Trong quá trình thực hiện đề tài luận án “Tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau – Đặc điểm và giá trị lịch sử” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể B
Trang 1-000 -
NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
TƯ TƯỞNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA JEAN – JACQUES ROUSSEAU – ĐẶC ĐIỂM
VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2-000 -
NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
TƯ TƯỞNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA JEAN – JACQUES ROUSSEAU – ĐẶC ĐIỂM
VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 62.22.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Sinh Kế và Tiến sĩ Hà Thiên Sơn Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28 tháng 10 năm 2019
Người cam đoan
Nguyễn Thị Huỳnh Như
Trang 4
Trong quá trình thực hiện đề tài luận án “Tư tưởng về quyền con người
của Jean – Jacques Rousseau – Đặc điểm và giá trị lịch sử” tôi đã nhận được
sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể Ban Giám đốc Học viện Chính trị Khu vực II và quý thầy, cô trong Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành về sự giúp
đỡ đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Sinh Kế và Tiến
sĩ Hà Thiên Sơn Hai thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp cho tôi có thể hoàn thành luận án này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp đang công tác tại Học viện Chính trị Khu vực II và gia đình đã luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận án
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28 tháng 10 năm 2019
Nghiên cứu sinh
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 20
Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,
PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA JEAN –
1.1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG
VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA JEAN – JACQUES ROUSSEAU 22
1.1.1 Điều kiện hình thành, phát triển tư tưởng về quyền con người
1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành, phát triển tư tưởng về quyền con
1.2 THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH,
PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA JEAN –
1.2.1 Thân thế, sự nghiệp của Jean – Jacques Rousseau 56
1.2.2 Các giai đoạn hình thành, phát triển tư tưởng về quyền con
Trang 6Kết luận Chương 1 72
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
2.1 TƯ TƯỞNG CỦA JEAN – JACQUES ROUSSEAU VỀ QUYỀN
TỰ NHIÊN VÀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA QUYỀN TỰ NHIÊN VỚI
2.1.1 Tư tưởng của Jean – Jacques Rousseau về quyền tự nhiên 75
2.1.2 Tư tưởng của Jean – Jacques Rousseau về sự thống nhất giữa
2.2 TƯ TƯỞNG CỦA JEAN – JACQUES ROUSSEAU VỀ QUYỀN
SỐNG, QUYỀN TỰ DO, BÌNH ĐẲNG VÀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI
SẢN
86
2.2.1 Tư tưởng của Jean – Jacques Rousseau về quyền sống 86
2.2.2 Tư tưởng của Jean – Jacques Rousseau về quyền tự do, bình đẳng 93
2.2.3 Tư tưởng của Jean – Jacques Rousseau về quyền sở hữu tài sản 102 2.3 TƯ TƯỞNG CỦA JEAN – JACQUES ROUSSEAU VỀ KHẾ ƯỚC
XÃ HỘI, NỀN DÂN CHỦ TRỰC TIẾP VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN – CƠ CHẾ BẢO VỆ, PHÁT HUY QUYỀN CON NGƯỜI 107
2.3.1 Tư tưởng của Jean – Jacques Rousseau về khế ước xã hội và
nền dân chủ trực tiếp với việc bảo vệ quyền con người 107 2.3.2 Tư tưởng của Jean – Jacques Rousseau về nhà nước pháp
quyền với việc bảo vệ, phát huy quyền con người 113
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG
3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA TƯ TƯỞNG JEAN – JACQUES ROUSSEAU
3.1.1 Tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau thể
Trang 7hiện tính duy lý, nhân văn và tính thực tiễn 127
3.1.2 Tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau thể
hiện quan điểm tôn trọng và đề cao vai trò của nhân dân 141 3.1.3 Tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau
phản ánh khuynh hướng tự nhiên thần luận và quan điểm duy tâm
3.1.4 Tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau thể
hiện quan điểm của giai cấp tư sản và chứa đựng nhiều mâu thuẫn 149 3.1.5 Tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau thể
3.2 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG JEAN – JACQUES
ROUSSEAU VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 156
3.2.1 Giá trị của tư tưởng Jean - Jacqes Rousseau về quyền con
người đối với Cách mạng tư sản Pháp và vấn đề bảo vệ, phát huy
3.2.2 Giá trị của tư tưởng Jean – Jacques Rousseau về quyền con
người đối với việc bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam 164
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là một phạm trù đa diện, là kết tinh những giá trị tốt đẹp trong nền văn hóa của tất cả các dân tộc, vì tự do, bình đẳng và nhân phẩm của con người Thực tiễn quyền con người trên thế giới hiện nay cũng diễn ra hết sức sôi động, nóng bỏng Chiến tranh, nghèo đói, sự phân tầng xã hội, sự tha hóa chính trị ở các quốc gia, chủ nghĩa khủng bố và những tệ nạn
xã hội…đã và đang ảnh hưởng đến quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người Ngược dòng lịch sử, những tư tưởng về quyền con người đã được thể hiện một cách phong phú qua nhiều quan điểm, học thuyết, ấn phẩm của các triết gia, chính trị gia… và qua thực tiễn ứng xử, hành động của con người Tuy nhiên, do sự khác biệt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở các quốc gia khác nhau, nên các khía cạnh của vấn đề quyền con người, trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn vẫn còn những nội dung chưa thật sự thống nhất Mặt khác, có những tư tưởng về quyền con người đã ra đời từ rất lâu, song đến nay vẫn chứa đựng giá trị hết sức to lớn, được giới khoa học đi sâu nghiên cứu và đưa ra tranh luận tại nhiều diễn đàn học thuật, chính trị
Lịch sử tư tưởng về quyền con người đã chứng kiến nhiều thành tựu to lớn được hình thành trong thế kỷ XVIII ở phương Tây, đặc biệt là nước Pháp Trước đó, chế độ phong kiến kết hợp với chính sách cai trị của giáo hội kéo dài hàng ngàn năm đã kìm hãm nhân dân Pháp trong vòng tăm tối Bởi vậy, bước sang thế kỷ XVIII, khi giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ, dần chiếm lĩnh địa hạt kinh tế - chính trị, các triết gia, các nhà hoạt động xã hội, các nhà văn tiến bộ đã dấy lên một phong trào mạnh mẽ đề cao lý trí, dùng ánh sáng của lý trí để xua tan bóng tối, soi tỏ chân lý, đấu tranh chống lại áp bức, bất công vì các quyền sống, quyền tự do, bình đẳng của con người Vì vậy, thời
Trang 10kỳ này tồn tại trong lịch sử với cái tên rất đẹp thời kỳ Ánh sáng hay thời kỳ
Khai sáng (Tiếng Anh: Age of Enlightment; Tiếng Pháp: Siècle des Lumières)
Trong số các triết gia Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII thì Jean - Jacques Rousseau (1712 - 1778) là một trong những triết gia có tư tưởng cấp tiến và đấu tranh vì con người, vì quyền con người một cách quyết liệt nhất Cả cuộc đời ông luôn trăn trở với luận đề “Con người ta sinh ra tự do, nhưng rồi đâu
đâu con người cũng sống trong xiềng xích” (Jean - Jacques Rousseau, 2013,
tr.52) Trong các tác phẩm của mình, Rousseau đã trình bày những vấn đề cơ bản về quyền con người như quyền tự nhiên và quyền công dân, quyền sống
và sống hạnh phúc; quyền tự do, bình đẳng; quyền sở hữu tài sản Ông cho rằng con người không nên cam chịu sự áp bức, bóc lột mà phải đứng dậy đấu tranh giành lại tự do cho mình và “từ bỏ phẩm chất con người và cả nghĩa vụ làm người”, làm cho ý chí con người mất tự do tức là “tước bỏ đạo lý trong
hành động của con người” (Jean - Jacques Rousseau, 2013, tr.59-60) Vì lý do
đó, Rousseau không dừng lại ở việc trình bày các quyền con người mà còn nỗ lực tìm kiếm các phương án, giải pháp để bảo vệ quyền con người, xem
“trong trật tự dân sự có chăng một số qui tắc cai trị chính đáng, vững chắc, biết đối đãi với con người như con người; và có chăng những luật pháp đúng
với ý nghĩa chân thực của nó” (Jean - Jacques Rousseau, 2013, tr.51)
Có thể nói, xuyên suốt tư tưởng về quyền con người của Rousseau là khát vọng tự do, bình đẳng và sự cảm thông sâu sắc với thân phận con người;
