1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đề xuất giải pháp phát triển thị trường chứng khoán việt nam

109 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sở giao dịch chứng khoán được thành lập theo quy định của pháp luật, là một tổ chức pháp nhân, có thể được tổ chức theo một trong những loại hình sở hữu cơ bản: Sở hữu nhà nước, hình th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

PHẠM HOÀNG ANH

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã đƣợc công bố theo đúng qui định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tác giả tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù với thực tế

Tác giả

Phạm Hoàng Anh

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ v

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 3

1.1 TỔNG QUAN VỀ TTCK 3

1.1.1 Khái niệm về TTCK 3

1.1.2 Chức năng của TTCK 3

1.1.3 Các chủ thể tham gia vào TTCK 4

1.1.4 Cấu trúc TTCK 7

1.1.5 Hàng hóa trên TTCK 9

1.1.6 Vai trò điều tiết của Chính phủ đối với TTCK 11

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN TTCK 13

1.2.1 Khái niệm về phát triển TTCK 13

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển TTCK 14

1.2.3 Các điều kiện phát triển TTCK 20

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN TTCK TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA 22

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển TTCK Trung Quốc 22

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển TTCK khu vực Đông Nam Á 24

1.3.3 Bài học cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam 26

Kết luận chương 1 28

Chương 2 - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 29

2.1 SỰ RA ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT NAM 29

2.1.1 Sự ra đời của thị trường CK Việt Nam 29

2.1.2 Các giai đoạn phát triển 29

2.1.3 Cơ cấu tổ chức TTCK Việt Nam 31

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM 33

2.2.1 Cấu trúc và hàng hóa trên TTCK Việt Nam 33

2.2.2 Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán Việt Nam 38

2.2.3 Cơ chế hoạt động và điều hành thị trường Chứng khoán Việt Nam 46

2.2.4 Các chỉ số về sự phát triển của TTCK Việt Nam 48

2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT NAM 66

2.3.1.Kết quả và hạn chế của TTCK Việt Nam 66

2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế 71

Trang 4

Kết luận chương 2 74

Chương 3 - GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 75

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM 75

3.1.1 Mục tiêu và định hướng phát triển TTCK Việt Nam 75

3.1.2 Định hướng phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2020 75

3.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM 77

3.2.1 Giải pháp phát triển các hàng hóa của TTCK 77

3.2.2 Phát triển các chủ thể trên TTCK 82

3.2.3 Hoàn thiện cơ chế điều hành và hoạt động của TTCK 91

Kết luận Chương 3 94

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 98

Trang 5

Chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng (Initial Public Offering)

Tổ chức quốc tế các Uỷ ban chứng khoán (The International Organization of Securities Commissions)

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Nhà đầu tư nước ngoài

Thị trường phi tập trung (Over the Counter Market) Pháp luật nhà nước

Sở Giao dịch chứng khoán Trái phiếu chính phủ Trái phiếu doanh nghiệp Trách nhiệm hữu hạn Thị trường chứng khoán Trung tâm Giao dịch chứng khoán Trung tâm lưu ký chứng khoán

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Thị trường giao dịch các chứng khoán chưa niêm yết (Market

Of Unlisted Public Companies

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

Bảng 2.1: Giá trị vốn hóa của Việt Nam và một số nước trên thế giới 50

Bảng 2 2: So sánh Tỷ lệ vốn hóa thị trường/GDP Việt Nam và một số nước trên thế giới 51

Bảng 2 3 : So sánh Tỷ lệ giá trị giao dịch so với GDP của TTCK Việt Nam và một số TTCK trên thế giới từ 2010 -2016 55

Bảng 2.4: So sánh Tỷ suất quay vòng chứng khoán của Việt Nam và các nước 57

Bảng 2.5: Mức biến động của Vn-Index trong giai đoạn từ năm 2010 - 201659 Bảng 2.6: Sự biến động chỉ số và độ tương quan của chỉ số VN30 với VN-Index 61

Bảng 2.7: So sánh về tỷ trọng giữa HNX30 và HNX-Index 62

Hình 1.1: Cơ cấu TTCK căn cứ vào phương thức giao dịch 8

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức TTCK Việt Nam 32

Hình 2.2: Hệ thống giao dịch TTCK Việt Nam 41

Hình 2.3: Mức Vốn hóa thị trường cổ phiếu và Tỷ lệ vốn hóa so với GDP của TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 – 2016 48

Hình 2.4: Số lượng công ty niêm yết trên 2 Sở GDCK Việt Nam 51

Hình 2.5: Thống kê cổ phiếu niêm yết mới 52

Hình 2.6: Thống kê cổ phiếu hủy niêm yết 52

Hình 2.7: Thị trường UPCoM 201 1 - 2015 53

Hình 2.8: Tỷ lệ GTGD/GDP và Tỷ lệ vốn hóa/GDP của TTCK Việt Nam giai đoạn 2005-2016 55

Hình 2.9: Tỷ lệ GTGD so với GDP của TTCK Việt Nam so với TTCK Thái Lan, Singpapore và thế giới 55

Hình 2.10: Tỷ suất quay vòng chứng khoán của Việt Nam từ 2005 - 2016 56

Hình 2.11: Biểu đồ diễn biến TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 -2016 58

Hình 2.12: Mức biến động của Vn-Index trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016 59

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường chứng khoán (TTCK) là thị trường tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung TTCK còn được gọi là phong vũ biểu của nền kinh

tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô

Do đó, TTCK là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, đặc biệt là một trong những yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại Hiện nay TTCK thế giới đang phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp … và cả ở những nước đang phát triển như Thái Lan, Philipine, Brazil, Indoesia …, Việt Nam cũng đã có TTCK đầu tiên từ tháng 7/2000 và đang dần khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính và nền kinh tế Việt Nam Vậy TTCK Việt Nam đã phát triển như thế nào sau 16 năm hoạt động kể từ khi thành lập đến nay và giải pháp nhằm phát triển TTCK trong thời gian tới là gì? Để

trả lời cho những câu hỏi đó, tác giả đã chọn đề tài “Phân tích và đề xuất giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam”

2 Mục đích nghiêu cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp phát triển TTCK Việt Nam Trên cơ sở lý luận về khái niệm phát triển TTCK, các nội dung của phát triển TTCK và cách xác định mức độ phát triển của TTCK, tác giả phân tích và đánh giá thực trạng phát triển của TTCK Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp để phát triển TTCK trong thời gian tới Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể cần phải được trả lời là:

1 Phát triển TTCK là gì? Các nội dung của phát triển TTCK là gì?

2 Mức độ phát triển của TTCK được xác định như thế nào?

3 Thực trạng tình hình phát triển của TTCK tại Việt Nam là như thế nào?

4 Các giải pháp nào cần được thực hiện để phát triển TTCK Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mức độ phát triển của TTCK Việt Nam Phát triển của TTCK được nghiên cứu trên các khía cạnh: cấu trúc của TTCK, hàng hóa trên TTCK, các chủ thể tham gia thị trường, cơ sở pháp lý về TTCK và vận động của thị trường

Để phân tích và đánh giá sự phát triển của TTCK Việt Nam, phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động của TTCK Việt Nam trong giai đoạn từ khi thành lập năm 2000 đến cuối năm 2016, trong đó tập trung vào giai đoạn 2005-2016

Trang 8

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng trong luận văn bao gồm Phương pháp phân tích và tổng hợp, kết hợp phân tích định lượng và định tính để so sánh, phân tích và giải thích số liệu, liên hệ với các nguyên nhân thực tế

Phương pháp so sánh thống kê sử dụng số liệu thực tế theo thời gian và số liệu thời điểm để so sánh dọc, so sánh chéo về sự phát triển của TTCK Việt Nam với các TTCK ở một số nước trên thế giới thông qua việc sử dụng các chỉ tiêu định lượng

và định tính

Các số liệu về hoạt động của TTCK sẽ được tổng hợp từ các số liệu do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), các Sở Giao dịch chứn khoán (SGDCK), các công ty chứng khoán (CTCK) cung cấp và một số nguồn chính thống khác Các số liệu này được sử dụng để đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động và hiệu quả quản lý TTCK

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, chữ viết tắt, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo ba chương:

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Trang 9

Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 TỔNG QUAN VỀ TTCK

1.1.1 Khái niệm về TTCK

Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán

hoặc chỉ số chứng khoán (theo điểm 1, điều 6, Luật Chứng khoán số

70/2006/QH11)

TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính, thực hiện cơ chế trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính

là cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế

TTCK là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh- hợp đồng tương lai, quyền chọn, quyền mua cổ phiếu, chứng quyền (PGS.TS Bùi Kim Yến và TS Thân Thị Thu Thủy, 2014)

Việc mua bán chứng khoán được diễn ra ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp Hàng hóa giao dịch trên TTCK bao gồm: các loại cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn phát hành trên một năm

Tóm lại, TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính, hoạt động của TTCK

nhằm mục đích huy động các nguồn vốn trong xã hội để cung cấp vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức và Chính phủ nhằm phục vụ phát triển kinh

tế, xã hội của một quốc gia TTCK là nơi diễn ra các hoạt động phát hành, và trao đổi mua bán các chứng khoán

1.1.2 Chức năng của TTCK

1.1.2.1 Huy động vốn cho nền kinh tế

TTCK góp phần tạo vốn cho các doanh nghiệp bằng nhiều cách khác nhau, thông qua TTCK các doanh nghiệp có thể phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng thông qua thị trường sơ cấp, bán chứng khoán phát hành thêm ra TTCK Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu xã hội Với chức năng hỗ trợ này, TTCK đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế

TTCK không những thu hút các nguồn vốn trong nước mà còn giúp Chính phủ và các doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu công ty ra TTCK quốc tế để thu hút thêm vốn ngoại tệ Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua kênh chứng khoán là an toàn và hiệu quả vì các chủ thể phát hành được toàn quyền sử dụng vốn huy động cho mục đích riêng mà chịu ít các điều kiện ràng

Trang 10

buộc

1.1.2.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các

cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình để có thể mang lại lợi nhuận tốt nhất cho quyết định đầu tư

1.1.2.3 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén

và khá chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế như lạm phát, lãi suất tăng cao, nền kinh tế suy giảm Vì thế, TTCK được gọi là “phong vũ biểu của nền kinh tế” và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ tạo ra nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế nhằm kiểm soát lạm phát

1.1.2.4 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có TTCK, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở

hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn, để có thể mang lại lợi nhuận đầu tư tối ưu Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư

1.1.2.5 Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp

Trong một thị trường thông tin minh bạch, những biến động giá cổ phiếu của doanh nghiệp, tình hình hoạt động kinh doanh, sức khỏe tài chính và các cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và khá chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện Nhờ sự biến động của giá cổ phiếu, các nhà đầu tư có thể đánh giá doanh nghiệp một cách khách quan và khoa học nhất tại bất kỳ thời điểm nào Bên cạnh đó, yêu cầu minh bạch hóa thông tin đối với các Công ty niêm yết trên TTCK, giúp các nhà đầu tư, nhà quản lý thị trường có thể đánh giá tình hình hoạt động của các doanh nghiệp

1.1.3 Các chủ thể tham gia vào TTCK

1.1.3.1 Các tổ chức quản lý thị trường:

Ủy ban chứng khoán nhà nước: là cơ quan điều tiết vĩ mô về thị trường chứng

khoán do chính phủ thành lập, tuy nhiên không phải Ủy ban chứng khoán nhà nước

ra đời khi bắt đầu xuất hiện thị trường chứng khoán Quá trình phát triển thị trường chứng khoán thế giới cho thấy Ủy ban chứng khoán nhà nước được hình thành sau một thời gian dài hoạt động của thị trường chứng khoán phi tập trung; thị trường này hình thành một cách tự phát khi xuất hiện từ thế kỷ 18 nhưng đến năm 1968 mới có Ủy ban giám sát chứng khoán và đầu tư Ở Mỹ có thị trường chứng khoán từ năm 1972 nhưng đến năm 1993, Ủy ban giám sát chứng khoán và giao dịch mới ra

Trang 11

đời Ở Thái Lan, Sở giao dịch chứng khoán được phục hồi lại năm 1975 nhưng đến năm 1992 mới có Ủy ban chứng khoán quốc gia…

Sở giao dịch chứng khoán: là nơi gặp gỡ giữa các thành viên của thị trường

chứng khoán để thương lượng đấu giá mua bán chứng khoán, và là cơ quan phục vụ cho hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán

Sở giao dịch chứng khoán chỉ là thị trường giao dịch, không phải là tổ chức mua vào bán ra các loại chứng khoán; cung cấp các dịch vụ thông tin; quản lý giám sát các hoạt động mua bán chứng khoán, bảo đảm công bằng trật tự, an toàn và hiệu quả trong giao dịch mua bán chứng khoán Các hoạt động của thị trường chứng khoán chủ yếu diễn ra tại Sở giao dịch chứng khoán Sở giao dịch chứng khoán được thành lập theo quy định của pháp luật, là một tổ chức pháp nhân, có thể được

tổ chức theo một trong những loại hình sở hữu cơ bản:

Sở hữu nhà nước, hình thức này được áp dụng ở một số quốc gia đang phát

triển.Với loại hình này, Sở giao dịch chứng khoán thực chất là một cơ quan của Chính phủ, do Chính phủ thành lập và quản lý, chi phí cho sự hoạt động của nó do ngân sách nhà nước cấp

Sở hữu tư nhân: bao gồm sở hữu thành viên và sở hữu của các cổ đông ngoài

Sở giao dịch chứng khoán Hình thức này có ưu điểm là các thành viên vừa là người tham gia giao dịch, vừa là người quản lý Sở giao dịch chứng khoán nên chi phí thấp, dễ ứng phó với tình huống thay đổi trên thị trường

1.1.3.2 Các nhà phát hành chứng khoán

Bằng cách phát hành và bán các chứng khoán trên các thị trường sơ cấp để huy động vốn, Chính phủ, các doanh nghiệp và các chế tài chính được gọi là các nhà phát hành chứng khoán

Chính phủ: Gồm chính quyền trung Ương và chính quyền địa phương Đây là

một trong những chủ thể cung cấp chứng khoán để điều hòa ngân sách và thực hiện các chính sách đầu tư của nhà nước Nhà nước có thể phát hành các loại giấy tờ có giá khác nhau, các giấy nhận nợ này của Chính phủ là chứng khoán, được phép mua bán trên thị trường

