PHẦN MỞ ĐẦU Phần mở đầu trình bày 1 lý do chọn đề tài; 2 lịch sử nghiên cứu trên địa hạt ngôn ngữ học đối chiếu bàn về tiếp xúc và giao thoa ngôn ngữ, nêu ra những công trình tiêu biểu t
Trang 1LÊ KINH QUỐC
PHÁT ÂM TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN MIỀN TÂY NAM BỘ (NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2019
Trang 2LÊ KINH QUỐC
PHÁT ÂM TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN MIỀN TÂY NAM BỘ (NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 62.22.02.41
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN VĂN HUỆ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận án
Lê Kinh Quốc
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Luận án là kết quả của rất nhiều sự hỗ trợ và góp sức từ những tập thể và cá nhân Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ và lãnh đạo các ban ngành đã tạo điều kiện tốt cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu, đặc biệt là thầy Hiệu trưởng Dương Thái Công – nhà giáo ưu tú –
đã động viên, giới thiệu tôi đến với chương trình đào tạo tiến sĩ này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Văn Huệ, thầy hướng dẫn khoa học, đã định hướng và dẫn dắt tôi suốt chặng đường nghiên cứu
Chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, những cán bộ, chuyên viên thuộc Phòng Sau Đại học Trân trọng tri ân những thầy cô giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu sinh chúng tôi trong quá trình đào tạo: TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh, PGS.TS Nguyễn Công Đức, GS.TS Nguyễn Đức Dân, GS.TS Bùi Khánh Thế, TS Nguyễn Hoàng Trung, TS Nguyễn Hoàng Tuấn, PGS.TS Lê Khắc Cường, TS Nguyễn Hữu Chương, TS Đỗ Thị Bích Lài, TS Nguyễn Vân Phổ, PGS TS Trần Văn Cơ Cám ơn cô Nguyễn Thị Mỹ Diễm đã giới thiệu người bản ngữ Anh làm cộng tác viên cho chương trình
Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến GS.TS Nguyễn Văn Lợi về những tài liệu điện tử vô cùng quý báu thuộc lĩnh vực ngữ âm học mà thầy đã chia sẻ Những lời chỉ dẫn và động viên của thầy đã tiếp lửa cho chuyến hành trình nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm này
Lòng biết ơn gởi đến TS Huỳnh Công Tín về những lời khuyên và tài liệu nghiên cứu khoa học của thầy, cám ơn thầy Thái Công Dân, thầy Nguyễn Văn Lợi và thầy Nguyễn Thành Đức ở trường Đại học Cần Thơ, đã tạo điều kiện tốt cho tôi tiếp cận
và chọn cộng tác viên cho quy trình ghi âm; gởi đến thầy Huỳnh Bảo Quốc, cựu Hiệu trưởng Trường Phổ thông Thái Bình Dương, đã giới thiệu những người bản ngữ Anh
và cung cấp những phòng ghi âm; gởi đến bác Tám Mến đã dành ra những phòng thu
Trang 5âm ở Trung tâm Anh ngữ Việt - Mỹ cho sinh viên trường Đại học Cần Thơ thực hiện
quy trình ghi âm
Lời cám ơn nhắn gởi đến bạn Phan Văn Chí, chủ nhiệm các lớp chuyên Anh ở trường Đại học An Giang, đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong công tác khảo sát thực địa, ghi âm phát ngôn của sinh viên; lòng biết ơn gởi đến thầy Đỗ Minh Hùng, thầy Phạm Văn Tặc trong công tác vận động sinh viên Trường Đại học Đồng Tháp tham gia quy trình thực nghiệm ngữ âm học
Chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Văn Chơn đã giúp đỡ rất nhiều từ việc tư vấn nghiên cứu khoa học, giới thiệu giáo viên hỗ trợ công tác nghiên cứu thực địa ở Trà Vinh, An Giang cho đến việc tìm chuyên gia xử lý dữ liệu thống kê Cám ơn bạn Ung Thanh Tùng đã hỗ trợ in ấn hàng loạt tài liệu nghiên cứu Cảm ơn bạn La Hoàng Châu, chuyên gia về phần mềm SPSS; bạn Nguyễn Thành Trực, giảng viên Đại học Cần Thơ, đã hết lòng tiếp sức trong công tác xử lý số liệu thống kê dữ liệu ngữ âm thực nghiệm
Tôi luôn biết ơn những cộng tác viên – ban cán sự lớp, những sinh viên và những người bản ngữ Anh – đã dành thời gian của mình để tham gia chương trình; cám ơn các bạn đồng nghiệp đã khích lệ hỗ trợ tôi rất nhiều về mặt tinh thần
Sau cùng, lòng biết ơn của tôi hướng về gia đình Cảm ơn cô Lê Thị Thanh Mỹ
và chú Lê Ngọc Sĩ đã kiên trì dạy tôi từ thời thơ ấu Cám ơn cô Lê Thị Tường Vi đã phác họa những bức tranh sinh động, làm gợi ý trực quan cho các cộng tác viên thực hiện đàm thoại Tình thương, sự quan tâm chăm sóc từ vợ và hai con đã cho tôi động
cơ mạnh mẽ để hoàn thành luận án này Đây cũng là món quà tôi dành cho đấng sinh thành của mình
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM TẠ ii
CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC HÌNH VẼ xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Trên thế giới 3
1.2.2 Ở Việt Nam 7
1.2.2.1 Nghiên cứu lỗi của người học trong sự tiếp xúc, giao thoa giữa hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng dân tộc .8
1.2.2.2 Nghiên cứu lỗi của người học trong sự tiếp xúc, giao thoa giữa hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng nước ngoài .9
1.3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 15
1.3.1 Mục đích nghiên cứu 15
1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 16
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 16
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 16
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 16
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 17
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 17
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 18
1.6 KHO TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
1.6.1 Kho tư liệu 19
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu 20
1.6.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngữ âm học và âm vị học 20
1.6.2.2 Phương pháp so sánh đối chiếu 20
1.6.2.3 Phương pháp logic học và toán học 21
Trang 71.6.2.4 Phương pháp ngữ âm thực nghiệm 21
1.7 ĐỐI TƯỢNG THAM GIA NGHIÊN CỨU VÀ QUY TRÌNH GHI VÀ XỬ LÝ ÂM THANH 22
1.7.1 Đối tượng tham gia nghiên cứu 22
1.7.2 Quy trình ghi và xử lý âm thanh 23
1.8 BỐ CỤC LUẬN ÁN 28
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 29
1.1 CÁC LÝ THUYẾT VỀ LĨNH VỰC THỤ ĐẮC NGÔN NGỮ 29
1.1.1 Lý thuyết phân tích đối chiếu (Contrastive Analysis Hypothesis) 29
1.1.2 Lý thuyết phân tích lỗi (Error Analysis Theory) 31
1.1.3 Lý thuyết ngôn ngữ trung gian (Interlanguage Theory) 32
1.1.3.1 Ngôn ngữ trung gian 32
1.1.3.2 Các giai đoạn của quá trình thụ đắc ngôn ngữ đích 34
1.1.3.3 Các quá trình ngôn ngữ tâm lý của ngôn ngữ trung gian 36
1.1.4 Định hướng quy trình đánh giá năng lực phát âm tiếng Anh của sinh viên 37
1.2 NGUYÊN ÂM 43
1.2.1 Nguyên âm tiếng Việt 43
1.2.1.1 Phẩm chất của nguyên âm 43
1.2.1.2 Trường độ của nguyên âm 44
1.2.2 Nguyên âm tiếng Anh 44
1.2.2.1 Phẩm chất của nguyên âm 44
1.2.2.2 Trường độ của nguyên âm 45
1.2.3 Dự đoán các vấn đề đối với việc học nguyên âm tiếng Anh 46
1.3 PHỤ ÂM 47
1.3.1 Phụ âm tiếng Việt 47
1.3.2 Phụ âm tiếng Anh 47
1.3.3 Đặc tính phổ VOT của phụ âm tắc 47
1.3.3.1 Khái niệm VOT 47
1.3.3.2 Phân loại VOT 48
1.3.3.3 Các nghiên cứu xuyên ngôn về VOT 48
1.3.4 Đặc tính phổ CoG, StD, ZCR và các dạng sóng âm của phụ âm 49
1.3.5 Dự đoán các vấn đề đối với việc học phụ âm tiếng Anh 50
1.4 TRỌNG ÂM 52
1.4.1 Trọng âm tiếng Việt 52
1.4.2 Trọng âm tiếng Anh 53
1.4.3 Những vấn đề về trọng âm đối với người học tiếng Anh 54
Trang 81.5 NHỊP ĐIỆU 56
1.5.1 Nhịp điệu tiếng Việt 56
1.5.2 Nhịp điệu tiếng Anh 57
1.5.3 Những vấn đề về nhịp đối với người học tiếng Anh 58
1.6 TẦM ÂM VỰC 58
1.6.1 Tầm âm vực tiếng Việt 58
1.6.2 Tầm âm vực tiếng Anh 60
1.6.3 Những vấn đề về tầm âm vực đối với người học tiếng Anh 60
1.7 NGỮ ĐIỆU 61
1.7.1 Khái quát về ngữ điệu 61
1.7.1.1 Cơ sở lý thuyết về ngữ điệu 61
1.7.1.2 Nghĩa phổ quát của ngữ điệu 62
1.7.2 Ngữ điệu tiếng Việt 62
1.7.2.1 Đặc điểm của ngữ điệu tiếng Việt 62
1.7.2.2 Ngữ điệu của các loại hình câu tiếng Việt 63
1.7.3 Ngữ điệu tiếng Anh 64
1.7.3.1 Đặc điểm của ngữ điệu tiếng Anh 64
1.7.3.2 Ngữ điệu của các loại hình câu tiếng Anh 64
1.7.4 Đối chiếu ngữ điệu tiếng Việt và ngữ điệu tiếng Anh 65
1.7.4.1 Sự tương đồng về ngữ điệu giữa tiếng Việt và tiếng Anh 65
1.7.4.2 Sự khác biệt về ngữ điệu giữa tiếng Việt và tiếng Anh 66
1.7.5 Những vấn đề về ngữ điệu đối với người học tiếng Anh 67
CHƯƠNG 2 NĂNG LỰC PHÁT ÂM CÁC ĐƠN VỊ ĐOẠN TÍNH TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN MIỀN TÂY NAM BỘ 69
2.1 NĂNG LỰC PHÁT ÂM NGUYÊN ÂM TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN 69
2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu 69
2.1.2 Thực nghiệm ngữ âm học 70
2.1.2.1 Nghiên cứu phẩm chất nguyên âm 70
2.1.2.2 Nghiên cứu trường độ nguyên âm 74
2.1.3 Kết quả và thảo luận 76
2.1.3.1 Kết quả của các bước đối chiếu phẩm chất nguyên âm 76
2.1.3.2 Năng lực thể hiện phẩm chất nguyên âm tiếng Anh của sinh viên 80
