Việc nghiên cứu ẩn dụ trong tiếng Việt với cách hình dung vừa nêu đã đóng góp một phần không nhỏ cho lý luận và thực tiễn của ngành Việt ngữ học, làm cơ sở cho việc miêu tả và giải thích
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN XUÂN HỒNG
ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ VIỆT VÀ MỸ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN XUÂN HỒNG
ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ VIỆT VÀ MỸ
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 62.22.02.41
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Người hướng dẫn khoa học:
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Sâm Tư liệu trong luận án là xác thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Tác giả luận án
Nguyễn Xuân Hồng
Trang 4MỤC LỤC DẪN NHẬP
0.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
0.2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU 6
0.2.1 Đối tượng nghiên cứu 6
0.2.2 Phạm vi nghiên cứu 6
0.2.3 Tư liệu nghiên cứu 7
0.3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 8
0.3.1 Mục đích nghiên cứu 8
0.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
0.3.3 Câu hỏi nghiên cứu 9
0.4 PHƯƠNG PHÁP, THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU 10
0.4.1 Phương pháp nghiên cứu 10
0.4.2 Thủ pháp nghiên cứu 10
0.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 11
0.5.1 Về mặt lý luận 11
0.5.2 Về mặt thực tiễn 11
0.6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1 TỔNG QUAN 13
1.1.1 Nghiên cứu về ẩn dụ 13
1.1.2 Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm 15
1.1.3 Nghiên cứu về diễn ngôn chính trị 20
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về diễn ngôn chính trị và ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị trên thế giới 22
Trang 51.1.5 Các công trình nghiên cứu về diễn ngôn chính trị và ẩn dụ ý niệm trong
diễn ngôn chính trị ở Việt Nam 35
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 43
1.2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ 43
1.2.1.1 Diễn ngôn 43
1.2.1.2 Diễn ngôn chính trị 44
1.2.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT ĐƯỢC DÙNG NGHIÊN CỨU ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ TIẾNG VIỆT 46
1.2.2.1 Lý thuyết phân tích diễn ngôn 46
1.2.2.2 Lý thuyết phân tích diễn ngôn chính trị 46
1.2.2.3 Lý thuyết phân tích diễn ngôn phê phán 47
1.2.2.4 Lý thuyết ẩn dụ ý niệm 51
1.2.3 MỘT SỐ NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN TRONG NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ 55
1.2.4 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 58
1.3 TIỂU KẾT 60
CHƯƠNG 2: ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ TIẾNG VIỆT 62
2.0 Dẫn nhập 62
2.1 Miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI 66
2.2 Miền nguồn HÀNH TRÌNH 69
2.3 Miền nguồn XÂY DỰNG 73
2.4 Miền nguồn GIA ĐÌNH 76
2.5 Miền nguồn BỆNH TẬT 80
2.6 Miền nguồn THỰC VẬT 83
2.7 Miền nguồn CƠ THỂ SỐNG 86
2.8 Các miền nguồn khác 88
2.9 Tiểu kết 89
Trang 6CHƯƠNG 3: ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ
TIẾNG ANH MỸ 90
3.0 Dẫn nhập 90
3.1 Nhóm miền nguồn CON NGƯỜI 93
3.1.1 Miền nguồn CON NGƯỜI 93
3.1.2 Miền nguồn ĐẶC ĐIỂM CON NGƯỜI 102
3.1.3 Miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI 108
3.2 Miền nguồn HÀNH TRÌNH 115
3.3 Miền nguồn XÂY DỰNG 123
3.4 Miền nguồn GIA ĐÌNH 129
3.5 Miền nguồn CHIẾN TRANH 132
3.6 Miền nguồn THỜI TIẾT 136
3.7 Miền nguồn ĐỘNG VẬT 138
3.8 Các miền nguồn khác 140
3.9 Tiểu kết 141
CHƯƠNG 4: SO SÁNH ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ TIẾNG VIỆT VỚI DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ TIẾNG ANH MỸ 143
4.0 Dẫn nhập 143
4.1 So sánh ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị của hai ngôn ngữ đối với miền nguồn HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI, CON NGƯỜI 146
4.1.1 Quốc gia (tổ quốc, đất nước) là một con người 149
4.1.2 Thế giới là một tập hợp người (quan hệ giữa các quốc gia là quan hệ giữa con người với con người) 149
4.1.3 Hoạt động của quốc gia là cách ứng xử của một con người 151
4.1.4 Đặc điểm của quốc gia là đặc điểm của con người 152
4.1.5 Thể chế chính trị là con người, cơ cấu của một quốc gia, của một thể chế, của một chính đảng là cơ thể của con người; đường lối chính sách của một quốc gia là ý tưởng của con người 153
4.1.6 Cơ thể của quốc gia là cơ thể con người 154
Trang 74.1.7 Quốc gia là một người mẹ/người phụ nữ/đứa trẻ 155
4.1.8 Quốc gia là một gia đình 156
4.2 So sánh ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị của hai ngôn ngữ đối với miền nguồn HÀNH TRÌNH, CON ĐƯỜNG 157
4.2.1 Chính trị là một cuộc hành trình 159
4.2.2 Đường lối, chính sách chủ trương là một con đường 160
4.2.2.1 Chiến lược chính trị là một con đường xuyên suốt 161
4.2.2.2 Chiến thuật chính trị là đoạn đường cụ thể 162
4.2.3 Lý luận chính trị là một vật thể hướng dẫn, định hướng 162
4.2.4 Mục đích của chính trị là đích đến của cuộc hành trình 163
4.2.5 Nhận xét chung 164
4.3 So sánh ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị của hai ngôn ngữ đối với miền nguồn TÒA NHÀ, XÂY DỰNG 168
4.3.1 Chính trị (thể chế chính trị) là một tòa nhà 171
4.3.2 Lý thuyết chính trị là một tòa nhà 171
4.3.3 Quốc gia là một tòa nhà 172
4.3.4 Chính trị gia là những người thợ xây, công nhân viên chức là những người thợ xây 172
4.3.5 Chính trị là một vật thể, đặc điểm của chính trị là đặc điểm của vật thể 173
4.3.6 Nhận xét chung 173
4.4 Tiểu kết 174
KẾT LUẬN 177
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 182
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 183
Trang 8DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
5 DNCTTA Diễn ngôn chính trị tiếng Anh
6 DNCTTAM Diễn ngôn chính trị tiếng Anh Mỹ
7 DNCTTV Diễn ngôn chính trị tiếng Việt
14 PTDNCT Phân tích diễn ngôn chính trị
15 PTDNPP Phân tích diễn ngôn phê phán
Trang 9Bảng 4.3 Bảng từ ngữ liên quan đến những nét nghĩa được ánh xạ trong các miền đích khác nhau thuộc các phạm trù khác nhau trong miền nguồn CON ĐƯỜNG, HÀNH TRÌNH 158
Bảng 4.4 Bảng từ ngữ liên quan đến những nét nghĩa được ánh xạ trong các miền đích khác nhau thuộc các phạm trù khác nhau trong miền nguồn TÒA NHÀ, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 169
Trang 10DẪN NHẬP 0.1 Đặt vấn đề
0.1.1 Theo quan niệm truyền thống, ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa phổ
biến, là một hiện tượng ngôn ngữ thuộc đối tượng nghiên cứu của Từ vựng học và Phong cách học Đó là phép sử dụng từ ngữ để chuyển nghĩa dựa trên cơ sở tương đồng giữa một thuộc tính nào đó của hai hay nhiều sự vật, hiện tượng Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi giữa hai sự vật có mối quan hệ tương đồng Người ta khái quát thành công thức lấy tên gọi x của A để chỉ tên gọi y của B Cách hình dung này mặc dầu có ít nhiều thay đổi qua thời gian nhưng nó đã tồn tại trong lịch sử nhân loại trên
2000 năm, trong đó công lao xây dựng lớn nhất về tu từ học nói chung, ẩn dụ nói riêng là của Aristotle
Việc nghiên cứu ẩn dụ trong tiếng Việt với cách hình dung vừa nêu đã đóng góp một phần không nhỏ cho lý luận và thực tiễn của ngành Việt ngữ học, làm cơ sở cho việc miêu tả và giải thích những hiện tượng ngôn ngữ tưởng như không thể giải thích được, nhất là ngôn ngữ văn chương Tình hình tương tự cũng đã xảy ra ở phương Tây Nói rõ hơn, thành tựu nghiên cứu về ẩn dụ trên cứ liệu các ngôn ngữ biến hình tuy được phân chia thành nhiều trường phái khác nhau nhưng cũng có chung một đặc điểm Đó là, các nhà nghiên cứu xem đây là đặc điểm của ngôn ngữ văn chương và trong đó ẩn dụ được xem là một sự so sánh ngầm
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và Ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng ẩn dụ không chỉ xảy ra trong phạm vi ngôn ngữ, mà
nó còn là phương thức của tư duy và hành động, là hiện tượng ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích
Trong công trình Metaphors We Live By (Chúng ta sống bằng ẩn dụ), Lakoff
