Đối với lĩnh vực văn hóa học và tôn giáo học, theo sự hiểu biết của chúng tôi vẫn chưa có một công trình nào tập trung đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về quá trình bảo lưu, hội nhập và biế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VĂN THOÀN
VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở LÀO
Ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62.31.70.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN HỒNG LIÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của luận án này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học
Tác giả luận án
NGUYỄN VĂN THOÀN
Trang 4MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1 Lý do nghiên cứu 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 16
4 Câu hỏi, Giả thuyết và Phương pháp nghiên cứu 18
5 Đóng góp của luận án 23
6 Nguồn tài liệu của luận án 24
7 Kết cấu của luận án 25
CHƯƠNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm và lý thuyết tiếp cận 27
1.1.1 Một số khái niệm 27
1.1.2 Các lý thuyết tiếp cận 34
1.2 Khái quát về văn hóa Lào 40
1.2.1 Không gian văn hóa 40
1.2.2 Chủ thể văn hóa 42
1.2.3 Thời gian văn hóa 44
1.3 Cộng đồng người Việt ở Lào 46
1.3.1 Khái quát về quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Lào 46
1.3.2 Đặc điểm cộng đồng người Việt ở Lào 53
1.4 Khái quát về Phật giáo của người Việt ở Lào 58
1.4.1 Quá trình hình thành và phát triển 58
1.4.2 Hiện trạng Phật giáo của người Việt ở Lào 68
Tiểu kết chương 1 73
Trang 5CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM PHẬT GIÁO CỦA NGƯỜI VIỆT Ở LÀO
2.1 Sự dung hợp và tính đa dạng 75
2.1.1 Thể hiện qua tông phái và nghi lễ 75
2.1.2 Dung hợp với tín ngưỡng dân gian, bản địa 80
2.1.3 Thể hiện qua kiến trúc 84
2.1.4 Thể hiện qua bài trí tượng thờ 91
2.2 Tính nhập thế 97
2.2.1 Tinh thần vì đạo pháp – vì dân tộc 97
2.2.2 Hoạt động từ thiện – xã hội 101
2.2.3 Hoạt động kinh tế - văn hóa 107
2.2.4 Tinh thần đạo hiếu, phóng sanh và ăn chay 110
2.3 Tính dân gian và thực tiễn 113
2.3.1 Thể hiện qua phương pháp tu tập và kinh tụng hàng ngày 113
2.3.2 Thể hiện qua các khóa tu học giáo lý 118
2.3.3 Thể hiện qua nhân lực và cơ sở tôn giáo 120
2.3.4 Thể hiện qua pháp phục - ẩm thực 123
Tiểu kết chương 2 129
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT Ở LÀO 3.1 Một số nét tiêu biểu trong sinh hoạt Phật giáo 131
3.1.1 An cư Kiết hạ 131
3.1.2 Khóa tu Bát Quan Trai Giới và khóa tu niệm Phật 134
3.1.3 Gia đình Phật tử 136
3.1.4 Ban hộ tự 138
3.1.5 Ban hộ niệm 142
Trang 63.2 Nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào 145
3.2.1 Một số quan niệm và kiêng kỵ trong thời gian mang thai 145
3.2.2 Lễ đầy tháng và lễ thôi nôi 147
3.2.3 Lễ cưới 150
3.2.4 Mừng thọ 155
3.2.5 Lễ tang 156
3.3 Lễ hội Phật giáo của người Việt ở Lào 170
3.3.1 Lễ cầu an đầu năm 171
3.3.2 Lễ Phật đản sinh 176
3.3.3 Lễ hội Vu lan – Báo hiếu 180
3.3.4 Lễ Rằm tháng Mười 185
Tiểu kết chương 3 187
KẾT LUẬN 190
TÀI LIỆU THAM KHẢO 197
PHỤ LỤC 1 212
PHỤ LỤC 2 216
PHỤ LỤC 3 225
PHỤ LỤC 4 228
PHỤ LỤC 5 281
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lý do nghiên cứu
Lào là quốc gia láng giềng thân thiện có mối quan hệ truyền thống đặc biệt lâu đời với Việt Nam Việt Nam luôn coi trọng hợp tác với Lào trong công cuộc phát triển đất nước và luôn làm hết sức mình để thúc đẩy mạnh mẽ mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước, nhất là sau tuyên bố của Kuala Lumpur về việc hình thành cộng đồng ASEAN 2015 và tầm nhìn ASEAN đến 2025 Một trong những nhân tố quan trọng góp phần thắt chặt tình đoàn kết gắn bó keo sơn và là cầu nối hữu nghị cho mối quan hệ giữa hai quốc gia, không thể không đề cập đến bà con Việt kiều Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận quan trọng không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế, cũng như giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Hiện nay, Việt Nam có một số lượng lớn kiều bào ở khắp năm châu trên thế giới, đó là tiềm năng quan trọng về nguồn nhân lực cho đất nước Vì vậy, việc nghiên cứu cộng đồng người Việt đang sinh sống trong các nước thành viên trong cộng đồng ASEAN, trong đó có Lào, là cần thiết
Lào là một trong những quốc gia trên thế giới có số lượng lớn người Việt Nam sinh sống Vào thời kỳ đầu di cư đến Lào, tuy gặp phải nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế, nhưng người Việt vốn có truyền thống tín ngưỡng Phật giáo, nên đã không gặp quá nhiều trở ngại khi hòa nhập vào hoàn cảnh văn hóa - xã hội Lào - một xã hội mà đạo Phật đã thấm sâu vào đời sống, cách nghĩ, cách làm của mọi người dân Lào, đã trở thành những giá trị tinh thần vô giá cho người dân Lào Cho đến nay, ở hầu khắp mọi miền đất nước Lào đều có người Việt sinh sống, nhưng tập trung ở các tỉnh, thành phố có kinh tế phát triển như: cố đô Luang Phrabang, thủ
đô Vientiane, Savannakhet và Champasak Với bản chất cần cù, chăm chỉ và chân thành trong công việc, di dân Việt luôn được người dân Lào quý mến và giúp đỡ
Trang 8Hiện nay, người Việt Nam ở Lào có khoảng 10 vạn người1, bao gồm cả người Lào gốc Việt, Việt kiều và người Việt mới sang nhưng có ý muốn định cư lâu dài (Tổng Hội người Việt Nam tại CHDCND Lào, 2015, tr.1) Theo số liệu thống
kê của Trung tâm Thống kê Quốc gia Lào, năm 2015, tổng dân số nước Lào có 6,492,228 người (Trung tâm Thống kê Quốc gia Lào, 2015, tr.24) Sự hiện diện của cộng đồng người Việt ở Lào từ trước đến nay đã có nhiều đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa, giáo dục đối với sự nghiệp phát triển xã hội Lào, đã góp phần làm nên một trong những đặc trưng của quan hệ đặc biệt giữa hai nhà nước Việt Nam - Lào
Từ buổi đầu du nhập, đạo Phật của người Việt ở Lào là chỗ dựa tinh thần cho người Việt trong cuộc sống mưu sinh ở Lào Ngôi chùa Việt ở Lào không chỉ là nơi đem lại sự bình an cho người sống, mà còn là nơi yên nghỉ của bao thế hệ người Việt ở Lào Nhà sư vừa là người bạn an ủi mỗi khi gặp trắc trở trong cuộc sống, vừa
là người tiếp dẫn khi nhắm mắt xuôi tay, từ giã cõi trần Đạo Phật của người Việt ở Lào là nhịp cầu để đưa người Việt ở đây về với cội nguồn dân tộc Ngôi chùa là nơi hội tụ hồn thiêng dân tộc, không giống như chùa Lào, chùa Việt ở Lào không chỉ thờ Phật mà còn thờ các anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì dân tộc Có thể thấy, trong hầu hết các lĩnh vực đời sống văn hóa – xã hội, đạo Phật đều nhập thế và đồng hành cùng người dân Việt ở Lào Do đó, sẽ thật thiếu sót, không toàn diện khi nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Lào nếu không đề cập đến đời sống tôn giáo
của họ Từ thực tế đó, chúng tôi quyết định thực hiện luận án mang tên Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt ở Lào, nhằm bổ sung thêm nguồn tư liệu
cho công tác nghiên cứu về văn hóa cộng đồng người Việt Nam ở Lào
1 Nếu so sánh với các nước có người Việt Nam sinh sống như: Mỹ (có 2,2 triệu người Việt Nam), Pháp (có
300 ngàn người Việt Nam), Úc (có 250 ngàn người Việt Nam), Canada (có 250 ngàn người Việt Nam), Trung Quốc (có 18 ngàn người Việt Nam), Thái Lan (có 120 ngàn người Việt Nam) và Campuchia (có 156,3 ngàn người Việt Nam), thì số lượng người Việt Nam ở Lào không nhiều Tuy nhiên, nếu so sánh số lượng người Việt Nam với số lượng người dân bản xứ thì tỷ lệ người Việt ở Lào với người dân Lào, có thể xếp vào
vị trí nhất nhì so với các nước trên thế giới có người Việt Nam sinh sống (Bộ Ngoại Giao, 2017, tr.1)
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với chủ trương của Nhà nước xem cộng đồng người Việt ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam Do đó, đã có nhiều chương trình nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở nước ngoài ra đời nhằm góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ở nước ngoài và có những chính sách thích hợp để kiều bào hướng về Tổ quốc, đặc biệt là cộng đồng người Việt ở khu vực Đông Nam Á lục địa như Lào, Thái Lan và Campuchia
So với các quốc gia láng giềng như Thái Lan, Campuchia, cộng đồng người Việt ở Lào chưa được nhiều học giả Việt Nam, Lào và các học giả quốc tế quan tâm nghiên cứu như cộng đồng người Việt ở Thái Lan và Campuchia Cho đến nay, mới chỉ có vài công trình nghiên cứu khoa học đã công bố về quá trình di cư, chuyển đổi lối sống, địa vị chính trị và đời sống kinh tế của cộng đồng người Việt tại Lào Đối với lĩnh vực văn hóa học và tôn giáo học, theo sự hiểu biết của chúng tôi vẫn chưa
có một công trình nào tập trung đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về quá trình bảo lưu, hội nhập và biến đổi văn hóa tinh thần, đặc biệt là đối với văn hóa Phật giáo Bắc tông của người Việt ở Lào
2.1 Nhóm các công trình liên quan đến cộng đồng người Việt ở Lào
So với các công trình nghiên cứu về Lào, việc nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Lào chưa được nhiều nhà nghiên cứu Lào, cũng như các học giả phương Tây quan tâm Tuy nhiên cũng đã có một số công trình tiêu biểu được chúng tôi sử dụng tham khảo trong quá trình hoàn thành luận án, cụ thể:
- Nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Lào, trước tiên phải kể đến những tài liệu bằng tiếng Pháp được ghi chép dưới thời chính quyền Pháp ở Đông Dương hiện được lưu trữ ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội (Nguyễn Hào Hùng,
2008, tr.422-459) Số lượng những tài liệu này tuy nhiều, nhưng nội dung liên quan đến đời sống người Việt ở Lào không đáng kể mà chỉ là những ghi chép tản mạn Lĩnh vực văn hóa Phật giáo của người Việt càng không có Người Pháp chủ yếu nghiên cứu về lịch sử hình thành cộng đồng người Việt ở Lào từ những năm đầu thế