2.1.3.3 Năng lực thể hiện trường độ nguyên âm tiếng Anh của sinh viên 92
2.1.4 Lỗi và biện pháp khắc phục 96
2.1.4.1 Lỗi phẩm chất nguyên âm và biện pháp khắc phục 96
2.1.4.2 Lỗi về trường độ của nguyên âm và biện pháp khắc phục 99
Trang 92.2 NĂNG LỰC PHÁT ÂM PHỤ ÂM TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN 101
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 101
2.2.2 Thực nghiệm ngữ âm học 101
2.2.2.1 Nghiên cứu đặc tính phổ VOT của phụ âm 102
2.2.2.2 Nghiên cứu đặc tính phổ CoG, ZCR, StD và dạng sóng âm của phụ âm xát và tắc-xát 103
2.2.3 Kết quả và thảo luận 107
2.2.3.1 Năng lực phát âm phụ âm tắc của sinh viên đối với VOT 107
2.2.3.2 Năng lực phát âm các phụ âm xát và tắc-xát tiếng Anh của sinh viên 110
2.2.4 Lỗi và biện pháp khắc phục 124
2.2.4.1 Lỗi và biện pháp khắc phục đối với phụ âm tắc 124
2.2.4.2 Lỗi và biện pháp khắc phục đối với phụ âm xát và tắc xát 125
CHƯƠNG 3 NĂNG LỰC THỂ HIỆN CÁC ĐƠN VỊ SIÊU ĐOẠN TÍNH TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN MIỀN TÂY NAM BỘ 133
3.1 NĂNG LỰC THỂ HIỆN TRỌNG ÂM TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN 136
3.1.1 Câu hỏi nghiên cứu 137
3.1.2 Thực nghiệm ngữ âm học 137
3.1.3 Kết quả và thảo luận 139
3.1.3.1 Xác định trọng âm các âm tiết ở hai câu đích của bản ngữ Anh (bước 1) 139
3.1.3.2 Xác định những âm tiết nhấn sai và đúng vị trí của sinh viên (bước 2) 140
3.1.3.3 Đối chiếu các âm tiết có phân bố trọng âm sai và đúng vị trí của sinh viên so với các âm tiết chuẩn của bản ngữ Anh (bước 3 và bước 4) 142
3.1.4 Lỗi và biện pháp khắc phục 152
3.2 NĂNG LỰC THỂ HIỆN NHỊP ĐIỆU TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN 155
3.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 155
3.2.2 Thực nghiệm ngữ âm học 155
3.2.3 Kết quả và thảo luận 156
3.2.4 Lỗi và biện pháp khắc phục 157
3.3 NĂNG LỰC THỂ HIỆN TẦM ÂM VỰC TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN 159
3.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 159
3.3.2 Thực nghiệm ngữ âm học 162
3.3.3 Kết quả và thảo luận 164
3.3.3.1 Tầm âm vực tiếng Anh của sinh viên 167
3.3.3.2 Quy luật biến thiên âm vực trong tiếng mẹ đẻ của sinh viên và người bản ngữ Anh 173
3.3.3.3 Mức độ năng lực thể hiện tầm âm vực trong phát âm tiếng Anh của sinh viên 174
3.3.4 Lỗi và biện pháp khắc phục 175
Trang 103.4 NĂNG LỰC THỂ HIỆN NGỮ ĐIỆU TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN 177
3.4.1 Câu hỏi nghiên cứu 177
3.4.2 Thực nghiệm ngữ âm học 179
3.4.3 Kết quả và thảo luận 180
3.4.3.1 Đường nét ngữ điệu của sinh viên 180
3.4.3.2 Năng lực thể hiện ngữ điệu của sinh viên 184
3.4.4 Lỗi ngữ điệu và biện pháp khắc phục 185
KẾT LUẬN 189
Các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao năng lực phát âm tiếng Anh cho sinh viên chuyên Anh ở miền Tây Nam Bộ 195
Những hạn chế của công trình nghiên cứu 199
Phương hướng phát triển và những đề xuất cho các công trình nghiên cứu trong tương lai 199
DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 201
TÀI LIỆU THAM KHẢO 202
PHỤ LỤC 224
Trang 11CHỮ VIẾT TẮT
And S: Câu liệt kê
BNA: Người bản ngữ Anh
BTAV: Biến thiên âm vực
CoG: Trọng tâm cân bằng phổ (Center of Gravity)
CTV: Cộng tác viên
F0: Tần số cơ bản
F1: Formant 1
F2: Formant 2
L1: Ngôn ngữ thứ nhất; SL: Ngôn ngữ nguồn
L2: Ngôn ngữ thứ hai; TL: Ngôn ngữ đích; FL: Ngoại ngữ
Li: Ngôn ngữ trung gian
MAV: Mức âm vực (Pitch Level)
NĐL: Ngữ điệu lên
NĐX: Ngữ điệu xuống
Or Q: Câu hỏi lựa chọn đóng
QAV: Quãng âm vực
RP: Tiếng Anh của người bản ngữ Anh (Received Pronunciation) S: Câu nhận định
SV: Sinh viên
StD: Độ phân tán phổ (Spectral Standard Deviation)
TA: Tiếng Anh
TAV: Tầm âm vực
TV: Tiếng Việt
VOT: Thời điểm khởi thanh (Voice Onset Time)
Wh-Q: Câu hỏi chuyên biệt
Y/N Q: Câu hỏi có/không
ZCR: Tỷ lệ biến thiên qua trục không (Zero Crossing Rate)
Trang 12tương ứng (VT: vị trí cấu âm; PT: phương thức cấu âm; TT: tính thanh) 126
CHƯƠNG 3
Bảng 3.1 Mức độ năng lực của sinh viên về phân bố trọng âm 142Bảng 3.2 So sánh nhịp điệu tiếng Anh giữa sinh viên và bản ngữ Anh 156Bảng 3.3 Tóm tắt trị trung bình của mức âm vực cao nhất - thấp nhất và quãng âm
vực rộng nhất của CTV 165Bảng 3.4 Ngữ liệu về mức âm vực và quãng âm vực của tiếng Việt và tiếng Anh
174
Trang 13DANH MỤC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU
Hình 0.1 Thiết bị ghi âm nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm 23
Hình 0.2 Phòng ghi âm nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm 23
CHƯƠNG 1 Hình 1.1 Tiến trình chuyển biến của Li (Phỏng theo [98, tr.17]) 33
Hình 1.2 Thể liên tục của hệ ngữ trung gian 34
Hình 1.3 Các quá trình dẫn đến hiện tượng thạch hóa 37
Hình 1.4 Quy trình đánh giá năng lực phát âm tiếng Anh của sinh viên 40
Hình 1.5 So sánh hai loại hình nhịp điệu [71, tr.54-55] 57
Hình 1.6 Ngữ điệu có âm vực của các đơn vị ngữ điệu xếp luân phiên với thanh điệu từ vựng 63
Hình 1.7 Ngữ điệu có âm vực của đơn vị ngữ điệu chồng lên thanh điệu 63
CHƯƠNG 2 Hình 2.1 Cách dán nhãn điểm đầu và điểm cuối của nguyên âm đích có âm vị /i:/ trên Textgrid của tập tin 0117_0601.wav 71
Hình 2.2 Cách dán nhãn điểm đầu và điểm cuối của nguyên âm có âm vị /ɪ/ 75
Hình 2.3 Phẩm chất nguyên âm tiếng Việt của nữ sinh viên đối chiếu với phẩm chất nguyên âm tiếng Anh (RP) của nữ bản ngữ Anh 77
Hình 2.4 Phẩm chất nguyên âm tiếng Anh của nam sinh viên đối chiếu với phẩm chất nguyên âm tiếng Anh (RP) của nam bản ngữ Anh 78
Hình 2.5 Tỷ lệ số sinh viên thể hiện nguyên âm Li có phẩm chất tương đồng và cận nguyên âm đích 80
Hình 2.6 Tỷ lệ sinh viên thể hiện phẩm chất nguyên âm có F1Li/F2Li tương đồng với F1L2/F2L2 tương đương của người bản ngữ Anh 81
Hình 2.7 Tỷ lệ phần trăm số nguyên âm tiếng Anh của sinh viên lệch sang nguyên âm RP không mong muốn khác 90
Trang 14Hình 2.8 Tỷ lệ SV thể hiện những cặp nguyên âm tiếng Anh với phẩm chất (F1/F2)
tương tự nhau 92Hình 2.9 Trường độ nguyên âm RP căng và chùng đứng trước phụ âm hữu thanh và
vô thanh ……….93Hình 2.10 Tỷ lệ sinh viên thể hiện nguyên âm có trường độ dài hơn trong ngữ cảnh
đứng trước phụ âm hữu thanh so với ngữ cảnh đứng trước phụ âm vô thanh 94Hình 2.11 Trị trung bình trường độ nguyên âm “a” trong âm tiết “man” của 4 từ có
số lượng âm tiết khác nhau do BNA thể hiện trong cùng đơn vị ngữ điệu 95Hình 2.12 Khuynh hướng chuyển di phẩm chất 11 nguyên âm đích của nam sinh
viên 98Hình 2.13 Các dạng sóng âm của phụ âm tiếng Anh và tiếng Việt 104Hình 2.14 Giá trị VOT phụ âm tắc giữa tiếng Anh và tiếng Việt 107
VOTL1 của nhóm bản ngữ Anh 108Hình 2.16 Thể liên tục VOT của âm tắc giữa hai ngôn ngữ 109Hình 2.17 Đối chiếu trường phổ CoG và ZCR của 7 cặp phụ âm tương tự giữa hai
ngôn ngữ 111Hình 2.18 Tỷ lệ phần trăm số sinh viên thể hiện đúng chuẩn và cận chuẩn các phụ
âm xát và phụ âm tắc-xát tiếng Anh 114Hình 2.19 Tỷ lệ số sinh viên thể hiện âm vị /θ/ và /ð/ đích là âm xát và âm tắc 116Hình 2.20 Tỷ lệ phần trăm số sinh viên thể hiện phụ âm xát “th”, âm vị /θ/ dưới các
dạng khác nhau 116Hình 2.21 Tỷ lệ phần trăm số sinh viên phát âm phụ âm xát “th”, âm vị /ð/ dưới các
dạng thể hiện khác nhau 117Hình 2.22 Các dạng thể hiện của âm vị đích /s/Li của sinh viên có giá trị CoG và
CoG và ZCR 118Hình 2.23 Các dạng thể hiện của âm vị đích /ʃ/ (TA) trên trường phổ CoG và ZCR
120
Trang 15CHƯƠNG 3
Hình 3.1 Thuộc tính phổ quát về đường nét của F0 (L: lên; X: xuống) 134Hình 3.2 Đặc trưng ngữ điệu trong mô hình đề xuất bởi Bruce và Gårding 134Hình 3.3 Cách dán nhãn, đo cao độ của 6 âm tiết trong câu nghi vấn “How did she
go to work?” của CTV có mã số 05 138Hình 3.4 Năng lực của nữ sinh viên về phân bố trọng âm 141Hình 3.5 Năng lực của nam sinh viên về phân bố trọng âm 141Hình 3.6 Biến thiên âm vực của các âm tiết nhấn sai vị trí, nhấn đúng vị trí của sinh
viên so với âm tiết chuẩn của bản ngữ Anh 151Hình 3.7 Cách tính nhịp điệu (Các âm tiết nhấn được in đậm) 155Hình 3.8 So sánh nhịp điệu tiếng Anh giữa sinh viên và bản ngữ Anh 157Hình 3.9 Cách dán nhãn cho 5 điểm mốc trong câu nhận định của CTV có mã số 01
161Hình 3.10 Cách dán nhãn cho các điểm mốc trên đường F0 162Hình 3.11 Tỷ lệ trăm số câu Li của sinh viên có ngữ điệu xuống và ngữ điệu lên167Hình 3.12 Sự khác biệt về cách biến thiên âm vực giữa âm tiết nhấn mạnh nhất và
âm tiết không nhấn yếu nhất giữa tiếng Anh và tiếng Việt 170Hình 3.13 Tỷ lệ phần trăm số câu trong ba nhóm câu Y/N Q, Wh Q và S mà sinh
viên thể hiện đúng đường nét so với người bản ngữ Anh 181Hình 3.14 Tỷ lệ phần trăm số đơn vị ngữ điệu và số câu trong nhóm câu Or Q mà
