Có thể thấy, trên tivi hoặc các mạng xã hội ở Đài Loan, việc người Việt Nam hướng đến đạo Phật tham gia vào các hoạt động xã hội của Phật giáo cho thấy được sự du nhập của Phật giáo vào
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THANH MAI
VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở ĐÀI LOAN,
TRUNG QUỐC
Ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62.31.06.40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 2cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học
Trang 3MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1.Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
2.1 Về Phật giáo Đài Loan và cộng đồng người Việt Nam ở Đài Loan 3
2.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến đề tài 3
2.3 Các công trình nghiên cứu tại nước ngoài liên quan đến đề tài 4
2.4 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 8
3 Mục đích nghiên cứu 9
3.1 Mục đích chung 9
3.2 Mục đích cụ thể 9
4.Đối tượng nghiên cứu 10
5.Phạm vi nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu 11
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 13
7.1 Ý nghĩa khoa học 13
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 13
7.3.Những đóng góp mới của luận án 13
8 Bố cục của luận án 14
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN , TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA PHẬT GIÁO ĐÀI LOAN VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM HƯỚNG ĐẾN ĐẠO PHẬT Ở ĐÀI LOAN 15
Trang 41.1 Cơ sở lý luận 15
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 15
1.1.2 Quan điểm tiếp cận 19
1.1.3.Các lý thuyết tiếp cận 20
1.1.4 Khung phân tích 22
1.2 Tổng quan về Văn hóa Phật giáo ở Đài Loan 25
1.2.1.Văn hóa Phật giáo chính thống ở Đài Loan……….……… 25
1.2.2.Văn hóa Phật giáo nhân gian thế kỷ XXI ở Đài Loan……… 25
1.3 Tổng quan về cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan 28
1.3.1 Nguồn gốc xuất cư 28
1.3.2 Dân tộc, dân số, và nơi định cư 29
1.3.3 Nghề nghiệp và đời sống kinh tế 31
1.3.4 Quan hệ xã hội cộng đồng 33
1.3.5 Sinh hoạt Tôn giáo, Nghi lễ 34
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM HƯỚNG ĐẾN ĐẠO PHẬT Ở ĐÀI LOAN 38
2.1 Văn hóa Phật giáo trong đời sống của nam giới hướng đến đạo Phật tại Đài Loan 39
2.1.1 Văn hóa Phật giáo trong quan hệ vợ chồng 40
2.1.2 Văn hóa Phật giáo trong công việc 46
2.2 Văn hóa Phật giáo trong đời sống hôn nhân của nữ giới Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan 54
2.2.1 Mặt tốt trong việc áp dụng giáo lý Phật giáo vào cuộc sống hôn nhân 54
2.2.2 Mặt hạn chế trong việc áp dụng giáo lý Phật giáo vào cuộc sống hôn nhân 63
Trang 52.3 Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt Nam lao động hướng đến đạo Phật tại Đài Loan 73
2.3.1 Điểm mạnh trong việc áp dụng giáo lý Phật giáo của lao động Việt Nam hướng đến đạo Phật đối với công việc 74 2.3.2 Mặt hạn chế trong việc áp dụng giáo lý Phật giáo của lao động Việt Nam hướng đến đạo Phật đối với công việc 79
2.4 Văn hóa Phật giáo trong đời sống của du học sinh Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan 84
2.4.1 Văn hóa Phật giáo trong môi trường học tập của du học sinh Việt Nam tiếp cận
đạo Phật tại Đài Loan 84
2.4.2 Văn hóa Phật giáo trong đời sống của du học sinh đến với đạo Phật 92
CHƯƠNG 3:VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM HƯỚNG ĐẾN ĐẠO PHẬT Ở ĐÀI LOAN 101
3.1 Hoạt động từ thiện “Bố thí” của cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan 103
3.1.1 Ý nghĩa hạnh bố thí theo hệ phái Nam tông và Bắc tông của Phật giáo 103
3.1.2 Mặt tốt và mặt chưa tốt trong việc làm từ thiện của cộng đồng người Việt
3.2 Phật giáo ảnh hưởng đến đời sống an sinh xã hội 118
3.2.1 Phật giáo ảnh hưởng đến đời sống an sinh xã hội của cộng đồng người
Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan 118
3.2.2.Những đóng góp an sinh xã hội của cộng đồng người Việt Nam tại Đài
Loan 122
3.3 Nghi lễ - lễ hội trong đời sống của cộng đồng người Việt Nam tại Đài Loan 125
3.3.1 Trong lễ Vu Lan 125
Trang 63.3.2 Trong lễ Phật Đản 136
3.4 Đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội của cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan 141
3.4.1.Đạo đức Phật giáo trong đời sống cá nhân và xã hội hiện đại 142
3.4.2.Sự ảnh hưởng sâu sắc của đạo đức Phật giáo đến đời sống xã hội 149
KẾT LUẬN 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 168
PHỤ LỤC 1
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Đài Loan là một vùng lãnh thổ đã thu hút người Việt Nam đến sinh sống cũng như học tập, lao động, và lấy chồng khá đông Nhất là gần đây cộng đồng người Việt Nam đi theo Phật giáo hiện đang là điểm nóng tại Đài Loan Chính vì thế, các nhà nghiên cứu về Phật giáo trên thế giới cũng như tại Đài Loan đều muốn tìm hiểu về cộng đồng người Việt Nam ảnh hưởng Phật giáo tại lãnh thổ này Để nghiên cứu về
họ quả rất khó khăn, vì ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Hoa của họ còn giới hạn, một số người Việt Nam chưa có Quốc tịch hay hết hạn thẻ thường trú đang bỏ trốn ở lại Đài Loan để lao động bất hợp pháp, vì thế để tiếp cận toàn diện người Việt Nam tại đây
là vấn đề cực kỳ khó khăn
Hiện tại, trên khắp lãnh thổ Đài Loan đều có người tham gia đến chùa hoặc đạo tràng của người Việt Nam, chính vì thế người Việt Nam có thể tìm được nơi tu tập tại chùa khi gặp khó khăn về vật chất lẫn tinh thần Chùa là nơi đã giúp họ từ bỏ nỗi khổ trở về niềm an vui trong cuộc sống Có thể thấy, trên tivi hoặc các mạng xã hội ở Đài Loan, việc người Việt Nam hướng đến đạo Phật tham gia vào các hoạt động
xã hội của Phật giáo cho thấy được sự du nhập của Phật giáo vào cộng đồng người Việt Nam ngày càng nhiều và phát triển mạnh mẽ, vì xã hội Đài Loan quan tâm giúp
đỡ những cộng đồng dân cư mới hòa nhập vào đời sống văn hóa của họ, mà nhất là Phật giáo, bởi Phật giáo ở Đài Loan rất thịnh hành và vì Phật giáo luôn khuyên con người hướng đến điều thiện, vì vậy việc tìm hiểu về người Việt Nam đi theo Phật giáo là điều cần thiết
Phật giáo là một Tôn giáo lớn nên đã trở thành đề tài nghiên cứu thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học xã hội Rất nhiều quốc gia có trung tâm nghiên cứu về đạo Phật Số lượng sách chuyên khảo, bài tạp chí và tài liệu về Văn hóa Phật giáo cũng không ngừng tăng lên, không kém phần phong phú, đa dạng Nhưng qua các tài liệu tham khảo mà tác giả thu thập được chỉ tìm thấy thống kê số lượng về người Việt
Trang 8Nam qua Đài Loan là nữ giới (cô dâu), lao động, du học sinh, nam giới (định cư) tại Đài Loan Cho đến năm 2018 có 1 công trình tại Phật Quang Sơn thống kê về số lượng người Việt Nam tham gia đến chùa Việt Nam tại thành phố Đài Trung khi tham gia vào lễ hội Phật Đản và Vu Lan báo hiếu Chính vì thế cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về Văn hóa Phật giáo trong đời sống người Việt Nam ảnh hưởng Phật giáo ở Đài Loan, Trung Quốc Từ đó, tác giả viết luận án mong muốn được tiếp bước những nhà nghiên cứu đi trước để nghiên cứu bổ sung về phương diện Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt Nam tại Đài Loan, Trung Quốc, đem đến góc nhìn toàn diện hơn về Văn hóa Phật giáo Đài Loan qua người Việt Nam
Luận án đi sâu phân tích ảnh hưởng của Văn hóa Phật giáo đến đời sống vật chất và tinh thần người Việt Nam tại Đài Loan, cụ thể là về văn hóa xã hội, đạo đức,
an sinh, từ thiện…lối sống, lẽ sống, văn hóa ứng xử cá nhân, lãnh đạo với cán bộ công nhân viên và người lao động, lao động với đồng nghiệp, lao động ứng xử với công việc, ứng xử trong việc sử dụng và bảo quản tài sản chung… để có thể nhận thấy dấu ấn văn hóa Phật giáo cá nhân tác động đến đời sống văn hóa xã hội của người Việt Nam ở Đài Loan, ảnh hưởng tới người Việt Nam rõ nét Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp nguồn dữ liệu cập nhật, làm sáng rõ hơn văn hóa Phật giáo trong đời sống cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan
Khi chọn nghiên cứu văn hóa Phật giáo trong đời sống của cộng đồng người Việt Nam đang học Phật tại Đài Loan, chúng tôi nhận thấy sẽ có nhiều khía cạnh cần đặt ra để xem xét, như đặc điểm Phật giáo Đài Loan; những vấn đề khó khăn trong cuộc sống mới của người Việt Nam tại Đài Loan… Từ đó có thể giúp nhìn rõ giá trị văn hóa Phật giáo đã ảnh hưởng đến đời sống của người Việt Nam như thế nào
Luận án Văn hóa Phật giáo trong đời sống người Việt Nam ở Đài Loan, Trung
Quốc là đề tài sẽ góp phần làm rõ được đời sống tâm linh của người Việt Nam tại Đài
Loan, giúp hiểu hơn về đời sống văn hóa và sinh hoạt văn hóa Phật giáo Từ đó, có thể làm tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những nghiên cứu liên quan đến đề tài này cho đến nay còn rất hạn chế Các nghiên cứu cập nhật gần đây nhất chỉ có thể tìm thấy trong thống kê về số lượng người Việt Nam là cô dâu, lao động, du học sinh tại Đài Loan Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về văn hóa Phật giáo trong đời sống cộng đồng người Việt Nam thực hành giáo lý Phật giáo vào đời sống ở Đài Loan, Trung Quốc
