Thông qua quá trình nghiên cứu, luận án chỉ ra được xu hướng phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam để thấy sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN THỊ THU TRANG
PHỔ QUÁT HÓA QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Tp Hồ Chí Minh năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN THỊ THU TRANG
PHỔ QUÁT HÓA QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số chuyên ngành: 62.38.01.07
Phản biện 1 PGS.TS Lê Vũ Nam
Phản biện 2 PGS.TS Lê Thị Bích Thọ
Phản biện 3 PGS.TS Bùi Anh Thủy
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS DƯƠNG ANH SƠN
Phản biện độc lập 1 PGS.TS Lê Thị Bích Thọ
Phản biện độc lập 2 TS Lê Văn Hưng
Tp Hồ Chí Minh năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận án này là công trình do tôi thực hiện Mọi số liệu, kết quả nghiên cứu đã công bố được tham khảo trong Luận án đều trung thực và trích dẫn nguồn đúng quy định Những kết quả nghiên cứu của Luận án chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình của tác giả nào khác
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Anh/Nga/Pháp Tiếng Việt
Regulatory Authority
Cơ quan quản lý kế toán và doanh
nghiệp
Agreement on Services
Hiệp định khung Asean về dịch vụ
Industry and Commerce
Cục Quản lý Công nghiệp và
giao – Kinh doanh
Assistance
Hội đồng tương trợ kinh tế
Commerce
Phòng Thương mại Quốc tế
of Singapore
Cơ quan Thuế Singapore
Trang 5GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
Commercial Arbitration
Luật mẫu về trọng tài quốc tế
Hội đồng tương trợ kinh tế
Human Rights
Tuyên ngôn thế giới về nhân
quyền
on International Trade Law
Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế
l`Unification des Droits Privé
Viện Quốc tế về nhất thể hóa pháp
luật tư
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 3
5 Những điểm mới của luận án 4
PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về quyền con người và thuộc tính phổ quát của quyền con người 5
1.2 Các công trình nghiên cứu về xu hướng tất yếu phổ quát hóa quyền con người 8 1.3 Các công trình nghiên cứu về quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng 10
1.4 Các công trình nghiên cứu đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền con người 14
1.5 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 16
2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 18
2.1 Cơ sở lý thuyết 18
2.1.1 Lý thuyết nghiên cứu 18
2.1.2 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và kết quả nghiên cứu 19
2.1.3 Hướng tiếp cận của đề tài 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Phương pháp phân tích 22
2.2.2 Phương pháp tổng hợp 22
2.2.3 Phương pháp so sánh luật học 22
2.2.4 Phương pháp lịch sử 23
3 Kết cấu của luận án 23
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ PHỔ QUÁT HÓA QUYỀN CON NGƯỜI 24
1.1 Những vấn đề lý luận về quyền con người 24
Trang 71.1.1 Quan điểm về quyền con người 24
1.1.1.1 Quan điểm triết học pháp luật về quyền con người 24
1.1.1.2 Quyền con người – Quyền tự nhiên 28
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa quyền con người trong Luật Tự nhiên và Luật Thực định 31
1.1.1.4 Khái niệm, phân loại và thuộc tính quyền con người 37
1.2 Tính phổ quát của quyền con người 41
1.3 Lý luận về quyền tự do kinh doanh 44
1.3.1 Cơ sở của quyền tự do kinh doanh 44
1.3.1.1 Quyền tự do cá nhân 44
1.3.1.2 Tự do ý chí 46
1.3.1.3 Tự do hợp đồng 49
1.3.2 Quyền tự do kinh doanh – Quyền kinh tế của con người 52
1.4 Phổ quát hóa quyền con người tại Việt Nam – Xu hướng tất yếu trong tiến trình toàn cầu hóa 57
1.4.1 Khái quát về phổ quát hóa quyền con người 57
1.4.2 Quyền con người và tiến trình toàn cầu hóa về kinh tế, chính trị và văn hóa 58
1.4.3 Sự cần thiết và thách thức đối với phổ quát hóa quyền con người trong tiến trình toàn cầu hóa 64
1.4.4 Vai trò của tự do kinh doanh trong tiến trình toàn cầu hóa 67
1.4.4.1 Tự do kinh doanh góp phần tăng trưởng kinh tế 68
1.4.4.2 Tự do kinh doanh góp phần cân bằng thu nhập 69
1.4.4.3 Tự do kinh doanh góp phần phát triển xã hội 70
1.5 Kết luận chương 1 72
CHƯƠNG 2 PHỔ QUÁT HÓA QUYỀN TỰ DO GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG 74
2.1 Quyền tự do đầu tư kinh doanh; thành lập, quản lý và góp vốn vào doanh nghiệp 74
2.1.1 Quyền tự do đầu tư kinh doanh; thành lập, quản lý và góp vốn vào doanh nghiệp dưới góc nhìn so sánh 74
Trang 82.1.1.1 Quyền tự do đầu tư kinh doanh; thành lập, quản lý và góp vốn ở Việt
Nam từ “Đổi mới” đến nay 74
2.1.1.2 Quyền tự do đầu tư kinh doanh; thành lập, quản lý và góp vốn vào doanh nghiệp theo pháp luật các nước trên thế giới và luật quốc tế 75
2.1.2 Một số đánh giá và khuyến nghị nhằm phổ quát hóa quyền tự do đầu tư kinh doanh; thành lập, quản lý, góp vốn trong pháp luật kinh tế Việt Nam 77
2.1.2.1 Một số đánh giá 77
2.1.2.2 Một số kiến nghị nhằm phổ quát hóa quyền tự do đầu tư kinh doanh; thành lập, quản lý và góp vốn ở Việt Nam 79
2.2 Phổ quát hóa quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh 79
2.2.1 Quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh dưới góc nhìn so sánh 79 2.2.1.1 Quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh ở Việt Nam từ “Đổi mới” cho đến nay 79
2.2.1.2 Quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh theo pháp luật quốc tế và các quốc gia trên thế giới 81
2.2.2 Một số đánh giá và khuyến nghị nhằm phổ quát hóa quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh tại Việt Nam 87
2.2.2.1 Một số đánh giá 87
2.2.2.2 Một số khuyến nghị nhằm phổ quát hóa quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh tại Việt Nam 87
2.3 Phổ quát hóa quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh 88
2.3.1 Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh dưới góc nhìn so sánh 88
2.3.1.1 Tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh pháp luật không cấm 88
2.3.1.2 Điều kiện để được đầu tư kinh doanh 92
2.3.2 Một số đánh giá và khuyến nghị nhằm phổ quát hóa quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh 96
2.3.2.1 Căn cứ đặt ra quy định điều kiện kinh doanh 96
2.3.2.2 Ngành nghề kinh doanh không có trong danh mục ngành nghề kinh tế Việt Nam 97
2.3.2.3 Sự rõ ràng của điều kiện kinh doanh 99
Trang 92.3.2.4 Thẩm quyền quy định và giải quyết hồ sơ đăng ký ngành nghề đầu tư
kinh doanh có điều kiện 99
2.4 Phổ quát hóa quyền tự do thực hiện thủ tục gia nhập thị trường 100
2.4.1 Quyền tự do thực hiện thủ tục gia nhập thị trường dưới góc nhìn so sánh 100
2.4.1.1 Thủ tục chuẩn bị đăng ký gia nhập thị trường 102
2.4.1.2 Thủ tục đăng ký gia nhập thị trường 106
2.4.2 Một số nhận định và khuyến nghị nhằm phổ quát hóa quyền tự do thực hiện thủ tục gia nhập thị trường 109
2.4.2.1 Mối quan hệ giữa chứng nhận đầu tư và thành lập doanh nghiệp 110
2.4.2.2 Thời gian và lệ phí đăng ký doanh nghiệp 111
2.4.2.3 Rút ngắn thời gian hoàn tất thủ tục đầu tư 112
2.4.2.4 Hài hòa quyền lợi của nhà đầu tư và lợi ích của cộng đồng 112
2.4.2.5 Cải cách hành chính 113
2.5 Kết luận chương 2 114
CHƯƠNG 3 PHỔ QUÁT HÓA QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG 115
3.1 Phổ quát hóa quyền tự do giao kết hợp đồng 115
3.1.1 Quyền tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng dưới góc nhìn so sánh 115
3.1.2 Quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng dưới góc nhìn so sánh 120
3.1.3 Một số nhận định và khuyến nghị nhằm phổ quát hoá quyền tự do giao kết hợp đồng 124
3.2 Phổ quát hóa quyền tự do thay đổi nội dung hợp đồng 132
3.2.1 Quyền tự do thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng dưới góc nhìn so sánh 132
3.2.2 Một số nhận định và khuyến nghị nhằm phổ quát hoá quyền tự do thay đổi nội dung hợp đồng 139
3.3 Phổ quát hóa quyền tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng 143
3.3.1 Quyền tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng dưới góc nhìn so sánh 143 3.3.1.1 Nguyên tắc tự do lựa chọn luật áp dụng 143
3.3.1.2 Giới hạn tự do lựa chọn luật 149
Trang 103.3.2 Một số nhận định và khuyến nghị nhằm phổ quát hóa quyền tự do lựa chọn
luật cho hợp đồng 153
3.4 Kết luận chương 3 158
CHƯƠNG 4 PHỔ QUÁT HÓA QUYỀN TỰ DO GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH 160
4.1 Quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh dưới góc nhìn so sánh 160
4.1.1 Quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp; tự do lựa chọn khởi kiện hay không khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài 160
4.1.2 Quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài thương mại 162
4.1.3 Quyền tự do lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua tòa án 171
4.2 Một số nhận định và khuyến nghị nhằm phổ quát hóa quyền tự do kinh doanh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh 178
4.3 Kết luận chương 4 187
KẾT LUẬN 189
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là giá trị chung của nhân loại, tác động rất lớn tới quá trình phát triển của văn minh nhân loại, trở thành vấn đề cơ bản trong pháp luật quốc tế nói chung và quốc gia nói riêng Các tổ chức quốc tế và quốc gia trên thế giới, trong
đó có Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý về quyền con người nhằm thực hiện và bảo vệ quyền con người
Quyền kinh tế của con người là một trong những nhóm quyền cơ bản của con người Quyền kinh tế được ghi nhận trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về nhân quyền năm 1948; Công ước của Liên hợp quốc về quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 và nhiều điều ước quốc tế khác về quyền con người Đối với Việt Nam, Nhà nước luôn coi con người là động lực, là mục tiêu và là trung tâm của sự phát triển xã hội Do đó, quyền kinh tế - quyền cơ bản của con người được nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp, văn bản luật và dưới luật Đặc biệt, pháp luật kinh tế Việt Nam ghi nhận rất rõ về quyền kinh tế của con người
Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã dành một chương ghi nhận quyền con người Cụ thể, Chương II của Hiến pháp ghi nhận về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Theo đó, các văn bản luật chuyên ngành, trong đó
có pháp luật kinh tế đã điều chỉnh phù hợp với Hiến pháp Các văn bản pháp luật trong lĩnh vực pháp luật kinh tế như: Luật Doanh nghiệp, pháp luật hợp đồng, Luật Đầu tư,… đã ghi nhận và cụ thể hóa quyền kinh tế của con người
Quyền con người nói chung hay quyền kinh tế của con người nói riêng luôn
có tính phổ quát và tính đặc thù Tính phổ quát thể hiện ở chỗ quyền con người là giá trị quan trọng mà xã hội loài người đều ghi nhận và tôn trọng Tuy vậy, các quốc gia khác nhau, có sự khác nhau về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, tộc, truyền thống và các điểm đặc thù khác sẽ tạo cho quốc gia những điểm đặc thù về quyền con người Hiện nay, trên thế giới có xu hướng hợp tác và toàn cầu hóa trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Hội nhập, hợp tác về kinh tế đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển ở mỗi quốc gia Việt Nam hiện nay có quan điểm như sau về sự phát triển: “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”1 Để hội nhập kinh tế, pháp luật kinh tế Việt Nam phải có những thay đổi để tương thích với pháp luật quốc tế và luật của các quốc gia đối tác Trong xu hướng hội nhập phát triển, quyền con người trong
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Tr 14
Trang 12pháp luật kinh tế tính đặc thù được thể hiện ít và thay vào đó tính phổ quát được thể hiện rõ ràng Vì vậy, xu hướng phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh
tế là xu hướng tất yếu và vấn đề cấp bách trong quá trình hội nhập phát triển
Trước những yêu cầu cấp bách đã nêu trên, có rất nhiều câu hỏi nghiên cứu được đặt ra và nhiệm vụ nghiên cứu là trả lời thỏa đáng về mặt khoa học và thực
tiễn những câu hỏi này Thứ nhất, tại sao pháp luật kinh tế Việt Nam phải phổ quát quyền con người nói chung và quyền tự do kinh doanh nói riêng? Thứ hai, phổ quát
hóa quyền tự do kinh doanh – quyền kinh tế của con người trong pháp luật kinh tế
của các nước trên thế giới và Việt Nam thể hiện như thế nào? Thứ ba, thực trạng
quyền kinh tế của con người trong pháp luật Việt Nam và giải pháp nào nhằm hoàn thiện pháp luật kinh tế Việt Nam để đảm bảo quyền con người trong thời gian tới – Thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng?