sinh viên thể hiện đúng đường nét ngữ điệu L-L-X 181Hình 3.15 Tỷ lệ phần trăm số đơn vị ngữ điệu và số câu trong nhóm câu And S mà
sinh viên thể hiện đúng đường nét ngữ điệu L-L-X 182Hình 3.16 Những câu được chọn để đối chiếu với những câu tương đương của
BNA 184
Trang 16PHẦN MỞ ĐẦU
Phần mở đầu trình bày (1) lý do chọn đề tài; (2) lịch sử nghiên cứu trên địa hạt ngôn ngữ học đối chiếu bàn về tiếp xúc và giao thoa ngôn ngữ, nêu ra những công trình tiêu biểu trên thế giới và ở Việt Nam đề cập đến năng lực phát âm, lỗi phát âm tiếng Anh của người học trên bình diện ngữ âm học thực nghiệm so sánh đối chiếu, nghiên cứu giao thoa giữa tiếng Anh với tiếng mẹ đẻ của họ; (3) mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu; (4) đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (5) ý nghĩa khoa học
và thực tiễn; (6) kho tư liệu và phương pháp nghiên cứu; và (7) và bố cục của luận án
là đội ngũ thầy cô giáo nòng cốt trong việc đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa trình độ, năng lực tiếng Anh cho nguồn nhân lực nước nhà
Thực tế cho thấy, qua các cuộc khảo sát năng lực tiếng Anh của giáo viên tiểu học, THCS và THPT, kết quả đạt chuẩn còn quá khiêm tốn, nhất là đối với kỹ năng
và thực thi, hàng tỉ đồng ngân sách đã chi ra cho công tác này, nhưng kết quả không
1 Thông tin lấy từ báo điện tử như Tin 217.com (11/6/2012) trong bài Giáo viên tiếng Anh rớt như sung rụng
trên trang mạng http://www.tin247.com/giao_vien_tieng_anh_rot_nhu_sung_rung-11-21971616.html ;
Danviet.vn (18/06/2012 19:43) trong bài Giáo viên tiếng Anh rớt như sung: Trong rủi có may trên trang mạng
http://danviet.vn/tin-tuc/giao-vien-tieng-anh-34rot-nhu-sung34-trong-rui-co-may-133679.html ; 24H.com
(27/12/2015) trong bài Giáo viên ngại học bồi dưỡng tiếng Anh trên trang mạng (Truy cập ngày 30/05/2015)
Trang 17như mong muốn Phần lớn giáo viên phải vừa học vừa dạy, thời gian bồi dưỡng lại quá ngắn; vả lại “không thể ngay lập tức các giáo viên có được phát âm chuẩn” Ngoài
ra, “chuyện tất cả giáo viên ngoại ngữ được ra nước ngoài tập huấn sẽ còn ngặt nghèo
dưỡng cho các giáo viên này đã không khả thi, huống chi để giảng dạy trực tiếp cho học sinh các cấp Với thực trạng này, việc triển khai các đề án nâng cao chất lượng dạy và học môn tiếng Anh sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là đối với Đồng bằng Sông
Một trong những “giải pháp căn bản, đột phá từ phần gốc” có thể giải đáp bài
toán hóc búa về kỹ năng “nghe - nói” cho các giáo viên tiếng Anh là nâng cao chất lượng sản phẩm chuyên Anh từ các trường Đại học trong vùng, quan tâm đến “năng
lực phát âm tiếng Anh”, vì chính lời nói của họ trong môi trường giáo dục và giao
tiếp, tác động trực tiếp đến quá trình thụ đắc về cảm thụ và tạo sản lời nói của nhiều thế hệ học trò mai sau Họ không những là lực lượng nòng cốt trực tiếp đào tạo bồi dưỡng các giáo viên tiếng Anh các cấp mà còn là lực lượng chủ đạo trong việc nâng cao tầm giao tiếp ngôn ngữ quốc tế cho nguồn nhân lực trong vùng
Do vậy, việc khảo sát, phân tích và đánh giá một cách cụ thể, chính xác, bao quát thực trạng năng lực phát âm tiếng Anh của sinh viên MTNB, nêu ra những vấn đề ngữ âm tồn tại, đề xuất các phương pháp khắc phục lỗi phát âm nhằm cải thiện chất lượng, nâng cao hiệu quả giáo dục là nhu cầu cấp thiết và có tầm chiến lược lâu dài Đây là lý do nghiên cứu đề tài “Tiếng Anh của sinh viên miền Tây Nam Bộ” và cũng chính là hoài bão của chúng tôi – những người con của “đô thị miền sông nước” – trong việc nâng cao năng lực phát âm tiếng Anh của sinh viên MTNB, góp phần đưa vùng sông nước này phát triển và thoát khỏi “danh tiếng” “vùng trũng” về giáo dục
2 Trích từ bài Nở rộ dịch vụ ‘ăn theo’ giáo viên chưa đạt chuẩn (15/08/2012, 06:18)
Truy cập trên trang mạng, ngày 30/4/2015 giao-vien-chua-dat-chuan.html
http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/83479/no-ro-dich-vu-an-theo-3 Nhận định của Phó thủ tướng chính phủ Vũ Đức Đam tại Hội nghị tổng kết phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL, giai đoạn 2011-2015 theo quyết đinh 1033 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ (trích
từ Tuổi trẻ Online, 25/09/2015, 14:34) Truy cập trên trang mạng, ngày 10/10/2015 duc/20150925/dbscl-van-la-vung-trung-ve-giao-duc/975019 html
Trang 18http://tuoitre.vn/tin/giao-Thuộc châu thổ sông Mê Kông với diện tích 40.548,2 km² (chiếm 12% diện tích
cả nước), MTNB là một trong 6 vùng kinh tế - xã hội nằm ở cực nam của đất nước
Đây là vùng văn hóa được sáp nhập cuối cùng vào văn hóa Việt Nam, tiếp nhận nhiều tộc người đến làm ăn sinh sống Với vị trí địa lý nằm trên trục giao thông của nhiều quốc gia, ba mặt giáp biển, vùng đất này từ lâu đã là nơi giao lưu, hội tụ của các nền văn minh khác nhau; và là nơi duy nhất có các tộc người thiểu số sinh sống bên cạnh người Việt Đặc trưng văn hóa ở đây là sự dung hợp văn hóa của nhiều tộc người (Việt, Hoa, Chăm, Khmer, và một số tộc người thiểu số khác) và của nhiều nền văn minh khác nhau Liệu hệ thống ngữ âm của thổ ngữ ở đây có ảnh hưởng đến cách phát âm tiếng Anh của sinh viên MTNB không? Những đơn vị ngữ âm tiếng Anh nào sinh viên phát âm tốt, những lỗi phát âm nào có thể xảy ra? Để lý giải vấn đề này, thông qua phân tích ngữ âm học thực nghiệm, phát âm tiếng Anh của mỗi sinh viên
1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Trên thế giới
Cho đến nay, trên địa hạt ngôn ngữ học đối chiếu với mục tiêu ứng dụng vào việc
(cross-linguistic) giữa các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi chỉ trình bày một số công trình tiêu biểu trên thế giới đề cập đến năng lực phát âm
4 Ngôn ngữ đích là ngôn ngữ mà người ta đang học, khác với ngôn ngữ thứ nhất hoặc tiếng mẹ đẻ của người
học Do vậy, chúng tôi sử dụng biến thể tiếng Anh RP làm chuẩn vì đây là ngôn ngữ đích được chọn để giảng dạy trong các học phần luyện giọng, ngữ âm học và âm vị học cho sinh viên ở bốn trường Đại học khảo sát Các giáo trình giảng dạy ngữ âm như Ship or Sheep [62], Sounds English A Pronunciation Book [221], English Phonetics and Phonology A Practical Coursebook [239], [240], Elements of Pronunciation [210], Introducing Phonetics and Phonology [206] có kèm CD đều sử dụng RP làm “chuẩn” để giảng dạy lý thuyết
và thực tập rèn luyện phát âm tiếng Anh cho sinh viên
Trong tự điển Concise Oxford English Dictionary, RP là ngữ giọng tiếng Anh chuẩn của Vương quốc Anh và được định nghĩa là “ngữ giọng chuẩn của tiếng Anh ở Miền Nam nước Anh” (Nguồn: Truy cập trên trang mạng, ngày 5/11/2015 https://en.wikipedia.org/wiki/Received_Pronunciation )
5 Những người bản ngữ Anh trong nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm của luận án là những CTV đến từ các tỉnh Cambridge, Oxford và Bournemouth, thuộc miền Nam nước Anh
6 Cross-linguistic: xuyên ngữ [14]
Trang 19và lỗi phát âm tiếng Anh của người học có tiếng mẹ đẻ khác nhau trên bình diện ngữ
âm học thực nghiệm so sánh đối chiếu, nghiên cứu giao thoa giữa tiếng Anh (L2) và
tiếng mẹ đẻ (L1) của họ:
Trong luận án tiến sĩ của Michael Carey [78], năng lực phát âm nguyên âm đơn tiếng Anh (Li) của 40 người Hàn học tiếng Anh - Úc được xét trên phẩm chất và
lượng Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lệch chuẩn về phẩm chất của 11 nguyên âm
Li so với giá trị đích (F1/F2) của L2 phần lớn là do chuyển di tiêu cực từ L1 (tr.114)
âm khác với tần suất lệch về phẩm chất theo thứ tự là 88%, 68 %, 68%, 53%, 43%, 35%, 31% và 25% Kết quả còn chứng tỏ rằng, tương tự như người Úc bản ngữ, các CTV này thể hiện các nguyên âm Li với trường độ dài hơn khi đứng trước phụ âm hữu thanh /d/ so với khi đứng phụ âm vô thanh /t/ Tuy nhiên, trong tiếng Hàn, 3 phụ
âm tắc /p, t, k/ và 4 phụ âm vang /l, n, m, n, ŋ/ khi đứng sau nguyên âm sẽ không tác động đến việc thay đổi trường độ của nguyên âm đứng trước chúng Hiện tượng chuyển di tiêu cực không thể hiện rõ đối với trường độ nguyên âm ở đây
Luận án tiến sĩ của Ezzeldin Mahmoud Tajeldin Ali [118] nghiên cứu lỗi phát âm
nguyên âm, phụ âm tiếng Anh của 11 sinh viên Xu-đăng có L1 là tiếng A-rập Các
nguyên âm đích được thiết kế gồm 11 từ đơn âm tiết thuộc câu chứa “Say … again” Tác giả sử dụng dữ liệu 11 nguyên âm đơn RP của nhóm đối chứng gồm 10 bản ngữ Anh ở miền Nam nước Anh (5 nữ, 5 nam) từ kết quả nghiên cứu của Deterding, 1997 [110] Những kiểu lỗi nguyên âm Li đã chứng tỏ sự tác động của hiện tượng chuyển