2.1 Về Phật giáo Đài Loan và cộng đồng người Việt Nam ở Đài Loan
Tuy đã được đề cập ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan, Trung Quốc Ngoài công trình năm 2018 thống kê số lượng người Việt Nam đến tham gia Lễ Phật Đản và Vu Lan Báo Hiếu
Do người Việt Nam tại Đài Loan không trở thành một cộng đồng sống tập trung, nên khó có thể thống kê số người Việt Nam ảnh hưởng đạo Phật ở Đài Loan, chính vì thế mà những nghiên cứu liên quan đến đối tượng này còn hạn chế, những nghiên cứu cập nhật gần đây nhất chỉ có thể tìm thấy trong những điều tra xã hội học về đối tượng người nhập cư nói chung Có thể kể đến một số công trình dưới đây:
2.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến đề tài
Trong bài nghiên cứu: (Phan An, Phan Quang Thịnh & Nguyễn Quới, 2004, tr 8-9) “Hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan”: NXB Trẻ, TP.Hồ Chí Minh,
chủ yếu thống kê số lượng cô dâu Việt Nam lấy chồng Đài Loan của Cục Lãnh sự
Bộ Ngoại giao Đài Loan từ năm 1994 đến năm 2000, ngoài ra còn có số lượng các cô dâu ở Đông Nam Á cũng tăng khá nhanh Năm 1994, cô dâu người Việt Nam chiếm 10,8%, năm 1995 chiếm 26,0%, năm 1997 là 36,7%, năm 1998 là 52,3%, năm 1999
là 54,8% và năm 2000 là 61,6%
-Trong tạp chí Phật giáo Việt Nam, (Nguyễn Minh Ngọc, 2006, tr.6), số 6,
“Vài nét về Phật giáo tại Đài Loan” Tác giả giới thiệu cơ bản những tương đồng,
khác biệt của Phật giáo Việt Nam và Đài Loan Tác giả còn giới thiệu về việc đào tạo Tăng Ni và Phật tử, cách thờ phụng của Phật giáo tại Đài Loan
Trang 10- Trong tạp chí khoa học, Đại Học Cần Thơ (Lê Nguyễn Đoan Khôi, Nguyễn
Văn Nhiều Em & Nguyễn Thị Bảo Ngọc 2012, tr.190, “Nghiên cứu Phụ nữ lấy chống
Đài Loan và Hàn Quốc ở Đồng bằng sông Cửu Long”, các tác giả chủ yếu phân tích
những nhân tố đã ảnh hưởng đến hôn nhân Việt Nam – Đài Loan và Hàn Quốc qua việc đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hôn nhân quốc tế, đặc biệt trong trường hợp cô dâu Việt Nam lấy chồng Đài Loan và Hàn Quốc ngày càng tăng
-Trong bài nghiên cứu hội thảo quốc tế, Phật giáo Châu Á và Việt Nam trong
tiến trình phát huy văn hóa dân tộc (Thích Triệt Định), 2013,tr 106 Hiện Đại Hóa
Hoằng Pháp- lấy Phật giáo Nhân gian làm thí dụ Bài này chủ yếu nói về Phật giáo
Đài Loan hướng vào xã hội, gần gũi nhân dân và nhập thế vào trong đời sống, làm cho nhân dân có thể nhận biết, tiếp nhận và vận dụng Phật pháp
-Trong bài nghiên cứu hội thảo quốc tế, Phật giáo Châu Á và Việt Nam trong
tiến trình phát huy văn hóa dân tộc (Trương Văn Khải) 2013, tr 303 Sự kế thừa và
điển hình “ Niết Bàn Trần Gian” của Đài Loan- lấy pháp sư Thánh Nghiêm làm mẫu
Bài này chủ yếu đề cập việc Phật pháp đi sâu vào mỗi cá nhân và mở rộng tới từng gia đình, xã hội, cảm hóa lòng người bằng nhiều phương diện khác nhau, giúp họ dễ nhận thức được Phật pháp
2.3 Các công trình nghiên cứu tại nước ngoài liên quan đến đề tài
-Trong tạp chí New York, (Henry Kamm, 1981, Tr.22), Với Bài Viết
“Taiwan’s Aid To Refugees Goes Unrecognized” đã đưa ra con số thống kê vào tháng
12 năm 1985, Đài Loan tiếp nhận 13,800 người Việt Nam nhập cư vào quốc đảo này; trong đó có 13,000 người Việt gốc Hoa mà phần lớn là đến từ thành phố Hồ Chí Minh Một số người Việt Nam bay từ bán đảo Đông Dương, quá cảnh tại Bangkok,
số này được sắp xếp bởi Hội Chữ thập đỏ Số còn lại là những người nhập cư qua đường biển và du học sinh (học sinh du học)
-Trong sách xuất bản năm, (uma a Segal, doreen elliott & nazneen s
Mayadas, 2009, tr.346) “immigration worldwide: policies, practices, and trends”
Xu hướng và thực tiễn Chính sách Nhập cư trên toàn thế giới:Trước những năm 1995
Trang 11thì số lượng người nhập cư vào Đài Loan không nhiều, theo chính sách mở cửa cho phép người nhập cư nhập quốc tịch Đài Loan, thì cho tới cuối năm 1995 mới chỉ có khoảng 100 người có đủ điều kiện nhập cư, nhưng con số này gia tăng nhanh chóng trong những năm tiếp theo Năm 1998, có 3,684 người nhập cư được nhập quốc tịch
và tới năm 2000 thì con số này lên tới 5,198 người Sự tăng trưởng kinh tế Đài Loan giai đoạn 2001–2002 càng khiến xu hướng này phát triển mạnh mẽ Tới năm 2007,
có gần 11,000 người mang nhiều quốc tịch khác nhau được nhập cư vào Đài Loan trong đó có người Việt Nam
- Trong luận văn thạc sĩ, (Trần Trị Huy, 2011, tr.346).“Thực tiễn về tín ngưỡng
Tôn giáo của cô dâu người Việt Nam lấy chồng Đài Loan” Đại học Tế Nam, Viện
nghiên cứu Đông Nam Á (Đài Loan) đề cập trong Luận văn thạc sĩ, tác giả đã tìm ra
20 cô dâu người Việt Nam lấy chồng Đài Loan, nghiên cứu và phân tích quá trình tiếp xúc và tiếp biến tín ngưỡng dân gian Văn hóa Đài Loan Trong đó cũng có nhắc đến các hoạt động của cô dâu tham gia lễ hội Phật Đản
-Trong bài nghiên cứu, (Học giả Ching-Hsing Lin & Hoang Thien Huong
2013, tr.106-110), trong bài viết “Development Of A Questionnaire In Evaluating The
Determinants Of Vietnamese Student’s Return Intention” đã đưa ra số liệu thống kê
trong tổng số 3,7 triệu du học sinh thì có 52% đến từ các quốc gia châu Á Số du học sinh đến Đài Loan là 10.059 sinh viên, trong đó du học sinh Việt Nam chiếm 20%
Số lượng du học sinh Việt Nam tăng nhanh từ 1.537 sinh viên trong năm học 2009 –
2010 lên đến 1.826 sinh viên trong năm học tiếp theo và tiếp tục tăng 15% tương đương với 2.105 sinh viên trong năm học 2011-2012 Bài viết là một nghiên cứu xã hội, đề cập đến một số mặt cơ bản trong đời sống du học sinh, tuy nhiên chưa đi sâu vào lĩnh vực Tôn giáo, đặc biệt là đời sống Phật giáo
-Trong sách, (Yuk Wah Chan, David Haines & Jonathan Lee, 2014, tr.174)
“The Age of Asian Migration: Continuity, Diversity, and Susceptibility Volume 1
Asian Migration Series” Xu hướng quốc tế hóa giáo dục đang tăng nhanh trên thế giới, số lượng du học sinh ngày càng tăng và không nằm ngoài xu hướng này, số lượng du học sinh Việt Nam đi các nước cũng ngày càng tăng, và Đài Loan là một
Trang 12trong những điểm đến của du học sinh Việt Nam Trong top 20 quốc gia du học sinh Việt Nam nhiều nhất thì Đài Loan đứng thứ 7
Theo online application for r.o.c taiwan “travel authorization certificate”,
2014, tr.11 cho biết số liệu thống kê của Cao ủy Liên Hợp Quốc đến tháng 10 năm
2011, thì người Việt Nam là nhóm người lao động nhập cư đông thứ 2 tại Đài Loan, lên tới 94,000 người, tập trung chủ yếu ở khu công nghiệp tỉnh Taoyuan và Changhua
Trước những năm 1995 thì số lượng người nhập cư vào Đài Loan không nhiều, theo chính sách mở cửa cho phép người nhập cư nhập quốc tịch Đài Loan thì cho tới cuối năm 1995 mới chỉ có khoảng 100 người đủ điều kiện nhập cư nhưng con số này gia tăng nhanh chóng trong những năm tiếp theo Năm 1998, có 3,684 người nhập cư được nhập tịch và tới năm 2000 thì con số này lên tới 5,198 người Sự tăng trưởng kinh tế Đài Loan giai đoạn 2001 – 2002 càng khiến xu hướng này phát triển mạnh
mẽ Tới năm 2007, có gần 11,000 người mang nhiều quốc tịch khác nhau được nhập
cư vào Đài Loan Từ xưa thì số lượng phụ nữ được nhập quốc tịch vào Đài Loan luôn
ở mức cao tuy nhiên tới năm 2007, phụ nữ chiếm số lượng áp đảo với tỉ lệ 99% tổng
số người định cư, đa phần họ là những phụ nữ đến từ Việt Nam, Indonesia và Philippine kết hôn với chồng là người Đài Loan
Mặc dù việc môi giới hôn nhân ở Đài Loan là bất hợp pháp nhưng đến năm
2005 ước tính có khoảng 118,000 cô dâu Việt Nam được đưa sang Đài Loan để kết hôn Tuy nhiên do trình độ học vấn hạn chế, lại ít được tiếp cận với thông tin nên các
cô dâu này thường bị bạo hành gia đình và bị ép lao động quá sức Theo thống kê của Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn thì có tới 3,000 cô dâu trở thành người vô gia
cư do bị li hôn hoặc không được bảo lãnh bởi người chồng (online application for r.o.c taiwan “travel authorization certificate”, 2014,1, tr.11)
-Trong trang nghiên cứu giáo dục Đài Loan, (ministry of education, 2017, 22,
tr 6) Republic of taiwan Ministry of education The number of foreign students
studying in taiwan exceeds 17,500 in 2007 Việt Nam đứng đầu trong danh sách 117
Quốc gia có lưu học sinh đến Đài Loan học tập (số lượng sinh viên Việt Nam có 806
du học sinh) học chương trình sau Đại học Có tổng cộng 9135 người vào năm 2006
Trang 13và 10.177 người trong năm 2007 đang theo học tại các trung tâm ngoại ngữ trong các trường đại học, đăng ký tăng 1.042 người Sinh viên học ngoại ngữ trong năm 2007 đến từ các nước châu Á với tổng số 5860 người, sinh viên đông nhất đến từ Mỹ với tổng số 2403 Sinh viên Việt Nam học về ngôn ngữ có 470 du học sinh Việt Nam
-Trong sách, (tony fielding, 2015, tr.80-82), asian migrations: socialand
geographical mobilities in soulheast, east, and Routledge xuất bản năm 2015 cho