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Phổ quát hóa quyền con người trong
pháp luật kinh tế Việt Nam” làm đề tài của luận án tiến sĩ luật học là cần thiết và
hữu ích
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ quan điểm phát triển của Việt Nam: “Xây dựng nền kinh tế độc
đích đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật kinh tế Việt Nam để đảm bảo và phổ quát quyền tự do kinh doanh – quyền kinh tế của con người Đây là cơ sở để Việt Nam hội nhập kinh tế, quốc tế một cách sâu rộng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, khái quát những vấn đề lý luận về quyền con người Từ đó chứng
minh phổ quát quyền con người trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật kinh tế Việt Nam nói riêng là nhu cầu và xu hướng tất yếu trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ hai, nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện thực trạng các quy định
của pháp luật kinh tế về quyền con người Thông qua đó nêu lên những tồn tại, hạn chế, bất cập của pháp luật kinh tế Việt Nam so với pháp luật của các nước trên thế giới và thông lệ quốc tế trong việc bảo vệ quyền kinh tế của con người
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, tr 14
Trang 13Thứ ba, từ kết quả đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp
luật kinh tế Việt Nam nhằm đảm bảo quyền con người và quyền con người trở nên phổ quát trong pháp luật kinh tế Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định của pháp luật về quyền con người và quy định của pháp luật kinh tế thể hiện phổ quát quyền kinh tế của con người
(2) Quyền tự do hợp đồng: (i) Quyền tự do giao kết hợp đồng; (ii) Quyền tự
do thay đổi nội dung hợp đồng; (iii) Quyền tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng
(3) Quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh: (i) Tự lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp; (ii) Tự do giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài thương mại; (iii) Tự do giải quyết tranh chấp thông qua tòa án
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về phương diện lý luận: Thông qua việc làm rõ vấn đề phổ quát hóa quyền
con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam, luận án góp phần vào việc củng cố lý luận về quyền con người nói chung và các quyền tự do kinh doanh nói riêng Luận
án góp phần hệ thống tiền đề lý luận cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này
Về phương diện thực tiễn: Luận án đưa ra một bức tranh tổng quát về thực
trạng pháp luật kinh tế Việt Nam hiện nay đã ghi nhận, bảo vệ quyền kinh tế của
Trang 14con người từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật kinh tế Việt Nam Cụ thể: Pháp luật của Việt Nam nói chung, pháp luật kinh tế nói riêng còn có nhiều sự khác biệt với pháp luật của các nước và thông lệ quốc tế và chính điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta Thông qua quá trình nghiên cứu, luận án chỉ ra được xu hướng phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam để thấy sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước trên thế giới và với thông lệ quốc tế Từ sự tương thích của pháp luật, các doanh nghiệp Việt Nam hội nhập phát triển kinh tế một cách sâu rộng Ngoài ra, luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan xây dựng pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước, những người nghiên cứu khoa học, những người tham gia công tác giảng dạy, sinh viên học tập về quyền con người và pháp luật kinh tế
5 Những điểm mới của luận án
Thứ nhất, luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách hệ
thống dưới góc độ lý luận và thực tiễn về phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam Cụ thể, nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quyền tự do kinh doanh
Thứ hai, dưới góc độ lý luận, luận án góp phần làm rõ lý luận về quyền con
người và thuộc tính phổ quát của quyền con người Từ đó, luận án làm rõ vấn đề lý luận về quyền tự do kinh doanh
Thứ ba, luận án phân tích thực trạng pháp luật kinh tế Việt Nam trong việc
bảo vệ quyền con người Bên cạnh đó, kết hợp so sánh với kinh nghiệm pháp luật của các nước trên thế giới và thông lệ quốc tế, luận án chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của pháp luật kinh tế Việt Nam và đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật kinh tế Việt Nam nhằm phổ quát hóa quyền tự do kinh doanh: Tự do gia nhập thị trường, tự do hợp đồng và tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh
Trang 15PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về quyền con người và thuộc tính phổ quát của quyền con người
1.1.1 “The Universality of the Concept of Human Rights” (Tạm dịch sang tiếng
Việt là Sự phổ biến của tư tưởng về quyền con người) của tác giả Louis Henkin
đăng trên Annals of the American Academy of Political and Social Science 506:
10-16, năm 1989
Bài viết nghiên cứu về tính phổ quát quyền con người, theo đó nghiên cứu làm rõ khái niệm “quyền con người” và “tính phổ quát” Các quyền con người trong Tuyên ngôn là sự phổ quát mang tính chính trị và pháp lý, được thừa nhận ở hầu hết các nước và được chuyển hóa vào luật của họ Những quyền này phản ánh giá trị đạo đức, hiện đại và phổ biến
Rõ ràng, trong bài viết này tác giả đã khẳng định quyền con người có tính phổ biến bởi vì nó chứa đựng và phản ánh đạo đức Với nhận định này, luận án sẽ
kế thừa để chứng minh rằng quyền con người trong pháp luật kinh tế cũng mang tính phổ biến Vì vậy, phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam là xu hướng tất yếu
1.1.2 “Universality of human rights and cultural diversity” (Tạm dịch sang
tiếng Việt là Phổ quát quyền con người và sự đa dạng về văn hóa): Báo cáo tư vấn
của Hội đồng tư vấn về các vấn đề quốc tế số 4 ngày 28/6/1998
Tại bản báo cáo, Hội đồng trả lời, bình luận cho những nội dung: Tính phổ quát của quyền con người và sự giới hạn của nó; công cụ của các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực nhân quyền nhằm khuyến khích thực hiện quyền con người trong các nền văn hóa khác nhau; đánh giá sự phát triển của quyền con người dưới góc độ gia tăng sự liên kết văn hóa hay sẽ khuyến khích sự hạn chế các quyền đang tồn tại Hội đồng đề cập tới tính phổ quát của các quyền con người chung mà không đi vào phân tích và tư vấn về quyền con người trong lĩnh vực kinh tế Tuy vậy, với kết quả nghiên cứu và tư vấn của Hội đồng về mối quan hệ, sự tương tác giữa tính phổ quát của quyền con người và sự đa dạng về văn hóa, luận án sẽ tiếp nhận quan điểm này để góp phần nghiên cứu tính phổ quát quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam
1.1.3 “The relative universality of Human rights” (Tạm dịch sang tiếng Việt là
Tính phổ quát tương đối của quyền con người) của tác giả Jack Donnelly trong cuốn
Trang 16sách Human rights quarterly, Volume 29(2): 281 - 306, NXB The Johns Hopkins University Press, năm 2007
Trong bài viết, tác giả đề cập bản chất phổ quát của quyền con người và tự
do là không thể phủ nhận Theo đó, quyền con người có tính tương đối Tác giả ủng
hộ và bảo vệ sự phổ quát các quyền có tính khả thi, phù hợp với quốc tế và có tính đồng thuận cao của cộng đồng quốc tế Bên cạnh đó, phổ quát quyền con người để lại một không gian đáng kể cho tính khu vực, tính đặc thù về văn hóa, tính dân tộc của quyền con người Bài viết chỉ dừng lại phân tích và chứng minh quyền con người có tính phổ quát tương đối Tức là, bên cạnh tính phổ quát, quyền con người còn có tính đặc thù Bài viết chưa đề cập cụ thể đến các quyền kinh tế trong lĩnh vực pháp luật kinh tế nhưng với kết quả nghiên cứu của tác giả là nguồn tư liệu quý báu cho luận án Từ nội dung của bài viết, luận án kế thừa quan điểm quyền con người trong lĩnh vực kinh tế cũng mang tính phổ quát tương đối Vì vậy, khi chuyển hóa quyền con người vào pháp luật kinh tế Việt Nam cũng cần tôn trọng những giá trị
về dân tộc, văn hóa, truyền thống
1.1.4 “Tìm hiểu tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người” của tác giả
Vũ Hoàng Công, luận án tiến sĩ triết học, Viện Triết – Viện Khoa học xã hội Việt Nam, năm 1994
Đề tài đã đề cập tới ba vấn đề sau: (i) Cơ sở, biểu hiện của tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người; (ii) Sự khác nhau của tính phổ biến và tính đặc thù trong quyền con người; (iii) Cơ sở và biểu hiện, tiêu chuẩn và điều kiện của sự thống nhất giữa tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người Đề tài nghiên cứu trên chỉ mới đề cập tới hai thuộc tính của quyền con người là tính phổ biến và tính đặc thù dưới góc độ triết học Tác giả đã tham khảo một số văn bản pháp luật của Việt Nam và các nước trên thế giới để chứng minh quyền con người có tính phổ biến và tính đặc thù nhưng chưa có sự đánh giá và phân tích sâu dưới góc độ pháp
lý Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu của tác giả sẽ là những vấn đề lý luận mà luận
án sẽ kế thừa để phục vụ cho nội dung nghiên cứu “những vấn đề lý luận về quyền con người”
1.1.5 “Tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người” của tác giả Phạm
Văn Khánh, luận án tiến sĩ triết học, Viện Khoa học xã Hội Việt Nam, năm 1995
Từ góc độ triết học, tác giả làm rõ tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong đó chú ý đến tính đặc thù của quyền con người Việt Nam và cách mạng Việt Nam Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn nửa cuối những năm 1990 Mặc dù đề tài có đóng góp đáng kể về mặt khoa học, tuy nhiên, đề tài mới chỉ tiếp cận hai thuộc tính cơ bản
Trang 17của quyền con người dưới góc độ triết học và chưa có sự phân tích và nghiên cứu sâu dưới góc độ pháp lý Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ nghiên cứu thuộc tính quyền con người trong giai đoạn trước năm 2000 – Thời điểm Việt Nam chưa hội nhập sâu, rộng như hiện nay nên một số những đánh giá thực trạng và kiến nghị chỉ có giá trị tham khảo Đặc biệt, tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong pháp luật về kinh tế tác giả chưa đề cập tới
1.1.6 “Những bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tự do cá nhân” của tác giả Trần Thanh Hương, luận án tiến sĩ Luật
học, Viện Nhà nước & Pháp luật, Năm 2006
Tác giả đã thu được kết quả nghiên cứu sau: (i) Làm rõ luận điểm tự do cá nhân xác lập trình độ phát triển của con người trong xã hội và quyền tự do cá nhân của công dân là một trong lĩnh vực quyền thể hiện giá trị cao nhất; (ii) Đề xuất giải pháp cụ thể trong hệ thống tăng cường hiệu quả đảm bảo quyền tự do cá nhân của công dân phù hợp với công cuộc đổi mới kinh tế - chính trị của đất nước và hội nhập quốc tế
Công trình nghiên cứu này là công trình nghiên cứu chuyên sâu, kết quả nghiên cứu là sự bổ sung quan trọng cho lý luận về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, về quyền con người, quyền công dân của Việt Nam Công trình nghiên cứu này là tài liệu hữu ích mà luận án sẽ tham khảo và kế thừa khi nghiên cứu về quyền con người trong lĩnh vực kinh tế Tuy vậy, công trình nghiên cứu này mới dừng lại nghiên cứu về quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực tự do cá nhân mà chưa liên hệ tới quyền con người và xu hướng phổ quát của quyền con người Vì vậy, vấn đề về quyền con người, tính phổ quát của quyền con người trong pháp luật kinh tế là vấn đề còn ngỏ để tác giả nghiên cứu trong luận án của mình
