rằng: “nói một cách tổng quát, TT là từ loại chỉ đặc trưng của tất cả những khái niệm được biểu đạt bằng danh từ và ĐT” (tr.157) Ở một mức độ, có thể nói, ông đã đặt vấn đề về sự
tồn tại không “chính danh” của TT so với ĐT, danh từ, và ông đã cố gắng tìm mối liên hệ giữa ba từ loại này Nhưng, do chưa xác định dứt khoát được mối liên hệ giữa TT với danh từ và ĐT, ông tìm cách dung hòa hai thuộc tính (tính đặc trưng
và [+/-động]): “Nhưng cũng có thể đặt vấn đề khác đi: thực ra cũng không có sự đối lập giữa 2 sắc thái “tĩnh” và “động” ở TT TT chỉ đặc trưng, nhưng bất cứ đặc trưng nào cũng động chứ không tĩnh” (tr.160) Ông đã nhận thấy sự gần gũi
đến mức khó tìm ra ranh giới giữa TT và ĐT, và rất tinh tế khi đề cập đến tính
“động” của TT (chứ không phải tính “động” của ĐT), nhưng, có thể, ông đã nhầm lẫn giữa các phương diện khi cho rằng ý nghĩa đặc trưng là cơ sở cho tính “động” của TT Ông gắn TT với ý nghĩa ngữ pháp thời thể, và cho rằng TT có quan hệ
thông báo với chủ thể giống như ĐT: “Đặc trưng gắn với diễn tiến (tiến trình) vì vậy TT có ý nghĩa ngữ pháp thời - thể, có các chỉ tố ngữ pháp thời thể, có thể làm
Trang 8vị ngữ trong câu” và “TT, trong khi chỉ đặc trưng, và không có hình thái ngữ pháp riêng, đã có quan hệ thông báo với chủ thể (cũng là một loại quan hệ đặc trưng) giống như ĐT” (tr.155) Cuối cùng, ông lại trở về quan niệm lưỡng phân:
“Như vậy trong TT tiếng Việt có sự thống nhất của 2 loại đặc trưng - đặc trưng thông báo và đặc trưng hạn định - qua hai ý nghĩa ngữ pháp vị ngữ và định ngữ”
(tr.156-157) Đinh Văn Đức là tác giả bàn khá kỹ ý nghĩa đặc trưng của TT nhưng ông vẫn chưa khu biệt được TT tiếng Việt với các từ loại khác, chưa xác lập được một từ loại chỉ tồn tại ở phương diện đặc trưng Nhìn chung, các tác giả không có một quan niệm rõ ràng, nhất quán về TT, về ý nghĩa đặc trưng của TT Cái gọi là TT tiếng Việt, vừa được gán chức năng bổ ngữ vừa được gán chức năng
vị ngữ Vị ngữ nằm ở phương diện biểu hiện sự tình, thể hiện nội dung của sự tình (chủ ngữ cũng là một tham tố của sự tình), trong khi, bổ ngữ (bổ ngữ cho danh từ còn được gọi là định ngữ) nằm ở phương diện đặc trưng Không thể có một từ loại đồng thời tồn tại trên cả hai phương diện này Sự nhầm lẫn giữa các phương diện
là nguyên nhân sâu xa của việc không xác định được bản chất của TT tiếng Việt, không thoát ra khỏi sự lưỡng phân trong quan niệm về TT của các nhà Việt ngữ học Luận án này sẽ bàn kỹ về ý nghĩa đặc trưng về phương diện hoạt động của
(ii) Về khả năng kết hợp TT có thể kết hợp với rất, hơi, lắm, khá (khí), quá
Trong khi đó, ĐT thường được coi không có khả năng này, ngược lại thường kết
hợp với các phó từ đã, đang, sắp, sẽ
(iii) Chức vụ cú pháp TT thường có chức năng làm định ngữ cho hạt nhân danh
từ trong ngữ đoạn danh từ
Trang 9Về vị trí, các từ loại khác nhau khi làm định ngữ đều được đặt tại vị trí phía sau hạt nhân danh từ Có thể nói không có gì khác biệt giữa TT và ĐT trong việc đảm nhận chức năng này Vì thế, nói định ngữ là chức năng chủ yếu chỉ là cách nói tương đối và đó không thực sự là một tiêu chí cơ bản để khu biệt hai nhóm từ (ĐT và TT) này Chức năng định ngữ trong tiếng Việt, cũng như trong nhiều ngôn ngữ khác, cũng có thể được đảm nhiệm bởi một mệnh đề (mệnh đề tính ngữ -adjective clause)
0.2.1.2.2 Quan điểm cho rằng tiếng Việt có từ loại trong đó TT và động từ hợp thành một từ loại
Lê Văn Lý (1968) phát hiện sự gần gũi của hai từ loại ĐT và TT từ góc độ khả năng kết hợp chứ không phải sự tương đồng về khả năng làm trung tâm vị ngữ Tuy nhiên cách giải thích của tác giả còn hạn chế ở sức khái quát hóa và việc lựa chọn danh sách từ chứng của các từ loại còn thiếu cơ sở khách quan Nguyễn
Tài Cẩn (1975), trong chuyên khảo Ngữ pháp tiếng Việt, khi phân tích đoản ngữ
đã nhận thấy đoản ngữ của TT và đoản ngữ của ĐT có rất nhiều điểm tương đồng Điều này cũng cho thấy tác giả chú ý đến sự tương đồng sâu sắc giữa hai từ loại
này Nguyễn Kim Thản (1977) cho rằng “Sự khác nhau giữa những vị từ được gọi
là “ĐT” và những vị từ được gọi là “TT” khó chứng minh đến nỗi ngay cả các tác giả chủ trương phân biệt hai từ loại ở bên trong vị từ cũng phải thừa nhận một thứ “siêu từ loại” gồm có các “ĐT” và “TT”, mà chính họ gọi là "vị từ"” (tr.21-
23) Nguyễn Thị Quy (1995) cho rằng phải từ bỏ việc phân biệt “ĐT” và “TT” để
đi tìm sự phân biệt cả về hai mặt nội dung và hình thức giữa các tiểu loại vị từ, những sự phân biệt về nghĩa đi đôi với những thuộc tính cú pháp được thể hiện trong những quy tắc kết hợp có hiệu lực rõ rệt trong các ngữ đoạn vị từ (tr.48)
Nguyễn Thị Quy (1995) đưa ra một danh sách 662 từ (“ác, anh dũng, ấm ớ…”) có khả năng kết hợp với hãy hoặc đừng, chớ, nhưng hoàn toàn có thể coi là TT, để
chứng minh tiêu chí phân biệt ĐT và TT của các tác giả như Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban đưa ra là chưa có cơ sở vững chắc (tr.216-222) Diệp Quang Ban (1992), khi bàn về cụm TT, đã phân tích khá kỹ về thành tố phụ ở sau trong cụm
TT và phân loại những thành tố này thành các loại bổ ngữ Tuy chưa làm rõ được
Trang 10mối liên hệ về cú pháp, ngữ nghĩa của những bổ ngữ này với TT, nhưng ông đã có
nhận định “Ở cụm TT cũng có vấn đề về hiện tượng thành tố phụ sau kết hợp trực tiếp với thành tố chính và kết hợp gián tiếp với nó (có kết từ hoặc có thể có kết từ) như ở cụm ĐT Xu thế chung của hiện tượng này cũng giống như ở cụm ĐT”
(tr.105)
Trong số các tác giả viết về từ loại, Đinh Văn Đức (1986) là người thể hiện
rõ nét, đầy đủ về mối liên hệ giữa ĐT và TT Chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn quan điểm của Đinh Văn Đức, vì đề tài luận án này dựa trên quan điểm về TT của ông Đinh Văn Đức đã làm rõ được những nét khu biệt của tập hợp được gọi là TT, nhưng đồng thời, cũng phân tích, chỉ ra, và để ngỏ những đặc điểm về sự tương đồng giữa TT và ĐT, như khả năng làm vị ngữ, khả năng chi phối những thành phần đứng trước và sau nó trong cụm từ, khả năng tác động vào đối tượng làm bổ ngữ,… Những điều này có thể dùng làm tiền đề để nghiên cứu xa hơn về bản chất của tập hợp được ông gọi là TT Sau đây là những đặc điểm, thể hiện sự tương đồng giữa đặc điểm của tập hợp từ mà ông cho là TT với tập hợp ĐT
(i) Tính từ tiếng Việt có thể trực tiếp làm vị ngữ
Đây là đặc điểm quan trọng nhất thể hiện sự gần gũi giữa TT với ĐT TT tiếng Việt chỉ đặc trưng nhưng không có hình thái ngữ pháp riêng, nên trong quan
hệ thông báo với chủ thể nó thể hiện giống như ĐT (Ví dụ, Phim này hay; Lá rơi; lúa còn xanh; nhà đang bận; đèn chưa sáng; bây giờ vẫn sớm, v.v.)