biết sau độc lập giải phóng hoàn toàn miền Nam thì có khoảng 260 nghìn người Việt Nam (trong đó có 230000 là người gốc Hoa đã di cư sang nước khác, trong đó có Đài Loan, họ vượt biên theo đường biển, lênh đênh trên biển, sau đó được ở trại tị nạn của Đài Loan Tổng số người Việt Nam ở Đài Loan là (hợp pháp) 80,000 người, số liệu 2010, pp 80-82
-Trong bài nghiên cứu, (Ming Jen Yu, 2018, Tr.136) “Vietnamse New
Immigtants And Their Buddhist Belief:A Case Study Of Taiwan Vietnam Chih Der Buddhist Cultural Exchange Association”, Những người nhập cư mới và niềm tin
Phật giáo của người Việt Nam: Hiệp hội giao lưu văn hóa Phật giáo Chih Der Việt Nam Đài Loan Trong bài này chủ yếu nghiên cứu về cộng đồng dân cư người Đông Nam Á mới đến Đài Loan sinh sống, học tập và lao động theo Phật giáo ngày một phát triển, tác giả đã thống kê được những người tham dự tại đạo tràng Trí Đức, do một Ni cô du học lập lên cho cộng đồng người Việt Nam tại Đài Loan tu học Cộng đồng người Việt Nam đang phát triển rất mạnh trong nhiều lĩnh vực như Nghi Lễ Vu Lan, Phật Đản; Khóa tu một ngày an lạc; Lễ cầu an-cầu siêu đầu năm, dịch vụ dành cho người già và người vô gia cư, hoạt động phát học bổng cho học sinh nghèo tại Việt Nam tại Đạo Tràng Trí Đức hiện tại có khoảng hơn 2000 người Việt Nam tham dự trong các ngày lễ lớn này Trong bài nghiên cứu này chỉ thống kê các hoạt động nào mà họ đến tham dự đông nhất trong phạm vi Đạo Tràng Trí Đức
Nguồn tư liệu nghiên cứu: Trên cơ sở sưu tầm tại các thư viện của Đài Loan
và quốc tế, nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu được sử dụng phục vụ cho luận án như các sách chuyên khảo, các luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học, các bài nghiên cứu về Phật giáo, đời sống văn hóa người Việt Nam; nguồn tài liệu khác về nhân học văn
Trang 14hóa, văn hóa dân gian, lịch sử, dân tộc học, tôn giáo học…
Ngoài ra, Tôi đã có thời gian sinh sống và học tập tiến sĩ bốn năm tại Đài Loan, đồng thời cũng là Phật tử, tham gia các sinh hoạt của người Việt Nam và người Đài tại Đài Loan, phỏng vấn trực tiếp họ, đã thông qua công năng trực nghiệm lãnh hội trực tiếp giáo lý đạo Phật áp dụng trong đời sống, đồng thời cũng sưu tầm được nhiều tài liệu tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Hoa phục vụ đề tài
Qua những tài liệu trên cho thấy đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể về cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan cũng như lĩnh vực đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng người Việt Nam ảnh hưởng Phật giáo ở Đài Loan
2.4 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Thông qua việc hệ thống các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, chúng tôi rút ra một số nhận định sau:
-Các công trình trên đã nghiên cứu về người Việt Nam, về số lượng và tổng quan về đời sống của người Việt Nam, về việc làm và việc học tập của họ tại Đài Loan có những đặc điểm khác nhau, về mục đích đến Đài Loan; đời sống vật chất và đời sống tinh thần; thể hiện qua đời sống văn hóa Đài Loan, an sinh xã hội, kinh tế, sinh hoạt văn hóa…Trong các công trình trên, chủ yếu đề cập nhiều về các hoạt động của Văn hóa Phật giáo của cô dâu Việt Nam, lao động, du học sinh, người định cư Các nhà nghiên cứu đã đưa ra số lượng người Việt Nam sinh sống tại Đài Loan, chủ yếu giới thiệu hoặc miêu tả tổng quan về con đường hòa nhập đời sống Văn hóa Đài Loan
- Các công trình trên đều có ý nghĩa tham khảo quan trọng ở hai khía cạnh lý luận và thực tiễn Trên cơ sở đó làm tiền đề cho người nghiên cứu về đời sống người Việt Nam tại Đài Loan Ngoài ra, tìm hiểu nghi lễ, lễ hội Phật giáo Đài Loan, bản sắc văn hóa Phật giáo được gìn giữ và phát huy theo thời gian và đã tồn tại đến ngày nay, được phát triển mạnh tại Đài Loan, tác giả đã thu thập được các tài liệu có liên quan đến đề tài chủ yếu dựa vào tư liệu cũng như công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, giúp tác giả định hướng và lập quy trình nghiên cứu luận án một cách
Trang 15khoa học dựa trên giả thuyết nghiên cứu thông qua các tài liệu có liên quan đến đề tài của luận án, tài liệu tham khảo đó làm cơ sở nền tảng bổ ích để đưa đến những kết luận khách quan và tính mới của luận án
Từ đó, tác giả luận án mong muốn được tiếp bước những nhà nghiên cứu đi trước để nghiên cứu bổ sung về phương diện văn hóa Phật giáo trong đời sống người Việt Nam tại Đài Loan, Trung Quốc, đem đến góc nhìn toàn diện hình ảnh về Đài Loan qua người Việt Nam
-Qua luận án, chúng tôi cũng hy vọng sẽ làm sáng tỏ quá trình tiếp nhận giáo lý Phật giáo của kiều bào người Việt Nam tại Đài Loan để độc giả có cái nhìn bao quát và toàn diện hơn bức tranh về sự phát triển cũng như những giá trị văn hóa Phật giáo trong cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan
Trang 164.Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu Văn hóa Phật giáo của cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan, đang sinh sống tại Đài Loan, gồm :
-Cộng đồng người Việt Nam tại Đài Loan được hình thành từ những năm 1978
… và cho đến nay, đã tham gia vào các hoạt động Phật giáo và ảnh hưởng như thế nào thể hiện qua hoạt động Văn hóa Phật giáo về an sinh xã hội, Văn hóa Phật giáo
từ thiện, Văn hóa Phật giáo lễ- hội, Văn hóa Đạo đức
-Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của các cá nhân như nam giới ( định
cư), nữ giới ( cô dâu), du học sinh và người lao động thể hiện qua văn hóa mưu sinh, văn hóa gia đình, văn hóa ứng xử xã hội…
- Cộng đồng người Việt chịu ảnh hưởng văn hóa Phật giáo thể hiện qua thực hành giáo lý đạo Phật, áp dụng giáo lý đạo Phật vào đời sống cá nhân cũng như đời sống xã hội, họ đã trải qua công năng trực nghiệm lãnh hội vào đời sống Văn hóa Phật giáo ở Đài Loan
5.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian
Những người Việt Nam tới Đài Loan từ năm 1987 cho đến nay, để có cái nhìn bao quát, luận án đã tìm hiểu quá trình di cư và định cư của cộng đồng người Việt Nam đến vùng lãnh thổ Đài Loan Qua đó xác định quá trình ảnh hưởng của người Việt Nam đến với Phật giáo bản địa Luận án chủ yếu nghiên cứu hiện tại cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống tại lãnh thổ này Đó là sự xuất hiện của người Việt Nam trong phạm vi về thời gian nghiên cứu để nhìn rõ về thời gian họ tham gia vào các sinh hoạt văn hóa Phật giáo như văn hóa cá nhân, văn hóa xã hội
Phạm vi không gian
Đài Loan là vùng lãnh thổ nhỏ, có thể ngồi tàu điện ngầm đi trong ngày sẽ
đến các thành phố chính của Đài Loan, đi từ miền Bắc đến miền Trung cuối cùng là miền Nam Chúng tôi nghiên cứu trong phạm vi là các thành phố lớn Tân Bắc, Đài Bắc, Đài Trung, Cao Hùng.Vì các thành phố này là trung tâm lớn và hội tụ dân số
Trang 17người Việt Nam tham gia sinh hoạt trong các ngôi chùa lớn Thành Phố Đài Bắc như Tịnh Tông Học Hội, Từ Tế, Cổ Sơn ở Tân Bắc, Thiền Tự Đài Trung tại thành phố Đài Trung, Phật Quang Sơn tại Cao Hùng Ngoài ra còn có các ngôi chùa Việt Nam Linh Sơn Đài Bắc, Đạo tràng Từ Quang, Đạo tràng Trí Đức, thành phố Đài Trung có chùa Việt Đài Trí Đức, Thành phố Cao Hùng chùa Việt Đài Trí Đức, không gian nghiên cứu chủ yếu tại các điểm trên Ngoài ra, các sinh hoạt văn hóa xã hội thì mỗi vùng miền, tùy thuộc nhiều điều kiện chủ quan và khách quan khác nhau, đã hình thành nên các đạo tràng và tông phái khác nhau của cộng đồng người Việt Nam khi tham gia vào các công việc hoạt động văn hóa Phật giáo trong đời sống xã hội, những ngôi chùa này chủ yếu đạo Phật đi theo ba tông phái chính là Tịnh Độ tông, Mật tông, Thiền tông mà cộng đồng người Việt Nam đang trên con đường học đạo, Đây là những địa bàn mà chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát phục vụ cho luận án
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án này, chúng tôi chọn các phương pháp nghiên cứu như
định tính và phân tích, so sánh đối chiếu nhằm nhìn rõ được Văn hóa Phật giáo bổ
sung và khắc phục những khiếm khuyết của nhau trong quá trình thu thập thông tin Các phương pháp này được vận dụng như sau:
-Phương pháp phân tích- tổng hợp (Meta - Analysis): Được ứng dụng trong
nhiều ngành khoa học Phương pháp này được tiến hành qua các công đoạn như: thu thập, kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả phân tích dữ liệu trong toàn luận án
-Phương pháp nghiên cứu định tính (Qualitative Research)
Vận dụng các phương pháp điền dã , quan sát-tham dự và phỏng vấn sâu
(indeep interview) ; phỏng vấn tập trung (focus group) nhằm để tìm ra những nét tương đồng và sự khác biệt của các văn hóa cá nhân và văn hóa xã hội, từ đó nâng cao độ tin cậy của kết quả (johnw Creswell, 2009, pp 173- 201)
-Phương pháp so sánh (Comparative research method):
Chúng tôi phân tích các câu hỏi sâu trong bước 4 Tìm ra những điểm đặc sắc của văn hóa cá nhân cũng như văn hóa xã hội thể hiện qua văn hóa vật chất và văn
Trang 18hóa tinh thần của cộng đồng người Việt Nam ở Đài Loan Từ đó nhìn ra được sự tương đồng và sự khác biệt của họ trong đời sống văn hóa và Văn hóa Phật giáo tại Đài Loan
