1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên cho trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật thương mại

105 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hạn chế đó theo nhóm tác giả là xuất phát từ 6 nguyên nhân chủ yếu: 1 Tiêu chuẩn về GV ĐH được quy định trong Luật giáo dục, các văn bản dưới luật có hiệu lực thấp, nội dung lạc hậ

Trang 1

-

TRẦN VĂN BÌNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CHO TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: QUẢN TRI ̣ KINH DOANH

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

-

TRẦN VĂN BÌNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CHO TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT THƯƠNG MẠI

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRI ̣ KINH DOANH

MÃ SỐ ĐỀ TÀI: 15BQTKDBK2-04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHAN DIỆU HƯƠNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm Luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, và động viên từ thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình; trước khi đi vào nội dung của Luận văn, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả mọi người:

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong Viê ̣n Đào ta ̣o sau đại học, Trường đại học Bách khoa đã cung cấp cho tôi những kiến thức, phương pháp tiếp cận toàn diện về quản trị kinh doanh trong suốt 2 năm học tập tại Viện

Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Tiến sỹ Phan Diệu Hương - giáo viên hướng dẫn trực tiếp, người đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực tế để hoàn thành tốt Luận văn

Và tôi cũng xin được gửi lời cảm chân thành tới các thầy cô giáo cũng như các cán bộ lãnh đạo của trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại đã giúp đỡ nhiệt tình, cung cấp cho tôi những tài liệu, phiếu điều tra phục vụ cho mục đích nghiên cứu

Cùng gia đình, bạn bè, người thân và anh/chị/em đồng nghiệp đã tạo điều kiện về thời gian, môi trường cho tôi có thể hoàn thành luận văn này

Với sự cố gắng của bản thân tôi đã cố gắng để hoàn thành Luận văn đúng hạn với nội dung đầy đủ, sâu sắc, có hướng mở Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ, thời gian, Luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của Quý thầy cô giáo, các anh/chị, các bạn đồng nghiệp để Luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Sau quá trình nghiên cứu và tìm hiểu tại Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuâ ̣t thương ma ̣i, có sự kết hợp, vận dụng giữa lý thuyết vào thực tế, tôi đã nghiên cứu,

TS Phan Diê ̣u Hương

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình do chính bản thân tôi làm và các

số liệu trong bài là trung thực

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Văn Bình

Trang 5

MU ̣C LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do thực hiê ̣n đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Nội dung của Luận văn 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIÊ ̣M 11

1.1 Khái niệm và đặc điểm đội ngũ giảng viên trường cao đẳng 11

1.1.1 Khái niệm giảng viên, đội ngũ giảng viên 11

1.1.2 Đặc điểm công việc của giảng viên trường cao đẳng 14

1.2 Năng lực đội ngũ giảng viên trường cao đẳng 17

1.2.1 Khái niệm năng lực, năng lực đội ngũ giảng viên 17

1.2.2 Năng lực đội ngũ giảng viên trường cao đẳng 19

1.3 Các yêu cầu đánh giá đội ngũ giảng viên 20

1.3.1 Về quy mô giảng viên 20

1.3.2 Về cơ cấu đội ngũ giảng viên 22

1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực đội ngũ giảng viên 23

1.4.1 Về kiến thức 23

1.4.2 Về kỹ năng 25

1.4.3 Yêu cầu về thái độ 28 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực của đội ngũ giảng viên trong trường cao

Trang 6

đẳng 30

1.5.1 Nhân tố bên trong 30

1.5.2 Nhân tố bên ngoài 31

1.6 Kinh nghiệm và bài học về nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên của một số trường 32

1.6.1 Một số kinh nghiệm về nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên 32

1.6.2 Bài học kinh nghiệm rút ra đối với trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật thương mại 34

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT THƯƠNG MẠI 37

2.1.Tổng quan về trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của trường 39

2.1.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường 40

2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại 41

2.2.1.Về quy mô giảng viên 41

2.2.2 Về cơ cấu đội ngũ giảng viên 43

2.3 Phân tích thực trạng năng lực đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại 52

2.3.1.Về kiến thức 52

2.3.2 Về kỹ năng 57

2.3.3 Về thái độ 63

2.4 Đánh giá năng lực đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại 65