(ii) Khả năng thành lập hình mẫu đoản ngữ chung của ĐT và TT
Do sự gần nhau về đặc điểm ngữ pháp, trước hết là trong chức vụ vị ngữ,
TT và ĐT có những đặc điểm chung, khiến người ta nghĩ đến khả năng gom chúng vào một phạm trù Theo đó có thể đề xuất việc thiết lập một hình mẫu đoản ngữ chung cho cả ĐT và TT Đoản ngữ TT có cấu trúc theo nguyên tắc thành tố chính đứng ở trung tâm do TT đảm nhận, chung quanh TT - phía trước và phía sau
có các thành tố phụ phân bố gần giống kiểu thành tố phụ trong cấu trúc động ngữ Cũng như danh ngữ và động ngữ, cấu trúc tính ngữ chịu ảnh hưởng của bản chất ngữ pháp thành tố trung tâm, cụ thể là phụ thuộc vào các tiểu loại TT làm hạt nhân (Đinh Văn Đức, 1986, tr.162)
Trang 11“tĩnh” và “động” ở TT TT chỉ đặc trưng, nhưng bất cứ đặc trưng nào cũng động chứ không tĩnh Đặc trưng gắn với diễn tiến (tiến trình) vì vậy TT có ý nghĩa ngữ pháp thời - thể, có thể làm vị ngữ trong câu Tính động của TT là đặc điểm quan trọng để so sánh trong các ngôn ngữ để thấy rõ bản chất của TT hơn
(iv) Khả năng có bổ ngữ
Liên quan tới vấn đề này, Đinh Văn Đức mới dừng lại ở việc nêu ra những khác biệt của thành phần đứng sau TT và mối quan hệ giữa TT trung tâm với
thành phần này Sự kết hợp đó có thể theo xu hướng cố định hóa (mát tay, ấm
đầu), không cố định hóa ((áo) rách vai, (thùng) rỗng đáy), hoặc kiểu tổ hợp phức
tạp hơn, khiến người ta nghĩ tới một loại câu đảo ngược thành phần (“Sè sè nắm
đất bên đàng/ Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”), hay kiểu tổ hợp mà thành
tố phụ, với tư cách là một thực từ, có khả năng mở rộng ((Áo) rách một miếng to
ở vai) Nêu ra khả năng có bổ ngữ của TT, nhưng Đinh Văn Đức lại chưa xác định
rõ chức năng của thành phần này, ông viết: “Việc xác định chức năng của các thành tố phụ kiểu này (là bổ ngữ hay trạng ngữ) có nhiều khía cạnh phức tạp cần được phân tích sâu hơn” (ĐVĐ, 1986, tr.163-164)
Cao Xuân Hạo (1998) thừa nhận sự phổ quát của hai từ loại danh từ và vị
từ nhưng phủ nhận cái gọi là "TT" tiếng Việt khi cho rằng: “Sự phân biệt giữa verbe và adjectif là một trong những nét đặc trưng của tiếng châu Âu và một số ngôn ngữ khác có hình thái học, chứ không phải như sự phân biệt hầu như phổ quát giữa danh từ với vị từ” (tr.254), nhưng, ông chưa tập trung lý giải: tại sao
nhóm được coi là TT này lại có nhiều đặc điểm tương ứng với TT trong nhiều ngôn ngữ châu Âu (chẳng hạn, khả năng làm định ngữ của tính từ)
Trang 12Bàn về TT, Cao Xuân Hạo (1998) cho rằng: “…các “TT” của tiếng Việt hoàn toàn giống với các “ĐT” ở chức năng tự mình làm vị ngữ hay làm trung tâm
vị ngữ Chỉ riêng điều đó thôi cũng quá đủ để bác bỏ quan điểm coi “ĐT” và
“TT” như hai từ loại riêng biệt, và những lời “nói sau” của một số tác giả về một
sự “gần gũi” nào đó giữa hai từ loại đều là những mưu đồ hết sức vụng dại nhằm phủ nhận cho bằng được một sự thật quá hiển nhiên” (tr.255) Cao Xuân Hạo đã
rất thuyết phục khi dùng tiêu chí nghĩa, tiêu chí diễn trị để phân định nhóm từ được gọi là TT vào một tiểu loại (trong nhóm vị từ trạng thái) của vị từ Nói một cách chính xác hơn, đây là sự phân biệt phổ quát giữa những sự tình khác nhau
Ông nhận định: “ tìm ra bên trong từ loại vị từ - tập hợp chứa TT và ĐT - có
những ranh giới phân chia tiểu loại rõ ràng, có giá trị ngữ pháp thực sự, có thể kiểm nghiệm một cách dễ dàng Sự phân chia này tương ứng với những sự phân biệt ngữ nghĩa - ngữ pháp phổ quát, có thể tìm thấy, dưới dạng này hay dạng khác, trong tất cả những ngôn ngữ của hành tinh Đó là những sự phân biệt giữa:
a) Vị từ “động” và vị từ “tĩnh” ([+/- động])
b) Vị từ “chủ ý” và vị từ “không chủ ý” ([+/- chủ ý])
c) Vị từ “hữu đích” và vị từ “vô đích” ([+/- hữu đích]) (cf Dik 1979, 1989)” (Cao Xuân Hạo, Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm & Bùi Tất Tươm, 2006)
Cao Xuân Hạo đã dựa vào các tiêu chí có giá trị thực sự để tìm ra ranh giới phân chia các tiểu loại của vị từ, cho thấy ‘TT’ hay ‘ĐT’ đều là những tiểu loại của vị từ, đều là cách biểu hiện những sự tình khác nhau của cùng một tập hợp
Và, giống như vị từ, ‘TT’ làm trung tâm của ngữ vị từ cho nên chính nó đảm đương việc mang những đặc trưng ngữ pháp - ngữ nghĩa đánh dấu sự phân biệt giữa các loại sự tình (tr.38-41) Cao Xuân Hạo đã chủ yếu dựa vào tiêu chí
[+/- động], [+/-chủ ý] để phân loại vị từ thành 5 loại cơ bản (vị từ hành động, vị từ quá trình, vị từ tư thế, vị từ trạng thái, vị từ tình thái) Trong 5 loại vị từ này, thì vị
từ trạng thái có chứa phần lớn tập hợp TT tiếng Việt (được quan niệm theo ngữ pháp truyền thống) Cụ thể hơn, ông tiếp tục dùng tiêu chí [+thường tồn] (tính
Trang 13chất), không thường tồn [-thường tồn] (tình trạng) để phân loại nhóm vị từ trạng thái thành 4 tiểu loại:
(1) Vị từ tính khí: (thường tồn) biểu thị tính tình và khí chất của người hoặc /
và của động vật (các loại vật hữu sinh) và của những thực thể được coi như người
hoặc động vật (Ví dụ ác, bướng, dại, gan, hiền, liều, ngoan, ương, v.v.)
(2) Vị từ tâm trạng: Là loại VT trạng thái (không thường tồn) biểu thị những
trạng thái tâm lý không thường tồn của người hoặc/ và của động vật hoặc những
thực thể được coi như người hoặc động vật (Ví dụ âu, bận, cáu, chăm, dỗi, ganh,
hỗn, khoái, thích, thương, yêu, v.v.)
(3) Vị từ thể trạng: Là loại VT trạng thái (thường tồn hoặc không thường tồn)
biểu thị những tính chất hoặc tình trạng thuộc về cơ thể của người hoặc/ và của
động vật (và những thực thể được coi như người họăc động vật) (Ví dụ béo, câm,
còm, đau, đui, khỏe, lả, mập, nghẹn, ngọng, rêm, sống, thức, vụng, xỉu, yếu, v.v.)
(4) Vị từ vật trạng: Là VTTT (thường tồn hoặc không thường tồn) biểu thị tính
chất hoặc tình trạng của các vật vô tri (đồ vật) (Ví dụ ải, ảo, bằng, bầy, bổ, cao,
chéo, dẻo, dột, đặc, đỏ, hấy, hôi, lỏm, mẻ, ngắn, nhạy, óp, rắn, sắc, thật, xấu, v.v.)
Số liệu thống kê của Cao Xuân Hạo là 1661 vị từ trạng thái, gần trùng hợp với số liệu thống kê TT đơn tiết của chúng tôi (Phạm Hồng Hải, 2013) (1612 TT đơn tiết) dựa theo từ điển Hoàng Phê (2006) Việc phân loại thành vị từ trạng thái
và việc phân chia nhóm vị từ này thành các tiểu loại dựa trên các tiêu chí đã được ông kiểm nghiệm đã tạo cơ sở thuyết phục để kết luận rằng: TT tiếng Việt hoàn toàn có tư cách là một tiểu loại của vị từ
Trong luận văn ‘Cấu trúc tham tố của TT tiếng Việt’ (PHH, 2013) chúng tôi đã góp phần chứng minh ở phương diện thể hiện sự tình, tập hợp được coi là
TT hoạt động như một tiểu loại của vị từ cả trên bình diện ngữ nghĩa và cú pháp Chúng tôi cũng xác định được một số vai nghĩa (vai Phạm vi, vai Đối thể) vai cú pháp của TT (Bổ ngữ) Trên bình diện cú pháp, chúng tôi đã cố gắng khai thác những nghiên cứu về ngữ TT của các nhà Việt ngữ học để làm rõ thêm yếu tố phụ sau TT, để đi đến kết luận là những yếu tố này có tư cách bổ ngữ Về các tham tố của TT, qua khảo sát về khả năng hành chức của TT tiếng Việt, chúng tôi nhận
Trang 14thấy, ở mức độ nhất định, có thể phân loại TT thành hai loại (nội động/ ngoại động) dựa trên khả năng kết hợp với bổ ngữ trực tiếp Các tham tố của TT, có khá nhiều nét tương đồng với tham tố của ĐT, mặc dù khả năng hoạt động và số lượng hạn chế hơn so với tham tố của ĐT Về khả năng kết hợp với diễn tố của TT, chúng tôi nhận thấy hầu hết TT tiếng Việt có khả năng kết hợp với một hoặc hai diễn tố với những biểu hiện hết sức đa dạng Trong chức năng vị ngữ, TT tiếng Việt thể hiện sự tương đồng rất lớn với ĐT Trên bình diện nghĩa, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy trong CTTT của TT, ngoài vai Nghiệm thể, có hai vai nghĩa
cơ bản là vai Phạm vi và vai Đối thể Mặc dù mới làm rõ về hai vai nghĩa này ở mức độ nhất định, nhưng chúng tôi cho rằng đây là hai vai nghĩa có liên hệ chặt chẽ với TT và chúng cần được nghiên cứu sâu hơn
Bàn về tư cách vị từ của nhóm được gọi là TT này, một số tác giả còn đi sâu hơn khi tìm cách xác định tính nội động và ngoại động của nó ở những mức
độ khác nhau Lê Kính Thắng (2016), đã bàn một cách hệ thống về phạm trù nội động/ ngoại động với tư cách một phạm trù ngữ pháp trong tiếng Việt Trên cơ sở phạm trù nôị động/ ngoại động, tác giả đã phân chia vị từ trong tiếng Việt thành 4 nhóm (vị từ nội động điển hình, vị từ nội động kém điển hình, vị từ ngoại động điển hình, vị từ ngoại động kém điển hình), trong đó, bao chứa hầu hết nhóm TT tiếng Việt và làm rõ khả năng kết hợp của các tiểu loại vị từ với các tiêu chí khác nhau, đặc biệt là tiêu chí hình thức cú pháp và tiêu chí vai nghĩa Tác giả đã phân tích khả năng kết hợp của nhóm vị từ trạng thái (phần lớn trùng hợp với các TT theo cách phân loại truyền thống) với diễn tố làm bổ ngữ trên bình diện cú pháp, mang vai nghĩa Phạm vi, và xếp nhóm này vào nhóm vị từ ngoại động kém điển hình Các nhóm vị từ được xác định trên sự đối lập nội động/ngoại động: cả ở phương diện cú pháp [+/- bổ ngữ trực tiếp] và ngữ nghĩa (số lượng và đặc tính vai nghĩa mà chúng đòi hỏi) Sự rút gọn và mở rộng diễn trị cũng được bàn kỹ để làm rõ khả năng biến đổi, kết hợp của vị từ trong các khung tham tố khác nhau Triệt để hơn, tác giả đã xác định nhóm vị từ ngoại động kém điển hình (trong đó
có số lượng khá lớn từ trùng hợp với nhóm TT tiếng Việt), chỉ ra sự bất xứng giữa hai bình diện cú pháp và ngữ nghĩa: thỏa mãn về tiêu chí hình thức cú pháp