Bước 1: Khảo sát tiền trạm ở Đài Loan để xác định các huyện và các thành phố có người Việt Nam hướng đến đạo Phật tham gia các sinh hoạt Phật giáo tại các chùa, sau đó chúng tôi lên danh sách về không gian, thời gian và chủ thể trong việc nghiên cứu, tập trung nơi cộng đồng người Việt Nam đến tham dự nhiều nhất
Bước 2: Nội dung phỏng vấn được tập trung vào đời sống văn hóa cá nhân và đời sống văn hóa cộng đồng người Việt Nam ảnh hưởng đạo Phật như: công việc mưu sinh , mức sống, điều kiện sống,…; quan hệ văn hóa cá nhân đối với xã hội và quan hệ cộng đồng trong các sinh hoạt xã hội như: hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội, hoạt động nghi lễ, an sinh xã hội, văn hóa đạo đức, Chúng tôi chọn như trên là do người Việt Nam tham dự nhiều nhất Người nghiên cứu muốn đi sâu vào khai thác nhóm và cá nhân để nhằm gợi ý cho người đi phỏng vấn nắm vững vấn đề khi khai thác và thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu
Bước3 :Phỏng vấn sâu là cách thu thập các thông tin bằng những cuộc đối thoại
có chủ đích của người nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu Cách này sẽ giúp người nghiên cứu thu được những thông tin có chiều sâu để bổ sung, kết hợp phương pháp phỏng vấn đối thoại , cá nhân và nhóm (thâu âm, video), với nhiều lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp xã hội khác nhau để đảm bảo tính khách quan
Bước 4: Phân tích và vận dụng các câu hỏi phỏng vấn như :Tổng hợp các ý chính của các đối tượng để tìm ra sự tương đồng và sự khác biệt giữa các sinh hoạt Phật giáo 1) sinh hoạt văn hóa chùa Việt Nam và sinh hoạt văn hóa chùa Đài Loan 2) người có quốc tịch và người không có quốc tịch 3) sự khác biệt về công việc và độ tuổi và giới tính 4) thời gian tiếp cận Phật pháp ngắn và thời gian dài, của từng đối tượng và tóm lại ý chính của các nhóm người Việt Nam hướng đến đạo Phật đi vào nghiên cứu trong luận án
Trang 197 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
7.1 Ý nghĩa khoa học
(1) Tập hợp và hệ thống hóa tư liệu một cách đầy đủ; vận dụng các lý thuyết cơ bản về văn hóa Phật giáo kết hợp tìm hiểu các đối tượng người Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan nhằm lý giải về đời sống văn hóa của cộng đồng này (2) Khái quát về điều kiện sinh sống, làm việc và những đóng góp công ích cho xã hội của cộng đồng người Việt Nam ảnh hưởng Phật giáo tại Đài Loan Từ đó tìm hiểu về cách thức hòa nhập, đặc trưng trong lối sống và lối hành đạo của người Việt Nam tại khu vực này
(3) Luận án nêu lên giá trị văn hóa Phật giáo và những cách thức gây ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng người Việt Nam học Phật tại Đài Loan
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
(1) Luận án cung cấp hệ thống các nguyên nhân người Việt Nam tin theo Phật giáo Đây sẽ là nguồn thông tin quý giá cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham khảo
và học hỏi về cách thức tổ chức của giáo hội tại Đài Loan
(2) Kết quả luận án có thể trở thành tư liệu tham khảo cho những nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu về Tôn giáo, đời sống văn hóa Phật giáo của người Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan
7.3 Những đóng góp mới của luận án
-Luận án đã phần nào lý giải được yếu tố cốt lõi quyết định đến niềm tin của cộng đồng Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan
-Luận án đã nêu lên nguyên nhân thịnh hành Phật giáo dựa vào những đặc điểm trong môi trường hoằng pháp của Đài Loan
-Luận án cũng khái quát được tầm ảnh hưởng quan trọng của Phật giáo đến cộng đồng người Việt Nam trong việc duy trì, bảo tồn và phát triển đạo pháp, thể hiện qua mặt tốt và các mặt hạn chế của Phật giáo áp dụng vào đời sống cá nhân và xã hội
-Luận án đã so sánh được những điểm tương đồng và khác biệt về giá trị vật
Trang 20chất và tinh thần của người hướng đến đạo Phật và không hướng đến đạo Phật cũng như giá trị văn hóa Việt Nam và giá trị văn hóa Phật giáo
tử tại Đài Loan và sự phát triển của Phật giáo Đài Loan thế kỷ XXI
Chương 2: Văn hóa Phật giáo trong đời sống cá nhân của người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan Để đi sâu tìm hiểu văn hóa Phật giáo trong đời
sống cá nhân, về đời sống vật chất và tinh thần của Phật tử Việt Nam ở Đài Loan, chúng tôi đi sâu tìm hiểu Văn hóa Phật giáo trong đời sống nam giới (định cư) tại Đài Loan; nữ giới(cô dâu) Việt Nam tại Đài Loan; người lao động Việt Nam tại Đài Loan;
du học sinh Việt Nam tại Đài Loan
Chương 3: Văn hóa Phật giáo trong đời sống xã hội của người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan Trình bày những ảnh hưởng của văn hóa Phật
giáo thể hiện qua các hoạt động tập thể (từ thiện, an sinh xã hội, lễ hội, đạo đức ) và
các nghi lễ Phật giáo của cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài
Loan
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN , TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA PHẬT GIÁO ĐÀI LOAN
VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM HƯỚNG ĐẾN ĐẠO PHẬT Ở ĐÀI
LOAN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Văn hóa Tôn giáo: Qua định nghĩa này cho thấy, tôn giáo là một trong các lĩnh
vực của văn hóa trong mối quan hệ Văn hóa và tôn giáo
Một số nhà nghiên cứu về tôn giáo cũng cho rằng, văn hóa tinh thần là lĩnh vực biểu hiện của tôn giáo, tôn giáo và văn hóa không tách biệt nhau, tôn giáo không vượt
ra ngoài khuôn khổ của văn hóa Với tư cách là một hiện tượng văn hóa, tôn giáo không bị mất đi những đặc điểm vốn có của nó Mặt khác, một chỉnh thể văn hóa không thể thiếu tôn giáo (Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh và Lê Hải Thanh,
2005, tr.285) Malinowski cho rằng, phàm có văn hóa thì tất có tôn giáo.Tuy nhu cầu của văn hóa đối với tôn giáo là phát sinh, gián tiếp, nhưng đến cùng, tôn giáo lại cắm
rễ sâu vào nhu cầu của nhân loại và thỏa mãn những nhu cầu ấy (Trương Trí Cương,
2007, tr.33) Clifford Geertz là người thuộc trường phái nghiên cứu biểu tượng, nhìn nhận tôn giáo như là một hệ thống văn hóa Ông chủ trương khi nghiên cứu về tôn giáo trước hết cần phải phân tích hệ thống ý nghĩa gắn với biểu tượng tôn giáo Tuy nhiên, một biểu tượng có nhiều ý nghĩa khác nhau, nên sẽ không dễ hiểu nếu không đặt nó trong bối cảnh đặc thù với các sự kiện văn hóa, xã hội của một nền văn hóa (Phạm Quỳnh Phương và Hoàng Cầm, 2013, tr.119-120)
Theo chúng tôi, cho đến nay chưa có một khái niệm văn hóa tôn giáo đầy đủ nội dung và bao quát toàn bộ về văn hóa tôn giáo Bởi vì khái niệm văn hóa tôn giáo
đã phức tạp và đa dạng mà khái niệm văn hóa vẫn đang trong tiến trình nghiên cứu
Vì tôn giáo nào cũng có các thành tố văn hóa ở góc độ khác nhau Nhưng tôn giáo và văn hóa đều hỗ trợ cho sự phát triển của con người, nhằm phục vụ cho con người đó
là đời sống vật chất và đời sống tâm linh Trong tôn giáo có văn hóa, trong văn hóa
Trang 22có tôn giáo Văn hóa và tôn giáo không thể thiếu những giá trị vật chất (kinh tế, cơ
sở thờ cúng, ăn mặc,…) và tinh thần (giáo lý, kinh điển, nghi thức; vui chơi, giải trí,…) được con người sáng tạo nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh của con người và lưu giữ trong quá trình lịch
sử Như vậy, văn hóa tôn giáo cũng giống như văn hóa Phật giáo
Phật giáo: là một nền giáo dục lớn của nhân loại Có thể khẳng định rằng Phật
giáo không chỉ được biết đến như là một tôn giáo đơn thuần mà còn là một nền giáo dục, triết lý nhân sinh sâu sắc, mà đôi lúc khoa học chưa thể cho chúng ta một đáp án thật chính xác
Phật giáo được sáng lập trên căn bản trí tuệ, lấy trí tuệ của Đức Phật làm nền tảng để con người hướng đến sự giải thóat Cũng chính vì vậy, Phật giáo luôn phản ánh những quy luật ứng với xã hội và gắn liền với xã hội, không xa rời xã hội, gần gũi với khoa học về những quy luật tự nhiên của cuộc sống Phật giáo chủ trương công bằng, con người có quy luật nhân quả tức là con người là chủ nhân của chính mình Rất nhiều người khi ngộ đạo họ đều khẳng định rằng: Phật giáo không phải là một tôn giáo đơn thuần, mà là một nền giáo dục thân tâm toàn diện của muôn loài Phật giáo không phải là một tín ngưỡng có hệ thống, lấy đức tin và tôn sùng lễ bái làm cứu cánh, mà lấy giáo lý làm kim chỉ nam cho cuộc sống hàng ngày Giáo lý Phật giáo nhấn mạnh vào tình trạng thể chất, xã hội, tinh thần và trí tuệ của các cá nhân sống trong xã hội (Karunarathne W.S “ Buddhist Essáy, Samaranayaka Publication”, 1993, Tr.24)
Văn hóa :Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần,
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trương tự nhiên và xã hội của mình (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.17) Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
Văn hóa vật chất và tinh thần: Con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu
cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, do vậy, con người cũng có hai loại hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Từ đó, văn hóa như một hệ thống thường được chia làm hai dạng: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Trang 23Văn hóa vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất
vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại…
Văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất
tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật,
lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương… (Trần Ngọc Thêm,
2013, “Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần”, tr.43)
Văn hóa Phật giáo tác động đến đời sống cá nhân : Theo chúng tôi Văn hóa
Phật giáo trong đời sống cá nhân đã tác động bởi giáo lý của đức Phật, lấy giáo lý đạo Phật làm kim chỉ nam cho đời sống thường ngày, luôn chấn chỉnh và tu sửa bản thân, không thể thiếu đi hạnh từ bi và trí tuệ Phật giáo đã giúp họ nhìn ra được nếu muốn thành đạt trong mọi sự ta phải lấy thành quả trí tuệ nào mà hướng thiện, không làm những việc thất đức, mà quên đi hạnh từ bi, nhẫn nhịn, để đạt đến sự thành công trong đời sống là không thường còn, mà phải chịu sự khổ đau trong hiện tại và trong tương lai, chính là nhân quả Đạo và đời không thể thiếu đi đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Văn hóa Phật giáo tác động đến đời sống xã hội: Theo chúng tôi Văn hóa
Phật giáo không chối bỏ, không chống đối đời sống xã hội Mà đạo Phật giúp tổ chức trật tự xã hội, phúc lợi xã hội, xây dựng xã hội Gạch nối cá nhân và xã hội, đem đạo vào đời xây dựng đời sống văn hóa hướng đến tốt đẹp, mang lại lợi ích cho cộng đồng, nhân loại cùng tồn tại và phát triển
Chất lượng sống (Quality of living): là những mức độ mà con người hưởng thụ
và trải nghiệm cuộc sống, được phân cấp dựa trên những thước đo giá trị và thông qua việc cảm nhận của con người
Cuộc sống đầy đủ về vật chất chưa hẳn đã giúp con người có được chất lượng sống cao, định nghĩa chất lượng sống nhấn mạnh đến mức độ hài lòng về cuộc sống, khi mà mong muốn của con người chỉ nằm trong những nhu cầu cơ bản của cuộc sống thì cuộc sống trở nên đơn giản hơn và mức độ hài lòng cũng sẽ cao
Trang 24hơn bởi những nhu cầu đó dễ dàng được thỏa mãn (Rice, R W', 1984, tr.16) Dựa trên định nghĩa chất lượng sống để tìm ra giá trị của văn hóa Phật giáo của cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan về đời sống cá nhân,
xã hội dựa trên đời sống vật chất và tinh thần (mức sống, điều kiện sống, nếp sống, lối sống, lẽ sống,…) Môi trường tự nhiên và xã hội (sinh hoạt an sinh xã hội, an ninh
xã hội, đạo đức xã hội, vui chơi giải trí,…) Chỉ ra được những đặc trưng, những ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Việt Nam
Giao lưu tiếp biến văn hóa (Cultural exchanges):
Giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa
(của hai cộng đồng, hai dân tộc, hai đất nước) và giao lưu là hình thức quan hệ trao đổi văn hóa cùng có lợi, giúp đáp ứng một số nhu cầu không thể tự thỏa mãn của mỗi bên, giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa để từ đó làm nẩy sinh nhiều nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển Do đó giao lưu văn hóa là dạng cộng sinh giữa các nền văn hóa (Hà Văn Tấn, 2005, tr 175)
Dựa trên khái niệm giao lưu tiếp biến văn hóa và phương pháp so sánh văn hóa, giúp luận án nhận diện được văn hóa Phật giáo Đài Loan và sự giao lưu tiếp biến văn hóa của cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan Qua đó có thể thấy rõ được đặc điểm Phật giáo của người Việt Nam tại Đài Loan và vai trò của Phật giáo trong đời sống văn hóa của người Việt Nam tại Đài Loan , mà người Việt Nam đã ảnh hưởng đời sống của họ khi tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc cả hai nhóm hoặc nhiều nhóm về sự đồng hóa về văn hóa, sự hòa nhập văn hóa, sự dung hợp văn hóa sự thích nghi văn hóa để giao tiếp văn hóa với môi trường hiện tại Chính vì thế giao lưu tiếp biến văn hóa sẽ góp phần hình thành nên sự đa dạng văn hóa Phật giáo của cộng đồng người Việt Nam tại Đài Loan
Khái niệm cộng đồng (Community): Cộng đồng tính và cộng đồng thể
Cộng đồng tính là thuộc tính hay quan hệ xã hội như tình cảm cộng đồng,
Trang 25tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng…Cộng đồng thể là các nhóm người, nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều thể có quy mô khác nhau (Tô Duy Hợp; Lương Hồng Quang, 2000, tr 15)
Dựa trên khái niệm cộng đồng chúng tôi tìm ra các thành tố văn hóa Phật giáo như nhận thức, tổ chức, ứng xử môi trường tự nhiên và ứng xử xã hội Qua đó có thể thấy rõ được những hoạt động của họ trong văn hóa cộng đồng tính và cộng đồng thể trong đời sống văn hóa Phật giáo người Việt Nam hướng đến đạo Phật tại Đài Loan
1.1.2 Quan điểm tiếp cận
Với việc nghiên cứu về văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan
- Chúng tôi chọn quan điểm tiếp cận từ khoảng cách đối lập đời sống văn hóa
và đời sống văn hóa Phật giáo “ trong đó chủ yếu đi sâu vào tìm hiểu chất lượng sống trong đời sống văn hóa Phật giáo và trong đời sống văn hóa cá nhân”
- Chúng tôi chọn quan điểm tiếp cận từ văn hóa cộng đồng, “văn hóa cộng đồng” được chúng tôi tiếp cận theo hai cách hiểu về cộng đồng “văn hóa cộng đồng tính và văn hóa cộng đồng thể” để làm cơ sở giải quyết các vấn đề cho việc nghiên cứu
Đời sống văn hóa là bộ phận để làm tiêu chí cho chất lượng sống trong đời sống chung của mỗi con người và xã hội Trong đó nó tổng hợp những thành tố văn
hóa tác động qua lại với đời sống của mỗi cá nhân và cộng đồng Đời sống văn hóa
là gạch nối liền giữa văn hóa của xã hội và văn hóa của cá nhân trong văn hóa cộng
đồng; là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần có sự tác động lẫn nhau, trên phạm vi không gian nào đó, trực tiếp hình thành mức sống, điều kiện
sống, nếp sống, lối sống và lẽ sống của mỗi cá nhân và cộng đồng tính là một đặc tính
xét trên những quan điểm của giá trị luận, là những giá trị tốt đẹp của quan hệ giữa
người và người, cộng đồng thể trong đời sống văn hóa và văn hóa Phật giáo; thứ nhất
liên quan tới cái nhìn về địa lý, coi cái nhìn cộng đồng là một nhóm cư dân cùng sinh
Trang 26sống trong một địa vực nhất định, có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản; thứ
hai coi cộng đồng là nhóm dân cư cùng có chung những mối quan tâm cơ bản như nhận thức, tổ chức, ứng xử môi trường tự nhiên và xã hội (Tô Duy Hợp; Lương Hồng
Quang, 2000, tr 15)
Luận án của chúng tôi nghiên cứu về Văn hóa Phật giáo trong đời sống của người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan, để xem xét sự biến đổi của họ trong đời sống văn hóa và trong đời sống văn hóa Phật giáo của họ trong những năm gần đây
1.1.3 Các lý thuyết tiếp cận
-Lý Thuyết Chức năng luận (functionism): Thuyết của Malinowski quan niệm văn hóa
xây dựng trên những nhu cầu sinh vật của cá nhân, là điểm quy chiếu từ đó có thể rút ra những điểm tương đồng giữa các xã hội đơn giản và phức tạp
-Lý thuyết này tìm ra chức năng thỏa mãn nhu cầu sinh vật của cá nhân, thỏa mãn nhu cầu xã hội Những yếu tố cấu thành một nền văn hóa có chức năng thỏa mãn các nhu
cầu chủ yếu của con người Do vậy, “nghiên cứu chức năng của cá nhân và xã hội để thỏa mãn nhu cầu sinh vật chủ yếu của cá nhân thông qua những phương tiện của văn hóa” Để làm được điều đó, Malinowski đưa ra các quan điểm “thiết chế về tổ chức các hoạt động của con người trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu thỏa mãn những nhu cầu
cơ bản của cá nhân và xã hội (Robert Layton 2007: 62)
Lý thuyết này cho rằng, bất kỳ một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau, nhưng chúng liên hệ với nhau, cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định của hệ thống Vì vậy, để hiểu được một bộ phận trong hệ thống thì phải hiểu được cách mà bộ phận đó đóng góp vào sự vận hành ổn định của
hệ thống Sự đóng góp đó được gọi là chức năng (Nguyễn Hồng Quang 2013, tr.32)
Trong luận án, chúng tôi vận dụng lý thuyết chức năng tâm lý (Individual Functionalism) Của B.Malinowski Và Chức Năng Cấu Trúc (Structure Functionalism)
Của A.Radcliffe Brown
Vận dụng thuyết này vào luận án, chúng tôi mong muốn nghiên cứu đặc trưng văn hóa Phật giáo đã có ảnh hưởng gì vào những sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam ở
Trang 27Đài Loan, như là những thành tố tạo nên hệ thống đời sống văn hóa cá nhân và đời sống văn hóa xã hội của cộng đồng Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan Qua đó xác định vai trò, chức năng của văn hóa Phật giáo trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan
- Cấu trúc luận (Structuralism):
Cũng như lý thuyết chức năng, đã có nhiều nhà nghiên cứu xây dựng lý thuyết cấu trúc nhằm lý giải nhiều hiện tượng văn hóa, trong đó có Malinowski và Radcliffe Brown lấy từ lý thuyết của Durkheim quan niệm cho rằng Tôn giáo của một dân tộc vừa “phản ánh” cấu trúc hệ thống xã hội của họ vừa có chức năng duy trì hệ thống đó trong tình trạng hiện tại của nó Trong luận án, chúng