là tư tưởng đề cao ý dân, coi ý dân là tối cao không thể bị chia cắt Bởi những
tư tưởng cấp tiến như vậy, nên phần nhiều các tác phẩm của Rousseau không được chính quyền và giới quý tộc phong kiến lúc bấy giờ chào đón, bị ngăn chặn xuất bản, bản thân ông bị trừng phạt, truy bắt Tuy nhiên, trên phương diện lý luận, những cống hiến của Rousseau đã góp phần vào việc làm giàu kho tàng tư tưởng về quyền con người, đặt nền móng cho những văn bản pháp
Trang 11lý quan trọng về quyền con người Trên phương diện thực tiễn, tư tưởng về quyền con người của Rousseau đã được giai cấp tư sản và đông đảo nhân dân lao động đón nhận với tư cách là vũ khí tinh thần dẫn dắt họ chống lại những áp bức, bất công của trật tự xã hội hiện hành Vua Louis XVI từng oán trách: “Chính Voltaire và Rousseau đã phá hoại nước Pháp” (Durrant, Will, 1994, tr.165)
Cùng với các triết gia nổi tiếng thời kỳ Khai sáng Pháp như Voltaire, Montesquieu, tư tưởng về quyền con người của Rousseau được xem là ngọn
cờ lý luận cho sự ra đời của Tuyên ngôn nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Pháp và đi vào luật pháp của nước Pháp Bản Tuyên ngôn này đã góp phần thúc đẩy các phong trào đấu tranh giành độc lập, tự do, bình đẳng ở Pháp và các nước trên thế giới Với tinh thần cách mạng và tính nhân văn sâu sắc, cho đến nay, tư tưởng về quyền con người của Rousseau vẫn tiếp tục có ý nghĩa sâu sắc đối với nhân loại tiến bộ trong hành trình mưu cầu hạnh phúc cho mình Những tư tưởng tiến bộ trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, trong đó có tư tưởng về quyền con người của Rousseau cũng tác động rất mạnh mẽ đến phong trào yêu nước của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX Các bản Tân văn, Tân thư, nhất là tác phẩm Bàn về khế ước
xã hội của Rousseu khi du nhập Việt Nam đã khiến suy nghĩ của các nhân sĩ,
trí thức Việt Nam, tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… có nhiều chuyển biến lớn lao, tạo ra làn sóng “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi trả lời nhà báo O Mandenxtam báo Ogoniok (Liên Xô) đã nói:
“Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự
do, Bình đẳng, Bác ái Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy (Hồ Chí Minh,1995a, tr.477)
Trang 12Đây cũng chính là lý do, Hồ Chí Minh tìm cách đi ra nước ngoài, tiếp cận với văn hóa Pháp, trong đó có tư tưởng của Rousseau Người từng khẳng định rằng Paris - nước Pháp là nơi “rộng lượng xướng xuất ra những nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái… có thói quen bênh vực sự bình đẳng của các dân tộc, chính thành phố này tôi trân trọng tuyên bố nước Việt Nam gia nhập vào cái sự nghiệp rất nhân đạo ấy (Hồ Chí Minh,1995b, tr.267), là nơi tìm ra những lý tưởng bất hủ của Cách mạng 1789” (Hồ Chí Minh,1995b, tr.267) và
vì vậy “nước Việt Nam chiến đấu giành độc lập chỉ là theo những lý tưởng dân chủ mà dân tộc Pháp là người tiên phong” (Hồ Chí Minh,1995b, tr.271) Bởi vậy, năm 1945, trong Bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã kế thừa tinh thần tự do, bình đẳng của triết học Khai sáng Pháp và Rousseau, từ đó
mở rộng tư tưởng về quyền con người từ quyền tự do cá nhân trở thành quyền
tự do của cả một dân tộc
Tại Đại hội lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ trương: “Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.167) Các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 đều ghi nhận vấn đề quyền con người, đặc biệt Hiến pháp năm 2013 đã dành
cả một chương để quy định về quyền con người, quyền công dân Những năm gần đây các nhà khoa học Việt Nam cũng tích cực nghiên cứu vấn đề này, góp phần làm phong phú thêm quan điểm về quyền con người trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng Trên phương diện thực tiễn, trong thời kỳ đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc bảo vệ, phát huy quyền con người ở nước ta đã có nhiều thành tựu nhất định Các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của con người được tôn trọng, bảo đảm Tuy nhiên, vấn đề này còn có những hạn chế, khó khăn, thử thách Pháp luật về quyền con người của Việt Nam còn
Trang 13chưa thật sự đồng bộ; nhận thức về quyền con người của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa cao, còn có biểu hiện vi phạm dân chủ và quyền con người Mặt khác, quyền con người cũng là vấn đề hết sức nhạy cảm, luôn
bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạng Những thế lực này xuyên tạc vấn đề quyền con người ở Việt Nam, cho rằng Việt Nam không tôn trọng quyền con người, cho rằng tình hình quyền con người ở Việt Nam đã xuống cấp nghiêm trọng Mục đích của họ là nhằm chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân; bôi đen hình ảnh của Việt Nam trong mắt của cộng đồng quốc tế
Những phân tích trên đây cho thấy, việc tiếp tục nghiên cứu, làm sáng
tỏ lý luận về quyền con người, từ đó góp phần bảo vệ, phát huy quyền con người được tốt hơn là hết sức cần thiết Tuy nhiên, sự hình thành lý luận bao giờ cũng là sự tiếp biến, kế thừa có chọn lọc những giá trị đã có từ trước Để
có cái nhìn toàn diện về vấn đề này, chúng ta phải nghiên cứu lịch sử tư tưởng
về quyền con người, so sánh, đối chiếu với hiện tại, từ đó lựa chọn các biện pháp, cơ chế phù hợp nhất nhằm bảo vệ, phát huy quyền con người Vì những
lý do đó, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Tư tưởng về quyền con người của
Jean – Jacques Rousseau – Đặc điểm và giá trị lịch sử” để làm luận án tiến sĩ
chuyên ngành Triết học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Những công trình nghiên cứu tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau khá đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng có thể khái quát trên một số hướng chủ yếu sau:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về lịch sử nói chung, lịch
sử triết học nói riêng có liên quan đến tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau
Trang 14Bên cạnh những công trình về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Rousseau, tư tưởng về quyền con người trong lịch sử nhân loại và triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, đề tài luận án còn được tiếp cận gián tiếp thông qua các công trình công trình nghiên cứu về lịch sử thế giới, lịch sử triết học, lịch sử các học thuyết chính trị và văn minh nhân loại
Với các công trình nghiên cứu lịch sử thế giới và Tây Âu, trước hết, có
thể kể đến công trình The History of the World (Lịch sử thế giới) của John
Morris Roberts (Oxford University Press, New York, 2013) gồm 8 quyển Với bộ sách của mình, nhà sử học nổi tiếng người Anh J.M Roberts (1928 - 2003) trong khi phân tích tiến trình phát triển của nhân loại đã phản ánh những biến động của phương Tây thời kỳ cận đại, thời kỳ của các cuộc cách mạng chính trị - tư tưởng Do tính bao quát của vấn đề nghiên cứu, công trình chỉ chú trọng đến những dấu mốc điển hình của lịch sử, tư tưởng của các triết gia Khai sáng, trong đó có Rousseau chỉ được điểm qua với tư cách là vũ khí
tư tưởng cho các cuộc cách mạng tư sản Tuy vậy, qua công trình chúng ta cũng lý giải được những điều kiện, tiền đề dẫn đến sự hình thành tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp vào thế kỷ XVIII nói chung,
tư tưởng về quyền con người của Rousseau nói riêng
Kế tiếp là cuốn sách Europe – A History (Lịch sử Châu Âu), của nhà sử
học người Anh Norman Davies (HarperPerennial – A Division of Harper Collins pubnisher, New York, 1998) Cuốn sách đã được dịch sang tiếng Việt (dịch giả Lê Thành), Nhà xuất bản Từ điển bách khoa ấn hành năm 2012 Với cuốn sách này, bản thân Norman Davies đã đặt nhiệm vụ cho mình là cấu trúc toàn bộ cảnh quan lịch sử Châu Âu qua từng thời kỳ Tác giả dành cả một chương (chương 8) để vạch trần những bất công, mâu thuẫn dẫn đến sự tan rã của chế độ chuyên chế châu Âu mà điển hình là nhà nước phong kiến Pháp qua các triều đại Louis XIV, XV, XVI Cuốn sách cũng thấy được mối liên hệ
Trang 15giữa hoàn cảnh lịch sử và sự hình thành các dòng tư tưởng phản ánh lợi ích của giai cấp tư sản đang lên, mà quan điểm chủ đạo là về tự do, dân chủ, quyền con người Chúng ta có thể từ việc nghiên cứu công trình này để thấy được bối cảnh ra đời và những tác động của tư tưởng về quyền con người của Rousseau đối với những sự biến đổi của xã hội