1.1.7 “Quyền con người: Giá trị xã hội, tính phổ biến và tính đặc thù” của tác
giả Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5/2009, Tr 60-65
Trong bài viết, tác giả đã đi vào tìm hiểu giá trị xã hội, tính phổ biến, tính đặc thù và mối quan hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người Tác
giả đã chứng minh, giá trị xã hội của quyền con người ở những nội dung sau: Thứ
nhất, quyền con người là một trong những giá trị xã hội tổng hợp Thứ hai, quyền
con người có tính phổ biến Thứ ba, quyền con người có tính đặc thù Từ những
điểm phân tích trên, tác giả khẳng định tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người có mối quan hệ biện chứng Thông qua bài viết này tác giả đã chứng minh quyền con người luôn có tính phổ biến và tính đặc thù, hai thuộc tính này có mối quan hệ chặt chẽ Từ kết quả nghiên cứu của tác giả bài viết, luận án sẽ kế thừa những nội dung trên Tuy vậy, bài viết chưa nêu được tính phổ biến của quyền con
Trang 18người, đặc biệt là quyền kinh tế của con người được thể hiện trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế; chưa nêu được xu hướng phổ quát hóa quyền con người trong lĩnh vực pháp lý
1.1.8 “Thuyết tương đối về văn hóa và quyền con người” của tác giả Hoàng Văn
Nghĩa, Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam số 2(75) – 2014
Bài viết đã đi sâu vào phân tích các quan điểm khác nhau trên thế giới về quyền con người như các thuyết tương đối về văn hóa, thuyết phổ quát và thuyết biện chứng Trong đó, trên thế giới quan điểm theo thuyết tương đối về văn hóa đã chỉ ra rằng những nét đặc thù về văn hóa sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tính phổ biến của quyền con người Tuy vậy, bài viết chỉ dừng lại phân tích về tác động của học thuyết tương đối văn hóa tới tính phổ quát của quyền con người mà chưa có sự tiếp cận phổ quát hóa quyền con người trong lĩnh vực pháp luật kinh tế Vì vậy, luận án
kế thừa kết quả nghiên cứu của tác giả về tính phổ quát của quyền con người để phục vụ cho quá trình nghiên cứu
1.2 Các công trình nghiên cứu về xu hướng tất yếu phổ quát hóa quyền con người
1.2.1 “Which rights should be universal?” (Tạm dịch sang tiếng Việt là Quyền
nào nên phổ quát hóa?) của tác giả William J Talbott, NXB Oxford University
Press, năm 2005
Tác giả đã đi vào phân tích quyền con người và phổ quát hóa quyền con người Theo tác giả, triết lý về quyền con người là một vấn đề đang có sự thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Thực tiễn pháp lý đã chứng minh, quyền con người có sự đồng thuận rộng rãi trên thế giới, được thể hiện trong các tuyên bố
và các điều ước quốc tế Sự đồng thuận về quyền con người từ các nước sẽ tiến tới hình thành nhà nước pháp quyền và quyền con người sẽ được hiến định Nội dung chính của cuốn sách là cần phổ quát hóa nhóm quyền về chính trị Nhóm quyền về chính trị không gắn với nội dung nghiên cứu của luận án nhưng những kết quả nghiên cứu của tác giả về xu hướng phổ quát quyền con người trên thế giới là nguồn
tư liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu luận án Cụ thể là xu hướng phổ quát hóa các quyền con người trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 “Human Rights and International Trade” (Tạm dịch sang tiếng Việt là
Quyền con người và thương mại quốc tế) của nhóm tác giả Thomas Cottier, Joost
Pauwelyn, Joost Pauwelyn, Elisabeth Burgi, Oxford University Press, năm 2005
Cuốn sách đề cập tới hai vấn đề rất thời sự: Toàn cầu hóa kinh tế và tôn trọng quyền con người Về lý thuyết, nếu thương mại phát triển sẽ tăng phúc lợi kinh tế và bảo vệ nhân quyền, đảm bảo phẩm giá cá nhân tốt hơn Tuy nhiên, sự tương tác
Trang 19giữa tự do hoá thương mại và bảo vệ quyền con người rất phức tạp, và căng thẳng
đã nảy sinh giữa hai lĩnh vực này Với phương pháp khám phá các ma trận pháp lý khác nhau của hai trường thương mại – nhân quyền và xem xét làm cách nào để kết hợp chúng, nhóm tác giả đưa ra giải pháp cho các cơ quan xây dựng pháp luật quốc
tế và cho cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế
Cuốn sách không đề cập tới pháp luật kinh tế Việt Nam nhưng đã đề cập một cách khá toàn diện sự tương tác giữa toàn cầu hóa và quyền con người Những kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả sẽ hỗ trợ rất lớn cho luận án Cụ thể, những phân tích về trách nhiệm của chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh với việc đảm bảo quyền con người rất có giá trị đối với luận án Bên cạnh đó, cuốn sách đã chỉ ra pháp luật cần có những quy định để đảm bảo hài hòa lợi ích của chủ thể kinh doanh
và mục tiêu đảm bảo quyền con người Do đó, khi phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam cũng phải xem xét tới sự hài hòa về lợi ích
1.2.3 “Globalization, economic freedom, and human rights” (Tạm dịch sang
tiếng Việt là Toàn cầu hóa, tự do kinh tế và quyền con người) của nhóm tác giả
Arxel Dreher, Martin Grassebner, Lars-H.R Seimers trên tạp chí Journal of Conflict Resolution 56(3), năm 2012
Nhóm tác giả sử dụng chỉ số KOF Index về toàn cầu hóa và hai chỉ số tự do kinh tế thực nghiệm để phân tích toàn cầu hóa và tự do hóa ảnh hưởng đến thực thi quyền con người Nhóm tác giả đã phân tích số liệu của 106 quốc gia trong giai đoạn 1981-2004 Dưới góc độ phân tích định lượng, nhóm tác giả đã chỉ ra sự tác động thực sự của toàn cầu hóa và tự do kinh tế tới quyền con người, cụ thể là quyền toàn vẹn thân thể Bài viết tiếp cận dưới góc độ kinh tế thông qua các biến khác nhau để phân tích tác động nên kết quả nghiên cứu này là nguồn tư liệu quý để luận
án triển khai phân tích tính phổ biến của quyền con người trong xu thế toàn cầu hóa
và tự do kinh tế hiện nay
1.2.4 “Quyền con người và kinh tế thị trường” của tác giả Trần Đình Hảo trong
cuốn sách “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội” của Viện khoa học xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, năm 2009, Tr.73-85
Bài viết đã tiếp cận một số quyền con người không thể thiếu vắng trong nền kinh thế thị trường, đồng thời nêu lên điều kiện, môi trường, cơ chế đảm bảo thực thi và bảo vệ các quyền này Tác giả còn đưa ra sáu giải pháp để đảm bảo và thực thi quyền kinh tế của con người, trong đó có các quyền tự do kinh doanh, quyền gia nhập thương trường, rút khỏi thị trường và tự do cạnh tranh lành mạnh Tác giả có
sự phân tích sâu về quy định nhằm đảm bảo quyền con người trong nền kinh tế thị trường Việt Nam hiên nay Đây là kết quả nghiên cứu quan trọng mà tác giả luận án
Trang 20sẽ kế thừa trong quá trình hoàn thiện luận án Tuy vậy, bài viết chưa đề cập tới xu
hướng phổ quát hóa của quyền con người trong lĩnh vực kinh tế tại Việt Nam
1.2.5 “Hội nhập quốc tế với việc đảm bảo các quyền con người” của tác giả
Trần Thị Hòe, Tạp chí Lý luận chính trị số 6 – 2014
Trong bài viết, tác giả nhận định rằng hội nhập quốc tế góp phần phát triển tư duy pháp lý về quyền con người Tác giả chứng minh, qua các bản Hiến pháp của Việt Nam đã thể hiện tư duy pháp lý thay đổi theo chiều hướng tích cực Đến Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến có ghi nhận cụm từ “quyền con người” và đến Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận và đề cao trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền con người Tác giả thừa nhận những giá trị chung của nhân loại
về quyền con người là minh chứng cho việc Việt Nam chủ động, tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế Bài viết chưa phân tích sâu về tính phổ quát của quyền con người cũng như phổ quát hóa quyền con người trong lĩnh vực pháp luật kinh tế Tuy vậy, kết quả nghiên cứu của tác giả hỗ trợ tác giả luận án trong quá trình nghiên cứu để thấy được phổ quát hóa quyền con người là xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhập quốc tế
1.3 Các công trình nghiên cứu về quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng 1.3.1 “Economic Freedom and Growth: Decomposing the Effects” (Tạm dịch
là: Tự do kinh tế và tăng trưởng: Phân tích các ảnh hưởng) của tác giả Fredrik
Carlsson and Susanna Lundström công bố trên Public Choice, Vol 112, No 3/4 năm 2002
Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng, hầu hết các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự
do kinh tế và tăng trưởng GDP đã tìm ra một mối quan hệ tích cực Trong công trình nghiên cứu này này, tác giả khảo sát những loại biện pháp tự do kinh tế cụ thể nào là quan trọng cho sự phát triển Trong công trình này, nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế để rút ra những yếu tố của tự do kinh doanh tới sự phát triển kinh tế Tuy đây là nghiên cứu không phải trong lĩnh vực pháp lý nhưng với kết quả này, tác giả luận án kế thừa để khẳng định tự do kinh
tế là cần thiết và tác động rất lớn đến quyền con người Cũng từ đó, luận án có thể
đề xuất những chính sách phù hợp để phổ quát hóa quyền con người nói chung, quyền tự do kinh doanh nói riêng và để phát triển kinh tế Việt Nam
1.3.2 “Freedom of contract and Foundamental fairness for individual parties:
The tug of war continues” (Tam dịch là: Tự do hợp đồng và sự công bằng cơ bản
cho các bên là cá nhân: Sự tranh chấp vẫn còn tiếp diễn) của tác giả Carolyn
Edward đăng trên 77 UMKC L Rev 647 năm 2009
Trang 21Tác giả bàn về sự tranh cãi của các học giả nhằm nỗ lực đảm bảo sự công bằng cơ bản cho các cá nhân ký kết hợp đồng xuất hiện vào cuối những năm
1800 Theo đó, có khoảng cách giữa quan điểm của lý thuyết hợp đồng cổ điển về việc hình thành hợp đồng và thực tế của thị trường, nơi mà các bên “mạnh” lợi dụng những người dễ bị tổn thương hơn Trong bài viết đã đề cập đến quyền tự do hợp đồng và mối quan hệ giữa tự do hợp đồng và cân bằng quyền của các bên Tuy vậy, bài viết chưa đề cập tới tính phổ quát của tự do hợp đồng và không đề cập tới quyền tự do hợp đồng trong pháp luật Việt Nam Kết quả nghiên cứu của công trình này có giá trị quan trọng hỗ trợ cho tác giả luận án trong quá trình thực hiện luận án, cụ thể: Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu về học thuyết, quan điểm
về tự do hợp đồng; sự công bằng cho các bên giao kết hợp đồng và mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội với tự do hợp đồng
1.3.3 “Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh” của tác giả Bùi Ngọc Cường, Tạp chí khoa học pháp lý số 7/2002