tôi vận dụng lý thuyết cấu trúc của Claude Levi-Strauss Theo Levi-Strauss quan
tâm đến đời sống của những hệ thống xã hội, chứ không phải những cá nhân, và nhu cầu của cá nhân thì không quan trọng bằng nhu cầu được giả định là của hệ thống (Robert Layton, 2007 tr 136)
Vận dụng lý thuyết này để tìm ra các cặp đối lập chủ yếu tập trung nghiên cứu cấu trúc trí tuệ / tinh thần ; phước / vật chất nằm dưới các hành vi cá nhân cũng như thể hiện qua hoạt động xã hội, muốn chỉ ra “cấu trúc sâu” nào đã tác động tạo nên những cách “ứng xử” mang đậm dấu ấn văn hóa Phật giáo Trên cơ sở đó, lý giải các giá trị văn hóa Phật giáo của người Việt Nam ảnh hưởng Phật giáo tại Đài Loan Trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần Nhằm mục đích nhìn rõ được chức năng các thành tố văn hóa Phật giáo và đời sống cộng đồng người Việt Nam học Phật ở Đài Loan
Trang 281.1.4 Khung phân tích
Đối với thế gian, vật chất và tinh thần là hai phương diện làm nên sự toàn vẹn của hạnh phúc Trong đó, tinh thần gồm những khái niệm rất rõ ràng như: sống đạo đức từ tâm, giúp đỡ nhân sinh trong lúc khó khăn, biết chia sẻ vật chất, hào hiệp đóng góp xây bệnh viện, trường học, chùa chiền, nhà thờ, viện dưỡng lão… Đời sống tinh thần còn bao hàm khả năng san sẻ niềm sung sướng, hạnh phúc cho mọi người Ở phương diện liên quan đến trí tuệ, tinh thần nằm ở trình độ nhận thức, tư duy, phân định trong cuộc đời Cụ thể hóa những điều ấy là bằng cấp, là đẳng cấp, là danh hiệu, hay tất cả các bằng chứng về trí tuệ được xã hội công nhận Mặt khác, nhìn từ phương diện gia đình, một người có đời sống gia đình đủ đầy, quan hệ mỗi cá thể trong gia đình hài hoà tốt đẹp, con cái ngoan ngoãn, đầm ấm thì người ấy cũng được xem là đạt được hạnh phúc về tinh thần
Nhân loại qua bao thập kỷ thì cho rằng có vật chất chưa chắc đã có tinh thần, có tinh thần lại thiếu đi vật chất Con người đạt được hạnh phúc và cầu tìm vật chất ở thế gian có thật sự là vĩnh cửu hay không, bất biến hay không bất biến Ví dụ: dù không tiền của nhiều, không bằng cấp cao, những người có cuộc sống yên bình, gia đình vui vẻ, trên thuận dưới hòa, gọi dạ bảo vâng, kính trên nhường dưới, đi thưa về trình, sáng tối chăm chỉ, săn sóc cho nhau, hết lòng thương yêu, quả thực họ đang sống một cuộc
Trang 29đời có ý nghĩa và giúp cho người thấy được ý nghĩa của cuộc đời vậy Còn nếu không
có nhiều tiền bạc, nếu không có bằng cấp, không có nghề nghiệp chuyên môn, không
có việc làm vững chắc, nếu không có chồng tốt, vợ đẹp, con ngoan, gia đình hạnh phúc thì sẽ không có tinh thần
Trong đôi mắt con người thế gian, những hạnh phúc nói trên dù ít hay nhiều đều dựa vào sự có mặt của vật chất Hầu như người ta không thể “tự vui”, “tự hài lòng” hoặc “tự chấp nhận” những gì mình có mà không cần đến sự “phán xét” của người khác Khi đó, vật chất là một “cam kết bằng vàng” cho mọi sự thăng hoa về tinh thần
Đạo Phật quan niệm vật chất và tinh thần khác với thế gian nói chung Người theo đường lối thực hành của Phật không chú trọng sự gia tăng về vật chất, thậm chí
họ còn giải thích ngược lại rằng, càng sống thanh đạm, đơn giản, càng gần đạo và dễ thực hành giải thóat hơn Bởi lẽ, sự thôi thúc về vật chất dễ khiến con người vọng động: vui mừng trước vinh hoa phú quý, đau khổ trước thất bại nghèo túng Bởi luôn
lo sợ được - mất mà con người rơi vào phiền não, tính toán, tâm thức và hành động luôn chạy theo trần cảnh, dễ đánh mất chủ thể của tâm, mất sự ổn định về tinh thần Vật chất và tinh thần trong thế gian luôn tìm theo sự cuốn hút ngoại cảnh như phong cảnh vui chơi, giải trí để tìm cầu tinh thần, vật chất như tiền bạc, của ngon vật lạ Những điều ấy không có lợi cho việc tu tập hoặc làm bình an tâm hồn Thế gian thì
đi tìm vật chất và tinh thần trong thời gian ngắn và bất biến, vô thường
Song, với đạo Phật, những tiện nghi vật chất và tiện nghi tinh thần không còn
là yếu tố quan trọng Đạo Phật đi tìm sự trường thọ vĩnh cửu và tìm sự an lạc dài lâu, tức là tìm con đường giải thóat luân hồi sinh tử Đạo Phật gọi là vượt ra khỏi “Nhị nguyên hay còn gọi là bất nhị” Theo quan niệm của đạo Phật, con người biết tu tâm dưỡng tánh, có thể cải sửa được cuộc đời, chuyển hóa được cuộc sống, từ phiền não
và khổ đau trở thành an lạc và hạnh phúc Nếu chỉ biết tin theo số mạng hay định mạng, thì con người sẽ buông xuôi thụ động, tiêu cực chấp nhận, sống một cách buông thả Thay đổi vận mệnh đều do bản thân con người chịu khó rèn luyện, nhằm tìm
kiếm sự rổng rang, thanh tịnh
Phật giáo dạy con người sinh - lão - bệnh - tử để giúp họ nhìn ra được những
Trang 30gì tồn tại vĩnh viễn, những gì là tạm bợ, không thường hằng, vĩnh cửu Cả vật chất và tinh thần trong văn hóa Phật giáo đều mang nghĩa giải thóat và chứa đựng những thông điệp về làm chủ tâm người Phước là “vật chất”, Huệ là “tinh thần” Giá trị vật chất và tinh thần trong đạo Phật cao hơn, vượt khỏi những quan niệm thông thường về vật chất và tinh thần của thế gian
Người học Phật thực sự không còn đối tượng để lo lắng, chẳng khác nào sự hồn nhiên của những đứa trẻ Họ không hề biết đến sự phân biệt vật chất và tinh thần, họ sống, suy nghĩ, hành động trong niềm an vui chân thật Vậy, chưa chắc phải có vật chất hay tinh thần như thế gian thì mới được niềm an lạc
Người thế gian thì luôn tìm kiếm sự đầy đủ về vật chất, vì họ tin rằng nhờ vào vật chất, họ có thể giải quyết nhiều vấn đề tinh thần Do vậy, cả cuộc đời con người sống trong đam mê vật chất và tinh thần theo nghĩa tiện nghi của thế gian, rất khó để
tỉnh thức Trong cuộc chiến dai dẳng để đạt được vật chất và tinh thần của thế gian,
người ta hầu như không tránh khỏi việc tạo nghiệp: nghiệp lành thì ít, nghiệp dữ thì nhiều
Trong lý tưởng giải thóat vĩnh viễn con người ra khỏi mọi ràng buộc thế gian, đạo Phật tuyệt đối chống lại quan niệm “lợi mình hại người” mà khuyên dạy con người không nên gây phiền não khổ đau cho mình và cho người Xuất phát từ tâm tham lam, sân hận, si mê, đố kỵ, ganh tị, ích kỷ, cống cao, ngã mạn, chấp chặc, thành kiến, phân biệt, kỳ thị, bất chính, con người gây tổn thương cho nhau từ đời này sang đời khác Mục đích cuối cùng của họ là được vượt hơn người khác về vật chất và tinh thần Đạo Phật chỉ ra dù hoàn cảnh nào thì tâm con người vẫn an trụ an sự thanh tịnh, gạt bỏ vật chất và tinh thần của thế gian để tìm về “ Phước và Huệ”, trong đó, Phước
là vật chất sinh ra từ tâm lành và Huệ là tinh thần sinh ra từ trí tuệ giải thóat
Đặc điểm văn hóa Phật giáo Đài Loan đưa vào nhân gian: Phật giáo Đài Loan hướng vào xã hội, gần gũi nhân dân và nhập thế vào trong đời sống, làm cho nhân dân có thể nhận biết, tiếp nhận và vận dụng pháp Hội Từ Tế, Phật Quang Sơn, Cổ Sơn, Thiền Tự Đài Trung chủ yếu Hoằng pháp các nơi công cộng, truyền hình, trường học, nơi công sở… giúp Phật pháp đi sâu vào mỗi cá nhân và mở rộng
Trang 31tới từng gia đình, xã hội, cảm hóa lòng người bằng nhiều phương diện khác nhau, giúp họ dễ nhận thức được Phật pháp trong thực tế đời sống giữa đạo và đời thể hiện trên phương diện hoằng pháp vào đời sống xã hội, an sinh, nghi lễ - hội, từ thiện, đạo đức, dưới sự hoằng pháp của Tăng Ni và cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật, giúp ích cho đời sống xã hội tốt đẹp hơn Bên cạnh đó cộng đồng người Việt Nam đang thực hành theo giáo lý đạo Phật cũng đóng góp không nhỏ trong đời sống
xã hội của Đài Loan và Việt Nam
Giá trị văn hóa Phật giáo và giá trị văn hóa Việt Nam :Giá trị văn hóa Việt Nam là lòng yêu quê hương, đất nước, dân tộc, thể hiện qua những suy nghĩ hành động, qua đời sống cá nhân và đời sống xã hội của con người Qua đó cho thấy sự khác nhau về giá trị văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt Nam Giá trị văn hóa Việt
Nam như“ nhân, lễ , nghĩa, trí, tín” “nhân”: nhân từ, nhân ái; “nghĩa”: chính nghĩa;
“lễ” : lễ phép, lễ độ; “trí”:trí tuệ, kiến thức; “tín”tin tưởng, chữ tín Giá trị văn hóa
Phật giáo “ Nhân thiên thừa, Tiểu thừa, Quyền thừa, Đại thừa, Nhất thừa” hay còn
gọi là “ Nhục nhãn, Thiên nhãn, Pháp nhãn, Tuệ nhãn, Phật nhãn” “Nhục nhãn” : Cái thấy bị ngăn ngại của con “người”; “Thiên nhãn”: Thấy xa thông suốt nhưng không giác ngộ “ chư thiên”; “Pháp nhãn”: Thấy được tính chất thành tựu hoại không của
vô thường, hiện tượng “ thanh văn”; “Tuệ nhãn”; thấy vạn pháp giai không, nên không lý do gì mà đau khổ nữa “ Bồ Tát”; “Phật nhãn”: Nhìn thấy bản thể chân như
bất sanh, bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng, bất giảm của vạn pháp tất cả bình đẳng,
vô sanh, sai biệt, tương đồng “ Phật”
1.2 Tổng quan về Văn hóa Phật giáo ở Đài Loan
1.2.1.Văn hóa Phật giáo chính thống ở Đài Loan
Phật giáo khởi nguồn từ Ấn Độ chuyền sang Trung Quốc khoảng thế kỷ thứ I
và phát triển mạnh mẽ ở quốc gia này, nhưng đối với Đài Loan lại khác là một hòn đảo cách Trung Quốc về hướng đông, về Tôn giáo hòn đảo này phát triển mạnh mẽ Đạo giáo Phật giáo Đài loan đến thời Minh Trịnh (1662-1683) từ