Trang 15(có một bổ ngữ trực tiếp) nhưng không thỏa mãn về phương diện ngữ nghĩa (không có sự tác ĐT chủ thể đến đối tượng – tức không có mặt bổ ngữ bị thể [Patient]) Tiêu chí nhận diện phạm trù nội động/ ngoại động trong tiếng Việt theo đề xuất của Lê Kính Thắng là cơ sở quan trọng để chúng tôi tiếp tục khảo sát tính nội động/ ngoại động của TT tiếng Việt – một khía cạnh quan trọng để khẳng định tư cách vị từ của nhóm TT này
Trong luận văn thạc sĩ (PHH, 2013), chúng tôi đã bàn đến tính nội động/ ngoại động của 1612 TT đơn tiết, và, ở một mức độ, đã phân chia được ba nhóm (TT nội động, TT ngoại động, TT có hai cách dùng) Khả năng kết hợp với bổ ngữ
và các vai nghĩa cũng được làm rõ một phần Luận án sẽ tiếp tục khảo sát, phân tích khả năng hoạt động của 1612 TT đơn tiết một cách toàn diện hơn, và mở rộng khảo sát thêm 769 đơn vị song tiết có hạt nhân là TT đơn tiết và yếu tố sau có tư các bổ ngữ ở hai phương diện (cấu trúc cú pháp và CTTT) để: làm rõ tư cách ngữ tính từ, ngữ đoạn chức năng của những đơn vị song tiết, và tư cách tính từ hạt nhân của những đơn vị song tiết này; khái quát cơ sở lý thuyết của phạm trù nội động/ngoại động làm nền tảng cho tính nội động/ngoại động của tính từ; làm rõ thêm các vai nghĩa và vai cú pháp của TT trên hai phương diện - cả về bản chất và
số lượng; tìm mối liên hệ giữa CTTT và cấu trúc cú pháp của TT – mà thực chất
là mối liên hệ giữa các vai cú pháp và các vai nghĩa của các tham tố nghĩa; đối chiếu CTTT của TT tiếng Việt với CTTT của TT tiếng Anh một cách toàn diện hơn để xác định chính xác bản chất của tính từ tiếng Việt
0.2.2 Lịch sử nghiên cứu cấu trúc tham tố
0.2.2.1 Từ khi ngữ pháp chức năng được áp dụng giải quyết các vấn đề trong
ngôn ngữ học, nhiều vấn đề như việc xác định câu, từ loại được xem xét lại, được xác định gần bản chất hơn Trọng tâm nghiên cứu câu được chuyển từ chủ - vị sang vị từ Câu không chỉ được xem xét trên bình diện cú pháp như trước đây, mà còn được chú trọng làm rõ trên bình diện nghĩa Từ loại cũng được xác định rõ hơn trong sự hành chức của từ, trong khung tham tố, trong câu Việc xác định từ loại trong ngữ đoạn chức năng, trong khung tham tố làm cho từ loại bộc lộ bản chất rõ nhất trên các bình diện, đặc biệt là bình diện nghĩa – một bình diện có khả
Trang 16năng xác định được những vấn đề phổ quát trong ngôn ngữ Việc xác định TT từ góc độ CTTT cũng là một hướng mới mẻ, khả thi, cần thiết
Quan điểm chức năng đã tỏ ra có khả năng giải quyết nhiều vấn đề của ngôn ngữ, đặc biệt là những vấn đề còn bế tắc, đang gây tranh cãi Nhiều nhà ngôn ngữ học theo quan điểm truyền thống vẫn miêu tả cấu trúc câu theo cấu trúc logic của mệnh đề, thậm chí còn gắn chặt chủ ngữ ngữ pháp của câu với chủ ngữ logic của mệnh đề Quan niệm sai lầm này làm cho sự miêu tả về câu không đi đến thống nhất và cũng tạo ra những hệ lụy khi xem xét những vấn đề khác liên quan đến câu Trong khi đó, những nhà ngôn ngữ học theo quan điểm chức năng đã chỉ ra rằng chủ ngữ ngữ pháp theo quan điểm truyền thống không phải luôn luôn trùng hợp với chủ ngữ logic của mệnh đề Vì vậy mà quan niệm coi nòng cốt của câu là cụm chủ
vị theo quan điểm truyền thống khó có thể đứng vững, đặc biệt đối với những ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt Sự sai lầm này cũng xuất phát từ việc các nhà ngôn ngữ học theo quan niệm truyền thống chủ yếu miêu tả câu xuất phát từ mặt hình thức Khởi đầu bằng những nghiên cứu của những nhà ngữ pháp chức năng, người ta đi đến nhận thức rằng trong thế giới kinh nghiệm, có thể khái quát một số
lượng hữu hạn những đối tượng tham gia vào hoạt động của vị từ như kẻ hành động, kẻ chịu tác động, kẻ mang trạng thái, phương tiện, v.v., và những đối tượng
kiểu này có tính phổ quát trong các ngôn ngữ Ngữ pháp chức năng đã sử dụng thành tựu này để xây dựng một trong ba chân đứng của mình (nghĩa học, bên cạnh kết học và dụng học)
Những nhà ngữ pháp chức năng đã nghiên cứu các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên các bình diện hình thức và nội dung trong mối liên hệ có tính chức năng – mối liên hệ giữa những phương tiện và những mục đích – để từ
đó tìm ra quy tắc xây dựng cấu trúc của đơn vị ngôn từ cơ bản là câu Nghĩa miêu
tả của câu (còn được gọi là nghĩa biểu hiện, nghĩa trình bày, nghĩa kinh nghiệm) phản ánh sự tri nhận và kinh nghiệm của chúng ta về thế giới, theo đó mỗi câu nói
có một vị từ làm cốt lõi và quây quần xung quanh là những tham tố, biểu thị những vai nghĩa nào đó
Trang 17Về phương diện cú pháp, các tham tố này có thể là những diễn tố, chu tố chịu sự chi phối của trung tâm là vị từ Như vậy, vị từ là trung tâm, là cái đỉnh cao nhất Chủ ngữ theo quan niệm truyền thống cũng chỉ là một tham tố trong số các tham tố xung quanh vị từ Về phương diện ngữ nghĩa, các tham tố đóng vai trò là các vai nghĩa xoay quanh vị từ trung tâm Bình diện nghĩa được phân biệt và làm
rõ, nghĩa của câu không chỉ đơn thuần là nghĩa của các từ cộng lại Các vai nghĩa trên bình diện nghĩa và các tham tố trên bình diện cú pháp có mối liên hệ tương ứng nhất định Cũng có thể nói các chức năng cú pháp của câu thực chất là do các vai nghĩa chi phối khi chúng được hiện thực hóa trong câu
Ngữ pháp chức năng đã thể hiện CTTT trong mối quan hệ với cấu trúc cú pháp, hay nói cách khác, ngữ pháp chức năng chú ý đến mối quan hệ giữa một bên là nội dung (cấu trúc nghĩa) và một bên là hình thức (cấu trúc cú pháp) của câu Mặc dù còn nhiều vấn đề phải tiếp tục làm rõ, nhưng ngữ pháp chức năng đã thể hiện đúng hướng khi miêu tả câu dựa trên sự phân biệt rõ các bình diện, dựa trên CTTT, cấu trúc vai nghĩa, thay vì gắn chặt cấu trúc cú pháp của câu với logic của mệnh đề
Người đầu tiên đặt nền móng cho cách tiếp cận mới về câu là Tesnière – nhà ngôn ngữ học người Pháp Ông cho rằng ngữ pháp là vấn đề của ngôn ngữ chứ không phải là của logic, và câu (câu đơn) chỉ có một đỉnh duy nhất là vị từ làm vị ngữ Vị từ vị ngữ là trung tâm tổ chức ngữ nghĩa và cú pháp của câu Như vậy, theo Tesnière, khái niệm chủ ngữ của truyền thống bị hạ cấp Ông tìm ra những tiềm năng cú pháp ngữ nghĩa khác nhau của cùng một vị từ
Về ngữ nghĩa, có thể nói, Tesnière là người đầu tiên thể hiện một cách có
hệ thống, và tách biệt bình diện nghĩa – bình diện mà các nhà ngữ pháp trước đây không có sự phân biệt, hoặc xem nhẹ trong các nghiên cứu của họ Ông đã thể hiện cái sự tình của câu bằng khung nghĩa – vị từ trung tâm và các vai nghĩa xoay quanh nó Ông cũng phân biệt rõ diễn tố là cái vẽ nên bối cảnh (setting), chu tố là các chi tiết phụ họa (incidental details) của các sự tình mà vị từ miêu tả; vì vậy mà
toàn bộ một câu vẽ nên một màn kịch nhỏ (mini drama) và diễn đạt trực tiếp một
sự tình trọn vẹn Đây là đóng góp quan trọng của Tesnière Những vai nghĩa bắt
Trang 18buộc sẽ được hiện thực hóa thông qua những ngữ đoạn được gọi là diễn tố
(actant), những vai nghĩa tùy nghi thì được hiện thực hóa thông qua những ngữ
đoạn được gọi là chu tố (circumstance) Việc đánh giá một vai nghĩa là bắt buộc
hay tùy nghi phải đặt trong quan hệ với vị từ trung tâm: một vai nghĩa có thể là tùy nghi đối với vị từ này, nhưng lại là bắt buộc đối với một vị từ khác Chẳng hạn vai Nơi chốn (location) có thể mang tính tùy nghi khi trung tâm là một vị từ hành
động (“Tôi gặp nó ở Hà Nội”) nhưng lại mang tính bắt buộc nếu trung tâm là một
vị từ định vị (“Nó ở Hà Nội”) (Nguyễn Văn Hiệp, 2008, tr.36) Trên bình diện cú
pháp, thay vì dùng bộ khái niệm chủ-vị và các thành phần câu khác như bổ ngữ, trạng ngữ,… để miêu tả cấu trúc cú pháp của câu, Tesnière đã dùng bộ khái niệm
vị từ và các tham tố (arguments) Các tham tố này được chia thành 2 loại: tham tố bắt buộc phải có – để cùng vị từ làm thành câu trọn vẹn về nghĩa – được gọi là các diễn tố Còn những tham tố không mang tính bắt buộc, được gọi là các chu tố Các
vị từ được phân loại dựa vào ngữ trị của chúng, tức là dựa trên số lượng các ngữ đoạn bắt buộc đi cùng với chúng để tạo nên một câu trọn vẹn, tối thiểu Chẳng hạn:
Vị từ đọc sẽ có ngữ trị 2 (với hai ngữ đoạn lần lượt chỉ ra tác thể và đối tượng); Vị
từ biếu sẽ có ngữ trị 3 (với ba ngữ đoạn lần lượt chỉ ra: người tặng, người được tặng
vị từ pleut, il pleut ‘mưa’ không có diễn tố nào
- Vị từ đơn trị (monovalents) có một diễn tố, ví dụ như: tomber ‘ngã’
- Vị từ song trị (bivalents) có hai diễn tố, ví dụ như: frapper ‘đánh’
- Vị từ tam trị (trivalents) như donner ‘cho’
Qua cách miêu tả của Tesnière, các tham tố và các vai nghĩa có mối liên hệ tương ứng, làm cho hai bình diện cú pháp và ngữ nghĩa gắn bó chặt chẽ với nhau, tương hỗ nhau, nhưng vẫn thể hiện là hai bình diện độc lập Do cách miêu tả câu xuất phát từ nghĩa, từ tiềm năng hành chức thực sự của nó, nên người ta nhận định
Trang 19rằng lý thuyết của Tesnière là lý thuyết theo quan điểm cú pháp dựa trên nghĩa học, hay đó là cách phân tích câu dựa trên cấu trúc nghĩa của các vai Theo quan điểm cú pháp ngữ nghĩa của Tesnière, về nguyên tắc, số lượng và đặc tính của diễn tố do vị từ quy định Chu tố là yếu tố phụ mang tính tiềm năng có trong bất