Tác giả bài viết tập trung vào giải quyết hai vấn đề: Pháp luật kinh tế thể chế hóa những đòi hỏi của quyền tự do kinh doanh và pháp luật kinh tế tạo ra những đảm bảo cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh Để chứng minh cho vấn đề thứ nhất, tác giả khẳng định pháp luật có vai trò đặc biệt với tự do kinh doanh vì nó biến nhu cầu kinh doanh thành một quyền pháp định hoặc hiến định Để chứng minh cho nội dung thứ hai, tác giả khẳng định pháp luật kinh tế có vai trò tạo ra các đảm bảo cho việc tự do kinh doanh thông qua: Pháp luật kinh tế bảo vệ các hoạt động thúc đẩy tự do kinh doanh và đồng thời hạn chế các hoạt động cản trở, hạn chế tự do kinh doanh; Pháp luật kinh tế tạo ra cơ chế xử lý nhanh chóng các tranh chấp phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh Bài viết đã tiếp cận được vai trò của pháp luật kinh tế với quyền tự do kinh doanh Tuy vậy, bài viết chưa thể hiện rõ những nội dung của quyền tự do kinh doanh là quyền con người Đồng thời, bài viết cũng chưa thể hiện được quyền tự do kinh doanh – quyền con người ngày càng được phổ quát trong pháp luật kinh tế của các nước trên thế giới cũng như Việt Nam
1.3.4 “Quyền sở hữu cá nhân – Cội nguồn của tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường” của tác giả Nguyễn Như Phát trong cuốn sách “Quyền con
người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội” của Viện khoa học xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, năm 2009, Tr.85-107
Bài viết ghi nhận quyền sở hữu cá nhân là tiền đề, là cội nguồn để thực thi các quyền tự do, dân chủ của con người trong kinh tế và để hình thành nên tư liệu
Trang 22sản xuất của con người – yếu tố chủ yếu trong thể chế thị trường Theo tác giả để
đảm bảo quyền con người, nhà nước cần đối xử bình đẳng và công bằng đối với sở
hữu cá nhân Vì vậy, trong quản lý nhà nước để đảm bảo quyền sở hữu cá nhân –
cội nguồn của tự do kinh doanh – quyền con người cần tiếp thu những giá trị tiến
bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế và tập quán quốc tế
Luận án kế thừa những kết quả nghiên cứu của tác giả về quyền sở hữu cá
nhân – cội nguồn của quyền tự do kinh doanh – quyền con người và quyền này là
quyền thể hiện rõ tính phổ quát Tuy vậy, bài viết chỉ mới khai thác được một khía
cạnh rất hẹp của quyền con người đó là quyền sở hữu cá nhân Do đó, kế thừa kết
quả nghiên cứu của tác giả, luận án sẽ mở rộng nghiên cứu các quyền con người
trong lĩnh vực pháp luật kinh tế và chứng minh các quyền này mang tính phổ quát
1.3.5 “ Quyền tự do kinh doanh của công dân và nhà nước thuế” của tác giả
Nguyễn Đức Minh trong cuốn sách “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên
ngành Luật học” của Viện khoa học xã hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, năm
2010, Tr.133-149
Bài viết đã tiếp cận quyền tự do kinh doanh được xếp vào nhóm quyền kinh
tế của quyền con người Quyền tự do kinh doanh chứa đựng và phản ánh sự tự do
của công dân trong lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh, cạnh tranh trong môi
trường kinh doanh lành mạnh,… và quyền sở hữu với sự đảm bảo đối với tài sản
Tác giả khẳng định quyền tự do kinh doanh theo đúng nghĩa chỉ có thể tồn tại trong
nền kinh tế thị trường, tồn tại trong cả mô hình nhà nước kinh tế thị trường và nhà
nước thuế Bài viết chưa đi vào nghiên cứu tính phổ quát của quyền tự do kinh
doanh trong lĩnh vực pháp luật kinh tế và chưa thể hiện được sự tương thích của
pháp luật kinh tế Việt Nam với các nước trên thế giới Tuy nhiên, với cách tiếp cận
này, tác giả đã nêu lên sự tác động của nhà nước đối với quyền tự do kinh doanh –
quyền con người Vì vậy, kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Đức là
nguồn tham khảo quan trọng cho luận án khi phân tích vai trò của nhà nước trong
việc đảm bảo quyền con người và phổ quát hóa quyền con người tại Việt Nam
1.3.6 “Tự do kinh doanh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, của tác giả Bùi
Xuân Hải, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/2011, Tr 68-75
Tác giả cho rằng quyền tự do kinh doanh là một trong các quyền cơ bản của
con người, được ghi nhận và bảo đảm bởi pháp luật Bài viết đề cập phạm trù tự do
kinh doanh rất rộng có nhiều định nghĩa khác nhau, phải kể đến: Tự do kinh doanh
là chủ thể kinh doanh có thể làm những gì mà họ muốn và tự quyết định mọi vấn đề
liên quan đến hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi như lựa chọn mô hình
doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề, lựa chọn quy mô kinh doanh, lựa chọn đối
Trang 23tác,… Tuy vậy, tự do kinh doanh không có nghĩa là chủ thể kinh doanh có thể làm bất kì điều gì mà họ muốn mà phải tôn trọng quyền tự do kinh doanh của người khác và không xâm hại tới lợi ích công cộng cũng như lợi ích của các chủ thể khác
Bài viết đã có những phân tích sâu về quyền tự do kinh doanh – quyền cơ bản của con người Tuy bài viết không đề cập tới tính phổ quát của quyền con người nhưng với kết quả nghiên cứu này của tác giả sẽ là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả luận án phân tích các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư trong quá trình hoàn thiện luận án Kế thừa kết quả nghiên cứu của tác giả, luận án sẽ chứng minh quyền tự do kinh doanh đã được phổ quát trong pháp luật Việt Nam, cụ thể là
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
1.3.7 “Quyền tự do giao kết hợp đồng ở Việt Nam” của tác giả Phan Thông Anh,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 23 (208) năm 2011
Trong bài báo, tác giả đã đề cập tới quyền tự do hợp đồng là quyền của các chủ thể kinh doanh được thể hiện ở các khía cạnh sau đây: Quyền được tự do bình đẳng, quyền được tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng, quyền được tự do thỏa thuận nội dung giao kết hợp đồng, Tác giả khẳng định, thước đo sự tiến bộ và phát triển của một Nhà nước có thể được xem xét đánh giá trong nhiều góc độ khác nhau, sự công nhận, thừa nhận, khuyến khích quyền tự do kinh doanh của công dân cũng là một trong những chuẩn mực của khung thước đo chung
Công trình nghiên cứu tuy chưa đề cập tới vấn đề phổ quát hóa quyền con người nhưng đã nghiên cứu một phần quan trọng đó là quyền tự do hợp đồng, tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh Từ kết quả nghiên cứu của tác giả, tác giả luận án
sẽ kế thừa những kiến nghị của tác giả để chứng minh rằng phổ quát hóa quyền tự do hợp đồng tại Việt Nam là tất yếu và đưa ra những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật hợp đồng Việt Nam nhằm đảm bảo quyền con người
1.3.8 “Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam”
của tác giả Mai Hồng Quỳ (Chủ biên) và các tác giả, sách chuyên khảo, NXB Lao động, năm 2012
người, quyền tự do kinh doanh và các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về những vấn đề này Tác giả phân tích quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử Từ đó, tác giả tập trung vào nghiên cứu, phân tích những chế định cơ bản thể hiện sự bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân ở Việt Nam như: Quyền thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp; Những quyền của doanh nghiệp trong các lĩnh vực; Quyền tự do hợp đồng và quyền tự định đoạt trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh
Trang 24Cuốn sách khai thác quyền con người được thể hiện trong quyền tự do kinh doanh mà chưa nghiên cứu để khẳng định những quy định của quyền con người trở nên phổ biến trong pháp luật kinh tế Việt Nam nhưng với kết quả nghiên cứu của tác giả, những thông tin trên sẽ rất hữu ích đối với việc triển khai trong luận án Qua
đó, tác giả luận án có nhiều chất liệu để nghiên cứu phổ quát hóa quyền tự do kinh doanh – quyền kinh tế của con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam khi Luật Hiến pháp 2013 chính thức ghi nhận một chương về quyền con người và quyền cơ bản của công dân
1.4 Các công trình nghiên cứu đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền con người
1.4.1 “Human Rights Law and Business: Corporate Responsibility for
Fundamental Human Rights” (Tạm dịch sang tiếng Việt là Luật Nhân quyền và
kinh doanh: Trách nhiệm doanh nghiệp đối với Quyền cơ bản của con người) của
tác giả Jernej Letnar Cernic, NXB Europa Law Publishing, Groningen, Năm 2010
Trong cuốn sách này, tác giả cho rằng toàn cầu hóa làm phát sinh những vấn
đề cả tích cực lẫn tiêu cực trong môi trường quốc gia cũng như quốc tế Theo tác giả, các công ty đa quốc gia có nghĩa vụ pháp lý đối với quyền cơ bản của con người – được sự đồng thuận của các nền kinh tế, xã hội khác nhau trên thế giới Vì vậy, cần thúc đẩy nghĩa vụ tôn trọng nhân quyền của công ty thông qua ký kết điều ước quốc tế giữa các quốc gia, đồng thời thông qua cam kết đơn phương của các tập đoàn Tác giả cho mười ba khuyến nghị về cải tiến khung quy chuẩn trách nhiệm công ty cho các quyền cơ bản của con người
Giống như một số tác giả và tác phẩm ở trên, cuốn sách này chưa đề cập trực tiếp tới tính phổ quát của quyền con người và pháp luật kinh tế Việt Nam Những đánh giá về trách nhiệm của các tập đoàn đối với quyền cơ bản của con người trên bình diện quốc tế đã phần nào thể hiện tính phổ quát của quyền con người Những nội dung này sẽ hỗ trợ tốt cho nội dung nghiên cứu của luận án Thêm vào đó, mười
ba khuyến nghị của tác giả là ý kiến khoa học quan trọng mà luận án sẽ kế thừa trong việc đưa ra đánh giá, đề xuất và kiến nghị hoàn thiện pháp luật kinh tế Việt Nam
1.4.2 “On the Meanings of International Investment Law and International Human Rights Law: The Alternative Narrative of Due Diligence” (Tạm dịch
sang tiếng Việt là Trên ý nghĩa của Luật Đầu tư Quốc tế và Luật Nhân quyền Quốc
tế: Phương pháp giải trình khác của hoạt động đánh giá trách nhiệm) của tác giả
Daria Davitti trong cuốn Human rights law review 12: 421-453, NXB Oxford University Press, năm 2012
Trang 25Tác giả đặt vấn đề về bối cảnh nghiên cứu là cuộc tranh luận liên quan tới mối liên hệ giữa Luật Đầu tư quốc tế và Luật Nhân quyền quốc tế Từ việc nghiên cứu về các cuộc tranh luận trên, tác giả nêu lên Luật Đầu tư quốc tế và Luật Nhân quyền quốc tế có mối quan hệ với nhau và có sự tác động, chuyển hóa cho nhau Thông qua các ví dụ cụ thể tác giả đã phê phán sự vi phạm quyền con người của các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia Từ đó, tác giả nêu lên các chủ thể đầu tư phải
có trách nhiệm đảm bảo quyền con người Vì vậy, các nước trên thế giới cần có trách nhiệm bảo vệ khung pháp lý về kinh doanh của Liên hợp quốc cũng như bảo
vệ quyền con người Bài viết đề cập tới những vấn đề pháp lý quốc tế và không đề cập tới Luật Đầu tư của Việt Nam Tuy vậy, bài viết đã đề cập tới một mảng vấn đề liên quan tới luận án đó là mối quan hệ giữa đầu tư và quyền con người Kết quả nghiên cứu của tác giả sẽ là nguồn thông tin bổ trợ hữu ích trong quá trình luận án
đề cập tới phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật đầu tư của Việt Nam
1.4.3 “The Ruggie Rules: Applying Human Rights Law to Corporations” (Tạm
dịch sang tiếng Việt là Các nguyên tắc của Ruggie: Áp dụng Luật Nhân quyền cho
công ty) của tác giả John H Knox trong cuốn sách The Raoul Wallenberg Institute
Human Rights Library (Volume 39): 51-85, NXB Leiden - Boston, năm 2012
Tác giả đề cập tới một vấn đề đang được tranh luận rất nhiều về việc áp dụng pháp luật nhân quyền cho các công ty Câu hỏi được đặt ra là các công ty, tập đoàn
có tác động lớn như thế nào tới việc thụ hưởng quyền con người? Các công ty, tập đoàn có vi phạm quyền con người hay không? Tác giả đồng ý với quan điểm của Ruggie và khẳng định các tập đoàn cần phải tôn trọng quyền con người Những vấn