Trang 32các tỉnh Phúc kiến và Quảng Đông truyền vào đây, đến nay đã hơn 300 năm rồi nhưng Phật giáo, Đạo giáo nơi đây vẫn mang đậm chất văn hóa của 2 tỉnh
này (黃連忠,2017,pp1-2)
1.2.2.Văn hóa Phật giáo nhân gian thế kỷ XXI ở Đài Loan
Phật giáo Đài Loan ở thế kỷ XXI phát triển mạnh mẽ tư tưởng “Phật
Giáo Dân Gian”, nổi tiếng với “Tứ Đại Danh Sơn” là bốn giáo đoàn lớn nhất
Để hiểu về Phật giáo Đài Loan hiện nay trước tiên chúng ta phải tìm hiểu thế nào là Phật giáo dân gian Phật giáo dân gian vào thời kỳ cận đại là cuộc cải cách vận động hiện đại hóa của Phật giáo bắc truyền, thời kỳ này Thái Hư đại sư đi đầu trong việc truyền bá “Phật giáo Nhân sinh”, cuộc cách mạng này là sự kết hợp lí luận của Nho gia, từ thiện của Cơ đốc giáo và khoa học
Tư Hồ “Phật giáo nhân sinh” sau này phát triển thành “ Phật giáo nhân gian”
Có thể thấy người khởi nguồn Phật giáo phát triển hiện nay đó là ngài Thái Vân, tại Đài Loan sau này kế thừa và phát huy tư tưởng này có đại sư Ấn Thuận, sư cô Chứng Nghiêm, đại sư Thánh Nghiêm và đại sư Tinh Vân (Thích Triệt Định, 2013, pp108)
Những vị đại sư trên cũng chính là những vị đại diện cho Đài Loan “Tứ Đại Danh Sơn”, như vậy chúng ta nghiên cứu Phật giáo phát triển hay Phật giáo dân gian tại Đài Loan thì phải tường tận “Tứ Đại Danh Sơn” hình thành và phát triển như thế nào
Để phân biệt rõ Tứ Đại Danh Sơn trước và sau, đầu tiên ta phải tìm hiểu
thời Nhật đô hộ Đài Loan cũng có Tứ Đại Danh Sơn, nhưng mà là truyền thống Tứ Đại Danh Sơn, cũng có tên gọi khác là “Tứ Đại Pháp Phái” bao gồm phái Nguyệt mi cư địa tại Linh tuyền Thiền Tự, phái Quan âm (Lăng Vân Thiền Tự), phái Pháp Vân (Pháp Vân Tự) và phái Đại Nhạc (Siêu phong tự) Đến thời kỳ hòa bình thì các môn phái này không còn hưng thịnh nữa, lúc này bắt đầu thời kỳ phát triển của Phật giáo Dân gian Sau chiến tranh dân cư từ Đại Lục du nhập vào Đài Loan, cùng với sự phát triển của Xã hội,
Trang 33dần dần hình thành đương đại Tứ Đại Danh Sơn hay còn gọi là Tứ Đại Giáo Đoàn, đến hôm nay Tứ Đại Danh Sơn đã trở thành các tổ chức Phật giáo lớn nhất Đài Loan, tín đồ chiếm hơn một nữa dân số Đài Loan
Trong Tứ Đại Giáo Đoàn đều có khởi nguyên của Lâm Tế và Tào Động
tông, trong đó Phật Quang Sơn và Trung Đài Sơn là sự kế thừa của Lâm Tế tông, Pháp Cổ Sơn và Từ Tế là sự kế thừa của cả Lâm Tế lẫn Tào Động tông Sau đây chúng tôi giới thiệu bốn giáo đoàn lớn:
Từ Tế được thành lập năm 1966 tại xã Tân thành huyện Hoa Liên, được sư
cô Thích Chứng Nghiêm sơ khai Hoạt động chủ yếu là từ thiện, bảo vệ môi trường với các hình thức khác nhau như lập trường học, bệnh viện và xây dựng các khu tái chế Nhìn chung chủ yếu phát triển mặt dân gian xã hội Phật Quang Sơn được thành lập vào ngày 16 tháng 5 năm 1967 tại thành
phố Cao Hùng, do ngài Tinh Vân sơ khai Giáo đoàn này phát triển về giáo dục xây dựng trường học, thư viện, về xã hội xây dựng các cô nhi viện và các trung tâm dưỡng lão Hiện nay, hệ thống Phật Quang Sơn đã có mặt khắp Năm châu, với gần 300 Đạo tràng, Trường học lớn nhỏ Chủ trương hoằng pháp lợi sanh chú trọng hết tất cả tầng lớp, lứa tuổi cùng với tâm nguyện lớn của hòa thượng Tinh Vân Chính vì vậy, đã đem Phật Quang Sơn mới phát triển mạnh mẽ đến như vậy Trụ sở chính tại thành phố Cao Hùng Đài Loan.Tiếp theo, đó chính là pháp Cổ Sơn Do ngài Thánh Nghiêm sáng lập vào năm 1984 tại thành phố Tân Đài Bắc Ngài chủ yếu là xây dựng các trường đại học nghiên cứu Phật học, kết hợp với trung tâm tu học và tham quan cho cả người xuất gia và tại gia Có thể nói, ngài chú trọng giáo dục tạo một môi trường giáo dục lành mạnh (释悟因 2012, tr1); (Trương Văn Khải.2013,tr303)
Cuối cùng, Trung Đài Thiền Tự được sáng lập do hòa thượng Thích Duy Giác sáng lập năm 2001 tại Miền Trung, huyện Nam Đầu Đài Trung Đối với giáo đoàn này chỉ sức ảnh hưởng trong nước, với lại niên đại còn non trẻ Chủ yếu phát triển mặt trung tâm tu học, tham quan cho đông đảo tín đồ, còn những mặt khác thì vẫn
Trang 341.3 Tổng quan về cộng đồng người Việt Nam hướng đến đạo Phật ở Đài Loan
1.3.1 Nguồn gốc xuất cư
Nhóm người Việt Nam truyền giáo tại Á Châu (2006, đoạn 1) đã phát biểu rằng:
Đài Loan trước năm 1975 không có mấy bóng người Việt Nam, ngoại trừ đại diện ngoại giao của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa làm việc trong tòa Đại Sứ và những thương nhân Việt thường xuyên ghé vào đảo mua các mặt hàng đặc sản Đài Loan (trà, cao hổ cốt, dầu gió, v.v…) mang về Việt Nam buôn bán Trước năm 1975, người miền Nam biết nhiều đến Đài Loan qua tên của tổng thống Tưởng Giới Thạch,
và tên của Quỳnh Dao với những bộ tiểu thuyết lãng mạn Mùa thu lá bay, Người vợ câm, Dòng sông ly biệt,… Nhưng sau 1975, đặc biệt là năm 1978, sau lời kêu gọi
“đầu quân” cho cánh đồng truyền giáo của các tu sĩ Đài Loan, tu sĩ Việt Nam, và linh mục Việt Nam từ nhiều nước trên thế giới, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Áo, Pháp, Ý, đã đặt chân tới đảo Đài Loan để truyền giáo Theo như trang web Truyền Giáo Việt Nam tại Á Châu, vào năm 2006 đã có tới 120 linh mục và tu sĩ Việt Nam làm việc tại Đài Loan
Đặc biệt hơn nữa, sau hiện tượng các cô dâu và lao động người Việt Nam bị ngược đãi và hành hạ về thể xác lẫn tinh thần tại Đài Loan, nhiều vị tu sĩ người Việt Nam đã trở thành nơi nương tựa và bảo vệ nhân quyền cho người Việt Nam tại Đài
Trang 35Loan Tên của Nguyễn Văn Hùng (nguyên gốc của Sydney, Úc Châu), Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh đã trở thành một cái tên quen thuộc đối với cộng đồng người Việt Nguyệt san Dân Chủ Úc Châu đã từng dành cả số 148 của tháng 7 năm 2007
đã đăng các chủ đề về cô dâu và lao động người Việt Nam tại Đài Loan
Thời gian đầu, năm 1994, 1995, khi những người công nhân Việt Nam đến làm việc cho công ty Đài Loan, do bất đồng về ngôn ngữ trong công việc cũng như trong cuộc sống, lúc đó các vị tu sĩ là những người đầu tiên tiếp xúc và chăm lo đời sống, phục vụ cho những người công nhân Việt Nam làm việc tại các công ty Đài Loan Thời gian sau, phong trào người Việt Nam lấy chồng Đài Loan trở thành tiếng vang, không lâu sau thì liên tiếp xảy ra những vụ bạo hành đối với cô dâu người Việt Nam Khi sự tình được đưa ra tòa án, những tu sĩ đã được chính quyền địa phương mời tới tòa án trong vai trò thông dịch viên Về sau, chính những cô dâu và công nhân người Việt Nam, khi gặp phải khó khăn, đều nhờ sự giúp đỡ của các vị tu sĩ , xoa dịu xung đột và căng thẳng trong mối quan hệ gia đình, mối quan hệ trong công xưởng,…
Vì vậy, những trung tâm giúp đỡ cho cộng đồng người Việt được hình thành Sau đó, thông tin về sự hiện diện và giúp đỡ của các Ngài được lan truyền trong cộng đồng người Việt Nam tại đây Từ đó, các tu sĩ đảm nhiệm thêm một vai trò phụng sự thứ hai trong đời sống truyền giáo tại Đài Loan
Người định cư là những người Hoa từ miền Nam, chủ yếu đến từ Thành Phố Hồ Chí Minh vượt biên qua các nước khác thì họ đã đến Đài Loan, sau đó họ được người Đài Loan giúp đỡ nhận cho vào Đài Loan để định cư có quốc tịch Nữ giới là
cô dâu Việt Nam là những người miền Nam chiếm phần đa số là người (miền Tây)
và người miền Bắc (Hải phòng) Họ đi theo diện lấy chồng, vì 2 nơi này quy tụ nhiều người lấy chồng tại Đài Loan Lao động hiện tại đều là người miền bắc và tỉnh miền Bắc Trung bộ Nghệ An, Hà Tĩnh chiếm số đông nhất qua Đài Loan lao động cho đến nay Du học sinh thì có miền Bắc, miền Nam, miền Trung đến Đài Loan du học
1.3.2 Dân tộc, dân số, và nơi định cư
Dữ liệu liên quan đến dân số người Việt Nam nhập cư mới Thống kê thông tin
cơ bản của Cục quản lý xuất nhập cảnh của Bộ Nội vụ Đài Loan
Trang 36Những người nhập cư mới từ Việt Nam đã trở thành một phần quan trọng trong thành phần nhân khẩu học của Đài Loan Theo thống kê của Cục quản lý xuất nhập cảnh bộ Nội vụ Trung Hoa Dân Quốc về số lượng người nước ngoài hiện đang cư trú trên lãnh thổ Đài Loan năm 2015, có khoảng 645.439 người nước ngoài hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan; có tổng cộng 137.189 lao động nước ngoài mang quốc tịch Việt Nam, trong đó nam giới chủ yếu là công nhân kỹ thuật trong lĩnh vực
cơ khí, chế tạo máy móc (86.315 người), nữ giới chủ yếu đảm nhận các công việc giám sát sản xuất (12.944 người) và công nhân kỹ thuật trong lĩnh vực cơ khí, sản
xuất (36.105 người) Ngoài ra, vào tuần thứ 15 của năm Dân quốc 105 (năm 2016),
nội dung công bố của Bộ Nội vụ thống kê về “tình hình nhập tịch và thôi mang quốc
tịch Trung Hoa Dân Quốc năm Dân quốc 104” (năm 2015) chỉ ra rằng việc nhập quốc
tịch Đài Loan có sự khác biệt theo giới tính: nữ giới là 3.424 người, chiếm 94,80%, cao hơn nhiều so với số lượng nam giới là 188 người, chiếm 5,20% Trong đó, nữ giới nhập quốc tịch Đài Loan chủ yếu là các cô dâu nước ngoài và nhập tịch thông qua việc kết hôn với số lượng là 3.198 người, chiếm 93,40%, mà trong đó số lượng