và Johnson (1980, 2003) cho rằng ẩn dụ là phương thức của tư duy và hành động, ngôn ngữ với vai trò phương tiện giao tiếp được coi là bằng chứng để xác lập hệ thống
Trang 11các ý niệm và các phạm trù Điều này có nghĩa là, các yếu tố lịch sử - văn hóa đã được định hình trong ngôn ngữ thông qua các ý niệm và ngược lại
Lakoff và Johnson (1980, 2003) chứng minh được rằng ẩn dụ có trong ngôn ngữ đời thường và nó đã thấm vào mỗi người đến mức chúng ta dùng ẩn dụ nhưng không biết mình đang dùng Với công trình đặc biệt vừa nhắc ở trên, vấn đề ẩn dụ trong Ngôn ngữ học đã bước sang một bước ngoặt mới Ẩn dụ được nhìn nhận không phải đặc trưng riêng của tu từ, không phải là sản phẩm tưởng tượng của các nhà thơ, lại càng không phải là ngôn ngữ của giới quý tộc mà là cách tư duy, hoạt động của trí não, của ý niệm và còn là hành động của con người Ẩn dụ mang bản chất là phương thức tư duy và dựa trên cơ chế ánh xạ và trải nghiệm xuyên miền
Cụ thể là, trong nhận thức, chúng ta hiểu miền ý niệm này thông qua biểu thức
“MIỀN ĐÍCH LÀ MIỀN NGUỒN” (TARGET DOMAIN IS SOURCE DOMAIN) hoặc “MIỀN ĐÍCH XEM NHƯ LÀ MIỀN NGUỒN” (TARGET DOMAIN AS SOURCE DOMAIN)1
Đóng góp của Lakoff và Johnson (1980, 2003) là đã chỉ ra quá trình tư duy của con người gắn liền với ẩn dụ Bản chất của ẩn dụ là cách tư duy dùng một loại sự vật đã được trải nghiệm nhiều để lý giải một loại sự vật ít được trải nghiệm hơn Chẳng hạn như, trong cuộc sống thường ngày, người ta thường tham chiếu những quan niệm đã biết, hữu hình và cụ thể để nhận thức về những quan niệm vô hình, trừu tượng, khó định nghĩa, đồng thời lấy trải nghiệm của thân thể con người làm cơ sở nhận thức về tri thức và tâm thức của nhân loại Đó chính là “triết học trải nghiệm”,
có nghĩa là nghiên cứu vừa dựa trên quan điểm triết học của chủ nghĩa kinh nghiệm, vừa dựa trên quan điểm triết học của chủ nghĩa duy lý
Ẩn dụ ý niệm (ADYN)2 phản ánh phương thức tư duy mang tính nhân loại nên nó có mặt trong mọi ngõ ngách của tư duy, kể cả tư duy logic hoặc tư duy hình tượng Chính vì thế, ẩn dụ vượt ra hẳn phạm vi ngôn ngữ, là đối tượng nghiên cứu
1 Theo thông lệ của giới học thuật thế giới, các biểu thức ẩn dụ đều được in hoa Tuy nhiên, để tiết kiệm, luận án xin phép được in nghiêng Cách thức này gần đây cũng đã được một số tạp chí, một
số công trình nghiên cứu về Ngôn ngữ học tri nhận sử dụng
2 Hiện nay, khá nhiều tài liệu tiếng Việt sử dụng thuật ngữ/tên gọi ẩn dụ tri nhận Theo chúng tôi thuật ngữ này là dùng để phân biệt với ẩn dụ không phải theo quan niệm tri nhận Còn tên gọi chính thức trong rất nhiều tài liệu và cả từ điển tri nhận là ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor)
Trang 12của khoa học liên ngành Ẩn dụ không chỉ xuất hiện trong thơ ca mà còn thể hiện vai trò trong mọi lĩnh vực: đời thường, kinh tế, ngoại giao, chính trị, khoa học, quảng cáo, điện ảnh, hành chính v.v Trong đó, một trong những điều góp phần hình thành nên lý thuyết của Ngôn ngữ học tri nhận nói chung, ADYN (conceptual metaphor) nói riêng, là những trải nghiệm ngay chính cơ thể của con người, thường được gọi là nghiệm thân (embodiment)
Như vậy, ADYN hướng tới khả năng tác động vào lĩnh vực trí tuệ của con người Vì thế, Ngôn ngữ học tri nhận trở thành một bộ phận của khoa học tri nhận,
và nó là một bộ môn khoa học liên ngành, gắn bó mật thiết với các khoa học về Tâm
lí học tri nhận, Trí tuệ nhân tạo, Văn hóa học, Triết học và Nhân học với thuyết “Dĩ nhân vi trung” Chính vì vậy, Ngôn ngữ học tri nhận trở thành bộ môn khoa học nghiên cứu sự nhận thức và ý niệm hóa (conceptualization), phạm trù hóa (categorization) của con người về thế giới xung quanh, bằng cách lấy con người làm bản thể định vị giữa không gian, thời gian, và các nguyên tắc, sự kiện, hành động, tư tưởng, tôn giáo, niềm tin v.v của con người tương tác mật thiết với nhau trong không gian – thời gian ấy
0.1.2 Sự ổn định về chính trị là một trong những yếu tố quan trọng để một quốc gia
phát triển bền vững Việt Nam được biết đến với bầu bạn năm châu như là một đất nước có nền chính trị ổn định trong bối cảnh thế giới tương đối bất ổn hiện nay Điều này cần có sức mạnh tổng hợp từ nhiều nguồn lực, trong đó nguồn lực quyết định là nhân tố con người – các chính khách, nhà lãnh đạo và nhà lập thuyết Họ phải thường xuyên sử dụng công cụ diễn ngôn chính trị (DNCT) để tác động và tuyên truyền nhằm hướng đến một mục đích cụ thể nào đó Chẳng hạn như, có nhiều DNCT hướng đến mục đích ổn định chính trị, nhưng cũng có nhiều DNCT hướng đến tranh đấu, muốn thay đổi chính trị, nhất là các DNCT Mỹ DNCT được trình bày trước công chúng nên cùng lúc có thể tác động đến rất nhiều người, nhiều đối tượng Nếu các chính trị gia sử dụng tốt ưu thế của DNCT thì họ có thể làm chủ được một thứ quyền lực
“mềm”, giúp ích hữu hiệu cho công việc của họ trong kỷ nguyên tri thức hiện nay DNCT là một thể loại diễn ngôn đặc biệt, thể hiện rõ ràng một trong những chức năng quan trọng của ngôn ngữ, đó là chức năng tác động Nhưng trên thực tế, diễn ngôn
Trang 13chính trị tiếng Việt (DNCTTV) chưa được các nhà ngôn ngữ quan tâm nghiên cứu như lẽ ra phải có
Trong số các nghiên cứu về Ngôn ngữ học tri nhận đã có ở Việt Nam, chưa có công trình độc lập nào nghiên cứu về ADYN trong DNCT Việt và Mỹ Do nhiều lý
do khác nhau, thuật ngữ DNCT (political discourse) cho đến nay vẫn còn khá xa lạ với giới học thuật Việt Nam Điều này có thể giải thích được, bởi về mặt phong cách học, một thời, trong các giáo trình, tài liệu, người ta chỉ nói đến phong cách chính luận Nói như Jakobson (1980), DNCT là một phong cách, trong đó, chức năng tác động nổi trội lấn át các chức năng khác Theo các tài liệu về phong cách học ở Việt Nam, phong cách chính luận là một dạng thức của lời nói, đề cập đến nội dung chính trị xã hội Nó thích hợp với các vai chủ ngôn là những chính khách, nhà lãnh đạo và nhà lập thuyết, thông qua những vấn đề mang ý nghĩa xã hội rộng lớn, trình bày chính kiến của mình nhằm tác động tuyên truyền Theo Đinh Trọng Lạc (chủ biên, 2013, tr.114) chính luận bao gồm cả ở cả dạng nói và viết Ở dạng viết có: lời kêu gọi, tuyên ngôn, các báo cáo chính trị, các bài xã luận, bình luận trên báo chí Ở dạng nói có: diễn thuyết, phát biểu trong mít tinh, phát biểu trong đón tiếp ngoại giao, phát biểu báo cáo trong các hội nghị, nói chuyện thời sự, chính sách Nhóm tác giả chia các diễn ngôn chính luận làm hai hệ thống lớn:
Dựa vào nội dung ý nghĩa sự vật – logic: diễn ngôn chính luận có các kiểu như: văn bản nghị luận chính trị, văn bản nghị luận kinh tế, văn bản nghị luận văn hóa, xã hội, khoa học, nghệ thuật, giáo dục, y tế v.v
Dựa vào những đặc điểm về kết cấu và về tu từ: diễn ngôn chính luận có các kiểu như: lời kêu gọi, báo cáo chính trị, xã luận, bình luận; báo cáo, phát biểu trong hội nghị v.v
Theo đó, giữa văn bản chính luận và DNCT có những điểm tương đồng, nhưng không thể coi là đồng nhất Đó là chưa kể có sự khác biệt rất lớn trong phạm vi quyền lực, trong việc định hướng thông tin và sức mạnh của tác động Chẳng hạn như, thể loại xã luận trong tiếng Việt, đó thường là những diễn ngôn mang tính chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, trong khi đó xã luận của phương Tây thường là tiếng nói của một tập đoàn truyền thông Nếu hiểu DNCT thường đề cập đến cách thức quản lý, đề cập
Trang 14đến những vấn đề mang tầm vóc xã hội rộng lớn của một nhà nước, của một tổ chức, của một chính đảng hoặc của các chính khách, thì nội hàm và ngoại diên của DNCT rộng hơn nhiều so với diễn ngôn chính luận
DNCT xét về ý thức hệ, về tác động của quyền lực, có thể khác nhau trên nhiều phương diện nhưng xét về cấu trúc ngôn ngữ, trong đó có cách thức tổ chức ý niệm hóa, phạm trù hóa, kể cả các thao tác lập luận, các cách triển khai nội dung, phản ánh các thao tác tư duy, thì đều có những đặc điểm vừa mang tính phổ quát vừa mang tính đặc thù Đó là chưa kể, dù là DNCT của một chính đảng theo các thể chế của phương Tây hay là của một chính đảng của một nhà nước theo kiểu Việt Nam thì chúng đều
bị chi phối bởi một chức năng hết sức quan trọng chi phối cả nội dung và hình thức của diễn ngôn Đó là chức năng tác động