Doanh nghiệp: Bao gồm các công ty cổ phần và các doanh nghiệp nhà nước

Loại chứng khoán phổ biến trên thị trường chứng khoán là cổ phiếu được phát hành

từ các công ty cổ phần khi thành lập công ty cũng như các công ty cần tăng thêm vốn để tiến hành đầu tư, đổi mới trang thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tạo ra những sản phẩm có ưu thế trong cạnh tranh Ngoài các giải pháp để huy động thêm vốn, các doanh nghiệp phát hành trái phiếu công ty

Các định chế tài chính (financial institutions): là các định chế được lập ra để huy động tiền trong công chúng chuyển thành những tài sản tài chính, có thể bao gồm các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các quỹ trợ cấp hưu bổng, các công ty đầu tư, các công ty tài chính,…Khi các định chế này đi vào hoạt động cũng có nhu cầu tăng vốn bằng con đường huy động dưới hình thức phát hành cổ phiếu và trái phiếu

1.1.3.3 Các nhà đầu tư chứng khoán

Trang 12

Đầu tư chứng khoán là việc bỏ vốn tiền tệ ra mua các chứng khoán nhằm mục tiêu kiếm lời từ thu nhập cổ tức, trái tức hoặc cũng có thể từ chênh lệch giá do kinh doanh chứng khóan đem lại Mọi thành phần trong xã hội đều có thể là nhà đầu tư

Có thể chia thành hai loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức

Nhà đầu tư cá nhân: là công chúng khi có vốn nhàn rỗi tạm thời, họ tham gia

mua chứng khoán với mục đích đầu tư kiếm lời, khi có nhu cầu vốn họ đem bán lại các chứng khoán đã mua trên thị trường thứ cấp

Nhà đầu tư tổ chức: bao gồm các quỹ hưu trí, quỹ tương hỗ, quỹ tài chính công,

các quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ cứu trợ các công ty bảo hiểm, các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, các công ty đầu tư đa quốc gia, …Các tổ chức này tham gia thị trường chứng khoán với tư cách vừa là người mua, vừa là người bán chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận Sự thâm nhập của các tổ chức này vào thị trường chứng khoán ngày càng bành trướng góp phần tạo sự sôi động cho thị trường

1.1.3.4 Các định chế tài chính trung gian

Các định chế tài chính trung gian (financial intermediaries): thường làm trung gian giữa chủ thể thừa vốn với những chủ thể thiếu vốn, có thể bao gồm :

Những định chế ký thác (depository institutions) bao gồm các ngân hàng

thương mại, ngân hàng tiết kiệm, hiệp hội tiết kiệm và cho vay Những định chế ký thác này có một đặc điểm chung có thể tạo ra một tài sản nợ (liabilities)

Những định chế tiết kiệm hợp đồng (contractual saving institutions) gồm có

những công ty bảo hiểm (insurance companies), các quỹ hỗ trợ hưu bổng (pension funds) Những định chế này tạo ra những tài chính như là các kế hoạch bảo hiểm, tiền trợ cấp hàng năm, tiền trợ cấp các loại và tạo thành mối quan hệ hợp đồng với người mua

Các công ty đầu tư (invesment companies) sử dụng những ngân quỹ huy động

được từ những nguồn tiết kiệm để mua những tập hợp tài sản có thể bao gồm những

cổ phiếu, trái phiếu và những chứng khoán của thị trường tiền tệ

Các công ty tài chính (financial companies) cung cấp cho người đi vay một sự

lựa chọn khác hơn là phải vay ở những định chế ký thác khác

Các công ty kinh doanh và môi giới chứng khoán (security brokers and

dealers) Ở thị trường chứng khoán không có người mua và người bán cuối cùng Nhờ có sự tham gia của các công ty kinh doanh và môi giới chứng khoán với tư cách là nhà tạo lập thị trường sẽ làm cho thị trường hoạt động liên tục, không bị gián đoạn Vì vậy, cũng có thể nói thị trường chứng khoán là tổ chức định chế của các nhà môi giới chứng khoán Thành viên môi giới tham gia thị trường chứng khoán có thể là pháp nhân hay thể nhân, có thể là công ty trong nước hay nước ngoài Tùy theo quy định của mỗi nước, hoạt động trên thị trường chứng khoán có thể có các loại môi giới khác nhau

Một công ty chứng khoán có thể hoạt động theo một số hoặc tất cả các loại nghiệp vụ như: môi giới trung gian - mua bán chứng khoán cho khách hàng bằng nguồn vốn của mình để hưởng chênh lệch giá; tư vấn đầu tư chứng khoán - phân tích, đánh giá giá trị các loại chứng khoán, tư vấn cho người đầu tư thực hiện việc

Trang 13

mua bán chứng khoán, bảo lãnh, làm trung gian phát hành hoặc bảo lãnh cho đơn vị phát hành

1.1.4 Cấu trúc TTCK

1.1.4.1 Căn cứ vào quy định lưu thông chứng khoán

Căn cứ vào quy định lưu thông chứng khoán cấu trúc TTCK gồm: thị trường

sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp (primary market) là nơi phát hành lần đầu ra công chúng,

tạo vốn cho đơn vị phát hành và chỉ tạo ra phương tiện huy động vốn Chức năng tài trợ của thị trường sơ cấp là huy động vốn cho đầu tư từ đó làm tăng thêm vốn đầu

tư cho nền kinh tế Tại thị trường sơ cấp, các chủ thể kinh tế trực tiếp gọi nguồn tiết kiệm để thu nhập nguồn vốn dài hạn cần thiết cho nhu cầu đầu tư của mình Để đổi lấy phần vốn nhận được trên thị trường, các chủ thể kinh tế phát hành các chứng khoán dưới hình thức cổ phiếu hay trái phiếu để vật chất hóa quyền lợi mà người cấp vốn sẽ nhận được Hệ thống ngân hàng đầu tư và các cơ quan môi giới chứng khoán giữ vai trò tư vấn cho các cơ quan phát hành chứng khoán nên phát hành các loại chứng khoán nào, thời hạn là bao lâu và lựa chọn thời điểm nào để phát hành có lợi nhất

Thị trường thứ cấp (second market) là nơi diễn ra các hoạt động mua bán những

chứng khoán đã được phát hành thông qua thị trường sơ cấp Những loại chứng khoán này có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp với những giá cả cao thấp khác nhau Thị trường thứ cấp không ảnh hưởng tới nguồn vốn của các tổ chức đã phát hành ra chứng khoán đó, nhưng nó giúp tạo nên một yếu tố quan trọng cơ bản của việc mua bán chứng khoán, đó là tính thanh khoản Điều này làm tăng tính hấp dẫn của chứng khoán Có thể nói, thị trường thứ cấp tạo điều kiện cho thị trường sơ cấp phát triển, tăng tiềm năng huy động vốn của các chủ thể phát hành chứng khoán Trong thực

tế tổ chức TTCK không có sự phân biệt ranh giới giữa hai loại thị trường nói trên, nghĩa là vừa có giao dịch thị trường sơ cấp vừa có giao dịch của thị trường thứ cấp, vừa

có mua bán các loại chứng khoán vừa mới phát hành, vừa có mua bán các loại chứng khoán theo tính chất mua đi bán lại

1.1.4.2 Căn cứ vào phương thức giao dịch

Căn cứ vào phương thức giao dịch cấu trúc TTCK gồm: thị trường tập trung

và thị trường phi tập trung

Thị trường tập trung: là thị trường có tổ chức, trong đó các chứng khoán được

giao dịch mua bán tại một số nơi gọi là Sở giao dịch chứng khoán hay Trung tâm giao dịch chứng khoán Tại đây tất cả hoạt động giao dịch phải theo quy định của pháp luật Các chứng khoán được niêm yết thường là chứng khoán của những công

ty lớn, có danh tiếng và phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường giao dịch chứng khoán tập trung

Thị trường phi tập trung: bao gồm thị trường giao dịch không qua quầy (thị

trường OTC - Over the Counter) và thị trường giao dịch “trao tay” (còn được gọi là thị trường thứ ba) Thị trường giao dịch không qua quầy là TTCK, ở đó việc giao dịch không diễn ra tại một điểm tập trung mà thông qua hệ thống nối mạng giữa các thành viên, không có ngày giờ hay thủ tục nhất định mà do sự thảo thuận của người

Trang 14

mua và người bán Các chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC không đòi hỏi phải phù hợp đầy đủ với các tiêu chuẩn như ở thị trường tập trung, chỉ cần các chứng khoán đó phát hành và chưa được đăng ký yết giá ở một thị trường tập trung nào cả Vì vậy, chúng thường có mức độ tín nhiệm thấp hơn các chứng khoán được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán hay Trung tâm giao dịch chứng khoán

Hình 1.1: Cơ cấu TTCK căn cứ vào phương thức giao dịch

Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch, TTCK có thể phân thành: thị trường trao tay, thị trường giao dịch kỳ hạn và thị trường giao dịch tương lai:

Thị trường trao tay (còn gọi là thị trường thời điểm) là thị trường mà giao dịch

mua bán theo giá thỏa thuận khi ký kết hợp đồng, nhưng thanh toán và giao nhận chứng khoán sẽ diễn biến tiếp theo sau đó một và hai ngày

Thị trường giao dịch kỳ hạn là thị trường giao dịch theo giá thỏa thuận khi ký

hợp đồng, nhưng thanh toán và giao nhận chứng khoán sẽ diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định trong hợp đồng Thông thường, hoạt động giao dịch mua bán trên thị trường là giao dịch thực sự, nghĩa là có hành vi giao nhận và thanh toán chứng khoán xảy ra vào thời hạn thanh toán trong hợp đồng

Thị trường giao dịch tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một

loại hợp đồng định sẵn, giá cả được thực hiện trong ngày giao dịch nhưng việc giao nhận và thanh toán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất định trong tương lai Thị trường tương lai khác với thị trường giao dịch kỳ hạn ở chỗ các hoạt động mua bán chứng khoán đã được tiêu chuẩn hóa nội dung và các điều kiện thực hiện trong hợp đồng, mặt khác, thực chất hoạt động của thị trường tương lai là hoạt động đầu cơ,

Trang 15

do vậy một cơ chế ký quỹ bảo đảm thực hiện hợp đồng dưới hình thức tiền đặt cọc

đã được thực hiện và bắt buộc các bên phải thực hiện

1.1.5 Hàng hóa trên TTCK

1.1.5.1 Hàng hóa chứng khoán trên thị trường chứng khoán nội địa

Chứng khoán vốn - cổ phiếu: là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành xác

nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của cổ đông góp vốn trong công ty.Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên:

- Cổ phiếu thường: là cổ phiếu phổ biến nhất và bắt buộc phải có tại công ty

cổ phần, nó xác nhận quyền góp vốn khi mua cổ phần của các cổ đông thường (cổ đông phổ thông)

- Cổ phiếu ưu đãi: là một giấy chứng nhận cổ đông ưu tiên so với cổ đông

thường về mặt tài chính nhưng bị hạn chế về quyền hạn với công ty cổ phần

Có các loại cổ phiếu ưu đãi như: cổ phiếu ưu đãi tích lũy, cổ phiếu ưu đãi không tích lũy, cổ phiếu ưu đãi có chia phần, cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại được,

Chứng khoán nợ - Trái phiếu: là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa

chủ thể phát hành (Chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay (trái chủ), đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người sở hữu trái phiếu ở thời điểm đáo hạn Trên giấy chứng nhận này có ghi mệnh giá của trái phiếu và lãi suất trái phiếu

Nhà phát hành có thể phát hành các loại trái phiếu như: trái phiếu có thế chấp, trái phiếu tín chấp, trái phiếu có thể chuyển đổi, trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu chiết khấu

Chứng chỉ quỹ đầu tư: là một loại chứng khoán dưới hình thức chứng chỉ

hoặc bút toán ghi sổ do công ty quản lý quỹ thay mặt Quỹ công chúng phát hành, xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người đầu tư đối với một hoặc một số đơn vị quỹ của một Quỹ công chúng

Chứng khoán phái sinh - Denvatives: là các công cụ tài chính có nguồn gốc

từ chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với chứng khoán cơ sở (cổ phiếu, trái phiếu) Các loại chứng khoán phái sinh bao gồm:

- Hợp đồng tương lai (Future contract): là hợp đồng mua bán chứng khoán mà

tại ngày giao dịch đôi bên thỏa thuận về hàng hóa, số lượng và giá cả nhưng việc thanh toán và giao hàng sẽ diễn ra tại một thời điểm trong tương lai

- Hợp đồng quyền chọn (Options): là một hợp đồng giữa hai bên: người mua

quyền chọn và người bán quyền chọn cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với một mức giá đã được xác định trước

- Hợp đồng kỳ hạn (Forward): là một thỏa thuận giữa người mua và người bán

thực hiện một giao dịch hàng hóa ở tại thời điểm chắc chắn trong tương lai, hợp đồng kỳ hạn không trao đổi trên thị trường, không được định giá hàng ngày Trong

Trang 16

hợp đồng kỳ hạn chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên thảo thuận với nhau, dựa trên những ước tính mang tính cá nhân

- Quyền mua cổ phần (Right): là loại chứng khoán ghi nhận quyền dành cho

các cổ đông hiện tại của công ty được mua trước một số lượng cổ phần trong đợt phát hành cổ phiếu phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty Giá mua cổ phần thường thấp hơn mức giá chào bán ra công chúng trong một thời hạn nhất định Các chủ thể sở hữu right có thể chuyển nhượng right trên thị trường chứng khoán Thông thường, quyền mua cổ phần có thời hạn ngắn (từ 2 - 4 tuần), việc phát hành quyền được quy định trong điều lệ của công ty cổ phần

- Chứng quyền (Warrant): được phát hành kèm theo trái phiếu hoặc cổ phiếu

ưu đãi, cho phép người nắm giữ chứng khoán được quyền mua một khối lượng cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá được xác định trước trong thời kỳ nhất định, thời hạn chứng quyền là dài hạn, thường là một vài năm, có khi là vĩnh viễn Người sở hữu chứng quyền không có tư cách là cổ đông phổ thông trong công ty, không nhận cổ tức, không có quyền biểu quyết, cho tới khi thật sự chuyển chứng quyền thành cổ phiếu phổ thông