đề bài viết đề cập không trực tiếp tới quyền con người và các tập đoàn đang hoạt động ở Việt Nam Tuy vậy, với phân tích của tác giả và nguyên tắc hướng dẫn về kinh doanh của John Ruggie là tư liệu hữu ích để luận án tiếp cận quyền con người được đảm bảo như thế nào tại các tập đoàn quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam Từ
đó, luận án sẽ có đánh giá về tính phổ quát của quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam
1.4.4 “Human Rights and Sustainable Development Obligations in EU Free
Trade Agreements” (Tạm dịch sang tiếng Việt là Nhân quyền và nghĩa vụ phát
triển bền vững trong Hiệp định Thương mại Tự do EU) của tác giả Lorand Bartels
tại University of Cambridge Fuculty of Law Research Paper No.24/2012
Tác giả tiếp cận, kể từ đầu những năm 1990, Hiệp định thương mại của EU
đã ghi nhận "điều khoản nhân quyền” và đòi hỏi các bên phải tôn trọng nhân quyền
và nguyên tắc dân chủ Gần đây hơn, với Hiệp định đối tác kinh tế EU-Cariforum năm 2008, Hiệp định đã có chương “Phát triển bền vững”, trong đó có ghi nhận các
Trang 26nghĩa vụ tôn trọng lao động và tiêu chuẩn môi trường Bài viết đã có sự phân tích sâu sắc về sự tác động của Hiệp định tự do hóa thương mại của EU tới vấn đề bảo
vệ quyền con người Những nội dung được tác giả nghiên cứu chưa đề cập tới pháp luật kinh tế Việt Nam hay việc thực hiện quyền con người tại Việt Nam nhưng đây
là tài liệu hữu ích cho luận án Luận án sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của tác giả để phân tích, so sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam về tự do kinh doanh và quyền con người
1.4.5 “Hoàn thiện cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân, luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội, Năm 2012
Tác giả đã tiếp cận một số nội dung quan trọng về cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của đề tài làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người, trong đó xây dựng định nghĩa, xác định đặc điểm, phân tích các yếu tố cấu thành cũng như các đảm bảo của cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người; Xây dựng phương hướng, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền con người tại Việt Nam Đề tài mới dừng lại ở việc nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn của cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người Đề tài chưa đề cập sâu về quyền con người cũng như thuộc tính của nó Tuy vậy, kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân tác giả luận án sẽ kế thừa cho việc đề xuất xây dựng và thực hiện điều ước quốc tế, pháp luật Việt Nam
về quyền con người, quyền công dân
1.5 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Tính phổ quát (phổ biến) của quyền con người là một thuộc tính cơ bản của quyền con người và có nhiều tác giả nghiên cứu Các tác giả trong nước và nước ngoài có nhiều công trình nghiên cứu tính phổ quát của quyền con người ở nhiều góc độ khác nhau như: Triết học, văn hóa, pháp lý Rõ ràng, những nghiên cứu về phổ quát hóa quyền con người không phải là vấn đề mới và phần tình hình nghiên cứu ở trên đã cho thấy điều này Ngoài ra, các đề tài nghiên cứu về quyền con người trong lĩnh vực kinh tế cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, phải kể đến các công trình nghiên cứu về quyền con người với kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh – quyền cơ bản của con người, quyền sở hữu – quyền cơ bản của con người,…
Tuy vậy, các đề tài nghiên cứu lại chưa có sự kết hợp nghiên cứu tính phổ quát quyền con người với pháp luật kinh tế Đa phần các công trình nghiên cứu đã
đề cập riêng các nội dung hoặc tính phổ quát quyền con người hoặc quyền kinh tế trong pháp luật kinh tế Ở Việt Nam hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu
Trang 27nào nghiên cứu về phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam Qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án, tác giả có những nhận định sau:
Thứ nhất, phổ quát hóa quyền con người đã được một số công trình của các
tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu Các công trình này mới dừng lại tìm hiểu về tính phổ quát như một thuộc tính cơ bản của quyền con người Nhiều tác giả phân tích tính phổ quát của quyền con người dưới góc độ triết học, văn hóa và pháp
lý Dù nghiên cứu, đánh giá dưới góc độ nào thì các tác giả đều cho rằng xu hướng phổ quát quyền con người là xu hướng tất yếu trong sự phát triển của nhân loại Đặc biệt, quyền về kinh tế của quyền con người có xu hướng phổ quát hóa mạnh mẽ trong xu thế toàn cầu hóa
Thứ hai, một số tác giả nước ngoài có nghiên cứu sâu về tác động toàn cầu
hóa tới quyền con người Các quốc gia ký kết các điều ước quốc tế và gia nhập vào các tổ chức quốc tế toàn cầu đứng trước thách thức đảm bảo hài hòa giữa quyền của các chủ thể kinh doanh và quyền của các chủ thể khác Pháp luật của các quốc gia phải chuyển hóa, ghi nhận các quyền kinh doanh của chủ thể kinh doanh đồng thời vẫn phải đảm bảo các quyền con người của các chủ thể khác như người lao động, dân cư và cộng đồng Từ những nghiên cứu này có thể thấy quyền con người được ghi nhận và đảm bảo thực hiện rộng rãi ở pháp luật của các quốc gia trên thế giới
Vì vậy, thông qua các công trình nghiên cứu ta có thể thấy xu hướng phổ quát quyền con người trong xu thế hội nhập quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có vực kinh tế Các đề tài này chưa đề cập tới phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam nên không có sự trùng lặp với đề tài của luận án nhưng lại rất hữu ích cho luận án trong việc khai thác kinh nghiệm của nước ngoài để hoàn thiện pháp luật kinh tế Việt Nam nhằm bảo vệ quyền con người
Thứ ba, một số tác giả nghiên cứu về quyền tự do kinh doanh – Quyền kinh
tế của con người Các tác giả chỉ mới dừng lại nghiên cứu các quyền ở việc xem xét quyền của chủ thể kinh doanh trong việc: Lựa chọn loại hình kinh doanh, quy mô kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh, gia nhập thị trường, rút khỏi thị trường,…chưa có sự kết hợp nghiên cứu vấn đề phổ quát hóa các quyền này Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quý báu mà tác giả luận án sẽ
kế thừa khi phân tích các quy định của pháp luật kinh tế Việt Nam nhằm bảo vệ quyền kinh tế của con người
Thứ tư, có nhiều tác giả nghiên cứu và khẳng định tính phổ quát của quyền
con người có tính tương đối Tức là, những yếu tố về văn hóa, dân tộc, vùng miền,… có tác động tới việc ghi nhận và thực hiện quyền con người, trong đó có
Trang 28các quyền kinh tế Các tác giả cho rằng, rất nhiều quy định của quyền con người không được ghi nhận và thực hiện ở một số quốc gia Vì vậy, phổ quát hóa quyền con người không phải là xu hướng tuyệt đối Những công trình nghiên cứu này chỉ mới nghiên cứu về tính tương đối của phổ quát quyền con người mà chưa có sự kết hợp nghiên cứu phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Những kết quả nghiên cứu trên sẽ giúp tác giả luận án khi đưa ra kiến nghị, đề xuất phổ quát quyền con người trong Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Pháp luật Hợp đồng,…Việt Nam cần lưu ý tới tính tương đối này
Thứ năm, nhiều tác giả thông qua nghiên cứu của mình khẳng định toàn cầu
hóa và tự do hóa kinh tế là cần thiết nhưng vẫn phải bảo vệ quyền con người Trong
đó, các các giả đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm bảo vệ quyền con người như: Trách nhiệm của các tập đoàn kinh tế đối với bảo vệ quyền con người; Hoạt động hợp tác phát triển kinh tế vẫn phải dựa trên nền tảng đạo đức, phù hợp với chuẩn mực xã hội và tôn trọng nhân quyền; Phát triển kinh tế dựa trên sự phát triển bền vững – hài hòa lợi ích của các bên; Thực hiện các điều ước quốc tề về quyền con người trực tiếp hoặc gián tiếp;…Các nghiên cứu của các tác giả không trực tiếp kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhưng những kiến nghị này tác giả luận án
sẽ kế thừa, tham khảo để đưa ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp cho pháp luật Việt Nam nhằm phổ quát hóa quyền con người tại Việt Nam
Từ việc đánh giá tình hình nghiên cứu ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam cho thấy đến thời điểm này chưa có công trình hay luận án tiến sĩ nào nghiên cứu một cách đầy đủ và chuyên sâu về vấn đề phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam Do vậy, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này Ở đây, luận án phân tích tính phổ quát của quyền con người và sự phổ quát này được thể hiện trong pháp luật kinh tế Việt Nam, cụ thể là Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và Pháp luật Hợp đồng, Luận án nghiên cứu pháp luật hiện hành của Việt Nam, đồng thời kết hợp tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, của điều ước quốc tế để từ đó đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh tế Việt Nam nhằm đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực kinh tế Như vậy, có thể khẳng định đây là luận án tiến sĩ Luật học đầu tiên nghiên cứu về phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam
2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết nghiên cứu
Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh dựa trên những cơ sở lý thuyết sau đây:
Trang 29Thứ nhất, các lý thuyết về quyền con người: Lý thuyết về quyền con người
gồm các khuynh hướng quyền tự nhiên; Quyền thực định và khuynh hướng thực lợi
Từ các lý thuyết về quyền con người, tác giả kế thừa quan điểm của John Finnis và khẳng định: Quyền con người là quyền tự nhiên, tồn tại trong Luật Tự nhiên
Thứ hai, quyền con người là quyền tự nhiên, tồn tại trong Luật Tự nhiên nên
có tính phổ quát Trong khi đó, quyền con người được ghi nhận trong Luật Thực định thì có tính đặc thù Kế thừa quan điểm của Jack Donelly về tính phổ quát của quyền con người mang tính tương đối
Thứ ba, lý thuyết về quyền tự do kinh doanh: (1) Lý thuyết về quyền tự do cá
nhân: Quan điểm của các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Trang Tử, Mạnh Tử,…; Quan điểm của các nhà tư tưởng phương Tây như J Locke, Rousseau, Mongtesquieu,… (2) Lý thuyết về tự do ý chí theo hai trường phái: Thuyết tất định như quan điểm của Aristotle, Kant, ; Thuyết quyết định như Hobbe, Hume,… (3)
Lý thuyết về tự do hợp đồng: (i) Mối tương quan với sự công bằng của một số học giả như: Werner Flume, Karl Larenz; (ii) Mối quan hệ với tự do ý chí của học giả Corinne, Liang, Gao,…
Thứ tư, các quan điểm lý luận về quyền tự do kinh doanh – quyền kinh tế của
con người
Thứ năm, cặp phạm trù Chung – Riêng của C Marx
Thứ sáu, quan điểm “toàn cầu hóa” của Thomas L Friedman
Thứ bảy, các quan điểm lý luận thể hiện mối quan hệ giữa quyền con người
với toàn cầu hóa về kinh tế - xã hội; chính trị và văn hóa
2.1.2 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và kết quả nghiên cứu
Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các
cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại
câu hỏi được đặt ra: Để quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại, quyền con người được phổ quát hóa như thế nào trong pháp luật kinh tế Việt Nam?