Do vậy, có thể nói, sự khác nhau về thể chế chính trị, tôn chỉ, mục đích của các đảng phái chính trị không ảnh hưởng nhiều đến tổ chức ngôn từ bởi vì mỗi chính khách đều có cách ý niệm hóa và phạm trù hóa riêng, đặc biệt là sự sáng tạo của phong cách cá nhân trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, cụ thể ở đây là diễn ngôn chính trị Ngoài ra, việc ưu tiên chọn miền nguồn nào, ánh xạ lên miền đích nào trong diễn ngôn chính trị là có lý do kinh nghiệm và tương tác văn hóa
Chính vì thế, chúng tôi tiến hành làm rõ thêm hướng nghiên cứu về ADYN trong DNCT Việt và Mỹ để phục vụ cho việc thực hiện luận án của mình Cụ thể là, dựa vào thành tựu nghiên cứu từ diễn ngôn chính trị tiếng Anh (DNCTTA) mạnh dạn
đề xuất một hướng nghiên cứu có tính chất liên ngành giữa Ngữ dụng học và Phân
tích diễn ngôn và Ngôn ngữ học tri nhận Đó là nghiên cứu về Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt và Mỹ Mục đích nghiên cứu là nhằm khảo sát và đi đến
xác lập các ADYN điển dạng trong DNCTTV và diễn ngôn chính trị tiếng Anh Mỹ (DNCTTAM) trên khối ngữ liệu thu thập được Ngoài ra, chúng tôi cũng tập trung giải thích, phân tích cơ sở hình thành của miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain) trong các ADYN dựa trên góc độ ngôn ngữ và văn hóa Chú trọng việc triển khai, xem xét các thao tác ánh xạ (mapping), dựa vào số liệu thống kê, luận
án cũng tiến hành so sánh đối chiếu các ADYN trong DNCTTV và DNCTTAM để tìm ra các điểm tương đồng và dị biệt
Trang 15Nếu công việc này được triển khai tốt, một mặt giúp cho các chính khách Việt Nam làm quen với một số tiền đề về lập thức, một số hiểu biết cơ sở phục vụ tốt hơn cho công tác tuyên truyền, mặt khác, giúp cho việc đối dịch ẩn dụ ý niệm, giáo dục ngôn ngữ, đào tạo cán bộ hành chính, cán bộ quản lý, cán bộ ngoại giao sớm đạt chất lượng như mong muốn
0.2 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
0.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các ADYN phổ biến được sử dụng trong DNCTTV và DNCTTAM, bao gồm các miền nguồn và miền đích hữu quan Cụ thể là:
Phạm vi nghiên cứu là dựa vào 200 DNCTTV và 200 DNCTTAM Bên cạnh
đó, khi cần thiết, để củng cố cho một số nhận xét, luận án sẽ dẫn thêm một vài nguồn ngữ liệu liên quan đến đề tài
Luận án giới hạn sử dụng ngữ liệu tiếng Việt ở một số chính trị gia tương đối nổi tiếng và giới hạn sử dụng ngữ liệu tiếng Anh trong phạm vi các DNCTTAM
Quan sát cơ bản của luận án là có chú ý đến miền đích, nhưng chủ yếu là ánh
xạ từ miền nguồn và phân loại ADYN theo miền nguồn
Thông qua ngữ liệu sưu tập được trong DNCTTV, luận án sẽ lần lượt khảo sát một số ẩn dụ liên quan đến 7 miền nguồn phổ biến như: HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH, XÂY DỰNG, HÀNH TRÌNH, BỆNH TẬT, THỰC VẬT và CƠ THỂ SỐNG và một số miền nguồn khác Ở mỗi một miền nguồn như vậy, tùy theo chủ đề biểu đạt, luận án sẽ miêu tả, phân tích các ẩn dụ gắn liền với những ngữ cảnh diễn ngôn cụ thể
Trong DNCTTAM, luận án sẽ lần lượt khảo sát một số ẩn dụ liên quan đến 7 miền nguồn phổ biến như: HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI, GIA ĐÌNH, XÂY DỰNG,
Trang 16HÀNH TRÌNH, CHIẾN TRANH, THỜI TIẾT và ĐỘNG VẬT và một số miền nguồn khác Cũng tương tự, ở mỗi một miền nguồn như vậy, tùy theo chủ đề biểu đạt, luận
án sẽ miêu tả, phân tích các ẩn dụ gắn liền với những ngữ cảnh diễn ngôn cụ thể
Từ kết quả khảo sát có được từ DNCTTV và DNCTTAM, luận án lựa chọn những ẩn dụ có tần suất cao, xuất phát từ 03 phạm trù điển dạng để so sánh đối chiếu các ADYN trong DNCTTV và DNCTTAM nhằm tìm ra các đặc điểm tương đồng và
dị biệt
0.2.3 Tư liệu nghiên cứu
Luận án tiến hành khảo sát trên khối ngữ liệu sau đây:
a Tiếng Việt
(i) 150 DNCT của Hồ Chí Minh từ Hồ Chí Minh toàn tập (tập 1 đến tập 12) của Nxb
Chính trị Quốc gia năm 2004
(ii) 50 DNCT của các nhà lãnh đạo Việt Nam ở các cương vị quan trọng khác nhau trong giai đoạn từ 1945 đến nay Nguồn tư liệu này được lấy từ một số tạp chí, báo chí và cổng thông tin điện tử Việt Nam như sau:
Lucas và Martin J Medhurst, 2009, Oxford University Press;
(ii) 58 diễn ngôn nhậm chức của 45 đời Tổng thống Mỹ được lấy từ The Avalon Project, Documents in Law, History and Diplomacy, Lillian Goldman Law Library, Yale Law School; Link: http://avalon.law.yale.edu/subject_menus/inaug.asp; Last retrieved: March 26, 2020;
Trang 17(iii) 42 DNCT của các nhà chính trị Mỹ đầu thế kỷ 21 đăng tải trên website http://www.americanrhetoric.com; Last retrieved: March 26, 2020
Luận án chỉ khảo sát các bài diễn thuyết, bài diễn văn nhậm chức từ khía cạnh của ngôn ngữ học, đồng thời tuân thủ nghiêm túc yêu cầu về chính trị, các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta Tác giả không xem xét và cũng không đưa vào luận án các biểu thức ẩn dụ và ADYN có chứa nội dung chống Đảng Cộng sản, nội dung trái với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
0.3 Mục đích, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu
0.3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nhận diện các ADYN phổ biến trong hai hệ thống DNCT, chú ý thích đáng sự tương tác về mặt văn hóa, luận án sẽ phân tích cấu trúc và chức năng của chúng trong mối quan hệ với miền nguồn và miền đích Thứ đến, từ các đặc điểm đã xác lập, coi ADYN trong DNCTTV là cơ sở tiến hành so sánh đối chiếu với ADYN trong DNCTTAM để tìm ra sự tương đồng và dị biệt, cũng như nêu lên một số gợi ý
về mặt thực tiễn có tính chất ứng dụng
0.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Tổng quan về tình hình nghiên cứu, hệ thống hóa các lý thuyết áp dụng cho việc nghiên cứu về ADYN trong DNCTTV và DNCTTAM
- Xác lập nội hàm, ngoại diên của các khái niệm liên quan đến đề tài như diễn ngôn, DNCT, DNCTTV, DNCTTA, ý niệm hóa, phạm trù hóa, ẩn dụ, ADYN, ẩn dụ ngôn ngữ Đây là những công cụ quan yếu làm cơ sở cho việc nghiên cứu của luận án
- Sưu tập, phân loại và thống kê ADYN trong DNCTTV và DNCTTAM theo chủ đề, theo miền nguồn với tư cách là xuất phát điểm của ánh xạ
- Mô tả, phân tích, giải thích và đánh giá vai trò của ADYN được sử dụng trong các DNCTTV
- Mô tả, phân tích, giải thích và đánh giá vai trò của ADYN được sử dụng trong các DNCTTAM
Trang 18- Vận dụng mối quan hệ giữa miền nguồn/miền đích để xem xét việc ý niệm hóa và phạm trù hóa trong hai ngôn ngữ dựa vào chủ thuyết của Kövecses (2005, tr.67-68) gồm:
(i) Nhiều miền ý niệm nguồn khác nhau được dùng để nhận thức một miền
đích duy nhất;
(ii) Một miền ý niệm nguồn duy nhất được dùng để nhận thức nhiều miền
ý niệm đích khác nhau;
(iii) Một tập hợp các ẩn dụ để tạo ra miền ý niệm đích là giống nhau trong
hai ngôn ngữ, hai nền văn hóa nhưng việc ưu tiên sử dụng loại nào là không giống nhau;
(iv) Một số ẩn dụ độc nhất với cả miền nguồn và miền đích độc nhất chỉ có
trong một ngôn ngữ và nền văn hóa nào đó
Vận dụng thêm cơ sở lý thuyết phân tích các ẩn dụ đồng dạng (congruent metaphor) và ẩn dụ thay thế (alternative metaphor), luận án xem xét các mô hình tri nhận, mô hình ADYN cũng như sẽ chỉ ra những đặc điểm tương đồng và dị biệt trong DNCTTV và DNCTTAM
0.3.3 Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở các nhiệm vụ trên, luận án tập trung làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau:
Một là, hệ thống ADYN xuất phát từ những miền nguồn nào? Tần suất của chúng ra sao trong cả hai hệ thống DNCTTV và DNCTTAM?
Hai là, cấu trúc và chức năng của các biểu thức ẩn dụ được sử dụng như thế nào, tác động của chúng ra sao khi gắn liền với từng ngữ cảnh cụ thể trong DNCTTV
và DNCTTAM?
Ba là, cơ sở nào để giải thích sự hình thành của miền nguồn và miền đích trong các ADYN, mối quan hệ nguồn – đích trong DNCTTV và DNCTTAM được hình thành như thế nào?
Bốn là, điểm tương đồng và dị biệt giữa các DNCTTV và DNCTTAM trong việc sử dụng các ADYN và các biểu thức tương ứng là như thế nào? Những đặc điểm
Trang 19tương đồng và dị biệt đó, nếu có, sẽ được giải thích như thế nào dựa trên mối quan
hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy?