Trang 10kỷ đến thập niên 50 của thế kỷ XX Có thể nói đây là khối tài liệu về các chính sách khai thác thuộc địa của tư bản Pháp ở Đông Dương nói chung, ở Lào nói riêng; về những biến đổi toàn diện của cộng đồng di cư Việt Nam trước sự tác động của các chính sách thuộc địa và hệ quả của nó
- Bài viết “The Vietnamese community in Laos: Research in progress” của
Ng Shui Meng được đăng trên Journal of Social Issues in Southeast Asia, số tháng 2
năm 1986 Đây là một trong số ít các công trình bằng tiếng Anh về cộng đồng người Việt ở Lào sau khi nước Lào thống nhất năm 1975 Tác giả đã trình bày nguyên nhân người Việt di cư đến Lào, cũng như số lượng và địa bàn cư trú chính của cộng đồng người Việt ở Lào Đồng thời, tác giả cũng khẳng định cộng đồng người Việt ở Lào là cộng đồng ngoại kiều lớn nhất, có vai trò và vị trí quan trọng đối với nhiều lĩnh vực ở Lào, đặc biệt là cầu nối xây dựng mối quan hệ hữu nghị toàn diện giữa hai dân tộc, hai nhà nước Việt Nam và Lào trong quá khứ đấu tranh chống ngoại xâm, cũng như hiện tại xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội Đây là công trình nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Lào chủ yếu dựa trên phương diện lịch sử và tình hình xã hội của hai nước Việt Nam và Lào lúc bấy giờ dưới quan điểm của người nghiên cứu ở nước thứ ba
- Công trình Người Việt Nam ở nước ngoài của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn
do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 1997, có lẽ đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về Việt kiều ở nước ngoài, đã cung cấp nhiều thông tin giá trị
về các cộng đồng người Việt Nam trên thế giới như: cộng đồng người Việt Nam ở
Mỹ, ở Pháp, ở Đức, ở Úc,… Tuy nhiên, các quốc gia láng giềng như Thái Lan, Lào
và Campuchia thì rất ít thông tin và chủ yếu mang tính tổng quan hơn là nghiên cứu chuyên sâu về đời sống văn hóa, xã hội của họ
- Công trình đề tài cấp Bộ Quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào: Thực trạng và
hướng phát triển trong những năm tới của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam do
Phạm Đức Thành chủ nhiệm, hoàn thành vào năm 2004 Công trình được chia thành
ba nội dung chính: Quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào nhìn lại và đánh giá; Quan hệ
Trang 11hợp tác Việt Nam – Lào trong những năm sắp tới và cuối cùng là những kiến nghị lên các cơ quan chức năng của hai chính phủ Việt Nam và Lào Đây là công trình có
sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo có uy tín nhằm nghiên cứu một cách chuyên sâu về mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào Theo đó, công trình
đã tập trung nghiên cứu sâu về thực trạng, đánh giá mối quan hệ hợp tác đặc biệt Việt Nam – Lào; những tác động của tình hình quốc tế, khu vực và đường lối phát triển của hai nhà nước dẫn đến mối quan hệ Việt Nam – Lào Qua nội dung của công trình với dung lượng 159 trang, đã cho thấy một cách tổng quát về những tác động trực tiếp, tích cực từ mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào đến đời sống của cộng đồng người Việt ở Lào
- Năm 2005, Trần Đình Lưu (Trần Đình Riên) xuất bản công trình Việt kiều
Lào – Thái với quê hương Công trình tập trung trình bày về những đóng góp của
Việt kiều ở Lào và Thái Lan trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Nhìn chung, về đời sống văn hóa của người Việt ở Lào chưa được tác giả
đi sâu phân tích
- Công trình tiếp theo nghiên cứu về người Việt ở Lào, đó là công trình
Người Việt ở Thái Lan – Campuchia – Lào của Nguyễn Quốc Lộc, được xuất bản
năm 2006 Công trình đã khái quát bức tranh của cộng đồng người Việt ở ba nước Thái Lan, Campuchia và Lào Trong đó, tác giả dành một chương viết về người Việt
ở Lào, trình bày khái quát về quá trình di cư và đời sống của người Việt ở Lào qua các thời kỳ từ đầu thế kỷ XV đến nay Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975, được tác giả phân tích sâu dựa trên các sự kiện lịch sử mà cộng đồng người Việt cùng nhân dân các bộ tộc Lào đã hy sinh xương máu để giành chiến thắng trước thực dân Pháp rồi đến đế quốc Mỹ thống nhất đất nước Lào Giai đoạn từ năm 1975 đến nay, chủ yếu phân tích về quan hệ ngoại giao giữa hai nước, về phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt ở Lào Tác giả đã chứng minh vai trò của người Việt đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh thành của Lào bằng các dữ liệu khoa học tin cậy Đáng tiếc, về mặt văn hóa tinh thần của cộng đồng người Việt
ở Lào chưa được quan tâm nghiên cứu
Trang 12- Công trình nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam ở Lào do người Lào viết bằng tiếng Lào gần như không có Song điều đáng trân trọng là các học giả người Lào có một số bài viết về cộng đồng người Việt Nam ở Lào được viết bằng tiếng Việt, tiêu biểu như: “Bước đầu tìm hiểu Luật pháp và Chính sách của chính phủ Lào đối với người nước ngoài, ngoại kiều, người Việt Nam ở Lào” của Amthilo
Latthanhot và Nguyễn Duy Thiệu, được đăng ở Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á,
số chuyên đề về Việt kiều ở Lào, số 2 năm 2007 Bài viết này tập trung trình bày về
những văn bản pháp luật của Lào nhằm quản lý người nước ngoài đang sinh sống ở Lào và phân tích những khó khăn, thách thức mà người Việt ở Lào phải đối mặt về mặt chính sách của chính phủ Lào Nhìn chung, các văn bản pháp luật của Lào cho thấy đều mang tính chất quản lý và nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi, công bằng cho các kiều bào yên tâm sinh sống trên đất nước Lào, không kỳ thị sắc tộc giống như các chính sách của chính phủ Thái Lan và Campuchia trước đây
- Năm 2007, trong đề án nghiên cứu toàn diện về cộng đồng người Việt ở Lào của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Vũ Thị Vân Anh đã có bài viết mang tên:
“Nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt đến Lào”, đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu Đông Nam Á số 2/2007, số chuyên đề về Việt kiều ở Lào Tác giả đã trình bày
đầy đủ về các nguyên nhân và quá trình di cư của người dân Việt sang Lào qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau Trong đó, tác giả cũng đã phân tích kỹ số lượng, địa bàn
cư trú của người Việt ở Lào qua các cuộc di cư trong giai đoạn Pháp thuộc Bài viết cho thấy những cung đường di cư truyền thống mà bao thế hệ di dân người Việt di hành đến Lào, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung Việt Nam giáp biên giới với Lào Tuy nhiên trong bài viết này, tác giả chỉ tập trung dựng lại bức tranh về lịch sử hình thành cộng đồng người Việt ở Lào từ buổi đầu cho đến hiện tại chứ chưa quan tâm nghiên cứu các lĩnh vực khác
- Bài viết “Những chuyển đổi trong phương thức kiếm sống và trong đời
sống vật chất của cộng đồng người Việt ở Lào” của Khampheng Thipmuntaly in trong công trình Di cư và chuyển đổi lối sống – Trường hợp cộng đồng người Việt ở
Lào do Nguyễn Duy Thiệu chủ biên, được nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm
Trang 132008 Đây là công trình do tổ chức Rockefeller tài trợ cho các nhà khoa học Việt Nam và Lào hợp tác nghiên cứu toàn diện về cộng đồng người Việt Nam ở Lào Trong bài viết của mình, tác giả Khampheng đã miêu tả, phân tích chi tiết về những chuyển đổi phương thức kiếm sống truyền thống của người Việt từ nơi xuất cư để thích nghi với môi trường sinh tồn mới ở Lào Đồng thời, tác giả cũng trình bày một
số nhân tố thúc đẩy sự phát triển các ngành nghề sinh kế của người Việt trong bối cảnh xã hội mới Không chỉ như vậy, tác giả còn cho thấy cộng đồng người Việt ở Lào trong quá trình cộng cư lâu dài với người dân bản địa luôn có sự giao lưu, hòa nhập và chuyển đổi trong sinh hoạt đời sống vật chất như ẩm thực, trang phục, kiến trúc nhà ở
- Bài viết “Những chuyển đổi trong đời sống xã hội và đời sống tâm linh của
cộng đồng người Việt ở Lào” của Nguyễn Duy Thiệu nằm trong công trình Di cư và
chuyển đổi lối sống trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào, xuất bản năm 2008
Bài viết đã trình bày, phân tích những chuyển đổi về đời sống xã hội trong cộng đồng người Việt ở Lào Những nỗ lực bảo tồn bản sắc dân tộc thông qua việc duy trì tiếng mẹ đẻ của người Việt ở Lào Tác giả đã cho thấy trong cuộc sống thường nhật của cộng đồng người Việt ở Lào luôn có sự giao lưu, ảnh hưởng văn hóa bản địa Lào, song bà con người Việt ở đây luôn ý thức hướng về nguồn cội và đặc biệt
họ xem Lào quê hương thứ hai của mình Bài viết cũng đã trình bày tổng quát về sự chuyển đổi trong đời sống tâm linh của người Việt ở Lào và cho rằng đó là kết quả tất yếu của quá trình giao lưu, tiếp nhận văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo bản địa của người dân Lào để thích nghi với điều kiện văn hóa, xã hội mới Nhìn chung, đây là công trình nghiên cứu công phu, toàn điện về những biến đổi trong đời sống xã hội
và tâm linh của cộng đồng người Việt ở Lào
- Bài viết “Nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào và vấn đề giao thoa văn
hóa Việt – Lào” của Phạm Thị Mùi trong công trình Di cư và chuyển đổi lối sống
trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào, xuất bản năm 2008 Tác giả đã miêu tả và
phân tích khá chi tiết về quá trình giao thoa văn hóa diễn ra trong từng giai đoạn vòng đời của người Việt ở Lào, như từ quan niệm cho việc đến việc thực hiện các
Trang 14nghi thức của các nghi lễ vòng đời Qua từng giai đoạn chuyển tiếp đó, tác giả đã nghiên cứu so sánh về vị thế của người phụ nữ Việt ở Lào, phụ nữ Lào với phụ nữ Việt ở Việt Nam Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã nêu lên dấu ấn của Phật giáo Bắc tông trong nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào, đặc biệt là nghi lễ tang