Trong giai đoạn đầu thành lập thị trường chứng khoán chủ yếu giao dịch các chứng khoán nêu trên nhưng trong xu thế toàn cầu hóa thì hàng hóa của thị trường phải được đa dạng hóa hơn theo thông lệ quốc tế

1.1.5.2 Hàng hóa chứng khoán trên thị trường quốc tế

Từ những năm 1980, các nhà đầu tư ngày càng đầu tư mạnh chứng khoán nước ngoài, việc đầu tư sẽ còn tăng lên do các tiến bộ khoa học kỹ thuật và các sáng kiến quản lý thúc đẩy toàn cầu hóa thị trường chứng khoán Các chứng khoán nước ngoài có thể giao dịch là:

Chứng chỉ lưu ký chứng khoán toàn cầu (GDR)

Một trong những công cụ chủ yếu được các nhà đầu tư Mỹ sử dụng để nắm giữ cổ phiếu của nước ngoài là giấy chứng nhận các cổ phiếu lưu ký Mỹ (tương tự chứng chỉ cổ phiếu chứng nhận các cổ phần) ADR có thể biểu thị một loại chứng khoán của công ty phát hành nước ngoài hay các phần chia nhỏ hoặc phần gộp một loại chứng khoán của công ty phát hành nước ngoài Tỷ lệ các chứng khoán đó biểu thị bằng một ADR được sử dụng để khắc phục sự khác biệt giữa các mức định giá truyền thống của thị trường Mỹ và nước ngoài

ADR tạo ra một số lợi ích cho nhà đầu tư Mỹ khi đầu tư vào chứng khoán nước ngoài như tạo thuận tiện khi chuyển nhượng cổ phiếu và chuyển đổi cổ tức sang ngoại tệ ADR còn sử dụng liên quan đến việc sáp nhập và thâu tóm, tái cơ cấu

tổ chức công ty, chào bán trái phiếu Chính phủ ra nước ngoài, chi trả cho các chương trình đền bù và trợ cấp cho cán bộ nhân viên ADR không chỉ được các nhà đầu tư Mỹ giữ mà còn có các nhà đầu tư nước ngoài

Như vậy ADR cùng với giấy chứng nhận lưu ký chứng khoán quốc tế - GRD (Gold Depositary Receipt) và giấy chứng nhận lưu ký chứng khoán Châu Âu - EDR đều được giao dịch trên thị trường chứng khoán quốc tế

Cổ phiếu chuẩn thế giới (WEBS)

Trang 17

Vào năm 2006, một sản phẩm đầu tư quốc tế mới được đưa ra giới thiệu đã

mở ra thêm cơ hội cho các nhà đầu tư những cách thức dễ dàng và có hiệu quả để hoạt động ở các thị trường nước ngoài là cổ phiếu chuẩn thế giới World Equity Benchmark Shares Sản phẩm mới này đã đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của các nhà đầu tư quốc tế WEBS được phát triển bởi công ty tư vấn quỹ toàn cầu BZW Barclays với sự hợp tác với công ty vốn quốc tế Morgan Stanley cùng những công ty khác Công ty tư vấn quỹ toàn cầu BZW Barclays hoạt động với tư cách là nhà đầu tư Các WEBS được giao dịch tại thị trường chứng khoán Mỹ WEBS đại diện cho một số sự kết hợp giữa quỹ đầu tư dạng đóng quốc tế, quỹ đầu tư dạng mở quốc tế và quỹ theo chỉ số quốc tế Giống như quỹ đóng, WEBS được niêm yết giao dịch trên thị trường chứng khoán nên các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán cổ phiếu thông qua các công ty môi giới trên thị trường Mặt khác, giống như quỹ đầu

tư dạng mở, WEBS sẽ được phát hành và mua lại theo nhu cầu của các nhà đầu tư

Quỹ đầu tư chứng khoán quốc tế (International investment Funds)

Một loại quỹ đầu tư chứng khoán quốc tế phổ biến là quỹ tương hỗ - Mutual Fund Quỹ tương hỗ tạo cho một nhà đầu tư có nguồn vốn khiêm tốn có thể có sự tư vấn đầu tư chuyên nghiệp và đa dạng hóa đầu tư một cách kinh tế nhất Các nhà đầu tư

có thể góp vốn vào quỹ với tư cách là cổ đông của quỹ và được hưởng thu nhập từ lợi nhuận đầu tư lại vào cổ phiếu, trái phiếu, quyền lựa chọn … Quỹ này luôn bán cổ phần cho bất kỳ nhà đầu tư nào và sẵn sàng mua lại cổ phần của của quỹ So với quỹ đầu tư dạng đóng, quỹ đầu tư dạng mở có lợi thế rõ ràng về khả năng huy động, mở rộng quy

mô vốn nên nó linh hoạt hơn trong việc lựa chọn danh mục đầu tư

Ngoài quỹ mở, quỹ đầu tư còn có quỹ đầu tư dạng đóng (Close - end funds) Quỹ đóng chỉ phát hành một số lượng cổ phần cố định trong lần phát hành đầu tiên Quỹ này có thể phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu, quỹ không được phát hành thêm bất kỳ một loại cổ phiếu nào để huy động thêm vốn và cũng không mua lại các cổ phiếu đã phát hành Sau đó, nếu các nhà đầu tư muốn bán hay mua cổ phần của quỹ thì chỉ có thể thực hiện được điều đó trên thị trường thứ cấp, giống như với tất cả các chứng khoán niêm yết khác

1.1.6 Vai trò điều tiết của Chính phủ đối với TTCK

Hoạt động của TTCK phức tạp, có hàng loạt vấn đề tồn tại mà bản thân các thành viên tham gia thị trường không thể tự giải quyết được một cách hiệu quả, đòi hỏi cần phải có sự can thiệp của nhà nước để thị trường hoạt động tốt Các vấn đề này có thể được tóm tắt như sau:

Thứ nhất, tình trạng thông tin không cân xứng Tình trạng này xảy ra khi

các đối tượng tham gia vào thị trường không có đầy đủ thông tin để ra các quyết định phù hợp và gây thiệt hại cho lợi ích cho các đối tượng đó Tình trạng thông tin không cân xứng nghiêm trọng sẽ cản trở sự hoạt động hữu hiệu và sự phát triển của TTCK Thông tin không cân xứng dẫn tới hai vấn đề trên TTCK

Đầu tiên là vấn đề lựa chọn đối nghịch Lựa chọn đối nghịch xảy ra khi người mua không có đủ thông tin dẫn đến việc mua phải những hàng hoá có chất lượng tồi, không đáp ứng được nhu cầu của người mua Ví dụ, nhà đầu tư

có thể mua một loại cổ phiếu hoặc trái phiếu công ty chất lượng thấp với giá cao, sau đó bị thua lỗ từ khoản đầu tư này

Trang 18

Tiếp theo là vấn đề rủi ro đạo đức hay còn gọi là tâm lý ỷ lại Xuất phát từ đặc điểm có sự tách biệt giữa quyền sở hữu với quyền quản lý trong các công ty

cổ phần trên thị trường cổ phiếu, ban giám đốc công ty có thể hành động vì lợi ích của ban giám đốc gây thiệt hại cho lợi ích của các cổ đông (ban giám đốc có thể che dấu hoặc làm giảm lợi nhuận của công ty)

Lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức tác động tiêu cực tới hoạt động và

sự phát triển của TTCK Để hạn chế các tình trạng này, chính phủ có thể điều hành bằng cách yêu cầu các công ty công bố thông tin, yêu cầu tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán, yêu cầu phải thực hiện các điều khoản đối với các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường

Thứ hai, tình trạng đầu cơ, các hành vi gian lận trên thị trường Tình trạng

đầu cơ thường gắn liền với hoạt động đầu tư trên TTCK Hoạt động đầu cơ của các nhà đầu tư là tổ chức và cá nhân dẫn đến tình trạng bong bóng giá tài sản tài chính, theo sau là những đợt khủng hoảng tài chính, gây mất ổn định cho nền kinh tế Thị trường chứng khoán cũng khuyến khích các hành vi gian lận do xung đột về lợi ích gây nên như giao dịch nội gián, công bố thông tin sai trái, thao túng giá thị trường Để ngăn chặn tình trạng đầu cơ, tập trung rủi ro, cần

có các qui định thận trọng để điều chỉnh hoạt động của các trung gian tài chính tham gia đầu tư vào TTCK như các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm v.v…

Thứ ba, vấn đề bảo vệ nhà đầu tư Các quy định bảo vệ nhà đầu tư sẽ giúp

các công ty mở rộng khả năng huy động vốn Các công ty có thể huy động vốn

từ hai nguồn là vay nợ hoặc phát hành cổ phiếu mới Những nước có hệ thống tài chính cung cấp cho các công ty nhữngđiều kiện thuận lợi để huy động vốn từ bên ngoài sẽ có giá chứng khoán cao hơn và qui mô thị trường chứng khoán lớn hơn Việc bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn sẽ cho phép các nhà đầu tư cung cấp vốn với các điều khoản thuận lợi hơn, điều này giúp cho việc giảm chi phí huy động vốn của công ty La Porta và các tác giả, Djankov và các tác giả đã tìm thấy bằng chứng ở những nước có sự bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn có tác động mạnh tới qui mô và sự phát triển của TTCK Mức độ bảo vệ nhà đầu tưđược thể hiện trong các qui định về công bố thông tin, các ràngbuộc trách nhiệm của ban giám đốc, và mức độ dễ dàng của các cổ đông thực hiện kiện ban giám đốc ra toà án Các biện pháp nâng cao mức độ bảo vệ nhà đầu tư đòi hỏi các qui định về hoạt động công bố thông tin tốt hơn, nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của công ty, và qui định rõ quyền của các cổ đông đối với những hành vi sai trái của ban giám đốc

Như vậy, việc điều hành của chính phủ đối với hoạt động của TTCK có thể

được phân loại thành bốn nội dung sau đây:

1 Các qui định về tổ chức thị trường, thành viên tham gia thị trường

2 Các qui định về phát hành chứng khoán

3 Các qui định về giao dịch

4 Các qui định về công bố thông tin và giám sát thị trường

Trang 19

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN TTCK

1.2.1 Khái niệm về phát triển TTCK

Khái niệm về sự phát triển của TTCK không thể đa nghĩa, cần phải thống nhất

và có tính bao trùm toàn diện Tuy nhiên, khái niệm này chưa có sự thống nhất do các kết quả nghiên cứu không đồng nhất, thậm chí nhiều khi còn phủ nhận lẫn nhau

Để khắc phục hạn chế này, các nhà kinh tế đã đưa ra một khái niệm thống nhất về

“sự phát triển của TTCK” Theo các nhà kinh tế, để thể hiện tính đa chiều và phức tạp của thị trường, khái niệm này phải là một tập hợp các thông số về quy mô và chất lượng của thị trường Demirguc-Kunt và Levine (1996), Demirguc-Kunt và Maksimovicz (1996), Levine và Zervos (1996) đưa ra một khái niệm chung về sự phát triển của TTCK, theo đó, sự phát triển của TTCK phải là một phạm trù đa chiều, thể hiện đồng thời các chức năng của TTCK, cụ thể phải bao hàm cả (i) quy

mô thị trường, (ii) tính thanh khoản của thị trường, (iii) mức độ biến động; (iv) mức

độ tập trung hóa của thị trường, (v) mức độ hội nhập với thị trường quốc tế của thị trường1

(vi) mức độ quản lý và thể chế hóa của thị trường

Nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn từ 1860 đến 1963 tại 35 quốc gia của Raymond W Goldsmith năm 1969 cho thấy, thị trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cụ thể, quy mô tài sản của các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh doanh chứng khoán, phạm vi hoạt động của các tổ chức này cũng như mức độ thanh khoản và quy mô của TTCK , có xu hướng lớn dần cùng với sự phát triển của nền kinh tế Ngoài ra, có một mối quan hệ tương đối rõ ràng và chặt chẽ giữa mức độ phát triển của thị trường tài chính và sự phát triển của nền kinh tế Bên cạnh đó, Ross Levine và Sara Zervos (1996) đã thành công khi sử dụng dữ liệu từ 41 quốc gia trong giai đoạn từ 1976-1993 và xác định được mối tương quan khá chặt chẽ giữa sự phát triển của TTCK và mức độ tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế

Nhìn chung, các nhà kinh tế đã dựa trên năm chức năng chính của TTCK để nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phát triển của TTCK và sự phát triển kinh tế, cụ thể: (i) chức năng tạo sự thanh khoản cho tài sản đầu tư; (ii) chức năng tạo cơ hội đa dạng hóa rủi ro; (iii) chức năng hoàn thiện cơ chế cung cấp thông tin về doanh nghiệp; (iv) chức năng hoàn thiện thực tiễn quản trị công ty; (v) chức năng huy động vốn

TTCK thông qua mức độ thanh khoản của mình có thể tác động tích cực tới hoạt động của nền kinh tế Các dự án đầu tư lớn đòi hỏi có những cam kết về vốn đầu tư lâu dài, trong khi các nhà đầu tư, thường thì có tâm lý không muốn đánh mất

sự kiểm soát của mình đối với phần vốn đầu tư trong một khoảng thời gian quá dài,

vì thế không sẵn sàng bỏ vốn đầu tư dài hạn Một TTCK thanh khoản có thể sẽ loại

bỏ tâm lý e ngại này, khi nhà đầu tư có thể chuyển cổ phần, phần vốn góp vào các hạng mục đầu tư sang tiền mặt tại mọi thời điểm Như vậy, thông qua TTCK, nhà

1

Tại các thị trường đã hội nhập hoàn tòan, dòng vốn đầu tư sẽ được tự do lưu chuyển cho tới khi giá của rủi

ro là như nhau Nếu một quốc gia nào đó sử dụng các biện pháp nhằm kiểm soát và hạn chế dòng chảy vốn tự

do thì giá của rủi ro sẽ biến động khác với giá rủi ro tại các quốc gia đã hội nhập Có nhiều hình thức quản lý dòng vốn gián tiếp, ví dụ như các biện pháp kiểm soát trên tài khoản vốn (capital controls) và các biện pháp khác

Trang 20

đầu tư (bên dư thừa vốn) sẽ nắm giữ các tài sản thanh khoản, như cổ phiếu, trái phiếu, trong khi tổ chức phát hành (bên có nhu cầu vốn) sẽ có cơ hội huy động vốn đầu tư dài hạn Một TTCK thanh khoản trở thành một kênh dẫn vốn hiệu quả hỗ trợ các hạng mục đầu tư dài hạn, giúp hoạt động phân bổ vốn được tốt hơn, góp phần cho sự phát triển trong dài hạn của nền kinh tế