2.4.1.Những điểm mạnh 65

2.4.2.Hạn chế và nguyên nhân 66

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 70

Trang 7

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CHO TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT

THƯƠNG MẠI 70

3.1 Định hướng phát triển của trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại đến năm 2025 tầm nhìn 2030 70

3.2 Mục tiêu và định hướng nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại 70

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên cho trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại 73

3.3.1 Xây dựng khung năng lực chuẩn cho đội ngũ giảng viên 73

3.3.2 Đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên 74

3.3.3 Thường xuyên tiến hành kiểm tra, đánh giá năng lực giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại 77

3.3.4 Chế độ đãi ngộ đối với giảng viên 78

3.4.5 Tăng cường các điều kiện đảm bảo cho giảng viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy 79

3.4.6 Một số giải pháp khác 83

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI ̣ 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHU ̣ LỤC 92

Trang 8

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

Cụm từ viết tắt Tên đầy đủ

Trang 9

DANH MU ̣C SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 1.Thang điểm đánh giá 8

Bảng 2 Tổng hợp phiếu điều tra 8

Hình 1.1 Mô hình dạy và học theo quan điểm lý luận dạy học 15

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường CĐ Kinh tế kỹ thuật thương mại 41

Hình 2.2 Số lượng giảng viên Trường CĐ KTKT thương mại 2011- 2016 42

Hình 2.3 Số lượng giảng viên Trường CĐ KTKT thương mại 2011-2016 43

Hình 2.4 Trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên trường CĐ KTKT thương mại 2011- 2016 45

Hình 2.5 Trình độ ngoại ngữ, tin học của ĐNGV trường CĐ KTKT thương mại 2011- 2016 48

Hình 2.6 Cơ cấu độ tuổi ĐNGV trường CĐKTKTTM năm học 2015-2016…… 50

Hình 2.7.Thâm niên công tác ĐNGV trường CĐ KTKTTM năm học 2015-2016…… 51

Hình 2.8 Cơ cấu giới tính của trường CĐKTKT thương ma ̣i 52

Hình 2.9 Thực trạng về kiến thức của đội ngũ giảng viên trường CĐ KTKT thương mại 54

Hình 2.10 Thực trạng kiến thức XH ĐNGV trường CĐ KTKTTM 55

Hình 2.11 Thực trạng kiến thức chuyên môn của ĐNGV trường CĐ KTKTTM… 56

Hình 2.12 Kỹ năng của đội ngũ giảng viên trường CĐ KTKT thương mại 59

Hình 2.13 Kỹ năng của ĐNGV trường CĐ KTKT TM 60

Hình 2.14 Thái độ của đội ngũ giảng viên trường CĐ KTKT thương mại 63

Hình 2.15 Thái độ của đội ngũ giảng viên trường CĐ KTKT thương mại 64

Hình 2.16 Tổng hợp năng lực của ĐNGV trường CĐKTKTTM 65

Hình 3.1 Dự kiến khung đánh giá năng lực của trường CĐKTKTTM 74

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Ly ́ do thực hiê ̣n đề tài

Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI đã xác

định [14] “Giảng viên là nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục và đã được xã hội tôn vinh, chăm lo xây dựng đội ngũ giảng viên sẽ tạo được sự chuyển biến về chất lượng giáo dục, đáp ứng được những yêu cầu mới của đất nước” Năng lực của

giảng viên phản ánh chất lượng của giáo dục UNESCO đã nhấn mạnh rằng: “Vai trò của giảng viên vẫn là chủ yếu mặc dù cải cách giáo dục đang xảy ra” Đội ngũ giảng viên ở trường có nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân vừa có đức lại vừa có trình độ kỹ thuật tiên tiến…để góp phần “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước Chính vì vậy mà việc nâng cao năng lực giảng viên ở các trường là việc làm cần thiết, cấp bách hiện nay

Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại được thành lập từ hai trường là Trường Trung học chuyên nghiệp Sơn Tây và Trường Cán bộ vật tư vào năm 1998