Ở Việt Nam có thể kể đến công trình Lịch sử thế giới cận đại của Vũ
Dương Ninh và Nguyễn Văn Hồng (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003) Trong phần 1 của cuốn sách, các tác giả đã phân tích điều kiện lịch sử xã hội phương Tây từ giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX Cuốn sách cũng trình bày hoàn cảnh nước Pháp và thân phận của những tầng lớp thứ ba (nông dân,
tư sản, tiểu tư sản và các thành phần lao động khác) dưới sự thống trị khắc nghiệt của tầng lớp vua chúa, quý tộc và tăng lữ Hình ảnh tượng trưng nhất của nền chuyên chế đó là nhà tù Bastille ở Paris Đó là một nhà tù “lâu đời và kiên cố, cao 23m, tường dày từ 1,6m đến 1,8m, có 8 ngục tối dưới đất dùng
để giam người cùng với rắn rết” (Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng,2003, tr.60) Từ bối cảnh xã hội ấy, cuốn sách cũng đặt cơ sở cho việc hình thành trào lưu triết học Ánh sáng “liên tiếp tấn công vào thành trì quân chủ chuyên chế bằng những học thuyết mới, tiến bộ và cách mạng” (Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng,2003, tr.68), trong đó nổi bật lên là các tư tưởng về quyền con người
Công trình của Đinh Ngọc Thạch và Doãn Chính (chủ biên): Lịch sử
Triết học phương Tây, tập 1: Từ triết học cổ đại đến triết học cổ điển Đức
(Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018) Tác phẩm là công trình nghiên cứu công phu với 1431 trang, 5 phần nghiên cứu sự phát triển của lịch sử triết học từ thời cổ đại đến triết học cổ điển Đức, tương ứng với từng giai đoạn là các triết gia tiêu biểu Ở Chương 4 phần thứ tư, từ trang 822 đến trang 873, các tác giả đã phân tích những đặc điểm cũng như những đóng
Trang 16góp mà triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII mang lại Trong đó, từ trang
851 đến trang 873, tập thể tác giả đã dành viết riêng các nội dung chính trong
các tác phẩm tiểu biểu của Rousseau như Luận về nguồn gốc và bản chất của
sự bất bình đẳng giữa người với người, Émile hay là về giáo dục, Bàn về khế ước xã hội Đồng thời, các tác giả đánh giá các giá trị mà quan điểm của
Rousseau nói chung, trong đó có nội dung về quyền con người đã có ý nghãi quan trong trong công cuộc xây dựng đất nước ở Việt Nam hiện nay Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã kế thừa một số quan điểm từ công trình này
Với các công trình nghiên cứu về lịch sử nước Pháp, đặc biệt là giai đoạn diễn ra Đại Cách mạng Pháp 1789, có thể kể đến cuốn Lịch sử nước Pháp của Nguyễn Thanh Tịnh (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội,
2006) Cuốn sách đã góp phần khắc họa được chiều dài lịch sử với những dấu
ấn tiêu biểu trong tiến trình phát triển của nước Pháp, trong đó có những điều kiện dẫn tới sự ra đời tư tưởng về quyền con người của trào lưu triết học Khai sáng, những ảnh hưởng của tư tưởng về quyền con người trong giai đoạn này, trong đó có Rousseau đến Cách mạng Pháp 1789 Tuy nhiên, do phạm vi tiếp cận khá rộng, dung lượng kiến thức dành cho các thời kỳ lịch sử tương đối hạn hẹp nên các vấn đề mà cuốn sách nêu ra chưa được lý giải cặn kẽ, chưa
có sự lý giải độc đáo, mới lạ
Công trình kế tiếp là cuốn Cách mạng Pháp và tâm lý học của các cuộc
cách mạng của Guistave Le Bon, Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2014,
dịch giả Đào Trí Bắc Ở phần II của cuốn sách, tác giả đã phân tích cuộc cách mạng Pháp trên phương diện sử học, phương diện tâm lý từ đó lý giải cội nguồn của cuộc cách mạng này, lý giải vai trò của các triết gia, trong đó có Rousseau trong việc tạo động lực tinh thần cho cách mạng Cùng hướng
nghiên cứu có cuốn Lịch sử Cách mạng Pháp của Will và Ariel Durant, Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2016, Bùi Xuân Linh dịch Cuốn sách được chia làm 5 chương, trình bày bối cảnh của
Trang 17cuộc cách mạng, sự hình thành Quốc hội, Quốc hội lập pháp, Quốc ước hội nghị, Chấp chính ban và đời sống dưới thời cách mạng Ở mở đầu của cuốn sách, dịch giả Bùi Xuân Linh đã nhận định:
Giai đoạn lịch sử đầy hứng khởi, đau thương và huy hoàng này chỉ có mười năm nhưng chứa đầy các nhân vật và sự kiện quan trọng cùng những liên hệ đến lịch sử, văn hóa cổ đại dưới thời Hy – La được thể hiện qua ngòi bút tài hoa nhưng súc tích của ông bà Durant (Will & Ariel Durant, 2016, tr.8)
Tuy không đề cập trực tiếp đến tư tưởng về quyền con người của Rousseau nhưng cuốn sách đã phần nào phản ánh được hoàn cảnh ra đời, ảnh hưởng của tư tưởng này đến nước Pháp và Cách mạng 1789
Với các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học, có thể kể đến cuốn
Triết học Tây phương từ khởi thủy đến đương đại của Bernard Morichere và
nhóm giáo sư các trường Đại học Pháp, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin,
2008, biên dịch Phan Quang Định Mục đích của cuốn sách không muốn chỉ đơn thuần là một tập hợp những bản văn – mà còn giới thiệu một cách rộng rãi nhất, từ khởi thủy đến đương đại, trong sự tôn trọng tính đa nguyên của các học thuyết và các trào lưu đã tạo nên dòng tư tưởng nhân loại
Từ mục đích đó, các tác giả đã giới thiệu khái quát các triết gia từ thời
cổ đại cho đến hiện đại, tư tưởng chủ đạo của họ, đồng thời lược trích những tác phẩm tiêu biểu gắn liền với triết gia đó Với Rousseau, cuốn sách đã dành một dung lượng nhất định để nói về cuộc đời của ông, trích dẫn các tác phẩm
như Luận về nguồn gốc và nền tảng của sự bất bình đẳng ở con người, Bàn về
khế ước xã hội, Émile hay là về giáo dục Đây là một trong những nguồn tư
liệu có giá trị để nghiên cứu đề tài luận án
Công trình tiếp theo là cuốn Lịch sử Triết học, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia xuất bản năm 1998 do Nguyễn Hữu Vui chủ biên Cuốn sách được
Trang 18chia làm 8 chương, trình bày khái quát lịch sử triết học phương Đông, phương Tây từ triết học Trung Quốc, Ấn Độ cổ trung đại đến triết học phi mácxít hiện đại ở phương Tây Tại chương 5: Triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng và Cận đại, cuốn sách đã trình bày tóm tắt sự nghiệp, tư tưởng cơ bản của Rousseau Các tác giả nhận định, thế giới quan của Rousseau cũng đứng trên lập trường
tự nhiên thần luận, song ông coi lịch sử nhân loại là của con người chứ không phải Thượng đế, đồng thời khẳng định bản chất của con người là tự do Cuốn sách cho rằng Rousseau đã chia lịch sử ra thành ba giai đoạn: 1 Giai đoạn tự nhiên; 2 Giai đoạn công dân; 3 Thông qua cách mạng xã hội, xã hội trở về trạng thái tự nhiên nhưng trên cơ sở cao hơn Các tác giả cũng nêu quan niệm của Rousseau về nhà nước với các đặc điểm nhà nước của nhân dân và quản
lý xã hội bằng pháp luật Có thể nói, dù ngắn gọn nhưng cuốn sách đã nêu lên được những điểm chính trong tư tưởng về quyền con người của Rousseau
Cũng nghiên cứu vấn đề này là cuốn Lịch sử triết học phương Tây từ
triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức (History of Western philosophy from ancient Greek to classical German philosophy), Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2012 của Nguyễn Tấn Hùng Cuốn sách này được viết bằng 2 thứ tiếng: Tiếng Việt và Tiếng Anh, ở phần triết học phương Tây cận đại, tác giả cũng đã phần nào đề cập đến tư tưởng của các triết gia tiêu biểu của triết học Khai sáng Pháp, trong đó có Rousseau
Kế tiếp là bộ sách Lịch sử Triết học phương Tây gồm 4 cuốn của Đỗ
Minh Hợp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014 Tập 2 của bộ sách
có tiêu đề Triết học phương Tây cận hiện đại nghiên cứu khá toàn diện sự
phát triển của tư tưởng triết học phương Tây từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX Đây là bước chuyển biến tư tưởng quan trọng trong dòng chảy triết học Trong chương 2, tập 2, tác giả dành một mục để phân tích triết học Khai sáng Pháp Tuy không đi vào tìm hiểu từng triết gia Khai sáng Pháp cụ thể mà chỉ khái quát những quan điểm cơ bản, song cuốn sách cũng đã nêu bật được
Trang 19những đóng góp của Rousseau trong quan điểm về quyền con người, cụ thể là quan điểm về quyền tự nhiên, về khế ước xã hội, về tự do, bình đẳng, dân chủ, khoan dung tôn giáo
Bên cạnh những công trình đã nêu, có thể kể đến các công trình như