Đa dạng hóa rủi ro làchức năng thứ hai mà TTCK có thể tác động tích cực tới

sự phát triển của nền kinh tế Chức năng này trở nên rõ ràng hơn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là hội nhập tài chính Các dự án đầu tư dài hạn nếu là tiềm năng thì thường tương đối rủi ro Với sự hội nhập tài chính, TTCK cung cấp các sản phẩm nhằm đa dạng và triệt tiêu bớt rủi ro, và vì vậy, hỗ trợ hoạt động huy động vốn cho các dự án dài hạn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Kênh dẫn truyền thông tin là chức năng kế tiếp của TTCK có thể có ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển kinh tế TTCK càng lớn, càng thanh khoản thì nhà đầu tư càng có nhiều thông tin về doanh nghiệp thì càng dễ kiếm lợi nhuận trên thị trường Nhà đầu tư trở nên quan tâm hơn tới hoạt động của doanh nghiệp, quan tâm hơn tới việc tổng hợp và nghiên cứu, phân tích thông tin từ doanh nghiệp và các thông tin tốt nhờ đó làm tăng hiệu quả hoạt động phân bổ vốn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế

Ngoài ra, sự phát triển của TTCK có thể ảnh hưởng tích cực tới hoạt động quản trị doanh nghiệp TTCK hiệu quả gắn kết kết quả hoạt động quản trị công ty của các nhà quản lý doanh nghiệp với biến động trên TTCK Đồng nghĩa với việc gắn kết quyền lợi của các nhà quản lý với quyền lợi của chủ sở hữu Một số nhà kinh tế còn chứng minh được rằng, tâm lý e ngại doanh nghiệp bị thâu tóm trên TTCK đã thúc đẩy các nhà quản lý doanh nghiệp phải tìm mọi cách làm tăng tối đa giá trị của doanh nghiệp Một TTCK hiệu quả luôn tạo điều kiện cho các hoạt động thâu tóm, sáp nhập, và một doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải luôn hướng tới giá trị lớn hơn, điều ngày gián tiếp làm tăng hiệu quả hoạt động sử dụng và phân bổ vốn, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

Đối với hoạt động huy động vốn, Greenwood và Smith (1996) đã chứng minh rằng, TTCK hiệu quả mà càng lớn, càng thanh khoản sẽ góp phần hỗ trợ hoạt động huy động vốn TTCK cung cấp nhiều giải pháp đầu tư, phù hợp với các quy mô đầu tư

1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển TTCK

1.2.2.1 Các chỉ tiêu định lượng

Sử dụng các kết quả nghiên cứu của Korajczyk (1995), Ash Demirguc-Khung

và Ross Levine (1995) và Zervos đã thiết lập chỉ số tổng hợp xác định mức độ phát

triển của TTCK dựa trên những chỉ số như sau:

1) Chỉ số quy mô thị trường

Chỉ số quy mô thị trường bao gồm tỷ lệ vốn hóa thị trường so với GDP và

số lượng các công ty niêm yết

a) Tỷ lệ vốn hóa thị trường so với GDP

Tổng giá trị vốn hóa thị trường: Là chỉ tiêu phản ánh tổng quy mô theo giá trị

thị trường của tất cả các doanh nghiệp và quỹ niêm yết và được tính bằng tổng các tích giữa khối lượng chứng khoán lưu hành với giá chứng khoán giao dịch trên thị

Trang 21

trường tại thời điểm tính toán

Công thức tính: TEVt = ∑pti x qti (3)

Trong đó:

+ TEVt : là tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường tại thời điểm t;

+ pti: là giá chứng khoán i được giao dịch ( thị giá) tại thời điểm giao dịch t; + qti là khối lượng chứng khoán phổ thông i đang lưu hành tại thời điểm giao dịch t;

+ pti x qti: Là giá trị vốn hóa thị trường của chứng khoán i tính tại thời điểm t Giá trị vốn hoá thị trường của một doanh nghiệp là thước đo qui mô của doanh nghiệp đó, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn bộ công ty này trong điều kiện hiện tại Khi tính giá trị vốn hoá thị trường người ta chỉ tính đến các

cổ phiếu phổ thông chứ không tính đến cổ phiếu ưu đãi, vì chỉ cổ phiếu phổ thông mới đem lại cho người sở hữu quyền tham gia điều hành công ty Qui mô và tốc độ tăng của giá trị vốn hoá thị trường là thước đo quan trọng để đánh giá sự phát triển của một doanh nghiệp niêm yết Tuy vậy giá trị vốn hoá thị trường còn có thể tăng giảm do một số nguyên nhân không liên quan đến kết quả hoạt động, ví dụ như việc mua lại một công ty khác, bán bớt một số bộ phận của tập đoàn, hay mua lại chính

cổ phiếu của mình trên TTCK

GDP: GDP là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng, phản ánh toàn bộ kết quả

cuối cùng của các hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị thường trú trong nền kinh tế của một nước trong một thời kỳ nhất định; phản ánh các mối quan hệ trong quá trình sản xuất, phân phối thu nhập, sử dụng cuối cùng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân Tổng sản phẩm trong nước (theo giá thực tế) dùng để nghiên cứu cơ cấu và sự biến động về cơ cấu kinh tế theo các ngành, các nhóm ngành, theo loại hình kinh tế, mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với phần huy động vào ngân sách nhà nước và phúc lợi xã hội Tổng sản phẩm trong nước (theo giá so sánh) dùng để đánh giá tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế, của các ngành, các loại hình, các khu vực, nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hóa

và dịch vụ mới được tạo ra theo thời gian

Tỷ lệ vốn hóa thị trường so với GDP (Market capitalization ratio):

Vốn hóa tổng của các thị trường chứng khoán hoặc các khu vực kinh tế có thể được so sánh với các chỉ số kinh tế khác, thường so sánh với GDP.Đây là một tỉ

lệ được sử dụng để xác định xem liệu toàn bộ thị trường có đang bị định giá cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thực hay không Tỉ lệ này thường được tính toán cho từng thị trường cụ thể, ví dụ như thị trường Mỹhoặc có thể tính cho toàn bộ thị trường thế giới, tuỳ thuộc vào các giá trị được sử dụng trong công thức để tính toán

Công thức tính như sau:

Trang 22

Thông thường, nếu tỉ lệ này lớn hơn 100% thì có nghĩa là thị trường đang bị định giá quá cao, ngược lại, nếu tỉ lệ này khoảng 50% (tỉ lệ chưa từng có tại Mỹ) thì

có nghĩa là thị trường bị định giá quá thấp

Cơ sở cho việc tính toán chỉ số này là mối liện hệ tích cực giữa quy mô tổng thể thị trường với khả năng huy động vốn và đa dạng hóa rủi ro trong nền kinh tế

b) Số lượng các công ty niêm yết

Số lượng công ty niêm yết (số lượng mã chứng khoán niêm yết): Đây là chỉ

tiêu phản ánh số lượng tổ chức phát hành Khi khối lượng chứng khoán niêm yết tăng giảm, thường tương đồng với sự tăng giảm của số lượng mã chứng khoán niêm yết Tuy nhiên, hai chỉ tiêu này cũng có thể đi ngược xu hướng, khối lượng chứng khoán niêm yết tăng khi số lượng mã chứng khoán niêm yết giảm, điều này thể hiện

quy mô vốn của các tổ chức niêm yết được tăng lên hoặc ngược lại

Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ tiêu này cung cấp thông tin về quy mô của TTCK Khi

giá trị chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ quy mô thị trường càng lớn, TTCK đủ hấp dẫn để thu hút các doanh nghiệp đưa cổ phiếu của mình lên niêm yết

2) Chỉ số về tính thanh khoản của thị trường

Tính thanh khoản là một khái niệm chỉ mức độ mà một tài sản bất kì có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá thị trường của tài sản đó Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được bán nhanh chóng

mà giá bán không giảm đáng kể

Chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thị trường cho việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian và khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thủy Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt khi họ muốn và khả năng thanh khoản chính là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư Tính lỏng cho thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính lỏng của chứng khoán giao dịch càng cao

Tính thanh khoản của TTCK thường được đo lường bởi hai chỉ tiêu là Tỷ suất quay vòng chứng khoán (tỷ lệ tổng giá trị giao dịch trên vốn hóa thị trường)và

Tỷ lệ giá trị giao dịch của TTCK so với GDP Hai chỉ tiêu này cho thấy mức độ giao dịch, mức độ sôi động của TTCK so với quy mô nền kinh tế và quy mô của thị trường Ví dụ TTCK Indonesia có Tỷ lệ giá trị giao dịch so với GDP là 1,8%, Tỷ suất quay vòng chứng khoán là 219%, cho thấy TTCK Indonesia là một thị trường nhỏ nhưng rất sôi động

a) Tỷ lệ giá trị giao dịch của TTCK so với GDP

Giá trị chứng khoán giao dịch: là chỉ tiêu phản ánh giá trị chứng khoán đã

giao dịch trong ngày Nó là tổng các tích giữa khối lượng chứng khoán giao dịch với giá chứng khoán giao dịch trên thị trường

Công thức tính: Vt= (5)

Trong đó: Vt: là tổng giá trị chứng khoán được giao dịch

Trang 23

pi: là giá chứng khoán tại của giao dịch lần thứ i

qi là khối lượng chứng khoán được khớp lệnh tại lần giao dịch thứ i

Nt là số lần giao dịch trong khoảng thời gian t

Tương tự như công thức tính khối lượng giao dịch, công thức này cũng tính giá trị giao dịch của 01 mã chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định (01 phiên giao dịch hoặc 01 đợt khớp lệnh trong phiên) Chúng ta có thể sử dụng công thức trên để tính toán giá trị giao dịch của toàn thị trường (bằng cách cộng tổng các

Vt với nhau)

Tỷ lệ giá trị giao dịch so với GDP (Value of Share Traded Ratio - STR)

Tỷ lệ giá trị giao dịch so với GDP cho thấy tương quan giữa quy mô giao dịch của TTCK so với quy mô của nền kinh tế Chỉ tiêu này không trực tiếp chỉ ra chi phí giao dịch đối với một cổ phiếu trong một thị trường cụ thể, tuy nhiên nghiên cứu về tính thanh khoản của thị trường và tăng trưởng kinh tế của Levine (1991), Bencivenga (1995) đã chỉ ra mối quan hệ giữa tính thanh khoản và giá trị giao dịch trên thị trường

Công thức tính như sau:

Chỉ tiêu này bổ sung cho chỉ tiêu Tỷ lệ vốn hóa /GDP bởi quy mô thị trường

có thể lớn tuy nhiên quy mô hoạt động thực tế của TTCK có thể không tương xứng

b) Tỷ suất quay vòng chứng khoán (Turnover ratio)

Chỉ số này đo lường tính thanh khoản của thị trường khi so sánh giá trị giao dịch của tất cả các cổ phiếu trên thị trường với quy mô vốn hóa của thị trường Công thức tính như sau:

Tỷ suất quay vòng chứng khoán cao cho thấy mức độ thanh khoản tốt, cổ phiếu thực sự được giao dịch mua bán trên thị trường.Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ

số này cao ám chỉ chi phí giao dịch trên thị trường thấp.Một thị trường có quy mô lớn không đồng nghĩa tính thanh khoản tốt khi có nhiều cổ phiếu không hoạt động (inactive), tức là có quy mô vốn hóa lớn, tuy nhiên giá trị cổ phiếu được giao dịch thấp

3) Chỉ số về mức biến động của thị trường

Chỉ số thứ ba là chỉ số về mức biến động của thị trường là độ lệch chuẩn của chỉ số thị trường tính trong 12 tháng gần nhất

Trong nghiên cứu này xét độ lệch chuẩn của chỉ số thị trong trong 12 tháng của 1 năm

Công thức tính độ lệch chuẩn của chỉ số thị trường trong 12 tháng của 1 năm:

Trang 24

: Trong đó:

- S: độ lệch chuẩn của chỉ số thị trường trong 12 tháng của năm nghiên cứu

- index(i): chỉ số thị trường tại tháng thứ i của năm nghiên cứu

- index (tb): chỉ số thị trường trung bình của năm nghiên cứu

Ý nghĩa của chỉ tiêu:

Độ lệch chuẩn của chỉ số thị trường tính trong 12 tháng của năm cho thấy sự chênh lệch về chỉ số thị trường của từng tháng so với giá trị trung bình Do đó nếu

độ lệch chuẩn cao tức sự chênh lệch này lớn chứng tỏ mức biến động của thi trường cũng lớn Ngược lại, nếu độ lệch chuẩn thấp tức sự chênh lệch của chỉ số thị trường

so với giá trị trung bình không đáng kể thì mức biến động của thị trường trong năm

đó ở mức thấp

4) Chỉ số về mức độ tập trung hóa của thị trường

Chỉ số về mức độ tập trung hóa của thị trường được xác định bằng tỷ lệ giữa tổng mức vốn hóa của nhóm cổ phiếu có mức vốn hóa lớn nhất trên TTCK trên tổng mức vốn hóa toàn thị trường, chẳng hạn như chỉ số: S&P 500 (Standard & Poor's

500 Stock Index), một chỉ số cổ phiếu dựa trên cổ phiếu phổ thông của 500 công ty

có vốn hóa thị trường lớn nhất niêm yết trên NYSE hoặc NASDAQ; Nikkie 225 (chỉ số thị trường chứng khoán cho sàn GDCK Tokyo), bao gồm 225 cổ phiếu Blue-chip đại diện cho các công ty ở Nhật; FTSE 100, chỉ số cổ phiếu của 100 công ty có giá trị vốn hóa lớn nhất được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn…

Tiêu chí lựa chọn các chỉ số này dựa trên quy mô vốn hóa, khả năng thanh khoản của các cổ phiếu thành phần và các tiêu chí này được theo dõi trong một khoảng thời gian nhất định trước khi đưa cổ phiếu vào nhóm cổ phiếu của chỉ số

5) Chỉ số tổng hợp lượng hóa sự phát triển của một TTCK (chỉ số TTCK)