0.4 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
0.4.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp hai xu hướng tiếp cận chính: Nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng cho phép luận án thiết lập sự so sánh trực tiếp giữa hai khối ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh Mỹ Nghiên cứu định tính giúp nghiên cứu sâu hơn và chi tiết hơn các ADYN có mặt trong hai khối ngữ liệu, góp phần xác lập các đặc điểm cơ bản, cũng như làm sáng tỏ các nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ Việt - Anh trên cùng thể loại DNCT
Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong luận án:
- Phương pháp miêu tả:
Phương pháp này áp dụng triệt để trong việc sưu tập, nhận diện cũng như phân loại ngữ liệu
- Phương pháp phân tích diễn ngôn:
Luận án chú ý đến tương tác của ngữ cảnh, vai trò của người sử dụng trong môi trường tri nhận, đặc biệt là vận dụng các thủ pháp phân tích của lý thuyết quan yếu (relevance theory)
- Phương pháp so sánh – đối chiếu:
Luận án tiến hành phân loại các ADYN theo lĩnh vực nguồn, theo tần suất, theo mức độ sử dụng, theo đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa, sau đó các ADYN và các biểu thức ngôn ngữ cụ thể hóa của chúng trong DNCTTV và DNCTTAM sẽ được so sánh và đối chiếu trên các tiêu chí cụ thể
Luận án sẽ tiến hành so sánh đối chiếu song song các ADYN trong DNCTTV
và DNCTTAM để tìm ra những đặc điểm tương đồng và dị biệt
0.4.2 Thủ pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các thủ pháp như thủ pháp nhận diện ẩn dụ theo MIP (Metaphor Identification Procedure) của Pragglejaz Group (2007); kết hợp với MIPVU (Metaphor Identification Procedure Vrije Universiteite) của Steen et al
Trang 20(2010a); thủ pháp qui nạp và diễn dịch dựa vào từ đa nghĩa hệ thống (systemic
polysemy) và các ẩn dụ ngôn ngữ (Lakoff & Johnson, 2003; Trịnh Sâm, 2016)
0.5 Đóng góp của luận án
0.5.1 Về mặt lý luận
Những kết quả tìm được trong luận án góp phần khẳng định ưu thế của ngữ
nghĩa học tri nhận nói chung và lý thuyết ADYN nói riêng trong so sánh đối chiếu
DNCT để tìm ra những phổ quát và đặc thù Cách tiếp cận này còn rất mới ở Việt
Nam, hy vọng góp phần mở rộng hướng nghiên cứu diễn ngôn tuy đã khá phổ biến
trong giới ngôn ngữ học trên thế giới nhưng lại còn mới mẻ ở Việt Nam
Luận án sẽ góp phần thúc đẩy khuynh hướng nghiên cứu lý thuyết về Ngôn
ngữ học tri nhận ở Việt Nam, góp phần chứng minh ADYN không chỉ là hình thái tu
từ của thi ca mà là còn vấn đề của tư duy, là một công cụ quan trọng giúp nhà ngôn
ngữ học nhìn vào trí não của con người và cách con người tương tác với thế giới
Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề như việc ưu tiên chọn miền nguồn
nào, ánh xạ lên miền đích nào là có lý do về kinh nghiệm và tương tác văn hóa
Đặc biệt, luận án vận dụng mối quan hệ giữa miền nguồn và miền đích để xem
xét việc ý niệm hóa, phạm trù hóa trong hai ngôn ngữ dựa vào chủ thuyết của
Kövecses (2005, tr.67-68) với 4 trường hợp có tính chất phổ niệm
0.5.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả thu được từ luận án sẽ mở ra triển vọng giảng dạy DNCT theo cách
tiếp cận mới; đóng góp cho các nhà giảng dạy ngoại ngữ, biên - phiên dịch, đặc biệt
là trong lĩnh vực tiếng Anh chuyên ngành nói chung và tiếng Anh trong DNCT nói
riêng; giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành chính trị học, quản lý nhà nước, ngoại
giao kỹ năng viết DNCT hoặc dịch DNCT từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại
Ngoài ra, kết quả thu được từ luận án cũng góp phần làm sáng tỏ một số đặc
điểm DNCT của hai ngôn ngữ, giúp cho việc soạn thảo, giảng dạy và biên - phiên
dịch DNCT sát với yêu cầu thực tế trong quá trình hội nhập hiện nay
Trang 210.6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu làm 04 chương
- Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận
Trình bày lịch sử nghiên cứu về DNCTTV và DNCTTA Xác lập nội hàm và ngoại diên của các khái niệm liên quan trực tiếp đến đề tài và đề cập một cách khái quát về một số vấn đề lý thuyết quan yếu làm chỗ dựa để nghiên cứu những vấn đề
cụ thể
- Chương 2: Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt
Khảo sát hệ thống ADYN chính trị dựa vào 7 miền nguồn phổ biến và một số miền nguồn khác Nêu lên một số nhận xét về mặt cấu trúc, chức năng và khả năng tác động gắn liền với những ngữ cảnh cụ thể, nội dung cụ thể
- Chương 3: Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị tiếng Anh Mỹ
Khảo sát hệ thống ADYN chính trị dựa vào 7 miền nguồn phổ biến và một số miền nguồn khác Nêu lên một số nhận xét về mặt cấu trúc, chức năng và khả năng tác động gắn liền với những ngữ cảnh cụ thể
- Chương 4: So sánh ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt với diễn ngôn chính trị tiếng Anh Mỹ
Dựa vào 3 miền nguồn có tần suất cao nhất trong hai hệ thống, tiến hành so sánh đối chiếu, chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt, và bước đầu giải thích những nguyên do dẫn đến các đặc điểm đó
Trang 22CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan
1.1.1 Nghiên cứu về ẩn dụ
Các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về ẩn
dụ Aristotle (384-322 TCN), một bậc thầy triết học, là người đầu tiên nhắc đến ẩn
dụ và trình bày nó như một phạm trù nghiên cứu Aristotle đã xem ẩn dụ là hình thức chuyển tên gọi trang trí trong ngôn ngữ nghệ thuật và hùng biện bằng phương thức chuyển tên gọi từ chủng sang loài, từ loài sang chủng, hoặc từ loài sang loài, hoặc chuyển dựa trên nguyên tắc tương suy (analogy) Có thể nói rằng cách hình dung này
là điểm khởi nguồn cho các quan niệm về ẩn dụ từ trước đến nay
Về sau, các nhà nghiên cứu đã cụ thể hóa thêm quan niệm đó của Aristotle, đồng thời, những nghiên cứu mới về ẩn dụ đã xuất hiện, tập trung phát triển theo hai quan điểm chính: Quan điểm thay thế (Substitution view) và Quan điểm so sánh (Simile view) Quan điểm thay thế cho rằng biểu thức ẩn dụ luôn luôn được dùng thay cho biểu thức nghĩa đen nào đó tương đương với nó Quan điểm so sánh xem nghĩa hình ảnh của ẩn dụ là nghĩa đen của sự so sánh tương ứng (simlie) Ý nghĩa của
ẩn dụ được xác định với sự so sánh tương ứng bằng nhau Ví dụ: “X là Y” là ẩn dụ thì ý nghĩa của nó được đưa ra từ câu: “X là như Y.”
Theo định nghĩa của từ điển Merriam – Webster, “Ẩn dụ là đặc trưng của lời nói trong đó một từ hoặc cụm từ biểu thị một đối tượng hoặc ý tưởng nào đó được sử dụng để thay thế cho một đối tượng khác dựa vào sự tương tự hoặc tương suy giữa
chúng.” Ý nghĩa của nó bắt nguồn từ thuật ngữ Hy Lạp “metapherein”, có nghĩa là
chuyển giao, thay thế, thay đổi, biến đổi (Online Etymology Dictionary)
Trang 23Theo Bain (1877), ẩn dụ là so sánh được hàm ẩn bởi chính sự sử dụng từ hoặc biểu ngữ v.v Khi chúng ta xem xét những đặc điểm của ẩn dụ, các mặt ưu và nhược điểm của nó, chúng ta bị hạn chế bởi các khung của từ hoặc cụm từ
Black (1962) cho rằng ẩn dụ là một lối nói dùng một biểu thức miêu tả để chuyển sang một đối tượng nào đó khác với đối tượng mà biểu thức này ứng dụng, nhưng tương tự với nó về một nét gì đó Kết quả của việc đó cho ra các biểu thức ẩn
dụ
Nhiều đại diện tiêu biểu khác như Wittgenstein (1953, 1969), Davidson (1984, 1978) v.v đều có chung quan điểm khi cho rằng ẩn dụ thường được coi là phép chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có điểm tương đồng hay giống nhau
Lakoff & Johnson (1980) nhận xét cách tiếp cận truyền thống về ẩn dụ nêu trên chỉ đơn thuần là gắn ẩn dụ với chức năng chỉnh trang về mặt ngôn ngữ cho lời nói và ẩn dụ chỉ phục vụ như công cụ trang trí Ẩn dụ được cho là chỉ thuộc về ngôn ngữ thơ ca, không liên quan đến tư duy của con người
Việt Nam cũng có lịch sử lâu dài nghiên cứu về ẩn dụ Tiêu biểu là các tác giả như Nguyễn Lân (1966), Nguyễn Văn Tu (1976), Đỗ Hữu Châu (1962, 1981, 2005),
Cù Đình Tú (1983, 2002), Nguyễn Thiện Giáp (1998, 2008, 2016), Đinh Trọng Lạc (1999), Nguyễn Thái Hòa (2005), Vũ Đức Nghiệu (2009), Hữu Đạt (2011) v.v Nhìn chung, các tác giả có chung quan điểm khi cho rằng ẩn dụ là hiện tượng ngôn ngữ lấy tên gọi của sự vật, hiện tượng này để gọi tên cho sự vật, hiện tượng khác dựa trên những tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng đó
Chẳng hạn, Nguyễn Lân (1966, tr.80) định nghĩa “Ẩn dụ cũng là một cách ví nhưng không cần dùng đến những tiếng để so sánh như: tựa, như, nhường, bằng v.v.”
Nguyễn Văn Tu (1976) cho rằng ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng
ta phải so sánh ngầm
Đỗ Hữu Châu (1981, tr.145) quan niệm về ẩn dụ như sau: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật, A vốn là tên gọi của X (tức X là nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X
Trang 24để gọi Y (biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau.”; về sau ông cho rằng hiểu theo quan niệm thông dụng nhất, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau
Tương tự, Nguyễn Thái Hòa (2005) xem ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau
Nguyễn Thiện Giáp (1998, tr.162) xác định “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau.”; về sau, bên cạnh việc thừa nhận những đặc điểm ngôn ngữ của ẩn dụ như một số tác giả khác, Nguyễn Thiện Giáp (2016, tr.49) còn cho rằng ẩn dụ là hiện tượng sử dụng có tính chất văn chương một hình thức ngôn ngữ và tác giả có đề cập đến loại ẩn dụ bổ sung liên quan đến sự chuyển đổi cảm giác
Đinh Trọng Lạc (1999, tr.52) định nghĩa “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang
ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hay tưởng tượng ra), giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B tên gọi được chuyển sang dùng cho A.”
Hữu Đạt (2011, tr.302) khẳng định “Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng ra Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng
để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Ẩn dụ thực chất là việc dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc.”
Như vậy, thành tựu nghiên cứu về ẩn dụ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học truyền thống như đã trình bày bên trên không phải là ít Tuy nhiên, như đã nói, tất cả hầu như chỉ nhìn nhận ẩn dụ là đặc trưng của Ngôn ngữ học văn chương, là một biện pháp tu từ, là một phương thức phát triển nghĩa và đồng thời ẩn dụ phục vụ như một công cụ trang trí và chỉnh trang về mặt ngôn ngữ
1.1.2 Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm
Những nghiên cứu về ADYN xuất hiện cùng với sự hình thành của Ngôn ngữ học tri nhận vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX Công trình
Trang 25Metaphors We Live By của Lakoff và Johnson (1980) đã đưa vấn đề ẩn dụ trong Ngôn
ngữ học sang một bước ngoặt mới
Cụ thể, Lakoff và Johnson (1980, 2003, tr.8) quan niệm: “Ẩn dụ xuyên suốt đời sống của chúng ta và không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ mà còn cả tư duy và hành động Hệ thống ý niệm thường nhật của chúng ta, mà thông qua đó chúng ta tư duy
và hành động, về thực chất mang tính ẩn dụ Bản chất của ẩn dụ là ở tư duy và cảm xúc về các hiện tượng thuộc loại này ẩn trong thuật ngữ của các hiện tượng khác.”