cuốn Lịch sử triết học phương Tây, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006 của Nguyễn Tiến Dũng; cuốn Đại cương lịch sử văn minh
phương Tây của Đỗ Văn Nhung (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,
1999); Lịch sử văn minh thế giới, Vũ Dương Ninh chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục, 2001); Văn hóa Châu Âu, Lịch sử - thành tựu - hệ giá trị của Lương
Văn Kế (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2010) …
Thứ hai, các công trình nghiên cứu tư tưởng về quyền con người trong lịch sử nhân loại và giai đoạn Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, trong đó
có đề cập tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau
Với các công trình nghiên cứu tư tưởng về quyền con người trong lịch
sử nhân loại nói chung, trước hết có thể kể đến cuốn Lịch sử quyền con người: Từ thời kỳ cổ đại đến kỷ nguyên toàn cầu hóa (History of Human
Rights: From Ancients Times to the Globalization ERA) của Micheline Ishay (University of California Press, Los Angeles, 2008) Với 6 phần chính, tác giả
đã phân tích cuộc đấu tranh vì quyền con người từ thời cổ đại đến nay Trong phần 2 của cuốn sách, tác giả đã nghiên cứu về tư tưởng và thực tiễn vấn đề quyền con người trong thời kỳ Khai sáng, mà điển hình là triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, qua đó phân tích các quyền cụ thể của con người như quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, quyền tư hữu Mặc dù không trực tiếp
đi sâu nghiên cứu tư tưởng về quyền con người của Rousseau, song những luận điểm của Rousseau đã được sử dụng trong cuốn sách làm minh chứng cho các kết luận của tác giả
Trang 20Lịch sử của những phát kiến về quyền con người (Inventing Human
Rights – A History) của Lynn Hunt (W.W Norton & Company Ltd, London, 2008) Trong cuốn sách này, Lynn Hunt không trình bày quyền con người theo các giai đoạn lịch sử mà đi vào những nội dung cơ bản của vấn đề Tư tưởng về quyền con người của Rousseau cũng là một trong những nội dung được phản ánh Tác giả đã tìm hiểu một cách cặn kẽ khái niệm quyền con người, các luận điểm của Rousseau về quyền con người, đặc biệt là quyền tự
do, bình đẳng Cũng với cuốn sách này, tác giả đã khẳng định cụm từ quyền của con người (rights of the man) bắt đầu được biết đến nhiều hơn ở Pháp sau
khi tác phẩm Du Contrat Social (Bàn về khế ước xã hội) của Rousseau ra đời
năm 1762
Ở Việt Nam, tư tưởng về quyền con người cũng được quan tâm nghiên
cứu Điển hình là cuốn Triết học chính trị về quyền con người của Nguyễn
Văn Vĩnh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Mặc dù mục đích chủ yếu của cuốn sách là phân tích thực trạng vấn đề quyền con người và một
số giải pháp nhằm đảm bảo, phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, tác giả cũng dành chương 1 để khái quát sự phát triển tư duy chính trị về quyền con người trong lịch sử nhân loại, trong đó có tư tưởng về quyền con người của các triết gia Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII và Rousseau Ở đây, chúng ta cũng có thể tìm thấy được một số điểm cơ bản phản ánh nội dung, giá trị của tư tưởng về quyền con người của Rousseau
Công trình tiếp theo là cuốn Tư tưởng về quyền con người (Tuyển tập
tư liệu thế giới và Việt Nam) của các tác giả Lã Khánh Tùng, Vũ Công Giao,
Nguyễn Anh Tuấn (2011) thuộc Trung tâm nghiên cứu quyền con người – quyền công dân, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2011 Cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống lịch sử phát triển của nhận thức và tư tưởng về quyền con người của nhân loại cũng như của dân tộc Việt Nam Ở phần I của
Trang 21cuốn sách, các tác giả đã tuyển chọn những văn kiện, đoạn trích và tuyên bố mang tính chất tiêu biểu phản ánh tư tưởng về quyền con người Khi giới thiệu tư tưởng của Rousseau về quyền con người, cuốn sách đã lược trích tác
phẩm Bàn về khế ước xã hội, nhấn mạnh những điểm quan trọng phản ánh tư
tưởng về quyền con người
Kế tiếp là công trình Chủ nghĩa xã hội và quyền con người của Đặng
Dũng Chí và Hoàng Văn Nghĩa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2014 Phần I của cuốn sách trình bày Lịch sử hình thành và phát triển quyền
con người Các tác giả nhận định một số các triết gia thời kỳ cận đại như
Hobbes, Locke, Montesquieu và Rousseau… đều xem bản chất con người là bản chất tự nhiên của nó, và vì vậy:
trạng thái tự nhiên của con người được các nhà tư tưởng thời kỳ này coi
là tư tưởng hạt nhân trong việc xây dựng các học thuyết về nhà nước, chính trị - xã hội… Do vậy, con người – chủ thể đích thực của quyền – ngay từ khi sinh ra đã có quyền rồi và quyền đó mang tính “tạo hóa”,
“bẩm sinh”, “tự nhiên” chứ không phải do Thượng đế hay một lực lượng siêu nhiên, bên ngoài nào sản sinh hay ban tặng Chính vì thế
“pháp luật tự nhiên” đứng trên, cao hơn “pháp luật nhà nước (Đặng Dũng Chí - Hoàng Văn Nghĩa, 2014, tr.27)
Cuốn sách này cũng đã tìm ra điểm tiếp nối giữa các tư tưởng về quyền con người của nhân loại với vấn đề quyền con người trong chủ nghĩa xã hội
Với các công trình nghiên cứu tư tưởng về quyền con người giai đoạn Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, có thể kể đến cuốn Cách mạng Pháp và quyền con người (French Revolution and Human Rights) của Lynn Hunt
(Bedford/St.Martin’s, Boston, 1996) Công trình này thuộc loạt sách về lịch
sử và văn hóa của Bedford, ở đó tác giả đã đi tìm mối liên hệ giữa tư tưởng về quyền con người của các triết gia Khai sáng Pháp, trong đó có Rousseau với
Trang 22thắng lợi của Đại Cách mạng Pháp năm 1789 Cũng trong loạt sách đã nêu
còn có công trình Thời kỳ Khai sáng (The Enlightenment) của Margaret
C.Jacob (Bedford/St.Martin’s, Boston, 2001) Cuốn sách phản ánh thành tựu của thời kỳ Khai sáng và đóng góp của của các nhà triết học Khai sáng nói
chung, Rousseau nói riêng Cuốn sách cũng lược trích tác phẩm Bàn về khế
ước xã hội (Du Contrat Social, 1762) của Rousseau Do được trình bày ngắn
gọn nên dung lượng kiến thức trong hai cuốn sách này còn hạn chế, song cũng góp phần quan trọng trong việc cung cấp tư liệu và định hướng cho việc nghiên cứu tư tưởng về quyền con người của Rousseau
Cùng hướng nghiên cứu này là công trình Nền dân chủ thời kỳ Khai
sáng: Triết học, cách mạng và quyền con người, 1750 – 1790 (Democratic
Enlightenment: Philosophy, Revolution, and Human Rights, 1750 – 1970), Oxford University Press, 2012 của Jonathan Israel – giáo sư Đại học Princeton Cuốn sách khai thác những vấn đề liên quan đến nền dân chủ mà đồng hành với nó là triết học, cách mạng và quyền con người Điều đó được thực hiện qua việc phân tích tư tưởng của các triết gia Khai sáng (Diderot, Voltaire, Rousseau, Kant, Hollbach…) cũng như sự chuyển biến cách mạng tại những quốc gia Tây Âu trong giai đoạn này Tác giả cũng phân tích đặc điểm cơ bản của tư tưởng về quyền con người triết học Khai sáng Pháp và Rousseau, giá trị của tư tưởng đó đối với cuộc Đại Cách mạng Pháp năm
1789 làm rung chuyển nước Pháp Tuy nhiên, do đối tượng, phạm vi nghiên cứu khá rộng, nên cuốn sách chưa thật sự làm nổi bật tư tưởng về quyền con người của Rousseau
Triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII cũng là hướng nghiên cứu thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học Việt Nam Có thể kể đến Luận án tiến
sĩ Góp phần tìm hiểu tư tưởng nhân văn của các nhà triết học Khai sáng
Pháp và ảnh hưởng của nó đến các nhà yêu nước Việt Nam của Võ Thị Dung,
Trang 23Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, 2002 Luận án trình bày nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn trong triết học Khai sáng Pháp thông qua một số triết gia tiêu biểu như Voltaire, Rousseau, Montesquieu; ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn trong triết học Khai sáng Pháp đến các nhà yêu nước ở Việt Nam thế kỷ XX; quá trình hình thành tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà tư tưởng nhân văn Khai sáng Pháp là một thành tố quan trọng Kết quả nghiên cứu của luận án đã làm sáng tỏ những nội dung của triết học Khai sáng Pháp, trong đó
tư tưởng của Rousseau về vấn đề con người, xã hội và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của nó Những nội dung mà công trình đề cập phần nào giúp chúng ta hiểu hơn về tư tưởng về quyền con người của Rousseau