kỳ câu nào Số lượng và đặc tính của chu tố không bị chi phối bởi vị từ và các diễn tố Có thể nói, Tesnière và những người kế tục ông đã tạo ra bước ngoặt lớn trong nghiên cứu ngôn ngữ, trong việc miêu tả câu, và tìm ra những tiềm năng cú pháp ngữ nghĩa khác nhau của cùng một vị từ
Cũng miêu tả câu dựa trên khung tham tố như Tesnière, nhưng Kholodovich lại cho rằng ngoài hạt nhân ĐT, thường có một chủ ngữ (diễn tố thứ nhất) và các bổ ngữ theo thuật ngữ truyền thống, và mỗi hạt nhân ĐT vị ngữ có thể quan hệ với một số thành tố, tạo nên một “chu cảnh” Về nguyên tắc, một ĐT hạt nhân có thể có n kiểu chu cảnh khác nhau, được cấu tạo lần lượt với n-1, n-
2,…thành tố Chẳng hạn, ĐT mở có thể có quan hệ với 3 thành tố khác là: nó, cửa,
và bằng chìa khóa để tạo thành n kiểu chu cảnh sau đây (n = 4): (i) Chu cảnh có bốn thành tố: Nó mở cửa bằng chìa khóa; (ii) Chu cảnh có ba thành tố: Nó mở cửa / Nó mở bằng chìa khóa / Mở cửa bằng chìa khóa; (iii) Chu cảnh có hai thành tố:
Nó mở / Mở bằng chìa khóa / Mở cửa; (iv) Chu cảnh có một thành tố: Mở Trong
số các chu cảnh khả năng này, chỉ có một chu cảnh tối ưu Một chu cảnh sẽ được gọi là thiếu nếu không đầy đủ các thành tố nằm trong chu cảnh tối ưu Một chu cảnh sẽ được gọi là thừa, nếu có dù chỉ một thành tố nào đó không nằm trong chu
cảnh tối ưu Một chu cảnh có thể vừa thừa, vừa thiếu Nó mở bằng chìa khóa là một chu cảnh như vậy Chu cảnh tối ưu của ĐT mở phải là Nó mở cửa (NVH,
2008, tr.40)
Fillmore cũng cho rằng một sự tình sẽ gồm một vị từ trung tâm và quây quần xung quanh nó là các ngữ đoạn biểu thị những “cách ngữ nghĩa” hay vai nghĩa (semantic roles) nào đó Nhưng điểm khác khác biệt là Fillmore đưa ra một
số vai nghĩa mà ông cho là có tính phổ quát, có thể tìm thấy trong mọi ngôn ngữ, phản ánh một phương diện chung trong cách thức chúng ta tri nhận về thế giới
(NVH, 2008, tr.40) Trong bài viết “The case for case” (Tác dụng của cách) được
Trang 20công bố năm 1968, Fillmore chủ trương có thể xác định một tập hợp các mối quan
hệ giữa một vị từ và các tham tố (arguments) của nó – cái mà ông gọi là “cách”, được diễn đạt như sau: “Đó là những quan hệ ngữ nghĩa - cú pháp ngầm, được giả định tạo nên một tập hợp hoàn chỉnh, tồn tại ngầm đối với những ngôn ngữ có vĩ
tố, và dạng thức “cách” của các mối quan hệ “cách” vẫn là sự biểu đạt trong ngôn ngữ có thể thực hiện được nhờ những phụ tố, hoặc nhờ các giới từ, hoặc với các
“cách” khác”; “Ý niệm về ‘cách’ bao gồm một tập hợp khái niệm phổ quát, được giả định là bẩm sinh, xác định những kiểu tri nhận nào đó của con người về những
sự tình đang diễn ra quanh họ, tri nhận về những vấn đề như: ai thực hiện nó, nó xảy ra đối với ai, và cái gì thay đổi” (Bresnan, 1995) Như vậy, từ việc xác định một tập hợp các mối quan hệ giữa một vị từ và các tham tố (arguments) của nó,
Fillmore đưa ra một số vai nghĩa mà ông cho là có tính phổ quát như sau: (1) Tác cách (Agentive) chỉ vai chủ thể của hành động do ĐT biểu thị; (2) Công cụ cách (Instrumental) chỉ vai công cụ của hành động do ĐT biểu thị; (3) Tặng cách (Dative) chỉ vai động vật chịu ảnh hưởng của trạng thái hay hành động do ĐT biểu thị; (4) Hành cách (Factitive) chỉ vai của vật sinh ra do kết quả của trạng thái hay hành động do từ biểu thị; (5) Vị trí (Locative) chỉ vị trí của trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị; (6) Đối tượng (Objectice) là cách trung hòa nhất về nghĩa,
chỉ bất kỳ vật gì được biểu thị bằng một danh từ mà vai trò trong hành động hay trạng thái được ĐT biểu thị được chính cách thuyết minh nghĩa của ĐT quy định (Fillmore, 1968)
Trong các công trình tiếp theo, Fillmore (1971, 1977) bổ sung thêm một số
vai nghĩa khác: (7) Lực tác động (Counter - Agent) là sức mạnh hay sức đối kháng qua đó hành động mà vị từ biểu thị được tiến hành; (8) Nguồn (Source) là điểm xuất phát của hành động hay chuyển động; (9) Kẻ thể nghiệm hay Nghiệm thể (Experiencer) tương đương với Cảm thể (Senser) của Halliday (1994) (tr.117- 119); (10) Người/Vật trải qua sự biến (Undergoer) tương đương với Động thể (Processed) của một số tác giả sau Fillmore
Fillmore được coi là người đầu tiên nghiên cứu về ngữ pháp cách (case grammar), ông đã mở ra khả năng nghiên cứu về cấu trúc nghĩa của câu ở những
Trang 21khía cạnh khác nhau Điều này có thể thấy ở một loạt những công trình nghiên cứu về ngữ pháp cách, với những quan điểm khác nhau của nhiều tác giả khác như Dik (1978), Givón (1984),v.v
Có thể nêu cụ thể hơn những tác giả đáng chú ý trong cái xu hướng đi tìm những vai nghĩa mang tính phổ quát này, như Longacre (1976) đưa ra bộ vai
nghĩa gồm Nghiệm thể (Experiencer), Đối thể (Patient), Tác thể (Agent), Cương vực (Range), Đo lường (Measure), Công cụ (Instrument), Định vị (Locative), Nguồn (Source), Mục tiêu (Goal), Lối đi (Path) Cook (1978) nêu ít vai hơn trong
bộ nghĩa của mình, gồm: Tác thể (Agent), Nghiệm thể (Experiencer), Lợi thể (Benefactive), Đối thể (Object), Nơi chốn (Locative) Starosta (1988) cũng trình bày một bộ vai nghĩa khác gồm Đối thể (Patient) - một tên gọi khác của Object hay Theme, Tác thể (Agent), Địa điểm (Locus), Tiếp thể (Correspondent) - một tên gọi khác của Dative hay Experiencer, và Phương tiện (Means)
Givón (1984) cho rằng ngữ nghĩa của mệnh đề liên quan đến 2 mặt của mệnh đề: (i) sự đặc tính hóa của nó như là một trạng thái, sự kiện hay hành động
và (ii) đặc tính của các tham tố trong mệnh đề như là các vai ngữ nghĩa trong quan
hệ với vị từ (tr.31) Xuất phát từ quan điểm này, Givón đã chia hai loại vai nghĩa trong các câu: các vai nghĩa chính (major semantic case - roles) và các vai nghĩa
tùy chọn (optional case - roles) - và khẳng định “[…] các vai nghĩa chính bắt buộc xuất hiện trong một số kiểu câu Nghĩa là sự hiện diện của chúng là quan yếu xét
về mặt cú pháp hoặc ngữ nghĩa để giải thích nghĩa cốt lõi của vị từ” Một số vai nghĩa bắt buộc được ông giới thiệu như sau: (1) Tác thể (Agent) chỉ người/ vật chủ
ý bắt đầu một sự tình; (2) Tiếp thể (Dative) chỉ tham thể có nhận thức tiếp nhận một sự việc/ trạng thái; (3) Đối thể (Patient) chỉ trạng thái hoặc sự thay đổi của trạng thái vô ý thức; (4) Định vị thể (Locative) chỉ một điểm cụ thể so với một vị trí hay sự thay đổi vị trí của một tham tố khác trong câu (tr.126-133)
Các vai nghĩa tùy chọn của Givón gồm có: (1) Lợi thể (Benefactive) chỉ tham tố có nhận thức được hưởng lợi từ hành động hay sự việc do Tác thể khởi xướng; (2) Công cụ (Instrument) chỉ công cụ được Tác thể sử dụng để thực hiện hành động hoặc tạo ra sự tình hoặc trạng thái hiện có; (3) Liên hội thể
Trang 22(Associative) chỉ Đồng tác thể (Co- agent) hay Đồng tiếp thể (Codative) không phải là tiêu điểm chính trong câu; (4) Phương thức (Manner) chỉ kiểu hiện trạng của một sự tình; (5) Thời gian (Time) gồm cả Thời đoạn (Duration), Sự lặp lại (Repetition) và Frequency (Tần suất); (6) Mục đích (Purpose) chỉ mục đích của hành động mà Tác thể khởi xướng
Chafe (1970) cũng cho rằng bản chất của ĐT sẽ quy định phần còn lại của câu, đặc biệt là những danh từ nào sẽ kèm ĐT, những danh từ đó có quan hệ như thế nào với nó, và những danh từ đó có những thuộc tính nghĩa học gì Chafe chú trọng miêu tả vai trò vị ngữ mà danh từ có thể có được và rút ra những ý nghĩa vai
của danh từ như Người hành động (Agent), Người chịu đựng (Patient), Người thể nghiệm (Experiencer), Người hưởng lợi (Beneficiary), Công cụ (Instrument), Đối tượng (Complement), Nơi chốn (Location), v.v
Trong số các nhà ngữ pháp chức năng, Dik (1981) là người có những kiến giải khá toàn diện, triệt để nhiều vấn đề Với quan điểm cho rằng một cấu trúc vị ngữ hạt nhân (nuclear predication), xét toàn bộ, biểu thị một sự tình (state of affairs), được xác định bởi cái thuộc tính hay mối quan hệ do vị ngữ biểu thị liên kết các thực thể do các danh tố biểu thị, Dik đã đi sâu hơn để chỉ ra rằng các sự tình có thể phân ra nhiều loại hình căn cứ trên một số thông số, trong đó có hai thông số cơ bản: tính năng động (dynamism) và tính chủ động (control) Trong
công trình Ngữ pháp chức năng (Functional Grammar), Dik (1981) đã trình bày tường minh khái niệm vị ngữ hạt nhân (nuclear predication) và vị ngữ mở rộng (extended predication) Ông viết: “Một kết cấu vị ngữ hạt nhân bao gồm một vị từ gắn kết với một số thích hợp các ngữ định danh để lắp đầy các vị trí các tham tố của vị từ đó Kết cấu vị ngữ hạt nhân xác định một tập hợp các sự tình, trong đó thuộc tính hay quan hệ của nó được vị từ chỉ định, có hiệu lực đối với những ngữ định danh cụ thể mà (với nó) vị từ được ứng dụng” (tr.39), và “Căn cứ vào kết cấu
vị ngữ hạt nhân xác định một tập hợp các sự tình, chúng ta có thể tạo thành một kết cấu vị ngữ mở rộng bằng cách thêm vào một hay nhiều chu tố cho kết cấu vị ngữ hạt nhân đó” (tr.39) Từ đó ông phân tích rõ hơn hai loại tham tố: tham tố bắt buộc (obligatory participants) hay diễn tố (actants) và tham tố tùy chọn (optional
Trang 23participants) hay chu tố (circumstants) Dik cũng phát hiện ra sự chuyển đổi của
chu tố thành diễn tố trong một số vị ngữ làm cho sự phân chia giữa diễn tố và chu
tố được chính xác hóa thêm, căn cứ vào nghĩa của ĐT Chẳng hạn một vai như