Cũng theo Lakoff và Johnson (1980, 2003), ẩn dụ là công cụ thể hiện sự quan sát một kinh nghiệm nào đó thông qua một kinh nghiệm khác Ẩn dụ phản ánh một
số tri nhận nhất định về thế giới xung quanh hoặc kinh nghiệm của con người về thế
giới đó Chẳng hạn, các khái niệm mang tính chất trừu tượng như tranh luận, chính trị, cuộc sống thường được diễn đạt thông qua các hiện tượng cụ thể như chiến tranh, tòa nhà, hành trình Qua đó, giúp xác định được các ánh xạ cho tranh luận, chính trị, cuộc sống
Ngoài ra, Lakoff và Johnson (1980, 2003) cho rằng ADYN là sự chuyển nghĩa hoặc là một quá trình ánh xạ cấu trúc và quan hệ nội tại của một miền nguồn sang một miền đích, mà theo đó miền nguồn góp phần cấu trúc nên miền đích, và miền đích được định dạng thông qua miền nguồn Quá trình ánh xạ này có thể được biểu đạt thông qua biểu thức: “MIỀN ĐÍCH LÀ MIỀN NGUỒN” (TARGET DOMAIN
IS SOURCE DOMAIN) hoặc “MIỀN ĐÍCH XEM NHƯ LÀ MIỀN NGUỒN”
(TARGET DOMAIN AS SOURCE DOMAIN) Chẳng hạn, trong ADYN politics is
a journey (chính trị là một cuộc hành trình) thì miền đích POLITICS (CHÍNH TRỊ)
– một khái niệm trừu tượng được hiểu thông qua miền nguồn A JOURNEY (MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH) – một khái niệm cụ thể
Dựa vào lý thuyết của khoa học tri nhận, Lý Toàn Thắng (2005, tr.25) khẳng định “ADYN là một sự chuyển di (transfer) hay một sự ánh xạ (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay một mô hình tri nhận nguồn sang một lĩnh
vực hay một mô hình tri nhận đích.”
Như vậy, ADYN về bản chất là một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận, một cơ chế tri nhận với mục đích tạo ra những ý niệm mới hoặc
Trang 26làm sáng rõ hơn những ý niệm mới trên nền văn hóa và tri thức kinh nghiệm của người bản ngữ Trên cơ sở nhận thức, cho là, thậm chí gán cho những đặc điểm giống nhau của đối tượng, ADYN được xem như việc thông hiểu đối tượng này thông qua một đối tượng khác
Ánh xạ (mapping), một hệ thống của các tương ứng giữa các yếu tố hợp thành miền nguồn và miền đích, đóng vai trò là thao tác phóng chiếu những đặc trưng của miền nguồn sang miền đích trên cơ sở những quan hệ tương đồng trong nhận thức (những quan hệ này được xác lập dựa trên cơ sở kinh nghiệm và tri giác của người bản ngữ), nhằm làm rõ hơn ý niệm của miền đích Thông qua ánh xạ, chúng ta hiểu chính xác được ý niệm ở miền đích được hiểu như ý niệm ở miền nguồn Ánh xạ là cái cấu thành nên một ADYN Chính vì thế, muốn hiểu được một ADYN, chúng ta phải hiểu được sự đồ chiếu của một cặp miền Nguồn – Đích Ngoài ra, ADYN là một phạm trù về ý thức ADYN được hiện thực hóa bằng các biểu thức ẩn dụ (metaphorical expressions) ADYN là ý niệm khái quát, còn biểu thức ẩn dụ là câu chữ cụ thể thực sự thể hiện các ý niệm
Thực ra, từ nền móng ban đầu của Lakoff và Johnson (1980), bản thể tri nhận nói chung, vấn đề ADYN nói riêng, tuy không thật đậm nét nhưng bước đầu đã được một số tác giả mở rộng ra nhiều phạm vi khác nhau Có thể kể đến Geeraerts (1988, 2003), Taylor & Maclaury (1995), Olaf (1999a, 1999b) và Nerlich & Clarke (2001a, b) Các nhà nghiên cứu bên trên đã nhận thấy mối quan hệ mật thiết giữa ADYN và văn hóa, trong sự ràng buộc giữa con người - ngôn ngữ - xã hội, coi ADYN là cánh cửa tìm hiểu tâm lý, tư duy của con người cũng như các đặc trưng xã hội riêng biệt của dân tộc
Theo quan điểm của nhiều nhà Ngôn ngữ học tri nhận, ADYN chủ yếu liên quan đến tư duy hơn là đến ngôn ngữ, với vai trò là công cụ quan trọng để con người
ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng
Cụ thể, Charteris-Black (2004) cho rằng ADYN được sử dụng rất phổ biến trong ngôn ngữ văn chương, báo chí, triết học, luật học, và đặc biệt trong ngôn ngữ chính trị bởi vì nó có khả năng biểu cảm, có thể cụ thể hóa những ý niệm trừu tượng
Trang 27với tính liên hội cao, và có sức thuyết phục to lớn đối với lý trí cũng như tình cảm của người nghe
Bên cạnh đó, các nhà ngôn ngữ học tiêu biểu khác như Rosch (1973, 1978), Lakoff & Johnson, (1980, 2003), Gibbs (1993, 1994), Goatly (1997, 2007), Kövecses (2005, 2010) v.v đã có nhiều công trình đóng góp hình thành nên lý thuyết ADYN,
và họ có cùng quan điểm khi xem ADYN là kết quả của sự kết hợp ngôn ngữ - văn hóa trong quá trình tư duy của một cộng đồng văn hóa cụ thể Chẳng hạn, Lakoff và Johnson (1980, 2003) nhìn nhận và nghiên cứu ẩn dụ thông qua các lĩnh vực kinh nghiệm và cho rằng ẩn dụ là hiện tượng tri nhận hơn là một hiện tượng ngôn ngữ Nói
cụ thể hơn, ẩn dụ là công cụ ý niệm hóa một miền trải nghiệm này sang một miền khác Chính vì thế, đối với bất kỳ ẩn dụ nào, chúng ta cũng có thể xác định được miền nguồn và miền đích
Từ một góc độ khác, Nguyễn Văn Trào (2009) cho rằng ADYN của một ngôn ngữ là sự chắt lọc các giá trị văn hóa dân tộc của ngôn ngữ đó, đồng thời là công cụ nhận thức và hành động của các thành viên sống trong một cộng đồng văn hóa, phản ánh quan điểm của họ đối với thế giới khách quan nói chung và đời sống xã hội của cộng đồng văn hóa đó nói riêng
Có thể nói, các biểu thức ẩn dụ mà chúng ta bắt gặp trong ngôn ngữ chính là cái phản ánh các ẩn dụ tồn tại ở tầng bậc ý niệm Ẩn dụ ở đây không còn bị giới hạn
ở phép dùng từ, hình ảnh để so sánh mà xa hơn thế, ẩn dụ phản ánh phương thức tư duy của con người thông qua hệ thống các ý niệm
Ở Việt Nam, Ngôn ngữ học tri nhận được giới thiệu đầu tiên trong công trình
nghiên cứu Ngôn ngữ học tri nhận nhìn từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt của Lý Toàn Thắng (2005) Tác giả nêu một số khái niệm cơ sở như tri nhận, ý niệm, hình - nền v.v và đi sâu trình bày đặc điểm tri nhận không gian của người Việt
Một cách khái quát, Ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam đã dần được định vị bởi nhiều tác giả như Lý Toàn Thắng (2005), Trần Văn Cơ (2007), Trịnh Sâm (2011-2019), Đặng Thị Hảo Tâm (2012) v.v
Các luận văn, luận án tiến sĩ nghiên cứu về ADYN gồm: Ẩn dụ trong ca từ Trịnh Công Sơn dưới góc nhìn Ngôn ngữ học tri nhận của Trần Thị Mỹ Liên (2011);
Trang 28Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lý thuyết Ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh – Việt của Hà Thanh Hải (2011); Ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) của Trần Thị Phương Lý (2012); Ẩn dụ
ý niệm miền “Đồ ăn” trong tiếng Việt của Nguyễn Thị Bích Hợp (2015); Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với thành ngữ tiếng Anh) của Trần Thế Phi (2016); Ẩn dụ ý niệm của phạm trù ăn uống trong tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt) của Nguyễn Thị Hương (2017); Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch của Lưu Quang Vũ của Trần Thị Lan Anh (2017); Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị (trên tư liệu tiếng Anh và tiếng Việt) của Nguyễn Tiến Dũng (2019) v.v
Ngoài ra, còn có một số bài viết nghiên cứu về ADYN gồm: Ẩn dụ ý niệm nhìn
từ quan điểm tri nhận (Trên cứ liệu diễn ngôn kinh tế tiếng Việt) của Hà Thanh Hải (2008); Ẩn dụ ý niệm “vàng” trong tiếng Việt nhìn từ góc độ miền nguồn của Đặng Thị Hảo Tâm (2012); Ẩn dụ ý niệm cuộc đời trong thơ tiếng Anh và tiếng Việt của Nguyễn Thị Quyết (2012); Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt của Trịnh Sâm (2011a); Dòng sông và cuộc đời (Tri nhận của người Việt về sông nước) của Trịnh Sâm (2011b); Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Nam Bộ của Trịnh Sâm (2013b); Về ý niệm ngon/dở trong tiếng Việt của Trịnh Sâm (2015b); Phổ quát và đặc thù thông qua một số miền ý niệm nguồn của Trịnh Sâm (2016c); Ẩn
dụ ý niệm và những vấn đề còn lại của Trịnh Sâm (2016d); Mô hình tri nhận và sự tương tác văn hóa của Trịnh Sâm (2016e); Lí thuyết nghiệm thân nhìn từ thực tiễn tiếng Việt của Trịnh Sâm (2019) v.v
Nhìn chung, ngoài thành tựu nghiên cứu về ADYN của phương Tây, giới Việt ngữ học đã vận dụng lý thuyết tri nhận chủ yếu là dựa vào thành tựu nghiên cứu trên tiếng Anh, tiếng Pháp để mô phỏng và nghiên cứu tiếng Việt với một số ADYN phổ
quát như: tình yêu là một cuộc hành trình, lập luận là một tòa nhà, tranh luận là chiến tranh, lý trí là một cỗ máy v.v Phải thừa nhận rằng đặc điểm về ADYN của riêng
tiếng Việt chưa được khám phá nhiều, đó là chưa kể một số ADYN có tính chất pha
trộn (blending) kiểu như: tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng, người bác sĩ ấy là một tên đồ tể, nước là tài sản của người nghèo v.v chưa được giới thiệu và nghiên
cứu nhiều
Trang 291.1.3 Nghiên cứu về diễn ngôn chính trị
Cùng với sự phát triển của trào lưu Ngữ dụng học và Phân tích diễn ngôn (PTDN), có thể nói, hiện nay tiếp cận DNCTTA có rất nhiều trường phái Những đánh giá ở sau chỉ mang tính khái quát Theo quan niệm của triết học Mácxít, toàn bộ