đã trưởng thành và trở thành một trong những nơi đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho ngành Công thương và xã hội Trong 50 năm qua, Trường Cao đẳng kinh

tế kỹ thuật thương mại đã đào tạo và bồi dưỡng hàng vạn học sinh, sinh viên thuộc các chuyên ngành có tay nghề cao trên khắp mọi miền đất nước

Đội ngũ giảng viên trong trường đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Nhà trường Từ những năm

1980 trở về trước, đội ngũ giảng viên của trường chủ yếu được lựa chọn từ những học sinh giỏi bậc trung cấp mới ra trường, Nhà trường đã kiên trì thực hiện chủ trương nâng cao năng lực đô ̣i ngũ giảng viên bằng nhiều giải pháp Qua 50 năm xây

kể cả giảng viên kiêm chức, trong đó trình độ Tiến sĩ: 06; trình độ thạc sĩ: 157; một

số giảng viên đang học nghiên cứu sinh và cao học các ngành

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội cũng như mục tiêu của Nhà trường đã đề ra trong những năm tiếp theo là: “Tiếp tục xây dựng Nhà trường trở thành một trường trọng điểm, đào tạo đa cấp, đa ngành, có uy tín, thương hiệu và chất lượng, không ngừng mở rộng quy mô ngành nghề đào tạo, mở rộng quan hệ hợp tác liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức đủ về số lượng, cao về chất lượng, đạt các tiêu chuẩn trình độ năng lực, phẩm chất, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phấn đấu nâng cấp trường

Trang 12

trở thành trường Đại học trực thuộc Bộ công thương Tiếp tục xây dựng hoàn thiện

và phát triển nhà trường với quy mô chất lượng quốc gia và quốc tế trong những

năm tiếp theo” Đây là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn phụ thuộc vào rất nhiều yếu

tố trong đó năng lực giảng viên đóng vai trò quan trọng nhất

Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên cho trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại ” làm

luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành quản trị kinh doanh của mình

2 Ti ̀nh hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài đã có nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu điển hình như:

❖ Đề tài khoa học: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV

ĐH giai đoạn 2010 – 2015”của các tác giả ThS Lê Thị Phương Nam, ThS Hoàng Văn Lợi Vụ Văn hóa, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, Văn phòng Quốc hội

Trong bài nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những lý luận liên quan đến chất lượng ĐNGV và từ sự phân tích thực trạng vấn đề này hiện nay tác giả chỉ ra một số bất cập, hạn chế còn tồn tại:

- Về số lượng ĐNGV ĐH thì chưa đáp ứng được yêu cầu;

- Về cơ cấu thì tỷ lệ GV có trình độ cao còn thấp so với mục tiêu Bộ Giáo dục

và Đào tạo đề ra và có sự phân bố không đồng đều ở các trường trong nước;

- Chất lượng ĐNGV ĐH chưa đảm bảo do còn tình trạng quá tải giờ dạy bởi

sự gia tăng chóng mặt về quy mô đào tạo;

- Cơ chế quản lý, sử dụng ĐNGV ĐH không phát huy hết tiền năng của cả đội ngũ và từng cá nhân

Những hạn chế đó theo nhóm tác giả là xuất phát từ 6 nguyên nhân chủ yếu: (1) Tiêu chuẩn về GV ĐH được quy định trong Luật giáo dục, các văn bản dưới luật

có hiệu lực thấp, nội dung lạc hậu; (2) Chủ trương nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo chưa được cụ thể hóa thành các quy hoạch, kế hoạch của các trường ĐH; (3) còn tồn tại cơ chế bao cấp trong hệ thống đào tạo nhân lực nói chung và đào tạo

ĐH, CĐ nói riêng; (4) công tác đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của ĐNGV giảng dạy chưa trở thành điều kiện tiên quyết và bắt buộc đối với các cơ sở Giáo dục ĐH và chính ĐNGV; (5) Công tác quản lý, sử dụng và đánh giá về hoạt động giảng dạy còn nhiều bất cập; (6) Chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo nói chung và GV ĐH nói riêng chưa bảo đảm

Trang 13

Trước những thực trạng vấn đề như vậy, đề tài nghiên cứu đã tập trung kiến nghị thực hiện tốt một số giải pháp sau:

- Đổi mới công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch và sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định về tuyển dụng GV ĐH;

- Xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp của GV ĐH;

- Đẩy mạnh công tác NCKH trong các cơ sở Giáo dục ĐH, gắn NCKH với đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy;

- Đổi mới công tác quản lý, sử dụng, đánh giá, sàng lọc ĐNGV ĐH theo hướng phân công, phân cấp về trách nhiệm, quyền hạn và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở Giáo dục ĐH;

- Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với ĐNGV ĐH tương xứng với thành tích và năng lực cá nhân

❖ Tạp chí khoa học: “Xây dựng ĐNGV trong trường ĐH - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, Tạp chí Khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội, Luật học 28 (2015)

Bài viết đã phân tích cụ thể, trực tiếp vào thực trạng và công tác quản lý ĐNGV trong trường ĐH hiện nay Tác giả đã có sự so sánh với thực tế tại các trường ĐH trên thế giới ở những nội dung phù hợp để thấy rõ các vấn đề chúng ta đang phải đối mặt

Về thực trạng đội ngũ, tác giả đã nêu ra những ưu điểm có được là: ĐNGV trong trường ĐH ngày một nâng cao cả về số lượng và năng lực chuyên môn; bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức vững vàng, có nhiệt huyết; trình độ ngoại ngữ, tin học, lý luận chính trị không ngừng được nâng cao; các quan điểm chính sách đổi mới từng bước đáp ứng yêu được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên : số lượng, cơ cấu ĐNGV vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài; với xu hướng hội nhập mạnh mẽ như hiện nay thì chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy ở trường ĐH nước ta còn yếu; đầu tư của nhà nước và xã hội cho giáo dục nhiều nhưng dàn trải thiếu trọng tâm.; phong cách làm việc còn chậm đổi mới

và ý thức trách nhiệm chưa cao, cơ chế quản lý giáo dục còn nhiều hạn chế

Với công tác quản lý GV, tác giả phân tích dưới 2 góc độ là dưới góc độ của quản lý Nhà nước và dưới góc độ các trường ĐH Bên cạnh những hiệu quả tích cực đạt được thì công tác này vẫn còn những hạn chế hiện hữu như: hiệu quả hoạt động đánh giá thực hiện công việc còn chưa cao; trách nhiệm quản lý về cơ bản vẫn còn chậm đổi mới; công tác quy hoạch, kế hoạch xây dựng ĐNGV chưa được quan tâm đứng mức nên việc bố trí, sử dụng viên chức vẫn theo tình huống, bị động, tình

Trang 14

trạng hụt hẫng giữa các thế hệ GV trong mỗi đơn vị sự nghiệp đang và sẽ diễn ra trong thời gian tới

Từ thực trang đó, tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng ĐNGV trong trường ĐH hiện nay và chủ yếu xoay quanh các nhóm giải pháp về:

- Pháp lý;

- Hoàn thiện quy chế, định quyền và nghĩa vụ của GV trong trường ĐH;

- Thu hút, tạo nguồn GV;

- Tuyển chon GV;

- Chính sách đãi ngộ GV;

- Đào tạo, bồi dưỡng GV;

- Công tác kiểm tra, nhận xét, đánh giá đối với GV

❖ Tạp chí khoa học: “Phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và NCKH trong

cơ sở Giáo dục ĐH – Kinh nghiệm từ ĐH Quốc gia Hà Nội” của tác giả Nguyễn

Kiều Oanh, Tạp chí Khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân văn

26 (2015)

Phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và NCKH trong các cơ sở giáo dục ĐH bấy lâu nay chưa được quan tâm đúng mức, nhất là việc châ ̣m đổi mới cơ chế, chính sách đào tạo - bồi dưỡng cán bộ, thu hút các bộ khoa học có trình độ cao Đề tài nghiên cứu đã xuất phát từ những cơ sở lý luận về: lực lượng NCKH chuyên nghiệp; lực lượng giảng dạy trong hệ thống Giáo dục ĐH được đào tạo bậc cao; lực lượng quản lý khoa học, giáo dục ở các loại hình cơ quan khoa học và giáo dục Từ