Từ câu hỏi khái quát này, chúng ta có một số câu hỏi cụ thể liên quan tới quyền con người trong lĩnh vực kinh tế:
Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Tại sao pháp luật kinh tế Việt Nam phải phổ
quát quyền con người nói chung và quyền tự do kinh doanh nói riêng?
3 OHCHR (2006), Freequenly Asked question on a Human right – based Approach to Development
Cooperation, New York and Geveva, Tr.1
Trang 30Giả thuyết nghiên cứu: Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng nếu Việt Nam phổ quát quyền kinh tế của con người như quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế của mình
Dự kiến kết quả nghiên cứu: Chứng minh xu hướng toàn cầu hóa đã và đang diễn ra ở Việt Nam nên quyền con người nói chung và quyền tự do kinh doanh nói riêng trở nên phổ quát tại Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Phổ quát hóa quyền tự do gia nhập thị trường
trong pháp luật kinh tế của các nước trên thế giới và Việt Nam thể hiện như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu:
Một là, quyền tự do gia nhập thị trường trong pháp luật kinh tế Việt Nam
tương đồng và một số khác biệt so với pháp luật của các nước trên thế giới và pháp luật quốc tế
Hai là, phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam tác
động tích cực tới cơ hội gia nhập thị trường của chủ thể kinh doanh
Dự kiến kết quả nghiên cứu: Quyền tự do gia nhập thị trường ghi nhận trong pháp luật kinh tế Việt Nam có những điểm tương đồng và khác biệt so với các nước trên thế giới và với pháp luật quốc tế Bên cạnh đó, pháp luật kinh tế Việt Nam có những điểm bất cập làm hạn chế sự phổ quát và ảnh hưởng tiêu cực tới quyền gia nhập thị trường của chủ thể kinh doanh
Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Phổ quát hóa quyền tự do hợp đồng trong pháp
luật kinh tế của các nước trên thế giới và Việt Nam thể hiện như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu:
Một là, quyền tự do hợp đồng trong pháp luật kinh tế Việt Nam tương đồng
một số khác biệt so với pháp luật của các nước trên thế giới và với pháp luật quốc
tế
Hai là, phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam làm
tăng tính chủ động của chủ thể kinh doanh khi giao kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp hợp đồng
Ba là, phổ quát hóa quyền tự do hợp đồng đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các
chủ thể giao kết hợp đồng
Dự kiến kết quả nghiên cứu: Quyền tự do hợp đồng ghi nhận trong pháp luật kinh tế Việt Nam có những điểm tương đồng và khác biệt so với các nước trên thế giới và với pháp luật quốc tế Bên cạnh đó, pháp luật kinh tế Việt Nam có những điểm bất cập làm hạn chế sự phổ quát và ảnh hưởng tiêu cực tới quyền tự do hợp đồng của chủ thể
Trang 31Câu hỏi nghiên cứu thứ tư: Phổ quát hóa quyền tự do giải quyết tranh chấp
kinh doanh trong pháp luật kinh tế của các nước trên thế giới và Việt Nam thể hiện như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu:
Một là, quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh trong pháp luật kinh tế
Việt Nam tương đồng một số khác biệt so với pháp luật của các nước trên thế giới
và với pháp luật quốc tế
Hai là, phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam tác
động tích cực tới khả năng giải quyết tranh chấp phát sinh của chủ thể kinh doanh
Dự kiến kết quả nghiên cứu: Quyền tự do quyết định hoạt động kinh doanh ghi nhận trong pháp luật kinh tế Việt Nam có những điểm tương đồng và khác biệt
so với các nước trên thế giới và với pháp luật quốc tế Bên cạnh đó, pháp luật kinh
tế Việt Nam có những điểm bất cập làm hạn chế sự phổ quát và ảnh hưởng tiêu cực tới quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh của chủ thể kinh doanh
Câu hỏi nghiên cứu thứ năm: Giải pháp, kiến nghị nào để quyền con người
được ghi nhận, bảo vệ, trở nên phổ quát tại Việt Nam và có sự tương thích với pháp luật của các nước trên thế giới cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người?
Giả thuyết nghiên cứu: Sửa đổi, bổ sung pháp luật về quyền con người giúp quyền con người trở thành giá trị phổ quát tại Việt Nam và pháp luật kinh tế Việt Nam tương đồng với các quốc gia trên thế giới, với pháp luật quốc tế Các giải pháp phù hợp sẽ thúc đẩy bảo vệ quyền con người và tiến bộ xã hội
Dự kiến kết quả nghiên cứu:
Một là, kiến nghị hủy bỏ, sửa đổi và bổ sung một số điều trong Pháp luật
Doanh nghiệp, Đầu tư, Cạnh tranh, Hợp đồng, Trọng tài thương mại và pháp luật khác để quyền con người được bảo đảm
Hai là, giải pháp cải cách thủ tục hành chính để đảm bảo quyền tự do kinh
doanh của con người
2.1.3 Hướng tiếp cận của đề tài
Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã được công
bố đồng thời phát triển thêm nhằm trình bày và phân tích một cách có hệ thống, tương đối đầy đủ về các quy định của pháp luật kinh tế Việt Nam thể hiện phổ quát hóa quyền con người, đặc biệt là các quyền kinh tế (Quyền tự do kinh doanh)
Các nội dung trong luận án sẽ được xem xét, phân tích dưới góc độ các quy định của pháp luật Việt Nam kết hợp với tham khảo, so sánh với pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế (Điều ước quốc tế) Qua đó, luận án sẽ chỉ ra sự tương thích pháp luật kinh tế Việt Nam với pháp luật các nước và pháp luật quốc tế Đồng
Trang 32thời, luận án phân tích những ưu điểm và hạn chế của pháp luật kinh tế Việt Nam trong việc bảo vệ và phổ quát hóa quyền con người và đề xuất hướng hoàn thiện
Luận án tiếp cận vấn đề lý luận về quyền con người và thuộc tính phổ quát của quyền con người Với xu hướng toàn cầu hóa, luận án chỉ ra xu hướng phổ quát hóa quyền con người là xu hướng tất yếu xảy ra trên thế giới Từ vấn đề lý luận và đánh giá xu hướng của thế giới, luận án liên hệ tới pháp luật kinh tế Việt Nam để phân tích thực trạng phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam Luận án tiếp cận được lý luận, nêu được xu hướng và đánh giá được thực trạng sẽ có cơ sở để đưa ra các đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, các phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng trong quá trình nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử Cụ thể:
2.2.2 Phương pháp tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng tổng hợp các quan điểm triết học, pháp lý về quyền con người và các quan điểm về quyền tự do kinh doanh Bên cạnh đó, phương pháp được sử dụng để tổng hợp những phân tích quy định của pháp luật để
có cơ sở đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
2.2.3 Phương pháp so sánh luật học
Phương pháp này được sử dụng trong việc so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài và các văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người Cụ thể: (i) Tại Chương 2, so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của Nhật Bản, Singapore, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp, Nam Phi và quy định của Luật quốc tế Các quốc gia trên với hệ thống pháp luật khác nhau và mức độ dễ dàng gia nhập thị trường khác nhau sẽ giúp tác giả đánh giá được quyền tự do gia nhập thị trường theo pháp luật Việt Nam (ii) Tại Chương 3, so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của Pháp, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Luật quốc tế Tác giả đánh giá được những ưu, nhược điểm của pháp luật Việt Nam
so với pháp luật các quốc gia và pháp luật quốc tế về quyền tự do hợp đồng (iii) Tại
Trang 33Chương 4, so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản và quy định của Luật quốc tế Tác giả đánh giá được những ưu, nhược điểm của pháp luật Việt Nam so với pháp luật các quốc gia và pháp luật quốc tế về quyền tự do giải quyết tranh chấp
Phương pháp này cũng được kết hợp sử dụng trong tất cả các nội dung của
đề tài Từ sự so sánh này, tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật kinh
tế Việt Nam nhằm đảm bảo quyền con người và khẳng định quyền con người thực
sự phổ quát trong pháp luật kinh tế Việt Nam
2.2.4 Phương pháp lịch sử
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu quy định của pháp luật qua các thời kỳ khác nhau Từ đó, tác giả đánh giá được sự phù hợp hay không phù hợp,
sự tiến bộ hay không tiến bộ của pháp luật trong các thời điểm lịch sử nhất định
3 Kết cấu của luận án
Kết cấu luận án gồm bốn chương nội dung chưa kể mục lục, phần mở đầu,
phần kết luận, tổng quan nghiên cứu và tài liệu tham khảo:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về quyền con người và phổ quát hóa quyền con người
Chương 2 Phổ quát hóa quyền tự do gia nhập thị trường
Chương 3 Phổ quát hóa quyền tự do hợp đồng
Chương 4 Phổ quát hóa quyền tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh
Trang 34CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ
PHỔ QUÁT HÓA QUYỀN CON NGƯỜI