di từ những nguyên âm L1 (tr.133) Chẳng hạn, F1/F2 của những nguyên âm trong hai cặp nguyên âm căng/chùng /u:-ʊ/ và /ɔ:-ɔ/ có giá trị rất cận nhau trong tứ giác nguyên âm Điều này là do sinh viên thể hiện phẩm chất nguyên âm căng/chùng đích tương tự như cách tạo sản nguyên âm trong tiếng A-rập Tần suất lỗi phát âm /i:/ mà sinh viên thể hiện thấp hơn nhiều so với /e, ʌ, ɜ:, ɔ, ɑ:, u:, ɔ:, ɪ, æ/ vì L1 có âm tương đương như /i:/ trong L2 Cách mà sinh viên thể hiện trường độ của nguyên âm dài/ngắn cũng tương ứng với cách mà bản ngữ Anh thể hiện Tuy nhiên, có một số nguyên âm sinh viên phát âm với trường độ dài hơn là do ảnh hưởng của L1 Ngoài
ra, tác giả còn chỉ ra nguyên nhân của một số lỗi phát âm là do sự khác biệt về hệ thống chữ viết giữa hai ngôn ngữ như /e/ được phát âm sai thành /ɪ/ và /ɜ:/, còn /eɪ/
Trang 20thành /e/ (tr.140) Các phụ âm đích được chọn là những phụ âm tắc, xát và tắc-xát
được đặt trong từ CVC (C: phụ âm, V: nguyên âm) cũng thuộc câu chứa “Say … again” Tác giả sử dụng dữ liệu từ hai nghiên cứu thực nghiệm của những tác giả đi trước làm cơ sở đối chiếu: Dữ liệu VOT (Thời điểm khởi thanh - Voice Onset Time)
của Docherty [114] với nhóm đối chiếu gồm 5 nam bản ngữ ở miền Nam nước Anh
và dữ liệu CoG (Trọng tâm cân bằng phổ - Center of Gravity) và StD (Độ phân tán phổ - Spectral Standard Deviation) của Maniwa và cộng sự [201] với nhóm đối chiếu
là bản ngữ Mỹ Các âm tắc vô thanh và hữu thanh của sinh viên rơi vào đoạn “thanh
trễ ngắn” (short lag) của thể liên tục VOT của bản ngữ Anh, chủ yếu là do chuyển di
từ L1 Các âm xát /ð, θ, s, z/, /f, v/ và /ʃ, ʒ/ có giá trị CoG cận với nhau hơn so với dữ liệu tham chiếu chuẩn tiếng Anh Kết quả giá trị CoG âm xát của sinh viên cho thấy
sự tương ứng tương đối với kiểu hình thể hiện CoG của bản ngữ Anh Điều này có thể là do tiếng A-rập có nhiều phụ âm tương tự như trong tiếng Anh Tuy nhiên, các
âm xát của BNA có giá trị CoG cao hơn so với sinh viên (tr.158)
Enli [117] nghiên cứu quá trình tạo sản phụ âm và nguyên âm tiếng Anh của 50 người Trung Quốc nói tiếng Quan Thoại Tác giả kết luận rằng, nhóm người này gặp khó khăn khi phát âm phụ âm xát răng /θ/ và /ð/ vì chúng không tồn tại trong tiếng Quan Thoại và họ có khuynh hướng thay thế hai âm này bằng /s/ và /z/ Do không có hình thức số nhiều trong tiếng Quan Thoại nên cách phát âm /s/, /z/ và /ɪz/ ở cuối danh từ số nhiều cũng là trở ngại lớn Lỗi phát âm nguyên âm của họ có tần suất cao đối với /i:/, /ɪ/, /e/, /u:/, /aʊ/ và /eə/
Trên phương diện siêu đoạn tính, đã có những công trình nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm như sau:
Luận án tiến sĩ của McGory [202] bàn về thụ đắc trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh
(L2) của hai nhóm người học có L1 là tiếng Quan thoại và tiếng Hàn Kết quả thực nghiệm chứng tỏ rằng ngữ điệu tiếng Anh của người Hoa và người Hàn chịu tác động
từ tiếng mẹ đẻ của họ Đối chiếu F0 chỉ ra rằng bản ngữ Anh tạo ra những kiểu F0 nhất quán với các kiểu dấu nhấn giọng trong câu hỏi và câu nhận định và họ nhấn giọng
họ tạo ra những âm tiết mang trọng âm với giá trị âm vực cao hơn những âm tiết
Trang 21không mang trọng âm trong cả hai nhóm từ nổi bật và từ không nổi bật Đối chiếu
trường độ còn chứng tỏ rằng so với chủ ngôn Hoa, chủ ngôn Hàn gặp khó khăn hơn
trong việc thụ đắc kiểu rút ngắn âm tiết không nhấn và chiến lượt rút ngắn của họ giới hạn ở vị trí ở những âm tiết không nhấn trong một từ
Luận án tiến sĩ của Nguyen Thị Anh Thư [217] chứng tỏ rằng người Việt học
tiếng Anh (L2) ở Úc có khuynh hướng chuyển di các thuộc tính trọng âm và nhịp
điệu từ L1 vào L2 Để thể hiện sự tương phản của trọng âm, người bản ngữ Anh kết
hợp cả 4 tham số âm học: cao độ, cường độ, trường độ và phẩm chất nguyên âm Trái lại, chủ ngôn Việt chủ yếu dựa vào cao độ và cường độ và đây là hệ quả của sự chuyển
di từ thanh điệu tiếng Việt Chuyển di kiểu nhịp điệu định thời gian theo âm tiết từ L1 sang L2 còn thấy rõ ở chỗ người học không nén đủ trường độ lại cho từ đa âm tiết
để giữ nhịp, giảm trường độ không đủ cho những âm tiết không mang trọng âm và sử dụng kiểu ngắt giọng không phù hợp ở ranh giới từ
Luận án tiến sĩ của Urbani Martina [274] nghiên cứu tầm âm vực (TAV) tiếng Anh của người Ý Với phương pháp ngữ âm thực nghiệm, tác giả đối chiếu mức âm vực (MAV) và quãng âm vực (QAV) trong phát ngôn 5 câu của bài đọc “The Little Price” của nhóm 8 CTV người Ý (tiếng Anh L1 và tiếng Ý L2) (4 nữ, 4 nam) với
MAV và QAV tương đương của nhóm 8 CTV người Mỹ (tiếng Anh - Mỹ L1) (4 nữ,
4 nam) (tr.161) Kết quả chứng tỏ rằng so với chủ ngôn Mỹ, những câu tiếng Anh mà chủ ngôn Ý thể hiện có QAV hẹp hơn Theo tác giả, có hai lý do chính Thứ nhất, bất
kể bản chất của ngôn ngữ nào đi nữa, đặc trưng trong phát ngôn L2 là luôn có khuynh hướng thể hiện TAV hẹp hơn so với phát ngôn L1 Thứ hai, người Ý học tiếng Anh chịu ảnh hưởng của L1 và họ chuyển di phương thức biến thiên TAV từ L1 của họ vào L2 (tr.222) Bên cạnh L1, giới tính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phân
do những yếu tố tâm sinh lý và văn hóa xã hội Nữ chủ ngôn Ý có thể tiếp cận mô hình ngôn điệu của nữ chủ ngôn Mỹ bằng cách tăng QAV lên Trong khi đó, chủ ngôn nam Ý đã không sử dụng chiến lược này; QAV trong tiếng Anh của họ còn hẹp hơn QAV trong tiếng mẹ đẻ Biến thiên TAV của chủ ngôn Ý còn được xét trên những loại hình câu khác nhau Nghiên cứu đối chiếu tạo sản này được thực hiện đối với phát ngôn 15 câu tiếng Anh (5 câu Y/N Q; 5 câu Wh-Q và 5 câu S) do 10 nữ chủ
Trang 22ngôn Mỹ và 10 nữ chủ ngôn Ý đọc ít nhất hai lần Kết quả cho thấy so với nữ chủ ngôn Mỹ, tất cả 3 loại hình câu mà nữ chủ ngôn Ý thể hiện đều có MAV cao hơn và
với Wh-Q và S của nữ chủ ngôn Mỹ dịch chuyển xuống thấp hơn ở cuối đơn vị ngữ điệu hơn Tuy nhiên, trong 3 loại hình câu, chỉ có loại hình Y/N Q có giá trị MAV và QAV tương tự nhau giữa hai nhóm chủ ngôn Mỹ và chủ ngôn Ý
Aoyama và Guion [57] nghiên cứu trọng âm và tầm âm vực của người Nhật học
tiếng Anh Dựa vào kết quả phân tích phát ngôn đọc (10 cụm từ/câu theo mẫu) của
64 CTV (32 người Nhật và 32 người Mỹ) hai tác giả đã kết luận: So với chủ ngôn Mỹ bản ngữ, chủ ngôn Nhật thể hiện trường độ tuyệt đối của các âm tiết và các phát ngôn trong tiếng Anh dài hơn; sử dụng TAV rộng hơn trong các câu đích; và nới rộng TAV
ở các từ nội dung (content words) hơn Ngoài ra, họ không thể rút ngắn trường độ của các từ chức năng (function words) như người Mỹ bản ngữ Điều này là do chuyển di tiêu cực từ kiểu “nhịp điệu định thời gian theo phách (mora-timed) trong tiếng mẹ đẻ
của họ Đối với người Nhật, biến thiên của âm vực là phương thức chủ yếu để thể
hiện trọng âm tiếng Anh Ngoài ra, đã có một số bài báo có liên quan đến vấn đề này như Yeou [291] nghiên cứu về trọng âm và trường độ nguyên âm cho người Ma-rốc học TA, có L1 là tiếng A-rập; Verdugo [276] nghiên cứu về trọng âm chủ trên cơ chế trọng âm và tầm âm vực cho người Tây Ban Nha học tiếng Anh
1.2.2 Ở Việt Nam
Ngôn ngữ học đối chiếu nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ và giao thoa ngôn ngữ là lĩnh vực khá mới mẻ và là một vùng đất có nhiều tiềm năng khai phá ở Việt Nam Những nhà ngôn ngữ học đi đầu trong lĩnh vực này như Bùi Khánh Thế [36], [37], [38], [39], Phan Ngọc và Phạm Đức Dương [29], Lê Quang Thiêm [41], [42], [43], Trần Trí Dõi [8], [9] Nhà ngôn ngữ học tiên phong trong việc giới thiệu, đề ra những
cơ sở lý thuyết cho ngôn ngữ học đối chiếu ở Việt Nam có thể kể đến là Lê Quang Thêm [43] Tác giả đã đưa ra những tiền đề lý luận, nguyên tắc, phương pháp và thủ pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học đối chiếu và xem nó là một phân môn của ngôn ngữ học Công trình thứ hai đáng kể đến là “Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ” của Nguyễn Thiện Giáp [12] Tác giả đã giới thiệu một cách
hệ thống các phương pháp luận bắt nguồn từ những trường phái ngôn ngữ khác nhau
Trang 23và trình bày một cách khoa học, chi tiết các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, trong
đó có phương pháp nghiên cứu so sánh - đối chiếu Cho đến nay, đa phần các nghiên
cứu trong địa hạt này thiên về hướng phân tích lỗi của người học tiếng và có thể quy
về hai hướng nghiên cứu chính
1.2.2.1 Nghiên cứu lỗi của người học trong sự tiếp xúc, giao thoa giữa hai ngôn
ngữ là tiếng Việt và tiếng dân tộc
Hướng nghiên cứu này chủ yếu ứng dụng vào việc dạy và học tiếng Việt cho người dân tộc Tiêu biểu là các công trình của Bùi Khánh Thế [36], [37], [39], [40]
Từ góc nhìn quan hệ giữa các ngôn ngữ, tác giả đã đưa ra lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ
và những vấn đề song ngữ cơ bản nhất ở Việt Nam
Trên bình diện nghiên cứu lỗi phát âm tiếng Việt của người dân tộc và hiện tượng
giao thoa ngữ âm - âm vị học, đã có một số công trình nghiên cứu Chẳng hạn, Nguyễn