cô dâu người Việt Nam chiếm 77,67% và Việt Nam cũng là nước có số lượng cô dâu nhập tịch Đài Loan nhiều nhất (không bao gồm Trung Quốc đại lục, Hồng Kông và
Ma Cao) Tính đến tháng 6 năm 2017, toàn Đài Loan có tổng số 98.537 cặp vợ chồng Việt-Đài Nếu tính luôn cả trường hợp các cặp là người Đài Loan kết hôn với người Trung Quốc đại lục, Hồng Kông hay Ma Cao thì số lượng các cặp vợ chồng Việt-Đài chiếm 18,81% trong cơ cấu các trường hợp người Đài Loan kết hôn với người nước ngoài Nếu như ước tính mỗi gia đình này có 4 thành viên để hình thành số liệu thống
kê thì dân số của các gia đình gốc Việt tại Đài Loan là 400.000 người Nếu như tính thêm gần 140.000 lao động thuộc trường hợp người lao động nước ngoài thì số lượng người gốc Việt và lao động mang quốc tịch Việt Nam tại Đài Loan lên đến 50.000 người.(Ministry Of The Interior, 16/2/2018)
Ngoài ra, thông qua biểu đồ phân bố các cặp vợ chồng Việt-Đài tại các huyện,
thị tính đến tháng 6 năm Dân quốc 106 (năm 2017) do Cục quản lý xuất nhập cảnh
Bộ Nội vụ công bố, có thể thấy rõ tình hình phân bố của các cặp vợ chồng Việt-Đài
Trang 37tại các huyện, thị khác nhau
Từ biểu đồ cho thấy, khu vực phân bố chính của các cặp vợ chồng Việt-Đài sinh sống
tại Đài Loan là 6 thành phố trực thuộc trung ương (Tân Bắc, Đài Bắc, Đào Viên, Đài
Trung, Đài Nam, Cao Hùng), trong đó số lượng tại thành phố Tân Bắc là hơn 16.000
người Ngoài ra, các thành phố Cao Hùng, Đào Viên và Đài Trung đều có khoảng trên dưới 10.000 người Huyện Chương Hóa cũng là nơi có số lượng không nhỏ các cặp vợ chồng Việt-Đài, con số này vượt qua cả thành phố Đài Bắc và xếp vị trí thứ 6 trên toàn Đài Loan Điều này tương đối khác biệt với cách nhận định và suy nghĩ rập khuôn của chúng tôi rằng các cô dâu Việt Nam chủ yếu phân bố ở các vùng sâu vùng
xa Ở một góc độ nhất định, chúng ta không nên xem họ là những người nhập cư dễ bị tổn thương ở khu vực nông thôn của Đài Loan, có lẽ chúng ta nên nhìn nhận và đối đãi với nhóm người này từ góc độ của những người nhập cư mới tại đô thị
1.3.3 Nghề nghiệp và đời sống kinh tế
Hiện nay, vùng lãnh thổ Đài Loan là nơi có số lượng lao động Việt Nam đang sinh sống làm việc và học tập nhiều nhất từ trước đến nay Do Việt Nam và Đài Loan có sự hợp tác về nhập khẩu lao động, có nhiều văn hóa tương đồng và gần với địa lý Việt Nam Cùng với công việc ổn định, mức thu nhập hấp dẫn Đài Loan đang
Dân số 0
Biểu đồ người Việt Nam ở Đài Loan
Trang 38thu hút nhiều lao động người Việt Nam đến Đài Loan Người Việt Nam đến Đài Loan từ những năm sau 1975 Công việc của họ chủ yếu làm các nghề tri thức và kinh doanh như là Bác sĩ, nghề nông, xây dựng, nội thất, điện tử, công nghệ sản xuất các loại ốc vít, lắp đặt và sản xuất Cửa Tự Động, sản xuất đồ Gỗ Mỹ nghệ Họ đều là người thành đạt trong công việc cũng như kinh tế tại Đài Loan
Tính đến cuối tháng 7 năm 2017 tổng số người Việt Nam kết hôn đến Đài Loan
Họ chủ yếu được chồng nuôi và làm thêm phụ công việc cho gia đình nhà chồng, mở quán ăn Việt Nam, bán hàng tạp hóa hàng từ Việt Nam qua, cô dâu ít đi làm và không
có trình độ cao, mở tiệm cắt tóc và làm móng chân móng tay, giáo viên dạy tiếng Việt cho con em người Việt Đài, thường cô dâu qua nhiều năm thì họ đi làm nhiều, còn
cô dâu mới qua họ ít đi làm, cô dâu Việt Nam cũng có một tệ nạn là hành nghề mại dâm nhiều, vì không nghề nghiệp và không biết tiếng bản xứ, nghề mại dâm là nghề kiếm tiền nhanh mà không cần trình độ, nghề đó thì các nhà hàng Đài Loan luôn cần cho nên họ làm biếng các nghề tay chân thì họ lại làm nghề mát- sa… Đối tượng cô dâu làm nghề phong phú nhất so với các đối tượng khác là người Việt Nam tại Đài Loan
Tính đến năm 2006 đến nay có khoảng 80.000 người Việt Nam qua Đài Loan lao động 16.000 làm việc tại các nhà máy và 2.000 còn lại làm các công việc khác chủ yếu nam giới làm nghề tay chân, như làm trong công ty và nhà máy sản xuất như cửa tự động lắp ráp cửa, đứng trong các máy sản xuất các ốc vít, Bìa Cát Tông, lao động trực máy sản xuất nhựa, thợ mộc đóng các tủ đồ gia dụng trong các công ty, sản xuất các loại hóa chất như nệm cao su, các bao bì như đồ ly, hộp cơm, xuất hàng, đóng gói thực phẩm ăn uống, trong số 60.000 là người nữ đến Đài Loan giúp việc trong gia đình Hợp đồng của họ thường thì ba năm, sau khi hết ba năm làm việc chủ vẫn có nhu cầu thì họ có thể nộp lệ phí gia hạn một khoảng tiền từ (Tiền Đài là 80.000
“tám mươi ngàn Đài Loan đổi qua tiền Việt Nam khoảng 60 triệu VNĐ) cho đến (Tiền Đài là 150.000 “một trăm năm mươi ngàn Đài Loan đổi qua tiền Việt Nam khoảng 112 triệu VNĐ) đến công ty môi giới xuất khẩu lao động ở Việt Nam hoặc công ty liên kết với công ty tại Đài Loan để được gia hạn, một số tiền quá cao Do
Trang 39đó, một số công nhân đã chọn bỏ trốn trước khi thời hạn 3 năm kết thúc, vì họ ra ngoài làm lương cao hơn gấp đôi so với lương ký hợp đồng thông qua công ty môi giới Chính vì thế, công nhân Việt Nam hay bỏ trốn ra ngoài để chọn công việc tốt hơn so lúc ban đầu ký qua Đài Loan Vì mức lương tối thiểu tính 1/1/2017 theo giờ của người lao động tại Đài Loan 120 tiền Đại tệ trên 1 giờ cho đến 126 Đài tệ trên một giờ cho đến 200 Đài tệ trên một giờ Vậy tức là hàng tháng người lao động có mức lương cơ bản của Đài Loan, một tháng tương đương 16 triệu đồng cho đến 20 triệu đồng
Ở Đài Loan du học sinh được đi làm thêm, chủ yếu phụ cho các nhà hàng bưng
bê, rửa chén, phụ bán hàng … phụ thuộc vào nhu cầu của địa điểm nơi sinh viên sinh sống, vì họ không được đi làm chính thống, ở Đài Loan khi họ đi làm cần phải có giấy chứng nhận được đi làm, còn đâu họ sẽ làm chui Nếu đi làm thì họ chỉ làm được
6 giờ trong 1 tuần Chính vì vậy sinh viên làm nghề không ổn định.(外国人民 người ngoại quốc,2017, 外国人工作情况 Tình hình công việc của người ngoại quốc, đoạn 1, đoạn 2 )
1.3.4 Quan hệ xã hội cộng đồng
Mỗi năm vào các ngày lễ lớn của Việt Nam, Trung tâm Đài Bắc cho cộng đồng người Việt Nam tham gia các lễ hội thi văn nghệ, áo dài, hát,… cho tất cả những người Việt Nam tham dự tại Hội trường Tự Do tại Đài Bắc Đài Loan Đại sứ quán Việt Nam tại Đài Loan tổ chức Tết cộng đồng mừng Xuân vào mỗi năm với sự tham gia của toàn thể cán bộ, nhân viên, du học sinh đang sinh sống, làm việc và học tập tại Đài Loan và các cơ quan đại diện Việt Nam tại Đài Loan và đông đảo bà con Việt kiều
Hội đồng hương : Nói đến các tổ chức đồng hương tại Đài Loan, mỗi cộng đồng người Việt Nam đều có cộng đồng tổ chức Đồng Hương như Phú Thọ, Nghệ
An, miền Tây,… Hoạt động tiêu biểu của cộng đồng người Việt Nam tại Đài Loan nói riêng và các tỉnh thành nói chung, không thể không nhắc đến cộng đồng Việt Kiều Việt Nam tại Đài Loan cũng tổ chức hội đồng hương Vì cộng đồng Việt Kiều là một
Trang 40tổ chức có số lượng bà con đồng hương sinh sống trên địa bàn khá rộng tại Đài Loan, bao gồm toàn quốc đại diên của các hội các thành phố, đại diện của các tỉnh, đều tụ họp trong lễ hội này
Họ báo cáo tình hình các hoạt động tiêu biểu, tất cả có 8 chi hội tổ chức, mỗi tổ đều được nhận tiền chân quỹ cơ bản cho việc hình thành lên hội đồng hương của các tỉnh của Việt Nam tại Đài Loan, mỗi đội tuyên dương ban chấp hàng trưởng và phó, được tặng hoa và quà của hội đồng hương Việt Kiều tại Đài Loan Căn cứ theo báo cáo của mỗi đội về công tác xã hội, tiêu biểu các doanh nhân người Việt gốc Hoa về đã vận động các doanh nhân thành đạt ủng hộ tiền và vật phẩm để lấy quỹ giúp những cộng đồng người Việt khó khăn tại Đài Loan như bệnh, tai nạn,…khen tặng cho các cụ có độ tuổi cao và tổ chức thượng thọ và tặng quà cho các con cháu có thành tích học tập tốt Những thành quả đạt được từ các hội đồng hương chính là sự nhiệt tình đóng góp xây dựng Hội và từ sự ý thức về công tác đồng hương của người Việt gốc Hoa từ những năm qua đã đưa hội ngày càng phát triển, đạt được nhiều thành tựu trong việc phát huy giá trị truyền thống thương yêu giúp đỡ các cộng đồng người Việt tại Đài Loan.(越南华侨在台湾 2017, Đoạn1)
1.3.5 Sinh hoạt Tôn giáo, Nghi lễ
Trong xã hội ngày nay, vật chất ngày càng đầy đủ, con người không còn phải đấu tranh vì cái ăn cái mặc hàng ngày nữa Lúc này, đời sống tinh thần của con người được quan tâm hơn cả Con người mong muốn tìm nơi tôn giáo một điểm tựa tinh thần trong thế giới đầy cám dỗ và ngang trái Niềm tin tôn giáo sẽ dẫn lối cho họ không sa vào lầm lạc, có hướng đi đúng đắn
Những đối tượng người Việt Nam đang theo Phật giáo ở Đài Loan, khi đến Đài Loan họ không đi theo tôn giáo nào tại Việt Nam, sau khi đến Đài Loan thì sự phát triển về Văn hóa Phật giáo chủ yếu về giáo dục và y tế, ngoài ra còn sự phát triển về kinh tế Phật giáo Đài Loan chủ yếu ứng dụng vào đời sống xã hội qua cộng đồng thể chủ yếu về hoạt động kinh tế , từ thiện, an sinh, lễ hội Chính vì thế, Phật giáo đến gần với đời sống của họ Cho nên Phật giáo dễ ảnh hưởng đến con người qua sự văn hóa khác biệt, văn hóa khác biệt dễ dẫn đến sự hiếu kỳ của người Việt Nam Sự