Xây dựng cơ sở lý thuyết nghiên cứu là vấn đề quan trọng trong triển khai một công trình nghiên cứu khoa học Để có cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu đề tài “Phổ quát hóa quyền con người trong pháp luật kinh tế Việt Nam”, với xu hướng nghiên cứu triết học pháp luật, tác giả nghiên cứu một số nội dung sau: Lý luận về quyền con người; Tính phổ quát của quyền con người; Lý luận về tự do kinh doanh;
và chứng minh phổ quát hóa quyền con người tại Việt Nam là xu hướng tất yếu trong tiến trình toàn cầu hóa Đây là cơ sở lý luận để tác giả nghiên cứu các nội dung cụ thể nhằm phổ quát hóa quyền tự do do kinh doanh – quyền kinh tế của con người gồm: Quyền tự do gia nhập thị trường, quyền tự do hợp đồng và tự do giải quyết tranh chấp kinh doanh
1.1 Những vấn đề lý luận về quyền con người
1.1.1 Quan điểm về quyền con người
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, con người và quyền con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là đối tượng nghiên cứu đa ngành, liên ngành của các khoa học Với cách tiếp cận khác nhau về quyền con người, hiện nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về quyền con người Trong luận án này, tác giả không đặt ra mục tiêu tiếp cận tất cả các vấn đề quyền con người mà chỉ tập trung vào những quan điểm ở khía cạnh pháp lý thông qua các học thuyết triết học và pháp lý
1.1.1.1 Quan điểm triết học pháp luật về quyền con người
Các quan điểm triết học về quyền con người được tiếp cận theo các khuynh hướng khác nhau như: Thuyết quyền tự nhiên, thuyết quyền thực định và thuyết khuynh hướng thực lợi Cụ thể:
Thứ nhất, quan điểm về quyền tự nhiên, nguồn gốc của "quyền tự nhiên"
có thể được bắt nguồn từ sự phân biệt của người Hy Lạp giữa "bản chất" (physis) và
"quy ước" (nomos).4 Người Hy Lạp so sánh giữa động vật và con người và thấy rằng tập tính của động vật đều đồng nhất, thói quen của con người khác nhau theo quy ước Lập luận về quyền tự nhiên khẳng định rằng sự đa dạng của các phong tục
4 Leo Strauss (1953), Natural Right and History, Chicago & London: University of Chicago Press, Chicago,
P.90
Trang 35và tập quán của con người tồn tại như một sự phổ quát và sự vĩnh viễn của tự nhiên được giải thích dưới dạng các sự thật hiển nhiên hoặc thông qua tính lịch sử cụ thể.5
Theo quan điểm của Aristotle6: Hành động có thể công bằng khi đảm bảo công bằng về tự nhiên hoặc về pháp lý Theo đó, công lý hoặc quyền tự nhiên là không thể thay đổi và có cùng một phần tác động tích cực từ luật pháp được áp dụng Công bằng mang tính tự nhiên và pháp lý không loại trừ lẫn nhau Không có
sự bất cân bằng cơ bản giữa quyền tự nhiên và các yêu cầu của xã hội chính trị Một quyền sẽ vượt qua xã hội chính trị không phải là quyền tự nhiên đối với con người vừa mang bản chất tự nhiên và bản chất xã hội
Đối với Aquinas, Ông cho rằng7: Các tiền đề chung, bất biến của quyền tự nhiên với các quy tắc riêng, có thể thay đổi của quyền tự nhiên là khác biệt và chuyển hóa cho nhau Aquinas công nhận sự hài hòa giữa quyền tự nhiên với xã hội dân sự và tính chất không thay đổi của các mệnh đề cơ bản của Luật Tự nhiên Giống như Aristotle, Aquinas nhấn mạnh bản chất xã hội của con người và tính ưu việt của các nghĩa vụ đối với lợi ích chung Về mặt đạo đức đã giải thích tại sao Luật Tự nhiên hay quyền tự nhiên có thể được ban hành hợp lệ cho tất cả mọi người như là sự ràng buộc mang tính toàn cầu, mặc dù các khế ước xã hội khác nhau
Hugo Grotius với nghiên cứu chi tiết về quyền chiến tranh và hòa bình, Ông cho rằng Luật Tự nhiên sẽ vẫn có hiệu lực ngay cả khi người ta thừa nhận "điều không thể được công nhận ngoài sự tàn ác nhất, rằng không có Đức Chúa Trời, hoặc các vấn đề của con người không quan tâm đến Ngài (etiamsi daremus non esse Deum)".8
Tương tự, (1) John Locke cho rằng Luật Tự nhiên là "cùng một lúc một lệnh của Chúa, một nguyên tắc của lý trí, và một luật lệ trong bản chất của sự vật như chúng tồn tại, theo đó chúng hoạt động và chúng ta cũng làm việc"9 (2) Jean Jacques Rousseau thừa nhận:10 "con người được sinh ra tự do, nhưng ở khắp mọi nơi con người là trong chuỗi" Quyền tự nhiên không có nền tảng thần thánh, và
5 Gregory J Walters (1995), Human Rights in Theory and Practice: A Selected and Annotated Bibliography,
Scarecrow Press, Michigan, P.7
6
Xem Aristotle (1980), The Nichomachean Ethics (Book V.7, 1134b18-1135a5), trans by David Ross, rev
by J.L Ackrill and J.O Urmson, Oxford University Press, Oxford , P.124-5
7 Xem St Thomas Aquinas (1989), Summa Theologiae: A Concise Translation, ed by Timothy McDermott,
Methuen, London, P.280-307
8
Grotius (1970), De Iure Bellie ac Pacis, Prolegomena, §11, quoted in A.P d'Entreves, Natural Law,
second ed , Hutchison's University Library, London, P.54 (Trích dẫn trong Gregory J Walters (1995), Human Rights in Theory and Practice: A Selected and Annotated Bibliography, Scarecrow Press,
Michigan)
9
John Locke (1965), Two Treatises of Government, Book 2, Chap.3, 19, ed by Peter Laslett, rev ed., Ont.:
Mentor, New York and Scarborough, P.321
10 Xem Jean-Jacques Rousseau (1968), The Social Contract (1743), Bk.I, ch.1,ed by Maurice Cranston ,
Penguin, Harmonsworth, P.49
Trang 36không thể đứng độc lập với tự do thông qua pháp luật (3) Theo Thomas Paine nhấn mạnh rằng các quyền không thể được ban phát bởi bất kỳ chính phủ nào, bởi lẽ điều
đó đồng thời cho phép các chính phủ được rút lại các quyền ấy theo ý chí của họ nên Thomas Paine đã gián tiếp khẳng định rằng các quyền của con người là những quyền tự nhiên.11
Nhìn chung, các học giả khác nhau với cách tiếp cận khác nhau nhưng tựu chung lại, học thuyết về quyền tự nhiên cho rằng “quyền con người là bẩm sinh, vốn dĩ mọi người luôn luôn có khi được sinh ra mà không phụ thuộc vào ý chí của nhà nước hay giới cầm quyền, không phụ thuộc vào pháp luật, các quy tắc pháp lý
và điều kiện xã hội”12
Thứ hai, quan điểm về quyền thực định, những học giả theo quan điểm
này phủ nhận mối liên hệ giữa Luật Tự nhiên, pháp luật và những tiêu chuẩn đạo đức Theo đó, quan điểm về quyền pháp lý bác bỏ quan điểm cho rằng pháp luật tồn
đến David Hume, Jeremy Bentham và John Austin
vọng Hume đã dẫn đến kết luận rằng không có cơ sở để xác định điều đó dựa trên trật tự luân lý rõ ràng khách quan, cái gọi là sai lầm tự nhiên Những triết gia trước đây gọi luật hay quyền tự nhiên là điều mà đối với Hume chỉ đơn thuần là một quy ước về tình cảm luân lý, và "lý do cho những tình cảm như vậy không phải là sự tuân thủ bắt buộc về sự phù hợp của hành động với các nguyên tắc khách quan"
Theo quan điểm của Jeremmy Bentham, Ông chế giễu cái mà ông gọi là "hư cấu" của Luật Tự nhiên, hợp đồng xã hội, và đặc biệt là các quyền tự nhiên trên các căn cứ thực tế.15 "Quyền tự nhiên đơn giản là sự vô nghĩa: Tính bẩm sinh và vĩnh viễn của quyền, lời nói hoa mỹ, - vô lý dựa trên sự hư cấu"16 Các quyền tự nhiên là
vô nghĩa đối với Bentham bởi vì chúng không có bất cứ điều gì hữu hình như các khái niệm về luật pháp, xử phạt và chủ quyền
11
Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con
người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, Tr.40
12 Mai Hồng Quỳ và các tác giả (2012), Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam,
NXB Lao động, Tp Hồ Chí Minh, Tr.15
13
Xem Ranymond Wacks (2011), Triết học pháp luật (Dịch: Phạm Kiều Tùng), NXB Tri thức, Tp Hồ Chí
Minh, Tr.44
14 Xem Gregory J Walters (1995), Human Rights in Theory and Practice: A Selected and Annotated
Bibliography, Scarecrow Press, Michigan, P.10
15
Jeremy Bentham (1982), An Introduction to the Principles of Morals and Legislation (1789), ed by J.H
Burns and H.L.A Hart , Methuen, London, ch.1, sect.1, P.11
16 Jeremy Bentham (1987), Anarchical Fallacies, in Jeremy Waldron, ed., Nonsense Upon Stilts: Bentham,
Burke and Marx on the Rights of Man, Methuen, London and New York, P.53
Trang 37Đối với John Austin17
: Trong tác phẩm chính của mình “the Province of Jurissprudence Determined” (Lĩnh vực Luật học được xác định) năm 1932, Ông đặt
cơ sở trên ý tưởng về những mệnh lệnh hoặc sai khiến, mặc dù ông đưa ra một giải thích ít tỉ mỉ hơn về bản chất của chúng Theo đó, con người bị khuất phục trước quyền lực của quốc trưởng và luật pháp như một mệnh lệnh của quốc trưởng
Nhìn chung, quan niệm của trường phái quyền thực định cho rằng quyền con người không phải do tạo hóa sinh ra, không phải do bẩm sinh, không phải mọi người sinh ra đã có một cách tự nhiên mà do nhà nước xác định bằng pháp luật và
vào ý chí của giai cấp thống trị và các yếu tố khác như phong tục, tập quán, truyền thống, văn hóa,…
Thứ ba, quan điểm về khuynh hướng thực lợi, đại diện cho quan điểm này
là nhà tư tưởng Từ Sùng Ôn (Trung Quốc) Ông cho rằng: "Nhân quyền, suy cho cùng bắt nguồn từ điều kiện kinh tế-xã hội, phản ánh lợi ích cơ bản của một giai cấp nhất định"19 Theo đó, học thuyết cho rằng, quyền con người là những quyền nảy