Văn Lợi [24] đề cập đến hiện tượng giao thoa này trong điều kiện song ngữ Hmông
- Việt; Đoàn Văn Phúc [30] đề xuất việc dạy phát âm tiếng Việt cho học sinh dân tộc
phía Nam trên cơ sở so sánh ngữ âm tiếng Việt - dân tộc
Luận án tiến sĩ của Phùng Thị Thanh [35] khảo sát lỗi phát âm âm tiết, thanh điệu, âm đầu và vần tiếng Việt của học sinh Hmông Dựa vào những tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống ngôn ngữ, tác giả đưa ra bốn nguyên nhân chính gây ra
lỗi phát âm: lỗi giao thoa dưới mức khu biệt, lỗi giao thoa trên mức khu biệt, lỗi giao
thoa tái thuyết sự khu biệt và lỗi giao thoa thay thế âm tố Trên cơ sở các kiểu giao
thoa tác giả đề xuất những biện pháp khắc phục lỗi tiếng Việt cho học sinh Hmông Vấn đề dạy và học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số còn được một số tác giả đề cập đến như Trương Văn Sinh [33], Hà Quang Năng [28], Nguyễn Thị Huệ [17], và Đinh Lư Giang [10] Chẳng hạn, Hà Quang Năng [28] nghiên cứu vấn đề dạy
và học tiếng Việt cho học sinh dân tộc ở bậc tiểu học Đinh Lư Giang [10] nghiên cứu hiện tượng giao thoa và lỗi phát âm của người Khmer nói tiếng Việt và học sinh
dân tộc Khmer viết tiếng Việt ở Đồng bằng Sông Cửu Long Hiện nay, hướng đi này
còn nhiều khoảng đất trống cho các nhà ngôn ngữ học và các nhà giáo dục tập trung nghiên cứu và đề xuất thực tiễn cho chính sách ngôn ngữ, chính sách giáo dục song ngữ và một số giải pháp cho việc dạy và học tiếng Việt và tiếng dân tộc nhằm nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số
Trang 241.2.2.2 Nghiên cứu lỗi của người học trong sự tiếp xúc, giao thoa giữa hai ngôn
ngữ là tiếng Việt và tiếng nước ngoài
Đây là lĩnh vực ngày càng được nhiều tác giả quan tâm Lỗi của người học ngoại ngữ và cách chữa lỗi đã được nghiên cứu trên hầu hết các bình diện của ngôn ngữ
(1) Nghiên cứu lỗi trên bình diện từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thiện Nam [27] nghiên cứu lỗi ngữ pháp tiếng Việt
của người nước ngoài Tác giả đã phân loại lỗi ngữ pháp của ba nhóm sinh viên (Khơ
me, Anh, Nhật) thành hai loại lỗi chính: lỗi tự ngữ đích (lỗi chung) và lỗi giao thoa (lỗi riêng) trên cơ sở áp dụng lý thuyết phân tích lỗi của Corder [94], [98] Theo tác giả, khảo sát lỗi là tìm nguyên nhân của quá trình phạm lỗi để làm rõ hơn tiến trình người học thụ đắc tiếng Việt như một ngoại ngữ và trong chừng mực nhất định, hướng tới khắc phục lỗi, giúp việc dạy và học đạt kết quả tốt hơn
Trên góc độ giao thoa ngôn ngữ - văn hóa, luận án tiến sĩ của Phạm Đăng Bình
[1] nghiên cứu các lỗi đặc trưng trong diễn ngôn tiếng Anh của người Việt và gợi ý cách khắc phục lỗi cho học sinh, giáo viên và những người làm công tác phiên dịch
Điểm mới của công trình là cách phân loại lỗi từ góc độ dụng học giao tiếp giao thoa
ngôn ngữ - văn hóa cho tất cả các đối tượng học ngoại ngữ, bất kể tiếng mẹ đẻ của
họ Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu về hệ ngữ trung gian và các chiến lược học tiếng
Trên góc độ nghiên cứu hành vi ngôn ngữ phê phán, Nguyễn Thủy Minh [25] đã
xác định rõ hiện tượng chuyển di tiêu cực trong các phát ngôn phê phán bằng tiếng Anh của ba nhóm người học (sơ cấp, trung cấp và cao cấp) đối với cả tần suất sử dụng
và hình thức biểu đạt ngôn ngữ Tác giả còn đề cập đến các yếu tố tâm lý, nhận thức, ảnh hưởng đến việc chuyển di của người học
Luận án tiến sĩ của Đỗ Minh Hùng [18], trên cơ sở lý thuyết ngôn ngữ trung gian,
đã phân loại lỗi ngữ pháp tiếng Anh theo nguyên nhân phạm lỗi và biểu hiện tính
chất lỗi Với khung mô hình lỗi do dùng thừa, dùng thiếu và dùng nhầm, tác giả khảo
sát lỗi ở ba bộ phận là giới từ, mạo từ và thì của sinh viên chuyên Anh năm thứ nhất
và thứ hai ở bốn trường Đại học qua 2.000 bài thi, kiểm tra, thực hành viết
Trang 25Luận án tiến sĩ của Nguyễn Linh Chi [5] nghiên cứu lỗi từ vựng và ngữ pháp của
người nước ngoài học tiếng Việt Đối tượng nghiên cứu là học viên có trình độ sơ cấp
và trung cấp học tại Trung tâm tiếng Anh chuyên ngành, Trung tâm tiếng Việt, Đại học Hà Nội và Đại học Wisconsin ở Mỹ Tác giả nêu ra nguồn gốc gây ra lỗi, các kiểu lỗi và đề xuất các giải pháp chữa lỗi
Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ cũng đề cập đến vấn đề này: Lê Xảo Bình [2],
Lê Thị Nguyệt Minh [26] nghiên cứu lỗi sử dụng từ ngữ tiếng Việt của học viên Trung Quốc Đinh Lê Huyền Trâm [49] khảo sát lỗi từ vựng và lỗi ngữ pháp của sinh viên Lào và Campuchia học tiếng Việt Vũ Hoàng Phương Loan [23] nghiên cứu lỗi
ngữ pháp tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu lỗi trên các bình diện này đa phần đặt nền
tảng trên “lý thuyết phân tích lỗi”, nổi bật nhất là của tác giả Nguyễn Thiện Nam [27] Điểm nhấn trong cách phân tích lỗi mới ở đây là hướng tiếp cận quan điểm “hệ
ngữ trung gian” và “chiến lược học tiếng” của tác giả Đỗ Minh Hùng [18] Tuy
nhiên, những công trình của các tác giả trên thiên về phân tích lỗi, chưa hướng nghiên cứu sâu vào năng lực thể hiện đúng các đơn vị ngôn ngữ đích của người học
(2) Nghiên cứu về lỗi ngữ âm - âm vị
(2.1) Nghiên cứu về lỗi ngữ âm - âm vị của người nước ngoài học tiếng Việt
Trên cơ chế song ngữ, Nguyễn Văn Phúc [31] đã sử dụng băng từ tính ghi âm phát ngôn đọc và nói của 50 sinh viên Anh và Mỹ học tiếng Việt ở Hà Nội từ năm
thứ nhất đến năm thứ ba Việc khảo sát, thống kê và phân tích các kiểu lỗi ngữ âm của các CTV được tiến hành trên cơ sở kết hợp thính giác chủ quan của một người bản ngữ và kinh nghiệm của một người dạy tiếng Việt thực hành Lỗi phát âm được xác định là “những khiếm khuyết trong phát âm của người có ngôn ngữ thứ nhất” là tiếng Anh “bị người nghe có giọng Bắc hay giọng Hà Nội phản ứng tiêu cực cho là
giọng xa lạ” Tác giả cho rằng giao thoa dẫn đến lỗi trên âm tiết (gồm kết hợp thanh điệu, chia tiết nhịp, ngữ điệu) và lỗi trong âm tiết (gồm lỗi thanh điệu, lỗi chân dung
âm vị, lỗi về biến thể chân dung âm vị, lỗi về kết nối các thành phần cấu trúc âm tiết)
Trang 26Giải pháp khắc phục lỗi được thực hiện theo hướng kiện toàn đồng bộ qua các bước: Phát hiện lỗi, định vị lỗi, phân tích lỗi, khắc phục lỗi, kiểm tra kết quả khắc phục lỗi
(2.2) Nghiên cứu về lỗi ngữ âm - âm vị của người Việt học ngoại ngữ
Trong xu thế giao lưu hội nhập quốc tế, những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Qua khảo sát hiện tượng chuyển di ngôn ngữ từ tiếng Việt sang tiếng Hán, Lê Văn Trung [50, tr.129] đã kết luận rằng sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ là nguyên nhân chủ yếu gây ra lỗi phát âm tiếng Hán của người Việt Lỗi phát âm tiếng Nhật của người Việt cũng được Phạm Thu Hương [20] đề cập trong luận văn thạc sĩ, thực hiện ở trường Đại học Hà Nội
Trong lĩnh vực nghiên cứu phát âm của người Việt học ngoại ngữ, lỗi ngữ âm -
âm vị tiếng Anh là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm chính do tầm quan trọng của ngôn ngữ quốc tế này trong quá trình giao lưu hội nhập Đây cũng chính là vấn đề có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi
Nghiên cứu về lỗi ngữ âm - âm vị của người Việt học tiếng Anh
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu phát âm tiếng Anh của người Việt, nhưng chỉ tập trung nghiên cứu lỗi phát âm đối với một hay vài đơn vị ngôn ngữ đích trong cùng một hệ thống phân loại là đoạn tính (như nguyên âm, phụ âm) hay siêu đoạn tính (như trọng âm, nhịp điệu, ngữ điệu) mà thôi
Trang 27Hai công trình nghiên cứu tiêu biểu về lỗi phát âm các đơn vị đoạn tính tiếng Anh
của người học có thể kể đến như sau:
Dương Thị Nụ [116] sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu hệ thống phụ âm tiếng Anh và tiếng Việt để nghiên cứu lỗi phát âm bốn phụ âm tiếng Anh /ʃ, ʒ, tʃ, dʒ/ Tác giả cho rằng lỗi phát âm, sai về vị trí cấu âm và phương thức cấu âm của bốn phụ
âm này là do người học thiếu kiến thức về cách phát âm và nhất là do ảnh hưởng tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ
Lê Thanh Hòa [16] nghiên cứu lỗi phát âm phụ âm và nguyên âm tiếng Anh của
14 sinh viên (2 nam, 12 nữ) chuyên Anh thuộc trường Đại học Đồng Nai Điểm mới trong luận án tiến sĩ của tác giả là nghiên cứu các lỗi đoạn tính này qua quá trình học
ở bậc đại học Dựa trên kết quả phân tích lỗi qua bốn năm liên tục, tác giả đã chỉ ra một số kiểu lỗi phát âm của các đơn vị đoạn tính tiếng Anh điển hình và đề xuất một
số biện pháp khắc phục Trong quá trình xây dựng tư liệu nghiên cứu, tác giả đã tiến hành ghi âm phát ngôn của CTV Tuy nhiên, tác giả chỉ sử dụng “phương pháp quan sát cảm thụ chủ quan của người nghiên cứu về các đặc trưng và nét khu biệt ngữ âm
- âm vị học giữa hai ngôn ngữ Việt - Anh để đánh giá lỗi”, kết hợp so sánh với các