ma Có thể nói, bài viết này đã mang đến những thông tin bổ ích, định hướng cho chúng tôi khi nghiên cứu về vai trò của Phật giáo Bắc tông Việt Nam đối với phong tục vòng đời của người Việt ở nước ngoài nói chung và ở Lào nói riêng
- Cũng trong công trình Di cư và chuyển đổi lối sống – Trường hợp cộng
đồng người Việt ở Lào do Nguyễn Duy Thiệu chủ biên, được nhà xuất bản Thế giới
ấn hành năm 2008, một học giả người Lào là Xomthon Yerlobliayao đã có bài viết
về “Chuyển đổi bản sắc văn hóa trong nhóm hôn nhân chồng Lào vợ Việt” Tác giả
đã dành 15 trang để trình bày, phân tích về tình trạng hôn nhân giữa người Lào và người Việt Nam, những chuyển đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội trong nhóm hôn nhân hỗn hợp Lào – Việt Đây là bài viết chuyên sâu về hôn nhân hỗn hợp giữa người Việt và người Lào Trong đó, tác giả đã phân tích chi tiết những thuận lợi và trở ngại tác động đến nhóm hôn nhân này, từ chính sách của chính phủ Lào đến đời sống kinh tế, vị thế xã hội và đặc biệt là vấn đề bảo lưu bản sắc văn hóa của hai dân tộc Tác giả cũng cho thấy những năm gần đây, xu hướng hôn nhân đồng tộc có quốc tịch khác phổ biến hơn và nhóm hôn nhân này ngày càng xa rời văn hóa Việt, từng bước hội nhập với văn hóa Lào Bài viết cũng đề cập đến lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần, đặc biệt là hôn nhân khác tín ngưỡng tôn giáo, luôn có sự hòa hợp với nhau trong nhóm hôn nhân hỗn hợp này, người con gái theo đạo Phật có thể lấy người con trai theo đạo Thiên Chúa làm chồng và ngược lại mà không có sự trở ngại hay xung đột nào Nhìn chung, đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chuyển đổi bản sắc văn hóa trong hôn nhân để hòa nhập xã hội mới của cộng đồng người Việt ở Lào
- Cũng trong năm 2008, có một công trình nghiên cứu khác liên quan trực tiếp đến người Việt ở Lào và cũng là công trình tập thể của hai Viện Khoa học Xã
hội Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Lào kết hợp thực hiện là: Cộng đồng người
Trang 15Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam – Lào do Phạm Đức Thành chủ biên Công
trình nghiên cứu hoàn thành và được xuất bản vào năm 2008 Tham gia nghiên cứu
có ba học giả người Lào là Bountheng Souksavatd, Somethon Loblyao và Amthilo Latthanhot Công trình đã nghiên cứu đầy đủ nhất về lịch sử hình thành và hiện trạng của cộng đồng người Việt ở Lào, vị thế của người Việt trong xã hội Lào trong quá khứ cũng như hiện tại Ngoài ra, công trình cũng phân tích những chính sách của chính phủ Việt Nam và chính phủ Lào đối với cộng đồng Việt ở Lào; vai trò của cộng đồng người Việt trên các lĩnh vực chính trị, an ninh – quốc phòng, kinh tế, văn hóa và giáo dục Đồng thời, công trình cũng cho thấy, ở mọi hoàn cảnh xã hội, người Việt ở Lào luôn đóng vai trò làm cầu nối cho mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, toàn diện Việt Nam – Lào So với các lĩnh vực khác, lĩnh vực đời sống tín ngưỡng của người Việt ở Lào chưa thật sự được quan tâm nghiên cứu Công trình chỉ dành
số trang khiêm tốn, khoảng 6 trang, để trình bày về các tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt ở Lào Có thể nói, đây là công trình đã mang đến nguồn thông tin toàn diện về vai trò và những đóng góp của cộng đồng người Việt ở Lào đối với đất nước Lào cũng như Việt Nam
- Năm 2010, Nguyễn Văn Vinh xuất bản công trình Việt kiều ở Lào, Thái
Lan với các phong trào cứu quốc thế kỷ XX Đây là kết quả nghiên cứu bằng những
ghi chép trung thực của bản thân tác giả đã từng nhiều năm tham gia kháng chiến cùng với bà con người Việt ở Thái Lan và Lào Công trình đã trình bày về những đợt nhập cư và quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Thái Lan; một số nét
cơ bản về đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng người Việt ở Thái Lan; các hoạt động của người Việt ở Lào cũng như ở Thái Lan nhằm đóng góp cho phong trào kháng chiến chống Pháp và Mỹ Nghiên cứu cũng đề cập đến tác động từ tình hình chính trị - xã hội của Thái Lan sau năm 1975 đến đời sống của bà con Việt kiều ở đất nước chùa tháp này Đây là công trình khá công phu, nhưng chủ yếu về người Việt ở Thái Lan, hơn là người Việt ở Lào Tác giả đã tập trung trình bày về các sự kiện lịch sử trong hai cuộc kháng chiến mà bà con người Việt ở Thái Lan hướng về Tổ Quốc, đóng góp không chỉ vật chất mà cả xương máu của bản thân cho
Trang 16công cuộc cứu quốc cùng với nhân dân trong nước Đối với lĩnh vực đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, tác giả chỉ trình bày một cách khái quát đối với người Việt
ở Thái Lan và Lào
- Bài viết “Một số lễ hội tiêu biểu của người Việt ở Lào” của Nguyễn Văn
Thoàn, được đăng ở Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 5 (218)/2018 Ngoài phần
đặc điểm cộng đồng người Việt ở Lào, bài viết đã trình bày, phân tích một số lễ hội tiêu biểu như Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, lễ hội của Phật giáo Bắc tông Việt Nam (Rằm Thượng Nguyên, Lễ Phật Đản và Rằm Trung Nguyên) và những giá trị của lễ hội đối với đời sống tinh thần của người Việt ở Lào Qua việc tìm hiểu đời sống văn hóa lễ hội của người Việt ở Lào, tác giả đã cố gắng minh định những yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc được bảo lưu và trao truyền trong cộng đồng người Việt ở Lào
- Nhằm phát huy tiềm năng và sức mạnh mềm của cộng đồng người Việt ở nước ngoài đối với quá trình hội nhập khu vực của Việt Nam, năm 2018, Phan Thị
Hồng Xuân đã xuất bản công trình Vai trò và những đóng góp của cộng đồng người
gốc Việt ở Campuchia, Lào, Thái Lan trong giai đoạn hiện nay Đây là kết quả
nhiều năm nghiên cứu (từ năm 2015 đến 2017) về cộng đồng người gốc Việt ở Campuchia, Lào và Thái Lan của tác giả Theo đó, công trình đã trình bày khá đầy
đủ về cộng đồng người gốc Việt ở Campuchia, Lào, Thái Lan và vai trò của họ trong các lĩnh vực như: an ninh – chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước Đồng thời, công trình cũng cung cấp nhiều thông tin có giá trị về những đóng góp của cộng đồng người gốc Việt ở Campuchia, Lào, Thái Lan đối với Việt Nam cho sự phát triển kinh tế đất nước, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc, cầu nối trong phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các nước Campuchia, Lào và Thái Lan với Việt Nam Dưới góc nhìn của Nhân học, nên tác giả đã tập trung phân tích bối cảnh tình hình đời sống và những chủ trương, chính sách của Chính phủ, chính quyền của các nước Campuchia, Lào, Thái Lan cũng như Việt Nam đối với cộng đồng người gốc Việt ở Campuchia, Lào và Thái Lan Đối với lĩnh vực ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo, tác giả dành 9 trang (từ
Trang 17trang 148 đến trang 156) để trình bày sơ lược về tình hình gìn giữ tiếng Việt và sinh hoạt văn hóa – tôn giáo của người gốc Việt ở Campuchia, Lào và Thái Lan
- Khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Văn hóa Đông Nam Á về
Cộng đồng người Việt định cư ở Lào của sinh viên Nguyễn Thị Lệ Mỹ được bảo vệ
thành công năm 2004 Tác giả trình bày tổng quan về đất nước và dân tộc Lào cũng như mối quan hệ Việt Nam – Lào, lịch sử nhập cư của người Việt ở Lào, những hoạt động đóng góp của người Việt đối với công cuộc giải phóng đất nước Lào, quan hệ của cộng đồng người Việt Nam đối với cư dân bản địa Lào, các chính sách của nhà nước Lào đối với Việt kiều Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phân tích tiềm năng và giải pháp để phát huy nguồn lực của cộng đồng người Việt ở Lào đối với
Tổ quốc Khóa luận đã chú trọng đến các vấn đề kinh tế, giáo dục và xã hội liên quan đến cộng đồng, đặc biệt là những kiến nghị đến các cơ quan hữu quan về vấn
đề người Việt Nam ở nước ngoài để tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào hướng về
Tổ quốc
- Luận văn Cao học về Đời sống văn hóa của người Việt định cư ở thành phố
Vientiane (Lào) của Lê Thị Hồng Diệp được bảo vệ thành công vào năm 2007 Nội
dung của luận văn đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị về đời sống tinh thần và vật chất của cộng đồng người Việt ở Vientiane Tác giả đã dành chương 3 để trình bày
về đời sống tinh thần của người Việt định cư ở thành phố Vientiane Với sự trình bày, phân tích của tác giả, đã cho thấy toàn cảnh đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng người Việt đang sinh sống và làm ăn ở Vientiane, từ tín ngưỡng dân gian của người Việt như thờ Đức Thánh Trần, thờ Mẫu, đến Thiên Chúa giáo và Phật giáo Trong đó, tác giả đã dành gần 10 trang viết về Phật giáo của người Việt thông qua nghiên cứu trường hợp ở hai ngôi chùa Bàng Long và chùa Phật Tích Đồng thời, công trình cũng phân tích về phong tục tập quán, lễ hội của người Việt ở Vientiane Mặc dù chưa chuyên sâu về đặc trưng cũng như vai trò của Phật giáo Bắc tông trong đời sống tinh thần của người Việt ở Vientiane nhưng nhìn chung đây
là công trình nghiên cứu đầy đủ về đời sống văn hóa của người Việt ở Vientiane
Trang 182.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về Phật giáo của người Việt ở Lào
- Bài viết “Văn hóa Phật giáo Việt Nam trên đất Lào” của Lê Thị Hồng Diệp được Tập san Khoa học Hội nhập và phát triển của Đại học Mở TP Hồ Chí Minh
đăng năm 2006 Tác giả đã trình bày một số bình diện văn hóa của người Việt và ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở thủ đô Vientiane Ngoài ra, bài viết cũng đã nêu lên một số vấn đề giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Phật giáo Việt Nam với Phật giáo Lào trong quá trình cộng cư sinh sống trên đất nước Lào của cộng đồng người Việt Đây là bài viết có chiều sâu với những phát hiện mới, nhưng chưa phải là một công trình hoàn thiện về văn hóa Phật giáo Bắc tông Việt Nam ở Lào nói chung và tại thủ đô Vientiane nói riêng