Nơi chốn là một chu tố khi khung vị ngữ có trung tâm là một ĐT có nghĩa là hát hay là viết, nhưng lại là một diễn tố khi ĐT có nghĩa là ở hay đứng Một vai như Người hành động rất có thể là chu tố trong một khung vị ngữ “bị động”, v.v Theo Bolkestein (1985), trong Predicates and Terms in Functional Grammar, ông
cho rằng Dik đã trình bày khá đầy đủ chức năng ngữ nghĩa của chu tố, bao gồm: (i)
Các chỉ định phụ thêm cho sự tình hạt nhân: Phương thức, Đặc trưng, Công cụ; (ii) Các quan hệ của sự tình với các tham tố khác: Lợi thể, Liên đới thể; (iii) Các quan
hệ của sự tình trong các chiều kích thời gian: Thời gian, Thời đoạn, Tần suất; (iv) Các quan hệ của sự tình trong các chiều kích không gian: Vị trí, Nguồn, Phương hướng, Lối đi; (v) Các quan hệ của sự tình với các sự tình khác: Chu cảnh, Nguyên nhân, Lý do, Mục đích, Kết quả (tr.40 - 41)
Trong những nghiên cứu ở giai đoạn sau, Dik (1985) cũng bàn đến các mô hình cấu trúc liên quan đến việc chuyển đổi diễn trị như mở rộng và rút gọn diễn trị trong “Formal and Semantic Adjustment of Derived Constructions” (tr.227) Trong đó đề cập đến một số trường hợp một số diễn tố có thể không xuất hiện trong những hoàn cảnh giao tiếp, mục đích thông tin nhất định
Một tác giả khác, Hagege, cùng quan điểm khi cho rằng hình thức cú pháp của cấu trúc chủ vị không thể dùng làm tiêu chuẩn phân loại câu được, vậy phải căn cứ vào bình diện “nghĩa học- sở chỉ” để phân loại Theo ông, có hai loại câu lớn: loại câu chủ động và loại câu không chủ động Lược đồ của ông chia thành 2 cột, một bên là “sự tình” (process), một bên là tham tố cơ bản (participant) Đây là những câu tối giản, trong đó có nhiều khả năng trùng hợp giữa công thức trừu tượng và cách thực hiện Hagege (1983) chứng minh rằng một chu tố trên bình diện nghĩa rất có thể là một diễn tố trên bình diện cú pháp (chẳng hạn làm bổ ngữ trực tiếp) hay trên bình diện Đề -Thuyết (làm Đề)
Hai tác giả William (1980) và Chomsky (1981), thừa nhận vai trò trung tâm của vị từ, nhưng cho rằng chủ ngữ bị chi phối trực tiếp bởi câu còn các bổ
Trang 24ngữ bị chi phối trực tiếp bởi vị từ Mặc dù có quan hệ nghĩa với vị từ nhưng về phương diện ngữ pháp, chủ ngữ được xem là ngữ đoạn chức năng độc lập, nằm ngoài cấu trúc cú pháp của vị từ Một số tác giả khác cũng có những nghiên cứu sâu về CTTT, chẳng hạn, Davidson (1967), Higginbotham (1985), Kratzer (1989), Parson (1990) đề cập đến một loại tham tố dùng để đánh dấu câu hành động – tham tố sự kiện, Grimshaw (1990) thì cho rằng tham tố sự kiện là một kiểu tham
tố ngoại tại, v.v
Halliday (1994), trong Dẫn luận ngữ pháp chức năng, đã trình bày lý
thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống theo quan điểm riêng nhằm ứng dụng để miêu tả các ngôn ngữ trên thế giới Bằng việc mô tả câu ở bình diện nghĩa thể
hiện, Halliday phân loại quá trình (quá trình được thể hiện là vị từ ở bình diện hình thức cú pháp) thành ba kiểu cơ bản (quá trình vật chất, quá trình tinh thần, quá trình quan hệ) và ba kiểu trung gian (quá trình hành vi, quá trình phát ngôn, quá trình hiện hữu) (tr.205-207) Halliday xử lí vấn đề hệ thống tổ chức của ngữ
pháp này bằng cách khẳng định rằng ngữ pháp của các ngôn ngữ sẵn có trên thế giới đều được tổ chức nhằm biểu đạt trong cùng một câu ba loại nghĩa mà ông gọi
là ba “siêu chức năng (metafunctions)” (tr.35): (i) Nghĩa ý niệm (ideational meaning), (ii) Nghĩa liên nhân (interpersonal meaning), (iii) Nghĩa văn bản (textual meaning) Halliday còn nêu một danh sách các vai nghĩa đầy đủ được
hiểu theo hệ tham chiếu ngữ pháp chức năng hệ thống của ông
Trong giới Việt ngữ học, việc nghiên cứu CTTT cũng đã có những kết quả bước đầu đáng khích lệ và đang trở thành một xu hướng mới mẻ trong nghiên cứu ngôn ngữ
Trần Trọng Hải (1972) và Nguyễn Đăng Liêm (1973) sử dụng lại hệ thống
thuật ngữ của Fillmore, và cho rằng có mười hai vai nghĩa trong tiếng Việt: Tác thể (Agentive), Đối thể (Objective), Tiếp thể (Dative), Công cụ (Instrument), Lợi thể (Benefactive), Liên đới thể (Commitative), Định vị (Locative), Hướng (Directional), Nguồn (Source), Đích (Goal), Phạm vi (Extent), Thời gian (Time)
Clark (1978) cũng có quan điểm tương tự nhưng phân biệt rõ hơn “hình thái cách” (case form) khi cho rằng “nó là một đặc điểm đặc trưng hóa một tập hợp của
Trang 25những kiểu “đánh dấu cách” (case markers), chính là những kiểu hiện thực hóa của các “quan hệ cách” (case relations)”, và “những kiểu ‘đánh dấu cách’ trong tiếng Việt
là trật tự từ và giới từ” Clark cũng đưa ra bộ vai nghĩa như của Trần Trọng Hải và
Nguyễn Đăng Liêm, đổi một cách tương ứng các vai Nơi chốn (Locative), Phương hướng (Directional) và Đích (Goal) của hai tác giả này thành Nơi chốn (Locative), Đích (Goal) và Điểm kết thúc (Terminus) và thêm vai Lối đi (Path)
Theo Cao Xuân Hạo, Trương Vĩnh Ký là người tiên phong trong việc xây dựng nền “ngữ pháp cách” tiếng Việt qua việc mô tả các phương tiện diễn đạt ý
nghĩa “cách” trong ngôn ngữ không biến hình xuất phát từ mặt sở biểu Trong cuốn Grammaire de la langue Annamite, Trương Vĩnh Ký đã có đề cập đến vấn
đề “ngữ pháp cách” khi miêu tả “cách” biểu hiện các quan hệ ngữ pháp trong khung vị ngữ của câu bằng những thuật ngữ của các “cách” tiếng Latin Theo đó, các danh từ của tiếng Việt dùng trong câu có thể kể ở vào một trong tám “cách”,
đó là ý nghĩa “cách” phương thức diễn đạt: Danh cách (Nominatif), Sinh cách, Sở hữu cách (Gesnitif), Tặng cách, Dữ cách (Datif), Đối cách (Accusatif hay Objectif), Hô cách (Vocatif), Tác cách, Ly cách (Ablatif), Công cụ cách (Instrumental), Vị trí cách (Locatif) Như vậy, “cách” mà Trương Vĩnh Ký đề cập
vẫn là “cách hình thức”, chứ chưa phải “cách ngữ nghĩa”
Tác giả có ảnh hưởng nhất trong nghiên cứu và áp dụng quan điểm chức
năng vào tiếng Việt là Cao Xuân Hạo Trong công trình Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991), từ trang 81 đến trang 96, tác giả đã tổng kết lại lịch sử nghiên cứu vai nghĩa từ người khởi xướng là Tesnière (1959), và những đóng góp của một số nhà ngôn ngữ như Fillmore (1968, 1971 và 1977), Ha (1970), Trần Trọng Hải (1972), Nguyễn Đăng Liêm (1973), Clark (1974,1978), Dik (1978) và Halliday (1985) Có thể nói, tác phẩm Tiếng Việt- sơ thảo ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo (1991) là công trình đã phác thảo những nét định hướng cốt yếu cho nhiều nghiên cứu về sau có liên quan đến ngữ pháp chức năng trong tiếng Việt nói chung và CTTT trong tiếng Việt nói riêng Cao Xuân Hạo cùng các cộng
sự Hoàng Dũng và Bùi Mạnh Hùng (2003) đưa ra 22 vai nghĩa điển hình trong
tiếng Việt: Người hành động, Người tác động, Lực tác động, Người thể nghiệm,
Trang 26Người/Vật trải qua sự biến, Người/Vật bị tác động, Vật tạo tác, Người/Vật mang trạng thái, Người nhận, Người hưởng lợi, Nơi chốn, Đích, Hướng, Nguồn, Lối đi, Phương thức, Công cụ, Thời gian, Khoảng cách không gian, Nguyên nhân, Điều kiện, Trở ngại và Người/Vật tồn tại
Nguyễn Thị Quy (1995) đã cụ thể hóa quan điểm của Cao Xuân Hạo khi đi sâu khảo sát vị từ hành động tiếng Việt, và làm rõ được một số tham thể Nguyễn Thị Ảnh (2002) đã xác định các vai nghĩa sau đây có thể làm Đề trong câu tiếng
Việt: Tác thể, Hành thể, Lực, Động thể, Nghiệm thể, Đương thể, Đối thể, Mục tiêu, Tiếp thể, Đích, Nguồn, Công cụ, Thời gian, Nơi chốn, và Điều kiện Nguyễn Thị
Lương, trong “Câu tiếng Việt” (2006) đã vận dụng lí thuyết “vị tố - tham thể” của ngữ pháp chức năng và “lý thuyết hành động nói” để nghiên cứu hai thành phần tạo nên nghĩa tường minh của câu: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái Tác giả cũng
đã đề cập đến vai nghĩa của các thành phần: chủ ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ, khởi ngữ
Tác giả Nguyễn Văn Hiệp, trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp (2008)
đã trình bày về nghĩa miêu tả qua việc làm rõ cấu trúc vị từ - tham thể của câu dựa vào quan điểm của Tesnière, phân biệt khái niệm vị từ, định nghĩa vai nghĩa từ quan điểm của Fillmore (1968), đưa ra danh sách các vai nghĩa của Fillmore và danh sách các vai nghĩa cơ bản được hầu hết các nhà nghiên cứu thừa nhận Ông cũng làm rõ sự thể hiện hình thức của vai nghĩa và đánh dấu các vai nghĩa, phân loại các kiểu sự tình, sự đồ chiếu của cấu trúc vai nghĩa lên cấu trúc cú pháp
Hoàng Văn Vân, trong công trình Ngữ pháp kinh nghiệm cú tiếng Việt mô
tả theo quan điểm chức năng hệ thống (2005), đã thuyết minh cho quan điểm mà
Halliday (1985 và 1994) gọi là “hệ thống tính” trong cách phân tích ngữ pháp của các ngôn ngữ trên thế giới dựa trên quan điểm chức năng, đặc biệt là cách phân
tích câu Ông cũng đưa ra bộ vai nghĩa trong tiếng Việt: Hành thể, Đích thể, Lợi thể, Tiếp thể, Khách thể, Khiến thể, Cảm thể, Hiện tượng, Đương thể, Thuộc tính, Tạo thuộc tính thể, Giá trị, Biểu hiện, Bị đồng nhất thể, Đồng nhất thể, Hiện hữu thể, Phát ngôn thể, Tiếp ngôn thể, Đồng nhất thể, Hiện hữu thể, Ngôn thể, Dung môi, Cương vực, Ứng thể Các vai thể hiện chu cảnh gồm: Phạm vi, Định vị, Phong cách, Nguyên nhân, Đồng hành, Vấn đề, Vai diễn và Quan điểm
Trang 270.2.2.2 Lịch sử nghiên cứu cấu trúc tham tố có hạt nhân là tính từ
CTTT, đặc biệt CTTT của ĐT đã được giới ngôn ngữ học thế giới đặc biệt chú ý trong nhiều thập kỉ qua (Meltzer-Asscher 2011: 1) Trong khi đó, việc nghiên cứu CTTT của TT chỉ mới được chú ý trong những năm gần đây Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này bắt nguồn từ ý nghĩa và vai trò của TT trong mệnh