Chỉ số chứng khoán là một thước đo giá trị của một bộ phận, một nhóm các chứng khoán có đặc điểm tương đồng theo một tiêu chí nào đó trên thị trường, được

sử dụng như một công cụ để miêu tả, phản ánh xu hướng của thị trường

Thông thường, chỉ số được tính theo 02 cách cơ bản:

Cách thứ nhất là cách tính chỉ số không có trọng số, là bình quân giá của tất

cả các cổ phiếu trong rổ chỉ số:

Index =

Trong đó: Index là giá trị của chỉ số;

pi: Là giá của cổ phiếu i;

n: Là số lượng cổ phiếu trong rổ chỉ số

Cách thứ hai là cách tính chỉ số có trọng số, đây phương pháp phổ biến được

sử dụng để tính chỉ số cổ phiếu trên thế giới và hiện đang được áp dụng trên TTCK Việt Nam:

Trang 25

Chỉ số = Trong đó:

* CMV (current market value) =

n: là số lượng cổ phiếu trong rổ chỉ số;

pi: là thị giá của cổ phiếu i trong rổ chỉ số tại thời điểm tính toán;

si: là khối lượng cổ phiếu đang lưu hành của cổ phiếu i tại thời điểm tính toán;

fi: là tỷ lệ free - float của cổ phiếu i trong rổ chỉ số tại thời điểm tính toán

ci: hệ số giới hạn tỷ trọng vốn hóa của cổ phiếu i trong rổ chỉ số tại thời điểm tính toán

Để tránh tình trạng một hay một vài cổ phiếu trong rổ chỉ số chiếm tỷ trọng vốn hóa quá lớn, tỷ trọng vốn hóa của các cổ phiếu thành phần trong rổ chỉ số sẽ được giới hạn ở một ngưỡng xác định, ngưỡng này sẽ được quy định bởi từng SGDCK và có thể thay đổi theo từng giai đoạn Bất kỳ cổ phiếu nào có tỷ trọng lớn hơn ngưỡng tối đa sẽ được đặt ngưỡng bằng tối đa Tỷ trọng của các cổ phiếu còn lại sẽ được tăng tương ứng

* BMV (Base market value) hay còn gọi là hệ số chia: Là giá trị vốn hóa của thị trường với mức giá tại thời điểm cơ sở

Trong trường hợp có sự tăng, giảm giá trị vốn hóa thị trường mà nguyên nhân không phải do sự biến động giá thị trường mà do các sự kiện doanh nghiệp hoặc các thay đổi về số lượng cổ phiếu thành phần, số chia cần phải được điều chỉnh để đảm bảo tính liên tục của chỉ số

- Chỉ tiêu đánh giá về mức độ đầy đủ đối với nội dung thông tin về doanh thu

và lợi nhuận phải công bố theo quy định của pháp luật (thang điểm là 0 hoặc 1);

- Chỉ tiêu đánh giá về sự phù hợp chuẩn mực kế toán trong nước đối với chuẩn mực kế toán quốc tế (thang điểm là 0, 1 hoặc 2);

- Chỉ tiêu đánh giá về mức độ bảo vệ nhà đầu tư của các quy định pháp lý (thang điểm là 0, 1 hoặc 2);

- Chỉ tiêu đánh giá về việc thị trường được quản lý hay không, tức có cơ quan quản lý chuyên ngành hay không có;

- Các chỉ tiêu tiếp theo liên quan tới việc đánh giá cơ chế kiểm soát tài khoản vốn (capital account control) liên quan tới việc chuyển lợi nhuận, vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, và việc đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài (thang điểm là 0, 1 hoặc 2)

Trang 26

- Chỉ tiêu về mức độ thể chế hóa của thị trường là giá trị bình quân của 5 chỉ tiêu được đánh giá nêu trên

7) Chỉ số về mức độ hội nhập 2

Chỉ số này được xác định dựa trên mức độ chênh lệch giữa giá thực tế của tài sản và giá trị lý thuyết của tài sản xác định theo hai mô hình định giá: Mô hình định giá trong điều kiện không có chênh lệch giá (mô hình APT) và trong điều kiện hội nhập và Mô hình định giá tài sản vốn trong điều kiện hội nhập (mô hình ICAPM)3 Tuy nhiên trong 7 chỉ số trên, hai chỉ số là nhóm các chỉ số về mức độ quản lý

và thể chế thị trường và chỉ số mức độ hôi nhập chỉ là những nghiên cứu riêng lẻ, chưa đưa vào cơ sở hạ tầng trong quản lý thị trường do đó đề tài không đưa nội dung này vào phân tích

1.2.2.2 Chỉ tiêu định tính

Bên cạnh các chỉ tiêu định lượng về phát triển TTCK, để TTCK được vận hành, hoạt động cũng như phát triển cần có thể chế gồm các chủ thể tham gia thị trường và cơ sở pháp lý, trong đó:

- Các chủ thể tham gia thị trường gồm: các tổ chức quản lý thị trường, các tổ chức phát hành, các nhà đầu tư và các định chế trung gian;

- Cơ sở pháp chế gồm: khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách, các thông lệ quốc tế

Các tổ chức quản lý ban hành các quy định pháp luật, cơ chế, chính sách về TTCK để các chủ thể khác trên thị trường tuân thủ trong quá trình tham gia thực hiện các hoạt động trên TTCK Các chủ thể tham gia thị trường đã được làm rõ tại mục 1.1.3 và nội dung của cơ sở pháp chế như đã đề cập tại mục 1.1.6, có thể được phân loại thành bốn nội dung: i) Các qui định về tổ chức thị trường, thành viên tham gia thị trường; ii) Các qui định về phát hành chứng khoán; iii) Các qui định về giao dịch; iv) Các qui định về công bố thông tin và giám sát thị trường

1.2.3 Các điều kiện phát triển TTCK

1.2.3.1 Môi trường pháp lý

Ngân hàng thế giới đã đưa ra các nền tảng cho sự phát triển của hệ thống tài chính nói chung và TTCK nói riêng, trong đó, các vấn đề trực tiếp liên quan đến sự phát triển của TTCK bao gồm:

(1) Luật công ty: hoạt động của các công ty cổ phần liên quan tới lợi ích của các cổ đông, các chủ nợ, và các bên có quyền lợi khác trong đó có cả người lao động Trong các công ty cổ phần, có sự tách biệt giữa những người chủ sở hữu với những người quản lý công ty, tạo nên một cơ cấu kiểm soát thông qua những người đại diện cho các chủ sở hữu (như ban giám đốc hay các công ty kiểm toán độc lập) Với hàng trăm thậm chí hàng triệu cổ đông, các cổ đông cá nhân ít có ảnh hưởng tới

2 Có nhiều hình thức xác định mức độ hội nhập, ví dụ trong trường hợp một số quốc gia có hai loại cổ phiếu (một loại hạn chế chỉ dành riêng cho nhà đầu tư trong nước, loại thứ hai không hạn chế có nghĩa là được chào bán cho cả nhà đầu tư trong và ngoài nước), thì chênh lệch giá giữa hai loại cổ phiếu này cũng có thể được dùng làm chỉ số mức độ hội nhập Để đánh giá mức độ hội nhập, các nhà kinh tế còn sử dụng các thông số khác, ví dụ như chênh lệch giữa lãi suất trên thị trường chợ đen và lãi suất chính thức, tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ đen, hoặc giá thị trường chứng chỉ quỹ và giá trị tài sản ròng trên một đơn vị quỹ…

3 Chi tiết xem thêm A measure of market integration

Trang 27

hoạt động kinh doanh của công ty Do vậy cần phải có các qui định về trách nhiệm

và quyền hạn của các bên có liên quan tới hoạt động của công ty để giải quyết các xung đột lợi ích xảy ra giữa các biên có liên quan

(2) Luật phá sản và tái cấu trúc doanh nghiệp: Khi một công ty lâm vào tình trạng phá sản, cần phải có một qui định rõ ràng về trình tự, thủ tục phá sản và về quyền lợi củacác chủ nợ Khi một công ty gặp khó khăn trong việc trả nợ thì việc tái cấu trúc lại công ty có thể đem lại nhiều lợi ích hơn cho các chủ nợ thay vì đóng cửa

và bán tài sản của công ty đang gặp khó khăn Tái cấu trúc doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn hơn khi số lượng chủ nợ ngày càng tăng Do vậy cần phải có các qui định đảm bảo rằng một số ít các chủ nợ sẽ không thể cản trở làm ảnh hưởng tới kế hoạch tái cấu trúc doanh nghiệp vì lợi ích của đa số các chủ nợ khác Luật phá sản

và tái cấu trúc doanh nghiệp được rất ít các quốc gia đang phát triển xây dựng và thực hiện

(3) Kế toán kịp thời và chính xác: các nhà đầu tư cần phải có các thông tin chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp để ra các quyết định đầu tư phù hợp Các chuẩn mực kế toán, “các nguyên tắc kế toán được thừa nhận rộng rãi”, đã được nhiều nước như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản áp dụng để cung cấp thông tin cho các đối tượng nhà đầu tư bên ngoài công ty “Các hoạt động kế toán và kiểm toán ở các nước đang phát triển đôi khi còn yếu, các báo cáo tài chính được lập chưa đúng hạn và chính xác… Do vậy việc phát triển một đội ngũ chuyên môn kế toán và kiểm toán là hết sức quan trọng để thiết lập các thị trường tài chính hoạt động hiệu quả”

(4) Qui chế điều hành thận trọng đối với thị trường tài chính: các qui định này liên quan tới việc công bố thông tin về công ty; qui định về cấp đăng ký kinh doanh cho các công ty chứng khoán, mức vốn điều lệ của công ty chứng khoán; các qui định ngăn chặn giao dịch nội gián Các qui định này rất cần thiết để củng cố thêm niềm tin cho các nhà đầu tư

Bên cạnh các nền tảng của hệ thống tài chính, Ngân hàng Thế giới cũng phát hiện các nguyên nhân của tình trạng kém phát triển của TTCK ở nhiều nước đang phát triển là sự thiếu vắng các qui định pháp lý, sự điều hành thị trường và chính

sách thuế thích hợp

1.2.3.2 Điều kiện phát triển của nền kinh tế

Các biến số về kinh tế vĩ mô như mức thu nhập thực tế, tỷ lệ tiết kiệm, sự phát triển của các tổ chức tài chính trung gian, và tính thanh khoản của thị trường chứng khoán là các yếu tố quan trọng tác động tới qui mô của thị trường chứng khoán Fry Maxwell cho rằng có ít nhất hai điều kiện tiên quyết cho việc phát triển hệ thống tài chính thành công, đó là tình trạng ổn định kinh tế vĩ mô và sự giám sát phù hợp đối với hệ thống ngân hàng Ngoài ra, tình trạng ổn định giá cả, kỷ luật trong thu chi ngân sách, vừa sự khả tín chính sách (policy credibility) có lẽ là ba nhân tố chính giải thích tại sao châu Á thành công còn Châu Mỹ Latin thì thất bại trong những năm 1960-1980

Các chính sách vĩ mô được thực hiện nhất quán sẽ tạo ra sự ổn định vĩ mô và thúc đẩy quá trình phát triển tài chính ở mỗi nước Một hệ thống lý thuyết về phát triển tài chính cũng được phát triển từ những năm 1970 bởi McKinnol và Shawđề

Trang 28

cập tới vấn đề tự do hóa tài chính Xuất phát từ thực tế chính phủ nhiều nước thực hiện các biện pháp kiềm chế đối với hệ thống tài chính nhằm duy trì một mức lãi suất thấp trong nước nhằm khuyến khích đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chính sách này được thực hiện trong điều kiện lạm phát cao dẫn tới lãi suất thực

âm, cùng với các kiểm soát đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại

đã làm cho hệ thống tài chính của các nước không thể phát triển được

Để khắc phục tình trạng trên, McKinnol đã đề xuất phải thực hiện tự do hóa tài chính để thúc đẩy hệ thống tài chính phát triển, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh

tế Tự do hóa tài chính là một quá trình phức tạp gồm nhiều bộ phận và quá trình các khác nhau, trong đó có đề cập tới sự phát triển của thị trường tài chính và tự trường vốn McKinnol đã đề xuất một trình tự tự do hóa tài chính tối ưu, trong đó, bước đầu tiên là kiểm soát chi tiêu của chính phủ Hoạt động tài chính của chính phủ cần được cải thiện thông qua việc áp dụng các luật thuế có cơ sở thuế rộng với thuế suất thấp, và kiểm soát chi tiêu của chính phủ trong tổng chi tiêu của nền kinh

tế Sự cân bằng trong ngân sách của chính phủ cùng các biện pháp giám sát hệ thống ngân hàng hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thực hiện tự do hóa tài chính và phát triển tài chính thành công

Tuy nhiên, cũng có bằng chứng cho thấy sự ổn định kinh tế vĩ mô (được đo bằng tỷ lệ lạm phát, hay thay đổi trong tỷ lệ lạm phát) lại không có tác động tới qui

mô của TTCK Garcia và Liu tìm thấy các bằng chứng về tác động tích của của các yếu tố như mức thu nhập, tỷ lệ tiết kiệm, khối lượng tín dụng đối với khu vực tư nhân có tác động tỷ lệ thuận và có ý nghĩa đối với mức vốn hóa của thị trường Hạn chế cơ bản của nghiên cứu này là sử dụng các số liệu quá khứ, tức là những thông tin đã có không thể thay đổi được để xác định mối liên hệ với mức độ phát triên của thị trường Lý thuyết kinh tế hiện đại nhấn mạnh tới yếu tố kỳ vọng của thị trường

về tương lai tác động tới sự phát triển của TTCK Nếu như kỳ vọng về kinh tế vĩ mô không ổn định thị trường sẽ không thể phát triển được, và kỳ vọng này sẽ được

phản ánh vào giá của các loại chứng khoán trên thị trường

1.2.3.3 Cơ chế quản lý của Nhà nước

Theo như phần 1.1.6, ta thấy rằng Chính phủ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của TTCK Sự điều hành của chính phủ đóng một vai trò chính yếu trong việc xác lập các nền tảng cho TTCK Các nền tảng này bao gồm việc thực thi các cam kết giao dịch dân sự, môi trường hoạt động minh bạch, bảo vệ quyền sở hữu tài sản Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, sự điều hành thị trường tài chính của chính phủ cần được thực hiện trên nguyên tắc giám sát đối với các chủ thể tự ra quyết định và chịu trách nhiệm, ví dụ như trường hợp của các sở giao dịch chứng khoán hoặc các công ty môi giới Sự tự chủ của các chủ thể trên thị trường dựa trên năng lực và quyết định của các các cá nhân tham gia trực tiếp vào các giao dịch trên thị trường, họ có những kiến thức xác thực nhất về những gì đang diễn ra hàng ngày và như vậy sẽ tốt hơn sự điều hành một cách hành chính của các cơ quan chính phủ