- Trong khuôn khổ của quyển Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 2/2007
thuộc số chuyên đề về Việt kiều ở Lào, Nguyễn Lệ Thi có bài viết “Chùa của người Việt ở Lào” Tác giả đã phân tích khá chi tiết về đặc trưng của ngôi chùa Phật giáo Bắc tông của người Việt tại Lào như: niên đại, mục đích xây dựng chùa, đất xây dựng chùa và đặc trưng kiến trúc chùa, bảo tháp Phật tại một số ngôi chùa Việt tiêu biểu trên đất Lào Nội dung bài viết đã cho thấy sự ảnh hưởng của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Lào đối với chùa Việt ở Lào Mặc dù, chỉ dừng lại ở một số lĩnh vực thuộc phạm vi văn hóa vật chất của Phật giáo Bắc tông ở Lào thông qua ngôi chùa Việt nhưng đây là một công trình nghiên cứu cung cấp nhiều thông tin giá trị
về Phật giáo người Việt ở Lào, gợi mở thêm hướng nghiên cứu mới về văn hóa tinh thần của Phật giáo Bắc tông đối với cộng đồng người Việt ở Lào
- Công trình đầu tiên của Lào nghiên cứu về các tôn giáo hiện đang tồn tại ở
Lào được xuất bản vào năm 2012, đó là Các tôn giáo ở Lào (tiếng Lào) của Viện
Khoa học Xã hội Quốc gia Lào thực hiện Nội dung nghiên cứu nhằm miêu tả, phân tích khá đầy đủ và tổng quát về các dạng tín ngưỡng dân gian và tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Ba Ha’i giáo đang được người Lào tín ngưỡng hiện nay Các học giả đã trình bày khá chi tiết về lịch sử hình thành, giáo lý, phương chăm hoạt động và vai trò của từng tôn giáo đối với xã hội Lào Đáng chú ý nhất là phần
Trang 19Phật giáo được trình bày, phân tích khá kỹ, đặc biệt là đối với hệ phái Phật giáo Nam tông ở Lào Đối với, hệ phái Phật giáo Bắc tông chỉ được trình bày sơ lược, đề cập đến nguồn gốc du nhập từ Việt Nam và hiện được cộng đồng người Việt Nam ở Lào tin theo Tuy nhiên, các học giả chỉ phân tích sự khác biệt về giáo lý, thần phả, quan niệm hành trì giữa Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông, mà không phân tích đặc điểm cũng như vai trò của Phật giáo Bắc tông đối với cộng đồng người Việt
ở Lào Có thể nói đây công trình đầu tiên bằng tiếng Lào có liên quan đến tôn giáo của người Việt ở Lào
- Bài viết “Chùa Phật giáo trong đời sống văn hóa của hai dân tộc Việt Nam
– Lào” của Nguyễn Văn Thoàn, được đăng ở Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số
12 (165)/2013 Bài viết đã trình bày khái quát sự du nhâp của Phật giáo đến Việt Nam và sự ra đời của ngôi chùa Bằng phương pháp so sánh, tác giả đã trình bày và phân tích vị trí địa lý – kết cấu kiến trúc của ngôi chùa Lào và ngôi chùa Việt Qua
đó, bài viết cho thấy vai trò của ngôi chùa trong đời sống văn hóa của hai dân tộc Việt Nam và Lào Tuy bài viết chưa thật sự nghiên cứu trực tiếp đến Phật giáo của người Việt ở Lào, nhưng qua đó gợi mở cho hướng nghiên cứu về vai trò, chức năng của ngôi chùa đối với đời sống văn hóa của người Việt ở Lào
- Bài viết “Quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam ở Lào”
của Nguyễn Văn Thoàn, được đăng ở Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 12
(201)/2016 Bài viết đã trình bày đầy đủ về lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam ở Lào qua các giai đoạn như: Giai đoạn du nhập, giai đoạn thành lập
tổ chức Phật giáo Việt Nam tại (1956-1977) và giai đoạn từ 1978 đến nay Đồng thời, bài viết cũng cho thấy số lượng ngôi chùa, tu sĩ và Phật tử người Việt ở Lào; tình hình sinh hoạt của Phật giáo Việt Nam ở Lào Có thể nói, bài viết này đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích làm cơ sở thực tiễn cho nội dung luận án
- Bài viết “Tính dung hợp của Phật giáo Việt Nam ở Lào” của Nguyễn Văn
Thoàn, được đăng ở Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng số 81/3.2017
Ngoài phần khái quát về lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam ở Lào
Trang 20và đặc điểm cộng đồng người Việt ở Lào, tác giả đã trình bày, phân tích về một số biểu hiện tính dung hợp của Phật giáo Việt Nam ở Lào thông qua kinh tụng hàng ngày tại chùa Việt, các hình thức tín ngưỡng dân gian, bài trí tượng thờ trong Phật điện và công trình kiến trúc Tác giả đã cho thấy, tính dung hợp của Phật giáo Việt Nam ở Lào được hình thành là do sự thích ứng với điều kiện văn hóa – xã hội Lào
và nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng người Việt ở Lào
- Bài viết “Giao lưu văn hóa Phật giáo Việt – Lào (Nghiên cứu trường hợp chùa Phật Tích ở Vientiane)” của Trần Hồng Liên và Nguyễn Văn Thoàn, được
đăng ở Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng số 92/8.2017 Các tác giả đã
khái quát về Phật giáo của người Việt ở Vientiane và trình bày về sự giao lưu văn hóa Phật giáo Việt Nam với Phật giáo Lào trên hai lĩnh vực văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, thông qua nghiên cứu trường hợp chùa Phật Tích ở Vientiane Có thể nói, đây là bài viết có tính khái quát cao về văn hóa Phật giáo của người Việt ở Vientiane, qua đó thấy sự giao lưu, linh hoạt của Phật giáo Việt Nam ở Lào nói chung và ở Vientiane nói riêng Các tác giả chú trọng đến tính khái quát, nên bài viết chưa trình bày sâu từng lĩnh vực
2.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về Phật giáo ở Lào
Bên cạnh những công trình, bài viết liên quan trực tiếp đến cộng đồng người Việt ở Lào nói chung và văn hóa Phật giáo Bắc tông của người Việt ở Lào nói riêng, còn có những công trình, bài viết cung cấp nguồn thông tin làm cơ sở lý luận
và thực tiễn cho luận án, tiêu biểu như:
- Công trình Vai trò của Phật giáo trong đời sống chính trị - văn hóa và xã
hội Lào (từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIX) của Nguyễn Lệ Thi, xuất bản năm 1992, nhà
xuất bản Khoa học Xã hội Tác giả đã trình bày Phật giáo ở Lào từ buổi đầu du nhập cho đến thế kỷ XIX Qua đó, cho thấy sự đóng góp của Phật giáo đối với lịch sử dựng nước và phát triển đất nước Lào qua các giai đoạn lịch sử; vai trò của Phật giáo đối với nền văn học – nghệ thuật và phong tục tập quán của nhân dân Lào
Công trình đã minh định Phật giáo là một phần quan trọng của văn hóa Lào
Trang 21- Công trình The History ở Buddhism in Laos của Maha Khamyad
Rasdavong (người Lào), xuất bản năm 2006, nhà xuất bản Xangkhou, Vientiane, Lào Tác giả đã trình bày về nguồn gốc và sự phát triển của Phật giáo ở Lào qua các giai đoạn lịch sử từ những năm đầu Tây lịch cho đến nay; những chính sách của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tác động đến sự phát triển Phật giáo Lào; ảnh hưởng của Phật giáo đến một số lĩnh vực xã hội Lào; vai trò của Tăng già trong đời sống của người dân Lào và Phật giáo ở thế kỉ 21 với tầm nhìn tương lai
- Công trình Phật giáo Lào dưới góc nhìn văn hóa của Nguyễn Văn Thoàn,
xuất bản năm 2006, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã trình bày về quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Lào từ buổi đầu cho đến hiện nay (2006) Công trình đã miêu tả, phân tích những đặc trưng văn hóa Phật giáo Lào thông qua hai khía cạnh văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Từ đó, cho thấy vai trò, ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hóa của người dân Lào
- Công trình Phật giáo trong dòng lịch sử, văn hóa Lào của Trần Quang
Thuận, xuất bản năm 2015, nhà xuất bản Hồng Đức Tác giả đã trình bày Phật giáo trong dòng lịch sử Lào từ thời tiền sử, qua các giai đoạn lịch sử, cho đến giai đoạn hiện nay Công trình cũng đã cho thấy khá chi tiết về hiện tình Quốc gia và Phật giáo Lào thể hiện qua đời sống văn hóa, xã hội; tín ngưỡng và tôn giáo; Phật giáo Lào hiện đại và viễn ảnh tương lai
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở trên về Phật giáo Nam tông Lào, đã cung cấp nhiều thông tin khoa học, độ tin cậy cao làm cơ sở lý luận, so sánh trong quá trình thực hiện luận án
Từ kết quả của những công trình của các nhà nghiên cứu đi trước về cộng đồng người Việt ở Lào, về văn hóa Phật giáo Lào nói chung và văn hóa Phật giáo của người Việt ở Lào nói riêng, tác giả luận án sẽ xây dựng nên bức tranh về những đặc điểm văn hóa và vai trò của Phật giáo Bắc tông trong đời sống của cộng đồng người Việt ở Lào đối với sự hòa nhập văn hóa - xã hội Lào và cố kết trong nội bộ của cộng đồng người Việt ở đây
Trang 223 Mục đích, Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
Tiếp cận từ chuyên ngành Văn hóa học, luận án có mục tiêu như sau:
a Mục đích cơ bản: Chỉ ra vai trò và những ảnh hưởng của văn hóa Phật
giáo đối với đời sống của người Việt ở Lào, đặc biệt là đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng này
- Tìm hiểu vai trò của Phật giáo Bắc tông Việt Nam trong đời sống của cộng đồng người Việt ở Lào đối với tinh thần hòa nhập vào đời sống văn hóa – xã hội Lào và sự cố kết trong nội bộ cộng đồng người Việt sinh sống tại Lào
Đối tượng nghiên cứu của luận án là văn hóa Phật giáo Bắc tông và cộng
đồng người Việt ở Lào hiện nay Như vậy, đối tượng chính là Phật giáo Bắc tông của người Việt ở Lào Nếu trong nội dung luận án có đề cập đến Phật giáo Nam tông Lào thì đó chỉ là so sánh để làm nổi bật đặc trưng Phật giáo Bắc tông của người Việt ở đây, chứ không phải đối tượng nghiên cứu của luận án Đối tượng nghiên cứu thứ hai, đó là người Việt (người Kinh) đang sinh sống ở Lào, có tín ngưỡng hoặc có cảm tình với Phật giáo Theo đó, đối tượng nghiên cứu của luận án không bao gồm đồng bào trong cộng đồng 54 tộc người ở Việt Nam sang định cư ở Lào Vì vậy, trong luận án này sử dụng cụm từ người Việt hay người Việt Nam ở Lào đều chỉ đối tượng nghiên cứu là người Kinh Đồng thời, luận án nghiên cứu hai nhóm người Việt ở Lào như: một là những người Việt đã có quốc tịch Lào và những người có giấy chứng nhận ngoại kiều của chính phủ Lào hiện đang sinh sống ở Lào; hai là những người Việt sang Lào trên năm năm có ý muốn định cư lâu dài Thiết
