Hầu hết những công trình của những tác giả trước chủ yếu bàn đến cấu tạo, ý nghĩa của thành ngữ, nguồn gốc của thành ngữ, tính trung gian giữa thành ngữ và tục ngữ đều đứng độc lập, tách
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS TS ĐỖ THỊ KIM LIÊN PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:
1 PGS.TS ĐẶNG THỊ HẢO TÂM
2 PGS TS HOÀNG QUỐC PHẢN BIỆN:
1 PGS.TS.TRỊNH SÂM
2 TS HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH
3 PGS.TS ĐẶNG THỊ HẢO TÂM
TP HỒ CHÍ MINH 2019
Trang 3khoa học của luận án là của bản thân tôi, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Hữu Thế
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU … ………1
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu ……….……… ….2
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 12
4 Nhiệm vụ nghiên cứu ………12
5 Phương pháp nghiên cứu ………13
6 Đóng góp mới của đề tài ………14
7 Cấu trúc đề tài ………15
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 17
1.1 Nhận diện thành ngữ ……… 17
1.1.1 Định nghĩa thành ngữ ………17
1.1.2 Đặc điểm của thành ngữ ………21
1.1.3 Phân loại thành ngữ ….………24
1.1.4 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ ……… 34
1.1.5 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ ……… 36
1.2 Lý thuyết tín hiệu và tín hiệu trong văn bản văn học …… ……….40
1.2.1 Lý thuyết tín hiệu ………40
1.2.2 Tín hiệu trong văn bản văn học …….……….41
1.3 Những nhân tố chi phối ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ hội thoại trong diễn ngôn văn chương ……… 44
1.3.1 Nhân vật giao tiếp và vai giao tiếp ……… 44
1.3.2 Quan hệ liên nhân (interpersonal relation) ………45
1.3.3 Nội dung giao tiếp do các nhân vật thể hiện ………45
1.3.4 Ngữ cảnh (context) .……… 46
1.4 Cơ chế hình thành ý nghĩa thành ngữ xét trong kết cấu nội bộ thành ngữ và trong tác phẩm văn học 47
1.4.1 Khái niệm cơ chế 47
1.4.2 Cơ chế hình thành ý nghĩa thành ngữ xét trong cấu tạo nội bộ 47
1.4.3 Cơ chế hình thành ý nghĩa thành ngữ trong tác phẩm văn học 51
1.5 Tiểu kết chương 1 ,, 52
Trang 5Chương 2: CẤU TẠO CỦA THÀNH NGỮ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (CÓ SO SÁNH VỚI THÀNH NGỮ
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC ANH - MỸ) ………….……….53
2.1 Thành ngữ được sử dụng trong) một số tác phẩm của nhà văn Việt Nam xét về cấu tạo (có so sánh với một số tác phẩm Anh – Mỹ ……….53
2.1.1 Thống kê định lượng cấu tạo thành ngữ trong tác phẩm Việt Nam và Anh/Mỹ ……… 53
2.1.2 Mô tả cấu tạo ……… 59
2.2 Nhận xét sự tương đồng và khác biệt giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh 96
2.2.1 So sánh thành ngữ nguyên dạng tiếng Việt và tiếng Anh 96
2.2.2 So sánh thành ngữ cải biến tiếng Việt và tiếng Anh 99
2.2.3 So sánh thành ngữ trong tác phẩm với dạng độc lập trong từ điển 102
2.3 Tiểu kết chương 2 103
Chương 3: Ý NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT VIỆT NAM (CÓ SO SÁNH VỚI THÀNH NGỮ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC ANH – MỸ) 105
3.1 Biểu hiện ý nghĩa của thành ngữ tiếng Việt xét trong quan hệ hành chức 105
3.1.1 Nhóm thành ngữ cùng ngữ âm lại có nhiều nghĩa 105
3.1.2.Nhóm thành ngữ cùng ngữ âm nhưng biến đổi về ý nghĩa .112
3.1.3 Nhóm thành ngữ biến đổi ngữ âm dẫn đến biến đổi ý nghĩa .124
3.1.4 Nhóm thành ngữ thêm thành tố dẫn đến biến đổi ý nghĩa thành tục ngữ .127
3.1.5 Nhóm thành ngữ sao phỏng .128
3.1.6 Nhóm thành ngữ mới đươc sử dụng .130
3.2 Biểu hiện ý nghĩa của thành ngữ tiếng Anh xét trong quan hệ hành chức 131
3.2.1 Nhóm thành ngữ cùng ngữ âm lại có nhiều nghĩa …… ……… 132
3.2.2 Nhóm thành ngữ cùng ngữ âm nhưng biến đổi về ý nghĩa
……… ……… ……….135
3.2.3 Nhóm thành ngữ biến đổi ngữ âm dẫn đến biến đổi nghĩa … … 137
Trang 63.2.4 Nhóm thành ngữ sao phỏng ….……… 139
3.2.5 Nhóm thành ngữ mới được sử dụng ……… 140
3.3 Nhận xét sự tương đồng và khác biệt giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh về ý nghĩa ……… ……….141
3.3.1 Sự tương đồng giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh về ý nghĩa … 141
3.3.2 Sự khác biệt giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh về ý nghĩa …… 143
3.4 Tiểu kết chương 3 ……… 144
Chương 4: SO SÁNH ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VIỆT VÀ VĂN HÓA ANH - MỸ QUA SỬ DỤNG THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC ………146
4.1 Khái quát về ngôn ngữ và văn hóa ……… …146
4.1.1 Khái niệm văn hóa 146
4.1.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa .147
4.2 Những vấn đề cơ bản của ngữ nghĩa học tri nhận … …….……… 148
4.2.1 Ý niệm và khái niệm ……… ……….148
4.2.2 Tri nhận văn hóa và ý niệm hóa văn hóa (Cultural cognition and cultural conceptualizations) ……….149
4.2.3 Ẩn dụ ý niệm ……….151
4.2.3 Hoán dụ ý niệm ……….152
4.3 Biểu hiện văn hóa của người Việt so với người Anh –Mỹ qua sử dụng thành ngữ trong tác phẩm ……… ………153
4.3.1 Nhóm thành ngữ phản ánh văn hóa lúa nước .153
4.3.2 Nhóm thành ngữ phản ánh văn hóa tôn giáo -.tín ngưỡng 159
4.3.3 Nhóm thành ngữ phản ánh văn hóa tri nhận … ………169
4.4 Nhận xét sự tương đồng và khác biệt giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh về đặc trưng văn hóa ………….……… ………187
4.4.1 Sự tương đồng giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh về đặc trưng văn hóa ……… ……… ………187
4.3.2 Sự khác biệt giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh về đặc trưng văn hóa ……….………188
4.4 Tiểu kết chương 4 ……… …191
KẾT LUẬN 194
Trang 7DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……… ……… …….………199 TÀI LIỆU THAM KHẢO 200 DANH MỤC TÊN TÁC GIẢ, TÁC PHẨM ĐƯỢC TRÍCH DẪN LÀM VÍ DỤ
……….………210
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1a Thống kê số lượng thành ngữ được sử dụng trong truyện ngắn và tiểu
thuyết Việt Nam ……… 53
Bảng 2.1b Thống kê số lượng thành ngữ được sử dụng trong truyện ngắn và tiểu thuyết Anh-Mỹ………….……… ………55
Bảng 2.2a Thống kê số lượng và tỉ lệ thành ngữ nguyên dạng và cải biến tác phẩm tiếng Việt 56
Bảng 2.2b Thống kê số lượng và tỉ lệ thành ngữ nguyên dạng và cải biến trong tác phẩm Anh-Mỹ 58
Bảng 2.3a Các dạng thành ngữ của 13 tác phẩm tiếng Việt … ………60
Bảng 2.3b Các dạng thành ngữ của 8 tác phẩm Anh-Mỹ ….……… …74
Bảng 2.4a Các dạng thành ngữ cải biến trong 13 tác phẩm tiếng Việt 80
Bảng 2.4b Các dạng thành ngữ cải biến trong 8 tác phẩm Anh-Mỹ 88
Bảng 4.1 Thành ngữ có yếu tố chỉ sản phẩm từ cây lúa ……… ……… ….153
Bảng 4.2 Thành ngữ có yếu tố liên quan đến sản phẩm từ hạt lúa ……… …155
Bảng 4.3 Thành ngữ có yếu tố liên quan đến công cụ sản xuất ….…… …………157
Bảng 4.4 Đặc điểm và tính cách đặc trưng của một số con vật nuôi … ………… 173
Bảng 4.5 Cây trồng gắn với vùng cư dân trồng lúa nước sinh sống ……….176
Bảng 4.6 Bảng thống kê thành ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Việt .180
Bảng 4.7 Bảng thống kê thành ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Anh .183
Trang 9cơ sở đó, chúng ta rút ra đặc điểm phong cách riêng của mỗi nhà văn một cách có
cơ sở Chính vì vậy, việc nghiên cứu thành ngữ trong truyện ngắn và tiểu thuyết là hết sức cần thiết
Như chúng ta biết, ngôn ngữ và văn hóa là hai đối tượng khác nhau nhưng có mối quan hệ gắn bó Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện thể hiện văn hóa mà còn tàng trữ, lưu giữ và trao đổi văn hóa Tác giả Trần Ngọc Thêm viết “Một trong những giá trị văn hoá cơ bản đã tạo nên con người, đã làm cho loài người “homo sapiens” trở nên khác biệt hẳn so với các đồng loại của mình trong giới tự nhiên là
khả năng tạo ra các nhóm xã hội mà trong đó con người ý thức được ý nghĩa của
nó… Văn hoá tạo nên các nhóm xã hội và đến lượt mình, các nhóm xã hội đã tác động mạnh mẽ tới sự bảo tồn và phát triển của văn hoá.” 1
Chính mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và xã hội của mỗi dân tộc
đã tạo nên kho tàng thành ngữ đa dạng Từ kho tàng thành ngữ phong phú đó, ta suy
ra được đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc Bản thân thành ngữ thể hiện tư duy văn hóa dân tộc và tạo nên cốt cách bản lĩnh riêng của một ngôn ngữ Muốn hiểu và sử
1 http:/ / www.vanhoahoc.vn/ tran-ngoc-them-khai-luan-ve-van-hoa.html (10:37, 08/02/2019)
Trang 10dụng đúng thành ngữ, chúng ta không chỉ dựa vào cấu trúc ngữ pháp mà còn phải dựa vào các mối quan hệ giữa các thành tố và các yếu tố tâm lý, văn hóa, tôn giáo,
xã hội, lịch sử của thành ngữ cũng như ngữ cảnh sử dụng Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ thường được sử dụng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày cũng như trong văn bản nghệ thuật, không chỉ trong tiếng Việt mà trong nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới như tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Anh… Do đó, việc so sánh đối chiếu nghệ thuật sử dụng thành ngữ trong tác phẩm văn học là hết sức cần thiết, nhưng trên thực tế, vấn