a Diễn ngôn - phân tích hậu hiện đại;
b Diễn ngôn phân tích phê phán;
c Tâm lý học diễn ngôn;
d Diễn ngôn hình ảnh;
e Diễn ngôn hỗn hợp
Tương ứng với cách hình dung này, người ta đã đề xuất một hệ thủ pháp nghiên cứu rất đa dạng Có thể kể:
a Phân tích diễn ngôn dưới cái nhìn dụng học;
b Phân tích diễn ngôn dưới cái nhìn biến đổi ngôn ngữ;
c Phân tích diễn ngôn dưới cái nhìn ngôn ngữ - xã hội học tương tác;
d Phân tích diễn ngôn dưới cái nhìn dân tộc học giao tiếp;
e Phân tích diễn ngôn dưới cái nhìn tâm lý học xã hội;
f Phân tích diễn ngôn dưới cái nhìn phê phán;
g Phân tích diễn ngôn dưới cái nhìn giao tiếp liên văn hóa;
h Phân tích diễn ngôn dưới cái nhìn của Ngôn ngữ học tri nhận;
Trang 30i Phân tích diễn ngôn dưới cái nhìn của ngữ vực (Xem Nguyễn Hòa, 2006; Trịnh Sâm, 2014c)
Theo hướng thứ ba, chủ yếu là dựa vào mặt cấu trúc và chức năng của diễn ngôn, tùy theo mục đích tiếp cận mà việc nhận diện và miêu tả là không như nhau Trong đó liên quan đến DNCT có thể bao gồm một số tiểu hệ thống như sau:
a Hệ diễn ngôn chính trị tư tưởng;
b Hệ diễn ngôn thể chế chính trị;
c Hệ diễn ngôn hành động chính trị
Có thể nói, DNCT là công cụ để cho nhà nước, chính khách hay tổ chức chính trị theo đuổi và thực hành quyền lực Vì vậy, DNCT là diễn ngôn quyền lực, nó luôn luôn gắn liền với khái niệm quyền lực Mặt khác, chúng cũng là một loại diễn ngôn hành động, là mối quan hệ giữa diễn ngôn và hành động Nói rõ hơn, từ bản chất, DNCT là một hành động, ở đây hành động tác động đến khách thể, tác động đến người khác làm cho người ta thấy rõ vấn đề, hiểu rõ vấn đề, suy nghĩ về nó, tin tưởng
và hành động theo nó Muốn được như vậy, chính khách phải tìm kiếm và lựa chọn những chiến lược giao tiếp cho phù hợp để thu hút, thuyết phục người nghe, người đọc ở mức độ cao nhất Đây có thể coi là một hướng nghiên cứu có nhiều triển vọng
Mặt khác, các nhà phân tích DNCT Hoa Kỳ lại xuất phát từ chức năng của diễn ngôn, phân chúng thành ba loại:
a Diễn ngôn hứa hẹn: đặc điểm của chúng vừa có tính chất lý tưởng vừa mang tính thực tế (ứng dụng), do vậy thường chúng đề cập đến một số giá trị về đạo đức,
xã hội, về một số chuẩn tắc xã hội Bên cạnh đó, diễn ngôn phải chỉ ra cho được những phương tiện ngôn ngữ nào để đạt được các mục đích ấy Ba thủ pháp ngôn từ gắn liền với diễn ngôn hứa hẹn là: thuyết phục bằng lời lẽ, thuyết phục bằng cách khơi gợi những cảm xúc từ phía quần chúng, thuyết phục bằng cách tự xác định vị trí của chính khách thuộc về quần chúng
b Diễn ngôn quyết định: diễn ngôn này thường gắn liền với các cảnh huống sau:
Trang 31- Có sự bất bình, sự phản ứng về những chuẩn tắc xã hội từ phía quần chúng
Họ bị xúc phạm, những xúc phạm này theo họ là không thể chấp nhận được và đặc biệt là vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật
- Tình trạng tiêu cực buộc phải có những sự thay đổi dứt khoát
- Nêu một cách cụ thể về những phương thức để cải thiện thực trạng ấy
c Diễn ngôn biện bạch: đây là diễn ngôn thường gắn liền với hành động bào chữa, thanh minh, có tính chất giải thích, thường gắn liền với một đường lối, chính sách, chủ trương mà bước đầu chưa được quần chúng thừa nhận
Ngoài ra, ở phương Tây, còn có một loại diễn ngôn thường được gọi là “diễn ngôn kịch” Nói rõ hơn, có những vấn đề tế nhị mà các chính khách buộc lòng phải bộc lộ chính kiến dẫu họ không muốn, trong trường hợp này họ thường sử dụng các phát ngôn mập mờ, các phát ngôn dựa vào lẽ thường (topos), dựa vào tập thể hoặc có khi là bộc lộ bằng thái độ bỏ lửng, thái độ im lặng, đôi khi bày tỏ cảm xúc bằng ngôn ngữ cơ thể Nhưng rõ nhất là sử dụng các hình thức ngôn ngữ có tính chất mềm hóa (softness) hoặc là che chắn (hedge)
Hiển nhiên, các cách phân loại và nghiên cứu trên đây rõ ràng là phù hợp với văn hóa và nền chính trị phương Tây Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về DNCTTV vẫn chưa thật sự được chú trọng, ngoài một số ít công trình đề cập sơ bộ về vần đề này Tuy nhiên, ở Việt Nam các cách tiếp cận này, các thủ pháp này không phải là vô ích, nếu chúng ta biết chắt lọc, kế thừa những mặt mạnh của những trường phái vừa đề cập bên trên để tiến hành nghiên cứu về DNCTTV
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về diễn ngôn chính trị và ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị trên thế giới
Trong quá trình tìm kiếm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy ở nước ngoài các công trình nghiên cứu về diễn ngôn (discourse) phong phú hơn rất nhiều so với DNCT (political discourse) Nghiên cứu DNCT thường dựa vào Lý thuyết Phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysis theory) Nói đến Phân tích diễn ngôn phê phán (PTDNPP), có các nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Kress & Hodge (1979), Foucault (1979), Fowler (1979), van Dijk (1985, 1997), Wodak (1989,
2012, 2015), Chouliaraki & Fairclough (1999) v.v Trong đó, van Dijk (1985, 1997)
Trang 32có nhiều công trình nghiên cứu về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn chính trị (PTDNCT)
Các công trình nghiên cứu trên thế giới về ADYN trong DNCT đi từ các vấn
đề khái quát, căn bản nhất về ẩn dụ trong giao tiếp chính trị giai đoạn tiền tri nhận đến những vấn đề cụ thể trong giai đoạn tri nhận như nghiên cứu, phân tích và so sánh cách sử dụng ẩn dụ của một chính đảng hay của một chính trị gia Điển hình là các tác giả như: Foucault (1979), Lakoff & Johnson (1980, 2003), Chilton (1985,
2004, 2017), Wilson (1990), Fairclough (1995), van Dijk (1997), Kövecses (1999, 2010), Wodak (2012, 2015), Martin (2013), Gibbs (2015) v.v
1.1.4.1 Trước hết là các công trình nghiên cứu về DNCT và PTDNCT đã được xuất
bản thành sách Cụ thể như sau:
a Công trình nghiên cứu với tiêu đề: “What is political discourse analysis?” (Tạm
dịch: Phân tích diễn ngôn chính trị là gì?) đăng trên website http://discourses.org của
van Dijk Teun Adrianus van Dijk là một nhà nghiên cứu về lĩnh vực Ngôn ngữ học văn bản, PTDN và PTDNPP (Critical Discourse Analysis - CDA) Ông là giáo sư nghiên cứu về diễn ngôn tại Đại học Amsterdam, Hà Lan từ năm 1968 đến năm 2004; ngoài ra, ông tham gia giảng dạy tại Đại học Pompeu Fabra, Barcelona và ở Châu Mỹ Latinh Từ những năm 1980, công trình nghiên cứu của ông ở lĩnh vực PTDNPP (CDA) chủ yếu tập trung vào tin tức trên báo chí, DNCT, lý thuyết hệ tư tưởng, bối cảnh và kiến thức
Van Dijk (1997) đã trả lời được câu hỏi nêu trong tiêu đề bài viết qua năm nội dung chính như: (i) định nghĩa diễn ngôn chính trị (defining political discourse), (ii) lĩnh vực chính trị (the domain of politics), (iii) diễn ngôn chính trị như là hành động chính trị (political discourse as political action), (iv) cấu trúc diễn ngôn (discourse structures), (v) phân tích diễn ngôn (discourse analysis) và phân tích diễn ngôn chính trị (political discourse analysis) Đặc biệt, van Dijk (1997) đã xây dựng định nghĩa DNCT theo cách đơn giản và dễ hiểu Cụ thể, tác giả cho rằng DNCT là hành động chính trị và là một phần của quá trình chính trị Dù là văn bản viết hay là văn bản nói, DNCT cũng đều là một dạng thức thể hiện hành động chính trị xã hội
Trang 33Van Dijk (1997) cũng đã tiến hành phân tích khá chi tiết về DNCT, tập trung chủ yếu vào một số vấn đề cốt lõi của diễn ngôn như: chủ đề (topics), siêu cấu trúc (superstructures), nghĩa nội tại (local semantics), từ vựng (lexicon), cú pháp (syntax), biện pháp tu từ (rhetoric), cấu trúc diễn đạt (expression structures), hành động ngôn
từ (speech art) và sự tương tác (interaction)
Ông khẳng định rằng việc sử dụng ẩn dụ trong DNCT là có và sự hiện diện của chúng thường có chức năng thuyết phục và do đó có ý nghĩa chính trị trong bối cảnh giao tiếp và môi trường chính trị
b Bên cạnh van Dijk, Norman Fairclough, giáo sư ngôn ngữ học tại Khoa Ngôn ngữ
học và Ngôn ngữ Anh của Đại học Lancaster, Vương quốc Anh, cũng là tác giả nghiên cứu về PTDN và PTDNPP Ông là một trong những người sáng lập lý thuyết PTDNPP khi áp dụng nó vào Ngôn ngữ học xã hội PTDNPP nghiên cứu sức mạnh quyền lực được thể hiện thông qua ngôn ngữ, cụ thể là văn bản, bài nói chuyện, phim ảnh và giao tiếp thực tế
Isabela Fairclough và Norman Fairclough (2012) đã xuất bản cuốn sách với
nhan đề “Political discourse analysis – A method for advanced students” (Tạm dịch: Phân tích diễn ngôn chính trị - Một phương pháp định hướng cho sinh viên nghiên cứu chuyên sâu) Nhóm tác giả đưa ra hướng tiếp cận rộng hơn và sáng tạo hơn về