“kết quả nghiên cứu ngữ âm - âm vị học tiếng Việt và tiếng Anh của tác giả đi trước”
[16, tr.3] Nói cách khác, lỗi phụ âm và nguyên âm trong phát âm tiếng Anh của sinh
viên được tác giả thẩm nhận và đánh giá dựa vào “thang đánh giá” với khung 5 bậc
sai, tạm chấp nhận, trung bình, khá và đúng, chứ không dựa vào các tham số âm học
được phân tích và truy xuất từ các phần mềm chuyên dụng như Praat hay Speech
Analyzer Đây là điểm khác biệt so với các nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm của
các tác giả khác như Michael Carey [78], Ezzeldin Mahmoud Tajeldin Ali [118] Ngoài ra, nhằm nâng cao hiệu quả phát âm một số đơn vị đoạn tính tiếng Anh nào đó cho người học trên địa bàn, tùy vào mục tiêu nghiên cứu, đã có khá nhiều tác giả đã hướng đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình vào các âm vị đoạn tính này và đưa ra một số giải pháp khắc phục Chẳng hạn, Lê Thanh Tú [187] đưa ra cách sử dụng các cặp từ tối thiểu để dạy những âm tiếng Anh riêng biệt cho sinh viên không chuyên Anh ở Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn
Trang 28Tấn Lộc [216] hướng nghiên cứu vào giảng dạy phụ âm xát tiếng Anh cho sinh viên
không chuyên Anh cũng ở trường đại học này Nguyễn Đình Luật [215] đã đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả dạy phát âm đối với các nguyên âm đơn Phạm Thị Tú Hằng [227] nghiên cứu phát âm của sinh viên Trường Đại học Hà Tỉnh đối với 5 phụ âm cuối tiếng Anh /s, tʃ, ð, t, p/, từ đó nêu ra những khó khăn trong phát
âm, nguyên nhân gây ra lỗi và biện pháp sửa lỗi Tác giả đã nêu ra những vấn đề khó khăn trong phát âm và một số giải pháp giúp sinh viên phát âm tốt hơn Vũ Thị Lan
Phương [279] đề cập đến cách giảng dạy hai phụ âm /s, z/ Tác giả đã nêu ra những
khó khăn trong việc phát âm hai phụ âm này và đề ra một số biện pháp khắc phục cho sinh viên chuyên Anh ở Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang
Trên bình diện nghiên cứu lỗi phát âm đối với các đơn vị siêu đoạn tính tiếng Anh, đến nay đã có hai công trình nghiên cứu ngữ âm thực nghiệm tiêu biểu sau:
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Huy Kỷ [22] nghiên cứu ngữ điệu tiếng Anh của sinh
viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội và đưa ra một số biện pháp khắc phục lỗi Ngoài các phương pháp nghiên cứu chính, như điều tra điền dã, khảo sát sư phạm, miêu tả, phân tích và tổng hợp, tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm nhưng chỉ với “tư cách là phương tiện bổ trợ” Tác giả đề xuất ba mức thể hiện ngữ điệu tiếng Anh của người Việt: (1) Mức lý tưởng là ngữ điệu đúng với tiếng
Anh chuẩn (ngữ điệu Anh - Anh); (2) mức chuẩn thực tế là ngữ điệu tiếng Anh có thể chấp nhận được (ngữ điệu Anh - Việt); và (3) mức phi chuẩn (lỗi ngữ điệu)
Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thanh Diệu [7] sử dụng phương pháp thực nghiệm
ngữ âm học để khảo sát cách phát âm trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh của sinh viên Việt Trọng âm từ (2 - 3 âm tiết) và trọng âm ngữ đoạn của sinh viên được phân tích thông qua hai tham số âm học là cường độ và cao độ Đối với ngữ điệu, tác giả cũng
sử dụng hai tham số này để đo trung bình hiệu số cường độ giữa đỉnh âm tiết chủ và đỉnh âm tiết cuối và hiệu số cao độ giữa âm tiết cuối và âm tiết chủ của hai câu phức
7 Tác giả luận án [7] sử dụng ba câu phức đích: Hai câu nhận định có ngữ điệu xuống cuối câu: “I was wondering
if it was possible to join the library” và “You can always renew item if they’re not required by anyone else by
Trang 29cuối câu Tác giả miêu tả các kiểu lỗi trọng âm và ngữ điệu và đưa ra một số giải pháp khắc phục lỗi phát âm đối với hai đơn vị siêu đoạn tính này
Ngoài ra, việc nghiên cứu lỗi và đề xuất các giải pháp ứng dụng dạy và học tiếng Anh đối với một đơn vị siêu đoạn tính riêng lẻ nào đó cũng được đề cập đến ở một
số luận văn thạc sĩ Tác giả Phan Thị Lan Anh [228] nghiên cứu và đề xuất cách dạy
trọng âm cho sinh viên chuyên Anh năm nhất ở Trường Đại học Nông Lâm Để nâng
cao hiệu quả trong việc thể hiện trọng âm, Hồ Ngọc Trâm [157] cũng đã đưa ra một
số biện pháp dạy âm schwa /ə/ tiếng Anh cho sinh viên chuyên Anh cũng ở trường Đại học này Đỗ Anh Thư [111] nghiên cứu lỗi thể hiện nhịp điệu tiếng Anh và nêu
ra một số nguyên nhân gây ra lỗi của sinh viên năm nhất ở trường Đại học Tôn Đức
Thắng Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số chiến lược dạy nhịp điệu tiếng Anh
Khảo sát lỗi ngữ điệu tiếng Anh của người học có lẽ là đề tài được nhiều tác giả quan tâm hơn cả Chẳng hạn, Lại Thị Thủy Tiên [184] hướng nghiên cứu vào việc
dạy ngữ điệu đối với loại câu hỏi có/không (Yes/No Question) và câu hỏi chuyên biệt
(Wh-Question) cho sinh viên không chuyên Anh ở trường Đại học Văn Hiến Trần
Thị Thu Giang [271] nghiên cứu những khó khăn trong việc dạy ngữ điệu cho học
sinh trường THPT Yên Viên, Hà Nội Hà Cẩm Tâm [146] nêu ra những khó khăn
trong việc học ngữ điệu tiếng Anh của học sinh THPT Phan Đình Phùng, Hà Nội Những lỗi thể hiện ngữ điệu và biện pháp chữa lỗi cho sinh viên chuyên Anh ở Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cũng là chủ đề quan tâm của Hoàng Thị Nhất Tâm [158] và Đặng Hoài Phương [105]
Mặc dù đã có khá nhiều công trình thực nghiệm ngữ âm học, nghiên cứu quá trình tạo sản tiếng Anh của người học đến từ nhiều quốc gia khác nhau, tuy nhiên, hiện nay số lượng công trình nghiên cứu phát âm tiếng Anh (Li) của người Việt học tiếng Anh trên cơ sở đối chiếu cả ba ngôn ngữ với nhau (Li: tiếng Anh của người Việt; L2: tiếng Anh của người bản ngữ Anh ở miền Nam Vương quốc Anh; L1: tiếng
Trang 30mẹ đẻ của người Việt) vẫn còn là con số khá khiêm tốn Nhất là chưa có công trình
“đúng chuẩn” và “lệch chuẩn” đối với các đơn vị ngôn ngữ đích thuộc hai cấp độ đoạn tính và siêu đoạn tính bao gồm nguyên âm, phụ âm, trọng âm, nhịp điệu, tầm
âm vực và ngữ điệu trên cơ sở đối chiếu với tiếng Anh của người bản ngữ Anh đương đại và trên kết quả đối chiếu giữa RP chuẩn này với tiếng Việt ở MTNB Đây chính
là những vấn đề mà chúng tôi tập trung nghiên cứu trong luận án
1.3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1.3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án có hai mục đích sau:
- Đánh giá năng lực phát âm tiếng Anh của sinh viên đối với các đơn vị đoạn tính
và siêu đoạn tính trên hai phương diện “đúng chuẩn” và “lệch chuẩn”
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực phát âm tiếng Anh cho sinh viên MTNB trên cơ sở phân tích lỗi phát âm của họ đối với các đơn vị đoạn tính
và siêu đoạn tính đích
8 Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm nào đi sâu phân tích định lượng năng
lực phát âm tiếng Anh của sinh viên Việt đối với nguyên âm, phụ âm đầu; tầm âm vực; và ngữ điệu dạng câu đơn đối với 5 loại hình câu: Y/N Q; Wh-Q; S; Or Q; And S thông qua các tham số âm học (phụ âm: VOT, CoG, ZCR, StD; tầm âm vực: mức âm vực F 0 , quãng âm vực F 0; ngữ điệu: biến thiên âm vực F 0 ) Đây là hướng
đi mới của chúng tôi
Ngoài ra, cách tiếp cận nghiên cứu ngôn điệu (trọng âm, nhịp điệu và ngữ điệu) của chúng tôi cũng có những điểm khác với những nghiên cứu của các tác giả đi trước: Chúng tôi sử dụng 4 tham số âm học (cao độ, trường độ, cường độ và biến thiên âm vực) để đo trọng âm (Trong khi đó, các tác giả khác chỉ sử dụng 2 hay 3 tham số Chẳng hạn, Trần Thị Thanh Diệu [7] sử dụng 2 tham số là cường độ và cao độ) Trong quá trình phân tích, chúng tôi không xét trọng âm ở các từ đứng riêng lẻ, hay chỉ ở một từ đích nào đó trong câu Trái lại, chúng tôi phân tích và lượng hóa nó thông qua cả 4 tham số âm học trong mối tương quan với tất cả các từ trong câu Từ những kết quả số liệu thống kê của 4 tham số này, chúng tôi đề ra một số biện pháp nâng cao năng lực phát âm hay hạn chế những lỗi thể hiện trọng âm trong phát ngôn của sinh viên trên hai cấp độ âm vị học và ngữ âm học
Chúng tôi phân tích nhịp điệu song hành với phân tích trọng âm Nhịp điệu được đánh giá trong mối tương quan với trọng âm trong cùng phát ngôn của mỗi sinh viên
Ngữ điệu tiếng Anh được đánh giá trên cả 3 mô hình: ngữ điệu lên, ngữ điệu xuống ở cuối câu đơn đối với
3 loại hình câu Y/N Q; Wh-Q; S; và ngữ điệu lên-lên-xuống đối với 2 loại hình câu Or Q; And S
Trang 311.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án nhằm trả lời cho 3 câu hỏi sau:
(1) Năng lực phát âm nguyên âm và phụ âm tiếng Anh của SV miền Tây Nam Bộ
như thế nào? Nguyên nhân nào chi phối các kiểu lỗi của hai đơn vị đoạn tính này và cách lý giải ra sao? Cần đề xuất những biện pháp khắc phục lỗi nào?