Thứ ba, các công trình nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Jean – Jacques Rousseau nói chung, trong đó có tư tưởng về quyền con người
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, không nhiều nhà tư tưởng có thể để lại những dấu ấn khó thể xóa nhòa như Rousseau Những tác phẩm của ông
đã được dịch sang nhiều thứ tiếng và là nguồn tư liệu quý báu cho các nhà khoa học khi nghiên cứu tư tưởng của Rousseau nói chung, tư tưởng về quyền
con người nói riêng Ở Việt Nam, tác phẩm Émile ou De l'éducation được Lê Hồng Sâm, Trần Quốc Dương dịch dưới tên Émile hay là về giáo dục; tác phẩm Les Confessions được Lê Hồng Sâm dịch và giới thiệu dưới tên Những
lời bộc bạch Đặc biệt tác phẩm Du contrat social được Hoàng Thanh Đạm
dịch với tên Bàn về khế ước xã hội, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn
hành năm 1992, sau đó được Nhà xuất bản Lý luận chính trị tái bản năm
2004 Năm 2013, nhà xuất bản Tri thức tiếp tục cho ấn hành bản dịch của
Dương Văn Hóa với tên Khế ước xã hội…
Trang 24Ở các bản dịch đã nêu, các dịch giả, các nhà nghiên cứu đều có những bài viết giới thiệu khái quát về Rousseau và những tư tưởng chủ đạo của ông thể hiện trong tác phẩm Có thể kể đến lời giới thiệu và bài viết so sánh giữa
tư tưởng của Rousseau và Montesquieu của Hoàng Thanh Đạm in kèm trong
bản dịch Bàn về khế ước xã hội; lời giới thiệu của Bùi Văn Nam Sơn in kèm trong bản dịch Émile hay là về giáo dục; lời giới thiệu của Lê Hồng Sâm in kèm trong bản dịch Những lời bộc bạch Mặc dù những bài viết giới thiệu này
có dung lượng hạn chế, song có thể được xem là những công trình khoa học thật sự, thể hiện khát khao tìm hiểu tư tưởng của Rousseau, trong đó có tư tưởng về quyền con người
Việc nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Rousseau cũng
được phản ánh qua nhiều công trình có giá trị, điển hình là cuốn Một số nhà
triết học Pháp và Anh: Decarters – Rousseau – Voltaire – Hobbes (French
and English philosophers: Decarters – Rousseau – Voltaire – Hobbes) Kessinger Publishing, Montana, 2004 Cuốn sách được in lại từ phiên bản
1910, biên tập bởi Charles W Eliot do PF Collier và con trai giữ bản quyền Tác phẩm đã giới thiệu một cách khái quát những thành tựu trong nghiên cứu
xã hội và con người của Rousseau, lược trích một tác phẩm nổi tiếng của ông
là Luận về nguồn gốc và nền tảng của sự bất bình đẳng ở con người
(Discours sur l’origine et les fondements de l’inégalité parmi les hommes)
Tiếp theo có thể kể đến tác phẩm Jean- Jacques Rousseau, được Bùi Xuân Linh dịch từ chương I, VI, VIII, XXXV của tập X trong bộ Lịch sử văn
minh của ông bà Will và Ariel Durant, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính và giới
thiệu (Nhà xuất bản Đại học quốc gia TPHCM, 2015) Cuốn sách được bố cục
làm 5 chương, với các tiêu đề như Rousseau – Kẻ lang thang, Rousseau – Kẻ
lãng mạn, Rousseau – Triết gia, Rousseau – Kẻ bị ruồng bỏ, Đoạn cuối Với
phong cách văn học sử, cuốn sách đã cho ta thấy những nỗ lực của Rousseau khi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống thường ngày, những ý tưởng
Trang 25tiến bộ và cách mạng của ông; cuốn sách còn mô tả cả sự phản ứng của chính
quyền đương thời và những người bạn của Rousseau trong nhóm Bách khoa
toàn thư với tư tưởng và thái độ sống của ông Ở đây, tư tưởng vì con người,
đấu tranh cho tự do của con người và thái độ thiếu thiện cảm với tư hữu và bất bình đẳng của Rousseau được thể hiện rất rõ nét
Năm 1978, nhà xuất bản Văn hóa đã cho ấn hành cuốn Giăng – Giắc
Ru - xô của Phùng Văn Tửu Cuốn sách được chia làm hai phần: Phần 1 có
tựa đề Con đường đến với văn học; Phần 2 có tựa đề Viết văn là để chiến đấu
Mặc dù mục đích của cuốn sách là mô tả cuộc đời của Rousseau từ những ngày thơ ấu đến khi trở về Paris, qua đó nhìn nhận những đóng góp lớn của ông đối với văn học Pháp nói riêng, văn học phương Tây nói chung Tuy vậy, trên phương diện lý luận, cuốn sách cũng vạch rõ những giá trị nhân văn và khát vọng đấu tranh vì tự do cho con người của Rousseau Từ chương V đến chương IX, cuốn sách đã dành một dung lượng khá lớn trình bày hoàn cảnh ra đời, nội dung cốt lõi của những tác phẩm gắn liền với tên tuổi Rousseau, đồng thời cũng là những tác phẩm phản ánh tư tưởng về quyền con người của ông
Ngoài các cuốn sách đã nêu, tư tưởng của Rousseau, trong đó có tư tưởng về quyền con người cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
và phản ánh qua các luận văn, luận án, bài viết khoa học Điển hình như Luận
án tiến sỹ Triết học chính trị của Jean – Jacques Rousseau và ý nghĩa của nó
của Dương Thị Ngọc Dung thực hiện tại Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009 Luận án đã xem các vấn đề liên quan đến quyền con người là một nội dung gắn bó với triết học chính trị, từ đó nghiên cứu các tiền đề, điều kiện hình thành triết học chính trị của Rousseau Luận án cũng trình bày các quan điểm của Rousseau
về bất bình đẳng, về việc thiết lập một nhà nước mà quyền lực thuộc về nhân dân, kiến tạo mẫu người hướng tới tự do Có thể nói, song qua việc phân tích
Trang 26những tác phẩm tiêu biểu của Rousseau, luận án vạch được tư tưởng của ông
về quyền con người và cơ chế bảo vệ quyền con người
Bên cạnh luận án trên, có thể kể đến bài viết Jean - Jacques Rousseau
(1712 - 1778) – nhà triết học Khai sáng Pháp mang lập trường chính trị cấp tiến – tả khuynh của Nguyễn Thị Bích Lệ, Tạp chí Triết học số 7 (206), năm
2008 Bài viết nhằm mục đích kỷ niệm 230 năm ngày mất của Rousseau (2/7/1778 – 2/7/2008) qua đó “nhắc lại mấy nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo lý luận của ông để thêm một lần nữa, chúng ta hiểu vì sao ông được nhân dân Pháp và nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới tôn vinh, ngợi ca Vì sao, tư tưởng của ông cùng với tư tưởng của các nhà triết học Khai sáng Pháp, như Montesquieu, Voltaire, Diderot lại có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình của cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp thế kỷ XVIII” (Nguyễn Thị Bích Lệ, Tạp chí Triết học số 7 (206), năm 2008, tr.82)
Cũng trình bày khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của Rousseau là bài
viết Jean - Jacques Rousseau của Chirstoph Dejung đăng trên Tạp chí Triết
học từ số 12 (259) năm 2012 đến số 2 (261) năm 2013 Trong đó tác giả bài viết cho rằng, “cuộc đời Rousseau chống lại những suy thoái trong xã hội; phương tiện đấu tranh của ông là giáo dục và chính trị Ông đã để lại nhiều tác phẩm quan trọng, trong đó trước hết phải kể đến cuốn “Êmilê” và “Khế ước xã hội” (Chirstoph Dejung, Tạp chí Triết học số 1 (260), 2013, tr.57)
Với bài viết Gi.Gi Rútxô với vấn đề con người, Tạp chí Triết học, số 8
(255), năm 2012, tác giả Nguyễn Thị Châu Loan đã tiếp cận nội dung nghiên cứu dưới lăng kính triết học chính trị, từ đó phân tích sự chuyển biến từ con người tự nhiên sang con người xã hội; nêu bật các quyền tự nhiên của con người, đặc biệt là quyền tự do, bình đẳng theo tư tưởng của Rousseau Bài viết cũng làm rõ quan niệm của Rousseau về bình đẳng thực tế mang tính chất tương đối, bình đẳng tuyệt đối mà Rousseau mô tả giống như ảo tưởng không thể tồn tại trong hiện thực
Trang 27Trong bài viết Tư tưởng của Rousseau về quyền con người, Tạp chí
triết học số 6 (277), năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền đã đi sâu nghiên cứu tư tưởng của Rousseau về quyền cơ bản của con người, đó là quyền sống, quyền tự do và bình đẳng, quyền tư hữu tài sản, quyền được giáo dục Bài viết khẳng định quyền sống không chỉ là quyền bảo toàn tính mạng,
mà còn bao hàm khía cạnh bảo đảm sự tồn tại của con người tương xứng với bản chất người của mình Chính vì vậy, con người phải thoát ra tình trạng tự nhiên, quyền sống vì lý do đó bao gồm cả quan niệm sống phải được hạnh phúc, phải tự do, bình đẳng Qua bài viết chúng ta có thể thấy được sự mâu thuẫn của Rousseau, một mặt ông bảo vệ quyền tư hữu vừa và nhỏ của quần chúng; mặt khác, ông coi tư hữu là nguồn gốc của mọi bất công trong xã hội Tác giả bài viết cũng khẳng định trong tư tưởng của Rousseau, quyền được giáo dục gắn liền với quyền dân chủ, tự do, bởi mong muốn của Rousseau là xây dựng một hình mẫu lý tưởng thông qua nền giáo dục truyền thống Trong khuôn khổ của một bài viết tạp chí, các nội dung trong tư tưởng về con người, quyền con người của Rousseau chỉ được giới thiệu một cách khái quát, song cũng có giá trị gợi mở, định hướng cho việc thực hiện luận án