đó tổng kết lý luận về nhân lực Khoa học và Công nghệ trong các trường ĐH – là những người làm những công việc liên quan đến các hoạt động giảng dạy, NCKH, chuyển giao công nghệ Đội ngũ này bao gồm các GV, nghiên cứu viên (NCV), cán

bộ kỹ thuật có trình độ trung cấp, CĐ, kỹ sư, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ Những GV, cán bộ khoa học có trình độ cao được nhà nước bổ nhiệm các chức vụ khoa học:

GS, PGS, GV, GV chính, NCV, NCV chính, NCV cao cấp…

Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực này đang được Đảng

và Nhà nước quan tâm nhiều hơn Tác giả đưa ra phân tích cụ thể thực tế phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và NCKH ở ĐH Quốc gia Hà Nội làm kinh nghiệm Trong khuôn khổ bài báo, để phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và NCKH của trường nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt trầm trọng ĐNGV có trình độ cao và phấn đấu đạt mục tiêu phát triển đã đề ra của nhà trường, tác giả đã đề cập sâu đến

sự cần thiết của việc tiến hành đồng bộ ở các khâu: tuyển dụng, quản lý và sử dụng, đào tạo - bồi dưỡng GV

Trang 15

❖ Luận văn thạc sỹ: “Nâng cao chất lượng ĐNGV trong các trường ĐH khối

ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc” của tác giả Nguyễn Thị

Thu Hằng , Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (2015)

Dựa vào hai căn cứ chủ yếu là: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp

vụ và những kết quả nghiên cứu đã thực hiện, tác giả đã rút ra một số nhận xét về chất lượng của đội ngũ cán bộ GV của các trường ĐH khối Kinh tế và Quản trị kinh doanh như sau:

Đề cập đến những mặt mạnh có:

- Các trường ĐH khối Kinh tế và Quản trị kinh doanh có lực lượng đội ngũ giảng dạy đông đảo, hung hậu, có khả năng đáp ứng yêu cầu đào tạo ngày càng tăng của xã hội;

- Chất lượng cán bộ giảng dạy ĐH khối kinh tế và quản trị kinh doanh có trình

độ chuyên môn đồng đều, được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau;

- Đội ngũ cán bộ giảng dạy của các trường đã hoàn thành các công trình nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, thuộc nhiều loại hình nghiên cứu khác nhau;

- Đội ngũ cán bộ giảng dạy rất tâm huyết với nghề nghiệp, có hoài bão và lý tưởng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo;

- Trong môi trường mới và phát triển như hiện nay, ĐNGV khối kinh tế và quản trị kinh doanh có điều kiện tham gia ngày một hiệu quả hơn vào hoạt động thực tiễn, các chương trình xã hội, gắn nhà trường với xã hội

Bên cạnh đó, tác giả đưa ra những tồn tại cần khắc phục như:

- Tỷ lệ giáo viên cơ hữu so với số lượng SV rất thấp;

- Hệ số giờ đứng lớp của GV ở các trường ĐH kinh tế hiện nay là khá cao làm hạn chế thời gian cho NCKH, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cũng như ảnh hưởng sức khỏe;

- Đội ngũ cán bộ GV khối kinh tế và quản trị kinh doanh còn hạn chế về năng lực sáng tạo;

- Đội ngũ trí thức chưa hoàn toàn thực sự là động lực thúc đẩy sự phát triển khoa học và phát triển kinh tế;

- Chất lượng đội ngũ không đồng đều trong các cơ sở đào tạo;

- Tính quá trình trong đào tạo đội ngũ chưa liên tục và thống nhất

Và theo tác giả thì tồn tại những hạn chế nêu trên là do:

Trang 16

- Trong một thời gian khá dài, vấn đề chiến lược đào tạo giáo dục nguồn lực con người chưa được chú ý coi trọng để đào tạo đội ngũ xứng đáng với yêu cầu nhiệm vụ kinh tế xã hội;

- Sự chuyển đổi mô hình kinh tế làm thực tiễn xã hội thay đổi nhanh chóng;

- Điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn vì vậy chúng ta chưa đầu tư xứng đáng cho vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ một cách căn bản có kế hoạch