nghiên cứu DNCT Cụ thể, họ đã tích hợp phân tích các thảo luận vào PTDNCT và PTDNPP Cuốn sách được viết trên quan điểm chính trị học, trong đó khẳng định, quyết định và hành động là những khái niệm rất quan trọng Thông qua việc phân tích các sự kiện có tính thời sự ở Châu Âu, mà tâm điểm là cuộc khủng hoảng kinh tế và các phản ứng về chính trị đối với nó, Isabela Fairclough and Norman Fairclough (2012) đã xây dựng được một khung phân tích có tính hệ thống và chặt chẽ nhằm giúp người học có thể tiếp nhận và sử dụng nó trong nghiên cứu về DNCT của mình một cách dễ dàng
c Paul Chilton, giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học East Anglia và Lancaster, Vương
quốc Anh, cũng nghiên cứu về PTDNCT trong cuốn sách đã được xuất bản vào năm
2004 với nhan đề “Analysing political discourse: Theory and Practice” (Tạm dịch: Phân tích diễn ngôn chính trị: Lý thuyết và Thực tiễn) Tác giả phân tích chuyên sâu
Trang 34mối quan hệ giữa ngôn ngữ và chính trị, chức năng ngôn ngữ và hành động chính trị Chilton (2004) cũng giới thiệu các Lý thuyết khung ngôn ngữ để áp dụng vào PTDNCT Ngoài ra, tác giả còn tiến hành phân tích thực tế các DNCT trong bối cảnh giao tiếp ở nước Anh và quốc tế nhằm tiến tới xác lập một mô hình về PTDNCT
Điều đáng chú ý là, Chilton (2004) cũng đã tiến hành phân tích chi tiết sự khác nhau của ngôn ngữ (language) và chính trị (politics) trong công trình nghiên cứu nêu trên Tác giả cho rằng DNCT có sử dụng ẩn dụ lý luận Cụ thể là, các ánh xạ ADYN xuyên miền giúp chúng ta có thể rút ra các suy luận, cái mà không thể rút ra được dựa trên những bằng chứng trực tiếp hoặc kinh nghiệm trực tiếp Trong DNCT, ẩn dụ, nhất là ADYN không chỉ tô điểm cho các mệnh đề theo nghĩa đen, mà còn là phương thức lý luận của chính khách về chính sách và tương lai của đất nước
1.1.4.2 Bên cạnh các công trình nghiên cứu nổi tiếng như trên, còn có một số bài viết
đăng trên tạp chí chuyên ngành của một số nhà nghiên cứu khác, góp phần làm rõ thêm hướng nghiên cứu DNCT dựa trên nền tảng ngữ pháp chức năng hệ thống (NPCNHT) của Halliday
a Junling Wang, một nhà nghiên cứu thuộc Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Tây
Bắc, Lan Châu, Trung Quốc, đã có bài báo đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Giảng
dạy ngôn ngữ của Phần Lan vào năm 2010 với tiêu đề “A critical discourse analysis
of Barack Obama’s speeches” (Tạm dịch: Phân tích diễn ngôn phê phán các bài phát biểu của Barack Obama) Tác giả đã sử dụng lý thuyết NPCNHT của Halliday – nền
tảng của CDA để phân tích 02 bài diễn văn của Tổng thống Hoa kỳ Barack Obama (Diễn văn chiến thắng tranh cử tổng thống Mỹ ngày 04 tháng 11 năm 2008 và diễn văn nhậm chức tổng thống Mỹ ngày 20 tháng 01 năm 2009) Nghiên cứu các DNCT trên ba bình diện như chuyển tác (transitivity studies), tình thái (modality studies) và
tổ chức văn bản (textual studies), Wang (2010) khẳng định rằng Obama sử dụng từ ngữ đơn giản, ngắn gọn, mang tính thông tục nên giúp thu hẹp được khoảng cách giữa người nói và người nghe Bằng việc sử dụng các động từ tình thái, thức, thì và đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít và số nhiều, Obama giúp người dân Mỹ dễ hiểu
và đồng thời chấp nhận các DNCT của mình một cách dễ dàng Điều này giúp Obama đến gần hơn với người dân Mỹ và thuyết phục họ chấp nhận và ủng hộ các chính sách
Trang 35của ông Tác giả cho rằng, bằng cách này, CDA có thể giúp khám phá mối quan hệ giữa ngôn ngữ, hệ tư tưởng và quyền lực Đồng thời, nó cung cấp một ý tưởng mới
và phương pháp mới để phân tích các DNCT
b Tương tự, Wen Chen, thuộc Trường Đại học Sơn Tây, Trung Quốc, cũng tiến hành
phân tích diễn văn nhậm chức của Donald Trump từ góc độ NPCNHT của Halliday
trong bài báo với tiêu đề “A Critical Discourse Analysis of Donald Trump’s Inaugural Speech from the Perspective of Systemic Functional Grammar” (Tạm dịch: Phân tích diễn ngôn phê phán diễn văn nhậm chức của Donald Trump dựa vào ngữ pháp chức năng hệ thống) vào năm 2018 Tác giả phân tích diễn văn nhậm chức của Donald
Trump chủ yếu trên các bình diện như chuyển tác (transitivity), tình thái (modality), đại từ nhân xưng (personal pronoun) và sự mạch lạc (coherence) bởi vì chúng thể hiện ý định chính trị của diễn giả, giúp người đọc, người nghe hiểu được ý nghĩa của diễn ngôn, đồng thời giúp trau dồi ý thức phê phán và khả năng phân tích của họ Chen (2018) kết luận, Trump chọn các quá trình vật chất và quá trình quan hệ để thể hiện quyết tâm rằng ông có thể thay đổi tình hình hiện tại của nước Mỹ Để thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với người nghe, Trump sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
và động từ tình thái bậc cao Ngoài ra, Trump sử dụng những từ đơn giản, câu ngắn gọn và thể khẳng định nhằm làm cho chúng trở nên dễ hiểu đối với người nghe Qua
đó, rất thuận lợi để đạt được các mục tiêu chính trị của mình
1.1.4.3 Ngoài ra, còn có nhiều công trình khác nghiên cứu về ADYN trong DNCT
dựa vào lý thuyết ADYN (Conceptual Metaphor Theory – CMT) của Lakoff và Johnson (1980, 2003) Các bài viết này tập trung phân tích DNCT của các Tổng thống
Mỹ và các chính trị gia phương Tây
a Điển hình là công trình nghiên cứu “Metaphors in Politics, A study of the
metaphorical personification of America in political discourse” (Tạm dịch: Ẩn dụ trong chính trị, một nghiên cứu về ẩn dụ nhân hóa nước Mỹ trong diễn ngôn chính trị) của Vestermark (2007) thuộc Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa, Trường Đại học Công
nghệ Luleå, Thụy Điển Cụ thể, tác giả tiến hành khảo sát việc sử dụng ADYN trong các bài phát biểu nhậm chức của 04 tổng thống Mỹ bao gồm Ronald Reagan (20/01/1981), George H W Bush (20/01/1989), Bill Clinton (21/01/1993) và George
Trang 36W Bush (20/01/2001), tập trung làm rõ các vấn đề như ADYN được sử dụng trong các bài diễn văn nhậm chức như thế nào; nó được người nghe hiểu như thế nào; và tác động của nó đến người nghe ra sao
Tác giả kết luận rằng ADYN sử dụng trong các DNCT, đặc biệt là trong các diễn văn nhậm chức tổng thống Mỹ là hoàn toàn có chủ đích và đa dạng, đặc biệt là
các ADYN nhân hóa như The world as a community (Thế giới là một cộng đồng), Nation as person (Quốc gia là một con người), Nation with human attributes (Đặc điểm của Quốc gia là đặc điểm của con người) và Nation acting human (Hành động của quốc gia là hành động của con người) Có thể nói, bốn tổng thống Mỹ nói trên
thường xuyên sử dụng ADYN để nhân hóa quốc gia nhằm mục đích đoàn kết người dân Mỹ thành một khối thống nhất, đồng thời giúp họ nhận thức được niềm tin và mục tiêu của nước Mỹ
Cần thấy, Lakoff và Johnson (1980) chỉ đề cập sơ lược đến nhân hóa Ở đây, tác giả sử dụng thuật ngữ ẩn dụ nhân hóa (metaphorical personification) theo cách hiểu riêng của mình Qua các ví dụ mà tác giả đã chọn để phân tích, chúng ta dễ thấy đây là loại ẩn dụ bản thể mở rộng Tuy vậy, cách định dạng này có thể gợi thêm nhiều hướng phân tích trong DNCT, luận án sẽ vận dụng đặc điểm này
b Kế đến là công trình nghiên cứu “A Study on Conceptual Metaphors in Presidential
Inaugural Speeches” (Tạm dịch: Nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong các bài phát biểu nhậm chức tổng thống) của Xu Hu thuộc Khoa Sư phạm, Trường Đại học
Kristianstad, Thụy Điển, vào năm 2010 Bài viết áp dụng lý thuyết ADYN của Lakoff
và Johnson (1998, 2003) để phân tích DNCT nhằm mô tả, phân loại và giải thích các ADYN trong DNCT Thông qua việc nghiên cứu sáu bài phát biểu nhậm chức của các đời tổng thống Mỹ tại nhiều thời điểm khác nhau, bài viết tập trung vào các ADYN xuất phát từ miền nguồn JOURNEY (HÀNH TRÌNH), HUMAN (CON NGƯỜI) và WAR (CHIẾN TRANH) Theo tác giả, các loại ẩn dụ này thường được nhận biết và sử dụng thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày của người dân Mỹ Ngoài ra, các tổng thống Mỹ sử dụng ADYN điển dạng mà hầu hết người dân Mỹ đều quen thuộc nhằm thuyết phục họ tin tưởng và ủng hộ các đường lối và chính sách của nước Mỹ
Trang 37Có thể nói, bài phát biểu nhậm chức tổng thống là một loại DNCT quan trọng
vì nó là sự khởi đầu, có các chương trình hành động với nhiều triển vọng Tổng thống mới sẽ tận dụng bài phát biểu để công khai các nguyên tắc chính trị cơ bản cũng như các chính sách chính trị của mình Nó đóng một vai trò quan trọng trong đời sống chính trị của tổng thống Để cho công chúng thấy rõ các quan điểm chính trị và lập trường của chính phủ mới, ẩn dụ thường được các chính khách áp dụng trong các bài phát biểu của họ nhằm làm cho chúng trở nên thuyết phục hơn