(2) Năng lực thể hiện trọng âm, nhịp điệu, tầm âm vực và ngữ điệu trong phát ngôn
tiếng Anh của SV ra sao? Nguồn gốc nào gây ra các kiểu lỗi siêu đoạn tính này
và cách lý giải như thế nào? Giải pháp khắc phục lỗi nên theo định hướng nào? (3) Những quy luật (hay khuynh hướng) chung nào có thể rút ra từ kết quả đánh giá năng lực phát âm tiếng Anh của sinh viên trên hai bình diện “đúng chuẩn” và
“lệch chuẩn” Có thể đề xuất các giải pháp nào cho chương trình đào tạo nhằm
nâng cao năng lực phát âm tiếng Anh cho SV miền Tây Nam Bộ?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát âm tiếng Anh của sinh viên miền Tây
Nam Bộ, cụ thể là nghiên cứu năng lực phát âm các đơn vị đoạn tính và siêu đoạn
tính tiếng Anh
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn ở các đơn vị (1) đoạn tính (12 nguyên
âm đơn /i:, ɑ:, ɔ:, u:, ɜ:, ɪ, e, æ, ʌ, ɒ, ʊ; ə/ và 16 phụ âm đầu: 6 phụ âm tắc /p, b, t, d,
k, ɡ/, 8 phụ âm xát /f, v, θ, ð, s, z, ʃ, ʒ/ và 2 phụ âm tắc-xát /tʃ, dʒ/) và (2) siêu đoạn
tính (trọng âm: nghiên cứu vị trí trọng âm và các tham số trọng âm; nhịp điệu: nghiên
cứu trung bình tỷ lệ nhịp trong câu; tầm âm vực: nghiên cứu quy luật biến thiên âm vực trong tiếng mẹ đẻ của SV và BNA, nghiên cứu MAV và QAV; và ngữ điệu:
nghiên cứu đường nét ngữ điệu và biến thiên âm vực của ba mô hình ngữ điệu lên,
xuống và lên-lên-xuống) trong phát âm TA của SV đến từ 13 tỉnh thành MTNB và
đang học năm thứ ba ở bốn trường đại học trong vùng (Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Đồng Tháp, Trường Đại học Cần Thơ và Trường Đại học Trà Vinh)
Trang 32Các đơn vị này được so sánh đối chiếu với các đơn vị tương đương trong phát âm
RP của các cộng tác viên BNA (đến từ miền Nam nước Anh) Ngoài ra, chúng tôi còn phân tích một số thuộc tính đặc trưng của các đơn vị này thông qua đối chiếu với một số thuộc tính tương đương trong phát âm TV của SV
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
- Với sự trợ giúp của thiết bị ghi âm chuyên dụng và các phần mềm phân tích âm tích hợp với máy vi tính, kết quả phân tích ngữ âm học thu được đã cho phép chúng tôi có cái nhìn “khách quan” và “định lượng” về năng lực phát âm TA của SV Nhờ vào việc khảo sát vừa chi tiết vừa bao quát nên năng lực của họ có thể được đánh giá một cách chính xác và đầy đủ hơn Tính bao quát ở đây là do việc khảo sát được thực hiện trên hai bình diện “đúng chuẩn” và “lệch chuẩn” của các đơn
vị ngôn ngữ đích thuộc cả hai cấp độ đoạn tính (nguyên âm, phụ âm) và siêu đoạn tính (tầm âm vực, ngữ điệu, trọng âm và nhịp điệu) Còn tính cụ thể là do hướng nghiên cứu của luận án đi sâu vào phân tích định lượng các tham số âm học như
điểm khởi thanh (VOT - Voice Onset Time), trọng tâm cân bằng phổ (CoG - Center
of Gravity), hay tỉ lệ biến thiên qua trục không (ZCR - Zero Crossings Rate) của
mỗi đơn vị ngôn ngữ Do vậy, chúng tôi có thể phát họa một bức tranh toàn cảnh
về năng lực phát âm tiếng Anh của SV, chấm phá được những điểm mạnh và điểm
yếu của họ, đúc kết những quy luật cơ bản về lỗi phát âm của SV và đề ra một số biện pháp khắc phục
- Qua đối chiếu phát âm TA (Li) của SV với phát âm TA chuẩn (L2) của BNA và
với phát âm TV (L1), luận án góp phần làm rõ hơn diện mạo hệ thống ngữ âm -
âm vị học của phương ngữ Nam bộ và của hệ ngữ RP đương đại
- Nghiên cứu còn cung cấp kho tư liệu (corpus) tương đối đầy đủ, với dung lượng của các tập tin ghi âm lưu trữ trên 100 giờ phát ngôn tiếng Anh và tiếng Việt Do
vậy, tư liệu của luận án có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các
nghiên cứu thực nghiệm ngữ âm học khác trong tương lai; cho người Việt học TA
ở miền Trung, miền Bắc và cho người nước ngoài học TV
Trang 331.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở luận chứng cho hướng tiếp cận mới đối
với những nhà thiết kế giáo trình ngữ âm dành cho SV MTNB nói riêng và người
Việt nói chung Nếu cơ sở dữ liệu (database) về các thông số của những đặc trưng
âm học thuộc hệ ngữ RP (ngoại ngữ đích) được đưa vào chương trình dạy ngữ âm, bằng phương pháp đối chiếu, người học có thể tự hiệu chỉnh được cách phát âm của mình thông qua sự trợ giúp của một số thiết bị hay phần mềm phân tích âm Thuận lợi của một số thiết bị và phần mềm này là cung cấp thông tin phản hồi ngay
về kết quả phát âm của chủ ngôn Chẳng hạn, tính năng phân cảnh đồng thời trên màn hình vi tính cho phép người học có thể so sánh thể hiện trực quan một thuộc tính ngữ âm nào đó trong phát ngôn của mình với thuộc tính tương đương của người bản ngữ trong cơ sở dữ liệu của phần mềm
- Trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ, một trong những nguyên nhân chủ yếu chi phối lỗi phát âm là do người học tạo sản ra ngôn ngữ thứ hai thông qua “lăng kính” tiếng mẹ đẻ Lăng kính này chính là tiếng Việt ở MTNB Do vậy, với kết quả nghiên cứu thu được (1) về những giá trị tham số âm học của các đơn vị đoạn tính
và siêu đoạn tính của hai ngôn ngữ, (2) về năng lực phát âm tiếng Anh của SV, và
về (3) các quy luật cơ bản chi phối lỗi của SV MTNB, luận án có thể được sử dụng
như một tài liệu tham khảo cho các nhà giáo dục đại học và phổ thông trong vùng
- Dưới góc nhìn sư phạm, dữ liệu ghi âm của nhóm người bản ngữ Anh đương đại trong kho tư liệu ngữ âm của luận án có thể được sử dụng để bổ sung cho nguồn tài liệu giảng dạy môn Ngữ âm
- Luận án đề ra một số giải pháp giảng dạy môn Ngữ âm thông qua việc ứng dụng
công nghệ thông tin Nhờ vào các phần mềm phân tích ngữ âm, trên cơ sở đối chiếu các tham số âm học của các thuộc tính ngữ âm trong phát ngôn của mình với các tham số âm học tương đương của người bản ngữ nói tiếng Anh, người học có thể
tự hiệu chỉnh phát âm của mình
Trang 341.6 KHO TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.6.1 Kho tư liệu
Kho tư liệu là tập hợp các tập tin văn bản và các tập tin ghi âm, được thể hiện qua hai ngôn ngữ, TA và TV Đối tượng tham gia quy trình ghi âm là 84 CTV gồm
77 sinh viên chuyên Anh năm thứ ba thuộc 4 trường Đại học ở MTNB (Đại học An
Giang, Đại học Cần Thơ, Đại học Đồng Tháp và Đại học Trà Vinh) và 7 người bản
ngữ Anh (BNA)
Sau 6 tháng thiết kế các tập tin văn bản, chúng tôi đã thực hiện ghi âm các tập tin này trong 6 tháng kế tiếp (từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2015) Với kỳ vọng xây dựng một cơ sở dữ liệu ngữ âm nhằm nghiên cứu hầu hết các đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi đã thiết kế dữ liệu ghi âm có dung lượng tương
đối lớn Kho tư liệu ghi âm chứa khoảng 120 giờ phát ngôn, được thiết kế với 3 cấu
trúc: câu chứa, bài đọc và đối thoại
(1) 100 giờ 30 phút phát ngôn đọc dưới dạng thức câu chứa (SV: 96 giờ; BNA: 4
giờ 30 phút) (từ Phụ lục 1.1 đến Phụ lục 1.12);
(2) 8 giờ phát ngôn tự nhiên dưới dạng thức đối thoại TA (SV: 7 giờ 30 phút; BNA:
30 phút); và 4 giờ 30 phút dưới dạng đối thoại TV của SV (Phụ lục 1.13); (3) 4 giờ 30 phút phát ngôn đọc dưới dạng bài đọc TA (SV: 4 giờ 15 phút; BNA:
15 phút) và 2 giờ 30 phút dưới dạng bài đọc TV (Phụ lục 1.14)
Cấu trúc của cơ sở dữ liệu: Các tập tin ghi âm (audio files) của các CTV gồm ba
loại hình phát ngôn: câu chứa, đoạn đối thoại và bài đọc
Cách đặt tên cho tập tin wav và tập tin TextGrid của nó:
XXLT_1.YYZZ.wav và XXLT_1.YYZZ.TextGrid
- XX là mã số của CTV, từ 01 đến 56
- Mã số từ 01 đến 04: người bản ngữ Anh
- Mã số từ 07 đến 56: sinh viên miền Tây Nam Bộ
- L (language) là ngôn ngữ: 1: tiếng Anh; 2: tiếng Việt
- T (type) là loại hình phát ngôn: 7: câu chứa; 8: đoạn đối thoại; 9: bài đọc
- 1.YY là số phụ lục của tư liệu phát ngôn (Từ 1.01 đến 1.14)
- ZZ là số thứ tự của phần tập tin âm thanh trong phụ lục nào đó cho mỗi loại
hình phát ngôn của từng CTV, khởi đầu từ 01
Ví dụ: 0218_1.1304.wav và 0218_1.1304.TextGrid là hai tập tin tiếng Anh có số thứ
tự 4 thuộc phụ lục 1.13, trong đoạn đối thoại của CTV mang mã số 02
Trang 351.6.2 Phương pháp nghiên cứu
1.6.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngữ âm học và âm vị học
Mục đích của luận án là khảo sát hiện trạng năng lực phát âm TA của SV miền Tây Nam Bộ trên cơ sở đối chiếu với phát âm RP của BNA và với phát âm TV của
SV Việc so sánh đối chiếu này được thực hiện trên cấp độ âm vị học và ngữ âm học Chúng tôi chọn phương pháp này là do hệ thống L1 và L2 có thể giao thoa với
nhau trên cả hai cấp độ Xét về ngôn điệu, ảnh hưởng âm vị học có thể bắt nguồn từ
những khác biệt trong hệ thống giai điệu âm vị học, hình thức và ngữ nghĩa của chúng gán cho các âm điệu Chẳng hạn, người học thể hiện giọng lên ở chỗ mà người bản
ngữ hạ giọng xuống và ngược lại [54], [61], [165], [191], [285] Sự khác biệt về ngữ
điệu của một đơn vị nào đó giữa SV và BNA được xét trên cơ sở âm vị học có thể
như BNA hay ngược lại Ảnh hưởng ngữ âm học có thể là do sự khác biệt về việc thể
hiện ngữ âm của một giai điệu giống nhau nhưng có sự khác biệt về độ dốc [274]
Chẳng hạn, sự khác biệt về ngữ điệu trên cơ sở ngữ âm học của SV có các khả năng
sau: ngữ điệu F0 được SV thể hiện có đường nét cùng đi xuống (hay cùng đi lên) giống như đường nét ngữ điệu của BNA nhưng nó có BTAV hoặc các tham số khác như MAV bắt đầu đường ngữ điệu, độ dốc, trường độ đoạn dốc tương đối khác nhau Tuy nhiên, nếu sự khác biệt của BTAV và các tham số âm học này đủ lớn để dẫn đến