đề, trong câu Điều này có thể thấy qua một số nghiên cứu về CTTT TT tiếng Anh, tiếng Hà Lan, tiếng Ba Lan, tiếng Ý, tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Hebrew, (Bresnan 1995; Ikeya 1995;) Một số nhà Đông phương học cũng bắt đầu quan tâm đến CTTT TT trong tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Trung (Ohkado 1990; Ikeya 1995) Trong nhiều ngôn ngữ Ấn - Âu, TT không thể trực tiếp làm vị ngữ và không thuộc nhiều kiểu nhóm ngữ nghĩa, nên khả năng lựa chọn các tham tố cũng
bị hạn chế Tương đồng với CTTT của ĐT, CTTT của TT có hạt nhân là một TT
và các tham tố là các ngữ đoạn bổ sung về phương diện nghĩa cho TT đó
Chưa bàn trực tiếp về CTTT của TT nhưng nhiều nhà Việt ngữ học, như Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Đinh Văn Đức,… đã gián tiếp bàn về CTTT của TT với những tên gọi khác nhau như “cụm TT”, “đoản ngữ TT”, “tổ hợp TT”,
“nhóm TT”, v.v Đó là những cụm từ có thành tố chính đứng ở trung tâm do TT đảm nhận, và các thành phần phụ đứng trước và phía sau, chịu sự chi phối về mặt ngữ pháp của thành tố trung tâm Khi bàn về ngữ TT, các tác giả này chú trọng miêu tả TT trung tâm trong mối liên hệ có tính chức năng với ngữ đoạn: TT trung tâm quy định về mặt từ loại, về chức vụ mà cả đoản ngữ đảm nhiệm Vì ngữ TT
có đặc trưng là chưa gắn với một chức vụ nhất định nào cho sẵn nên nó có thể được tách riêng ra để nghiên cứu chức vụ cú pháp của nó Từ mối quan hệ chặt chẽ giữa TT trung tâm và thành tố phụ, ta có thể dựa vào cấu tạo của ngữ TT để soi sáng nhiều vấn đề, chẳng hạn, dựa vào mối quan hệ khác nhau giữa TT trung tâm với thành phần ở sau nó để phân biệt bổ tố, trạng tố Đó cũng là tiền đề quan trọng để xác định tính nội động, ngoại động của TT Điều quan trọng nữa là khả năng làm vị ngữ của TT cũng được thể hiện đầy đủ, rõ nét nhất qua khả năng hoạt động của ngữ TT Như vậy, ở một mức độ nhất định, các thành phần phụ trước,
Trang 28phụ sau trong mối liên hệ với TT trung tâm đã được bàn đến như những tham tố xoay quanh vị từ - trung tâm của ngữ đoạn chức năng, của câu
Khi miêu tả các tham tố của TT với tư cách là các thành phần phụ trước và phụ sau, các tác giả đã đi xa hơn khi bàn sâu hơn về vai trò bổ ngữ của thành phần phụ sau Nguyễn Tài Cẩn (1975) nêu ra những ví dụ về ngữ TT giống như ngữ ĐT,
trong đó thành tố phụ đứng sau trung tâm là chỉ đối tượng, chẳng hạn gần quần
chúng, xa bạn, khác người, v.v (tr.334) Trong chuyên khảo Ngữ pháp tiếng Việt,
Đinh Văn Đức (1986) đã nhận thấy “Do cách thức phản ánh của người bản ngữ, một đặc trưng trong quan hệ thông báo có thể hình dung như một trạng thái, xa hơn, cái trạng thái đó có thể hoạt động và gây ra tác động đến những đối tượng nhất định Đó là lý do về mặt ngữ nghĩa của việc hình thành các hiện tượng gọi là
“bổ ngữ của TT” trong tiếng Việt” (Ví dụ, Tôi xa nhà đã 20 năm) Đinh Văn Đức
đã ý thức về tham tố có vai trò bổ ngữ, nhưng chưa xác lập được tư cách bổ ngữ với các tiêu chí cú pháp nhất định Về những thành tố sau làm bổ ngữ trong ngữ TT, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1991) phân bổ ngữ thành một số loại: (i) Bổ
ngữ của TT chỉ lượng (đông, đầy, vắng, thưa, mau, nhiều, ít); (ii) Bổ ngữ là những danh từ chỉ chủ thể của nội dung ý nghĩa nêu ở TT (Ví dụ, Cây này vàng lá; Nhãn này mỏng cùi.); (iii) Bổ ngữ có nhiệm vụ nêu cái mốc, cái điểm không gian hoặc thời gian của một phía trong quan hệ định vị với thành phần ở trước (Ví dụ, Nhà tôi
xa trường; Hôm nay đã gần tết rồi.); (iv) Bổ ngữ đòi hỏi làm rõ phương diện mà nội dung TT phát huy tác dụng (Ví dụ: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn) (tr.101-105)
Không hiển ngôn bàn về CTTT, nhưng Cao Xuân Hạo (2006) xác định TT tiếng Việt với tư cách là một tiểu loại của vị từ (trong nhóm vị từ trạng thái) bằng cách phân loại theo diễn trị Trong quan niệm của tác giả, TT – với tư cách là vị từ trung tâm được xác định dựa vào khả năng kết hợp với các tham tố là diễn tố Có thể nói, chưa bàn riêng, bàn sâu về TT, nhưng Cao Xuân Hạo là người đầu tiên chứng minh một cách thuyết phục khả năng hoạt động của TT trung tâm trong CTTT có diễn tố đóng vai trò chủ ngữ, bổ ngữ,… trên bình diện cú pháp, và vai trò Nghiệm thể, Đương thể, trên bình diện nghĩa
Trang 29Như vậy, TT đã được nhiều tác giả bàn đến trong mối liên hệ với các thành
tố phụ trước, thành tố phụ sau, nhưng chưa tác giả nào bàn đầy đủ, thấu đáo về CTTT của TT, và đặt nó trong thế đối sánh với CTTT của ĐT, nhằm làm rõ những tương đồng về nhiều mặt giữa TT và ĐT trong tiếng Việt Việc xác định TT từ góc độ CTTT nằm trong xu hướng xác định từ loại trong ngữ đoạn chức năng, trong sự hành chức của từ Vai trò hạt nhân trong khung tham tố sẽ giúp TT bộc lộ hết khả năng hoạt động trong sự tương ứng, sự bất xứng giữa hai bình diện cú pháp và ngữ nghĩa
Tóm lại, các nhà ngữ pháp với những quan điểm khác nhau, cách thể hiện khác nhau, nhưng trong nghiên cứu của mình đều cho rằng chính ý nghĩa của vị từ trung tâm là nhân tố tối thượng quyết định lõi câu nói riêng và diện mạo cú pháp của câu nói chung Điểm chung mà tất cả các nhà ngữ pháp trên hướng đến để làm
rõ là chuyển trọng tâm của cú pháp từ việc phản ánh theo cấu trúc logic của mệnh
đề sang cấu trúc nghĩa của các vai (roles) trong cái màn kịch nhỏ do vị từ làm trung tâm
Do sự khác nhau trong cách nhìn nhận về đặc trưng của loại hình ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính dẫn đến sự khác nhau trong việc xác định vấn đề tiếng Việt
có phạm trù từ loại hay không Và cũng từ quan niệm khác nhau về tiêu chí phân định từ loại của các tác giả, dẫn đến số lượng và tên gọi của các từ loại khác nhau Những nghiên cứu về TT trong tiếng Việt chưa đi đến quan điểm nhất quán về việc xác định bản chất của TT TT là một tập hợp từ loại riêng biệt, hay chỉ là một tiểu nhóm (để cùng với ĐT hình thành một từ loại lớn hơn: vị từ) vẫn còn là vấn
đề cần được nghiên cứu thêm
Khuynh hướng nghiên cứu ngữ pháp theo xu hướng chức năng đã tạo một bước ngoặt trong nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và tìm hiểu bản chất của từ loại nói riêng Việc áp dụng quan điểm chức năng vào xử lý tiếng Việt mới đang bắt đầu nhưng đã đạt được những thành tựu nhất định
0.3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
0.3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 30Xác định rõ bản chất của từ loại TT trong tiếng Việt Từ góc độ CTTT, luận án tập trung xác định nhóm từ vẫn được coi là TT tiếng Việt (cùng với ĐT)
có tư cách là một tiểu loại của vị từ Chúng có CTTT với nhiều điểm tương đồng CTTT của ĐT tiếng Việt
0.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, phân tích khả năng hoạt động của TT tiếng Việt ở hai phương diện: cấu trúc cú pháp và CTTT Làm rõ các vai nghĩa và vai cú pháp của TT trên hai phương diện này
- Tìm mối liên hệ giữa CTTT và cấu trúc cú pháp của TT
- Đối chiếu CTTT của TT tiếng Việt với CTTT của TT tiếng Anh
0.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là TT (TT) trong tiếng Việt và cấu CTTT của nó Xác định cụ thể hơn, đối tượng khảo sát sẽ giới hạn ở 1612 TT đơn tiết và 769 đơn vị song tiết có hạt nhân là TT đơn tiết và yếu tố sau có tư cách bổ ngữ
- Phạm vi nghiên cứu là CTTT của TT, cấu trúc cú pháp của TT, và quan
hệ giữa hai bình diện này
- Ngữ liệu nghiên cứu được lấy chủ yếu từ "Từ điển tiếng Việt" (Hoàng Phê chủ biên, 2006), từ British National Corpus, Corpus of Contemporary American English, Longman Dictionary, và từ ngôn ngữ được được sử dụng trong các tác phẩm văn học, trong giao tiếp hàng ngày (xem Phụ lục)
0.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên quan điểm của ngữ pháp chức năng, đặc biệt là lý thuyết
về CTTT để xác định CTTT của TT được rõ hơn Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng các quan điểm của Cao Xuân Hạo, Dixon, Givon, v.v để giải quyết những vấn đề có liên quan
Về phương pháp, luận án sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích, miêu tả: dùng để miêu tả TT ở phương diện cú pháp và CTTT (trong tiếng Việt và trong tiếng Anh)
Trang 31- Phương pháp đối chiếu: dùng để chỉ ra những tương đồng, khác biệt giữa CTTT trong tiếng Việt và trong tiếng Anh, qua đó biện giải, làm rõ thêm những đặc điểm CTTT của TT trong tiếng Việt
- Phương pháp thống kê: dùng các thủ pháp để thống kê dữ liệu phục vụ cho những luận điểm trong luận án
0.6 Đóng góp của luận án
Về phương diện lý luận, luận án cố gắng làm rõ CTTT của TT; dùng tiêu chí CTTT để xác định bản chất của TT; tìm mối liên hệ giữa CTTT và cấu trúc cú pháp của TT; chứng minh sự gần gũi giữa ĐT và TT trong tiếng Việt
Về phương diện thực tiễn, luận án góp phần giúp cho việc sử dụng tiếng Việt chính xác hơn; những ngữ liệu, phân tích trong luận án cũng sẽ giúp cho người học ngoại ngữ (đặc biệt các ngôn ngữ biến hình, chẳng hạn, tiếng Anh) thuận lợi hơn trong quá trình nhận diện và sử dụng các cấu trúc câu có chứa TT Nội dung luận án cũng có thể làm tài liệu cho việc dịch thuật Anh - Việt và ngược lại
0.7 Cấu trúc luận án
Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ đặt ra, luận án được sắp xếp như sau: phần chính văn có dung lượng 175/183 trang, gồm phần Mở đầu, Kết luận và bốn chương nội dung; phần còn lại gồm Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các bài báo khoa học Nội dung các phần chính văn được tóm tắt như sau:
Phần Mở đầu (32 trang) trình bày lý do chọn đề tài (mục 0.1); tổng quan
nghiên cứu vấn đề (mục 0.2); mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu (mục 0.3); đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn dữ liệu (mục 0.4); phương pháp nghiên cứu (mục 0.5), đóng góp của luận án (mục 0.6), và cấu trúc luận án (mục 0.7)
Chương 1 (41 trang) nêu những vấn đề lý luận chung làm nền tảng cho việc
tìm hiểu TT và CTTT của TT Cụ thể, chương này đề cập tới một số vấn đề về TT
và TT tiếng Việt (mục 1.1); CTTT và CTTT của TT (mục 1.2); và phần Tiểu kết (mục 1.3)
Chương 2 (52 trang) là phần trọng tâm của luận văn – tập trung làm rõ TT
hạt nhân và khả năng kết hợp với các tham tố - do đó, cũng chiếm dung lượng lớn
Trang 32nhất Trước hết, làm rõ các vấn đề về hạt nhân của tham tố ở phần Vấn đề hạt nhân CTTT của TT tiếng Việt (2.1), Tham tố của TT tiếng Việt (2.2), sau đó, làm
rõ CTTT của TT ở các phần Cấu trúc đơn trị có hạt nhân là TT tiếng Việt (2.3), Cấu trúc song trị có hạt nhân là TT tiếng Việt (2.4), Các vai nghĩa trong CTTT của TT tiếng Việt (2.5), và phần Tiểu kết (2.6)
Chương 3 (22 trang) cũng là chương quan trọng – xác định mối quan hệ giữa
CTTT và cấu trúc cú pháp có hạt nhân là TT tiếng Việt Nội dung này đã nằm đan xen trong chương 2 nên dung lượng chương này hạn chế Chương 3 được tổ chức thành 3 phần: Cấu trúc cú pháp của TT tiếng Việt (3.1), Mối quan hệ giữa CTTT
và cấu trúc cú pháp có hạt nhân là tính từ tiếng Việt (3.2), và phần Tiểu kết (3.3)
Chương 4: Gồm (26 trang), với mục đích đối chiếu TT tiếng Việt với TT
tiếng Anh ở phương diện CTTT và phương diện có liên quan Gồm 3 phần: Đối chiếu tính từ tiếng Việt với tính từ tiếng Anh ở phương diện CTTT (4.1), Đối chiếu tính từ tiếng Việt với tính từ tiếng Anh trong mối liên hệ với các từ loại khác (4.2), và phần Tiểu kết (4.3)
Phần Kết luận (4 trang) tổng kết nội dung cơ bản của luận án, nêu những khó
khăn trong quá trình thực hiện luận án cũng như những vấn đề luận án đề cập chưa đầy đủ hoặc cần tiếp tục nghiên cứu trong tương lai
Tài liệu tham khảo gồm 100 tài liệu, trong đó có 54 tài liệu tiếng Việt và 46
tài liệu tiếng Anh
Phần Danh mục bài viết của tác giả (đính kèm): gồm 6 bài
Phần Phụ lục: (đính kèm) gồm 6 phụ lục:
(i) Danh sách những TT nội động được dùng như ngoại động;
(ii) Danh sách những TT ngoại động;
(iii) Danh sách các ví dụ về đơn vị song tiết có hạt nhân là TT đơn tiết và yếu
Trang 33Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Một số vấn đề về tính từ và tính từ tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm tính từ
Phần này gồm ba nội dung Phần đầu (1.1.1.1) nêu các quan niệm về TT trong các ngôn ngữ và nhấn mạnh quan điểm của Dixon – một khái quát đầy đủ, sâu sắc
về TT Phần tiếp theo (1.1.1.2), chúng tôi dựa trên quan điểm của Givón để bàn về
ý nghĩa đặc trưng của TT Từ đó, khẳng định: tập hợp TT, nếu được thừa nhận thì chỉ nằm ở phương diện đặc trưng (phân biệt với tập hợp TT được luận án giả định) Phần cuối (1.1.1.3) nêu một quan điểm phổ biến về TT tiếng Việt – về tập hợp TT mà luận án giả định
1.1.1.1 Nhìn chung, những lớp từ cơ bản như danh từ, ĐT, TT có mặt trong hầu
hết các ngôn ngữ (Croft, 2001, tr.63; Baker, 2003, tr.238-263) Tuy nhiên, tính phổ quát của TT vẫn còn là vấn đề gây tranh luận Dixon (1977), Schachter (1985) cho rằng trong một số ngôn ngữ không có TT và những từ được coi là TT trong các ngôn ngữ có TT tương đương với hoặc là danh từ hoặc là ĐT trong những
ngôn ngữ này Baker (2003) cho rằng TT cũng có thể xem là từ loại phổ quát
nhưng sự thể hiện của nó trong các ngôn ngữ có nhiều điểm khác nhau 263) Dixon (2004) tin rằng tất cả các ngôn ngữ đều có lớp TT riêng biệt, độc lập nhưng tiêu chí để khu biệt TT với danh từ và tiêu chí để phân biệt TT với ĐT lệ thuộc vào từng ngôn ngữ; tuy nhiên, cốt lõi ngữ nghĩa và chức năng cú pháp của danh từ, ĐT và TT phải giống nhau trong tất cả các ngôn ngữ (tr.14-28)
(tr.238-Croft (2000, 2001) cho rằng xét từ phương diện điển dạng, các từ loại đều tồn tại trong các ngôn ngữ tuy nhiên ranh giới của mỗi từ loại là có tính đặc thù ngôn ngữ Như vậy, TT hoàn toàn có tư cách từ loại riêng của nó Trên quan điểm này, tác giả đề xuất các điển dạng của mỗi từ loại - trong đó điển dạng được hiểu như là "những kết hợp không đánh dấu thể hiện chức năng dụng học và lớp ngữ nghĩa nhất định" Theo đó, chức năng của danh từ không cần đánh dấu là định danh sự vật (reference to an object), chức năng của ĐT không cần đánh dấu là
Trang 34miêu tả một hành động (predication of an action) và chức năng của TT không cần đánh dấu là bổ nghĩa bằng một đặc tính (modification by a property) (Croft, 2000,
tr.88) Để làm rõ quan điểm của tác giả, lấy tiếng Việt làm ví dụ, ta có ngủ là ĐT
và ngủ tự nó đủ để diễn tả một hành động và nó có chức năng miêu tả một hành
động mà không cần phải thêm yếu tố gì khác Tuy nhiên khi muốn đề cập, quy chiếu người đọc, người nghe về hành động ngủ cần phải thêm yếu tố đánh dấu
vào, chẳng hạn phải thêm việc vào trước ĐT ngủ (so sánh: Hắn ngủ suốt ngày với
Việc ngủ suốt ngày cho thấy hắn rất lười) Quan hệ giữa đẹp với cái đẹp, buồn
với nỗi buồn, do dự với sự do dự, có thể giải thích tương tự
Theo truyền thống, việc định nghĩa từ loại thường dựa trên ý nghĩa, đặc tính hình thái cú pháp và chức năng cú pháp, chức năng diễn ngôn của từ (Bisang, 2011) (như trích dẫn ở Arcodia 2014, tr.97) Trong các tiêu chí trên có thể thấy tiêu chí nghĩa thường được xem là tiêu chí hợp lý trong việc khu biệt TT với các
từ loại từ vựng khác (danh từ, ĐT); trong khi, tiêu chí thứ hai - tiêu chí hình thái
cú pháp - thường dẫn đến tư cách từ loại của TT không rõ ràng trong nhiều ngôn ngữ vì ở những ngôn ngữ này dấu hiệu hình thái của TT thường hoặc là gần gũi với danh từ hoặc là gần gũi với ĐT Ngay cả trong một ngôn ngữ không phải tất
cả các TT đều cho thấy sự nhất quán, chẳng hạn, tiêu chí khả năng kết hợp với từ chỉ mức độ thường là cơ sở cho việc phân biệt TT với danh từ nhưng nhiều TT không cho phép kết hợp với những từ chỉ mức độ, tiếng Trung là ví dụ (Arcodia,
2014, tr.97)
Trong khá nhiều ngôn ngữ, chẳng hạn, trong tiếng Trung, tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Hàn, việc tranh luận có hay không có từ loại TT như là một từ loại độc lập luôn thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu ngôn ngữ học Những người ủng hộ quan điểm phủ nhận tính độc lập của từ loại này thường xem những từ này
Trang 35(iii) Các TT không có giống (gender) riêng của nó; chúng phù ứng với danh
từ loại này trong các ngôn ngữ cụ thể (tr.3)
Trong số các tác giả bàn về TT, thì Dixon là người có những kiến giải sâu
sắc, khái quát được quan điểm của nhiều tác giả khác Trong Adjective classes,
ông đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về TT trong các ngôn ngữ
Dixon (1988) đề xuất rằng việc dán nhãn “lớp TT” cho một lớp từ, khi nó
có sự khu biệt về mặt ngữ pháp với lớp danh từ và lớp ĐT; bao gồm: những từ có một số hay tất cả những loại ngữ nghĩa của TT điển hình (prototypical adjective) – như chiều kích/quy mô (Dimension), tuổi tác (Age), giá trị (Value), và màu sắc (Colour); và (a) giữ chức năng hoặc như một vị từ nội động làm vị ngữ (intransitive predicate) hoặc như một bổ nghĩa tố trong mệnh đề (copula complement), và/hoặc (b) giữ chức năng bổ nghĩa cho một danh từ trong cụm danh từ (Noun phrase); (tr.67)
Từ quan điểm của Dixon, suy ra có 4 loại TT thường thấy trong các ngôn ngữ: (i) TT có một số hay tất cả những loại ngữ nghĩa của TT điển hình (prototypical adjective) – như chiều kích/quy mô, tuổi tác, giá trị, màu sắc (Dimension, Age, Value, Colour); và giữ chức năng như một vị ngữ có vị từ nội động (intransitive predicate), và bổ nghĩa cho một danh từ trong cụm danh từ (Noun phrase);
(ii) TT có một số hay tất cả những loại ngữ nghĩa của TT điển hình– như chiều kích/quy mô, tuổi tác, giá trị, màu sắc ; và giữ chức năng như một bổ nghĩa
tố trong mệnh đề (copula complement), và bổ nghĩa cho một danh từ trong cụm danh từ
Trang 36(iii) TT có một số hay tất cả những loại ngữ nghĩa của TT điển hình – như chiều kích/quy mô, tuổi tác, giá trị, màu sắc; và giữ chức năng như một vị ngữ có
vị từ nội động, hoặc bổ nghĩa cho một danh từ trong cụm danh từ;
(iv) TT có một số hay tất cả những loại ngữ nghĩa của TT điển hình – như chiều kích/quy mô, tuổi tác, giá trị, màu sắc; và giữ chức năng như một bổ nghĩa
tố trong mệnh đề (copula complement), hoặc bổ nghĩa cho một danh từ trong cụm danh từ
Chỉ trong một vài ngôn ngữ, TT mới có cả 2 chức năng (a) và (b) ((a) giữ chức năng hoặc như một vị từ nội động làm vị ngữ (intransitive predicate) hoặc như một bổ nghĩa tố trong mệnh đề (copula complement), và/hoặc (b) giữ chức năng bổ nghĩa cho một danh từ trong cụm danh từ (Noun phrase); (tr.67) Chỉ trong một vài ngôn ngữ, TT mới có cả 2 chức năng như trong (a): có khả năng làm hạt nhân của một vị ngữ nội động và có khả năng như một bổ nghĩa tố trong mệnh đề (copula complement); Trong một số ngôn ngữ, hai lớp TT riêng biệt có thể được nhận diện Trong đó: lớp TT điển hình (prototypical) kết hợp chức năng (a) và (b) Nhưng trong một số ngôn ngữ, lớp TT chỉ có chức năng (a) hoặc (b) Trong nhiều ngôn ngữ, có thể chia TT 2 loại bằng tiêu chí (a)