Từ sự khái quát tình hình nghiên cứu đề tài cho thấy, các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án khá đa dạng, phong phú, tiếp cận tư tưởng về quyền con người của Rousseau từ gián tiếp tới trực tiếp, từ giác độ lịch sử, triết học tới chính trị, pháp lý Tuy nhiên, chưa có công trình chuyên khảo nào trực tiếp luận giải một cách có hệ thống tư tưởng về quyền con người của Rousseau, từ đó đánh giá những giá trị lịch sử của tư tưởng này về phương diện lý luận, cũng như thực tiễn Bởi vậy, việc tác giả lựa chọn đề tài
“Tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau – Giá trị và bài học lịch sử” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học vừa đảm bảo tính mới, vừa kế thừa được kết quả nghiên cứu của những công trình đã đi trước
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Trang 28Từ việc trình bày một cách có hệ thống nội dung tư tưởng về quyền con người của Rousseau, luận án đánh giá và rút ra những đặc điểm và giá trị của
tư tưởng này đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, luận giải quá trình hình thành, phát triển tư tưởng về quyền
con người của Rousseau
Thứ hai, phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng về quyền con
người của Rousseau
Thứ ba, phân tích đặc điểm tư tưởng về quyền con người của Rousseau,
đồng thời làm rõ giá trị lý luận, giá trị thực tiễn của tư tưởng này đối với việc bảo vệ, phát huy quyền con người trên thế giới nói chung và Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu tư tưởng về quyền con người của Rousseau, tập trung ở các nội dung cơ bản như tư tưởng về quyền tự nhiên, quyền công dân; các quyền tự do, bình đẳng, sở hữu tài sản; tư tưởng về khế ước xã hội, nền dân chủ trực tiếp và nhà nước pháp quyền với tư cách là cơ chế bảo vệ, phát huy quyền con người
Số lượng các công trình của Rousseau khá phong phú, đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Bởi vậy, luận án chỉ khảo cứu các tác phẩm nổi bật
đề cập vấn đề quyền con người gồm: Discours sur les Sciences et les Arts (Luận về khoa học và nghệ thuật); Discours sur l’origine et les fondements de
l’inégalité parmi les hommes (Luận về nguồn gốc và nền tảng của sự bất bình
đẳng ở con người); Du Contrat Social (Bàn về khế ước xã hội), Émile: ou de
l'éducation (Émile hay là về giáo dục)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, tác giả
Trang 29luận án cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch
6 Cái mới của luận án
Thứ nhất, luận án đã luận giải, phân tích một cách có hệ thống nội dung
tư tưởng về quyền con người của Rousseau và những đặc điểm cơ bản của tư tưởng này
Thứ hai, luận án đã đánh giá giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng về
quyền con người của Rousseau đối với việc bảo vệ, phát huy quyền con người của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, luận án góp phần làm sáng tỏ quá trình hình
thành, phát triển và nội dung, đặc điểm của tư tưởng về quyền con người của Rousseau; làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng này trong tiến trình phát triển của lịch sử triết học, cũng như đối với cuộc đấu tranh giải phóng con người, bảo vệ quyền con người trên thế giới và Việt Nam
Về ý nghĩa thực tiễn, luận án đã chỉ ra những vấn đề cần thiết trong việc
kế thừa tư tưởng về quyền con người của Rousseau trong việc bảo vệ, phát huy quyền con người Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy và nghiên cứu lịch sử triết học, đặc biệt là triết học phương Tây giai đoạn Phục hưng - Cận đại
8 Kết cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận án gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 30PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,
PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA JEAN - JACQUES ROUSSEAU
1.1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG
VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA JEAN – JACQUES ROUSSEAU
1.1.1 Điều kiện hình thành, phát triển tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau
Sự hình thành, phát triển của bất cứ một tư tưởng nào cũng là kết quả của sự tương tác giữa yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan Đó là sự phản ánh điều kiện sinh hoạt của xã hội đương thời; sự kế thừa, chắt lọc những quan điểm, học thuyết tồn tại từ trước và sau cùng khúc xạ qua lăng kính của
cá nhân nhà tư tưởng Tư tưởng về quyền con người của Jean – Jacques Rousseau (1712 - 1778) dĩ nhiên cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy Trước hết, nó chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội
và văn hóa, khoa học của Tây Âu, đặc biệt là nước Pháp vào trong những năm cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII
Điều kiện kinh tế
Xã hội Tây Âu vào thế kỷ XVIII có những chuyển biến lớn lao Các thành tựu khoa học – kỹ thuật đã tạo đà cho việc thay đổi từ lao động thủ công sang lao động bằng máy móc, thúc đẩy sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Nước Anh đã trở thành quốc gia đi đầu trên con đường công nghiệp hóa, lĩnh vực công nghiệp cũng như thương mại chứng
Trang 31kiến nhiều bước tiến vượt bậc Bởi vậy, trong tác phẩm Lịch sử thế giới cận
đại, Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng (2003) đã viết:
“Đầu thế kỷ XVIII, nước Anh nhập không quá 1 triệu livrơ bông Vậy mà đến năm 1764 đã nhập 3,8 triệu và 1789 lên tới 32,4 triệu
Về da, tính riêng một trung tâm Lancatsia, năm 1788 sản xuất 75 nghìn tấm và đến năm 1817 lên tới 420 nghìn tấm Tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp nặng cũng tăng lên nhanh chóng Về gang, năm 1720 chỉ sản xuất 18 nghìn tấn, đến năm 1802 đã lên 250 nghìn tấn Về than đá, năm 1750 là hơn 4 triệu tấn, đến 1795 lên tới
10 triệu tấn” (tr.38)
Ngược lại với thực trạng sôi động của nước Anh, vào thế kỷ XVIII, kinh tế của nước Pháp vẫn chủ yếu trông cậy vào nông nghiệp với khoảng 22 triệu người (chiếm hơn 90% dân số) sinh sống, lao động trên đồng ruộng Tuy nhiên, đây lại là nền nông nghiệp kém cỏi, trì trệ Sự kém cỏi của nền nông nghiệp nước Pháp thể hiện rõ nét ở phương thức canh tác lạc hậu, công
cụ lao động thô sơ, sản lượng thu hoạch hàng năm thấp, ruộng đất nhiều nơi
bị bỏ hoang, không thể tăng gia sản xuất, mất mùa xảy ra thường xuyên Tình trạng trên không phải ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của việc duy trì quá lâu quan hệ sản xuất phong kiến đã ngày càng lỗi thời, phản động, trở thành xiềng xích cản trở sự phát triển
Là lực lượng gắn bó gần gũi nhất với ruộng đất, song người nông dân Pháp không hề có quyền sở hữu gì với nó mà toàn bộ đều thuộc về nhà vua Nhà vua phong cấp ruộng đất cho quan lại, quý tộc và đưa họ lên vị trí lãnh chúa – những người có khả năng nắm giữ vận mệnh của nông dân Lãnh chúa phong kiến có thể lấy một phần ruộng đất để chia thành các mảnh nhỏ, phát canh và thu tô của người nông dân (tá điền) Các bản khế ước lĩnh canh thường quy định cho phép tá điền sử dụng ruộng đất từ 1 đến 3 năm, có khi 5
Trang 32năm, sau khi hết thời gian đã quy định, mảnh đất được trả về cho lãnh chúa Ngoài hình thức trên, phần lớn ruộng đất ở Pháp được canh tác theo chế độ vĩnh điền nông nô Dù vẫn không có quyền sở hữu và phải nộp cho lãnh chúa một thứ thuế “cens” nhất định, song khác với hình thức lĩnh canh, những người nông dân vĩnh điền không phải trả lại ruộng đất; nếu vẫn đóng thuế đều thì chắc chắn rằng mảnh đất đó vĩnh viễn trong tay họ và các thế hệ con cháu tiếp sau
Với quan hệ ruộng đất phong kiến như trên, về danh nghĩa phần nhiều nông dân Pháp (bao gồm cả nông dân lĩnh canh và vĩnh điền nông nô) là những người tự do nhưng không thể thật sự tự do mà luôn bị ràng buộc chặt chẽ với lãnh chúa, lệ thuộc, phục vụ cho lãnh chúa Họ phải cống nạp nhiều thứ tô thuế khác nhau, có khi chiếm tới ½ số nông sản thu hoạch được Ở thời kỳ này, người nông dân đã không đóng địa tô và các loại thuế hay nghĩa