sự thay đổi về ý định hay hàm ý của chủ ngôn, lúc đó sự khác biệt về ngữ âm học này
sẽ trở thành sự khác biệt về âm vị học Nói một cách khác, khi BTAV (hay độ rộng của quãng âm vực) của đường ngữ điệu cuối câu giữa SV và BNA có sự khác biệt mang tính ý nghĩa thì sự khác biệt này xảy ra ở cấp độ âm vị học
1.6.2.2 Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong luận án nhằm chỉ ra những tương đồng và khác biệt giữa các đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính trong phát âm tiếng Anh (Li) của SV MTNB và các đơn vị tương đương trong phát âm hệ ngữ RP
(L2) của BNA Ở đây, tiêu chí đối chiếu là các tham số âm học của các đơn vị đó
trong Li, L2 và L1 (tiếng Việt) Các lý thuyết, các lỗi phát âm, các quy luật chi phối lỗi cũng là đối tượng nghiên cứu của phương pháp này
Trang 361.6.2.3 Phương pháp logic học và toán học
Phương pháp này bao gồm các thủ pháp phân tích, thống kê toán các dữ liệu thu được qua khảo sát ngữ âm học thực nghiệm với sự trợ giúp của ba phần mềm chuyên dụng Sound Forge Audio Studio, phiên bản 10.0 (Copyright © 2012, Sony Creative
Software Inc.); Praat [67], phiên bản 5.3.82 (Copyright © 1992 - 2014); SPSS (Copyright © 1989 - 2007) và máy vi tính
1.6.2.4 Phương pháp ngữ âm thực nghiệm
Dữ liệu phát ngôn tiếng Anh (Li), tiếng Việt (L1) của SV và tiếng Anh (L2) của BNA được miêu tả, phân tích và truy xuất qua phần mềm Praat, thống kê và xử lý qua phần mềm Excel 2013 Phân tích phương sai (ANOVA) của số liệu được thực hiện qua phần mềm SPSS phiên bản 16.0 ở mức ý nghĩa 5%
Năng lực thể hiện các đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính tiếng Anh của mỗi sinh viên được khảo sát thông qua đối chiếu các tham số đặc trưng của từng đơn vị ngôn ngữ trong Li của SV với các tham số tương đương trong L2 của nhóm BNA Các tham số đặc trưng cho một số đơn vị ngôn ngữ trong tiếng Việt (L1) của sinh viên cũng được sử dụng làm cơ sở đối chiếu Đối với 6 đơn vị đoạn tính và siêu đoạn tính đích trong luận án, chúng tôi chọn những tham số đặc trưng tương ứng như sau:
- Nguyên âm: “Formant” F1/F2, trường độ nguyên âm
- Phụ âm: Thời điểm khởi thanh (VOT), trọng tâm cân bằng phổ (CoG), tỷ lệ biến thiên qua trục không (ZCR), độ phân tán phổ (StD), kiểu dạng sóng âm (wave pattern), cụm sóng âm có đầu nhọn (spike) và kiểu VOT (dương hay âm)
- Trọng âm: Cao độ, cường độ, trường độ, và biến thiên âm vực
- Nhịp: Trường độ từ một âm tiết nhấn này đến một âm tiết nhấn kế tiếp
- Tầm âm vực: Mức âm vực (pitch level) và quãng âm vực (pitch span)
- Ngữ điệu: Biến thiên âm vực (đường nét và giá trị)
Trang 371.7 ĐỐI TƯỢNG THAM GIA NGHIÊN CỨU VÀ QUY TRÌNH GHI VÀ XỬ LÝ
Luận án chỉ sử dụng dữ liệu phát ngôn của 50 SV và 4 BNA (Phụ lục 2.2) trong kho tư liệu làm ngữ liệu nghiên cứu
Tất cả các tập tin của 50 SV (25 nam và 25 nữ) được mã hóa từ 07 đến 57 (có số thứ tự từ 1 đến 50) Các CTV này được chọn có nơi sinh ra và lớn lên phân bố trên
13 tỉnh thành ở MTNB, gồm 6 CTV ở An Giang, 2 ở Bạc Liêu, 2 ở Bến Tre, 2 ở Cà Mau, 6 ở Cần Thơ, 6 ở Đồng Tháp, 2 ở Hậu Giang, 2 ở Kiên Giang, 4 ở Long An, 2
ở Sóc Trăng, 4 ở Tiền Giang, 10 ở Trà Vinh và 2 ở Vĩnh Long (Phụ lục 2.2.1) Chúng tôi chọn ngữ liệu của 4 CTV người bản ngữ Anh có nơi sinh ra và lớn lên
ở miền Nam nước Anh (Phụ lục 2.2.2) làm dữ liệu RP chuẩn cho quá trình so sánh đối chiếu Lý do chính chúng tôi chọn RP làm chuẩn đối chiếu vì đây là biến thể ngôn ngữ đích, đang được giảng dạy trong các học phần luyện giọng, ngữ âm học và âm vị học của sinh viên Các tập tin của 4 CTV này được mã hóa từ 01 đến 04
Ngữ liệu của 3 CTV người Anh còn lại do có quê quán không thuộc miền Nam nước Anh, nên không đưa vào ngữ liệu nghiên cứu của luận án
Chúng tôi trình bày những thông tin có liên quan đến CTV ở Phụ lục 2.2.3
Người nghiên cứu
Người nghiên cứu (người viết) là người trực tiếp thiết kế, tổ chức, giám sát, hỗ trợ quy trình ghi âm, phân tích và đánh giá kết quả khảo sát trong suốt quá trình nghiên cứu
Trang 381.7.2 Quy trình ghi và xử lý âm thanh
Tất cả các phát ngôn của CTV được ghi âm kỹ thuật số hóa, sử dụng máy chuyên dụng OLYMPUS LINEAR PCM RECORDER LS-20M đặt ở cỡ mẫu 44,1KHz/16bit dưới dạng các tập tin có định dạng wav Chúng tôi sử dụng bút trình chiếu không dây NEWMEN (2.4GHz Wireless Presenter USB Receiver, Model: P100) để hạn chế tạp
âm gây ra từ bàn phím máy vi tính (Hình 0.1)
Hình 0.1 Thiết bị ghi âm nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm
Quy trình ghi âm được thực hiện trong phòng cách âm (Hình 0.2) gồm hai CTV khác phái, cùng với sự hỗ trợ của người nghiên cứu
Hình 0.2 Phòng ghi âm nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm
Trang 39Có hai trường hợp người nghiên cứu tham gia đàm thoại với BNA vì không có nam và nữ cùng lúc Dĩ nhiên, sẽ không khó cho người nghiên cứu để có thể thụ cảm giọng nói và tách phát ngôn của mình ra khỏi dòng ngữ lưu trong phần đàm thoại Trong suốt quá trình ghi âm, người nghiên cứu giám sát toàn bộ quy trình từ khâu chuẩn bị cho đến khâu thực hiện như xếp đặt bàn ghế, chỗ ngồi, trang thiết bị, ổn định tâm lý CTV trước khi ghi âm, lắng nghe CTV và yêu cầu SV phát ngôn lại những
đoạn bị thiếu, hay bị trục trặc kỹ thuật Mỗi CTV điền vào Phiếu thông tin cá nhân
(Phụ lục 2.1) trước khi bắt đầu quy trình ghi âm
Tư liệu văn bản
Chúng tôi thiết kế tư liệu văn bản dựa trên phương thức phát ngôn đọc (câu chứa,
bài đọc) và đối thoại
(1) Câu chứa
Tiếng Việt: Mỗi từ chứa âm vị đích của nguyên âm hay phụ âm được đặt trong câu
chứa “Đọc từ X ấy lại, X” (X là từ chứa nguyên âm đích hay phụ âm đích)
Nguyên âm: 29 âm vị đích của nguyên âm đơn và nguyên âm đôi được thiết kế trong ngữ cảnh âm vị /CV/ hay /CVC/ (C: phụ âm, V: nguyên âm đích)
(XX27_01ZZ.wav) (Phụ lục 1.1)
Phụ âm đầu: 22 âm vị đích của phụ âm được thiết kế trong ngữ cảnh /CVt/ (C: phụ âm đích, V: nguyên âm) (XX27_02ZZ.wav) (Phụ lục 1.2)
Tiếng Anh: Mỗi từ chứa âm vị đích của nguyên âm và phụ âm được đặt trong câu
chứa “Say X again, X” (X là từ chứa nguyên âm đích hay phụ âm đích)
Nguyên âm
12 âm vị đích gồm 11 âm vị của 11 nguyên âm đơn (Phụ lục 1.3) được thiết
kế trong ngữ cảnh /hVd/ (V: nguyên âm đích) (XX17_03ZZ.wav), và 1 âm vị
/ə/ trong âm tiết không mang trọng âm của từ “again”
11 âm vị trong 19 âm vị của nguyên âm đơn (Phụ lục 1.6) được thiết kế trong
2 ngữ cảnh /sVt/ và /sVd/, khác nhau ở âm vị cuối (XX17_06ZZ.wav)
Ngoài ra, nguyên âm đơn có âm vị /æ/ trong âm tiết “man” thuộc 4 từ man,
manage, management và managementship còn được chúng tôi thiết kế trong câu chứa
“Say the sentence … showed on the screen” (XX18_07ZZ.wav) (Phụ lục 1.7)
Phụ âm
Đối với phụ âm đầu (Phụ lục 1.4), 23 âm vị đích của phụ âm được thiết kế
trong ngữ cảnh /CæC/ (C: phụ âm đích) Chỉ có 1 trường hợp ngoại lệ, /ʒ/ nằm
Trang 40trong ngữ cảnh /ʒɑ:nrə/, do nó không tồn tại trong ngữ cảnh /CæC/ đối với TA
(XX17_04ZZ.wav)
Đối với phụ âm cuối (Phụ lục 1.5), 20 âm vị đích của phụ âm được thiết kế
trong ngữ cảnh /CæC/ (C: phụ âm đích) (XX17_05ZZ.wav)
Cụm phụ âm
Đối với 35 khởi âm hai phụ âm (Phụ lục 1.8) và 6 khởi âm ba phụ âm (Phụ lục 1.9) mỗi từ chứa mỗi khởi âm này được thiết kế trong những cụm từ có nghĩa (XX17_09ZZ.wav; XX17_10ZZ.wav)
Đối với 59 kết âm hai phụ âm (Phụ lục 1.10), 49 kết âm ba phụ âm (Phụ lục 1.11) và 9 kết âm bốn phụ âm (Phụ lục 1.12), mỗi từ chứa mỗi kết âm này được đặt trong những câu có nghĩa (XX17_11ZZ.wav; XX17_12ZZ.wav; XX17_13ZZ.wav)
Đối với phần đoạn tính, luận án chỉ nghiên cứu nguyên âm đơn và phụ âm đầu
Tuy nhiên, chúng tôi bước đầu đã thực hiện thêm hai thực nghiệm ngữ âm học để (1)
phân tích 20 phụ âm cuối trong câu chứa “Say X again, X.” (ở Phụ lục 1.5) và (2) phân tích 3 phụ âm tắc và 2 phụ âm tắc xát trong 8 từ có vị trí đứng trước từ được bắt đầu bằng một âm nguyên âm và đứng ở cuối câu (xem Bài đọc ở Phụ lục 1.14) Kết
quả phân tích được trình bày ở Phụ lục 5.2.21 Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận án, chúng tôi không thể nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này Đây là một đề tài nghiên cứu có góc nhìn và cách tiếp cận khác mà chúng tôi có thể tiếp tục nghiên cứu trong tương lai
(2) Đối thoại (XXL8_14ZZ.wav)
Chúng tôi sử dụng 14 bức tranh – tác phẩm do cô (em của cha) của người viết
phác họa – nhằm đưa ra các gợi ý trực quan (visual cues) cho CTV thực hiện đàm
thoại với cộng sự của mình về cùng một chủ đề – mô tả hoạt động trong quá khứ của
Vi, nhà thiết kế thời trang (Phụ lục 1.15) Trước lúc ghi âm, dựa vào từ khóa trên mỗi bức hình, hai CTV có thể thực tập vài lần cho đến khi cả hai có thể đối thoại với nhau một cách lưu loát Bước vào công đoạn ghi âm, cả hai chỉ cần lướt nhìn qua mỗi bức tranh để thực hiện đối thoại Những bức tranh trình chiếu trên màn hình vi tính lúc
này đóng vai trò gợi ý về chủ đề, thứ tự và nội dung đối thoại, chứ không phải là một
bài đọc Cuộc đối thoại được thực hiện bởi một hỏi, một trả lời, sau đó đổi vai CTV hỏi sử dụng bút trình chiếu để lật trang cho từng bức tranh mô tả hoạt động của nhà
thiết kế thời trang Việc sử dụng gợi ý trực quan thông qua các bức tranh giúp người
nghiên cứu có thể khai thác được những thuộc tính của các thành tố siêu đoạn tính