nguồn gốc của quyền con người là kinh tế Quyền con người không phải tự nhiên, không phải do nhà nước ban phát mà chính đời sống kinh tế của con người trao cho con người các quyền
Những quan điểm về quyền con người nêu trên đều có những điểm hạn chế
nhất định: (i) Quan điểm về quyền tự nhiên cổ điển: Quan điểm “quyền con người
không phụ thuộc vào ý chí của nhà nước, giới cầm quyền; Pháp luật hoặc các quy tắc pháp lý, điều kiện xã hội” là quan điểm mang tính siêu hình vì đã tách con người
ra khỏi mối quan hệ với xã hội Trong khi đó, con người là một nhân tố của xã hội
Quyền con người cũng mang tính xã hội (ii) Quan điểm về quyền thực định: Quan
điểm này phủ nhận mối quan hệ giữa Luật Tự nhiên với pháp luật do con người quy định và với tiêu chuẩn đạo đức Quyền con người không phải mọi người sinh ra đã
có mà do nhà nước xác định bằng pháp luật Quan điểm này có điểm hạn chế bởi vì khi nhà nước chưa thành lập, chưa có pháp luật thì bản thân con người tự nhiên đã
có những quyền tự nhiên như sống, kiếm ăn, thiết lập quan hệ,… (iii) Quan điểm về
17
Xem Ranymond Wacks (2011), Triết học pháp luật (Dịch: Phạm Kiều Tùng), NXB Tri thức, Tp Hồ Chí
Minh, Tr.49
18 Xem Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về
quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, Tr.39
19
Trích dẫn quan điểm Từ Sùng Ôn (1992), “Về phương pháp luận nghiên cứu vấn đề nhân quyền”, Tạp chí
Nghiên cứu triết học (Trung Quốc), (12) tại Hoàng Công (1991), “Quyền con người nhìn từ góc độ triết
học”, Tạp chí triết học, (3), Tr 40-43
20 Xem Hoàng Công, (1996), “Quyền con người – Nhìn từ góc độ Triết học”, Tạp chí Triết học, số 3, Tr 42
Trang 38khuynh hướng thực lợi: Quan điểm quyền con người bắt nguồn từ điều kiện kinh tế
- xã hội và phản ánh lợi ích của một giai cấp nhất định Quan điểm này có điểm thiếu sót đó là quyền con người còn bao hàm những yêu cầu về danh dự, nhân phẩm, đời sống tinh thần và tình cảm của con người – những điều nằm ngoài phạm trù kinh tế
1.1.1.2 Quyền con người – Quyền tự nhiên
Trên tinh thần phê phán những quan điểm triết học còn hạn chế, chưa phù hợp và kế thừa những quan điểm phù hợp, tác giả luận án cho rằng quyền con người
là quyền tự nhiên với cách tiếp cận như sau:
Thứ nhất, con người là thực thể tự nhiên nên những nhu cầu, mong muốn,
đời sống tinh thần,… của con người là tự nhiên Con người – thực thể tự nhiên về tự nhiên luôn mưu cầu một cuộc sống viên mãn Điều này cũng được đặt ra trong nguyên tắc cơ bản của triết học Aristotle, ông đã đặt ra câu hỏi: “Điều gì tạo ra một
John Finnis (Trường Đại học Oxford) – người theo trường phái Luật Tự nhiên đương đại kế thừa quan điểm trên của Aristotle đã đưa ra danh mục những loại hình
cơ bản của sự phát triển con người Theo đó, có bảy loại hình góp phần làm cuộc sống của con người viên mãn: Đời sống, kiến thức, vui chơi, cảm nghiệm thẩm mỹ,
những giá trị mang tính phổ quát vì nó chi phối mọi xã hội loài ngoài ở mọi thời đại
vì con người luôn đeo đuổi những lợi ích cơ bản nêu trên
Tác giả luận án hoàn toàn đồng ý với quan điểm của John Finnis về việc con người cần những lợi ích cơ bản nêu trên để phát triển Thêm vào đó, tác giả luận án cũng đồng ý với John Finnis cho rằng những lợi ích cơ bản nêu trên cần có sự kết
hợp với chín “Đòi hỏi về sự phù hợp với thực tiễn”, ví dụ, (1) Quyền con người
không được có sự thiên vị, tùy tiện giữa những con người: Con người hãy làm cho
người khác những gì mà mình sẽ làm cho họ hoặc cho bản thân mình Con người phải đặt vị trí của mình vào vị trí của người khác Không lên án người khác vì những việc mà ngay bản thân mình cũng muốn làm cho mình Không ngăn người khác khi họ làm những điều mà ngay cả bản thân mình cũng mong muốn điều đó Đây chính là nền tảng để xác định quyền con người không được thiên vị, tùy tiện
giữa những con người; (2) Quyền con người phải phù hợp với đòi hỏi của lợi ích
chung: Lợi ích chung là những những giá trị chung của cộng đồng hoặc của toàn
Trang 39nhân loại Những giá trị như: Hiểu biết, vui chơi, tự do, phát triển,… đều là những lợi ích chung mà nhân loại hướng tới Vì vậy, quyền của mỗi con người không được
đi ngược lại với lợi ích chung Ví dụ, một người không thể từ chối sự phát triển mà
vì sự phát triển chung của nhân loại mỗi người phải học tập; (3) Quyền con người là
sự đeo đuổi tích cực về những lợi ích: Con người có thể đeo đuổi những lợi ích cho
bản thân nhưng không được trái với đạo đức Ví dụ, con người luôn hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn về vật chất Để đạt được điều này, con người không được thực hiện những việc làm phi đạo đức như trộm cắp, cướp đoạt của người khác Bên cạnh đó, còn những những yêu cầu khác với quyền con người như: (4) Một kế hoạch nhất quán về cuộc sống; (5) Không có sự thiên vị, tùy tiện giữa các giá trị; (6) Tính độc lập và tận tâm; (7) Sự thích ứng (có giới hạn) với những hậu quả: Hiệu quả trong phạm vi hợp lý; (8) Tôn trọng mọi giá trị cơ bản trong mọi hành vi; (9)
Những lợi ích cơ bản cho sự phát triển của con người và những đòi hỏi về sự phù hợp với thực tiễn hợp thành nguyên tắc phổ biến và không thể thay đổi của
Luật Tự nhiên Bởi vì, lợi ích và đòi hỏi trên của con người là “hiển nhiên” và
Quan điểm này phù hợp với quan điểm của Thomas Aquinas (1225-1274) cho rằng Luật Tự nhiên là luật vĩnh cữu nơi những sinh vật duy lý (con người) có thể phát hiện được bằng lý trí và Luật Tự nhiên phải phù hợp với tự nhiên, thiêng liêng.25
Thứ hai, quyền con người là điều “hợp lý” chứ không phải là điều gì phù
hợp với bản chất của con người Quyền con người không phải được suy ra hoặc suy đoán từ bản chất của con người hay bản chất của sự vật hiện tượng Bởi vì, trong mỗi con người chúng ta, “bằng cảm nghiệm về bản chất của mình, từ bên trong con người của mình” nắm bắt được “bằng một hành động đơn giản của sự hiểu biết không do suy luận” rằng “đối tượng của sở thích mà con người cảm nghiệm là ví dụ
về hình thức tổng quát của cái tốt cho chính mình (và cho những người khác giống mình”).26
26 Đây là quan điểm của Aquinas về việc hình thành quyền tự nhiên và luật tự nhiên: Xem Raymond Wacks
(2011), Triết học pháp luật (Phạm Kiều Tùng dịch), NXB Tri Thức, Tp Hồ Chí Minh, Tr 41
Trang 40tự nhiên “tự cảm nhận” và thấy những điều đó là điều tốt phù hợp với bản thân và những người khác Ví dụ: Con người tự nhiên tự cảm nhận điều tốt đẹp đối với bản thân là “con người được sống” nên quyền sống là “quyền tự nhiên” của con người Ngược lại, lập luận rằng, con người về mặt bản thể là con người tự nhiên nên
“quyền được sống” là điều phù hợp với con người tự nhiên Với cách lập luận này, quyền tự nhiên nói riêng và Luật Tự nhiên nói chung mang tính siêu hình Chính vì
lẽ đó, quyền con người là quyền tự nhiên và được hình thành tự nhiên và hoàn toàn mang tính “hợp lý”
Thứ ba, một trong những thuộc tính tự nhiên của con người đó là tính xã
hội Về mặt tự nhiên, để thiết lập những điều tốt đẹp cho con người thì mỗi cá nhân
có nhu cầu hòa mình vào cộng đồng loài người Chúng ta không thể mưu cầu lợi ích cho con người cho đến khi chúng ta có một cộng đồng Nhu cầu hòa nhập vào cộng đồng là nhu cầu tự nhiên, tất yếu của con người Vì vậy, theo Luật Tự nhiên, chúng
ta nên hiểu là một tập hợp các nguyên tắc, từ bản chất cá nhân và xã hội của con người và theo đuổi sự hạnh phúc của con người, được thể hiện qua lý trí con
lợi ích tốt nhất cho cộng đồng” cũng được Finnis thể hiện rõ trong tác phẩm
“Natural rights and natural law” của mình Quan điểm này đã giải quyết được điểm hạn chế của các học giả theo trường phái Luật Tự nhiên cổ điển cho rằng con người mang tính tự nhiên mà không thể hiện được tính xã hội Tác giả luận án đồng ý với quan điểm này, bởi vì: (i) Về mặt tự nhiên, con người luôn có nhu cầu gắn kết và hòa mình vào xã hội; (ii) Những giá trị tốt đẹp như: Mưu cầu hạnh phúc, học tập, cảm thụ nghệ thuật,… chỉ phát huy tốt nhất khi con người là một thành tố trong cộng đồng; (iii) Đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng là “hợp lý” và là cơ sở đảm bảo quyền tự nhiên của mỗi cá nhân
Thứ tư, quyền con người – quyền tự nhiên được rút ra từ Luật Tự nhiên (từ
những điều tốt đẹp để con người có cuộc sống “viên mãn” đã tồn tại và phù hợp với Luật Tự nhiên Những quyền như quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền liên quan tới tín ngưỡng, quyền được học hỏi,… là những quyền luôn tồn tại trong
xã hội loài người từ thuở sơ khai cho đến nay Quyền tự nhiên này tồn tại bởi vì nó hợp lý và phù hợp với Luật Tự nhiên mà không cần sự thừa nhận của bất kỳ nhóm người nào, tổ chức nào hoặc nhà nước nào Điều này chứng tỏ rằng quyền con
27
Rhéaume, J (1997), “Human Rights and Human Nature”, Revue générale de droit, 28(4), P.523–534
28 Đây là quan điểm của John Locke thể hiện mối quan hệ giữa quyền tự nhiên và luật tự nhiên: Xem
Raymond Wacks (2011), Triết học pháp luật (Phạm Kiều Tùng dịch), NXB Tri Thức, Tp Hồ Chí Minh,
Tr 28