Trang 23nghĩ, hai nhóm người này có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau trong sinh hoạt cộng đồng, trong sự hòa nhập văn hóa – xã hội Lào và bảo lưu bản sắc văn hóa tộc người Đối với những người Việt là cán bộ, công chức đang công tác, học sinh, sinh viên đang học tập ở Lào; những người Việt tin theo Phật giáo Nam tông Lào hay các tôn giáo khác thì không thuộc đối tượng nghiên cứu của chúng tôi
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian, luận án tập trung vào cộng đồng người Việt ở bốn tỉnh,
thành của Lào bao gồm cố đô Luang Phabang (Bắc Lào), thủ đô Vientiane (Bắc Trung Lào), tỉnh Savannakhet (Nam Trung Lào) và tỉnh Champasak (Nam Lào) Chúng tôi chọn khảo sát và nghiên cứu tại bốn địa điểm này phụ thuộc vào ba lý do sau Thứ nhất, đây là nơi có lịch sử cư trú lâu đời của nhiều thế hệ lưu dân Việt tại Lào Thứ hai, bốn địa điểm trên là những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của nước Lào nên thu hút số lượng lớn người Việt đến sinh sống Bà con người Việt ở đây lại tổ chức nhiều hoạt động kinh doanh và họ có điều kiện kinh tế khá giả hơn
so với các tỉnh thành khác trên đất nước Lào Thứ ba, cũng chính ở những nơi này
bà con người Việt cùng nhau xây dựng nên những ngôi chùa Phật giáo Bắc tông
- Về thời gian, để có cái nhìn bao quát, luận án sẽ tìm hiểu và nghiên cứu quá
trình di cư và định cư người Việt tại Lào từ buổi đầu qua từng giai đoạn lịch sử quan trọng của cả hai quốc gia Việt Nam và Lào Qua đó xác định quá trình du nhập Phật giáo Bắc tông Việt Nam vào Lào Đối với lĩnh vực văn hóa và vai trò của Phật giáo Bắc tông trong đời sống của người Việt ở Lào, luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu giai đoạn hiện nay, đặc biệt từ sau năm 2004 Đây là năm hai chính phủ Lào và Việt Nam ký hiệp định miễn thị thực VISA cho công dân hai nước mang hộ chiếu phổ thông qua lại với nhau Giai đoạn này đất nước Lào đã bước sang trang
sử mới, thời kỳ xây dựng, phát triển đất nước, hợp tác khu vực và quốc tế, đặc biệt với những quốc gia láng giềng Đồng thời, cũng có nhiều chính sách tác động trực tiếp đến cộng đồng người Việt đang sinh sống tại Lào
Trang 24- Về nội dung, trong đời sống của một cộng đồng tộc người, nói chung, bao
gồm nhiều lĩnh vực như: đời sống chính trị, đời sống kinh tế, đời sống văn hóa,
Do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế và để phù hợp với mã ngành Văn hóa học, luận án chỉ nghiên cứu về đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở Lào
4 Câu hỏi, Giả thuyết và Phương pháp nghiên cứu
a Câu hỏi nghiên cứu: Để giải quyết mục tiêu của luận án, chúng tôi đặt ra
một số câu hỏi như sau:
- Với điều kiện văn hóa – xã hội đặc thù ở Lào, Phật giáo Bắc tông có vai trò, chức năng gì đối với đời sống văn hóa tâm linh và cuộc sống vật chất của cộng đồng người Việt ở Lào?
- Trong môi trường địa văn hóa ở Lào, Phật giáo Nam tông ở Lào là tôn giáo
có ảnh hưởng trùm khắp đến các lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Lào, vì vậy có ảnh hưởng mang tính quyết định hay không đến đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở Lào?
b Giả thuyết nghiên cứu: Nhằm định hướng cho quá trình thực hiện luận
án, chúng tôi tập trung vào một số giả thuyết nghiên cứu như sau:
- Văn hóa Phật giáo Bắc tông đã tác động, ảnh hưởng đáng kể đến mọi mặt của đời sống văn hóa – xã hội của người Việt ở Lào, biểu hiện trên lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể
- Phật giáo Nam tông ở Lào, với tư cách là tôn giáo có ảnh hưởng quan trọng trên nhiều lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Lào, vì vậy cũng có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở Lào, nhưng không mang tính quyết định
c Phương pháp nghiên cứu: Từ các định hướng nêu trên và từ góc độ Văn
hóa học, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn tại bốn
tỉnh thành phố lớn ở Lào như: Luang Phabang, Vientiane, Savannakhet và Lào Để
Trang 25đảm bảo tính khách quan về vấn đề nghiên cứu, đối tượng được chọn phỏng vấn đa dạng về giới tính, vùng miền, nghề nghiệp, trình độ, địa vị xã hội, Chúng tôi chủ yếu sử dụng hình thức phỏng vấn trực tiếp và trao đổi mạn đàm để thu thập thông tin thực tế về các vấn đề liên quan đến nội dung luận án Ngoài đối tượng là người Việt, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn và trao đổi với các đối tượng là tu sĩ Phật giáo Lào, nhà nghiên cứu người Lào Với tư cách là những người lãnh đạo Phật giáo Lào có hiểu biết về Phật giáo Bắc tông và gắn bó với cộng đồng người Việt ở Lào,
đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin xác thật và khách quan về đặc trưng văn hóa Phật giáo, đời sống văn hóa tinh thần của người Việt ở Lào, cũng như mối quan
hệ giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào Chúng tôi đã chọn phỏng vấn theo khu vực như: ở Vientiane phỏng vấn 19 đối tượng, ở Luang Phabang phỏng vấn sáu đối tượng, ở Savannakhet phỏng vấn bảy đối tượng và ở Champasak phỏng vấn năm đối tượng Như vậy, chúng tôi đã thực hiện tổng cộng 37 cuộc phỏng vấn sâu, có tổ chức ghi âm và gỡ băng
+ Phương pháp quan sát tham dự: Từ năm 2005 đến năm 2011, ngoài thời
gian theo học ngôn ngữ tại Đại học Quốc gia Lào, chúng tôi còn trực tiếp tham gia, quan sát các sinh hoạt tôn giáo và đời sống văn hóa của người Việt ở Lào Sau khi
về nước, chúng tôi cũng thường xuyên sang Lào vào những thời điểm và địa phương khác nhau ở Lào có người Việt sinh sống, cụ thể: Đợt 1 (từ ngày 25/10/2012 đến ngày 11/11/2012, tham dự lễ hội Tháp Luổng ở Vientiane); Đợt 2 (từ ngày 30/9/2013 đến ngày 11/10/2013, tham dự lễ Trung thu cho các con em người Việt ở Vientiane); Đợt 3 (từ ngày 11/4/2014 đến ngày 17/4/2014, tham dự lễ hội Năm Mới của Lào ở Savannakhet); Đợt 4 (từ ngày 14/9/2015 đến ngày 13/10/2015, tham gia vận động đại diện các chùa (Phật Tích ở Luang Phabang; Bàng Long, Phật Tích, tịnh xá Ngọc Tâm ở Vientiane; Bảo Quang, Pháp Hoa ở Savannakhet; Trang Nghiêm, Long Vân ở Champasak) và Phật tử người Việt ở Lào thành lập tổ chức Phật giáo của người Việt ở Lào); Đợt 5 (từ ngày 2/3/2016 đến 28/3/2016, tham dự Đại Lễ tưởng niệm cầu siêu anh linh các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc qua các thời kỳ và 64 anh hùng liệt sĩ hy sinh tại đảo Gạc Ma năm 1988; điền
Trang 26dã, khảo sát chùa Phật Tích – Luang Phabang, chùa Bàng Long, chùa Đại Nguyện, tịnh xá Ngọc Tâm – Vientiane, chùa Bảo Quang, chùa Diệu Giác, chùa Pháp Hoa – Savannakhet, chùa Trang Nghiêm, chùa Long Vân, chùa Kim Sơn và chùa Thanh Quang – Champasak); Đợt 6 (từ ngày 6/9/2016 đến ngày 20/6/2016, tham dự Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Lào); Đợt 7 (từ ngày 24/3/2017 đến ngày 30/3/2017, tham dự lễ giỗ Tổ tại chùa Bàng Long ở Vientiane); Đợt 8 (từ ngày 3/4/2018 đến ngày 17/4/2018, tham dự lễ trai đàn kỳ siêu cho tất cả hương linh tại nghĩa trang Việt kiều ở Vientiane nhân ngày lễ Thanh Minh và lễ kỳ siêu Hòa thượng trụ trì chùa Souk Paluang ở Vientiane); Đợt 9 (từ ngày 8/11/2018 đến ngày 15/11/2018, tham dự Lễ Công bố Quyết định và Ra mắt Ban Điều Phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào; Lễ Tưởng niệm, Tri ân và Cầu siêu cho các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam – Lào; Hội nghị Chủ tịch Giáo hội Phật giáo ba nước Đông Dương: Lào – Việt Nam – Campuchia lần thứ nhất do Giáo hội Liên minh Phật giáo Lào đăng cai tổ chức, được diễn ra tại thủ đô Vientiane) Qua các đợt đi thực tế trên, chúng tôi đã thu thập được nhiều thông tin giá trị về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng người Việt tại Lào, thấy được sự khác biệt và tương đồng văn hóa của hai dân tộc Việt Nam – Lào nói chung, văn hóa Phật giáo Bắc tông Việt Nam và văn hóa Phật giáo Nam tông Lào nói riêng
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Là phương pháp nghiên cứu được sử
dụng chủ yếu để bổ sung thêm nguồn tài liệu cấp một cho luận án Năm 2016, chúng tôi đã tiến hành đợt điền dã dài ngày (từ ngày 02 tháng 03 năm 2016 đến ngày 28 tháng 03 năm 2016) ở bốn tỉnh thành phố lớn của Lào, cụ thể: tỉnh Luang Phabang (Ban Watthat, Ban Phrabat, thành phố Luang Phabang), thủ đô Vientiane (Ban Phai, quận Sayxettha; Ban Sihom, quận Chanthabuly; Ban Phosi và Ban Noongteng, quận Sikhottaboong), tỉnh Savannakhet (Ban Xaynhaphum và Ban Lattana Langsi Nua, quận Kaysone và Ban Seno, quận Outhumthon) và tỉnh Champasak (Ban Pungoudom, Ban Thaluang, Ban Hui Pun, Ban Khua Taphan, thành phố Pakse) Trong thời gian điền dã, chúng tôi đã đến khảo sát các cơ sở Phật giáo Bắc tông của người Việt ở các địa phương đã nêu trên Qua đó, chúng tôi đi
Trang 27sâu tìm hiểu những đặc trưng văn hóa Phật giáo Bắc tông cũng như văn hóa tinh thần của người Việt được bảo lưu và biến đổi trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở Lào
- Phương pháp định tính giúp chúng tôi tìm hiểu rõ hơn tính chất của vấn đề, thông qua các cuộc phỏng vấn sâu, trong khi điều tra xã hội học chỉ cho thấy số lượng, không nói lên được tính chất
- Phương pháp định tính và định lượng có mối quan hệ lẫn nhau, giúp tiếp cận, hiểu rõ được vấn đề cần nghiên cứu một cách toàn diện hơn Từ đó, trong thu thập tư liệu, chúng tôi thực hiện cả hai phương pháp định tính và định lượng thông qua mẫu phỏng vấn