Bên cạnh đó, cũng có thể thấy rằng các lĩnh vực nguồn như JOURNEY (HÀNH TRÌNH), HUMAN (CON NGƯỜI) và WAR (CHIẾN TRANH), giúp hình thành nên những ADYN có liên quan mật thiết đến cuộc sống và kinh nghiệm hàng ngày của con người Chính điều này làm cho các DNCT vốn trừu tượng trở nên dễ hiểu đối với công chúng, do đó, chúng có vai trò thuyết phục rất quan trọng thông qua việc khơi dậy những phản ứng tích cực từ phía người nghe Ngoài ra, theo tác giả, các ADYN trong DNCT phản ánh ba chức năng chính Đó là đơn giản hóa (simplification), thuyết phục (persuasion) và tạo động lực (motivation)
c Bài viết “Conceptual Metaphor in American Presidential Inaugural Addresses”
(Tạm dịch: Ẩn dụ ý niệm trong diễn văn nhậm chức tổng thống Mỹ) của nhóm tác giả
Jiao Xue, Zan Mao và Na Li thuộc Khoa tiếng Anh, Trường Đại học Trấn Giang, Trung Quốc, vào năm 2013 đã gợi mở nhiều vấn đề lý thú Thông qua việc phân tích các bài phát biểu của nhiều tổng thống Mỹ, những ADYN chính trị trong các bài phát biểu này đã được phân tích, đồng thời, cơ sở và chức năng của chúng cũng được chú
ý Đây là một nghiên cứu có hệ thống về các ADYN bằng cách phân tích dữ liệu điển dạng và xác thực Điều này giúp làm sáng tỏ cách thức các ADYN hoạt động trong thế giới chính trị Qua đó, có thể giúp mọi người hiểu về chính trị và văn hóa Mỹ theo một cách nhất định
Cũng giống như các tác giả khác, ba tác giả này cũng thừa nhận diễn ngôn nhậm chức của các tổng thống Mỹ có một ý nghĩa rất quan trọng Thông qua diễn ngôn, tân tổng thống sẽ tận dụng cơ hội này để công khai các nguyên tắc và chính sách chính trị cơ bản của mình Nó giúp người dân hiểu rõ về quan điểm chính trị và
vị thế của chính phủ mới khi giải quyết các vấn đề trong nước và quốc tế Diễn văn
Trang 38nhậm chức tổng thống là một vũ khí mạnh mẽ của các chính trị gia và nó đóng một vai trò quan trọng trong đời sống chính trị của họ
Cách phân tích của các tác giả cho thấy, các ADYN thường được hình thành
từ các miền nguồn phổ biến như JOURNEY (HÀNH TRÌNH), HUMAN (CON NGƯỜI), WAR (CHIẾN TRANH), BUILDING (XÂY DỰNG), FAMILY (GIA ĐÌNH), LIGHT (ÁNH SÁNG) và DISEASE (BỆNH TẬT) Trong một miền nguồn
cụ thể, có nhiều ADYN liên quan đến nhau và có vai trò thuyết phục rất lớn bằng cách gợi lên những cảm xúc mạnh mẽ Rõ ràng, các lĩnh vực nguồn có liên quan chặt chẽ với cuộc sống và kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta, điều này làm cho những ADYN trở nên dễ hiểu và có tính thuyết phục Bên cạnh đó, những ADYN khác nhau cũng có liên quan đến nhau Đôi khi, một ADYN này được bao chứa trong một ADYN khác, dẫn đến hiện tượng một số ADYN cùng được phản ánh trong một phát ngôn duy nhất
Nhóm tác giả kết luận rằng ADYN bắt nguồn từ kinh nghiệm của người dân
và văn hóa Mỹ Sự hiểu biết và giải thích các ADYN có liên quan chặt chẽ đến kiến thức lịch sử, xã hội và văn hóa của nước Mỹ, vốn đã quen thuộc với người dân Mỹ
Do đó, không khó để thu hút cảm xúc của người Mỹ nhằm giúp họ hiểu rõ hơn về chính sách của các chính trị gia Phân tích ADYN là một cách tốt để thể hiện ý thức
hệ, thái độ và niềm tin cơ bản và do đó, nó là một phương tiện quan trọng để hiểu thêm về các mối quan hệ phức tạp giữa ngôn ngữ, tư tưởng và văn hóa
d Bài viết “Conceptual Metaphor in Political Communication” (Tạm dịch: Ẩn dụ ý
niệm trong giao tiếp chính trị) của nhóm tác giả Nikolina Borčić, Igor Kanižaj và
Svea Kršul thuộc Khoa Khoa học chính trị, Trường Đại học Zagreb, Croatia, vào năm
2016 Nhóm tác giả cho rằng ADYN là một mô hình ngôn ngữ hiệu quả nhằm đạt được chức năng thuyết phục của ngôn ngữ Bài viết này tiếp cận chủ đề ADYN và lập luận chính trị thông qua lăng kính liên kết của chủ đề chính trị, hình thức khẳng định hoặc phủ định của các ý chính liên quan đến chủ đề chính trị, sử dụng ADYN như một chiến lược hùng biện và biện luận đầy thuyết phục Nghiên cứu được thực hiện trên ngữ liệu 13.338 từ, trong hai cuộc phỏng vấn chính trị với Ivo Josipović, ứng cử viên tổng thống Croatia trong một chương trình trò chuyện hàng tuần có tên
Trang 39Nedjeljom u dva (Chủ nhật lúc hai giờ) phát trên truyền hình Croatia, Kênh 1 (HTV 1) vào năm 2009 và 2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy các ADYN được sử dụng thường xuyên nhất trong cứ liệu phân tích là các ADYN xuất phát từ lĩnh vực nguồn như PERSONIFICATION (NHÂN CÁCH HÓA) và JOURNEY (HÀNH TRÌNH) Những ẩn dụ ngôn ngữ này hầu hết được nhận diện trong các tuyên bố về hệ giá trị của Croatia và những tuyên bố này chủ yếu là ở thể khẳng định
e Kateryna Pilyarchuk và Alexander Onyskyo là nhóm tác giả thuộc Khoa tiếng Anh,
Trường Đại học Alpen-Adria-Universität Klagenfurt, nước Áo, đã có bài viết
“Conceptual Metaphors in Donald Trump’s Political Speeches: Framing his Topics and (Self-)Constructing his Persona” (Tạm dịch: Ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn chính trị của Donald Trump: Khung các chủ đề chính trị và Xây dựng hình ảnh chính trị của Tổng thống Trump) đăng trên Tạp chí Colloquium: New Philologies vào năm
2018 Bài viết công bố nhiều kết quả nghiên cứu đáng chú ý Nhóm tác giả sử dụng
lý thuyết ADYN để nghiên cứu việc sử dụng ADYN của Donald Trump trong ba DNCT quan trọng như Diễn văn chấp nhận tranh cử tổng thống Mỹ, Diễn văn chiến thắng tranh cử tổng thống Mỹ và Diễn văn nhậm chức tổng thống Mỹ Qua phân tích tất cả ADYN được sử dụng trong các bài phát biểu nêu trên, các tác giả nhận thấy rằng, Trump hầu như chỉ sử dụng các ADYN thông lệ, phổ biến, tuy nhiên ông cũng dùng những ẩn dụ mang đậm tính cá nhân khi nói về vấn đề nhập cư và vấn đề kinh
tế, trong đó có rất nhiều ADYN đóng vai trò là yếu tố cấu thành các chủ đề cho DNCT của ông, chẳng hạn như nhập cư và kinh tế Ngoài ra, Trump còn sử dụng ẩn dụ để xây dựng tư cách chính trị của mình như một người thợ sửa chữa (a repairman), một người thợ xây (a constructor), một người chữa bệnh (a healer), một người chiến binh (a warrior) và còn nhiều tư cách khác nữa
Trong những bài phát biểu bên trên của Trump, các ADYN được phân loại theo miền nguồn Có tổng cộng 17 loại miền nguồn khác nhau, trong đó ẩn dụ VẬT THỂ, ẩn dụ NHÂN HÓA, ẩn dụ KHÔNG GIAN và ẩn dụ CHUYỂN ĐỘNG với các tiểu loại như ẩn dụ HÀNH TRÌNH, ẩn dụ XÂY DỰNG và ẩn dụ ĐỘNG VẬT là những ADYN nổi bật và thường gặp nhất Trump áp dụng chúng cho ba nhóm chủ
đề chính có sức lan tỏa trong các bài phát biểu quan trọng được chọn lựa kỹ càng của
Trang 40mình như: (i) kinh tế, kinh doanh và thương mại; (ii) đối thủ và các tổng thống tiền nhiệm; (iii) nhập cư và các quốc gia khác Chủ đề nhập cư là chủ đề phổ biến nhất,
và Trump sử dụng rộng rãi các ADYN như Immigrants are animals (Những người nhập cư bất hợp pháp là những con vật hoang dã) và Immigrants are a flood (Những người nhập cư bất hợp pháp là một nạn lụt) trong các DNCT của mình Qua đó,
Trump xem người nhập cư trái phép và những người vượt biên trái phép vào nước
Mỹ là những người nguy hiểm hay là tội phạm nguy hiểm đối với xã hội, an ninh và người dân Mỹ Chính vì thế, các ý niệm về người nhập cư bất hợp pháp mà Trump
sử dụng luôn mang tính miệt thị cao và có phần phi nhân văn
f Về sưu tập tư liệu, đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu “Metaphors in political
discourse: A review of selected studies” (Tạm dịch: Ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị: Tổng quan về các công trình nghiên cứu chọn lọc) của nhóm tác giả Raphael
Francis Otieno, Francis Rew Owino và Judith Miguda Attyang thuộc Trường Đại học Khoa học và Kỹ thuật, Kenya, đăng trên Tạp chí quốc tế Văn học và tiếng Anh vào năm 2016 Trong đó, nhóm tác giả cho rằng ADYN trong DNCT là một chiến lược ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới Vì vậy, nghiên cứu về ADYN được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới Bài viết tiến hành đánh giá tổng quan các nghiên cứu về ADYN trong DNCT nhằm tiến tới xem xét vai trò của ADYN trong DNCT
Cụ thể, bài viết phân tích tổng quan kết quả nghiên cứu của 07 công trình nghiên cứu chọn lựa đã được công bố rộng rãi trên thế giới bao gồm: Nghiên cứu của
Wei (2001) với tiêu đề “The Pragmatics of Metaphor in Taiwanese Politics” (Tạm dịch: Khía cạnh ngữ dụng của ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị ở Đài Loan); nghiên cứu của Vestermark (2007) với tiêu đề “Metaphors in Politics: A Study of Metaphorical Personification of American Political Discourse, An Extended Essay” (Tạm dịch: Ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị: Một nghiên cứu về nhân hoá trong diễn ngôn chính trị ở Hoa Kỳ); công trình nghiên cứu của Taiwo (2010) với tiêu đề
“Metaphors in Nigerian Political Discourse” (Tạm dịch: Ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị ở Nigeria); công trình nghiên cứu của Habwe (2010) với tiêu đề “Dialogue Drama
in Kenyan Political Speeches and Its Pragmatic Implications” (Tạm dịch: Kịch hội