Dixon cũng chỉ ra và phân biệt TT có thể dùng như danh từ (noun-like) với TT không thể dùng như danh từ (non-noun-like), TT có thể dùng như ĐT (verb-like) với TT không thể dùng như ĐT (non-verb-like), TT có thể dùng như
ĐT (verb-like) với ĐT (verb), TT có thể dùng như danh từ (noun-like) với danh
từ (noun)
Dixon phân biệt TT có thể dùng như danh từ với TT không thể dùng như danh từ: khi một TT xuất hiện trong một một ngữ danh từ, một thông số riêng biệt (separate parameter) đặt ra vấn đề liệu nó có thể đảm nhiệm một số hay tất cả những tiến trình hình thái học có hiệu lực (available) đối với danh từ Nếu đảm nhiệm được thì nó là TT có thể dùng như danh từ, nếu không thì nó là TT không thể dùng như danh từ Có một mối liên hệ - nhưng không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên – giữa sự tồn tại của TT không giống ĐT và TT có thể dùng như danh
từ (Trong một số ngôn ngữ, các lớp TT vừa có thể dùng như ĐT vừa có thể dùng
Trang 37như danh từ, và trong một số ngôn ngữ khác thì chúng vừa không thể dùng như
ĐT vừa không thể dùng như danh từ) Về mối liên hệ giữa TT có thể dùng như
ĐT và TT không thể dùng như ĐT - một mối quan hệ giả định (tentative) được thiết lập: những lớp TT không thể dùng như ĐT có xu hướng được tìm thấy trong
các ngôn ngữ có đánh dấu thành phần phụ thuộc (dependent marking) ở cấp độ
mệnh đề, các lớp TT có thể dùng như ĐT được thấy điển hình trong các ngôn ngữ
có đánh dấu thành phần trung tâm (head-marking) hoặc với các ngôn ngữ không
có đánh dấu thành phần phụ thuộc cũng không đánh dấu thành phần trung tâm
Và, Dixon đề nghị rằng nếu một ngôn ngữ đổi sự đánh dấu thành phần trung tâm/ thành phần phụ thuộc thì sự định hướng (orientation) của lớp TT có vẻ chậm thay đổi, chậm tái lập mối tương liên (correlation) Về sự phân biệt TT có thể dùng như
ĐT với ĐT, TT có thể dùng như danh từ với danh từ, ông cho rằng rất khó (nhưng vẫn có thể tìm thấy) tìm tiêu chí để phân biệt Các thông số và sự phân loại thì không kín kẽ (watertight) Chẳng hạn, cái mức độ TT nào là TT có thể dùng như
ĐT hay TT có thể dùng như danh từ cũng khác nhau trong các ngôn ngữ Và, mặc
dù với hầu hết các từ vị (lexemes) trong một ngôn ngữ, (các) thành viên lớp ngữ pháp của chúng có thể được phân định một cách không rõ ràng, (và) luôn có thể tồn tại một vài khu vực mờ giữa các lớp từ (Dixon, 1988, tr.239-40)
Đặc biệt, Dixon đã chú trọng phân biệt TT có thể dùng như ĐT với ĐT - trong trường hợp cả TT và ĐT đều có thể đảm nhận vai trò trung tâm vị ngữ với
tư cách là một vị từ nội động, thì tiêu chí để phân biệt hai lớp từ này sẽ bao gồm: (i) Khả năng khác nhau trong việc đảm nhiệm vai trò vị ngữ, (ii) Khả năng biến đổi khác nhau, (iii) Khả năng làm bổ ngữ khác nhau trong ngữ danh từ, (iv) Khả năng khác nhau trong cấu trúc so sánh, (v) Khả năng khác nhau trong việc thành lập trạng từ (Trạng từ, trong trường hợp này có nghĩa: bổ nghĩa cho ĐT)
Dixon đã phân tích chi tiết, sâu hơn các khả năng để phân biệt TT với ĐT Trong đó, đề cập đến khả năng khác nhau trong việc đảm nhiệm vai trò vị ngữ của
ĐT và TT Đó là, trong một số ngôn ngữ thực sự có cùng các quá trình hình thái
và các yếu tố bổ nghĩa về cú pháp giống nhau có thể áp dụng cho một ĐT và TT trong vị ngữ Tuy nhiên, trong nhiều ngôn ngữ, các khả năng này khác nhau
Trang 38Thông thường nhất, một TT bị nhiều hạn chế hơn một ĐT khi nó xuất hiện ở vị trí hạt nhân vị ngữ Và, chỉ những vị trí mà bắt buộc đối với ĐT thì mới có khả năng xuất hiện các TT
Dixon đã tóm lược lại các hiện tượng chồng chéo (overlap) về ngữ nghĩa giữa 3 lớp từ chính: tiếng Anh có sự chồng chéo đáng kể với ĐT /danh từ và TT/danh từ, nhưng khá ít sự chồng chéo với ĐT/ TT, trong khi ngôn ngữ Dyirbal (thuộc Úc) thì gần như là ngược lại – với sự chồng chéo đáng kể với ĐT/TT, nhưng không có sự chồng chéo về ngữ nghĩa với ĐT/danh từ và TT/danh từ
1.1.1.2 Trong phần này, chúng tôi dành một dung lượng khá lớn để tìm cách lí
giải bản chất của TT, TT tiếng Việt từ góc độ khác – dựa trên thang độ nghĩa – nhằm khẳng định: bản chất của tính từ, và trong tiếng Việt tập hợp TT (khác với tập hợp TT giả định của luận án) nếu được thừa nhận, thì nó chỉ nằm ở phương diện đặc trưng, và chỉ có chức năng làm định ngữ
Ý nghĩa đặc trưng là ý nghĩa của TT, giới hạn nghĩa cho những khái niệm về sự vật, hiện tượng, tồn tại, trạng thái, quá trình, hành động,… Chúng tôi sẽ dựa trên quan điểm của Givón để làm rõ về việc phân chia từ loại và qua đó lý giải về ý nghĩa đặc trưng của TT, mối liên hệ của TT với từ loại danh từ và ĐT
1.1.1.2.1 Trong công trình Syntax: A Functional-Typological Introduction, Vol 1,
Givón (1984) đã dành một phần, từ trang 51- 56, để biện giải về bản chất từ loại Ông cho rằng sự phân định các từ loại chỉ có tính chất tương đối Nhìn chung, có
4 lớp từ vựng chính (word classes) trong các ngôn ngữ: danh từ (nouns), ĐT (verbs), TT (adjectives), trạng từ (adverbs) Ông cho rằng mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới diễn ra trên chiều kích thời gian và quá trình hình thành, phát triển, tiêu vong của nó có thể được xác định dựa theo mức độ ổn định, tính bền vững của thời gian Nhưng tính ổn định, bền vững này khó xác định chính xác, thậm chí trong nhiều trường hợp, khả năng của con người chưa nhận thức được Vì vậy, khi khái quát các sự vật, hiện tượng, quá trình thành các phạm trù từ vựng trong các ngôn ngữ, thì các nghĩa của mỗi từ loại sẽ đan xen, chồng lấn
Trang 39nhau Nhưng, xét một cách tương đối, có thể nhận diện các từ loại trên một thang
độ nghĩa dựa trên mức ổn định, bền vững về thời gian của nó
Thang độ nghĩa dựa trên mức độ ổn định về thời gian được tóm tắt như sau:
A’
Most time-stable intermediate states rapid change
Hình 1.1: Từ loại trên thang độ nghĩa (1)
Đường thẳng (A – C) cho thấy mức độ ổn định, bền vững về thời gian từ bền vững nhất đến biến đổi nhanh nhất của: sự vật - hiện tượng – quá trình – hành động Đường (A’ – C) thể hiện mức độ bền vững về thời gian giảm dần (ít biến đổi – biến đổi nhiều)
Điểm (A) là cực [tĩnh] - mà chứa các từ có mức độ ổn định, bền vững nhất
về thời gian Điểm (C) là cực [động] - chứa các từ có mức độ ổn định bền vững về thời gian thấp nhất Điểm (B) là điểm giữa – điểm trung tính – điểm ít bị ảnh hưởng nhất bởi hai cực
Sự phân cực như thang độ nghĩa ở trên chỉ có tính tương đối, cũng như
‘động’ và ‘tĩnh’ là những khái niệm tương đối Ở phương diện triết học, thì mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi không ngừng ‘Đứng im’ cũng chỉ là một phạm trù triết học – tạm cô lập lại, vì mục đích nghiên cứu Trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày các bước để nhận diện TT trong mối liên hệ với danh từ, ĐT:
Trang 40tiêu vong, rồi ngừng tái tạo Chúng thay đổi nhanh hơn tree Và tree thay đổi nhanh hơn rock Tuy nhiên, cũng phải lưu ý là có những sự thay đổi rất khó nhận
biết vì khả năng hữu hạn của con người Như vậy, tại điểm bền vững nhất (A), mức độ của các danh từ điển hình cũng giảm (rock – tree – person) Từ (A) đến (C), độ bền vững giảm dần, danh từ có xu hướng ‘trừu tượng’ hơn (tr.51)
Phân tích của Givón không những định vị danh từ ở phương diện ‘tĩnh’, trên cùng một thang độ nghĩa với các từ loại khác mà nó còn củng cố một sự thật là: ở phương diện định danh, tất cả các sự vật, hiện tượng, quá trình,… đều có thể được khái quát hóa, cố định hóa, hình thái hóa, được xếp vào phạm trù danh từ
trong các ngôn ngữ Chẳng hạn, trong tiếng Việt hay dùng cái, sự, nỗi,… để ‘danh
từ hóa’ từ vựng
(ii) Động từ:
Về ĐT, Givón cho rằng ở đầu cực kia (C) trên một chiều kích thời gian của thế giới hiện tượng, người ta thấy những hiện tượng ‘thay đổi nhanh’ (rapid changes) trong phạm vi rộng Đây chính là những events (sự việc) hay actions (hành động) điển hình (‘động’ nhất), mà ngôn ngữ có xu hướng từ vựng hóa (lexicalize) thành những ĐT (verbs) - những từ ‘trừu tượng’ hơn danh từ, nhưng vẫn nằm trên một thang độ nghĩa Trên thang độ nghĩa, tại ‘vùng’ chứa những ĐT
điển hình, thì mức độ cũng khác nhau Chẳng hạn, break (bẻ gãy, đập vỡ) thì cụ thể hơn grieve (đau lòng, làm đau lòng), grieve cụ thể hơn speculate (suy đoán, tự
biện) Như vậy, mức độ ‘động’ của những ĐT có thể cảm nhận được theo mức độ
biến đổi tăng dần (speculate – grieve – break)
Givón cũng dẫn chứng rõ thêm: trong phạm trù ĐT, các thành viên của nó
cũng được phân loại theo mức độ ổn định của thời gian Do đó, hit (đánh, đấm), shoot (chạy qua, vọt tới), kick (đá, sút) là những ĐT chỉ một sự thay đổi rất nhanh
(instantaneous verbs) Sing (hát), work (làm việc), eat (ăn), read (đọc) chỉ một tiến
trình thay đổi chậm hơn được đặc tính hóa thành những ĐT chỉ hoạt động, quá
trình (activity/process verbs) Cuối cùng, know (biết), understand (hiểu), like
(thích) có xu hướng thể hiện một sự tình lâu bền (long-lasting states), mã hóa (coding) cho những ĐT chỉ sự bất biến hoặc biến đổi chậm (tr.52)