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN TTCK TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển TTCK Trung Quốc

TTCK Trung Quốc là một trường hợp điển hình để nghiên cứu vì nhiều lý do

Trang 29

Thứ nhất, đây là thị trường ở một đang phát triển lớn nhất thế giới, có nhiều đặc điểm khác biệt với các thị trường ở các nước phát triển Thứ hai, nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế chuyển đổi, có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, do vậy có thể tìm được nhiều bài học phù hợp với TTCK Việt Nam qua tìm hiểu sự phát triển của thị trường này Thứ ba, TTCK của Trung Quốc bắt đầu hoạt động sớm hơn ở Việt Nam 10 năm, do vậy cũng có nhiều kinh nghiệm có thể học hỏi để có thể thúc đẩy nhanh sự phát triển của TTCK Việt Nam

Cuộc cải cách kinh tế đưa Trung Quốc từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh

tế thị trường bắt đầu từ năm 1978 Đến cuối những năm 1980, Trung Quốc đã quan tâm hơn đến việc cải thiện hệ thống tài chính để duy trì quá trình đổi mới kinh tế Các sự kiện quan trọng trên thị trường tài chính Trung Quốc được đánh dấu bởi: (1) việc thành lập và đi vào hoạt động của 2 sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải (năm 1990) và Thâm Quyến (năm 1991), (2) một số sàn giao dịch tương lai các sản phẩm nông nghiệp và kim loại, và (3) thị trường ngoại hối cho phép mua bán đồng Nhân dân tệ với một số đồng tiền khác

Qui mô của TTCK Trung Quốc đã tăng trưởng nhanh chóng trong một thời gian ngắn: Số lượng công ty niêm yết trên 2 Sở giao dịch đã tăng từ 54 công ty vào cuối năm 1992 lên 1.604 công ty vào cuối năm 2008 Số lượng công ty niêm yết và giá trị thị trường đã tăng lên 10 lần chỉ trong thời gian ngắn 5 năm Tới năm 2000, tổng giá trị thị trường của các công ty niêm yết đã vượt quá 200 tỷ USD, chiếm khoảng 20% tổng sản phẩn quốc nội của Trung Quốc Qui mô giao dịch hàng ngày đạt đến 750 triệu cổ phần, lớn hơn cả khối lượng giao dịch bình quân ngày tại Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn (Reilly Frank K and Brown Keith C., 2000)

Thị trường cổ phiếu ở Trung Quốc có một số điểm khác biệt so với các nước khác Cổ phiếu loại A của các công ty chỉ dành cho các cá nhân và tổ chức trong nước giao dịch, còn cổ phiếu loại B của cùng công ty (có cùng quyền bỏ phiếu và hưởng lợi nhuận) dành cho người nước ngoài nắm giữ và giao dịch Do hạn chế và giao dịch đối với mỗi loại cổ phiếu nên thị trường cổ phiếu loại A và loại B bị tách rời khá rõ nét Các nghiên cứu về biến động giá và lợi tức của cổ phiếu cho thấy, lợi tức từ các cổ phiếu loại B thường thấp hơn so với cổ phiếu loại A mặc dù các cổ phiếu này có quyền như nhau,và các cổ phiếu loại A thường có mức biến động giá lớn hơn các cổ phiếu loại B Việc các cổ phiếu loại A được giao dịch với mức giá cao hơn ở thị trường Trung Quốc là một đặc điểm ngược với thực tế diễn ra ở các nước khác, khi mà cổ phiếu nội địa ở các thị trường khác thường được đánh giá cao hơn bởi các nhà đầu tư nước ngoài Có rất nhiều giả thiết được đưa ra để giải thích

sự khác biệt này giữa TTCK Trung Quốc và các thị trường mới nổi khác (Kam C Chan, Fung, Hung-Gay and Samanta Thapa, 2007)

Ngoài ra, thị trường còn có cổ phiếu loại H được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Hồng Kông, và cổ phiếu N được giao dịch tại Sở Giao dịch New York, cổ phiếu loại C được nắm giữ và giao dịch bởi các tổ chức trong nước Thị trường trái phiếu Trung Quốc chủ yếu bao gồm các loại trái phiếu chính phủ được giao dịch tập trung tại Sở Giao dịch Thượng Hải Vào giữa năm 1998, khối lượng trái phiếu được niêm yết tại 2 sở giao dịch đã vượt quá 197 tỷ NDT Hầu hết các loại trái phiếu là trung hạn

Trang 30

Trong giai đoạn đầu, việc phát hành trái phiếu chính phủ dựa trên các quyết định hành chính Bộ Tài chính ban hành số lượng trái phiếu phát hành và chỉ tiêu được giao về các đơn vị sản xuất mua Năm 1987, những người được yêu cầu mua trái phiếu đem bán lại trên thị trường chợ đen với mức chiết khẩu xấp xỉ 50% mệnh giá Điều này đã khiến các hoạt động mua bán chợ đen phát triển và làm cho chính phủ cho phép mua bán các trái phiếu này sau 2 năm kể từ khi phát hành Đến năm

2000, Chính phủ Trung Quốc vẫn sử dụng kết hợp các phương pháp phát hành giữa thị trường với các biện pháp hành chính Việc phát hành trái phiếu tập trung vào nửa đầu năm chứ không chia đều các khoảng thời gian trong năm cũng đã gây ra khó khăn cho các tổ chức đầu tư trong việc lập kế hoạch nắm giữ trái phiếu phù hợp với dòng tiền của tổ chức đầu tư

Từ năm 1990, thị trường trái phiếu thứ cấp Trung Quốc đã có sự phát triển mạnh mẽ về mặt giá trị giao dịch, tính thanh khoản, sự thống nhất về giá trên địa bàn rộng hơn Tuy vậy, tính thanh khoản vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các tổ chức lớn và vẫn chưa có được sự thống nhất về việc định giá và giao dịch giữa các

sở giao dịch Do chưa có một loại trái phiếu chuẩn để so sánh, hoạt động giao dịch

và giá cả của trái phiếu chịu tác động mạnh bởi tính thanh khoản trên thị trường (Sang-Koo Nam, Kyung Suh Park, and Yu-Kyung Kim, 1999)

Trên khía cạnh điều hành hoạt động TTCK, các qui định hiện hành được đánh giá là rõ ràng mặc dù có chỗ bị chồng chéo TTCK Trung Quốc phát triển theo

mô hình từ trên xuống (top-down), với sự điều hành của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và các cơ quan hữu quan khác Tại thời kỳ đầu mới đi vào hoạt động, TTCK Trung Quốc không có một nền tảng pháp lý vững chắc để phát triển Các qui chế hoạt động ban đầu được soạn thảo năm 1987 và được bổ sung bởi Ngân hàng trung ương Trung Quốc năm 1989 Sở Giao dịch Thượng Hải đi vào hoạt động từ tháng 12/1990 và sau đó nửa năm Sở Giao dịch Thâm Quyến đã đi vào hoạt động

Tuy vậy, mãi đến năm 1994 Luật Công ty mới chính thức có hiệu lực trên toàn quốc, và tháng 7/1999 Luật chứng khoán chính thức có hiệu lực, đánh dấu sự hoàn thiện về mặt pháp lý cho hoạt động của TTCK Trung Quốc Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu 10 năm hoạt động, các hoạt động tiêu cực trên thị trường như gian lận về kế toán, thao túng thị trường, và giao dịch nội gián rất phổ biến, đã kéo theo hàng loạt các vụ kiện tụng và tranh chấp dân sự liên quan tới việc các nhà đầu tư bị thua lỗ do các hoạt động gian lận trên thị trường gây nên Thực tế này đã thể hiện một cách sinh động một giả thiết rằng chính sự phát triển của thị trường tài chính đã thúc đẩy sự phát triển của nền tảng pháp lý cho hoạt động của thị trường, và điều này được thể hiện rất rõ trên TTCK so với các thị trường khác như thị trường người tiêu dùng

Mặc dù Luật chứng khoán đã có hiệu lực, nhưng hệ thống luật pháp của Trung Quốc vẫn đang vất vả với những điều khoản thi hành cụ thể Khoảng cách giữa các qui định trong luật và luật trong thực tế là không nhỏ Điều này đặc biệt đúng đối với các nước áp dụng hệ thống luật pháp từ trên xuống (Zhiwu Chen, 2003)

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển TTCK khu vực Đông Nam Á

Tại Đông Nam Á, để tăng cường hiệu quả phân bổ vốn qua TTCK những năm

1980, 1990, Chính phủ ở các quốc gia này đã từng bước tự do hóa TTCK bằng cách loại bỏ dần những quy định bất hợp lý mang tính kiểm soát hành chính nhằm cải

Trang 31

thiện hiệu quả thị trường, đồng thời bổ sung những quy định quản lý chặt chẽ để củng cố long tin của nhà đầu tư Vì vậy, các quốc gia này đều thực hiện các giải pháp tăng cung, kích cầu nhằm huy động mọi nguồn vốn và điều chỉnh chúng vào các hoạt động kinh tế thông qua TTCK Thể chế và khung pháp lý được hoàn thiện theo hướng: (i) bổ sung các quy định về công bố thông tin, ngăn chặn và xử lý các hành vi lạm dụng thị trường nhằm củng cố lòng tin của nhà đầu tư; (ii) thay đổi chính sách thuế khiến TTCK trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn; (iii) khuyến khích nhà đầu tư trong nước tham gia TTCK, đồng thời cho phép nhà đầu tư nước ngoài được tự do tham gia TTCK; (iv) củng cố và phát triển hệ thống các định chế trung gian TTCK; (v) Thu hẹp thị trường tự do và tăng tính minh bạch trên cả TTCK nói chung thông qua việc thiết lập các bảng giao dịch dành cho các cổ phiếu không đáp ứng những điều kiện niêm yết và ưu đãi thuế

Bên cạnh đó, một số yếu tố khác đã góp phần nâng cao vai trò của TTCK tại một số nước Đông Nam Á đó là: sự thay đổi về nhận thức của các quốc gia về vai trò của TTCK như một kênh dẫn vốn đầu tư, tài trợ cho sự phát triển kinh tế; chương trình tư nhân hóa các DNNN cùng với các chính sách tự do hóa nền kinh tế càng làm tăng vị thế của TTCK Ngoài ra, Hồng Kong, Singapore với những nỗ lực nhằm trở thành các trung tâm tài chính quốc tế Những yếu tố trên cũng góp phần làm tăng vị thế và vai trò của TTCK trong cơ cấu nền kinh tế ở các nước Đông Á TTCK trở thành kênh dẫn vốn quan trọng để phát triển kinh tế tư nhân, duy trì sự phát triển của cả nền kinh tế

Ngoài ra, tại một số giai đoạn khi sức cầu liên tục được cải thiện, giá cổ phiếu tăng cao cùng với sự thăng hoa của nền kinh tế và nhu cầu đầu tư lớn của khu vực

tư nhân là những nhân tố làm tăng số lượng hàng hóa trên TTCK Tuy nhiên, để bảo đảm sự phát triển là bền vững, các quốc gia này đều có sự đầu tư thích đáng vào

cơ sở hạ tầng thị trường và chính sách ưu đãi, khuyến khích để duy trì sự tăng trường ổn định của TTCK Quá trình tự do hóa TTCK, hoàn thiện thể chế thị trường đối với hoạt động của các tổ chức trung gian, nới lỏng các quy định niêm yết và tạo lập các bảng giao dịch thứ hai…cũng làm tăng số lượng chứng khoán trên thị trường Kể từ giữa những năm 1980, cùng với việc tự do hóa từng bước TTCK, lòng tin nhà đầu tư còn được củng cố hơn nữa bởi một loạt những quy định mới chặt chẽ hơn được ban hành và những chính sách ưu đãi mới cho hoạt động đầu tư trên TTCK

Mặc dù nhìn chung, các cơ quan quản lý nhà nước ở các quốc gia Đông Á có

vẻ như sẵn sàng chấp nhận một mức độ khiếm khuyết nhất định trong khuôn khổ quản lý thị trường, tuy nhiên, quy định pháp lý vẫn tiềm ẩn những lỗ hổng quá lớn phải khắc phục để củng cố lòng tin của thị trường, đặc biệt là thiếu những chế tài cụ thể để xử lý các hành vi vi phạm quy định của pháp luật và việc cưỡng chế thực thi

để xử lý vi phạm còn chưa nghiêm Hệ thống pháp lý mới được ban hành đã củng

cố lòng tin thị trường, giúp TTCK trở nên hấp dẫn và thu hút được sự quan tâm hơn của giới đầu tư Chế độ công bố thông tin với những yêu cầu khắt khe hơn Chế độ công bố thông tin mới với yêu cầu các tổ chức phát hành phải cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin chính xác Các quy định hướng dẫn các chuẩn mực kế toán mới được ban hành Các chỉ số thị trường được thiết kế lại….tất cả đều hướng tới sự minh bạch của TTCK

Các cơ quan quản lý chuyên ngành được thành lập (ví dụ tại Hồng Kong năm

Trang 32

1987, Thái Lan năm 1992) khiến nhà đầu tư tin tưởng rằng kỷ luật thị trường sẽ được thiết lập lại Ngoài ra, Malaysia, Hong Kong, Phillippine còn thành lập các quỹ bảo vệ nhà đầu tư Các chính sách thuế bất hợp lý cũng được loại bỏ dần dần Chẳng hạn, năm 1987, Thái Lan đã điều chỉnh chính sách thuế, loại bỏ tình trạng thuế suất khác nhau áp dụng cho thu nhập từ lãi suất tiền gửi và thu nhập từ cổ tức Quá trình tự do hóa TTCK tại các nước Đông Nam Á giai đoạn này còn được thúc đẩy hơn nữa nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài Các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được tham gia cung ứng dịch vụ đã thúc đẩy sự cạnh tranh, cải thiện chất lượng thông tin, và chất lượng dịch vụ cung cấp