đề này lại chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống Hầu hết những công trình của những tác giả trước chủ yếu bàn đến cấu tạo, ý nghĩa của thành ngữ, nguồn gốc của thành ngữ, tính trung gian giữa thành ngữ và tục ngữ đều đứng độc lập, tách rời ngữ cảnh và chỉ tập trung nghiên cứu thành ngữ có sẵn, tách rời nhân vật hoặc chỉ nghiên cứu thành ngữ trong từng tác phẩm riêng biệt và chưa
có tác giả nào đi sâu nghiên cứu thành ngữ được sử dụng gắn với ngữ cảnh trong một nhóm truyện ngắn - tiểu thuyết Việt Nam và Anh-Mỹ Những điểm bỏ ngỏ đó
chính là chỗ để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thành ngữ trong một số truyện
ngắn, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (có so sánh với thành ngữ trong một số tác phẩm văn học Anh – Mỹ)”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu thành ngữ trong hành chức của một số tác phẩm tiêu biểu của những tác giả Việt Nam (so sánh với một số tác giả Anh/ Mỹ) Từ đó rút ra đặc điểm của thành ngữ về những điểm tương đồng và khác biệt trên phương diện cấu tạo thành ngữ nguyên dạng và cải biến; ý nghĩa của thành ngữ xét trong quan hệ hành chức với nhóm thành ngữ giữ nguyên ngữ âm và biến đổi ngữ âm, và đặc trưng văn hóa giữa thành ngữ tiếng Việt và thành ngữ tiếng Anh
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể bước đầu được sử dụng để soạn Từ điển thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong hành chức, biên soạn giáo trình thành ngữ của
cả hai ngôn ngữ nhằm phục vụ việc dạy-học thành ngữ dưới góc nhìn ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt
Trang 11Bàn về lịch sử nghiên cứu thành ngữ, chúng ta phải kể đến Từ điển về thành
ngữ của Dương Quảng Hàm năm 1941 Tiếp theo, sau 1954 cho đến nay có nhiều
các tác giả văn học dân gian nghiên cứu về thành ngữ như: Cao Huy Đỉnh, Vũ Ngọc Phan, Đinh Gia Khánh, Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Xuân Đức, Nguyễn Xuân Kính
Trong phạm vi luận án của mình, sau đây chúng tôi điểm lại lịch sử nghiên cứu thành ngữ ở bình diện ngôn ngữ học (chỉ khảo sát thành ngữ tiếng Việt hoặc so sánh thành ngữ tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, như tiếng Hán, tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hàn )
Thứ nhất, chỉ đi sâu nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt, chúng ta bắt gặp bốn hướng chính:
(1) Nghiên cứu thành ngữ theo hướng cấu trúc - ngữ nghĩa truyền thống
Có thể nói, trong ngôn ngữ học, các đề tài, bài viết có liên quan đến thành ngữ thường đề cập đến cấu tạo thành ngữ nói chung, hay chỉ một thành ngữ cụ thể
Theo hướng cấu trúc và ngữ nghĩa có các tác giả Nguyễn Văn Mệnh (1971), Trương Đông San (1974), Nguyễn Văn Tu (1976), Hồ Lê (1976), Cù Đình Tú (1983), Nguyễn Thiện Giáp (1985), Đỗ Hữu Châu (1986-1987), Hoàng Văn Hành (1999)
Hồ Lê (1976), trong cuốn Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại đã đề cập
đến thành ngữ với hai đặc trưng cấu tạo và ý nghĩa: “Thành ngữ là những tổ hợp từ
có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó” [43, tr.157]
Đỗ Hữu Châu (1981) trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, tập 1 đã quan
tâm đến giá trị ngữ nghĩa của ngữ cố định Về mặt ngữ nghĩa, ông chia thành hai nhóm: a) Ngữ cố định mà từ trung tâm nằm ngay trong ngữ thì đồng nghĩa một
cách hiển nhiên với từ sẵn có, ví dụ như: dai như đỉa đói; nói thánh nói tướng;
chạy long tóc gáy; b) Ngữ cố định mà thành phần trung tâm được suy ra không
phải là một từ mà là một cụm từ thì không đồng nghĩa với một từ sẵn có nào cả
Đó là các ngữ như: múa rìu qua mắt thợ; ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng; giậu
đổ bìm leo; còn nước còn tát… [3, tr.522]
Năm 1985, tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt cho rằng
Trang 12thành ngữ là cụm từ cố định, có ý nghĩa [22, tr.77] Trong cuốn Từ và nhận diện từ
tiếng Việt, tác giả đã phân ra thành hai nhóm: thành ngữ hợp kết và thành ngữ hòa
kết Theo ông, thành ngữ hợp kết cũng có tính phân tích về nghĩa như các ngữ định
danh hợp kết Ví dụ: Trong thành ngữ rách như tổ đỉa, rách biểu thị một thuộc tính chung về tính chất, còn tổ đỉa phản ánh một thuộc tính chung về tính chất đó Và
thành ngữ hòa kết cũng có tính nhất thể hay tính tổng hợp về nghĩa như ngữ định danh hòa kết Nghĩa là nó cũng được hình thành trên cơ sở ẩn dụ hóa toàn bộ Ví
dụ: chó ngáp phải ruồi có ý nghĩa biểu thị sự gặp may Ý nghĩa này được thể hiện thông qua một quá trình chuyển hóa thành đơn vị hậu ngữ nghĩa khác là chó ngáp
phải ruồi Đơn vị hậu ngữ nghĩa này lại được biểu hiện trong các đơn vị ngữ âm cụ
thể Do đó cái ý nghĩa của chó, ngáp, phải, ruồi chỉ trực tiếp cấu thành đơn vị hậu
ngữ nghĩa chứ không trực tiếp phản ánh những thuộc tính của khái niệm gặp may
Có thể nói ngữ nghĩa của chúng đã hòa vào nhau để biểu thị một khái niệm mới [22,
tr 204]
Đặc biệt, tác giả Hoàng Văn Hành với chuyên khảo: Kể chuyện thành ngữ,
tục ngữ [29], đã đề cập một cách sâu sắc về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa của thành
ngữ Cũng năm 2002, trong công trình Thành ngữ học tiếng Việt, Hoàng Văn Hành
phân thành ngữ ra ba nhóm: a/ Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng; b/ Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng và c/ Thành ngữ so sánh Đồng thời, tác giả đã vận dụng tri thức lí
thuyết ở chương III và IV để nghiên cứu Giá trị nghệ thuật qua văn thơ của Chủ
tịch Hồ Chí Minh [30, tr.112-126] Tác giả khẳng định thành ngữ có những đặc
điểm:
- Về mặt cấp độ: thành ngữ là một đơn vị tương đương với từ
- Về mặt cấu trúc: thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, có cấu trúc hình thái chặt chẽ
- Về mặt ý nghĩa: nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa của các từ riêng
lẻ ghép lại với nhau mà là kết quả của quá trình biểu trưng hóa các sự vật, hiện tượng, thuộc tính Đây là nghĩa mà một số tác giả khác cho là nghĩa của thành ngữ
là nghĩa biểu trưng, hay nghĩa “bóng”
(2) Nghiên cứu thành ngữ theo hướng ngữ nghĩa
Trang 13Hướng ngữ nghĩa được rất nhiều tác giả nghiên cứu và có thể kể đến công
trình của Nguyễn Lực - Lương Văn Đang (1978) Thành ngữ tiếng Việt Công trình này đã phân biệt tục ngữ và thành ngữ rất rõ ràng, bên cạnh đó còn chỉ ra mối quan
hệ giữa hai loại hình này chủ yếu là xét về mặt nghĩa, mặt nhận thức của con người [49, tr.21-22] Tiếp theo là luận án của tiến sĩ Nguyễn Công Đức (1995) với tên gọi
“Bình diện cấu trúc hình thái ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt” [20], tác giả đã chia thành ngữ tiếng Việt thành ba loại dựa trên bình diện cấu trúc- hình thái đó là: thành ngữ đối, thành ngữ so sánh và thành ngữ thường Đặc điểm quan trọng của thành ngữ đối là sự đối ứng hoặc tương phản nghĩa hai vế của thành ngữ, tức là có quan hệ đối ý Đặc điểm của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt là có cấu trúc tổng quát A như B, trong đó A là đối tượng so sánh, B là đối chứng so sánh Đặc điểm của thành ngữ thường có cấu tạo chủ yếu là động ngữ, hoặc cấu trúc chủ - vị Ngoài
ra, trong luận án, tác giả đã chỉ ra một số nét văn hóa trong thành ngữ và đưa ra nhận định rằng thành ngữ cũng thuộc phạm vi quan tâm của nhiều ngành văn hóa học lân cận, đặc biệt là văn hóa dân gian Bên cạnh đó, chúng ta còn biết đến một số bài viết khác như: Nguyễn Xuân Hòa (2004) “Hiểu thêm về thành ngữ nuôi ong tay áo” [36]; Tạ Đức Tú (2005) “Một số thành ngữ có từ bụng” [79]; Nguyễn Đức Tồn
- Nguyễn Thị Minh Phương (2007) “Hiện tượng cải biến và đồng nghĩa của thành
ngữ tiếng Việt” [73]; Trí Sơn (2007) “Con rắn trong tâm thức của người Việt (qua thành ngữ, tục ngữ)” [62]…
Đỗ Thị Kim Liên với chuyên khảo: “Nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ Việt
Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa – ngữ dụng – văn hóa (trên tư liệu truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam” tác giả đã đề cập đến ngữ nghĩa và sự hành chức của thành
ngữ, tục ngữ trong truyện ngắn và thiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX – 1945;
từ 1945 – 2014, so sánh ngữ nghĩa và hành chức của thành ngữ - tục ngữ trong truyện ngắn và tiểu thuyết giai đoạn 1930 – 1945 Thêm vào đó, tác giả có so sánh
sự hành chức và khái quát đặc trưng văn hóa giữa thành ngữ, tục ngữ Việt Nam với thành ngữ, tục ngữ Pháp, Anh và cuối cùng là vấn đề dạy thành ngữ, tục ngữ trong nhà trường Trong luận án của mình, chúng tôi đã ít nhiều kế thừa về hướng nghiên cứu ngữ nghĩa của thành ngữ trong tư liệu truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam qua
Trang 14các gia đoạn của chuyên khảo trên và từ đó chúng tôi phát triển sâu về cấu tạo và ý nghĩa của thành ngữ trong ngữ cảnh có so sánh với một số tác phẩm Anh – Mỹ và
từ đó tìm ra một số đặc trưng văn hóa của người Việt và người Anh – Mỹ qua sử dụng thành ngữ trong tác phẩm văn học [47]
(3) Nghiên cứu thành ngữ theo hướng ngôn ngữ học tri nhận
Bài viết của Trần Thị Hồng Hạnh (2007) đã tập trung nghiên cứu sự trùng hợp và khác biệt trong việc lựa chọn các ẩn dụ trong nền văn hóa dựa trên cứ liệu thành ngữ tiếng Việt; hay khảo sát mối quan hệ giữa ẩn dụ và cấu trúc hình thức của thành ngữ [31] Hữu Đạt (2011) lại đi sâu nghiên cứu tri nhận không gian, thời gian
trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt [19] Nguyễn Đức Tồn (2008) “Đặc trưng tư
duy của người Việt qua ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ” [74]
(4) Hướng dựa vào ngôn ngữ học nhân chủng
Ở Việt Nam hiện nay, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào về
ngôn ngữ học nhân chủng Vì thế, luận án tiến sỹ “Nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt
từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng” của Trần Thị Hồng Hạnh (2011) được xem
là tác giả đầu tiên nghiên cứu hướng này và bước đầu đóng góp những lý luận của ngôn ngữ học nhân chủng vào việc nghiên cứu tiếng Việt và góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ - văn hóa – xã hội và xem đặc điểm văn hóa -
xã hội là cơ sở vật chất, còn ngôn ngữ là công cụ để qua đó lựa chọn những đặc điểm cụ thể nào đó hình thành nên nghĩa biểu trưng [33]
Thứ hai, nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa thành ngữ tiếng Việt và tiếng nước ngoài Thành ngữ luôn đóng vai trò quan trọng trong kho từ vựng của một ngôn ngữ,
do vậy, cho tới nay ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt
và đối chiếu với một số ngôn ngữ khác, để tiếp cận thành ngữ từ những góc nhìn,
như:
(1) Hướng dựa vào cấu trúc- ý nghĩa
Luận án của Phan Văn Quế (1996) “Ngữ nghĩa của thành ngữ- tục ngữ có
thành tố chỉ động vật trong tiếng Anh” (trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt)
thông qua nghiên cứu so sánh đối chiếu thành ngữ chứa thành tố chỉ động vật xét
đến yếu tố văn hóa trong nghĩa của từ trong tiếng Việt và tiếng Anh [59]
Trang 15Nguyễn Thị Tân (2004), với luận án “Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt”
đã chỉ ra sự biến đổi của các thành ngữ mượn tiếng Hán khi được sử dụng trong tiếng Việt dưới tác động của bối cảnh xã hội Việt Nam Trên cơ sở đó, chỉ ra sự
hình thành các cải biến khác nhau của cùng thành ngữ Hán trong tiếng Việt [66]
Nguyễn Xuân Hòa (2004), “Tiếp cận nguồn gốc và cách sử dụng nhóm thành ngữ phản ánh nền văn hóa dân tộc, lịch sử và phong tục tập quán dân tộc (trên ngữ liệu thành ngữ Nga và thành ngữ Việt” [36]
Phạm Minh Tiến (2006), “Đặc điểm thành ngữ so sánh tiếng Hán” (có đối
chiếu với tiếng Việt), Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) [71]
(2) Hướng dựa vào ngôn ngữ học tri nhận
Theo hướng này có thể kể đến các tác giả Phan Thế Hưng với đề tài luận án tiến
sĩ Ẩn dụ từ quan điểm ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh”
[39]
Nguyễn Ngọc Vũ (2008), trong luận án tiến sĩ “Thành ngữ tiếng Anh và
thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ tri nhận”, đã tập trung phân tích vai trò của ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm
trong việc tạo nghĩa cho lớp thành ngữ có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người Trong luận án này, tác giả đã không khảo sát toàn bộ các ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm
có liên quan mà tập trung khảo sát những bộ phận quan trọng, xuất hiện thường xuyên trong lớp thành ngữ được khảo sát Các thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt có chứa yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người được thống kê đầy đủ Tuy nhiên, tác giả chỉ
tập trung phân tích thành ngữ có chứa các yếu tố “đầu”, “mắt”, “tay”, “tim” v.v…
[82]
Trần Bá Tiến (2012) trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu thành ngữ biểu thị
tâm lý tình cảm trong tiếng Anh và tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận”,
đã so sánh thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn tri nhận, gồm hai nhóm chính: a) nhóm thành ngữ ẩn dụ tri nhận và b) hoán dụ tri nhận Tác giả cho rằng, điểm khác nhau thứ nhất giữa ẩn dụ và hoán dụ là dựa trên sự tương đồng của ẩn dụ
và sự tương cận của hoán dụ Nếu sự xuất hiện của từ này không làm thay đổi nghĩa của câu thì hiện tượng đó được xem là ẩn dụ Nếu cụm từ làm câu thay đổi nghĩa thì
Trang 16đó là hoán dụ [70, tr.34] Điểm khác nhau thứ hai, ẩn dụ là sự ánh xạ giữa hai miền khác biệt: miền nguồn (thường cụ thể) được sử dụng để hiểu miền đích (thường trừu tượng), còn hoán dụ chỉ diễn ra trong một miền ý niệm [65; tr 35]
Huỳnh Ngọc Mai Kha (2015) “Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ có từ chỉ
‘nước’ và ‘lửa’ trong tiếng Việt và tiếng Anh từ lý thuyết ẩn dụ tri nhận”, luận án
đã miêu tả ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh có từ chỉ ‘nước’
và ‘lửa’, từ đó so sánh đối chiếu để chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về ẩn
dụ tri nhận trong thói quen sử dụng ngôn ngữ và tư duy được thể hiện qua các thành
ngữ có từ chỉ nước và lửa trong tiếng Việt và tiếng Anh [41] Ngoài ra, còn có một
số công trình nghiên cứu khác như: Lý Lan (2009) với bài viết “Biểu trưng tình
cảm bằng các bộ phận cơ thể từ góc nhìn tri nhận của người bản ngữ tiếng Anh và tiếng Việt” [42] Luận án của Võ Kim Hà (2011) “Ẩn dụ tiếng Việt nhìn từ lý thuyết nguyên mẫu (so sánh với tiếng Anh và tiếng Pháp)”, tác giả khảo sát cấu trúc và
tính hệ thống của ẩn dụ dựa trên các nguyên tắc phân loại của lý thuyết nguyên mẫu
[26] Trịnh Thị Thanh Huệ (2012) với luận án tiến sĩ ngữ văn “Nghiên cứu so sánh
đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Việt và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên
tư liệu tên gọi bộ phận cơ thể người)” [38] Vi Trường Phúc (2014) với đề tài trong
luận án tiến sĩ “Nghiên cứu thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Hán từ góc độ
ngôn ngữ học tri nhận: Có liên hệ với tiếng Việt” [58]…
2.2 Tình hình nghiên cứu thành ngữ tiếng Anh
Là một bộ phận quan trọng trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ, do đó thành ngữ luôn thu hút sự quan tâm và chú ý rất lớn của các nhà nghiên cứu không chỉ trong nước mà còn trên thế giới, trong đó có tiếng Anh Theo Cowie (1998), tác giả cho rằng thành ngữ học đã được giới nghiên cứu của Liên Xô và Đông Âu tập trung nghiên cứu từ thập niên 50 của thế kỷ trước Trong hơn ba mươi năm trở lại đây, thành ngữ đã trở thành lĩnh vực thu hút rất nhiều sự chú ý của giới học giả không chỉ ở Tây Âu mà cả ở Hoa Kỳ Điều này thể hiện qua việc nhiều hội thảo quốc tế về thành ngữ đã được tổ chức Bên cạnh đó, các dự án nghiên cứu thành ngữ trên qui mô lớn trong cả lĩnh vực ngôn ngữ lí thuyết và ngôn ngữ học ứng dụng
đã được triển khai [99, tr 98]
Trang 17Có thể điểm lại các ý kiến nghiên cứu về thành ngữ tiếng Anh theo ba hướng sau:
(1) Nghiên cứu thành ngữ theo hướng cấu tạo và ngữ nghĩa
Weinreich.U (1969) có công trình nghiên cứu: “Problem in analysis of
idioms” (Vấn đề phân tích thành ngữ), in trong cuốn Substance and structure of language (Bản chất và cấu trúc ngôn ngữ), University of California Press, Berkeley,
tác giả đã nghiên cứu sâu cấu tạo của thành ngữ, nghĩa biểu trưng của thành ngữ [144, tr.23-81] Năm 1981, tác giả Wood M M lại đi theo hướng ngữ nghĩa để phân
tích thành ngữ tiếng Anh trong công trình A definition of idiom (Ý nghĩa của thành
ngữ) [139]
Năm 1972, tác giả Makkai K lại tiếp tục nghiên cứu sâu cấu trúc thành ngữ
tiếng Anh với công trình Idioms structure in English (Cấu trúc thành ngữ trong
tiếng Anh) [131, tr.188] Theo ông, cấu trúc của thành ngữ tiếng Anh không cân đối hài hòa như thành ngữ tiếng Việt Chúng thường có dạng động từ kết hợp với danh
từ và giới từ chiếm số lượng nhiều nhất, tiếp đó là giới từ kết hợp với giới từ hoặc giới từ kết hợp với tính từ rồi đến giới từ
Moon.R (1998) nghiên cứu về ngữ cố định trong tiếng Anh, bà đưa ra định nghĩa rộng hơn về thành ngữ và bà dùng thuật ngữ “ngữ cố định” (fixed expressions) thay cho thành ngữ (idioms) Theo bà, ngữ cố định không nhất thiết phải cố định bởi lẽ trong thực tế, chúng có thể có những thay đổi về cú pháp và từ vựng Theo cách phân loại này, các ngữ cố định được chia thành 3 loại: (a) các kết hợp không theo qui tắc (anomalous collation); (b) kết hợp theo công thức (formulae), (c) ẩn dụ (metaphor) Các kết hợp từ không theo qui tắc thể hiện quan điểm ngữ pháp từ vựng, kết hợp theo công thức liên quan đến ngữ dụng và ẩn dụ liên quan đến ngữ nghĩa [133, tr.141]
(2) Nghiên cứu thành ngữ theo hướng tri nhận
Năm 1980, Lakoff G và Johnson M đã nghiên cứu hệ thống các khái niệm liên quan đến ẩn dụ, trong đó có thành ngữ [125] Đến năm 1987, Lakoff cho rằng trong bộ não của mỗi người chúng ta đều có một tập hợp lớn các hình ảnh qui ước
về thế giới xung quanh Các hình ảnh này cũng phụ thuộc vào môi trường văn hóa
Trang 18xã hội mà mỗi cá nhân là thành viên Những hình ảnh qui ước này là nền tảng cho hoạt động ý niệm hóa và tạo nghĩa hàm ẩn của thành ngữ [125, tr.135] Năm 1989,
Lakoff và Turner lại chia ẩn dụ thành hai dạng; ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor)
và ẩn dụ ngôn ngữ (linguistic metaphor) [127]
Baker M (1992) nhận thấy có một số thành ngữ cố định có thể biến đổi hình
thái một ít hoặc không biến đổi như: having said that (nghĩa: mặc dù đã nói như
vậy) sử dụng trong trường hợp người nói muốn thêm vào một điều gì đó có vẻ đối
ngược với điều mà bản thân anh ta/ cô ta vừa mới nói trước đó; as a matter of fact (thực ra mà nói, trong thực tế); not at all (không đâu, không chút nào, không dám: lời đáp khi ai đó cảm ơn mình), ladies and gentlemen (thưa quí vị); all the best
(chúc mọi điều tốt đẹp) Và những thành ngữ này nghĩa rất dễ dàng luận ra từ nghĩa
các thành tố cấu thành Ngược lại, một số thành ngữ thì nghĩa hoàn toàn khác và không thể luận ra từ nghĩa của các thành tố cấu thành, như: pull a fast one (đánh lừa, lừa dối); fill the bill (đáp ứng mọi yêu cầu, làm tất cả những gì cần thiết) [90, tr
63]
Kovecses Z và Szabo P (1996) với bài viết “Idiom: A view from cognitive
linguistics” (Thành ngữ: Từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận) lại đề cập đến vấn đề
thành ngữ từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận và hai ông đã đi sâu phân tích nhóm
thành ngữ tiếng Anh chỉ bộ phận cơ thể người “hand” (tay), “foot” (chân), “face”
(mặt) [123]
Trong công trình nghiên cứu của mình, King G (2000) cho rằng một số tổ
hợp từ mà giữa các thành tố có quan hệ ẩn dụ (metaphor) được xem là thành ngữ (idiom) vì được sử dụng một cách rộng rãi trong ngôn ngữ hằng ngày và nó diễn tả bằng cách suy đoán với nghĩa hoàn toàn khác nhau (hàm ẩn) Ví dụ: as clear as
crystal (rõ như ban ngày) là một thành ngữ thể hiện đặc điểm tương đồng nhau giữa clear (rõ ràng) và crystal (pha lê, thủy tinh: trong suốt dễ thấy) Và một số ẩn dụ sau
đây ông cho là thành ngữ: New ideas blossomed in her mind (ý tưởng mới nảy sinh trong đầu của cô ấy/ blossom nghĩa: ra hoa, trổ hoa); His temper boiled over (tính khí anh ấy làm hư hết việc/ boil nghĩa: luộc, nấu) và ẩn dụ có khả năng giải thích
một biểu hiện mơ hồ phức tạp trở nên dễ hiểu và rõ ràng hơn [120, tr 216]
Trang 19Trong Metaphor, Cognition and Culture (Ẩn dụ, tri nhận và văn hóa) thì
Maalej Z (2005) cho rằng cả thành ngữ và ẩn dụ đều có điểm chung là chúng không thể hiểu được, nếu hiểu theo nghĩa đen Ông nhận định rằng thành ngữ và ẩn
dụ mang nét đặc trưng văn hóa của một ngôn ngữ [130, tr 133 - 162]
Theo thời gian, có thể kể đến những công trình nghiên cứu thành ngữ của các
tác giả khác, như: Wright J (1999) với đề tài Idioms organiser: Organised by
metaphor, topic and key word (Cách sử dụng thành ngữ: Sử dụng trong ẩn dụ và các
chủ đề) [146] Benczes R (2002) nghiên cứu các khái niệm “head” (đầu) và xem thành ngữ “head” như vật chứa (The head as a container) trong thành ngữ tiếng
Anh [93] Trong nghiên cứu của mình, Langlotz A (2006) nghiên cứu chuyên sâu về
các cấu trúc hàm ẩn của thành ngữ [128] Liu D (2008) với cuốn Idioms:
Description, comprehension, acquisition and pedagogy (Thành ngữ: miêu tả, hiểu,
thụ đắc và phương pháp sư phạm) [129]
(3) Nghiên cứu thành ngữ theo hướng ngôn ngữ học nhân chủng
Theo hướng này phải kể đến tác giả Duranti A (2009) trong cuốn Linguistic
Anthropology (Ngôn ngữ học nhân chủng), theo ông ẩn dụ cũng có thể xem như là
một trường hợp phản ánh quá trình giao tiếp thông qua các dạng thức ngôn ngữ, hay
ẩn dụ là các dạng thức ngôn ngữ làm phương tiện chuyển tải các thông điệp [96, tr.38] Cùng quan điểm với Duranti A còn có tác giả Kovecses Z, ông cũng quan tâm đến ẩn dụ nhưng không chỉ dưới góc nhìn tri nhận mà cả phương diện văn hóa
xã hội, tác giả có cách tiếp cận gần giống với ngôn ngữ nhân chủng và nghiên cứu thành ngữ ở hai điểm: (1) “Những đặc trưng văn hóa xã hội tạo nền tảng cho việc nghiên cứu nghĩa biểu trưng của ẩn dụ chính là những tri thức mang tính ẩn dụ Như
vậy, những thành ngữ như cá nằm trên thớt; vắt cổ chảy ra nước… là những thành
ngữ dễ dàng cho chúng ta nhận thấy tính ẩn dụ của chúng thể hiện trong từng yếu tố cấu tạo nên thành ngữ và bao trùm lên toàn bộ thành ngữ Tuy nhiên, những thành
ngữ như mặt vàng như nghệ; như ngồi phải tổ kiến… về mặt hình thức là những
thành ngữ so sánh, song nghĩa biểu trưng của nó là mang tính ẩn dụ; (2) Những đặc trưng mang tính ẩn dụ đó vừa có thể phản ảnh tính phổ niệm vừa có thể phản ánh tính riêng biệt trong văn hóa xã hội của dân tộc sở hữu nó [Dẫn theo Trần Thị Hồng
Trang 20Hạnh (31), tr 44 -46]
Tóm lại, tổng quan về nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh ở trên, chúng tôi nhận thấy có nhiều khía cạnh khác nhau của thành ngữ được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đề cập đến nhưng họ chỉ mới dừng lại tìm hiểu thành ngữ như những đơn vị cố định, có sẵn mà chưa xem xét thành ngữ hành chức qua lời nhân vật trong ngữ cảnh cụ thể và chưa có công trình chuyên sâu nào về so sánh đối chiếu nghệ thuật sử dụng thành ngữ trong truyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam (có so sánh với một số tác phẩm văn học tiếng Anh) Do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài
“Thành ngữ trong một số truyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam (có so sánh với thành
ngữ trong một số tác phẩm văn học Anh – Mỹ” làm đề tài nghiên cứu của luận án
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh trong các truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam hiện tại có so sánh với thành ngữ trong tác phẩm văn học Anh – Mỹ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án này là nghiên cứu đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và các đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua các thành ngữ được dùng trong các tác phẩm văn học hiện đại Phạm vi ngữ liệu khảo sát giới hạn ở 13 tác phẩm của các nhà văn Việt Nam và 8 tác phẩm của các nhà văn Anh – Mỹ tiêu biểu, trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến 2015
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án đặt ra những nhiệm vụ cần phải thực hiện sau đây:
- Luận án có nhiệm vụ tìm hiểu những vấn đề cơ bản về lý thuyết cả tiếng Anh và tiếng Việt có liên đến đề tài nghiên cứu như định nghĩa thành ngữ, đặc điểm của thành ngữ, phân loại thành ngữ, phân biệt thành ngữ với tục ngữ, phân biệt thành ngữ với quán ngữ, lý thuyết tín hiệu và tín hiệu trong diễn ngôn văn chương, những nhân tố chi phối ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ hội thoại trong diễn ngôn văn chương, cơ chế hình thành ý nghĩa thành ngữ xét trong cấu tạo nội bộ và trong tác
Trang 21phẩm văn học, lý thuyết về văn hóa, quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, những vấn
cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận như ý niệm và khái niệm, ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm, ý niệm hóa văn hóa và tri nhận văn hóa
- Thống kê số lượng, miêu tả và phân tích cấu tạo của thành ngữ nguyên dạng và cải biến và ý nghĩa của thành ngữ xét trong quan hệ hành chức với nhóm thành ngữ giữ nguyên ngữ âm và biến đổi ngữ âm gắn với đặc điểm nhân vật, tình huống giao tiếp
- Đối chiếu kết quả phân tích và chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách
sử dụng thành ngữ trong hai ngôn ngữ, từ đó rút ra nét riêng biệt về đặc trưng văn hóa của hai dân tộc như văn hóa lúa nước, văn hóa tôn giáo – tín ngưỡng, văn hóa tri nhận
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn sử dụng những phương pháp sau:
âm nhưng biến đổi về ý nghĩa, nhóm thành ngữ biến đổi ngữ âm dẫn đến biến đổi ý nghĩa, nhóm thành ngữ phản ánh văn hóa lúa nước, nhóm thành ngữ phản ánh văn hóa tâm linh - tín ngưỡng và nhóm thành ngữ phản ánh văn hóa tri nhận… để đi sâu
mô tả, phân tích và rút ra những kết luận phù hợp
- Vận dụng một số thủ pháp giải thích bên ngoài như thủ pháp trường nghĩa, thủ pháp phân tích ngữ cảnh để miêu tả ngữ nghĩa của thành ngữ Trong luận án, chúng tôi không phân tích thành ngữ ở dạng tĩnh trong từ điển có sẵn mà chúng tôi phân tích ở dạng động, gắn với ngữ cảnh và thông qua lời nhân vật để xác định ý nghĩa của thành ngữ
5.2 Phương pháp so sánh đối chiếu
Trang 22Chúng tôi xác lập cơ sở lí luận thành ngữ trong các tác phẩm tiếng Việt và tiếng Anh và có so sánh với tiếng Anh nhằm chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt về phương diện ý nghĩa, cấu tạo và đặc trưng văn hóa
5.3 Phương pháp thống kê
Chúng tôi dùng phương pháp này để thống kê ngữ liệu trong 13 tác phẩm tiếng Việt và 8 tác phẩm tiếng Anh nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu của luận án Toàn bộ ngữ liệu do chúng tôi tự tổng hợp với số lượng cả hai ngôn ngữ là 3.389 đơn vị, trong đó tiếng Việt là 1.509 thành ngữ và tiếng Anh là 1.880 thành ngữ
5.4 Phương pháp diễn ngôn
Sau khi thống kê phân loại thành ngữ được sử dụng trong các tác phẩm Việt Nam và Anh-Mỹ, chúng tôi tiến hành phân tích và miêu tả về cấu tạo, ngữ nghĩa và đặc trưng văn hóa của thành ngữ dựa vào ngữ cảnh và lời nói của nhân vật
6 Đóng góp mới của đề tài
6.1 Về phương diện lý thuyết
Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ và hệ thống về những vấn đề lí luận của thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh cũng như cách nhận dạng, phân biệt thành ngữ với tục ngữ và đưa ra nhận định khái quát chung về thành ngữ trong hai ngôn ngữ Việt – Anh, ứng dụng kết quả nghiên cứu trong việc biên soạn chương trình, dạy-học ngoại ngữ
6.2 Về phương diện thực tiễn
- Luận án tập hợp được một số lượng tư liệu là 3.389 thành ngữ trong hành
chức tiếng Việt và tiếng Anh với phụ lục 577 trang Trên cơ sở đó, kết quả nghiên cứu làm tiền đề biên soạn Từ điển thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh trong hành chức để phục phục cho việc học tập, giảng dạy và sử dụng thành ngữ
- Kết quả nghiên cứu giúp nhận diện thành ngữ một cách có hệ thống, đặc biệt là thành ngữ tiếng Anh, hiểu thêm về đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc và có thể áp dụng vào việc giảng dạy thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt như là một ngoại ngữ và hỗ trợ trong công tác dịch thuật Ngoài ra đề tài này còn giúp cho người Việt học tiếng Anh và người nước ngoài học tiếng Việt hiểu rõ được những đặc trưng cơ bản về cấu tạo và ý nghĩa của thành ngữ
Trang 237 Cấu trúc đề tài
Luận án gồm 4 chương, việc tổ chức như vậy có số lý do sau: Chương 1, sử dụng một số lý thuyết để giúp nhận dạng và phân loại thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh cũng như phân biệt thành ngữ và tục ngữ một cách dễ dàng và tránh sự nhầm lẫn Chương 2, tập trung nghiên cứu về cấu tạo thành ngữ nhằm giúp người nghiên cứu nắm được các kiểu dạng thành ngữ trong 2 ngôn ngữ một cách khoa học và có
cở sở Chương 3, ý nghĩa của thành ngữ được quan tâm ở chương này vì chúng tôi muốn tìm hiểm và xem xét nghĩa mới của chúng trong các tác phẩm nghiên cứu có những điểm gì mới so với nghĩa trong từ điển Chương 4, Nghiên cứu đặc trưng văn hóa của thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, vì chúng tôi muốn người học ngoại ngữ hiểu rõ hơn về văn hóa của mỗi dân tộc, sử dụng đúng, hiểu ý nghĩa thành ngữ một cách cặn kẽ và dịch thuật chính xác hơn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án của 4 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Trình bày quan điểm về thành ngữ, nhận diện và phân loại thành ngữ; đặc điểm thành ngữ Trong chừng mực nhất định, ở chương này luận án vận dụng các vấn đề có tính lý thuyết trên để làm nền tảng cho việc trình bài nội dung các chương tiếp theo của luận án
Chương 2: Cấu tạo của thành ngữ trong một số truyện ngắn, tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại (có so sánh với thành ngữ trong một số tác phẩm văn học Anh-Mỹ)
Ở chương này, tập trung vào việc thống kê số lượng, phân loại, miêu tả và phân tích cấu tạo thành ngữ nguyên dạng và thành ngữ cải biến trong những tác phẩm truyện ngắn - tiểu thuyết Việt Nam và Anh-Mỹ
Chương 3: Ý nghĩa của thành ngữ trong một số truyện ngắn, tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại (có so sánh với thành ngữ trong một số tác phẩm văn học Anh – Mỹ)
Miêu tả, phân tích và tìm hiểu sâu về biểu hiện ý nghĩa của thành ngữ xét
trong quan hệ hành chức của nhóm thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh và đưa ra
nhận xét về ý nghĩa thành ngữ của hai ngôn ngữ
Chương 4: So sánh đặc trưng văn hóa Việt và văn hóa Anh-Mỹ qua sử dụng
Trang 24thành ngữ trong tác phẩm văn học
Qua chương này, luận án đưa ra một số cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ và văn hóa, và tìm hiểu về biểu hiện văn hóa của người Việt so với người Anh-Mỹ qua nhóm thành ngữ phản ánh văn hóa lúa nước; nhóm thành ngữ phản ánh văn hóa tâm linh – tín ngưỡng; nhóm thành ngữ phản ánh văn hóa tri nhận của người Việt và
Anh-Mỹ, đồng thời đưa ra những lý giải cho các đặc trưng văn hóa đó
Trang 25Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Nhận diện thành ngữ
1.1.1 Định nghĩa thành ngữ
1.1.1.1 Định nghĩa thành ngữ tiếng Việt
Về định nghĩa thành ngữ, trong tiếng Việt, theo các nhà nghiên cứu, sớm nhất là định nghĩa của Dương Quảng Hàm Ông được biết như là tác giả đầu tiên
đưa ra định nghĩa thành ngữ tiếng Việt Trong Việt Nam văn học sử yếu, tác giả
viết: “Thành ngữ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý hoặc một trạng thái gì cho nó màu mè” [27, tr 15]
Tác giả Nguyễn Văn Tu (1976) trong Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại cho
rằng: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố tạo ra Có thể có tính hình tượng cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học” [76, tr.189]
Trong Hoạt động của từ tiếng Việt (1978), tác giả Đái Xuân Ninh đưa ra định
nghĩa: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất đi tính độc lập
ở các mức độ nào đó và kết hợp lại thành một khối lượng tương đối vững chắc và hoàn chỉnh” [55, tr 212]
Nói về thành ngữ, Nguyễn Thiện Giáp trong giáo trình Từ vựng học tiếng
Việt (1985) cho rằng “Thành ngữ là những đơn vị định danh biểu thị khái niệm nào
đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể.” [22, tr 77]
Tác giả Diệp Quang Ban trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (2010) định nghĩa như sau: “Thành ngữ (Formulatic phrase) là một tổ hợp từ tương đối ít biến
đổi trong thành phần cấu tạo, có tính chất trọn vẹn về nghĩa tương đương với cấu
tạo của một từ có nghĩa từ vựng, như nước đổ lá khoai có nghĩa là “không có tác dụng”, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược là “không thống nhất (với nhau) về nghĩa,
hành động” [1, tr 458]
Hoàng Văn Hành lại xem “Thành ngữ là những tổ hợp từ ‘đặc biệt’, cố định,
Trang 26bền vững về hình thái- cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về ý nghĩa được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ” [29; tr.27]
Ngoài yếu tố ngữ nghĩa và cấu trúc, Nguyễn Như Ý quan tâm đến yếu tố ngữ
âm trong thành ngữ và quan điểm của ông “Thành ngữ là những cụm từ cố định, thường có vần điệu, thường sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày, trong đó nghĩa không giải thích đơn giản bằng ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó.” [87, tr 719] Trước khi chữ viết ra đời, yếu tố vần điệu trong thành ngữ giúp người ta dễ nhớ hơn cũng như biểu lộ tình cảm, cảm xúc
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2001)
trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt xem thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa Nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm [13,
tr.157]
Hoàng Phê (2013) trong Từ điển tiếng Việt, định nghĩa rằng: “Thành ngữ là
tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không giải thích được một
cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên, ví dụ: đứng mũi chịu sào; mẹ tròn con
vuông.” [57, tr.137]
Theo Đỗ Thị Kim Liên (2014) trong Ngôn ngữ học đại cương cho rằng:
“Thành ngữ là đơn vị do một số từ hợp lại, có cấu tạo cố định, có nghĩa biểu trưng,
có chức năng cấu tạo câu” [46, tr 215]
Mặc dù không có sự thống nhất để xác định thành ngữ tiếng Việt, chúng tôi lựa chọn những đặc điểm của thành ngữ được nhiều học giả chấp nhận làm căn cứ
để nghiên cứu của luận án: về mặt cấu tạo, thành ngữ là cụm từ gồm ít nhất ba từ,
chúng tôi không chấp nhận hai từ mà phải ba từ trở lên (hái ra tiền, hôi như cú), vì
nếu hai từ là từ ghép Điều này khác tiếng Anh, tiếng Anh thì thành ngữ có số lượng
2 từ hoặc nhiều hơn hai từ; về cấu trúc, thành ngữ thường cố định và hoàn chỉnh; về mặt ngữ nghĩa, thành ngữ mang nghĩa bóng, khó suy đoán từ nghĩa thành phần
1.1.1.2 Định nghĩa thành ngữ tiếng Anh
So với tiếng Việt, quan điểm cũng như định nghĩa về thành ngữ trong tiếng
Anh (idioms) phức tạp hơn nhiều Theo Hocket C F (1958), bất cứ thành tố ngôn
ngữ nào mà nghĩa của nó không thể suy ra từ thành phần cấu tạo nên nó, có thể
Trang 27được xem là thành ngữ, bao gồm từ đơn vị nhỏ nhất như hình vị (ví dụ: telephone
= tele - xa và phone -âm thanh) cho đến cấp độ mệnh đề (ví dụ: What’s up? - Có
chuyện gì vậy? [113, tr.76]
Katz J.J & Postal P (1963) lại phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác bằng kiểm tra chuyển đổi cú pháp và tạo sinh Hai tác giả cho rằng nếu là thành ngữ thì không thể thay thế bằng một thành tố khác hoặc chuyển sang dạng bị động [118] Tuy nhiên, Weinreich U (1969) có quan điểm khác và cho rằng: “thành ngữ phải là cụm từ có ít nhất hai từ và nghĩa không thể suy ra từ nghĩa thành phần
Bên cạnh đó chúng phải có hai nghĩa, nghĩa đen và nghĩa bóng, và có thể gây ra sự
mơ hồ [144, tr.23] Chẳng hạn, thành ngữ “bury one’s nose into something” (nghĩa đen: chôn mũi vào việc gì, nghĩa bóng: dành hết thời gian vào việc gì đó) Với cách xác định như vậy thì các ngữ cố định như: at the moment (hiện giờ), all at one (cùng
một điểm thời gian) không phải là thành ngữ vì chúng không có nghĩa đen và nghĩa bóng
Swinney D.A và Cutler A (1972) thì định nghĩa như sau: "Thành ngữ là một chuỗi của hai hoặc nhiều từ mà nghĩa của nó không thể suy ra từ nghĩa thành phần" [142]
Wood M.M (1981) tuy đi sau 12 năm nhưng lại có cùng quan điểm với Weinreich: “Thành ngữ là một cụm từ phức hợp mà nghĩa của nó hoàn toàn không thể suy ra từ nghĩa thành phần và hoàn toàn không thể thay thế thành tố hoặc
chuyển đổi về mặt hình thức” [145, tr.95]
Năm 1986, tác giả Irujo S cho rằng thành ngữ là một qui ước mà nghĩa của
nó không thể được xác định từ các ý nghĩa thành phần [115] Đến lượt mình, Carter
R (1993) định nghĩa thành ngữ như sự kết hợp đặc biệt với hình thức giới hạn mà nghĩa của nó không thể được suy ra từ nghĩa đen của thành phần Do đó, thành ngữ được hiểu và sử dụng như một đơn vị duy nhất Nó không nên phân tích nghĩa thành phần; và luôn mang nghĩa biểu trưng [96, tr 65]
Jonathan Crowther (1995) trong tự điển Oxford Advanced Learner’s
Dictionary định nghĩa: “Thành ngữ là một cụm từ hoặc câu mà nghĩa của nó không
rõ ràng từ nghĩa thành phần và nghĩa của nó phải được hiểu trong tổng thể Nói cách
Trang 28khác là nghĩa của nó không thể suy ra từ nghĩa thành phần Ví dụ: bite of dust, không thể suy ra từ nghĩa thành phần bằng nghĩa đen như: bite: cắn, dust: bụi mà phải được hiểu trong tổng thể thành ngữ: bite of dust có nghĩa là: bị thất bại, sạt
nghiệp [114, tr 599] The Longman Pocket Dictionary (2001) cũng có định nghĩa
tương tự: “Thành ngữ là một cụm từ mà nghĩa của nó khác với nghĩa của thành phần [136, tr.589]
Tác giả Palmer F.R (1996) nhận định rằng: “Thành ngữ xem như một từ đơn trong ngữ nghĩa, và nó không có chức năng như một từ Một số lượng lớn thành ngữ
có chứa một động từ và một danh từ, mặc dù động từ có thể chia ở thể quá khứ,
nhưng danh từ không bao giờ được thay đổi" Ví dụ: thành ngữ kick the bucket và
kicked the bucket đều có nghĩa là: chết và thành ngữ này được sử dụng rộng rãi
trong tiếng Anh Trái lại, thành ngữ "kick the buckets” thì không ai sử dụng [135, tr
80]
Tác giả Seidl J và Mc Mordie W (1997) trong công trình English idioms
quan niệm: “Thành ngữ là một cụm từ, khi đi với nhau, có nghĩa khác với nghĩa của mỗi từ riêng lẻ” [140, tr.13]
Đến năm 2003, tác giả Abel B lại cho rằng “Thành ngữ là cụm từ cố định
mà nghĩa biểu trưng của nó không thể dựa vào nghĩa đen của các thành phần riêng lẻ” [89] Ngược lại, theo Grant L E và Bauer L (2004), thành ngữ phải có nghĩa tổng thể không thể suy đoán từ nghĩa thành phần và không mang nghĩa đen Ví dụ:
kill two birds with one stone (nghĩa đen: giết hai con chim bằng một hòn đá, nghĩa
bóng: một công đôi việc) và a dog in the manger (nghĩa đen: con chó bên máng ăn, nghĩa bóng: chó già giữ xương) là các cụm từ mang nghĩa bóng, không phải là thành ngữ Còn cụm từ by and large (nhìn chung, nói chung) được xem là thành
ngữ [108, tr 38]
O’Dell và McCarthy (2010) với công trình English Idioms in Use (Thành
ngữ tiếng Anh trong sử dụng) xem thành ngữ là một cụm cố định từ mà nghĩa của chúng không có thể suy đoán từ các từ riêng lẻ và cách tốt nhất để hiểu thành ngữ thì phải dựa vào ngữ cảnh Thành ngữ cố định về hình thái – cấu trúc, tuy nhiên có đôi lúc thay đổi một ít về ngữ pháp và từ vựng [103] Cùng quan điểm này, trong
Trang 29công trình nghiên cứu về thành ngữ Idioms and Phrasal Verbs (Thành ngữ và cụm
đồng từ), hai tác giả Gairns R và Redman S (2011) cũng cho rằng thành ngữ là một cụm từ mà nghĩa của nó thì rất khó để hiểu với từng từ riêng lẻ, không dễ để đoán nghĩa và muốn hiểu nó thì phải dựa vào ngữ cảnh Đa số thành ngữ không thay đổi
về hình thức, ví dụ ring a bell (nghe quen) được xem là thành ngữ Nhưng nếu nó thay đổi hình thức thành bring the bell thì không được xem là thành ngữ Và thành
ngữ được dùng rất phổ biến trong tiếng Anh [107, tr.8]
Tóm lại, tổng quan về việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Anh ở trên chúng tôi thấy một số tác giả cũng không thống nhất trong cách xác định thành ngữ Tuy nhiên, có một số tiêu chí được nhiều học giả chấp nhận xem thành ngữ là cụm từ và
ý nghĩa không được suy ra từ các từ riêng lẻ nên chúng tôi chọn định nghĩa thành ngữ tiếng Anh của O’Dell và McCarthy (2010) và có bổ sung “Thành ngữ là cụm từ
cố định mà nghĩa không thể suy ra từ nghĩa thành phần của từng từ riêng lẻ, có nghĩa biểu trưng” Nếu đối chiếu định nghĩa này với quan điểm về thành ngữ trong tiếng Việt, thì chúng có những tương đồng như: là cụm từ cố định; có nghĩa khái quát suy ra từ các thành tố; có chức năng cấu tạo câu (phát ngôn) khi người nói vận dụng trong giao tiếp Tuy nhiên, yếu tố vần điệu không thấy được nhắc đến trong tiếng Anh Điều này cũng dễ hiểu vì tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình và âm tiết thường nhấn theo trọng âm, khác với ngôn ngữ thanh điệu như tiếng Việt không có đặc điểm này
1.1.2 Đặc điểm của thành ngữ
1.1.2.1 Đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt
- Về ý nghĩa: Thành ngữ có nghĩa biểu trưng, nghĩa hình tượng, vì cả khối
(ngữ cố định) mới biểu thị một khái niệm, không thể suy ra ý nghĩa của từng thành
tố
Ví dụ: rán sành ra mỡ nói đến tính keo kiệt; chọn đá thử vàng ý là chọn người tốt mà kết bạn; mèo mả gà đồng nói đến tính buông thả; ba chân bốn cẳng nói chạy rất nhanh; múa rìu qua mắt thợ nói đến người tỏ ra mình là người giỏi trước một người đã rất giỏi; ếch ngồi đáy giếng nói đến tầm nhìn hẹp
- Về cấu tạo: Thành ngữ có cấu tạo lớn hơn từ, đó là cụm từ cố định, nghĩa là
Trang 30giữa các thành tố có quan hệ chặt chẽ, trật tự của chúng, về cơ bản là cố định
Thành ngữ có cấu tạo từ 3 đến 9 âm tiết, và có thể nhiều hơn 10 âm tiết Tuy nhiên, thành ngữ có 4 và 6 âm tiết chiếm số lượng nhiều nhất Ví dụ:
+ Thành ngữ 3 âm tiết: nợ như cồn; sắc như nước; vui như Tết; im như hến;
yếu bóng vía; da bọc xương; tiếc đứt ruột; trơ mắt ếch; rợn tóc gáy …
+ Thành ngữ 4 âm tiết: án binh bất động; bán lưng cho trời; cá nằm trên thớt; chỉ tay năm ngón; Hằng hà sa số; mặt búng ra sữa; ngàn năm có một…
+ Thành ngữ 5 âm tiết: trời sinh voi sinh cỏ; chuyện nở như ngô rang; đen như củ tam thất; như mặt trăng mặt trời; cõng rắn cắn gà nhà …
+ Thành ngữ có 6 âm tiết: vung tay ném qua của sổ; vừa ăn cướp vừa la làng; lệnh ông không bằng công bà; chòng chành như nón không quai …
+ Thành ngữ có 7 âm tiết: vênh váo như khố rợ phải lấm; dửng dưng như bánh chưng ngày Tết; lầm rầm như thầy bói nhẩm quẻ; lẩy bẩy như Cao Biền dậy non; thằng còng làm cho thằng ngay ăn…
+ Thành ngữ có 8 âm tiết: nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa; cháy nhà hàng xóm bình chân như vại; khép nép như dâu mới về nhà chồng…
+ Thành ngữ có 9 âm tiết trở lên: con nhà tông không giống lông cũng giống cánh; đánh kẻ chạy đi ai đánh kẻ chạy lại; việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng
Có khi thành ngữ có cấu tạo 12, 13 âm tiết: ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo;
làm như mèo mửa (12 âm tiết) …
- Về phương thức cấu tạo:
+ Thành ngữ thể hiện lối nói giàu hình ảnh, giàu tính biểu cảm, được cấu tạo theo phương thức ẩn dụ, hoán dụ, so sánh Ví dụ:
Dùng phép ẩn dụ: mèo mả gà đồng (tính buông thả); ếch ngồi đáy giếng (tầm nhìn hẹp); thẳng ruột ngựa (tính ngay thẳng); đo bò làm chuồng (làm việc quá cẩn
thận, tỉ mỉ một cách thừa, không cần thiết, ví như phải đo kích thước từng con bò để làm chuồng cho vừa cho khớp)…
Dùng phép hoán dụ: chân lấm tay bùn (chỉ sự vất vả); đầu chày đít thớt (chỉ người có địa vị thấp kém); chỉ tay năm ngón (chuyên sai bảo); mồm năm miệng
mười (chỉ người nói nhiều)…
Trang 31Dùng phép so sánh: đẹp như tiên; hôi như cú; tối như đêm ba mươi, cứng
như sắt; cao như sếu; chết như rạ…
+ Thành ngữ được cấu tạo từ những thành tố cụ thể, phản ánh những suy
nghĩ, phong tục tập quán, môi trường sống và đặc trưng văn hóa của người Việt Ví
dụ: đắt như tôm tươi; khỏe trâu hơn bạo bò; sư tử Hà Đông; cáy vào hang cua…
- Về chức năng: Thành ngữ có cấu tạo của cụm từ cố định nên có chức năng
kết hợp với những thành tố khác để tạo nên câu (phát ngôn) Thành ngữ cũng có khả năng thay đổi một vài yếu tố, chêm xen hoặc giản lược thành tố, đảo trật tự các thành tố trong phát ngôn, nhờ đó đã tạo cho thành ngữ có sự biến đổi hình thức một cách sinh động
1.1.2.2 Đặc điểm của thành ngữ tiếng Anh
- Về ý nghĩa: Thành ngữ là cụm từ cố định bao gồm ít nhất hai từ, mang nghĩa bóng, hoặc bán nghĩa đen, khó suy đoán từ nghĩa thành phần Ví dụ: spill the
beans (nói bí mật cho người khác biết)
- Về phương thức cấu tạo: Thành ngữ được cấu tạo theo phương thức ẩn dụ, hoán dụ và so sánh Ví dụ: hit the books (học tập chăm chỉ); as fresh as a daisy
(tươi như hoa)
- Về cấu tạo: Thành ngữ là cụm từ cố định, gồm ít nhất hai từ, không thể thay thế thành tố hoặc chuyển đổi về mặt hình thức Ví dụ: in black and white (giấy trắng mực đen); read off (biểu lộ ra, thể hiện)
- Về chức năng: Có chức năng cấu tạo phát ngôn Ví dụ: you scratch my
back, I scratch yours (ăn miếng trả miếng)
Tuy nhiên, về đặc điểm của thành ngữ, Bell R T (1974), [92, tr 3] đã đưa ra một số đặc điểm cần thiết để giúp nhận diện thành ngữ đó là:
(1) Thành ngữ thì luôn không tuân theo qui luật của ngữ pháp, nhưng nó luôn được chấp nhận và sử dụng phổ biến bởi người bản ngữ với một cấu trúc và nghĩa không thay đổi
Ví dụ: It’s ages since we met (Lâu quá không gặp bạn: It’s số ít đi với danh
từ số nhiều ages không đúng văn phạm)
(2) Thành ngữ là những ngữ đoạn quy ước (conventional phrases) đặc biệt
Trang 32mà hầu hết những thành viên trong cộng đồng đều biết và chấp nhận
Ví du: How are you doing? (dùng để hỏi ai đó về sức khỏe)
Once in a blue moon (hiếm khi, không thường xuyên)
+ Thay đổi trật tự từ (alterration of word order) Ví dụ:
It may be well ahead of time (trước thời hạn, trước thời gian)
It may well be ahead of time
(3) Tính chất bóng bẩy (figurativeness): Nét đặc trưng cơ bản của thành ngữ
là những từ sử dụng phép ẩn dụ (nghĩa bóng) Do đó, cấu trúc bề mặt đóng vai trò
rất hạn chế trong việc hiểu nghĩa tổng thể Ví dụ: to bury the hatchet (Nghĩa đen:
chôn cái rìu Nghĩa bóng: giảng hòa, làm lành)
(4) Cụm động từ (phrasal verb) được dùng phổ biến nhất trong thành ngữ tiếng
Anh và chúng không thể suy ra từ nghĩa thành phần, trừ khi những cụm từ được sử
dụng phổ biến Ví dụ: After war began, the two countries broke off diplomatic
relations (Sau khi chiến tranh bắt đầu, hai nước cắt đứt quan hệ ngoại giao) (break off nghĩa là: thôi, ngưng, cắt đứt)
1.1.3 Phân loại thành ngữ
1.1.3.1 Phân loại thành ngữ tiếng Việt
Đỗ Hữu Châu (1981) cho rằng những trường hợp trung gian giữa từ phức và các ngữ cố định thực sự là các thành ngữ, các thành ngữ có thể được phân thành những thành ngữ tương đương với từ sẵn có và những thành ngữ không tương đương với từ Các thành ngữ tương đương với từ chủ yếu là các thành ngữ đồng nghĩa sắc thái hóa, có tính chất miêu tả Các ngữ cố định tiếng Việt được phân thành
hai loại:
+ Ngữ cố định có kết cấu C- V Ví dụ: mèo mù vớ cá rán; lươn cùng gậm đất
sét; lời nói gió bay …
+ Ngữ cố định có kết cấu cụm từ Và ngữ cố định này lại có thể chia nhỏ
thành phần trung tâm: a) Ngữ cố định có kết cấu cụm danh từ Ví dụ: năm cha ba
mẹ; mắt bồ câu, ba cọc ba đồng …; b) Ngữ cố định có kết cấu cụm động từ Ví dụ: nói không trôi; cười như nắc nẻ; ném đá giấu tay; c) Ngữ cố định có kết cấu tính từ
Ví dụ: yếu như sên; chậm như rùa; tím mày tím mặt …
Trang 33Cũng theo tác giả, nếu so sánh các kiểu nhỏ trong từng loại một, sẽ dễ dàng
nhận thấy có một số kiểu thống nhất như:
- Kiểu cụm từ so sánh không có từ so sánh như Ví dụ: thẳng ruột ngựa;
chạch trong giỏ cua; ngay cán tàn …
- Kiểu cụm từ so sánh có như Kiểu này lại phân nhỏ thành hai trường hợp:
+ Sau như là một từ Ví dụ: chậm như rùa, khó như mưa, yếu như sên …
+ Sau như là một cụm từ hay câu Ví dụ: mặt như chàm đỗ, ướt như chuột
lột, học như kiến kêu, ăn như hùm đổ đó, ăn như rồng cuốn …
- Kiểu thành ngữ lồng chéo hai từ hợp nghĩa hay tách một từ hợp nghĩa bằng
một từ chung Ví dụ: tím gan tím ruột, một nắng hai sương, no cơm ấm áo
- Kiểu thành ngữ có kết cấu là hai cụm từ song song Ví dụ: ruộng cả ao liền,
tốt danh lành áo, cầm cương nẩy mực … [5, tr 526 - 528]
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến, trong
cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt thành ngữ tiếng Việt chia ra hai loại: thành
ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ
+ Thành ngữ so sánh: bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc
so sánh Ví dụ: lạnh như tiền; rách như tổ đỉa; cưới không bằng lại mặt,
Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông
thường khác: A ss B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, còn ss là từ so sánh: như, bằng, tựa, hệt
Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ Chúng có thể có các
kiểu: A.ss.B là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh Ví dụ: đắt như tôm tươi; nhẹ tựa
lông hồng; lạnh như tiền; dai như đỉa đói; đủng đỉnh như chĩnh trôi song ; (A).ss.B ở kiểu này thành phần A của thành ngữ không nhất thiết phải có mặt Nó có
thể xuất hiện hoặc không, nhưng người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ ở dạng
toàn vẹn Ví dụ: (rẻ) như bèo; (chắc) như đinh đóng cột; (vui) như mở cờ trong
bụng; (to) như bồ tuột cạp; (khinh) như rác; (khinh) như mẻ; (chậm) như rùa ; ss.B: Trường hợp này, thành phần A không phải của thành ngữ Khi đi vào hoạt
Trang 34động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tùy nghi, nhưng nhất thiết phải có A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ
+ Thành ngữ miêu tả ẩn dụ: là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả
một sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng đây là so sánh ngầm, từ so sánh không hề hiện diện Cấu trúc bề mặt của thành ngữ loại này không phản ánh cái nghĩa đích thực của chúng Cấu trúc đó, có chăng chỉ là cơ sở để nhận ra một nghĩa
"sơ khởi", "cấp một" nào đó, rồi trên nền tảng của "nghĩa cấp một" này người ta mới rút ra, nhận ra và hiểu lấy ý nghĩa đích thực của thành ngữ Căn cứ vào nội dung của thành ngữ miêu tả ẩn dụ kết hợp cùng với cấu trúc của chúng, có thể phân loại nhỏ hơn như sau:
- Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện Trong các thành ngữ này,
chỉ có một sự kiện, một hiện tượng nào đó được nêu Chính vì vậy, cũng chỉ một
hình ảnh được xây dựng và phản ánh Ví dụ: ngã vào võng đào; nuôi ong tay áo;
nước đổ đầu vịt; chó có váy lĩnh; hàng thịt nguýt hàng cá; vải thưa che mắt thánh; múa rìu qua mắt thợ
- Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương đồng Ở đây, trong
mỗi thành ngữ sẽ có hai sự kiện, hai hiện tượng được nêu, được phản ánh Chúng
tương đồng hoặc tương hợp với nhau (hiểu một cách tương đối) Ví dụ: ba đầu sáu
tay; nói có sách mách có chứng; ăn trên ngồi trốc; mẹ tròn con vuông; hòn đất ném
đi hòn chì ném lại
- Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương phản Ngược lại với
loại trên, mỗi thành ngữ loại này cũng nêu ra hai sự kiện, hai hiện tượng tương phản
nhau hoặc chí ít cũng không tương hợp nhau Ví dụ: Các thành ngữ một vốn bốn
lời; méo miệng đòi ăn xôi vò; miệng thơn thớt dạ ớt ngâm; bán bò tậu ễnh ương; xấu máu đòi ăn của độc [13, tr.153–165]
Hoàng Văn Hành (2002) với công trình nghiên cứu Thành ngữ tiếng Việt đã phân thành hai loại lớn là: 1) Thành ngữ so sánh, ví dụ: đắt như tôm tươi; đẹp như
tiên non Bồng; nợ như chúa Chổm … 2) Thành ngữ ẩn dụ hóa và loại thành ngữ
này lại chia thành hai tiểu loại là: a) Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, như: đầu Ngô
Trang 35mình Sở; mắt tròn mắt dẹt; gan vàng dạ sắt … b) Thành ngữ ẩn dụ phi đối xứng, ví
dụ: công dã tràng; oan thị Kính; chuột sa chỉnh gạo …
(1) Thành ngữ so sánh: Thành ngữ so sánh là một tổ hợp từ bền vững bắt
nguồn từ phép so sánh với nghĩa biểu trưng Thành ngữ so sánh là một tập hợp gồm
hai vế: a) vế nói về thuộc tính được so sánh do t biểu thị, b) vế nói về thuộc tính so sánh do cấu trúc B biểu thị Trong thành ngữ so sánh, thành phần biểu thị quan hệ
so sánh và cái so sánh (có thể gọi là cấu trúc so sánh như B) là bộ phận bắt buộc và
ổn định trên cấu trúc bề mặt cũng như bề sâu Nếu phá vỡ cấu trúc so sánh thì sẽ không còn thành ngữ so sánh nữa Trong tiếng Việt có nhiều từ biểu thị quan hệ so
sánh: như; tày; như thế; như thế là; tựa; tựa như…, trong đó như và tày được dùng
nhiều nhất Vế (t) trong thành ngữ là vế bắt buộc trong cấu trúc sâu, nhưng không
nhất thiết phải ổn định trên trên cấu trúc mặt Điều này biểu hiện rõ trong quan hệ
giữa (t) với như B và ở khả năng ẩn hiện rất linh hoạt của (t) trong quá trình sử
dụng [30, tr.49 – 111]
2) Thành ngữ ẩn dụ hóa:
a) Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng: Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng là loại
thành ngữ phổ biến nhất trong tiếng Việt Chúng chiếm tới hai phần ba tổng số thành ngữ thường dùng trong thực tế và có đặc điểm chung là chúng được tách thành hai vế đối xứng nhau về ý và lời thông qua một trục, hài hòa về âm thanh, vần
điệu, mang ý nghĩa biểu trưng (nhờ phép ẩn dụ hóa) Ví dụ trong thành ngữ: mẹ
tròn con vuông, mẹ tròn đối xứng với con vuông Trong thành ngữ chim sa cá lặn, chim sa đối xứng với cá lặn Phép đối xứng ở đây được xây dựng trên cả hai bình
diện, bình diện đối ý và đối lời Đối ý là bình diện đối xứng giữa hai vế của thành
ngữ với nhau về ý Ví dụ: đầu voi đuôi chuột Trong quan hệ đối lời, nội dung ngữ
nghĩa của các yếu tố đối xứng với nhau trong hai vế phải thuộc một phạm trù ngữ
nghĩa Ví dụ: mẹ / con, tròn / vuông (mẹ tròn con vuông) và thuộc cùng một phạm
trù từ loại, tức có cùng một thuộc tính ngữ pháp
Đặc điểm tiếp theo của thành ngữ đối xứng là có tiết tấu hay có tính nhịp điệu:
Trang 36- Lặp âm, trong đó yếu tố đầu của vế thứ nhất trùng âm với yếu tố đầu vế
thứ hai: chân ướt chân ráo, ăn bớt ăn xén, nói ra nói vào … cũng có những trường hợp lập âm diễn ra ở vị trí cuối: sống dỡ chết dỡ …
- Hợp thanh, thanh điệu của yếu tố đầu và sau trong vế thứ nhất phải cùng
âm vực với thanh điệu của yếu tố đầu và sau trong vế thứ hai: mẹ tròn con vuông;
đầu sóng ngọn gió …
- Hiệp vần, trong đó, vần của yếu tố sau trong vế thứ nhất hiệp với vần của
yếu tố đầu trong vế thứ hai gọi là vần liền: đầu tắt mặt tối, mặt xanh nanh vàng…
- Xây nhịp đôi để tạo tiết tấu nhấn mạnh, tăng cường: ba đầu / / sáu tay; thề
sống / / thề chết…
b) Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng: Về mặt cấu trúc chúng không có
tính đối xứng, giống như những cấu trúc ngữ pháp bình thường, chúng được tạo nghĩa bằng con đường ẩn dụ hóa Các kiểu thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có các kiểu kết cấu sau:
- Kết cấu là danh ngữ: anh hùng rơm; cá mè một lứa; quân sư quạt mo;
nước mắt cá sấu; hai bàn tay trắng; mắt cú vọ …
- Kết cấu là động từ: ăn cơm thiên hạ; ăn vụn khéo chùi mép; bán trời không văn tự; bật đèn xanh; không động đến (một) cái chân lông …
- Kết cấu là tính từ: gan cóc tía; nghèo rớt mồng tơi; mênh mông bể Sở; trơ mắt ếch …
- Kết cấu chủ - vị: Anh hùng mạt lộ; áo gấm đi đêm; bụt chùa nhà không thiên; cả vú lấp miệng em; cá nằm trên thớt; chim chích vào rừng … [28, tr 74 –
96]
Dựa vào cơ chế cấu tạo cả nội dung và hình thức, Đỗ Thị Kim Liên (2015),
trong Ngôn ngữ học đại cương, phân thành ngữ thành hai loại:
- Thành ngữ so sánh: là những thành ngữ được cấu tạo trên cơ sở so sánh
sự vật, hành động, tính chất này với sự vật, hành động tính chất khác
Ví dụ: nhẹ như lông hồng; hôi như cú; rách như tổ đỉa; xấu như ma lem; đẹp
như tiên; vắng như chùa bà Đanh …
Trang 37- Thành ngữ miêu tả ẩn dụ: là những thành ngữ được cấu tạo trên cơ sở miêu
tả một sự vật, hiện tượng bằng ngữ cố định, mang nghĩa biểu trưng Trong nhóm thành ngữ miêu tả ẩn dụ, tác giả lại chia thành hai nhóm:
+ Thành ngữ đối xứng Ví dụ: cá chậu chim lồng; chôn rau cắt rốn; chọn mặt
gửi vàng; ba chìm bảy nổi; chén chú chén anh …
+ Thành ngữ phi đối xứng Ví dụ: ếch ngồi đáy giếng; cóc chết ba năm quay
đầu về núi; chân đăm đá chân chiêu; chân ngoài dài hơn chân trong; đi guốc trong bụng, rán sành ra mỡ … [46, tr.231- 232]
Tóm lại, trên đây là ý kiến của tác giả đi trước, phân loại các nhóm thành ngữ tiếng Việt, các ý kiến thống nhất ở bảng phân loại sau:
So sánh: rách như tổ đỉa
Thành ngữ Đối xứng: gan vàng dạ sắt
Miêu tả ẩn dụ Phi đối xứng: chân ngoài dài hơn chân trong
Đây là cơ sở để chúng tôi xét thành ngữ gốc (nguyên dạng) ở dạng từ điển và
dạng cải biến (trong hành chức) trong tiếng Việt
1.1.3.2 Phân loại thành ngữ tiếng Anh
Nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến thành ngữ và phân loại chúng thành những tiêu chí khác nhau Trong đó, Makkai (1972) cho rằng một số từ đa hình vị là thành ngữ nhưng có ít nhất hai hình vị tự do, và ông đã phân thành ngữ ra thành hai
loại: Thành ngữ lập mã (encoding), thành ngữ này gồm những kết hợp từ
(collocations) đi liền với nhau (động từ với giới từ) như look after (chăm sóc, chăm nom) và không thể có từ nào thay thế cho after mang nghĩa chăm sóc hay drive at
70 mph (lái xe với tốc độ 70 dặm một giờ) và chỉ duy nhất theo sau drive là giới từ
at và không chấp nhận với ‘drive with 70 mph’ Thành ngữ giải mã (decoding) là
những ngữ cố định mang nghĩa bóng, và những thành ngữ nhóm này luôn tiềm ẩn
cả hai nghĩa đen và nghĩa bóng Ví dụ: beat around the bush (nghĩa đen: khua quanh quanh bụi cây; nghĩa bóng: nói vòng vo, tránh trả lời câu hỏi); fly off the
handle (nghĩa đen: cái cán bay, nghĩa bóng: mất bình tĩnh, nổi cơn tam bành) Dạng
thành ngữ này tác giả lại phân thành hai loại thành ngữ từ vị (lexemic) và thành ngữ
nghĩa vị (sememic)
Trang 38+ Thành ngữ từ vị (lexemic) bao gồm:
(1) Cụm động từ (phrasal verbs): Ví dụ: to come up with (đưa ra, phát hiện); to
turn off (tắt, khóa, cắt điện, đài …); to take part in (tham dự, tham gia)
(2) Kết hợp từ (phrasal compound): Ví dụ: black ice (đường đóng băng); black
board (nguồn kiến thức)
(3) Động từ ghép (incorporating verbs): man-handle (cư xử thô bạo)
(4) Cặp từ thành ngữ (pseudo idioms): Ví dụ: spick and span (gọn gàng, ngăn
nắp); kit and kin (bè bạn, họ hàng) (Thành ngữ xuôi vần)
+ Thành ngữ nghĩa vị (sememic): nghĩa thực tế thường liên quan đến đặc
trưng văn hóa và gồm hai loại:
(1) Tục ngữ (proverbs): chew of something over (suy nghĩ về việc gì đó một cách cẩn thận hoặc bàn bạc nó với người khác trước khi quyết định làm cái gì); a
bird in hand is worth two in the bush (hãy bằng lòng và trân trọng những gì mình
đang có)
(2) Lời trích dẫn quen thuộc (familiar quotations): not a mouse stirring (tự
mình gây tiếng động/di chuyển để người khác chú ý) [131, tr.117]
Fernando (1996) trong công trình “Idioms and Idiomacity” (Thành ngữ và
tính chất của thành ngữ) ông phân thành ngữ theo bốn loại như sau:
(1) Thành ngữ tường minh (transparent idioms): những thành ngữ này có
nghĩa gần với nghĩa đen Vì vậy, loại thành ngữ này thường không phải gặp khó khăn để hiểu và dịch, bởi vì nghĩa của chúng có thể phỏng đoán một cách dễ dàng
từ nghĩa thành phần Ví dụ: to see the light = to understand (nghĩa: sự hiểu biết)
(2) Thành ngữ bán tường minh (semi- transparent idioms): thành ngữ này
thường mang ý nghĩa ẩn dụ và có thể nhận biết chỉ khi được sử dụng phổ biến Ví
dụ: break the ice = reliveve the tension (nghĩa ẩn dụ: cảm thấy thoải mái và bắt đầu
nói chuyện, nghĩa đen: phá băng)
(3) Thành ngữ bán hàm ý (semi-opaque): loại này đề cập tới những thành
ngữ mang nghĩa bóng mà nghĩa của chúng không liên quan đến các từ cấu thành thành ngữ Vì vậy, chúng được tách ra hai phần: một phần là nghĩa đen và một phần
là nghĩa hàm ẩn Ví dụ: to know the ropes (nghĩa bóng: nắm vững tình hình điều
Trang 39kiện để làm tốt việc gì đó, nghĩa đen: biết sợi dây); to pass the buck = to pass
responsibility (đổ trách nhiệm, công việc cho người khác)
(4) Thành ngữ hàm ý (opaque idioms): loại này là khó nhất vì nghĩa của
chúng không bao giờ là nghĩa đen Do đó, không thể suy ra nghĩa từ nghĩa thành phần và yếu tố đặc trưng văn hóa ảnh hưởng rất lớn đến ý nghĩa của thành ngữ
Ví dụ: to burn one’s boat (nghĩa bóng: không thể làm lại từ đầu, nghĩa đen: đốt thuyền của ai); kick the bucket (nghĩa bóng: chết, nghĩa đen: đá cái xô) pill the
beans; spill the beans (nghĩa bóng: để lộ thông tin, nghĩa đen: làm đổ/tràn đậu)
[104, tr 35-37]
Seidl Jennifer và W McMordie (1997) đã phân loại thành ngữ như sau:
(1) Thành ngữ không trang trọng (informal idioms): a mug’s game (việc làm ngu xuẩn); alive and kicking (chỉ một người còn sống và rất khỏe mạnh); at sixes
and sevens (hỗn độn, lung tung, lộn xộn); by the book (làm theo đúng hướng dẫn và
qui luật); sleep loke a log (ngủ say như chết) …
(2) Thành ngữ trang trọng (formal idioms): as regard (về phần); in the first
instance (lúc đầu, ban đầu); on production of (khi trình bày cái gì); root and branch
(tận gốc, triệt để); come/turn up trumps (hào hiệp, rộng lượng)…
(3) Cụm động từ thành ngữ (verbal idioms): break even (hòa vốn); burn the
midnight oil (thức khuya); call a halt (nghỉ chân); do a bunk (cuốn xéo, chuồn); face the music (hứng chịu hậu quả); fly off the handle (mất bình tĩnh, nổi nóng); hear a pin drop (nghe được tiếng động khẽ nhất); let the cat out of the bag (để lộ bí
mật); raise eyebrows (gây thất vọng, gây ngạc nhiên) …
(4) Cặp từ thành ngữ (idiomatic pairs) gồm có:
Cặp tính từ (pairs of adjectives:) born and bred (sinh trưởng); bright and
early (vào sáng sớm); safe and sound (bình yên vô sự); black and blue (thâm tím)
…; Cặp danh từ (pairs of nouns): bits and pieces (những thứ lặt vặt); body and soul (hết lòng hết dạ); ups and downs (sự thăng trầm)…; Cặp trạng từ (pairs of
adverbs): far and wide (rộng khắp, khắp mọi nơi); first and foremost (đầu tiên và
trước hết); her, there and everywhere (khắp mọi nơi, khắp nơi)…; Cặp động từ
(pairs of verbs): fetch and carry (làm tay sai cho ai); pick and choose (kén cá chọn
Trang 40canh); wait and see (hãy đợi đấy); wine and dine (hậu đãi)…; Cặp từ trùng/điệp
(identical pairs): again and again (một lần nữa, hết lần này đến lần khác); all in all (nói chung, nhìn chung); bit by bit (dần dần, từ từ); little by little (dần dần, từng bước); step by step (từng bước); round and round (quanh quanh) …
(5) Thành ngữ so sánh (idioms with comparison):
Thành ngữ so sánh với as … as: as blind as a bat (mù như dơi, mù tịt); as
cold as ice (lạnh như tiền); as dry as a bone (khô như ngói, cực kỳ khô cằn); as fit
as a fiddle (khỏe như vâm); as light as a feather (nhẹ như bông)… Thành ngữ so
sánh với like: drink like a fish (uống bia/rượu như hũ chìm); eat like a horse (ăn
như hổ); go like the wind (nhanh như chớp); smoke like a chimney (hút như hun khói cả ngày) … [139, tr 155-tr 238]
O’Dell và McCarthy (2002) phân loại thành ngữ tiếng Anh theo cách khác và chủ yếu tập trung vào khả năng kết hợp của chúng với những hình thức (form) sau [102, tr 6]:
(1) Động từ + Tân ngữ/bổ ngữ (verb + object/complement): kill two birds
with one stone (nhất cử lưỡng tiện, một công đôi việc)
(2) Cụm giới từ (prepositional phrase): in the blink of an eye (trong nháy mắt,
Tiếp theo đó, năm 2010, O’Dell và McCarthy tiếp tục nghiên và đưa ra thêm
một số loại thành ngữ [103, tr 6] như: (1) Greetings and good wishes (lời chào hỏi