a Chọn mẫu
Để đảm bảo tính khách quan của thông tin trong điều kiện thời gian và kinh phí rất hạn hẹp, mẫu nghiên cứu của đề tài này đã được chọn theo cách kết hợp giữa phương pháp phân cụm theo khu vực địa lý, kinh tế, hành chánh và phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Cuộc khảo sát được tiến hành trên các địa bàn thuộc bốn tỉnh, thành phố của Lào đã nêu trên, tại các địa điểm nghiên cứu được chọn có chủ đích
là những nơi có người Việt sinh sống đông và có chùa Việt
Chùa Việt ở Lào, với tư cách là tụ điểm sinh hoạt của cộng đồng, cho nên, quy tụ được đông đảo người Việt, đặc biệt là cộng đồng Phật tử đến chùa vào những ngày lễ hội Thành phần người Việt đến chùa rất đa dạng: viên chức, công nhân, lao động tự do, người buôn bán, người hưu trí,… Về độ tuổi bao gồm mọi lứa tuổi Ở mỗi điểm nghiên cứu chúng tôi chọn mẫu ngẫu nhiên, tùy vào số lượng người Việt
ở mỗi địa bàn mà số lượng bảng hỏi được in sẵn, phát ra nhiều hay ít và cũng tùy vào điều kiện thực tế tại các địa phương ở Lào mà số lượng bảng hỏi thu về cũng khác nhau, cụ thể: Phát ra 400 bảng hỏi: Luang Phabang 50 bảng hỏi, Vientiane 240 bảng hỏi, Savannakhet 50 bảng hỏi và Champasak 60 bảng hỏi Thu về được 386 bảng hỏi: Luang Phabang 49 bảng hỏi, Vientiane 229 bảng hỏi, Savannakhet 50
Trang 28bảng hỏi và Champasak 58 bảng hỏi Sau đó, chúng tôi tiến hành xử lý thông qua chương trình SPSS để thu thập số liệu
b Cơ cấu chọn mẫu
Mẫu nghiên cứu bao gồm là các cá nhân và được phát ngẫu nhiên
Khu vực: Ở Ban Watthat và Ban Phrabat, thành phố Luang Phabang, tỉnh
Luang Phabang: 49 người (12,7%); ở Ban Phai quận Sayxettha, Ban Sihom quận Chanthabuly, Ban Phosi và Ban Noongteng quận Sikhottaboong, thủ đô Vientiane:
229 người (59,3%); ở Ban Xaynhaphum và Ban Lattana Langsi Nua quận Kaysone
và Ban Seno quận Outhumthon, tỉnh Savannakhet: 50 người (13,0%); ở Ban Pungoudom, Ban Thaluang, Ban Hui Pun, Ban Khua Taphan, thành phố Pakse, tỉnh Champasak: 58 người (15,0%)
Nghề nghiệp: Nông nghiệp: 3 người (0,8%), Buôn bán: 218 người (56,5%),
Dịch vụ: 27 người (7,0%), Công chức: 26 người (6,7%), Công nhân: 47 người (12,1%) và Nghề khác: 65 người (16,8%)
Trình độ học vấn: Tiểu học: 119 người (30,8%), Trung học: 198 người
(51,3%), Đại học: 55 người (14,2%) và Trên Đại học: 14 người (3,6%)
Lứa tuổi: Dưới 30 tuổi: 84 người (21,8%), từ 31 đến 40 tuổi: 102 người
(26,4%), từ 41 đến 50 tuổi: 76 người (19,7%), từ 51 đến 60 tuổi: 63 người (16,3%)
và trên 60 tuổi: 61 người (15,8%)
Giới tính: Nam: 136 người (35,2%) và Nữ: 250 người (64,8%)
Cuộc khảo sát ý kiến được tiến hành vào thời gian khác nhau trên các địa điểm, nhưng trong cùng một tháng từ ngày 02 tháng 03 năm 2016 đến ngày 28 tháng 03 năm 2016
- Phương pháp so sánh (comparative research method)
Qua phương pháp này, tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hóa của hai tộc người Việt – Lào khác nhau Từ đó, mới phân tích, đối chiếu và loại trừ để chứng minh yếu tố văn hóa dân tộc Việt Nam và các thành tố
Trang 29văn hóa mới được hình thành trong quá trình tiếp thu văn hóa Lào Thông qua phương pháp so sánh, chúng tôi muốn chứng minh mức độ bảo lưu và biến đổi văn hóa tinh thần của các thế hệ trong cộng đồng người Việt ở Lào Tìm hiểu sự khác biệt giữa văn hóa Phật giáo Nam tông Lào và văn hóa Phật giáo Bắc tông Việt Nam trên cơ sở cùng chịu ảnh hưởng chung từ nền văn hóa Ấn Độ Cuối cùng từ phương pháp này, rút ra những đặc điểm về văn hóa Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của cộng đồng người Việt ở Lào
5 Đóng góp của luận án
Trên cơ sở vận dụng các phương pháp nghiên cứu, luận án sẽ giải quyết các thông tin khoa học và dữ kiện đã được thu thập về cộng đồng người Việt Nam ở Lào từ lịch sử di cư, khu vực định cư đến hiện trạng đời sống văn hóa, xã hội; đặc trưng và vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa của cư dân Việt Nam ở Lào hiện nay Dưới góc độ Văn hóa học, chúng tôi hy vọng luận án có một số đóng góp mới như sau:
+ Về mặt khoa học
- Là công trình tập hợp và hệ thống hóa tư liệu một cách đầy đủ về văn hóa Phật giáo Bắc tông của người Việt ở Lào, tiêu biểu ở bốn tỉnh, thành phố lớn đại diện cho ba miền của Lào, đó là: cố đô Luang Phabang miền Bắc Lào, thủ đô Vientiane, tỉnh Savannakhet miền Trung Lào và tỉnh Champasak miền Nam Lào
- Là công trình đi sâu mô tả, phân tích những khía cạnh về văn hóa Phật giáo Bắc tông của người Việt ở Lào thông qua những đặc trưng văn hóa Phật giáo Bắc tông Việt Nam trong sự bảo lưu và tiếp xúc, tiếp nhận văn hóa Phật giáo Nam tông Lào dẫn đến sự biến đổi nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sự hòa nhập văn hóa – xã hội mới ở Lào của cộng đồng người Việt
- Những kết quả nghiên cứu trong luận án sẽ là cứ liệu tham khảo tin cậy cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về văn hóa và vai trò của Phật giáo Bắc tông Việt Nam trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Việt ở nước ngoài
Trang 30- Ở góc độ lý luận, luận án góp phần làm rõ thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa, chứng minh cho những đặc trưng văn hóa Phật giáo Bắc tông của người Việt ở Lào, trong quá trình phát triển đã biết dựa vào yếu tố nội sinh để lựa chọn, tiếp nhận yếu tố ngoại sinh, từng bước bản địa hóa yếu tố ngoại sinh để làm giàu văn hóa Phật giáo Bắc tông của người Việt ở Lào
+ Về mặt thực tiễn
Qua mô tả và phân tích những đặc điểm văn hóa được kế thừa từ văn hóa Phật giáo Việt Nam, giao lưu văn hóa với văn hóa Phật giáo Lào và vai trò của Phật giáo Bắc tông Việt Nam trong đời sống văn hóa của người Việt ở Lào, hy vọng luận
án sẽ có một số đóng góp về mặt thực tiễn, cụ thể:
- Các cơ quan chức năng của Việt Nam ở trong nước và ở Lào có cơ sở để xây dựng những chính sách, chủ trương thích hợp trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa Phật giáo Bắc tông nói riêng đối với cộng đồng người Việt ở Lào nói riêng và ở nước ngoài nói chung
- Cung cấp những thông tin hữu ích cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Giáo hội Liên minh Phật giáo Lào phát triển mối quan hệ hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Giáo hội và có những hoạt động Phật sự hỗ trợ kịp thời cho sự phát triển Phật giáo Việt Nam cũng như cộng đồng Phật tử người Việt ở Lào
- Giúp cho Tăng Ni, Phật tử người Việt ở Lào có hiểu biết đầy đủ, hệ thống
về những giá trị văn hóa do chính bản thân xây dựng nên, từ đó có trách nhiệm giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa này cho các thế hệ con cháu mai sau
6 Nguồn tài liệu của luận án
Để hoàn thành luận án này trên cơ sở khoa học và khách quan, chúng tôi dựa trên nguồn tư liệu chủ yếu là điền dã, thu thập tại bốn tỉnh thành đại diện cho ba miền của đất nước Lào Đó là thông tin từ kết quả của các cuộc phỏng vấn sâu, trao đổi, thảo luận với các thế hệ, các giai tầng người Việt ở Lào và các nhà nghiên cứu người bản địa có hiểu biết về đời sống người Việt ở Lào Từ năm 2004 đến 2011,
Trang 31trong thời gian theo học tại Trường Đại học Quốc gia Lào, chúng tôi đã từng tham gia sinh hoạt văn hóa với cộng đồng người Việt ở Lào Sau khi tốt nghiệp về nước (2011), nhưng mỗi năm (từ năm 2012 đến 2018) chúng tôi đều thực hiện điền dã ở Lào vào các khoảng thời gian khác nhau trong năm tại nhiều địa phương khác nhau nhằm tìm kiếm cái nhìn tổng quát về Phật giáo Bắc tông Việt Nam và các sự kiện sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Việt ở đây Vì đây là đề tài chưa được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, nên thông tin điền dã qua những đợt phỏng vấn điều tra là nguồn tư liệu quan trọng để hoàn thành luận án này
Ngoài nguồn tư liệu điền dã, chúng tôi còn dựa trên các tài liệu nghiên cứu
về người Việt ở Lào được xuất bản bằng bốn thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Anh và tiếng Pháp Nguồn tài liệu bằng tiếng Việt dựa trên các sách, các bài viết đã công bố trên các tạp chí, công trình nghiên cứu về người Việt ở Lào nói chung và Phật giáo Bắc tông Việt Nam ở Lào nói riêng đã được xuất bản trong nước Ngoài
ra còn có một số văn bản, nghị định, chính sách do các cơ quan chức năng của chính phủ Việt Nam về vấn đề người Việt ở nước ngoài phát hành Bên cạnh đó, chúng tôi còn thu thập nguồn tư liệu từ một số kênh thông tin về kiều bào Việt Nam ở nước ngoài
Mặt khác, nguồn tài liệu bằng tiếng Lào, tiếng Anh mà chúng tôi dùng tham khảo dựa trên một số văn bản về chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồng người Việt mà chúng tôi đã thu thập được ở thư viện Quốc gia Lào, Đại học Quốc gia Lào (Đại học Dongdok) Đối với tài liệu tiếng Pháp chủ yếu là những văn bản viết về người Việt ở Lào dưới thời Đông Dương thuộc Pháp
7 Kết cấu của luận án
Toàn văn luận án được chia thành ba phần:
- Phần chính văn: Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, luận án gồm ba chương: Chương 1 là chương cơ sở lý luận và thực tiễn, bao gồm phần nền tảng lý
luận về văn hóa được sử dụng trong quá trình nghiên cứu và viết luận án; phần xác định tọa độ văn hóa Lào từ các góc nhìn không gian, chủ thể, thời gian; xác định thời gian di cư, hình thành và đặc điểm cộng đồng người Việt ở Lào, cũng như thời
Trang 32gian du nhập và hiện trạng Phật giáo của người Việt ở Lào Chương này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan cũng như những dữ liệu cơ sở để tiếp cận sâu hơn về từng vấn đề của luận án
Chương 2 khảo sát đặc điểm Phật giáo của người Việt ở Lào Trong chương
này, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu, phân tích sự kế thừa đặc trưng văn hóa Phật giáo Bắc tông Việt Nam ở ba miền Bắc, Trung và Nam; mối quan hệ giao lưu văn hóa Phật giáo Nam tông Lào dựa trên ba bình diện (1) sự dung hợp và tính đa dạng; (2) tính nhập thế; (3) tính dân gian và thực tiễn của Phật giáo người Việt ở Lào
Chương 3 trình bày về vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa của
người Việt ở Lào qua một số sinh hoạt tiêu biểu của Phật giáo, nghi lễ vòng đời và
lễ hội nhằm bổ sung một góc nhìn khác về đặc điểm Phật giáo của người Việt ở Lào; góp thêm luận điểm minh định vai trò của Phật giáo Bắc tông Việt Nam đối với đời sống tinh thần của cộng đồng người Việt ở Lào
- Phần tài liệu tham khảo (15 trang) gồm 158 tài liệu, trong đó 115 tài liệu
tiếng Việt, bảy tài liệu tiếng Anh, ba tài liệu tiếng Pháp, 14 tài liệu tiếng Lào và 19 tài liệu từ các trang web
- Phần phụ lục gồm có: Một số kiến nghị, bản đồ, bảng biểu, sơ đồ, danh
mục, biên bản phỏng vấn trích dẫn trong luận án, bảng hỏi, hình ảnh văn hóa Phật giáo của người Việt ở Lào Nội dung các phụ lục này góp phần cung cấp thông tin thực tiễn và luận điểm khoa học trong luận án
Trang 33học Tiêu biểu như Tylor, trong tác phẩm nổi tiếng Văn hóa Nguyên thuỷ, ông cho rằng (theo nghĩa hẹp) tôn giáo là niềm tin đối với một đấng tối cao, thờ cúng các
thần tượng, có tập tục hiến tế, hay có các giáo thuyết hoặc nghi thức nào đó tương
đối phổ biến Còn với L.Feuerbach thì cho rằng tôn giáo là sự khám phá những gì
cất giấu trong con người, là sự thừa nhận những tư tưởng thân thiết nhất của con người, công khai nhất những tình cảm bí mật của con người Đối với C.Mác thì
nhấn mạnh tôn giáo là sự quy định cuộc sống con người bởi ý thức về một mối liên
hệ, gắn tinh thần con người với năng lực huyền bí mà con người thừa nhận (Đặng Nghiêm Vạn, 2003, tr.50-54)
Mỗi nhà nghiên cứu, tùy vào góc độ khoa học mà có một quan điểm riêng của mình về khái niệm tôn giáo Theo nghĩa rộng hay hẹp thì khái niệm tôn giáo phải hàm chứa hai phạm trù: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của các vật thể vô hình Như vậy, tôn giáo là sản phẩm sáng tạo của con người nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần của con người trong xã hội, đến lượt mình, tôn giáo tạo nên những chuẩn mực để xây dựng niềm tin của con người trong mối quan hệ giữa cái thiêng và cái tục, giữa vật
chất với tinh thần (Đặng Nghiêm Vạn, 2003, tr.50-54)
Trang 341.1.1.2 Tín ngưỡng
Theo Đặng Nghiêm Vạn, thuật ngữ tín ngưỡng có hai nghĩa; một là tự do tín
ngưỡng và hai là niềm tin tôn giáo Theo nghĩa một thì tín ngưỡng có một phần nằm ngoài tôn giáo, còn theo nghĩa hai thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cầu thành của tôn giáo (Đặng Nghiêm Vạn, 2003, tr.76) Thực tế, hiện nay vẫn còn
có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng, có người cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng là hai khái niệm khác nhau, lại có người bảo chúng giống nhau như tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới; có người nói tín ngưỡng bao gồm tôn giáo, rồi cũng có ý kiến ngược lại rằng tôn giáo bao gồm cả tín ngưỡng như thờ cây đa, thờ tổ tiên, Thậm chí cũng có người có quan điểm phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng cho rằng tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo (Ngô Đức Thịnh,
2012, tr.11) Trước vấn đề tồn tại nhiều cách hiểu và quan niệm khác nhau, để có định hướng thống nhất trong luận án, chúng tôi đồng tình với quan điểm của Trần Ngọc Thêm (2013) cho rằng:
Tín ngưỡng là sự sùng bái các hiện tượng tự nhiên, nhưng chưa có giáo lý thành văn, không có giáo đường quy mô, nghi lễ đơn giản, nhân sự bán chuyên nghiệp hoặc không có, tổ chức lỏng lẻo Còn tôn giáo là sự sùng bái những đối tượng được thần thánh hóa cao độ, với một hệ thống giáo lý rõ ràng, nghi thức hoàn chỉnh và một tổ chức chặt chẽ (tr.566-567)
1.1.1.3 Văn hóa tôn giáo
Sẽ thật khó có được một khái niệm văn hóa tôn giáo đầy đủ nội dung và bao quát Bởi lẽ, bản thân khái niệm tôn giáo đã phức tạp mà khái niệm văn hóa hiện vẫn đang là vấn đề còn nhiều tranh luận
Dựa trên những cách tiếp cận của từng ngành khác nhau mà có quan điểm về văn hóa khác nhau như các nhà đạo đức học xem văn hoá là đạo đức, các nhà tôn giáo học xem văn hoá là phong tục, tập quán, tín ngưỡng; các nhà dân tộc học xem văn hoá là hình thức biểu hiện đời sống của các tộc người,… Thực tế, có rất nhiều,
Trang 35không hàng chục mà là hàng trăm, định nghĩa khác nhau nhấn mạnh vào từng khía cạnh của văn hóa Trong Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa của UNESCO năm
2001 có định nghĩa văn hóa như sau:
Văn hóa là tập hợp những đặc trưng về tinh thần, vật chất, trí tuệ và xúc cảm của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa chứa đựng, bên cạnh nghệ thuật và văn chương, cả cách sống, phương thức chung sống, các hệ thống giá trị, các tập tục và tín ngưỡng (như trích dẫn ở Phạm Quỳnh Phương
Khi bàn về mối quan hệ văn hóa và tôn giáo, Hoàng Minh Thiện cho rằng: Tôn giáo là một hiện tượng của văn hóa hay là một bộ phận của văn hóa nên
có mối quan hệ phổ biến, cơ bản và quan trọng trong từng giai đoạn lịch sử Văn hóa là toàn bộ những hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật
Trang 36chất và hoạt động tinh thần Nên văn hóa bao trùm cả lĩnh vực tôn giáo (Hoàng Minh Thiện, 2018, đoạn 1)
Từ những quan điểm trên, có thể thấy trong mối quan hệ hữu cơ, tôn giáo là một thành tố của văn hóa, được sinh ra từ văn hóa Các hình thức của tôn giáo tùy thuộc vào tình hình chung của văn hóa Song, tôn giáo cũng nuôi dưỡng văn hóa và thổi hồn cho văn hóa Văn hóa khác nhau làm cho tôn giáo có sắc thái khác nhau và ngược lại tôn giáo khác nhau làm cho văn hóa khác nhau Qua các quan điểm về tôn giáo, tín ngưỡng và mối quan hệ văn hóa và tôn giáo của một số nhà khoa học, có thể hiểu văn hóa tôn giáo như sau: Văn hóa tôn giáo bao gồm những giá trị vật chất (cơ sở thờ cúng, điện thần, tổ chức giáo hội) và tinh thần (giáo lý, kinh điển, nghi thức) được con người sáng tạo nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh của con người và lưu
giữ trong quá trình lịch sử
1.1.1.4 Văn hóa Phật giáo
Văn hóa Phật giáo là một lĩnh vực văn hóa thể hiện cho những giá trị liên quan đến Phật giáo bao gồm khía cạnh vật chất và tinh thần Về vật chất, văn hóa Phật giáo thể hiện qua kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật trang trí, pháp khí,… Về tinh thần, có thể thấy qua các giá trị đạo đức của Phật giáo, tinh thần gắn kết xã hội, nghi
lễ, lễ hội, cùng các hoạt động an sinh xã hội của Phật giáo,… Tất cả những giá trị này đều do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn của cuộc sống Mục đích của việc sáng tạo ra các giá trị văn hóa Phật giáo là nhằm phục
vụ nhu cầu tâm linh và đời sống thực tiễn của con người
Phật giáo là một thành tố của văn hóa Nếu Phật giáo nhìn dưới góc độ Tôn giáo học thì sẽ là một tôn giáo đơn thuần, tức là xét theo tiêu chí của tôn giáo thì có giáo chủ, giáo lý, giáo hội, tín đồ và nghi lễ Tuy nhiên, xét dưới góc độ văn hóa thì văn hóa Phật giáo là một hệ giá trị bao gồm vật chất và tinh thần mang tính lịch sử, luôn biến đổi tùy thuộc vào đặc điểm văn hóa tộc người và thời đại
Như vậy, văn hóa Phật giáo sẽ bắt nguồn từ cốt lõi là Phật giáo luôn gắn liền với thời đại và tộc người Trong đó, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là văn hóa
Trang 37Phật giáo gắn liền với tộc người Việt ở Lào, tức là Phật giáo được biến đổi bằng văn hóa của cộng đồng người Việt
1.1.1.5 Phật giáo Nam tông
Là một tông phái lớn của đạo Phật được hình thành lâu đời nhất và tồn tại
từ xưa đến nay, còn được gọi với nhiều tên khác như: Theravada, Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Tiểu thừa, Phật giáo Nguyên thủy Một số quốc gia có truyền thống theo tông phái này như: Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar, Campuchia và Lào Tam Tạng Kinh điển bằng tiếng Pali là giáo lý nòng cốt của hệ phái này Phật giáo Nam tông chỉ thờ mỗi hình tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, không đặt nặng nghi lễ, không dùng pháp khí và cũng không xướng tán ngân nga mà chỉ tụng kinh suông Mỗi ngày có hai thời tụng kinh lễ bái Tam Bảo vào buổi sáng và buổi chiều Ngoài ra, chư tăng thường chỉ tụng kinh quán tưởng và chúc phúc cho thí chủ trước khi thọ thực Ở chùa không có bếp ăn, thực phẩm hàng ngày do đi khuất thực vào mỗi buổi sáng và trưa tín đồ mang lên chùa dâng cúng, buổi chiều không thọ thực
Tu sĩ được ăn thịt động vật nhưng phải theo phép Tam tịnh nhục2 Y phục chỉ là những tấm vãi vàng quấn quanh người, không may thành trang phục Bình bát là dụng cụ không thể thiếu của mỗi tu sĩ để đi khất thực mỗi ngày, thậm chí sử dụng bình bát để thọ thực3
1.1.1.6 Phật giáo Bắc tông
Còn được gọi là Mahayana, Phật giáo Đại thừa, Phật giáo Bắc truyền, Phật giáo phát triển, là một tông phái lớn của đạo Phật được hình thành từ thế kỷ III trước Công nguyên (O'Neil, 2014, đoạn 2) Những quốc gia có truyền thống theo tông phái này như: Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam Ba tạng Kinh, Luật và Luận nguyên thủy vẫn là giáo lý căn bản của tông phái này, bên cạnh đó còn có kho tàng kinh, luận được phát triển khi truyền bá đến các quốc gia khác nhau và đều được chuyển ngữ thành ngôn ngữ của quốc gia đó
2 Pháp tam tịnh nhục là không nghe, không thấy và không nghi con vật đó chết để làm thức ăn cho mình thì
tu sĩ đó mới được thọ dùng
3 “Lịch sử Phật giáo Nam tông Việt Nam” (2011) Truy xuất từ 650/Lich-su-Phat-giao-Nam-tong-Viet-Nam.html.