Các hệ thống giao dịch, phương thức và sản phẩm giao dịch mới được phát triển và cung cấp nhằm thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước Chẳng hạn, để tạo

cơ hội cho nhà đầu tư Singapore mua, bán cổ phiếu của Malaysia, Singapore thiết lập hệ thống giao dịch Central Limit Order Book – CLOB International, thị trường OTC, cho phép nhà đầu tư được giao dịch chứng khoán quốc tế Tại thời điểm năm

1995, có 129 loại cổ phiếu giao dịch trên thị trường này, trong đó có 118 là cổ phiếu của Malaysia Để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, Hong Kong, Singapore, Thái Lan, Malaysia thành lập các TTCK phái sinh Tại Hồng Kong, hợp đồng futures chỉ số đầu tiên chính thức được giao dịch vào tháng 5 năm 1985, tuy nhiên hai năm sau đó, mỗi ngày có tới 250,000 hợp đồng được giao dịch Tháng 1 năm 1993, Hong Kong cho phép giao dịch quyền chọn chỉ số, và tới cuối năm 1993, cho phép giao dịch quyền chọn cổ phiếu

Kể từ những năm 1980, tất cả các TTCK Đông Á đều triển khai sử dụng hệ thống giao dịch tự động, nhằm nâng cao năng lực của TTCK Cơ sở hạ tầng được cải thiện giúp chế độ công bố thông tin tốt hơn, nâng cao năng lực giám sát thị trường, khả năng xử lý khối lượng giao dịch lớn… Hàng loạt các SGDCK (Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonexia, Hàn Quốc) thiết lập thêm các bảng giao dịch, dành cho các cổ phiếu không đủ tiêu chuẩn niêm yết Chính sách thuế ưu đãi dành cho các công ty đăng ký đại chúng (Indonexia, Thái lan) Tất cả các hoạt động này đều làm tăng cung hàng hóa chất lượng trên TTCK tại các quốc gia Đông Á

1.3.3 Bài học cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

TTCK Việt Nam hội tụ đầy đủ những điểm hạn chế và thậm chí còn trải qua

cả những thăng trầm rất giống với quá trình phát triên của TTCK của các quốc gia Đông Nam Á Mặt khác, TTCK Việt Nam cũng được đặt trong một bối cảnh có một

số hoạt động kinh tế tương đồng với Trung Quốc Đó chính là lý do mà nhóm nghiên cứu đã lựa chọn các quốc gia này để phân tích và tìm hiểu những nguyên nhân, thành công hay thất bại, giúp cho công tác hoạch định chính sách có chất lượng hơn

Qua sự phân tích, đánh giá về TTCK ở Đông Á cho thấy sự phát triển của TTCK ở khu vự này là kết quả của quá trình tự do hóa TTCK Quá trình tự do hóa TTCK cần phải được hiểu nhiều hơn sự tự do hóa dòng dịch chuyển vốn đầu tư nước ngoài hoặc cho phép các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được thâm nhập và cung cấp dịch vụ tại TTCK Việt Nam Sự tự do hóa có lẽ cần phải hiểu là quá trình thể chế hóa thị trường, trong đó gỡ bỏ toàn bộ các quy định mang tính chất hành chính, nhưng đồng thời phải ban hành những quy đinh quản lý chặt

Trang 33

chẽ hơn nữa để thiết lập kỷ luật thị trường, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Sự tự

do hóa đã được các quốc gia Đông Á thực hiện thông qua việc:

(1) Từng bước cho phép nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức cung cấp dịch vụ chứng khoán thâm nhập vào TTCK Phát triển các trung gian tài chính: bao gồm hoạt động của các trung gian tài chính như các công ty chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán tập trung và phi tập trung, quĩ đầu tư, các công ty xác định hạng mức tín nhiệm, trung tâm lưu ký chứng khoán và thanh toán Hoạt động của các trung gian tài chính này đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp chất lượng dịch vụ phục vụ nhu cầu giao dịch và đầu tư của các nhà đầu tư trên thị trường vốn

(2) Cải cách thể chế, bao gồm việc thành lập các cơ quan quản lý nhà nước hoặc thực chất hóa quyền lực của cơ quan này; Sự điều hành và giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các hoạt động và các giao dịch thị trường, ngăn chặn các hành vi gian lận, giao dịch nội gián, thao túng thị trường và việc tuân thủ các qui định pháp luật về chứng khoán

(3) Cải cách hệ thống các quy định pháp lý, trong đó loại bỏ những quy định mang tính hành chính, ví dụ như việc biên đô dao động giá, mở thêm các bảng điện

tử, hệ thống giao dịch chứng khoán chưa hội đủ tiêu chuẩn niêm yết…kết hợp với việc nâng cao tiêu chuẩn niêm yết, quy định về chế độ công bố thông tin, chế độ kế toán, bổ sung và cưỡng chế thực thi các quy định ngăn chặn các hành vi lạm dụng thị trường;

(4) Tăng cung và đa dạng hóa sản phẩm chứng khoán Phát triển các công cụ phái sinh: ngoài các công cụ cơ bản như cổ phiếu và trái phiếu, các công cụ phái sinh như quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, các khoản bảo đảm v.v là những công cụ cần thiết để nhà đầu tư có thể sử dụng để quản lý rủi ro hoặc

đa dạng hoá nhu cầu đầu tư

(5) Có chính sách hỗ trợ của Chính phủ nhằm phát triển một thị trường tài chính cân đối, hài hòa giữa thị trường vốn và hệ thống ngân hàng, thông qua các chính sách về thuế

Cùng với những bài học trên, việc loại bỏ ngay từ đầu những nội dung là nguyên nhân tạo ra sự sụp đổ của TTCK là điều cần thiết Quá trình tự do hóa TTCK không nhất thiết phải đồng hành cùng với quá trình tự do hóa hoàn toàn các giao dịch vốn Tuy nhiên, quá trình tự do hóa TTCK phải được thực hiện cùng với việc cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát được các hoạt động của các định chế trung gian, nắm rõ được quy mô rủi ro của từng tổ chức và của cả hệ thống

Trên đây là những bài học kinh nghiệm sâu sắc mà Việt Nam có thể học hỏi

và rút kinh nghiệm trong quá trình phát triển TTCK trong thời gian tới

Trang 34

Kết luận chương 1

Chương 1 luận văn đã tổng hợp những vấn đề lý luận cơ bản liên quan tới vấn đề phát triển TTCK Theo các nhà kinh tế, để thể hiện tính đa chiều và phức tạp của thị trường, khái niệm phát triển TTCK phải là một tập hợp các thông số về quy

mô và chất lượng của thị trường, phát triển TTCK là phát triển về cả quy mô và chất lượng Trong phạm vi nghiên cứu luận văn chọn cơ sở phân tích, đánh giá sự phát triển của TTCK dựa trên 2 nhóm chỉ tiêu chính Thứ nhất, chỉ tiêu định lượng gồm: i) Chỉ số về quy mô; ii) Chỉ số về thanh khoản; iii) Chỉ số về mức biến động; iv) Chỉ

số về mức độ tập trung hóa; v) Chỉ số tổng hợp lượng hóa sự phát triển của TTCK – chỉ số TTCK Thứ hai, chỉ tiêu định tính bao gồm các chủ thể tham gia thị trường và

cơ sở pháp lý về thị trường đây là cơ sở để hình thành và vận hành đồng thời là một trong những điều kiện không thể thiểu để TTCK phát triển Ngoài ra, tác giả cũng tổng hợp kinh nghiệm phát triển TTCK của Trung Quốc và các nước Đông Nam Á,

từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho TTCK Việt Nam

Cơ sở lý luận của Chương 1 sẽ là cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của TTCK Việt Nam trong Chương 2 của luận văn

Trang 35

Chương 2 - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1 SỰ RA ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT NAM 2.1.1 Sự ra đời của thị trường CK Việt Nam

Ngày 28/11/1996, UBCKNN (UBCK) được thành lập theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ, UBCK thực hiện chức năng tổ chức quản lý Nhà nước về chứng khoán và TTCK Ngay sau đó, UBCK đã xây dựng bộ máy tổ chức tương đối hoàn chỉnh và bắt đầu xây dựng khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của TTCK

Ngày 11/7/2000 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 127/1998/QĐ-TTg về việc thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Thành phố Hồ Chí Minh và TTGDCK Hà Nội TTGDK Thành phố Hồ Chí Minh chính thức đi vào hoạt động ngày 20/7/2000 và thực hiện giao dịch chứng khoán đầu tiên vào ngày 28/7/2000 đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới Tiếp đó, ngày 08/3/2005, TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động tại Thành phố Hà Nội, đánh dấu thêm một bước tiến mới của TTCK Việt Nam

Về cơ bản TTCK Việt Nam có thể phân làm 3 cấp:

1) Cấp quản lý: UBCKNN, SGDCK Tp Hồ Chí Minh, SGDCK Hà Nội và

Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam Đây là cấp đóng vai trò quản lý TTCK

2) Cấp trung gian: Công ty chứng khoán, Công ty Quản lý Quỹ, Ngân hàng

lưu ký, Tổ chức Niêm yết, Đây là cấp đóng vai trò trung gian trên TTCK và có vai trò tạo hàng hóa cho TTCK cũng như kết nối nhà đầu tư với hàng hóa đó

3) Cấp cơ sở: nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư tổ chức chuyên

nghiệp Đây là cấp thực hiện giao dịch, đầu tư, qua đó giúp thị trường sôi động

Đến nay, TTCK Việt Nam đã vận hành được 16 năm, một kênh dẫn vốn trung

và dài hạn quan trọng của nền kinh tế trong thời gian qua Sự ra đời của TTCK là biểu tượng đánh dấu một sự phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam và là một tác nhân quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển cũng như quá trình hội nhập kinh tế,

xã hội của Việt nam

Nhìn vào quá trình phát triển của TTCK Việt Nam trong thời gian vừa qua có thể thấy rõ hai giai đoạn: Giai đoạn thị trường định hình từ năm 2000-2006 và giai đoạn phát triển theo chiều rộng từ 2006 tới nay, trong đó, sự tăng trưởng của TTCK trong năm 2006 có thể coi là mang tính đột phá

2.1.2 Các giai đoạn phát triển

Đến nay, TTCK Việt Nam đã vận hành được hơn 16 năm Sự ra đời của TTCK là biểu tượng đánh dấu một sự phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam và là một tác nhân quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển cũng như quá trình hội nhập kinh tế, xã hội của Việt nam Việc vận hành thị trường này an toàn, đưa TTCK trở thành một kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng trong thời gian qua là một thành công của Việt Nam

Trang 36

Nhìn vào quá trình phát triển của TTCK Việt Nam trong thời gian vừa qua có thể thấy rõ ba giai đoạn: i) Giai đoạn thị trường định hình và phát triển theo chiều rộng từ năm 2000-2005; ii) Giai đoạn phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu từ năm 2006 – 2010; iii) Giai đoạn tái cấu trúc thị trường và phát triển theo chiều sâu

từ năm 2011 đến nay

1) Giai đoạn 2000-2005

Giai đoạn 2000-2005 là những bước đi đầu tiên cho sự phát triển của TTCK Việt Nam Ngày 20/7/2000, Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK TP Hồ Chí Minh) chính thức khai trương với chức năng chủ yếu

là tổ chức giao dịch cổ phiếu, trái phiếu đủ điều kiện niêm yết giao dịch Để khuyến khích thu hút các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán tham gia TTCK trong giai đoạn đầu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 39/2000/QĐ-TTg ngày 27/3/2000 ưu đãi thuế đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán, các nhà đầu

tư cá nhân được miễn thuế giao dịch chứng khoán… Bên cạnh đó nhằm giảm thiểu các hành vi gây bất ổn thị trường, Chính phủ ban hành Nghị định 22/2000/NĐ-CP

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK để đảm bảo mục tiêu vận hành thị trường Công khai – Công bằng – Minh bạch

Từ 2001-2003, để phát triển TTCK phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 163/2003/QĐ-TTg ngày 5/8/2003 phê duyệt Chiến lược Phát triển TTCK đến năm 2010 Ngày 28/11/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2003/NĐ –CP về chứng khoán và TTCK thay thế cho Nghị định số 48/1998/NĐ-CP Nghị định 144 hiện thực hóa các quy định về hoạt động của TTCK nhằm tạo điều kiện để phát triển một TTCK vận hành theo chuẩn mực của nền kinh tế thị trường Để tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán, ngày 19/2/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2004/NĐ-CP chuyển UBCKNN trực thuộc Bộ Tài chính

2) Giai đoạn 2006 -2010

Giai đoạn 2006-2010, TTCK Việt Nam phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu Năm 2006, sau khi TTGDCK TP Hồ Chí Minh đi vào hoạt động được 3 năm, cấu trúc hạ tầng của TTCK tiếp tục hoàn thiện với sự ra đời của TTGDCK Hà Nội và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Trong giai đoạn này, các tiêu chuẩn của thị trường từng bước được nâng cao trên các mặt niêm yết, phát hành, công bố thông tin, quản trị công ty Các TTGDCK TP Hồ Chí Minh và Hà Nội được chuyển đổi

mô hình hoạt động thành SGDCK TP Hồ Chí Minh và SGDCK Hà Nội

Năm 2009, TTCK có nhiều đổi mới, thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) chuyên biệt và thị trường giao dịch chứng khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM) chính thức đi vào hoạt động, bước đầu góp phần phân định các khu vực thị trường giữa các Sở GDCK Hà Nội và SGDCK TP Hồ Chí Minh, góp phần tăng cung hàng hóa và tăng tính thanh khoản cho TTCK, thu hẹp thị trường tự do và phát triển thị trường trái phiếu

3) Giai đoạn 2011 đến nay

Giai đoạn 2011 đến nay, TTCK tập trung phát triển theo chiều sâu và từng bước tiếp cận chuẩn mực quốc tế Ngày 24/11/2010, Quốc hội khóa XII đã thông

Trang 37

qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật chứng khoán Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 252/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2011-

2020 Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã chỉ đạo UBCKNN hoàn thiện và bổ sung các văn bản pháp lý, đồng thời quyết liệt triển khai công tác tái cấu trúc TTCK và phát triển sản phẩm mới Đến nay, hoạt động tái cấu trúc TTCK nói chung đã được các mục tiêu, yêu cầu đặt ra theo lộ trình, TTCK phái sinh sẽ được đưa vào vận hành trong thời gian tới

Trải qua 16 năm hoạt động, đến nay TTCK Việt Nam đã từng bước phát triển về cả chất và lượng TTCK đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế và ngân sách phục vụ đầu tư phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh Thông qua thị trường, Chính phủ và doanh nghiệp đã huy động được 1,7 triệu tỷ đồng; thị trường trái phiếu Chính phủ được đánh giá có mức tăng trưởng dẫn đầu các nền kinh tế mới nổi tại khu vực Đông Á cũng như khu vực ASEAN + 3 Quy mô thị trường tăng bình quân trên 20% mỗi năm kể từ năm 2011, mức vốn hóa tăng 2000 lần so với những năm đầu thành lập Đến nay đã có trên 695 công ty niêm yết, 417 công ty đăng ký giao dịch trên 2 SGDCK với giá trị vốn hoá thị trường đạt 1.947 nghìn tỷ đồng tương đương trên 43% GDP Thị trường trái phiếu Chính phủ có tốc độ tăng bình quân 31%/năm Tổng giá trị vốn huy động qua TTCK từ khi khai trương hoạt động đến nay đã đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng và huy động khoảng 15 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp Đồng thời, TTCK Việt Nam đã thu hút đông đảo các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, số lượng tài khoản giao dịch tính đến 31/12/2016 đạt 1,71 triệu tài khoản trong đó có 9.942 tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư tổ chức, làm tăng khả năng luân chuyển vốn trong nước, đồng thời huy động một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài

2.1.3 Cơ cấu tổ chức TTCK Việt Nam

Cơ cấu tổ chức của TTCK từng bước được hoàn thiện theo hướng tách chức năng quản lý nhà nước ra khỏi chức năng tổ chức và vận hành thị trường; củng cố

và phát triển trước mắt theo diện rộng, sau đó từng bước phát triển về chất lượng

hoạt động đối với hệ thống các định chế tài chính trung gian của TTCK Việt Nam

Trang 38

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức TTCK Việt Nam

Các Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán được tách ra khỏi cơ cấu tổ chức của UBCKNN – cơ quan quản lý nhằm đảm bảo cho các hoạt động quản lý, giám sát và điều hành, tổ chức thị trường được tách bạch và linh hoạt hơn Các TTGDCK sau đó được chuyển đổi thành các SGDCK hoạt động trên

cơ sở nguyên tắc và thông lệ quốc tế Trung tâm Lưu ký Chứng khoán hoạt động độc lập, cung cấp các dịch vụ đăng ký chứng khoán, lưu ký và thanh toán cho hoạt động giao dịch chứng khoán tại các SGDCK, thực hiện việc đăng ký lưu ký các loại chứng khoán phát hành ra công chúng nhưng chưa được niêm yết Mô hình tổ chức của hai SGDCK, TTLKCK được chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp nhằm tăng cường quản trị và năng lực hoạt động cho các tổ chức này với tư cách là các pháp nhân độc lập; cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hệ thống giao dịch, hệ thống giám sát và công

bố thông tin thị trường, cơ cấu tổ chức tại các SGDCK ngày một hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Sự phát triển nhanh chóng của thị trường cổ phiếu niêm yết tại các SGDCK đã khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thị trường có

tổ chức, tạo nên hiệu quả huy động vốn cho doanh nghiệp;

Hệ thống các định chế trung gian không chỉ tăng về số lượng mà cả về chất lượng Sự cạnh tranh lành mạnh là lực đẩy khiến các tổ chức này ngày càng phải nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng Các

tổ chức này đã chú trọng nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ thông tin, đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho kinh doanh Cùng với việc triển khai giao dịch trực tuyến, các loại hình dịch vụ cung cấp trên thị trường ngày càng

đa dạng và có chất lượng, đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng trên thị trường, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư trong và ngoài nước

Trang 39

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TTCK VIỆT NAM

2.2.1 Cấu trúc và hàng hóa trên TTCK Việt Nam

Căn cứ vào quy định lưu thông chứng khoán, cấu trúc TTCK Việt Nam gồm: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Trong đó, mỗi thị trường gồm các hàng hóa

cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp

Căn cứ vào phương thức giao dịch, cấu trúc TTCK Việt Nam gồm: thị trường tập trung và thị trường phi tập trung Hàng hóa thị trường tập trung được niêm yết

và giao dịch trên SGDCK Hà Nội và SGDCK TP Hồ Chí Minh Hàng hóa thị trường phi tập trung gồm hàng hóa được đăng ký niêm yết và giao dịch trên UpCom

và hàng hóa giao dịch tự do trên OTC

Tại Việt Nam hàng hóa của TTCK chủ yếu được niêm yết và giao dịch trên thị trường tập trung là hai SGDCK, do đó trong phần này tập trung phân tích, đánh giá hàng hóa trên thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp của hai SGDCK Sự phân tích, đánh giá hàng ở đây xét chủ yếu trên hai khía cạnh là số lượng và chất lượng hàng hóa thông qua sự phát triển của các hoạt động chính trên TTCK là phát hành (trên thị trường sơ cấp), niêm yết và giao dịch (trên thị trường thứ cấp)

2.2.1.1 Thị trường sơ cấp

Sự phát triển của thị trường sơ cấp, thể hiện qua mức độ năng động của hoạt động phát hành, huy động vốn thông qua TTCK

1) Thị trường cổ phiếu

- Giai đoạn 2000 – 2005: Trong 05 năm đầu, kể từ ngày thành lập TTCK, giai

đoạn từ 2000-2005, TTCK hầu như chỉ đóng vai trò là thị trường thứ cấp, tạo tính thanh khoản cho cổ phiếu Vai trò là kênh huy động vốn, thông qua hoạt động phát hành có sự chuyển biến mạnh mẽ từ năm 2004 trở lại đây, đặc biệt là từ năm 2007 (Bảng 1, Phu lục)

Giai đoạn 2004 – 2005 đã có sự khởi sắc trong hoạt động phát hành cổ phiếu nói chung và phát hành ra công chúng nói riêng của nhiều loại hình doanh nghiệp như: các doanh nghiệp mới CPH, doanh nghiệp đã CPH, doanh nghiệp niêm yết trên TTGDCK, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi và doanh nghiệp hình thành mới theo Luật Doanh nghiệp năm 2000 Đây cũng là giai đoạn hàng loạt các quyết định, chính sách của Chính phủ, các văn bản pháp luật mới được ban hành, nhằm thúc đẩy một bước TTCK Việt Nam Kết quả là trong năm 2005 đã có hơn 700 DNNN thực hiện CPH thông qua hình thức tổ chức đấu giá trên thị trường qua các TTGDCK, các công ty chứng khoán hoặc tại doanh nghiệp

- Giai đoạn 2006-2010: Sau một giai đoạn trầm lắng trong giai đoạn 2000 -

2005, TTCK Việt Nam đã có sự bứt phá mạnh mẽ kể từ năm 2006 Cũng kể từ thời điểm này, vai trò kênh huy động vốn của TTCK thông qua hoạt động phát hành đã

có sự chuyển biến mạnh mẽ Quy mô phát hành tăng mạnh vào năm 2007 khi TTCK bùng nổ, huy động được gần 56 nghìn tỷ đồng từ khoảng 200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng thương mại Tuy nhiên sau đó do tác động của khủng hoảng toàn cầu nên quy mô phát hành đã sụt giảm và chỉ tăng mạnh trở lại vào năm 2010 (Hình 1, Phụ lục)

Trang 40

- Giai đoạn tiếp theo từ 2011 đến nay: Hoạt động phát hành cổ phiếu tiếp tục

tăng mạnh, qua đó góp phần mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Do tình hình kinh tế vĩ mô đã được duy trì ổn định và TTCK Việt Nam có khởi sắc từ năm 2013 nên tổng giá trị cổ phiếu thực tế phát hành có xu hướng tăng lên và đã tăng gấp 3,5 lần so với năm 2012 Tỷ lệ phát hành thành công duy trì ở mức cao, đặc biệt trong các năm 2012 - 2014 Tổng giá trị cổ phiếu phát hành tăng mạnh làm giảm gánh nặng về nợ cho doanh nghiệp cân bằng cán cân Vốn – Nợ, tạo điều kiện đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh (Hình 2, Phụ lục) Đồng thời, hoạt động cổ phần hóa, thoái vốn trong giai đoạn này đã được thúc đẩy mạnh mẽ hơn Số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa qua 02 SGDCK giai đoạn này là 218 doanh nghiệp và tăng mạnh mẽ trong 2 năm gần đây Ngoài ra, các DNNN cổ phần hóa có quy mô lớn đã tăng cao, góp phần làm tăng sự hấp dẫn cho TTCK, thu hút nhiều hơn sự quan tâm của nhà đầu tư trong nước và quốc tế4

Nhìn chung, với nhiều cơ chế, chính sách mới được ban hành, đồng thời với việc triển khai bảo đảm công khai, minh bạch qua TTCK, hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của các DNNN nói chung và các DNNN sau cổ phần hóa nói riêng đã được cải thiện, tình trạng đầu tư dàn trải, đầu tư vào các ngành, lĩnh vực không phải

là ngành kinh doanh chính đã từng bước được khắc phục và chấn chỉnh Kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNN đã cổ phần hóa giai đoạn 2011-2015 trong năm 2015 đều hiệu quả hơn so với năm trước khi cổ phần hóa: vốn điều lệ tăng 72%, tổng tài sản tăng 39%, vốn chủ sở hữu tăng 60%, doanh thu tăng 29%, lợi nhuận trước thuế tăng 49%, nộp ngân sách tăng 27%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 33%

2) Thị trường trái phiếu

- Giai đoạn 2000 -2005

Trong giai đoạn 2000 – 2002, TPCP là sản phẩm được niêm yết chủ đạo trên

Sở GDCK tp HCM Số lượng hàng hóa niêm yết còn ít (40 loại) Sang năm 2003,

số lượng trái phiếu niêm yết đã tăng gấp đôi, với 100 trái phiếu niêm yết Tuy số lượng sản phẩm không đa dạng, nhưng khối lượng niêm yết tại Sở GDCK tp HCM tăng đều trong các năm Thời hạn TPCP niêm yết chủ yếu chỉ có 5 năm, 10 năm và

15 năm (Hình 3, Phụ lục)

Tháng 8/2005: TPCP được đưa vào giao dịch trên Trung tâm GDCK Hà Nội Sau 5 năm giao dịch trên Sở GDCK Tp.HCM, lần đầu tiên TPCP được đưa vào giao dịch trên Trung tâm GDCK Hà Nội sau khi Trung tâm này được thành lập Cũng kể

từ thời điểm này, TPCP được giao dịch song song trên cả hai sàn Hà Nội và Tp.HCM

Ngày đăng: 22/01/2021, 11:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2010), Báo cáo tình hình thi hành Luật chứng khoán và hoạt động TTCK, Tài liệu trong Hồ sơ Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thi hành Luật chứng khoán và hoạt động TTCK
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
6. Ngô Thu Giang TS. (2014), Tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm công ty niêm yết tới mức độ công bố thông tin và hệ quả của nó, Luận án tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm công ty niêm yết tới mức độ công bố thông tin và hệ quả của nó
Tác giả: Ngô Thu Giang TS
Năm: 2014
7. Nguyễn Thành Long (2011), Cơ sở lý luận phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức nhằm phát triển TTCK Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận phát triển hệ thống nhà đầu tư tổ chức nhằm phát triển TTCK Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thành Long
Năm: 2011
11. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (2015), Báo cáo thường niên 2015, Hà Nội 12. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (2015), Báo cáo thường niên 2016, Hà Nội Tài liệu tham khảo tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên 2015", Hà Nội 12. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (2015), "Báo cáo thường niên 2016", Hà Nội
Tác giả: Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (2015), Báo cáo thường niên 2015, Hà Nội 12. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
Năm: 2015
1. Ash Demirguc-Khung và Ross Levine (1995), “Stock Market Development and Financial Intermediaries: Stylized Facts” Policy Research Working Paper, the World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stock Market Development and Financial Intermediaries: Stylized Facts”
Tác giả: Ash Demirguc-Khung và Ross Levine
Năm: 1995
2. Byoung-Jo Chun, Jin W. Cyhn, Shigeko Hattori, Bui Trong Nghia and Xuechun Zhang (2003), Viet Nam Capital Market Roadmap-Challenges and Policy Options, ADB Publication Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viet Nam Capital Market Roadmap-Challenges and Policy Options
Tác giả: Byoung-Jo Chun, Jin W. Cyhn, Shigeko Hattori, Bui Trong Nghia and Xuechun Zhang
Năm: 2003
3. Fry Maxwell (1988), Money, interest, and banking in Economic Development, The Johns Hopkins University Press, Baltimore and London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Money, interest, and banking in Economic Development, The Johns Hopkins University Press
Tác giả: Fry Maxwell
Năm: 1988
4. Kam C. Chan, Fung, Hung-Gay and Samanta Thapa (2007), “China financial research: A review and synthesis”, International Review of Economics & Finance, 16(3), pp. 416-428 Sách, tạp chí
Tiêu đề: China financial research: A review and synthesis
Tác giả: Kam C. Chan, Fung, Hung-Gay and Samanta Thapa
Năm: 2007
5. Korajczyk Robert (1995), “A measure of Stock Market Integration for Developed and Emerging Markets” Policy Research Working Paper, the World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: A measure of Stock Market Integration for Developed and Emerging Markets”
Tác giả: Korajczyk Robert
Năm: 1995
6. Levine, R. (2002), Bank-based or Market-based Financial Systems: Which Is Better?, Journal of Financial Intermediation Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bank-based or Market-based Financial Systems: Which Is Better
Tác giả: Levine, R
Năm: 2002
7. Reilly Frank K. and Brown Keith C.(2000), Investment Analysis and Portfoloi Management, 6th edition, The Dryden Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investment Analysis and Portfoloi Management
Tác giả: Reilly Frank K. and Brown Keith C
Năm: 2000
8. Suk-JoongKim and Eliza Wu (2008), Sovereign Credit Ratings, Capital Flows and Financial Sector Development in Emerging Markets, Emerging Markets Review Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sovereign Credit Ratings, Capital Flows and Financial Sector Development in Emerging Markets
Tác giả: Suk-JoongKim and Eliza Wu
Năm: 2008
8. World Federation of Exchanges database,, http://data.worldbank.org/indicator/CM.MKT.TRAD.GD.ZS, Worldbank, ngày 20/5/2017 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w