vụ phong kiến khác trực tiếp bằng nông sản mà đều được quy thành tiền Sự xâm nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nông nghiệp tuy
có diễn ra song tương đối yếu ớt và có vai trò không đáng kể Những năm giữa và cuối thế kỷ XVIII, khi giá cả nông sản sút giảm, sản lượng thấp kém, sức ép về tô thuế đối với cho người nông dân trở nên hết sức nặng nề; hiện tượng lãnh chúa thu hồi, cướp đoạt ruộng đất của nông dân cũng dần phổ biến Điều này khiến đời sống người nông dân hết sức túng quẫn, cơ cực, nhiều người phải rời bỏ quê hương tìm kế sinh nhai Nền nông nghiệp nước Pháp vào thế kỷ XVIII cũng vì lẽ đó mà ngày càng suy sụp
Có thể nói, vào thế kỷ XVIII, bức tranh nông thôn nước Pháp hiện lên không mấy tươi sáng, thậm chí u ám, tiêu điều Các lãnh chúa tìm mọi cách duy trì phương thức bóc lột cũ kỹ thông qua vô số những đặc quyền phong kiến Số phận người nông dân bị buộc chặt vào những mảnh ruộng nhỏ hẹp, nhưng luôn đứng trước nguy cơ bị tước đoạt, bị bần cùng hóa Thực trạng
Trang 33này khiến nhu cầu phá vỡ quan hệ phong kiến giải quyết vấn đề đất đai, bảo đảm sự sinh tồn cho người nông dân trở nên hết sức cấp bách
Khác với những gì diễn ra tại nông thôn, mặc dù còn thua kém nước Anh khá xa, song nền công thương nghiệp nước Pháp vào thế kỷ XVIII cũng từng bước phát triển làm cho bộ mặt của những thành thị có nhiều thay đổi
rõ rệt Paris – thủ đô nước Pháp trở thành một trung tâm thương nghiệp, một thành phố nổi tiếng thế giới về sản xuất xa xỉ phẩm, đặc biệt là mĩ phẩm Thành phố này có dân số là 50 vạn nhưng đã có đến có 6 vạn người ngày đêm làm lụng trong các công xưởng Bên cạnh Paris, nước Pháp còn nhiều trung tâm kinh tế quan trọng khác như: thành phố Rouen và Le Havre – tập trung công nghiệp vải sợi; hải cảng Nantes và Bordeaux trông ra Đại Tây Dương - buôn bán hương liệu sẩm uất; thành phố cảng Marseille bờ Địa Trung Hải và thành phố Lion bên sông Rhône - sản xuất hàng tơ lụa và nhung Các thương nhân Pháp đã mở rộng quan hệ buôn bán với nhiều nước
ở Châu Âu, Châu Mỹ, các nước phương Đông và nhiều thuộc địa của nước
họ, đặc biệt là quần đảo Antilles, Saint Domingue, Martinique Nhờ vậy, tỷ trọng xuất nhập khẩu của nước Pháp gia tăng, trong đó các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là hàng xa xỉ phẩm, gia súc, lúa mì, rượu vang; hàng nhập khẩu gồm cà phê, thuốc lá, đường Nô lệ da đen cũng là một loại hàng hóa
mang lại lợi nhuận màu mỡ Theo tác phẩm Lịch sử thế giới cận đại, năm
1789, “ngành ngoại thương của Pháp thu 1.826 triệu livrơ sản phẩm nông nghiệp và gần 525 triệu livrơ sản phẩm công nghiệp (Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng, 2003, tr.63)
Cùng với những tiến bộ của công thương nghiệp, các công trường thủ công theo hình thức phân tán được áp dụng trên khắp nước Pháp Hình thức công trường thủ công tập trung còn tương đối ít nhưng đã chiếm địa vị kinh tế đáng kể Chủ công trường thủ công thường là những nhà kinh doanh công
Trang 34thương nghiệp, những người chủ nguyên liệu, giao cho công việc cho các thợ thủ công gia đình rồi thu mua sản phẩm Ngoài những công trường thủ công cũng bước đầu xuất hiện các công ty đứng ra kinh doanh Lượng nhân công được sử dụng trong các công trường tuy bị giới hạn bởi những quy định của nhà nước, song đã ngày một tăng lên đáng kể, điển hình là số công trường dùng từ 50 đến 100 công nhân, công ty than Anh thuê tới 4000 công nhân (Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, 2003, tr.64) Trong ngành vải sợi – ngành công nghiệp phát triển mạnh nhất lúc đó, riêng vùng Rouen đã phải dùng tới
19 vạn thợ kéo sợi Trong các công trường cũng bước đầu sử dụng máy móc, máy dệt Jenny, máy kéo sợi Arkwright đã xuất hiện trong các xưởng dệt, máy hơi nước và lò cao bắt đầu được sử dụng trong các ngành khai mỏ và luyện kim
Nhìn chung, vào thế kỷ XVIII, công thương nghiệp nước Pháp có những tiến bộ đáng kể, yếu tố tư bản chủ nghĩa từng bước hình thành Tuy nhiên, điều này chỉ diễn ra ở một số thành thị lớn, mang tính chất tản mạn, đồng thời bị cản trở, kìm kẹp bởi chế độ phong kiến Dẫu hơn 90% người dân sống ở nông thôn, song cuộc sống của họ mang nặng tính chất tự cấp, tự túc, nông sản chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu của chính người sản xuất, họ chỉ bán
để lấy tiền nộp thuế mà thôi Do bị bóc lột tới cùng cực nên người nông dân không thể mua hàng tiêu dùng được Điều này khiến thị trường công thương nghiệp trong nước của Pháp hầu như rất nhỏ hẹp, thị trường nông thôn bị bỏ trống Không chỉ vậy, triều đình phong kiến Pháp đã thực thi một chính sách thuế khóa rất nặng nề và ban hành hàng loạt các quy định ngặt nghèo đối với công thương nghiệp, điển hình như: quy định về sản xuất hàng hóa phải theo một khuôn mẫu nhất định, nhưng ở các tỉnh khác nhau lại có nhiều quy định khác nhau; quy định về việc hạn chế số lượng công nhân trong một công xưởng; quy định về hạn chế số lượng sản phẩm Bên cạnh đó, do quyền lợi của các quý tộc phong kiến, Pháp đã tham gia ký kết một số hiệp ước thương
Trang 35mại với nước khác nhưng có hại đến lợi ích của giai cấp tư sản chính nước mình, điển hình như Hiệp ước về hạ mức thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ Anh sang vào năm 1786…
Có thể nói, diện mạo kinh tế nước Pháp thế kỷ XVIII đã thể hiện sự chênh lệch rõ nét giữa nông thôn và thành thị, đồng thời phản ánh những mâu thuẫn về lợi ích giữa các giai cấp trong xã hội Quan hệ sản xuất phong kiến
đã đè nặng lên thân phận người nông dân, đẩy nền nông nghiệp nước Pháp đi đến suy sụp Không chỉ vậy, nó còn hạn chế tính tích cực của công thương nghiệp, cản trở sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khiến giai cấp tư sản cảm thấy bức bối, ngột ngạt Thực trạng đã nêu cho thấy việc xóa bỏ những sợi dây ràng buộc của phong kiến đối với nền kinh tế, gắn liền với cuộc đấu tranh đòi tự do, bình đẳng của con người đã trở thành một yêu cầu khách quan và tất yếu của lịch sử
Điều kiện chính trị - xã hội
Từ thế kỷ XVI, cùng với sự hình thành, phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong xã hội Tây Âu, giai cấp tư sản đã dần bước lên
vũ đài chính trị, đồng thời thực hiện các cuộc cách mạng chống lại chế độ phong kiến, điển hình như Cách mạng tư sản Hà Lan (1566), Cách mạng tư sản Anh (1640 - 1688) Tuy nhiên, cho đến thế kỷ XVIII, nước Pháp vẫn là một nước phong kiến, thậm chí ở thời vua Louis XIV (1638 - 1715), nó còn là
một quốc gia phong kiến hùng cường Trong tác phẩm Lịch sử thế giới, hai
tác giả Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang (2012) đã viết: “Louis XIV ở ngôi đến 72 năm Ông được tôn lên làm đại vương Các vua châu Âu đều phải phục tùng ông cả…Quyền vua không giới hạn Việc cai trị của vua không bị kiểm soát” (tr.460 - 461)
Bước sang giai đoạn cai trị của vua Louis XV (1710 - 1774) và vua Louis XVI (1754 - 1793), chế độ phong kiến của nước Pháp bắt đầu suy yếu
Trang 36Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này việc Pháp liên tục tham gia các cuộc chiến tranh, điển hình như cuộc chiến giành quyền thừa kế ở Tây Ban Nha (1701 - 1714), ở Ba Lan (1733 - 1735), ở Áo (1740 - 1748) Cuộc chiến tranh có tầm vóc lớn nhất trong thế kỷ XVIII mà Pháp tham gia là chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763) giữa một bên là Áo, Pháp, Nga, bên kia là Anh
và Phổ Kết thúc cuộc chiến Pháp đã bị nước Anh chiếm mất một số thuộc địa như Canada và Ấn Độ Điều này đã làm tài chính Pháp kiệt quệ, quốc khố trống rỗng, nợ nần chồng chất, đất nước lâm vào khủng hoảng chưa từng có Tuy trong hoàn cảnh đó nhưng triều đình phong kiến Pháp vẫn duy trì, dung dưỡng, cung cấp bổng lộc cho một bộ máy quan chức khổng lồ, phung phí tiền bạc vào những lễ hội, tiệc tùng và sinh hoạt xa hoa Vua Louis XVI được
các tác giả tác phẩm Lịch sử thế giới cận đại mô tả như sau:
Nhà vua sống ở cung điện Versailles với một đám quần thần đông đúc tới gần 2 vạn người chuyên việc phục vụ cho hoàng gia và sống dựa vào bổng lộc Bản thân vua là một con người phì nộn lười biếng và bất tài, tất cả thời gian đều dùng vào việc săn bắn (Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, 2003, tr.61)
Mặc dù đã thể hiện sự lạc hậu, kém hiệu năng, song tính chất độc đoán, chuyên chế của triều đình phong kiến Pháp không hề suy giảm mà ngày càng
rõ nét Nước Pháp không có Hiến pháp, không có Nghị viện, quyền lực tối thượng tập trung vào tay đức vua Vua tự coi ý chí của mình là ý của Trời, đứng trên pháp luật và hầu như không bị chế ước bởi bất cứ một cơ chế nào
Để có tiền trang trải nợ nần và tiêu xài, vua và triều đình ngầm đồng ý cho việc tổ chức mua quan, bán tước, phá giá tiền tệ, đánh thuế nặng nhưng không công bằng, bóc lột và bóp nghẹt tự do của người dân
Nhằm đảm bảo sự tồn tại của chế độ phong kiến độc đoán, hà khắc, dập tắt mọi sự phản kháng, ru ngủ ý chí đấu tranh của quần chúng nhân dân, công
Trang 37cụ thống trị được nhà vua và triều đình sử dụng là quân đội, cảnh sát, nhà tù
và nhà thờ Thiên Chúa giáo Quân đội, cảnh sát, nhà tù là công cụ bạo lực có chức năng đàn áp khi quần chúng nổi dậy hoặc có hành vi thách thức uy quyền của nhà vua, cũng như quý tộc Nhà tù Bastille ở Paris đã trở thành hình ảnh tượng trưng cho nền chuyên chế Vũ Dương Ninh và Nguyễn Văn Hồng (2003) đã viết: “Đó là một nhà tù lâu đời và kiên cố, cao 23 m, tường dày từ 1,6m đến 1,8 m, có tám ngục tối dưới đất dùng để giam người cùng rắn rết” (tr.60) Nhà tù ấy đã khống chế toàn bộ nước Pháp, dẫm bàn chân của sự chuyên chế lên thân phận của người dân để thỏa mãn ý thích thất thường của đẳng cấp quý tộc
Bên cạnh các công cụ bạo lực, triều đình phong kiến Pháp còn hợp tác chặt chẽ với nhà thờ Thiên Chúa giáo để duy trì trật tự hiện hành, từ đó biến nhà thờ trở thành chỗ dựa tinh thần cho thể chế Các tăng lữ Thiên Chúa giáo
đã lợi dụng ảnh hưởng lớn trong nông dân để thần thánh hóa nhà vua, khuyên nhủ người dân trung thành tuyệt đối với chế độ chuyên chế, reo rắc tư tưởng
an phận, chấp nhận sự bất bình đẳng Liên minh giữa nhà thờ với triều đình cũng đã mở ra cơ hội và tạo điều kiện cho nhà thờ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi, đồng thời mở rộng ảnh hưởng của nhà thờ trên nhiều lĩnh vực,
từ chính trị đến kinh tế, văn hóa Nhà vua nhận ân huệ từ Chúa và ngược lại phải huy động quyền lực của mình để nối dài cánh tay thần thánh của Chúa đến cõi thế tục, thiết lập mạng lưới nhà thờ ở khắp đất nước Pháp Điều này chứng tỏ ở Pháp, tôn giáo đã dán cứng số phận của mình với với nền quân chủ chuyên chế Do sợi dây lợi ích ràng buộc, tôn giáo ủng hộ chính quyền dẫu chính quyền ấy có độc đoán đến đâu đi nữa và chính quyền ủng hộ tôn giáo, dẫu tôn giáo có trống rỗng đến đâu đi nữa Bởi vậy, Jean Meslier (1644
- 1729) – một triết gia trong giai đoạn Khai sáng Pháp đã viết tác phẩm
Mémoire contre la religion (Ký ức chống lại tôn giáo) để vạch trần bản chất
giả dối của tôn giáo, “tập trung làm cho con người thấy rõ sự hư hỏng và sai
Trang 38lầm của tôn giáo mà họ theo đuổi” (Jean Meslier, 2007, tr.41) Cũng nói về
vấn đề này, trong tác phẩm Lịch sử cách mạng Pháp, Will và Ariel Durant
Sự gắn bó giữa triều đình phong kiến Pháp và nhà thờ trong việc thống trị đời sống vật chất, cũng như đời sống tinh thần của nhân dân, vô hình chung đã tạo ra một kết cấu xã hội có sự phân biệt đẳng cấp một cách rạch ròi, bao gồm: đẳng cấp thứ nhất là tăng lữ, đẳng cấp thứ hai là quý tộc, đẳng cấp thứ ba là tư sản, công nhân, nông dân, bình dân thành thị…., trong đó
“tăng lữ phục vụ nhà vua bằng những lời cầu nguyện, quý tộc phục vụ bằng lưỡi kiếm” Dẫu chỉ với số lượng người ít ỏi (khoảng 1% dân số), song đẳng cấp tăng lữ và quý tộc lại giữ vị thế hết sức quan trọng trong xã hội Pháp thế
kỷ XVIII Họ nắm gần hết các chức vụ lớn nhỏ của nhà nước và nhà thờ, hưởng vô số đặc quyền, đặc lợi và thản nhiên bóc lột mồ hôi, nước mắt của nhân dân để sống một cuộc sống giàu có, lãng phí Vì lẽ đó, tăng lữ và quý tộc là hai đẳng cấp trung thành, luôn luôn nhiệt tình bảo vệ, níu kéo sự tồn tại của chế độ phong kiến chuyên chế Thực tế, cũng có quý tộc tiến bộ, có khuynh hướng đấu tranh đòi tự do, bình đẳng, công kích chế độ phong kiến và đòi cải cách xã hội theo hình thức tư bản chủ nghĩa Đây là những quý tộc có tham gia hoạt động công thương nghiệp, hoặc là các đại tư sản dùng tiền để mua tước hiệu Tuy vậy, bộ phận này khá ít ỏi và chỉ có tác động rất nhỏ đến đời sống xã hội
Trang 39Nếu như tăng lữ phục vụ nhà vua bằng lời cầu nguyện, quý tộc phục vụ nhà vua bằng lưỡi kiếm, thì đẳng cấp thứ ba trong xã hội Pháp thế kỷ XVIII phục vụ bằng của cải Họ phải vắt kiệt sức lực của mình để lao động cung phụng cho các đẳng cấp, tầng lớp có đặc quyền Ở đây có một nghịch lý hết sức to lớn, đó là đẳng cấp thứ ba mặc dù có số lượng hết sức đông đảo (chiếm 99% dân số) và là lực lượng cơ bản, chủ yếu trong xã hội, song bản thân họ lại không được tham gia cơ quan nhà nước, không có bất cứ quyền hành chính trị gì Trong đẳng cấp này, giai cấp tư sản nổi lên như bộ phận có tiềm lực tài chính rất lớn, đại diện cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang từng bước hình thành Với sự năng động, nhạy bén, họ đã dần lấn lướt giới quý tộc phong kiến, nắm trong tay huyết mạch kinh tế của xã hội và ngày càng khuếch trương ảnh hưởng tới công thương nghiệp, xuất nhập khẩu và cả lĩnh vực nông nghiệp Trên thực tế, triều đình và một bộ phận không nhỏ quý tộc đã trở thành con nợ của giai cấp tư sản Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích của mình, triều đình đã ban hành nhiều quy định ngặt nghèo, đồng thời tìm mọi cách để kìm hãm công thương nghiệp, tách rời giai cấp tư sản ra khỏi mọi quyền lực chính trị và sẵn sàng chà đạp các tư tưởng, hành động đòi tự do Những điều này không dập tắt mà ngày thôi thúc giai cấp tư sản nỗ lực tháo
bỏ gông cùm chật hẹp của chế độ phong kiến, đưa họ lên vị trí tiên phong trong cuộc đấu tranh vì quyền con người ở thế kỷ XVIII
Bên cạnh giai cấp tư sản, trong xã hội Pháp thế kỷ XVIII, nông dân là giai cấp đông đảo nhất nhưng khốn khổ nhất Họ bị kìm kẹp bởi các quyền tư pháp của lãnh chúa, sống nghèo đói trong những túp lều chật hẹp, trống rỗng, gia đình, con cái phải thắt lưng, buộc bụng để đóng thuế cho các lãnh chúa và nhà thờ Những khoản tiền mà người nông dân phải cống nạp vô cùng nhiều
và phức tạp, phi lý, chẳng hạn như tiền thuế để sử dụng cối xay, máy ép mía,
lò bánh mì, máy ép nho; tiền qua cầu, qua đường, qua đò, câu cá, giết gia súc; tiền rửa tội, tiền đi lễ Ngoài ra, họ cũng phải thực hiện nhiều nghĩa vụ lao
Trang 40dịch khác như làm đường, xây cầu, vận chuyển hàng hóa, hỗ trợ cho binh
lính Tác phẩm Đại cách mạng Pháp 1789 đã mô tả thân phận của người nông
dân Pháp như sau:
“Người ta thấy một số thú vật dữ tợn, đực và cái rải khắp các làng xóm, xạm đen, hốc hác và rám nắng, gắn chặt vào mảnh đất mà chúng đào xới, một cách cực kỳ nhẫn nại Hình như chúng cũng có một giọng nói,
và khi chúng đứng lên, người ta thấy chúng có bộ mặt người Đêm đến chúng chui rúc vào hang sống bằng bánh mì đen, nước lã và rễ cây Nhờ chúng những người khác khỏi phải gieo trồng, cày và gặt để sống
và đó chúng xứng đáng được hưởng thứ bánh mà chúng đã gieo trồng” (A.Manfret, 1965, tr.30 - 31)
Trong tác phẩm Jean – Jacques Rouseau, Will và Ariel Durant đã miêu
tả cảnh một người nông dân trốn thuế khi đưa thức ăn cho Rousseau như sau:
“Người nông dân đưa cho chàng bánh làm bằng lúa mạch và sữa, bảo rằng đây là tất cả những gì ông ta có Nhưng khi thấy Jean - Jacques Rousseau không phải là nhân viên thu thuế, ông ta mở một cánh cửa, bước xuống, và sau đó đi lên với bánh mì trắng, giăm bông, trứng và rượu vang ông ta phải giấu những thức ăn ngon để khỏi phải bị đánh thuế thêm” (2015, tr.34)
Do bị bóc lột đến cùng cực nên người nông dân Pháp dẫu bị đàn áp bởi những công cụ bạo lực cũng như bị thuyết giảng bởi vô số luân lý của nhà thờ vẫn luôn bày tỏ sự phẫn uất đối với thực trạng xã hội, căm thù lãnh chúa và quý tộc phong kiến Họ luôn nung nấu tư tưởng tranh đấu, mong muốn có cuộc sống đúng với tư cách là một con người
Cùng chung số phận với người nông dân, một bộ phận dân cư thuộc đẳng cấp thứ ba yếu thế, nghèo đói, sống tạm bợ, chen chúc ở ngoại ô các thành thị bao gồm: công nhân, thợ thủ công, những người bán hàng rong,