Trang 38http://old.phatgiaonguyenthuy.com/news-Trong không gian điện thờ, ngoài hình tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, tông phái này còn thờ hình tượng Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, Bồ Tát và các vị thánh, thần khác Phật giáo Bắc tông chủ trương dung hợp với các tín ngưỡng bản địa, nên dù ở quốc gia nào, tông phái này đều xem trọng nghi lễ, trong lúc hành lễ thường có tán xướng
và sử dụng nhiều pháp khí khác nhau Về pháp phục thì được may thành trang phục với nhiều màu sắc khác nhau phù hợp với từng địa phương và được phân loại pháp phục sinh hoạt hàng ngày và pháp phục lễ hội Truyền thống của tu sĩ Phật giáo Bắc tông là ăn chay từ thực vật, tự chế biến ở bếp ăn của chùa chứ không trì bình khất thực nhận thực phẩm từ tín chủ
1.1.1.7 Đời sống văn hóa
Đời sống văn hóa là bộ phận cấu thành trong đời sống chung của con người
và xã hội Nó bao gồm một tổng hợp những hoạt động, những thành tố văn hóa được lập đi, lập lại, tác động qua lại của mỗi cá nhân và cộng đồng Đời sống văn hóa là gạch nối liền giữa văn hóa của xã hội và văn hóa của cá nhân; là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần có sự tác động lẫn nhau, trên phạm vi không gian nào đó, trực tiếp hình thành nếp sống và lối sống của mỗi cá nhân và cộng đồng Ở bất kỳ cộng đồng nào cũng có đời sống văn hóa phạm vi nhỏ như: cá nhân, gia đình, tập thể nhỏ,… và đời sống văn hóa phạm vi lớn như: làng
xã, quận huyện, khu vực, vùng miền, cộng đồng tộc người, toàn xã hội,… Đây không phải là hai đời sống văn hóa biệt lập mà chúng cùng tồn tại, tác động lẫn nhau (Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng và Nguyễn Văn Hy, 2002, tr.8-9)
1.1.1.8 Di dân
Từ quan điểm của các nhà nghiên cứu về di dân, có thể cho rằng, di cư là sự chuyển dịch của con người từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác trong thời gian nhất định, có thể cư trú tạm thời hoặc vĩnh viễn Từ đó có thể hiểu, di dân là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc thiết lập nơi cư trú mới vào một đơn vị hành chính - địa lý trong một thời gian nhất định (Lê Thị Hồng Diệp, 2007, tr.13)
Trang 39Về không gian, có hai hình thức di dân chủ yếu: Di dân nội địa là sự dịch
chuyển nơi cư trú bên trong biên giới của một quốc gia Di dân quốc tế là sự dịch
chuyển nơi cư trú vượt ra ngoài biên giới của một quốc gia tới quốc gia khác như
trường hợp người Việt di cư sang Lào Về thời gian, có hai hình thức di cư chủ yếu:
Di cư lâu dài là người hoặc nhóm người di cư dịch chuyển nơi cư trú trong một
khoảng thời gian tương đối dài và có ý định ở lại nơi đến Di cư tạm thời là người
hoặc nhóm người di cư dịch chuyển nơi cư trú trong một khoảng thời gian ngắn
trước khi quyết định ở lại nơi đó hay không Di cư mùa vụ là hình thức di cư đặc biệt của di cư tạm thời, là người di cư dịch chuyển nơi cư trú theo mùa vụ thu hoạch
và mùa vụ hoạt động kinh tế để tìm kiếm việc làm, không có ý định ở lại lâu dài tại địa bàn nhập cư và sẽ quay trở lại nơi xuất cư khi hết mùa vụ Đối với cộng đồng người Việt ở Lào ở địa bàn nghiên cứu của chúng tôi có cả di cư lâu dài và di cư
tạm thời Về quy mô, có hai loại hình chủ yếu: Di dân có tổ chức là di cư được diễn
ra thông qua các chương trình của Nhà nước, theo đó, người di cư được định hướng
địa bàn cư trú, công ăn, việc làm để ổn định đời sống Di dân tự do là di cư mang
tính tự phát, mọi vấn đề nảy sinh đều do người di cư quyết định và tự chịu, không nhận được sự giúp đỡ của bất kỳ tổ chức nào Trường hợp cộng đồng người Việt ở Lào cho thấy vừa có loại hình di dân có tổ chức vừa có loại hình di dân tự do (Lê Thị Hồng Diệp, 2007, tr.14-15)
1.1.1.9 Nhập cư, Xuất cư
Có hai khái niệm liên quan đến quá trình di dân đó là khái niệm nhập cư và
xuất cư Nhập cư là sự dịch chuyển của một cá nhân hoặc một nhóm người đến địa
bàn cư trú mới (nơi nhập cư) trong một khoảng thời gian nhất định Xuất cư là sự
dịch chuyển hay rời bỏ nơi cư trú gốc (nơi xuất cư) của người di cư để đến địa bàn
cư trú mới trong hay ngoài biên giới một quốc gia, sinh sống tạm thời hay vĩnh viễn (Phan Thị Hồng Xuân, 2018, tr.4 - 5) Dù nhập cư dưới hình thức nào thì cộng đồng người Việt ở Lào đều có đóng góp nhất định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước Lào Đồng thời, cũng cho thấy, người Việt ở Lào thường có khuynh
Trang 40hướng duy trì mối quan hệ với Việt Nam, song khi họ đã ổn định được cuộc sống ở Lào thì ít có ý định quay về Việt Nam sinh sống
1.1.1.10 Ngoại kiều, Việt kiều
Ngoại kiều là khái niệm để chỉ những người nước ngoài sống trên một nước
sở tại nào đó, mà những người này được hưởng quy chế ngoại kiều do chính phủ nước đó quy định (Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2003, tr.121) Trong thực tế, tùy theo pháp luật của nước sở tại mà quy định ngoại kiều là chỉ những nước ngoài có quốc tịch ở nước sở tại, hoặc bao gồm cả những người có quốc tịch và không có quốc tịch đang sinh sống ở nước sở tại
Việt kiều là cụm từ chỉ chung cho những người Việt Nam đã di cư và đang định cư, sinh sống ở một quốc gia nào đó ngoài nước Việt Nam như: những người Việt đã và đang sinh sống tại Mỹ gọi là Việt kiều Mỹ; những người Việt đã và đang sinh sống tại Lào có quốc tịch Lào hoặc có giấy chứng nhận ngoại kiều của chính phủ Lào thì gọi là Việt kiều Lào Thuật ngữ Việt kiều không bao gồm những người Việt Nam là lưu học sinh đang theo học, cán bộ ngoại giao của chính phủ Việt Nam đang công tác, những nhà kinh doanh, nhưng người lao động theo hợp có thời hạn,… tại nước sở tại (Nguyễn Hồng Quang, 2013, tr.24)
1.1.2 Các lý thuyết tiếp cận
- Thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation)
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trường phái nhân học Anglo Saxon đã đưa ra thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa khi tiến hành nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa của các nhóm di dân người Châu Âu đến Mỹ Kế tiếp, khái niệm “tiếp biến văn hóa” trở nên phổ biến vào những thập niên đầu thế kỷ XX với các nhà Nhân học văn hóa Bắc Mỹ thuộc trường phái “Chủ nghĩa tương đối văn hóa” (Cultural relativism) Cha đẻ được suy tôn của trường phái này là Franz Boas (1858 - 1948), học giả người Mỹ gốc Đức (Do Thái), và thế hệ những học trò của ông như: AL Kroeber, E Sapir, R Benedict, M Herskovits, M Mead,… Trong đó, môn đệ trực tiếp của ông là Kroeber (1876 - 1960) đã viết: