Lý do và mục tiêu nghiên cứu Hiện nay, trong đời sống tôn giáo của nhiều dân tộc thiểu số DTTS ở Việt Nam, vấn đề truyền đạo và cải đạo sang các hệ phái Tin Lành đang là một hiện tượng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI MINH NHẬT
QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
ĐẠO TIN LÀNH ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ, XÃ HỘI,
VĂN HÓA CỦA NGƯỜI CƠHO CHIL
Ở TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI MINH NHẬT
QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ, XÃ HỘI,
VĂN HÓA CỦA NGƯỜI CƠHO CHIL
Ở TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 62.22.70.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC
1 PGS.TS Trương Văn Chung
2 PGS.TS Trần Hồng Liên
3 PGS.TS Lâm Nhân
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp Những số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực
Những tham khảo trong luận án được trích dẫn nguồn theo đúng quy định
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 11 năm 2019
Nghiên cứu sinh
Mai Minh Nhật
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp đã tận tâm giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Phòng Sau đại học, Khoa Nhân học đã làm việc đầy trách nhiệm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Đà Lạt, Khoa Lịch
sử - nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin được cảm ơn quý Thầy giáo, Cô giáo, các nhà khoa học thuộc trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh), trường Đại học Đà Lạt, trường Đại học Văn hóa Thành phố
Hồ Chí Minh, Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ, Viện Dân tộc học đã có những chia sẻ, đóng góp tâm huyết, trách nhiệm và định hướng để công trình nghiên cứu của tôi được hoàn thiện
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan chính quyền, người dân ở những địa bàn tôi nghiên cứu đã nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ tôi thực hiện công trình này
Xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên, chia sẻ với tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 11 năm 2019
Nghiên cứu sinh
Mai Minh Nhật
Trang 5MỤC LỤC
DẪN NHẬP
1 Lý do và mục tiêu nghiên cứu 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Những đóng góp mới của luận án 16
7 Bố cục của luận án 17
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 18
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến luận án 18
1.1.2 Những hướng tiếp cận lý thuyết của luận án 24
1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 32
1.2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, dân cư của tỉnh Lâm Đồng 32
1.2.2 Khái quát về đạo Tin Lành ở Lâm Đồng 35
1.2.3 Tổng quan về cộng đồng Tin Lành người Cơho Chil ở Lâm Đồng và các địa điểm nghiên cứu 38
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH DU NHẬP CỦA ĐẠO TIN LÀNH VÀO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CƠHO CHIL 2.1 QUÁ TRÌNH DU NHẬP TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1975 53
2.1.1 Các giai đoạn phát triển 53
2.1.2 Đặc điểm phương pháp truyền giáo 64
2.1.3 Nguyên nhân phát triển 70
2.2 QUÁ TRÌNH DU NHẬP TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 2017 78
2.2.1 Các giai đoạn khủng hoảng, phục hồi và phát triển 78
2.2.2 Đặc điểm phương pháp truyền giáo 92
2.2.3 Nguyên nhân phục hồi, phát triển 93
Trang 62.3 ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO TIN LÀNH CỦA TÍN ĐỒ NGƯỜI CƠ HO CHIL
HIỆN NAY 97
2.3.1 Niềm tin tôn giáo 98
2.3.2 Thực hành tôn giáo 100
2.3.3 Tổ chức tôn giáo 104
CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH ĐẾN KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA NGƯỜI CƠHO CHIL 3.1 TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ 111
3.2 TÁC ĐỘNG ĐẾN XÃ HỘI 120
3.2.1 Tác động đến thiết chế gia đình 121
3.2.2 Tác động đến thiết chế dòng họ 124
3.2.3 Tác động đến thiết chế cộng đồng 127
3.3 TÁC ĐỘNG ĐẾN VĂN HÓA 139
3.3.1 Tác động đến quan niệm về thế giới thần linh 140
3.3.2 Tác động đến nghi lễ, phong tục 147
3.3.3 Tác động đến một số lĩnh vực khác trong đời sống văn hóa 162
3.3.4 Xung đột và hội nhập của văn hóa Tin Lành với các yếu tố văn hóa truyền thống 166
KẾT LUẬN 175
TÀI LIỆU THAM KHẢO 180
PHỤ LỤC 204
Phụ lục 1 Trích biên bản phỏng vấn sâu 204
Phụ lục 2 Bản đồ 255
Phụ lục 3 Hình ảnh 258
Trang 7BTG : Ban Tôn giáo
C&MA : The Christian and Missionary Alliance
( Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp) CĐPL : Cơ đốc phục lâm
DTTS : Dân tộc thiểu số
FULRO : Front Unifié pour la Libération des Races Opprimées
(Mặt trận thống nhất đấu tranh của các dân tộc bị áp bức) KHXH : Khoa học xã hội
KHXH&NV : Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 8STT NỘI DUNG SỐ TRANG
1 Bảng 1.1 Bảng dân số và phân bố các nhóm địa phương của
người Cơho ở tỉnh Lâm Đồng
40
2 Bảng 1.2 Dân số người Cơho Chil ở Lâm Đồng 42
3 Bảng 1.3 Tình hình tôn giáo của người Cơho Chil ở Lâm
Đồng
46
4 Bảng 2.1 Tín đồ Tin Lành người Cơho Chil ở Lâm Đồng
phân theo huyện/thành phố và hệ phái
90
5 Bảng 2.2 Số lượng chi hội, điểm nhóm của người Cơho
Chil theo đạo Tin Lành ở Lâm Đồng phân theo hệ phái
90
6 Bảng 2.3 Chức sắc Tin Lành người Cơho Chil ở Lâm Đồng
phân theo hệ phái
91
Trang 9STT NỘI DUNG SỐ TRANG
1 Sơ đồ: 2.1 Mô hình ấp chiến lược Đa Me 60
Trang 10DẪN LUẬN
1 Lý do và mục tiêu nghiên cứu
Hiện nay, trong đời sống tôn giáo của nhiều dân tộc thiểu số (DTTS) ở Việt Nam, vấn đề truyền đạo và cải đạo sang các hệ phái Tin Lành đang là một hiện tượng phổ biến, không chỉ tác động đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng tộc người, mà còn đặt ra nhiều vấn đề về chính sách quản lý nhà nước và công tác dân tộc - tôn giáo Vì vậy, nghiên cứu những nguyên nhân và tác động của
sự chuyển đổi tôn giáo sang đạo Tin Lành trong vùng DTTS là việc làm cần thiết,
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Từ năm 1929, quá trình truyền đạo Tin Lành vào các DTTS ở Tây Nguyên đã được bắt đầu với sự kiện vợ chồng giáo sĩ người Mỹ H.A Jackson thuộc Hội truyền
giáo Phúc âm Liên hiệp C&MA (The Christian and Missionary Alliance) đến Đà
Lạt thiết lập trụ sở truyền giáo đầu tiên ở khu vực này Trải qua các giai đoạn thăng trầm, đến năm 2015, đạo Tin Lành đã thu hút được hơn 450.000 tín đồ, chủ yếu là người DTTS, trở thành một thực thể tôn giáo quan trọng, có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của các DTTS ở Tây Nguyên (BTG Chính phủ, 2015b, tr.1)
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành ở vùng DTTS Tây Nguyên trên những phương diện khác nhau Kết quả nghiên cứu của những công trình này đã khắc họa được khá toàn diện, nhiều khía cạnh về đạo Tin Lành ở khu vực Tây Nguyên, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định và triển khai thực hiện các chính sách đối với đạo Tin Lành ở địa bàn Tây Nguyên và cả nước Tuy vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu về Tin Lành ở Tây Nguyên thường có cách tiếp cận bao quát chung cho cả khu vực, khảo sát rộng trên nhiều tộc người, còn có ít công trình nghiên cứu sâu về quá trình du nhập và tác động của đạo Tin Lành vào một cộng đồng tộc người cụ thể Ngoài ra, xuất phát từ những nhu cầu cấp bách của thực tiễn, các nghiên cứu đã có chủ yếu tập trung khảo sát các cộng đồng DTTS mới chuyển đổi từ tôn giáo đa thần truyền thống sang Tin Lành một cách “nóng và bất thường” trong những thập niên gần đây, chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu những cộng đồng có lịch sử theo đạo Tin Lành lâu dài, ổn định
Trang 11như người Cơho Chil ở tỉnh Lâm Đồng Về phương diện lý thuyết và phương pháp,
đa số các công trình này tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ tôn giáo học, triết học, khoa học an ninh… ít có công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành ở Tây Nguyên tiếp cận dưới các lý thuyết và phương pháp của chuyên ngành dân tộc học/nhân học
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề Quá trình du nhập và
tác động của đạo Tin Lành đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của người Cơho Chil ở tỉnh Lâm Đồng làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành dân tộc học của
mình
Luận án hướng đến các mục tiêu sau đây:
- Nghiên cứu quá trình du nhập của đạo Tin Lành vào cộng đồng người Cơho Chil ở Lâm Đồng qua các giai đoạn lịch sử Từ đó, lý giải, làm rõ những nguyên nhân người Cơho Chil chuyển đổi từ tôn giáo đa thần truyền thống sang đạo Tin Lành dưới góc nhìn nhân học/dân tộc học
- Nhận diện, phân tích những tác động, ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến những biến đổi trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của người Cơho Chil, góp phần tìm hiểu mối quan hệ giữa tôn giáo và tộc người ở khu vực Tây Nguyên Với việc nghiên cứu đạo Tin Lành trong cộng đồng người Cơho Chil – một trong những cộng đồng được truyền giáo đầu tiên và có tỷ lệ theo đạo Tin Lành cao nhất ở Lâm Đồng dưới góc độ lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của ngành dân tộc học, luận án sẽ có những đóng góp về lý luận và thực tiễn:
- Về mặt khoa học, luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa học trong việc bổ sung, kiểm chứng cho những lý thuyết mà luận án sử dụng Đồng thời, luận
án sẽ đóng góp nguồn tư liệu cho việc nghiên cứu đạo Tin Lành ở vùng DTTS nói riêng và ở Việt Nam nói chung
- Về mặt thực tiễn, luận án sẽ góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho các cấp có thẩm quyền hoạch định những chính sách kịp thời, hợp lý, có hiệu quả để giải quyết tốt vấn đề dân tộc – tôn giáo, một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo như Việt Nam, đặc biệt ở khu vực Tây Nguyên, nơi mà vấn đề chuyển đổi từ tôn giáo truyền thống sang đạo Tin Lành đang nổi lên như một vấn đề thời sự trong những thập niên gần đây
Trang 12thực hiện chính sách quản lý nhà nước đối với đạo Tin Lành Tuy vậy, sự phân chia này chỉ mang tính tương đối Trên thực tế, có một số công trình đề cập đến nhiều khía cạnh liên quan đến đạo Tin Lành thuộc 4 nhóm vấn đề trên Trong trường hợp này, chúng tôi căn cứ vào nội dung chính yếu nhất được đề cập trong công trình để phân chia, thuận lợi cho việc tổng quan về tình hình nghiên cứu Cũng phải nói rằng, khó có thể liệt kê, điểm luận hết những nghiên cứu về đạo Tin Lành ở Tây Nguyên, ở đây chỉ điểm luận những công trình tiêu biểu
- Các nghiên cứu về quá trình truyền bá và nguyên nhân phát triển của đạo Tin Lành trong vùng DTTS Tây Nguyên
Trước khi có những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thì những giáo sĩ, mục sư, truyền đạo ngoại quốc và người Việt trực tiếp truyền giáo ở Tây Nguyên giai đoạn trước năm 1975 là những người đi tiên phong trong việc ghi chép, nghiên cứu về chủ đề này
Năm 1972, Mục sư Lê Hoàng Phu đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ sử học
Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1911 – 1965) tại Đại học New York, Hoa Kỳ
(công trình này được Nxb Tôn giáo xuất bản vào năm 2010) Đây là chuyên khảo khá hiếm hoi trước năm 1975 trình bày khá đầy đủ về quá trình du nhập và phát triển của đạo Tin Lành ở Việt Nam từ năm 1911 đến năm 1965 Để thực hiện luận
án, tác giả Lê Hoàng Phu đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau, đặc biệt là các tư liệu lưu trữ của các tổ chức Tin Lành trong và ngoài nước Trong công trình, tác giả cũng đã đề cập đến quá trình phát triển của đạo Tin Lành vào các tộc người
Trang 13thiểu số ở Việt Nam, trong đó có sự ra đời và phát triển của trung tâm truyền giáo Thượng ở Đà Lạt và ở Buôn Ma Thuột (Lê Hoàng Phu, 2010)
Cùng năm này, nhà nghiên cứu Tin Lành Đỗ Hữu Nghiêm đã bảo vệ thành
công luận văn cao học Sử học tại trường Đại học Văn khoa Sài gòn Phương thức
truyền đạo Tin Lành ở Việt Nam (1972) Luận văn đã đi sâu nghiên cứu về các
phương thức truyền giáo của đạo Tin Lành vào Việt Nam, trong đó có vùng DTTS
ở Tây Nguyên Tiếp đó, vào năm 1995, trong công trình Đạo Tin lành nơi các dân
tộc ít người ở Nam Trường Sơn – Tây Nguyên 1928 – 1975, tác giả đã đi sâu
nghiên cứu quá trình du nhập của đạo Tin Lành vào các tộc người ở Nam Trường Sơn – Tây Nguyên, trong đó có người Cơho ở Lâm Đồng giai đoạn trước năm 1975 Ngoài ra, các ký sự truyền giáo của một số mục sư người Việt từng đóng vai trò nòng cốt trong quá trình truyền bá Tin Lành ở vùng DTTS Tây Nguyên như
Dâng trọn cuộc đời của ông bà mục sư Phạm Văn Năm (2011), Hạt giống – hồi ký
truyền giáo của ông bà mục sư Phạm Xuân Tín - nguyên Trưởng đoàn truyền giáo Thượng (2011) cũng là những tác phẩm khảo cứu có giá trị Bên cạnh đó, một số
bài viết in trên các tạp chí truyền giáo như The Call of French – Indochina and East
Siem, Jungle Frontiers của Hội truyền giáo Phúc âm Liên hiệp, Thánh Kinh báo của
Hội thánh Tin Lành Việt Nam cũng có đề cập đến hoạt động truyền giáo trong các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên
Trong điều kiện hiếm hoi về tư liệu nghiên cứu về đạo Tin Lành ở Tây Nguyên trước năm 1975, đây là những tài liệu tham khảo quan trọng, giúp tác giả luận án nghiên cứu về tình hình du nhập và phát triển của đạo Tin Lành vào các DTTS ở Lâm Đồng trong giai đoạn này
Từ sau năm 1986, đặc biệt là từ năm 2001, có nhiều tác phẩm nghiên cứu về chủ đề này: “Thiên chúa giáo và đạo Tin Lành ở vùng các DTTS Tây Nguyên” của
Nguyễn Xuân Nghĩa (1989), Đạo Tin lành trong vùng đồng bào DTTS ở Lâm Đồng
của BTG tỉnh Lâm Đồng (1997), “Kitô giáo đối diện trước buôn làng” (2001) và
“Một số vấn đề về Tin Lành ở Tây Nguyên” của Đỗ Quang Hưng (2011), “Góp một góc nhìn về vấn đề đạo Tin Lành ở Tây Nguyên” của Phạm Đăng Hiến (2003), “Tại sao người Tây Nguyên Việt Nam theo đạo Tin Lành” của O Salemink (2004), “Sự truyền bá của Kitô giáo đối với cư dân Tây Nguyên - tác động của chế độ thuộc địa
Trang 14và chiến tranh” của nhóm tác giả Mathieu Guerin, Andrew Hardy, Nguyen Van Chinh, Stan Boon Hwee (2004), “Một số vấn đề về Tin Lành của người DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay” của Nguyễn Văn Minh (2006), “Về phương pháp truyền giáo và phát triển tín đồ của các tôn giáo tại Tây Nguyên” của Ngô Văn
Minh (2011), Đạo Tin Lành ở Miền Trung – Tây Nguyên của Đoàn Triệu Long
(2013), “Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên – quá khứ và hiện tại” của Nguyễn Thanh Xuân (2013), “Nguyên nhân Tin Lành phát triển nhanh trong vùng đồng bào DTTS
ở Tây Nguyên hiện nay” của Vũ Thị Thu Hà (2014), “Truyền giáo Tin Lành vào các DTTS ở vùng Nam Trường Sơn – Tây Nguyên từ khởi đầu cho đến năm 1975”
(2014) và Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành tại Việt Nam từ năm 1911 đến
năm 1975 của Nguyễn Xuân Hùng (2017)… Những nghiên cứu trên đây không đi
sâu vào một tộc người cụ thể mà trình bày chung về quá trình du nhập của Tin Lành vào khu vực Tây Nguyên Do đó, có mức độ khái quát cao, cung cấp bức tranh toàn cảnh về những chặng đường phát triển của đạo Tin Lành vào khu vực này từ buổi đầu truyền giáo cho đến nay Các công trình trên đây cũng đưa ra nhiều phân tích,
lý giải nguyên nhân truyền bá thành công của đạo Tin Lành vào các tộc người thiểu
số Tây Nguyên: nhân tố lịch sử, kinh tế, chính trị, truyền thống văn hóa cộng đồng, đặc điểm giáo lý tôn giáo…
- Các nghiên cứu về đặc điểm niềm tin, nhận thức, tâm lý, nếp sống đạo của cộng đồng tín đồ Tin Lành người DTTS ở Tây Nguyên
Đến nay, đã có một số công trình tập trung nghiên cứu về nhận thức, đặc điểm niềm tin, nếp sống đạo của tín đồ Kitô giáo ở Tây Nguyên: “Nhận thức về đạo Tin Lành của tín đồ người DTTS Tây Nguyên” (Vương Thị Kim Oanh, 2005), “Vấn đề theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên hiện nay: nhìn từ góc độ của tâm lý học” (Vũ Dũng, 2005), “Nhận thức của cộng đồng tín đồ các DTTS Tây Nguyên về đạo Tin
Lành” (Vũ Dũng, 2013), Nghiên cứu các đặc điểm tâm lý cơ bản của cộng đồng tín
đồ Tin Lành các DTTS ở Tây Nguyên hiện nay (Vũ Dũng, 2014) Các công trình
trên đây đã tập trung nghiên cứu về các đặc điểm tâm lý xã hội của cộng đồng Tin Lành người DTTS ở Tây Nguyên (về nhận thức tôn giáo, niềm tin tôn giáo, hành vi tôn giáo) Đồng thời, các công trình cũng chỉ ra mặt tích cực và hạn chế của các đặc điểm tâm lý xã hội này ở các cộng đồng Tin Lành, sự ảnh hưởng của các đặc điểm
Trang 15tâm lý này đến nhận thức, thái độ và hành vi của các tín đồ Tin Lành trong cuộc sống thường ngày, ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của khu vực Tây Nguyên
- Các nghiên cứu về vai trò và tác động của đạo Tin Lành đối với các DTTS Tây Nguyên
Cùng với việc nghiên cứu về lịch sử truyền giáo Tin Lành, cho đến nay cũng
đã có nhiều công trình tập trung nghiên cứu ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của tôn giáo này đối với các DTTS ở Tây Nguyên trên các mặt văn hóa, đạo đức, chính trị,
xã hội: “Đạo Tin Lành và ảnh hưởng của nó đối với một số lĩnh vực xã hội ở Tây Nguyên” (Hồ Tấn Sáng, 2008), “Ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với thiết chế xã hội truyền thống ở đồng bào các DTTS ở Tây Nguyên” (Nguyễn Văn Nam, 2008);
“Thực trạng đạo Tin Lành ở Tây Nguyên” (Đinh Văn Hạnh, 2010), “Hoạt động của Tin Lành trên địa bàn tỉnh Kon Tum và một số vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay” (Phạm Thị Trung, Trung Thị Thu Thủy, 2014), “Đa dạng tôn giáo và vấn đề bảo tồn tín ngưỡng truyền thống các DTTS ở Tây Nguyên hiện nay qua khảo sát tại hai tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông” (Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Minh Tùng,
2014), Giá trị và chức năng của Tin Lành trong vùng DTTS ở Việt Nam hiện nay
(Vũ Thị Thu Hà chủ biên, 2018)…
Ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến sự phát triển bền vững của các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên cũng là một nội dung nghiên cứu quan trọng trong các công trình nghiên cứu chung về kinh tế, xã hội, văn hóa của các địa phương ở Tây
Nguyên được xuất bản trong những năm gần đây: Thực trạng phát triển Tây
Nguyên và một số vấn đề phát triển bền vững (Bùi Minh Đạo, 2011), Một số vấn đề
cơ bản của xã hội Tây Nguyên trong phát triển bền vững (Bùi Minh Đạo, 2012), Một số vấn đề kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc ở tỉnh Đăk Lăk (Nguyễn Văn
Tiệp, 2011), Văn hóa cổ truyền ở Tây Nguyên trong phát triển bền vững (Đỗ Hồng
Kỳ, 2012), Hướng tới phát triển bền vững Tây Nguyên (Lê Văn Khoa, Phạm Quang
Tú, 2014), Vấn đề tôn giáo trong phát triển bền vững Tây Nguyên (Chu Văn Tuấn,
2015) Trong những công trình này, các tác giả nhìn nhận và phân tích một cách khách quan những đóng góp cũng như ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo này đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của các tộc người tại chỗ Tây Nguyên
Trang 16Bên cạnh các sách, bài tạp chí, công trình nghiên cứu khoa học, trong những năm qua, đã có một số luận án tiến sĩ ngành Triết học nghiên cứu ảnh hưởng và vai trò của đạo Tin Lành trong đời sống kinh tế, xã hội, tinh thần của cộng đồng DTTS
ở Tây Nguyên trong thời kỳ Đổi mới: Đạo Tin Lành và ảnh hưởng của nó đến quá
trình phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng DTTS ở Tây Nguyên của Nguyễn
Văn Lai (2012), Ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống tinh thần của đồng
bào thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay của Lê Hồng Phong (2014)
Đạo Tin Lành có ảnh hưởng lớn đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại khu vực Tây Nguyên Vì vậy, đây cũng là vấn đề được các cơ quan an ninh ở các địa phương và trung ương quan tâm nghiên cứu, với hàng loạt các công trình:
Nguyên nhân, điều kiện phục hồi và phát triển đạo Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc Ja rai, Bahnar những năm 1989 – 1994 do Công an Gia Lai thực hiện vào
năm 1995, Thực trạng và giải pháp đối với sự phát triển đạo Tin Lành trong đồng
bào DTTS ở Kon Tum do Công an tỉnh Kon Tum thực hiện vào năm 1998, Nghiên cứu thực chất phát triển đạo Tin Lành trong vùng DTTS ở Đăk Lăk do Công an tỉnh
Đăk Lăk thực hiện năm 1999, Đạo Tin Lành ở Đăk Lăk những vấn đề đặt ra đối với
công tác an ninh, trật tự do Viện Chiến lược và khoa học Bộ công an thực hiện năm
2005, Vấn đề đạo Tin Lành và công tác đấu tranh chống địch lợi dụng đạo Tin
Lành trong vùng đồng bào DTTS ở Lâm Đồng do Bùi Văn Sơn chủ nhiệm năm
2006… Dưới góc độ khoa học an ninh, những công trình này đi sâu đánh giá thực trạng và tác động của việc phát triển ồ ạt đạo Tin Lành trong vùng DTTS đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phương Tây Nguyên Trên cơ sở đó,
đề ra các giải pháp cho công tác an ninh, chủ động phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu hoạt động lợi dụng việc phát triển đạo Tin Lành vùng DTTS vì mục đích chính trị phản động, góp phần đấu tranh bảo vệ an ninh chính trị và giữ gìn trật tự xã hội khu vực Tây Nguyên Những công trình này chủ yếu được sử dụng làm tài liệu phục vụ nghiên cứu, học tập, giảng dạy và vận dụng vào thực tiễn công tác đấu tranh bảo vệ an ninh chính trị và giữ gìn trật tự xã hội trong lực lượng công an nhân dân, vì vậy, những đánh giá về đạo Tin Lành thường nhấn mạnh đến những khía cạnh tác động tiêu cực về an ninh, chính trị của tôn giáo này
Trang 17- Các nghiên cứu về thực hiện chính sách quản lý nhà nước đối với đạo Tin Lành ở Tây Nguyên
Nghiên cứu về công tác quản lý Nhà nước đối với tôn giáo nói chung, đạo Tin Lành trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói riêng cũng là một chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm Đến nay, có nhiều công trình khoa học trực tiếp đề cập đến vấn
đề này: Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đưa đồng bào các dân tộc
Tây Nguyên theo các đạo giáo đi lên Chủ nghĩa xã hội (Trần Quốc Long, 1997), Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên đặc điểm và các giải pháp thực hiện chính sách qua các khảo sát tại tỉnh Đăk Lăk (Nguyễn Văn Nam, 2001), Quản lý Nhà nước về tôn giáo ở các tỉnh Tây Nguyên (Ngô Văn Minh, 2010), Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lâm Đồng hiện nay - Vấn đề và giải pháp (Lê Minh Quang, 2000),
“Lâm Đồng đối với công tác quản lý nhà nước đối với đạo Tin Lành” (Ngô Văn Đức, 2010) Các công trình trên tập trung đánh giá hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với đạo Tin Lành ở Tây Nguyên, đặc biệt là trong vùng DTTS Từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này, góp phần ổn định tình hình dân tộc, tôn giáo ở khu vực Tây Nguyên
Tóm lại, cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác
nhau của đạo Tin Lành trong vùng DTTS ở Tây Nguyên Mặc dù các công trình này không đề cập cụ thể, trực tiếp đến đạo Tin Lành trong cộng đồng người Cơho nói chung, người Cơho Chil ở Lâm Đồng nói riêng nhưng những công trình trên đây cùng với những nghiên cứu khác về đạo Tin Lành ở Việt Nam là nguồn tài liệu có giá trị để nghiên cứu sinh so sánh, đối chiếu, phân tích, rút ra những kết luận khách quan cho những vấn đề nghiên cứu của đề tài luận án
2.2 Tình hình nghiên cứu về đạo Tin Lành trong cộng đồng người Cơho Chil
- Nghiên cứu về người Cơho Chil ở Lâm Đồng
Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam do Tổng cục Thống kê Nhà
nước ban hành năm 1979, người Cơho Chil là một nhóm địa phương của tộc người Cơho Hiện nay, người Cơho Chil có số dân đông thứ hai trong các nhóm địa phương của tộc người Cơho (sau nhóm Cơho Srê), cư trú trải rộng trên địa bàn 6 huyện, thành phố của tỉnh Lâm Đồng Trong các công trình nghiên cứu về người
Trang 18Cơho ở Lâm Đồng, ít nhiều có đề cập đến một số nội dung liên quan đến các khía cạnh kinh tế, xã hội, văn hóa của người Cơho Chil (Nguyễn Văn Diệu, 1978; Mạc Đường, 1983; Phan An, 1983; Phan Ngọc Chiến, 2005; Bùi Minh Đạo chủ biên &
Vũ Thị Hồng, 2003; Linh Nga Niêkđam chủ biên, 2012…) Trong những năm gần đây, có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về một số lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của nhóm Cơho Chil ở Lâm Đồng Đáng chú ý có luận văn thạc sĩ của
Phạm Thanh Thôi Biến đổi trong hôn nhân của người Cơho Chil ở Lâm Đồng
(2009) đã nghiên cứu về truyền thống và biến đổi trong hôn nhân của người Cơho Chil dưới tác động của các nhân tố khác nhau, trong đó có tôn giáo Năm 2011, tác
giả này tiếp tục thực hiện đề tài Lịch sử di trú và sự biến đổi văn hóa xã hội của
người Cơho Chil ở Lâm Đồng, khảo sát về sự biến động địa bàn cư trú của người
Cơho Chil ở Lâm Đồng và tác động của yếu tố này đến sự biến đổi văn hóa, xã hội Ngoài ra, các bài viết của Nguyễn Thông (2002), Huỳnh Ngọc Thu (2005; 2017), Honda M (2010, 2011), Lê Đình Bá (2010, 2011), Võ Tấn Tú (2016), Nguyễn Hữu Thành (2013)… cũng đã đề cập đến một số yếu tố liên quan đến đời sống kinh tế,
xã hội, văn hóa người Cơho Chil trong truyền thống và những biến đổi hiện nay Mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về đạo Tin Lành trong cộng đồng người Cơho Chil nhưng những công trình nghiên cứu về người Cơho Chil kể trên đã cung cấp những tư liệu khá toàn diện về địa bàn cư trú, dân số, dân cư, thành phần tộc người, một số đặc điểm truyền thống và biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của người Cơho Chil, thuận lợi cho việc nghiên cứu đối tượng chính của luận án là đạo Tin Lành trong cộng đồng cư dân này
- Nghiên cứu về đạo Tin Lành trong cộng đồng người Cơho Chil ở Lâm Đồng
Cho đến nay, chưa công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về quá trình
du nhập và tác động của đạo Tin Lành đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng người Cơho Chil ở Lâm Đồng Tuy vậy, trong các công trình nghiên cứu chung về đạo Tin Lành ở Lâm Đồng, các nhà nghiên cứu đều ít nhiều có đề cập đến đạo Tin Lành trong vùng người Cơho Chil
Năm 1997, BTG tỉnh Lâm Đồng thực hiện đề tài khoa học cấp tỉnh Đạo Tin
Lành trong vùng đồng bào DTTS ở Lâm Đồng Công trình này nghiên cứu nhiều
phương diện khác nhau về đạo Tin Lành trong vùng đồng bào DTTS trên địa bàn
Trang 19Lâm Đồng: quá trình du nhập, hiện trạng sinh hoạt đạo, tác động của tôn giáo này Với dung lượng 50 trang, lại đề cập đến nhiều vấn đề nên nội dung công trình không đi sâu vào từng tộc người mà nghiên cứu ở mức độ khái quát Tuy vậy, đây
là nguồn tư liệu có giá trị để nghiên cứu về đạo Tin Lành ở Lâm Đồng giai đoạn trước khi được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân
Năm 2011, trong bài viết “Đạo Tin Lành ở Lâm Đồng giai đoạn 1929 – 1975”
in trên tạp chí Công tác Tôn giáo, tác giả Lê Minh Quang, một cán bộ công tác ở
BTG tỉnh Lâm Đồng đã tổng quan về các giai đoạn phát triển của đạo Tin Lành ở Lâm Đồng giai đoạn trước năm 1975, trong đó có sự phát triển trong cộng đồng người Cơho
Năm 2014, Công an tỉnh Lâm Đồng chủ trì thực hiện đề tài khoa học an ninh
Đạo Tin Lành và việc ổn định phát triển trong vùng đồng bào DTTS ở Lâm Đồng
do Đại tá Nguyễn Đức Hiệp làm chủ nhiệm Dù công trình không đi sâu nghiên cứu
về đạo Tin Lành trong từng tộc người, nhóm địa phương cụ thể nhưng kết quả nghiên cứu của đề tài đã cung cấp nhiều tư liệu quan trọng liên quan đến tình hình đạo Tin Lành trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng hiện nay cũng như quan điểm, biện pháp quản lý của chính quyền địa phương đối với tôn giáo này
Ngoài ra, trong những bài viết của các tác giả Trần Hồng Liên (2005), Lê Minh Quang (2007, 2011a, 2011b), Ngô Văn Đức (2010) cũng đã trình bày một số nội dung về Công giáo, Tin Lành trong cộng đồng người Cơho ở Lâm Đồng Trong một số bài viết về biến đổi xã hội người Cơho Chil ở Lâm Đồng, Phạm Thanh Thôi (2014), Honda M (2008, 2010) cũng có đề cập đến vai trò, ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến tổ chức xã hội của người Cơho Chil Những nội dung có liên quan đến đạo Tin Lành được trình bày trong các công trình này có dung lượng không nhiều nhưng cũng là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho luận án
2.3 Nhận xét về tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến luận án
Thông qua việc điểm luận về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
án, chúng tôi rút ra một số nhận định sau:
- Thứ nhất, trong những thập niên qua, đặc biệt từ năm 2001 đến nay, vấn đề
đạo Tin Lành trong vùng DTTS Tây Nguyên đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau: quá trình truyền giáo và phát triển của đạo
Trang 20Tin Lành; vai trò và tác động của đạo Tin Lành đối với các lĩnh vực đời sống người dân; đặc điểm niềm tin, nhận thức, tâm lý, nếp sống đạo của cộng đồng tín đồ Tin Lành; hiệu quả việc thực hiện chính sách quản lý nhà nước đối với đạo Tin Lành Những công trình nghiên cứu trên đây đã cung cấp một bức tranh tổng thể về các giai đoạn truyền giáo cũng như hiện trạng Tin Lành ở Tây Nguyên hiện nay, cũng như ảnh hưởng của tôn giáo này đến tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa, đặc biệt là đối với tình hình an ninh, chính trị ở khu vực chiến lược này Những công trình khoa học này là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị, bổ ích, được luận án kế thừa, tiếp thu trong quá trình so sánh, phân tích và giải quyết các vấn đề nghiên cứu được đặt ra
- Thứ hai, các công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành trong cộng đồng các dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ tôn giáo học, triết học, chính trị học, khoa học an ninh Số lượng các công trình nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ lý thuyết và phương pháp nhân học/dân tộc học còn khá khiêm tốn Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu đã có chưa quan tâm đầy đủ đến tiếng nói của chính cộng đồng chức sắc, tín đồ người DTTS và thiên về đánh giá những tác động tiêu cực của đạo Tin Lành, nhất là trên lĩnh vực an ninh, chính trị Cho đến nay, vẫn còn ít những công trình nghiên cứu toàn diện về tác động của đạo Tin Lành đến các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của các DTTS ở Tây Nguyên
- Thứ ba, hầu hết các công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành ở Tây Nguyên
hoặc có phạm vi nghiên cứu khá rộng, bao quát cả khu vực, bao gồm nhiều tộc người khác nhau hoặc tập trung cho những tộc người, những khu vực mà hiện tượng
chuyển đổi sang Tin Lành diễn ra một cách nóng và bất thường trong những thập
niên gần đây Việc nghiên cứu những cộng đồng Tin Lành đã có lịch sử theo đạo lâu dài, ổn định từ trước năm 1975 chưa được quan tâm thích đáng
Vì vậy, việc vận dụng các phương pháp và lý thuyết nhân học để nghiên cứu
về quá trình truyền giáo và những tác động của đạo Tin Lành đến đời sống kinh tế,
xã hội, văn hóa của cộng đồng người Cơho Chil – một cộng đồng có lịch sử theo đạo lâu dài, đã khá định hình về đời sống tôn giáo là một việc làm cần thiết, góp phần bổ sung, làm phong phú, toàn diện thêm những tri thức khoa học về đạo Tin
Lành ở Tây Nguyên
Trang 213 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến quá trình du nhập và tác động của đạo Tin Lành đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của người Cơho Chil Đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa bao gồm nhiều phương diện khác nhau Tuy vậy, luận án không khảo sát tác động của đạo Tin Lành đến toàn bộ các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa mà tập trung nghiên cứu và trình bày một số khía cạnh mà ở đó tác động của đạo Tin Lành là tương đối nổi trội và rõ nét: nhận thức và hành vi kinh tế, tổ chức xã hội, đời sống văn hóa tinh thần
Đối tượng khảo sát của luận án là cộng đồng tín đồ Tin Lành người Cơho Chil
ở Lâm Đồng Cộng đồng người Cơho Chil theo đạo Tin Lành ở Lâm Đồng chủ yếu thuộc hai hệ phái Tin Lành Việt Nam (miền Nam) (TLVNMN) và Cơ Đốc Phục Lâm (CĐPL) Trong đó, hệ phái TLVNMN là hệ phái chủ đạo, chiếm 85% tổng tín
đồ Tin Lành người Cơho Chil Vì vậy, luận án chủ yếu tập trung đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về cộng đồng Cơho Chil theo hệ phái TLVNMN Tuy vậy, trong quá trình trình bày chúng tôi cũng có đề cập đến cộng đồng Tin Lành theo hệ phái CĐPL với dung lượng vừa phải để so sánh, đối chiếu
- Không gian nghiên cứu
Cộng đồng tín đồ Tin Lành người Cơho Chil ở Lâm Đồng phân bố trải rộng trên địa bàn 05 huyện Đức Trọng, Lâm Hà, Lạc Dương, Đơn Dương, Đam Rông và thành phố Đà Lạt với hơn 120 chi hội, điểm nhóm (BTG tỉnh Lâm Đồng, 2018) Do địa bàn nghiên cứu khá rộng nên chúng tôi chọn một số điểm để nghiên cứu, khảo sát sâu nhằm thu thập tư liệu cụ thể, sâu sắc về vấn đề nghiên cứu Về mặt lý tưởng, cần phải chọn 01 cộng đồng có lịch sử theo đạo lâu dài và chịu tác động mạnh mẽ của đạo Tin Lành, 01 cộng đồng mới theo đạo trong thời gian ngắn, chịu tác động ở mức độ trung bình, 01 cộng đồng vẫn giữ tôn giáo tín ngưỡng truyền thống, không chịu tác động của đạo Tin Lành Tuy vậy, trên thực tế hiện nay, đại bộ phận người Cơho Chil ở Lâm Đồng đã chuyển đổi sang đạo Tin Lành (chiếm khoảng 95%), có một bộ phận nhỏ theo Công giáo (khoảng 5%) Vì vậy, để thực hiện nghiên cứu của mình, đối với hệ phái TLVNMN, chúng tôi chọn 03 cộng đồng Tin Lành có lịch sử theo đạo vào những thời kỳ khác nhau: 01 cộng đồng đã theo đạo từ thập niên 1930,
Trang 22gắn với giai đoạn Tin Lành mới được truyền giáo vào Lâm Đồng (chi hội Kon Đố,
xã N’Thôl Hạ, huyện Đức Trọng), 01 cộng đồng theo đạo trong thời kỳ dồn dân lập
ấp chiến lược thập niên 1960 (chi hội Đạ Long 4, xã Đạ Long, huyện Đam Rông)
và 01 cộng đồng theo đạo giai đoạn sau năm 1975 (chi hội Đạ Chais, xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương) Bên cạnh đó, chúng tôi cũng chọn 01 chi hội CĐPL để khảo sát sâu (chi hội Bia Rây ở xã N’Thôl Hạ, huyện Đức Trọng) (xem bản đồ 3 ở Phụ lục bản đồ) Bên cạnh việc khảo sát sâu tại các địa điểm nghiên cứu đã lựa chọn trên đây, chúng tôi cũng mở rộng nghiên cứu thêm tại một số cộng đồng Cơho Chil theo đạo Tin Lành trên địa bàn tỉnh để so sánh, đối chiếu, bổ sung thêm nguồn tư liệu, nhằm đảm bảo tính toàn diện trong việc nghiên cứu đạo Tin Lành trong cộng đồng Cơho Chil ở Lâm Đồng
- Thời gian nghiên cứu
Phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài từ năm 1929 đến 2018 Năm 1929 là thời điểm vợ chồng giáo sĩ H.A Jackson lên Đà Lạt thiết lập trụ sở truyền giáo đầu tiên ở Tây Nguyên, khởi sự công cuộc truyền bá Phúc âm cho các tộc người thiểu số tại đây, trong đó người Cơho Chil là cộng đồng đầu tiên theo đạo Năm 2018 là thời điểm kết thúc nghiên cứu, đây cũng là mốc thời gian mà các số liệu liên quan đến Tin Lành ở Lâm Đồng được cập nhật và sử dụng trong luận án Tuy vậy, khung thời gian này chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu lịch sử các giai đoạn truyền giáo Tin Lành Khi nghiên cứu những tác động của đạo Tin Lành đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng người Cơho Chil, luận án chủ yếu nghiên cứu từ thập niên 1960 đến nay, khi đại bộ phận người Cơho Chil đã trở thành tín đồ Tin Lành
và những tác động của tôn giáo này đã được thể hiện tương đối rõ nét để có thể nhận diện và phân tích
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu của luận án, chúng tôi đặt ra những câu hỏi làm trọng tâm nghiên cứu:
- Quá trình du nhập của đạo Tin Lành vào cộng đồng người Cơho Chil đã diễn
ra như thế nào?
- Những nguyên nhân chính nào dẫn đến người Cơho Chil chuyển đổi từ tôn giáo đa thần truyền thống sang đạo Tin Lành?
Trang 23- Đạo Tin Lành có tác động, ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng cư dân này?
Từ những câu hỏi nghiên cứu trên đây, chúng tôi xây dựng một số giả thuyết nghiên cứu chính để kiểm chứng thông qua quá trình thu thập và xử lý tư liệu như sau:
- Quá trình du nhập đạo Tin Lành vào cộng đồng người Cơho Chil trải qua nhiều giai đoạn Bên cạnh những điểm tương đồng, mỗi giai đoạn cũng có những đặc điểm riêng về bối cảnh, lực lượng, quy mô và phương pháp truyền giáo
- Trong gần một thế kỷ, đạo Tin Lành đã du nhập một cách thành công vào cộng đồng người Cơho Chil Sự thành công đó xuất phát từ tổng hòa nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan: những biến đổi của bối cảnh chính trị
và kinh tế xã hội, sự suy giảm vai trò của hệ thống tôn giáo đa thần truyền thống, nhu cầu chuyển đổi tôn giáo của cộng đồng, các chính sách và chiến lược truyền giáo, thời điểm và bối cảnh truyền giáo, chính sách quản lý của Nhà nước đối với vấn đề truyền giáo Tin Lành Mỗi nguyên nhân có một vị trí nhất định, trong đó, những thay đổi của bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa dẫn đến nhu cầu phải chuyển đổi tôn giáo nhằm khắc phục những hạn chế của tôn giáo đa thần truyền thống và đáp ứng tốt hơn nhu cầu tâm linh là nguyên nhân quan trọng nhất
- Tôn giáo là một tiểu hệ thống trong toàn bộ hệ thống xã hội, vì vậy, việc chuyển đổi từ tôn giáo đa thần truyền thống sang đạo Tin Lành đã có tác động làm biến đổi nhiều khía cạnh trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng người Cơho Chil
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thu thập, xử lý tư liệu và giải quyết những vấn đề nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính, bao gồm:
- Phương pháp phân tích nội dung: được sử dụng để phân tích, xử lý các
nguồn tư liệu thư tịch liên quan đến đề tài: Kinh Thánh, giáo lý, hồi ký của những nhà truyền giáo, sách báo Tin Lành, tạp chí truyền giáo, các công trình nghiên cứu khoa học về quá trình truyền giáo và lịch sử hoạt động của đạo Tin Lành trong vùng DTTS Tây Nguyên và Lâm Đồng… Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo hệ thống các văn bản liên quan đến công tác quản lý nhà nước về đạo Tin Lành của trung
Trang 24ương và địa phương, các số liệu thống kê, các báo cáo của Ban Tôn giáo (BTG), Ban Dân tộc, cơ quan thống kê và các cấp chính quyền xã, huyện, tỉnh Những tư liệu này được chúng tôi phân tích và xử lý nhằm có một cái nhìn toàn diện về đạo Tin Lành trong vùng DTTS ở Lâm Đồng cũng như tình hình phân bố dân cư, đặc điểm tôn giáo, thực trạng kinh tế, xã hội, văn hóa của người Cơho Chil ở Lâm Đồng
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, xuất phát từ quan điểm chính thức của Nhà nước xem người Cơho Chil là một nhóm địa phương thuộc tộc người Cơho nên trong công tác quản lý, có địa phương, cơ quan đã thống kê riêng người Cơho Chil nhưng cũng có nơi nhập chung vào số liệu thống kê người Cơho Vì vậy, số liệu về dân số, tình hình tôn giáo trong cộng đồng người Cơho Chil cũng có độ vênh nhất định giữa các số liệu thống kê khác nhau, ở các văn bản khác nhau và mang tính chính xác tương đối Vì vậy, chúng tôi phải kết hợp, đối chiếu giữa các số liệu khác nhau, kết hợp với kết quả khảo sát thực tế tại cộng đồng
- Điền dã dân tộc học là hoạt động nghiên cứu quan trọng nhất để thu thập tư
liệu phục vụ việc nghiên cứu luận án Trong quá trình tiến hành điền dã, chúng tôi
sử dụng các phương pháp chuyên ngành dân tộc học/nhân học: quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, phỏng vấn lịch sử qua lời kể nhằm thu thập thông tin tại thực địa, chú trọng tiếng nói và quan điểm của chính cộng đồng Tin Lành người Cơho Chil
Quan sát – tham dự: khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tiến hành 04 đợt
điền dã dài ngày và nhiều đợt điền dã ngắn tại một số cộng đồng Tin Lành người Cơho Chil, trong đó tập trung tại 4 địa điểm nghiên cứu được lựa chọn Trong thời gian đi điền dã, chúng tôi đã tham dự vào các thực hành tôn giáo của tín đồ Tin Lành người Cơho Chil ở không gian gia đình và nhà thờ Các thông tin thu thập được bằng phương pháp này được ghi chép một cách tỷ mĩ, cẩn thận, khách quan dưới hình thức Nhật ký điền dã Bên cạnh đó, trong Nhật ký điền dã, tác giả luận án cũng chú thích những cảm nhận, nhận thức, suy nghĩ, đánh giá của mình đối với các
sự việc, hiện tượng quan sát được trong suốt quá trình quan sát – tham dự
Trong quá trình điền dã, chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn sâu đối với các tín đồ nam và nữ thuộc các lứa tuổi khác nhau, các chức sắc (mục sư, mục
sư nhiệm chức, truyền đạo), chức việc (những người trong Ban chấp sự chi hội Tin
Trang 25Lành, những người đứng đầu các ban chuyên trách theo lứa tuổi, giới tính) Thông qua các cuộc phỏng vấn, chúng tôi thu thập được nhiều thông tin về đời sống tôn giáo của cộng đồng Tin Lành người Cơho Chil trong bối cảnh đương đại cũng như
về các hoạt động truyền đạo ở thời kỳ Tin Lành mới xâm nhập, về các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng trong truyền thống hiện nay đã mai một, không thể quan sát được mà chỉ có thể tìm hiểu thông qua tư liệu hồi cố Ngoài ra, thông qua các cuộc phỏng vấn sâu, tác giả có thể nắm bắt được nhiều vấn đề liên quan đến niềm tin tôn giáo, nhận thức về giáo lý, thực hành tôn giáo của tín đồ Tin Lành cũng như những cảm nhận, đánh giá của họ về vai trò, vị trí của đạo Tin Lành trong đời sống tinh thần, tâm linh và tác động của tôn giáo này đến kinh tế, xã hội, văn hóa của chính cá nhân, gia đình và cộng đồng của mình
Ngoài ra, những cuộc phỏng vấn cán bộ quản lý cấp xã, cán bộ chuyên trách công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở cấp huyện, cấp tỉnh cũng giúp tìm hiểu về tình hình đạo Tin Lành và công tác quản lý tôn giáo của Nhà nước đối với cộng đồng người Cơho Chil nói riêng, các DTTS trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nói chung
- Phương pháp so sánh dân tộc học được chúng tôi sử dụng phổ biến trong quá
trình thực hiện luận án, bao gồm so sánh lịch đại và so sánh đồng đại So sánh lịch đại được sử dụng để so sánh đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của người Cơho Chil giai đoạn hiện nay với truyền thống, trước khi có sự xâm nhập của đạo Tin Lành So sánh đồng đại sẽ cho phép so sánh cơ cấu tổ chức, thực hành tôn giáo và những mức
độ ảnh hưởng của đạo Tin Lành lên các cộng đồng người Cơho Chil thuộc các chi hội ở những địa phương khác nhau, hệ phái khác nhau
6 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã nghiên cứu quá trình phát triển của đạo Tin Lành ở nhóm Cơho Chil qua các giai đoạn lịch sử, với những đặc điểm tương đồng và khác biệt về quy
mô, lực lượng và phương pháp truyền giáo Qua đó, cho thấy cái nhìn toàn diện về đạo Tin Lành ở cộng đồng của một tộc người thiểu số tại Tây Nguyên
- Luận án đã đóng góp những luận giải về nguyên nhân dẫn đến sự truyền bá thành công của đạo Tin Lành vào vùng DTTS ở Việt Nam dưới góc độ tiếp cận của
lý thuyết chức năng và lý thuyết lựa chọn duy lý của ngành nhân học
Trang 26- Qua khảo sát toàn diện về đạo Tin Lành trong cộng đồng người Cơho Chil, luận án nhận diện được vai trò của tôn giáo này trong đời sống tinh thần, tâm linh của người dân và tác động của nó đến các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa, cả khía cạnh tích cực và những hạn chế Qua đó, đóng góp tư liệu về mối quan
hệ giữa tôn giáo với đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của một cộng đồng tôn giáo, đây là một vấn đề cấp thiết ở Việt Nam hiện nay
- Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu nêu trên, luận án đã đóng góp tư liệu
về mối quan hệ giữa tôn giáo với đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của một cộng đồng tôn giáo, đây là một vấn đề cấp thiết ở Việt Nam hiện nay Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp những tư liệu cụ thể ở cấp vi mô, góp phần bổ sung lý thuyết về nhân học tôn giáo trong nghiên cứu về chuyển đổi tôn giáo và tác động của tôn giáo đến kinh tế, xã hội, văn hóa tộc người
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được bố cục trong 3 chương:
Chương 1: Giải thích làm rõ các khái niệm công cụ và cơ sở lý thuyết sẽ được
vận dụng trong luận án, cũng như trình bày tổng quan về cộng đồng Tin Lành người Cơho Chil ở Lâm Đồng Nội dung chương 1 đóng vai trò cơ sở cho phần nội dung chính của luận án được trình bày trong chương 2 và chương 3
Chương 2: Trình bày quá trình du nhập của đạo Tin Lành vào cộng đồng
người Cơho Chil ở Lâm Đồng, bao gồm bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội cho việc truyền giáo, các giai đoạn du nhập và phát triển, phương pháp truyền giáo, thực trạng đời sống tôn giáo hiện nay Từ đó, phân tích nguyên nhân, bản chất của việc người Cơho Chil chuyển đổi từ tôn giáo đa thần truyền thống sang đạo Tin Lành
Chương 3: Nhận diện và phân tích những chiều kích tác động của đạo Tin
Lành đến sự biến đổi trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của tín đồ người Cơho Chil
Trang 27Hiện nay, có khoảng 250 định nghĩa về tôn giáo Theo E B Tylor: “Tốt hơn
có lẽ nên đặt niềm tin vào các thực thể tinh thần như một định nghĩa tối thiểu về tôn giáo” (2000, tr.508) Nhà nhân học Clifford Geertz đã định nghĩa: “Tôn giáo là một
hệ thống biểu tượng, hoạt động nhằm thiết lập những tâm trạng và động cơ mạnh
mẽ, rộng khắp và bền lâu trong con người bằng cách đề ra những khái niệm về một trật tự chung của sự tồn tại và khoác cho những khái niệm này bằng một hào quang của sự thật khiến cho những tâm trạng và động cơ đó dường như là hiện thực duy nhất” (2006, tr.312) Theo E Durkheim: “Tôn giáo là một hệ thống thống nhất gồm các tín ngưỡng và các thực hành liên quan đến các linh vật, tức là những thứ đặt riêng biệt và cấm kỵ, các tín ngưỡng và thực hành này hợp nhất thành một cộng đồng tinh thần đơn giản nhất gọi là Giáo hội, tức là những người gia nhập các tín ngưỡng và thực hành ấy” (1995, tr.44) Theo Đặng Nghiêm Vạn: “Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo) với con người, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa
lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào những nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội/tôn giáo khác nhau” (2007, tr.167)
Ở Việt Nam, cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa tôn giáo và tín ngưỡng Trong đó, luồng ý kiến thứ nhất phân chia tín ngưỡng và tôn giáo thành hai phạm trù rõ ràng và thuộc hai cấp độ phát triển khác nhau Theo đó, tín ngưỡng là cấp độ thấp hơn so với tôn giáo và không có các yếu
tố cơ bản cấu thành tôn giáo: có giáo chủ, có tổ chức, có giáo lý và giáo luật, có nơi sinh hoạt và thờ tự, có người chuyên trách và hoạt động truyền giáo, có tín đồ
Trang 28(Phan Hữu Dật, 1999, tr.322) Luật Tín ngưỡng, tôn giáo do Quốc hội nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 18 - 11 - 2016 cũng có sự phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những nghi lễ gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại
sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” (Quốc hội, 2016, tr.8); “Tôn giáo
là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” (Quốc hội, 2016, tr.8)
Quan điểm thứ hai, cho rằng tín ngưỡng là niềm tin của con người vào đấng siêu nhiên, thần bí, vào một đấng sáng tạo Vì vậy, tín ngưỡng không phải là một hình thức tiền tôn giáo hay tôn giáo ở cấp độ thấp (sơ khai) mà là niềm tin tôn giáo,
- một trong những yếu tố cơ bản, quan trọng, cấu thành của tôn giáo Trong các công trình nghiên cứu nhân học tôn giáo của các tác giả nước ngoài, hầu như không xem các loại hình tôn giáo như vạn vật hữu linh, đa thần giáo, bái vật giáo, shaman
giáo… là tín ngưỡng (belief), là cấp độ thấp của tôn giáo mà đều được gọi là tôn giáo (religion) (Tocarev, 1994; Eller, 2007) Bởi vì tôn giáo là một thành tố của văn
hóa, các nền văn hóa bình đẳng với nhau (theo quan điểm của thuyết đặc thù luận lịch sử/tương đối luận văn hóa), vì vậy, khó có thể đánh giá tôn giáo này cao hơn tôn giáo khác (Đặng Nghiêm Vạn, 2007, tr.89)
Trong luận án của mình, dưới góc nhìn tương đối luận văn hóa của ngành nhân học, chúng tôi chia sẻ với quan niệm cho rằng tín ngưỡng không phải là một hình thức tiền tôn giáo hay tôn giáo ở cấp độ thấp mà là niềm tin tôn giáo Đây là một bộ phận quan trọng cấu thành nên tôn giáo và không tách rời khỏi tôn giáo (Đặng Nghiêm Vạn, 2007, tr.115; Nguyễn Văn Minh, 2009, tr.22) Vì vậy, luận án
sẽ dùng thuật ngữ tôn giáo để chỉ các hình thái tôn giáo sơ khai, nguyên thủy như vạn vật hữu linh, đa thần giáo, thờ cúng tổ tiên… lẫn các tôn giáo hiện đại, có tính phổ quát toàn cầu như: Tin Lành, Công giáo… Trong một số trường hợp, để rõ nghĩa hơn, khi đề cập đến các loại hình tôn giáo trong truyền thống của người Cơho Chil trước khi chuyển đổi theo Tin Lành, chúng tôi dùng thuật ngữ tôn giáo đa thần truyền thống để phân biệt với những tôn giáo được truyền vào sau này như Công giáo và đạo Tin Lành
Trang 29* Kitô giáo, Công giáo, Tin Lành: Ở nước ta hiện nay, các thuật ngữ này
được sử dụng phổ biến, chúng tôi làm rõ các khái niệm này để định hướng cho việc
sử dụng và nghiên cứu trong luận án của mình
- Kitô giáo
Trên thế giới, có nhiều cách gọi tên một tôn giáo, một chi nhánh hay một tông phái: gọi tên theo vị giáo tổ (Phật giáo, Lão giáo…); gọi tên theo đối tượng được thờ (đạo Bàlamôn, đạo Thiên chúa…); gọi tên theo dân tộc theo đạo (Hồi giáo, Anh giáo, Ấn giáo)… Đối với đạo do giáo tổ Giê-su1 (có biệt hiệu là Christos - đấng
được xức dầu, đấng được sai đến để cứu độ cho con người trên thế gian) truyền bá,
thì người châu Âu gọi là Chritianisme, người Trung Hoa có hai tên gọi: gọi theo tên
giáo tổ là Giê-su, đọc theo kiểu Hán – Việt là đạo Giatô; gọi theo biệt hiệu phiên âm
là Jilisisu (Kilisitu) đọc theo kiểu Hán – Việt là Cơ lợi tư đốc, gọi tắt là đạo Cơ đốc, còn ở Việt Nam thì ngay từ buổi đầu đã phiên âm là đạo Khirixitô hay là Kirixitô,
gọi tắt là Kitô (Trần Văn Toàn, 2003, tr.23)
Như vậy, Kitô giáo là cách mà người Việt Nam gọi đạo do giáo tổ Giê-su truyền bá, bao hàm ba nhánh: Công giáo, Chính thống giáo và Tin Lành Cho đến nay, có hai trong số ba nhánh này được truyền bá đến Việt Nam (Công giáo và Tin Lành) Trong cộng đồng người Cơho Chil, đại bộ phận cư dân theo đạo Tin Lành, một bộ phận nhỏ theo Công giáo
- Công giáo
Công giáo là tên gọi ngày nay khá phổ biến Từ Công giáo được dịch từ chữ
La tinh Catholica trong cụm từ Eclesia Catholia Từ Catholica xuất hiện lần đầu
tiên trong một bức thư của thánh Ignatiô tử đạo năm 107 gửi cho Giáo hội tại
Smyrne: Ubi Christus, ibi catholica Ecclesia (ở đâu có Đức Kitô, ở đó có Hội thánh
Công giáo) Công giáo như vậy là một thuộc tính của đạo xuất phát từ Đức Kitô Định nghĩa đầu tiên của thuộc tính “công giáo” đã do thánh Cyrillô thành Giêrusalem đưa ra vào cuối thế kỷ II “Giáo hội được gọi là Công giáo vì Giáo hội lan tràn trên khắp thế giới từ đầu này đến đầu kia của trái đất, vì Giáo hội giảng dạy
1 Hiện nay, trong các văn bản tiếng Việt, có nhiều cách viết và phiên âm tên của Chúa Cứu thế Jesus Christ như: Giê-su, Giê-xu, Giêxu, Yê su, Jesus, Jêsus Trong luận án, chúng tôi dùng cách viết
Giê-su như trong ấn phẩm Kinh Thánh Cựu ước và Tân ước (bản dịch mới của Hội Kinh Thánh
Việt Nam), được NXB Tôn giáo ấn hành năm 2014, đang được sử dụng phổ biến trong các chi hội Tin Lành người Cơho Chil hiện nay
Trang 30một cách phổ biến, không loại trừ tất cả các tín điều con người cần phải biết và cũng
vì Giáo hội muốn cho loài người, vua quan cũng như thường dân, người thông thái cũng như kẻ dốt nát suy phục sự tôn sùng đích thực” (dẫn theo Nguyễn Nghị, 2004, tr.386 – 387) Từ Công giáo cũng còn có một nghĩa khác, có tính xã hội hơn Theo nghĩa này, Công giáo được dùng để chỉ các tín đồ, hay các thể chế gắn với Rôma sau vụ đoạn tuyệt giữa phương Đông và phương Tây Kitô giáo (Constantinople và Roma) vào năm 1054 Sang thế kỷ XVI, một vụ đoạn tuyệt mới diễn ra tại châu Âu, trong cuộc cải cách lại giới hạn Công giáo vào một trong hai bộ mặt Kitô giáo của châu Âu: Công giáo và Tin Lành (Nguyễn Nghị, 2004, tr.387) Như vậy, mỗi tên gọi đều nhấn mạnh vào một nội dung riêng hay một khía cạnh riêng của tôn giáo này Kitô giáo nhấn mạnh vào Đức Kitô, Đấng Cứu thế Công giáo ám chỉ tới tính cách, theo cả hai nghĩa của tôn giáo này Một tên gọi, dĩ nhiên không nói hết nội dung chính yếu của một tôn giáo (Nguyễn Nghị, 2004, tr.387)
Tại Việt Nam, trước năm 1975, thuật ngữ Công giáo được sử dụng phổ biến nhưng sau năm 1975, với quan điểm muốn từ chối với những quan niệm gắn với chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đặc biệt thời Ngô Đình Diệm (chính quyền thân Công giáo) nên đã dùng thuật ngữ Thiên Chúa giáo để thay thế Hiện nay, thuật ngữ Công giáo đã được dùng phổ biến trở lại
- Tin Lành
Đạo Tin Lành (Protestantisme) là một trong ba dòng phái chính của Kitô giáo,
ra đời trong phong trào cải cách tôn giáo, tách ra từ giáo hội Công giáo tại châu Âu thế kỷ XVI Tin Lành là tên gọi chung của một tôn giáo bao gồm nhiều giáo hội, giáo phái độc lập khác nhau, cụ thể như: Các cộng đồng tiền cải cách (Waldennes, Alberginses), các Giáo hội ra đời từ Cải cách (Luther giáo, Calvin giáo, Anh giáo), các giáo phái ra đời nối tiếp cuộc cải cách và từ tư tưởng M Luther, J.Calvin như: Baptism, Metodism, Adventism…Về nguồn gốc và ý nghĩa của thuật ngữ Tin Lành,
nữ giáo sĩ H.H Di xon đã giải thích từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX như sau:
Tin Lành (Evangelicalism) có ý nghĩa là tin tức tốt lành và vui vẻ báo cho người ta
biết Trong sách báo Tin Lành tại Việt Nam, ngoài danh từ Tin Lành, nhiều khi còn
gặp thuật ngữ “Cơ đốc giáo” (Christianity) được dùng để chỉ tôn giáo này mà không
bao hàm cả Công giáo và Chính thống giáo Tín đồ Tin Lành còn gọi mình là “Cơ
Trang 31đốc nhân” (Christian), tổ chức Giáo hội của họ được dịch nghĩa là một Cơ đốc giáo hội (Christian Church) (Nguyễn Xuân Hùng, 2001, tr.47 - 48) Trong khi đó, trên
thế giới, thuật ngữ thường dùng để chỉ tôn giáo này là Protestantism (Anh), Protestantisme (Pháp), được dịch nghĩa là: đạo Thệ phản (theo âm Hán Việt), đạo Chống đối, nhưng những thuật ngữ này không được Giáo hội Tin Lành tại Việt Nam sử dụng (Nguyễn Xuân Hùng, 2001, tr.47)
Như vậy, ở Việt Nam có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ cho đạo thờ Đức Chúa
Giê-su Trong luận án của mình, chúng tôi thống nhất cách sử dụng: Kitô giáo chỉ
các tôn giáo thờ Đức Chúa Giê-su, bao gồm cả các nhánh (tông phái) của nó: Công giáo, Chính Thống giáo, Tin Lành, riêng trong cộng đồng người Cơho Chil có hai
nhánh là Công giáo và Tin Lành; Công giáo dùng để chỉ cho tôn giáo trực thuộc Tòa Thánh Vatican, tương đương với Catholicism trong tiếng Anh, Catholicisme trong tiếng Pháp; Tin Lành dùng để chỉ cho tôn giáo được tách ra từ Công giáo vào thế kỷ XVI, XVII, tương đương với Protestantism trong tiếng Anh và
Protestantisme trong tiếng Pháp
* Truyền giáo
Theo Nguyễn Xuân Hùng (2017), truyền giáo là truyền bá một tôn giáo cho những người khác, trong nước hay ngoài nước Quá trình truyền giáo không chỉ là truyền bá giáo lý, tư tưởng mà còn là gây dựng tổ chức, huấn luyện đội ngũ, mở mang thực lực nhiều mặt Truyền giáo là công việc của mọi tôn giáo, nhưng có tổ chức, có quy mô nhất là việc truyền giáo của đạo Kitô, phát triển mạnh sau khi nhiều nước châu Âu đi thôn tính những miền đất mới (tr.5) Trong luận án, chúng tôi sử dụng thuật ngữ truyền giáo để chỉ cho quá trình du nhập của đạo Tin Lành vào cộng đồng người Cơho Chil ở Lâm Đồng
* Chuyển đổi tôn giáo
Trong công trình Chuyển đổi tôn giáo một số vấn đề lý thuyết và lịch sử,
Trương Văn Chung (2017) đã điểm luận các quan niệm về chuyển đổi tôn giáo cũng
như các định nghĩa thuật ngữ chuyển đổi tôn giáo (religious conversion) của nhiều
học giả nước ngoài, dưới góc độ thần học, xã hội học, văn hóa học Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một định nghĩa mang tính chất mô tả về chuyển đổi tôn giáo: “Là một quá trình biến đổi văn hóa – tôn giáo đa dạng, đa chiều và nhiều giai đoạn,
Trang 32phản ánh những thay đổi lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội trong một bối cảnh lịch sử cụ thể Chuyển đổi tôn giáo còn là một hình thức thay đổi trong đời sống tôn giáo, mà sự thay đổi đó không chỉ ở tâm lý, nhận thức tôn giáo mà còn ở
cả lối sống, hành vi văn hóa và quan hệ xã hội của cá nhân, nhóm người trong một cộng đồng tôn giáo” (tr.25) Trong luận án, thuật ngữ chuyển đổi tôn giáo được sử dụng để chỉ quá trình người Cơho Chil ở Lâm Đồng chuyển đổi từ tôn giáo đa thần truyền thống sang đạo Tin Lành
* Tiếp biến văn hóa
Cần phân biệt khái niệm tiếp biến văn hóa (acculturation) và giao lưu, tiếp xúc
văn hóa Giao lưu và tiếp xúc là chỉ hiện trạng tiếp xúc và trao đổi văn hóa khi có sự tiếp xúc văn hóa lâu dài trong không gian và thời gian khác nhau Còn tiếp biến văn hóa lại chỉ ra các động thái và các xu hướng biến đổi của văn hóa khi có sự giao lưu tiếp xúc giữa các nền văn hóa: cộng sinh văn hóa, đồng hóa văn hóa, bản địa hóa văn hóa (hay dân tộc hóa), hội nhập văn hóa
Tiếp biến văn hóa là khái niệm do các nhà nhân học Anglo – Saxon đưa ra vào cuối thế kỷ XIX để chỉ ra sự tiếp xúc lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và kết quả của cuộc tiếp xúc này là sự thay đổi hoặc biến đổi của một số loại hình văn hóa hoặc cả hai nền văn hóa đó Theo các nhà nhân học Mỹ, tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy Quá trình tiếp biến văn hóa
có thể diễn ra một cách cưỡng bức thông qua sự thống trị về quân sự, hoặc diễn ra bằng con đường hòa bình thông qua buôn bán hoặc truyền đạo… Tuy nhiên, dù ngay cả bằng con đường hòa bình, nếu không đủ bản lĩnh, qua quá trình tiếp xúc, giao lưu giữa hai nền văn hóa thì xã hội yếu hơn sẽ bị xã hội mạnh tác động thay đổi (Khoa Nhân học, 2008, tr.108)
Trong tác phẩm Từ điển nhân học, Thomas Barfield (1999) đã đưa ra một định
nghĩa khá toàn diện về tiếp biến văn hóa:
Tiếp biến văn hóa (acculturation) là quá trình thay đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa độc lập nhau, sự tiếp xúc đó làm tăng đặc tính của nền văn hóa này trong nền văn hóa kia Quá trình trên luôn bao hàm sự tương tác phức tạp với các tiến trình phát triển xã hội kèm theo… Khi các nền văn hóa tiếp xúc
Trang 33với nhau, nền văn hóa trao tặng không thể đưa ra được đầy đủ các yếu tố văn hóa của mình và hệ thống giá trị riêng của nền văn hóa tiếp nhận có thể đóng vai trò che chắn hoặc thay đổi những yếu tố nào đó Tiếp biến văn hóa có thể có cấu trúc xã hội chặt chẽ làm xoay chuyển dòng chảy các yếu tố văn hóa khác Tiếp biến văn hóa gồm nhiều quá trình khác nhau như truyền bá, thích nghi phản ứng lại, gồm nhiều kiểu tái
tổ chức văn hóa xã hội sau quá trình tiếp xúc và sau cùng là “tan rã văn hóa” Phạm
vi điều chỉnh trong đó có giữ lại các đặc điểm văn hóa chủ đạo (thuyết đa nguyên bền vững) hay đặc trưng hơn là nhóm tiếp xúc có ảnh hưởng lớn đồng hóa nhóm yếu hơn
và có sự hợp nhất về văn hóa (mặc dù hiếm xảy ra), do đó hai nền văn hóa có thể trao đổi các yếu tố để tạo nên một nền văn hóa kế cận đặc biệt Vì tiếp biến văn hóa bao hàm sự tương tác của hai hay nhiều các nhóm văn hóa riêng biệt nên sự tương tác xã hội giữa các nhóm sẽ quyết định kết quả thu được Ví dụ, áp lực xã hội đặc biệt đi kèm với sự xâm chiếm có thể chứng tỏ hiệu quả trong hành vi phá vỡ các cơ cấu là nền tảng cho nhóm bị chinh phục duy trì văn hóa yếu kém về chính trị mặc dù có vẻ như tồn tại vô số điều kỳ quặc Hơn nữa, nếu vì bất kỳ lý do nào mà nhóm văn hóa này từ chối công nhận tiếp biến văn hóa của nền văn hóa kia thì việc rút ngắn khoảng cách văn hóa (tiếp biến văn hóa) có thể sẽ không cùng xảy ra với việc rút ngắn khoảng cách xã hội tương ứng (đồng hóa) (tr.1)
Từ cơ sở lý thuyết trên, có thể thấy nguyên nhân dẫn đến quá trình tiếp biến văn hóa là do sự tiếp xúc lâu dài giữa các tộc người khác nhau với các nền văn hóa khác nhau Tiếp biến văn hóa phụ thuộc vào sự tác động của yếu tố văn hóa ngoại sinh và văn hóa nội sinh Tuỳ theo bối cảnh văn hoá - xã hội khác nhau mà dẫn đến
sự biến đổi văn hóa theo các khuynh hướng khác nhau
1.1.2 Những hướng tiếp cận lý thuyết của luận án
Hiện nay, hầu hết người Cơho Chil ở Lâm Đồng đã chuyển đổi tôn giáo sang đạo Tin Lành Tôn giáo này đã có những ảnh hưởng toàn diện đến sự biến đổi đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng cư dân này Thực tế đó đã đặt ra những vấn đề cần phải lý giải: Những nguyên nhân chính nào dẫn đến việc người Cơho Chil chuyển đổi từ tôn giáo đa thần truyền thống sang đạo Tin Lành và tôn giáo này
có tác động, ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng cư dân này
Trang 34Để lý giải cho những vấn đề nghiên cứu cơ bản trên đây, trong luận án của mình, chúng tôi tập trung vào những hướng tiếp cận lý thuyết chính: lý thuyết chức năng, lý thuyết lựa chọn duy lý, lý thuyết hệ thống và các quan điểm về mối quan
hệ giữa tôn giáo với kinh tế, xã hội, văn hóa Các lý thuyết có vị trí, vai trò khác nhau trong việc trả lời từng câu hỏi nghiên cứu Có lý thuyết đóng vai trò chủ yếu trong việc trả lời câu hỏi nghiên cứu này, nhưng lại đóng vai trò thứ yếu trong việc giải quyết vấn đề khác và ngược lại
* Lý thuyết chức năng (funtionism theory) ra đời ở Anh vào cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX, gắn liền với tên tuổi của hai nhà nhân học nổi tiếng là Bronislaw Malinowski (1884 - 1942) và Radcliffe Brown (1881 - 1955) Các nhà lý thuyết chức năng phản ứng mạnh mẽ quan niệm của các nhà tiến hóa luận cuối thế kỷ XIX Hai ông cho rằng không thể xem những tập tục của các xã hội có quy mô nhỏ như là những tàn dư của một thời kỳ trước đó mà đúng hơn, phải giải thích theo chức năng hiện thời của chúng (Robert Layton, 2007, tr.52) Mặc dù đều cùng trường phái chức năng nhưng quan điểm của Malinowski và Radcliffe Brown có nhiều khác biệt Radcliffe Brown chịu ảnh hưởng của Durkheim, cho rằng chức năng của mỗi tập tục là vai trò mà nó nắm giữ trong việc duy trì sự toàn vẹn của hệ thống xã hội Trong khi đó, Malinowski cho rằng chức năng của các tập tục là để thỏa mãn những nhu cầu sinh lý học chủ yếu của cá nhân thông qua phương tiện văn hóa (Robert Layton, 2007, tr.51 – 52)
Malinowski đã đưa ra nhiều dẫn chứng để minh họa cho quan điểm của mình Chẳng hạn như trong hoạt động đánh cá của cư dân trên đảo Trobriand (nơi ông trải qua nhiều năm điền dã thu thập tư liệu về cuộc sống của cư dân ở đây), trong khi đánh bắt cá ở khu vực ven bờ hoặc các vùng biển cạn, việc đánh bắt cá một cách dễ dàng và hoàn toàn dựa vào biện pháp đánh thuốc độc, họ thu được kết quả ổn định
mà không có nguy hiểm và bất an nào nên họ không cần một nghi lễ hay ma thuật nào Trong khi đó, khi đánh cá ở ngoài khơi, người ta phải dùng những phương thức đánh cá hết sức nguy hiểm, chứa đựng nhiều bất trắc và mang tính may rủi rất cao nên phải dùng một hệ thống nghi lễ ma thuật với phạm vi rộng lớn để đảm bảo an toàn và kết quả cao Theo ông, bùa phép được những cư dân Trobrian sử dụng khi
Trang 35tiến hành những chuyến đi biển xa là nhằm mục đích trấn an tâm lý của con người, giúp họ an tâm hơn khi đối mặt với biển cả (Malinowski, 2006, tr.159)
Vận dụng thuyết chức năng theo quan điểm của Malinowski, có thể thấy rằng việc tin theo và thực hành nghi lễ tôn giáo là nhu cầu tinh thần, tâm linh của con người Tôn giáo chính là chỗ dựa tinh thần khi con người gặp những khó khăn, khủng hoảng không thể giải quyết được trong cuộc sống hàng ngày nên phải dựa vào các thế lực siêu nhiên Nhu cầu này không phải ngẫu nhiên xuất hiện và tồn tại một cách độc lập, bất biến mà do điều kiện tự nhiên, bối cảnh xã hội tạo nên và tác động
Vận dụng lý thuyết chức năng, luận án phân tích làm rõ giả thuyết nghiên cứu cho rằng những thay đổi của bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa dẫn đến nhu cầu phải chuyển đổi tôn giáo nhằm khắc phục những hạn chế của tôn giáo đa thần truyền thống và đáp ứng tốt hơn nhu cầu tâm linh là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến hiện tượng người Cơho Chil chuyển đổi từ tôn giáo truyền thống sang đạo Tin Lành
* Lý thuyết lựa chọn duy lý (rational choice theory) nhìn về bình diện hẹp bắt
nguồn từ lý thuyết của nhà nhân học Brolisnaw Malinowski Nhìn ở bình diện rộng hơn, trong lý thuyết xã hội phương Tây, truyền thống này chịu ảnh hưởng lý thuyết của Adam Smith ở thế kỷ XIX, lý thuyết trao đổi trong xã hội học của George Homan hay trong nhân học của Fredrik Barth và lý thuyết tân cổ điển trong kinh tế học phương Tây mà nhà kinh tế học Becker đã tìm cách ứng dụng để lý giải những vấn đề xã hội Tiền đề chính của lý thuyết lựa chọn duy lý là cá nhân luôn có chiến lược hành động hợp lý dựa trên những cân nhắc, suy tính thiệt hơn, so sánh lợi hại của mọi hành vi và đưa ra quyết định nào tối đa hóa nhất quyền lợi của mình (Barth,
1981, tr.35)
Vận dụng lý thuyết sự lựa chọn duy lý vào việc giải thích các hiện tượng tôn giáo trong xã hội đương đại, đặc biệt là sự tồn tại lâu dài, thậm chí nở rộ của các loại hình tôn giáo trong xã hội hiện đại là do con người lựa chọn tín ngưỡng, tôn giáo của mình cũng trên cơ sở tính toán cái được (sự an tâm về mặt tâm lý, ý nghĩa cuộc đời, tình đồng đạo…) và cái mất (sự tham gia, tuân thủ các chuẩn mực và các hành vi tôn giáo, đóng góp tiền bạc…) nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó (Nguyễn
Trang 36Xuân Nghĩa, 2008, tr.77 – 78) Lý thuyết lựa chọn duy lý sẽ cùng với lý thuyết chức năng, góp phần lý giải một cách toàn diện, đa chiều và đầy đủ hơn cho câu hỏi vì sao người Cơho Chil chuyển đổi từ tôn giáo đa thần truyền thống sang đạo Tin Lành
Tuy vậy, khi áp dụng các lý thuyết này vào lý giải thực tiễn, cần thiết phải đặt trong mối liên hệ với nhiều yếu tố khác: thời điểm truyền giáo, bối cảnh lịch sử - chính trị - xã hội cụ thể của công cuộc truyền giáo, chiến lược truyền giáo và vai trò của cá nhân trong các nỗ lực truyền đạo Từ đó, sẽ có được sự phân tích vừa mang tính quy luật, vừa mang tính lịch sử cụ thể về những nguyên nhân và quá trình chuyển đổi sang đạo Tin Lành của cộng đồng người Cơho Chil ở Lâm Đồng và lý giải ưu thế tuyệt đối của đạo Tin Lành so với Công giáo trong cộng đồng cư dân này
* Các lý thuyết và quan điểm về vai trò, tác động của tôn giáo đến biến đổi kinh tế, xã hội, văn hóa và quá trình hiện đại hóa
Trải qua gần một thế kỷ truyền giáo, đến nay, đạo Tin Lành đã tạo dựng được chỗ đứng vững chắc và trở thành một thực thể tôn giáo ổn định trong cộng đồng người Cơho Chil ở Lâm Đồng Sự chuyển đổi tôn giáo đã kéo theo sự biến đổi trên nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của cư dân này Bởi vì tôn giáo là một hiện tượng xã hội, đồng thời tôn giáo cũng là một hiện tượng văn hóa Vì vậy, tôn giáo có một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh
tế - xã hội của một quốc gia, một tộc người, thậm chí cả một khu vực (Ngô Văn Lệ,
2010, tr.342) Trong ngành nhân học có nhiều lý thuyết khác nhau về tôn giáo, nhưng điểm chung là các lý thuyết đều nhấn mạnh rằng phải nghiên cứu tôn giáo như là một phần của tổng thể xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị (Khoa Nhân học,
2016, tr.204) Tuy vậy, tùy mỗi lĩnh vực khác nhau, tùy mỗi thời điểm khác nhau
mà mức độ tác động, ảnh hưởng của tôn giáo không giống nhau Có những lĩnh vực, tác động của tôn giáo khá trực tiếp, nổi trội và dễ dàng nhận thấy nhưng cũng có những khía cạnh tác động của tôn giáo là gián tiếp, tiềm ẩn và khó nhận diện
Trong luận án của mình, để làm cơ sở lý luận cho việc nhận diện, phân tích, đánh giá tác động của đạo Tin Lành đối với biến đổi kinh tế, xã hội, văn hóa của
Trang 37người Cơho Chil, chúng tôi dựa vào những quan điểm, luận cứ của các nhà nghiên cứu về vai trò, chức năng và tác động của tôn giáo
- Lý thuyết của Max Weber về vai trò của tôn giáo đối với hành vi kinh tế và hiện đại hóa xã hội Mỗi học thuyết có những khái niệm khác nhau về tôn giáo và
tiếp cận tôn giáo theo những quan điểm, phương pháp luận khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu tôn giáo ít nhất cũng có một quan điểm giống nhau là đặt tôn giáo trong quan hệ với các cơ cấu và hình thái kinh tế xã hội, các chế độ xã hội, thể chế chính trị tương ứng Nhiều nhà nhân học, xã hội học đã thừa nhận sự tác động của sản xuất vật chất của xã hội đối với tôn giáo và đến lượt mình, tôn giáo có sự tác động trở lại đối với các yếu tố khác của đời sống xã hội Max Weber là một trong những học giả phương Tây đầu tiên phân tích vai trò của tôn giáo trong quá trình hiện đại hóa Quan điểm của ông có ảnh hưởng sâu rộng đến ngày hôm nay Theo quan điểm của Max Weber, những quan niệm tôn giáo thực sự là một nhân tố ảnh
có ảnh hưởng quan trọng đối với các lối ứng xử kinh tế, và do đó, là một trong những nguyên nhân của những chuyển biến kinh tế - xã hội của các xã hội (Weber,
2008, tr.28) Max Weber không xem biến số tôn giáo quyết định những thành tựu kinh tế, nhưng Max Weber đặt vấn đề xem những khái niệm về tôn giáo có ảnh hưởng không và đến mức độ nào đối với phương hướng hành động của con người
và các nhóm xã hội trong lĩnh vực kinh tế Max Weber tìm hiểu những mối quan hệ phức tạp giữa tôn giáo và tính hiện đại Tây phương Ông tìm hiểu những đặc thù của văn minh Tây phương so với các nền văn minh khác và cho thấy đây là cái nôi xuất phát của tính duy lý kinh tế sau đó đã phát triển khắp thế giới Theo ông, nguồn gốc của hiện tượng này là các quá trình “giải ma thuật” và “lý tính hóa” đã tồn tại, tác động từ bên trong tôn giáo, sau đó trở thành những nét chủ đạo của tính hiện đại Tây Phương (Weber, 2008, tr.26) Chính quá trình phi ma thuật hóa, giải mê thế giới kéo theo sự phát triển của khoa học, duy lý hóa hành vi, chuyên môn hóa các hoạt động của con người trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa Theo Max Weber, tôn giáo là một yếu tố chi phối, đồng thời cũng bị chi phối bởi xã hội Cần chú ý, trong tác phẩm của mình, mặc dù chủ yếu tập trung phân tích vai trò của nền đạo đức Tin lành đối với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, nhưng Max Weber cũng không tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố tinh thần mà chỉ xem đó là
Trang 38những động lực trong “vô số” những động lực khác, góp phần vào sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và nền văn minh hiện đại (Weber, 2008, tr.28)
Vận dụng những quan điểm này vào luận án, chúng tôi giả thuyết rằng, khi người Cơho Chil cải đạo sang Tin Lành, cũng tất yếu dẫn đến sự thay đổi về các quan niệm liên quan đến lao động và hoạt động kinh tế Sự tác động của đạo Tin Lành đến biến đổi hoạt động kinh tế đa phần là tác động gián tiếp do sự thay đổi về quan niệm, nhận thức về lao động, của cải, sự giàu có, phân công lao động, phân phối sản phẩm, chi tiêu, sự thay đổi thói quen và các sinh hoạt, thay đổi cách thức tổ chức đời sống, quá trình giải ma thuật gắn liền với sự từ bỏ niềm tin đa thần và các nghi lễ hiến tế truyền thống, ý thức về giá trị cá nhân… đã đem lại những thay đổi
về đời sống kinh tế Mặt khác, sự biến đổi trong đời sống kinh tế của người Cơho Chil những thập niên gần đây là tổng hòa của nhiều nhân tố khác nhau: các khía cạnh chính trị, luật pháp, chính sách, tiếp xúc với các tộc người khác… trong đó có nhân tố tôn giáo Chính vì vậy, theo chúng tôi, tuyệt đối hóa vai trò của tôn giáo hoặc bỏ qua vai trò tôn giáo trong sự biến đổi đó đều là cách tiếp cận không biện chứng và khách quan Tuy vậy, nhận diện những khía cạnh trong sự biến đổi đời sống kinh tế của người Cơho Chil dưới tác động của nhân tố tôn giáo là điều không
dễ dàng Đó cũng là một thách thức cần phải giải quyết
- Lý thuyết hệ thống (lý thuyết cấu trúc – chức năng) cho rằng: 1) Mọi hệ
thống đều bao gồm các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau và mạng lưới các mối quan hệ đó tạo thành cấu trúc của hệ thống; 2) Mỗi yếu tố của hệ thống, đến lượt mình, đều có thể là một hệ thống con và dưới hệ thống con lại có thể có những hệ thống con nhỏ hơn nữa; 3) Mọi hệ thống đều có quan hệ mật thiết với môi trường cảnh quan bao quanh chúng Thuyết cấu trúc – chức năng chỉ ra rằng, mỗi yếu tố hay bộ phận thuộc cấu trúc của tổng thể (hệ thống) đều đảm bảo một hoặc nhiều chức năng, do đó, một khi các chức năng bị rối loạn sẽ dẫn tới sự mất ổn định của
hệ thống, thậm chí phá vỡ cấu trúc của toàn bộ hệ thống Ngược lại, khi mà các chức năng của mỗi yếu tố hay bộ phận tạo thành hệ thống đều được thực thi trôi chảy thì toàn bộ hệ thống sẽ vận hành một cách ổn định và bền vững (Tạ Ngọc Tấn,
2010, tr.29)
Trang 39Với cách tiếp cận của lý thuyết hệ thống, có thể xem xét cấu trúc xã hội của người Cơho Chil như một hệ thống, trong đó tôn giáo là một thành tố, một tiểu hệ thống, tạo nên cơ cấu xã hội – tôn giáo1, đóng góp vào hệ thống cơ cấu xã hội của người Cơho Chil Lý thuyết hệ thống không phải là một lý thuyết về biến đổi xã hội Tuy nhiên, nó gợi mở cho chúng tôi rằng, khi đạo Tin Lành xâm nhập vào cộng đồng người Cơho Chil, với tư cách là một tiểu hệ thống xã hội (bao gồm các thành
tố ý thức tôn giáo, hoạt động tôn giáo, quan hệ tôn giáo, các thể chế và tổ chức tôn giáo) sẽ có vai trò, chức năng nhất định trong việc duy trì và đảm bảo hệ thống xã hội Mặt khác, sự du nhập của đạo Tin Lành vào cộng đồng người Cơho Chil dĩ nhiên sẽ có tác động, làm biến đổi cơ cấu xã hội – tôn giáo truyền thống của những
cư dân này, xác lập cơ cấu xã hội – tôn giáo mới Với hướng tiếp cận trên, chúng tôi không xem xét cơ cấu xã hội – tôn giáo một cách cô lập, tách rời với các cơ cấu xã hội khác, mà xem xét chúng trong sự ràng buộc và phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau Quan điểm toàn diện trong phương pháp tiếp cận hệ thống giúp nhận diện một cách
rõ ràng vị trí của cơ cấu xã hội – tôn giáo trong toàn bộ hệ thống xã hội
Trong luận án của mình, chúng tôi quan tâm đến tác động của đạo Tin Lành đến sự các thiết chế xã hội: gia đình, dòng họ, cộng đồng
- Các quan điểm về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa: Nhân học tôn giáo
xem tôn giáo là một phần của văn hóa tộc người, không có nền văn hóa nào là thiếu
sự có mặt của tôn giáo, nói cách khác, tôn giáo là một hiện tượng văn hóa phổ biến (Vũ Minh Chi, 2004, tr.268) Theo lý thuyết cấu trúc - chức năng, các thành tố của văn hóa luôn liên hệ với nhau để tạo thành hệ thống những đối tượng, hành vi, tâm thế mà ở bên trong đó, mỗi một bộ phận đều thể hiện với tư cách là phương tiện đạt tới một mục đích nhất định, có đóng góp cho việc đáp ứng nhu cầu của con người Các thành tố bên trong chỉnh thể nằm ở trạng thái phụ thuộc lẫn nhau, những biến đổi của thành tố này sẽ kéo theo những biến đổi của các thành tố khác Tôn giáo
1Cơ cấu xã hội – tôn giáo được hiểu “là cơ cấu một cộng đồng người với các địa vị giai cấp, xã hội
khác nhau theo cùng một tôn giáo hay tổ chức tôn giáo dựa trên nền tảng tín lý, giáo lý và thực hành nghi thức thờ cúng Cộng đồng này ở một số tôn giáo còn là sự tập hợp các cộng đồng như được tổ chức thành hội đoàn hoặc các tổ chức tương tự nhưng không bền vững Trong cộng đồng,
do vị trí công việc tôn giáo mà một số thành viên có địa vị khác nhau Cơ cấu xã hội – tôn giáo được hình thành trong những điều kiện chính trị - xã hội, vì vậy nó chịu sự chi phối của những điều kiện chính trị - xã hội và biến động của tôn giáo chủ thể sản sinh ra nó” (Tạ Ngọc Tấn 2010, tr.25)
Trang 40được xem xét với tư cách là một hiện tượng văn hóa phổ biến cấu thành một lĩnh vực sự kiện xác định ở bên trong văn hóa cùng với các sự kiện khác Vì vậy, các quá trình văn hóa có tương liên với các quá trình khác Tôn giáo là một thành phần của hệ thống văn hóa Tôn giáo không vượt ra khỏi khuôn khổ của văn hóa, không
bị “tước mất” những đặc điểm vốn có của nó với tư cách một hiện tượng văn hóa Mặt khác, trong chỉnh thể văn hóa không thể thiếu tôn giáo (Đỗ Minh Hợp 2005, tr.268 – 269, tr.284 – 285)
Theo Nguyễn Văn Dũng (2009), trong quan hệ đối với văn hóa, tôn giáo vốn
là một yếu tố của văn hóa, được sản sinh từ văn hóa để rồi sau đó lại góp phần thúc đẩy văn hóa phát triển Đồng thời, trong tiếp xúc văn hóa, tôn giáo là một cầu nối quan trọng Ngược lại, sự du nhập của tôn giáo góp phần bổ sung thêm nhiều yếu tố văn hóa mới (tr.474 – 477)
Đỗ Quang Hưng (2009) cho rằng bất luận nghiên cứu tôn giáo từ quan điểm nào thì vẫn thừa nhận tôn giáo có vai trò to lớn đối với văn hóa của một cộng đồng dân tộc và của nhân loại Theo lối nhìn chức năng của tôn giáo, tôn giáo không chỉ
là một niềm tin, một sự kiện lịch sử mà còn là một sự kiện văn hóa (tr.340 – 345) Tôn giáo được xem như cái chiều sâu của văn hóa, góp phần tạo nên cấu trúc nền tảng và có chức năng duy trì trật tự xã hội Hay nói như các nhà nhân học, văn hóa
là những “tích hợp” văn hóa của tôn giáo Đối với trường hợp văn hóa tôn giáo ở Việt Nam, các tôn giáo có tín đồ đông hoặc số lượng tín đồ không đông, tôn giáo bản địa hay ngoại nhập đều có những vị thế độc đáo trong văn hóa dân tộc và có vị trí, đóng góp vị trí xứng đáng của mình trong nền văn hóa Việt Nam đa dạng và giàu bản sắc (Đỗ Quang Hưng, 2009, tr.365)
Theo Vương Xuân Tình (2018), các nhà nghiên cứu đều cho rằng, tín ngưỡng tôn giáo có vai trò quan trọng tạo nên bản sắc tộc người hay quốc gia dân tộc và sự khác biệt về ý kiến chỉ là đánh giá mức độ của vai trò này (tr.767)
Như vậy, dù dưới quan điểm tiếp cận nào, các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng, tôn giáo nói chung và văn hóa tôn giáo nói riêng là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền văn hóa của cộng đồng tôn giáo đó Văn hóa có tác động đến tôn giáo và ngược lại Chính vì vậy, khi một cộng đồng, một tộc người có sự chuyển đổi tôn giáo sẽ dẫn tới sự biến đổi văn hóa ở những quy mô và mức độ khác nhau Cụ