- Về mặt chủ quan thì do công tác bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy chưa có chiến lược lâu dài và thỏa đáng để tương xứng với vị trí nguồn lực nhân tài trong xã hội

Từ góc độ chiến lược và quản lý ngành, tác giả đưa ra một số giải pháp cần thực hiện:

- Chú trọng xây dựng một số trường ĐH mạnh, gắn liền đào tạo với NCKH;

- Có phương thức tuyển dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy khách quan, công bằng; chú trọng nâng cao trình độ và kỹ năng cho GV;

- Xây dựng và ban hành chính sách mới đối với GV, xây dựng hệ thống mức lương và chế độ đãi ngộ phù hợp;

- Triển khai các hoạt động bồi dưỡng năng lực nghiên cứu của GV;

- Đào tạo ĐNGV từ nước ngoài nhờ các chương trình học bổng nhà nước và các nguồn khác;

- Gắn hoạt động nghiên cứu với việc giải quyết các vấn đề phục vụ phát triển kinh tế xã hội;

- Thúc đẩy mối liên hệ giữa trường ĐH, viện nghiên cứu và doanh nghiệp;

- Bộ Giáo dục và Đào tạo nên có sự ưu tiên phát triển đối với các trường ĐH khối kinh tế và quản trị kinh doanh một cách toàn diện

nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng của giáo viên chưa có đề tài nào chuyên sâu

về năng lực của giảng viên mà năng lực của giảng viên quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường

3 Mục tiêu nghiên cứu

đẳng

thuật thương mại

Trang 17

trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật thương mại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Là đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế

kỹ thuật thương mại

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá năng lực của đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật thương mại nhằm đề ra một số giải pháp nâng cao năng lực của giảng viên

+ Về địa bàn nghiên cứu: Do thời gian và điều kiện cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên chỉ xin nghiên cứu trong địa bàn trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại thông qua những điều tra được tiến hành với cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh viên đang công tác và học tập tại trường

+ Thời gian nghiên cứu: Phân tích thực trạng và đánh giá năng lực giảng viên

từ năm 2014 – 2016, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực giảng viên của trường đến năm 2025 tầm nhìn đến 2030

5 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập dữ liệu

- Dữ liệu thứ cấp

- Qua nghiên cứu, báo cáo có liên quan đến trường Cao đẳng kinh kỹ thuật thương mại để thu thập được các dữ liệu về cơ sở lý luận liên quan: quá trình hình thành và phát triển của Trường Cao đẳng kinh kỹ thuật thương mại, số liệu tổng hợp

về đội ngũ giảng viên

- Thông qua quy định về chức năng, nhiệm vụ của giảng viên Trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật thương mại, từ đó xây dựng khung yêu cầu năng lực của giảng viên

- Dữ liệu sơ cấp

Thu thập dữ liệu sơ cấp qua 3 cách:

- Quan sát, dự giờ để đánh giá về năng lực của đội ngũ giảng viên

- Phỏng vấn sâu:

+ Đối tượng phỏng vấn: Phỏng vấn 01 hiệu phó, 03 trưởng khoa và 01 trưởng phòng

Trang 18

+ Nội dung phỏng vấn: yêu cầu năng lực của giảng viên, thang điểm đánh giá

và đánh giá năng lực hiện tại của họ

Khi được phỏng vấn về thang điểm đánh giá năng lực của giảng viên, các đối tượng được phỏng vấn trên đều cho rằng để giảng viên đạt được yêu cầu nếu tính thang điểm từ 1 đến 5 thì giảng viên có điểm từ 2,5 đến 3,49 là đạt yêu cầu Tuy nhiên để đóng góp cho sự phát triển của nhà trường đến năm 2025 thì đội ngũ giảng viên phải đạt điểm số từ 3,5 trở lên, thang điểm được dùng để đánh giá như sau:

Bảng 1.Thang điểm đánh giá

(Nguồn: Kết quả từ phỏng vấn)

tin cần thiết về thực trạng năng lực giảng viên hiện nay

+ Đối tượng điều tra: Phát phiếu điều tra tới 30 lãnh đạo là các trưởng phòng, trưởng khoa; 150 giảng viên và 300 SV Kết quả tổng hợp phiếu điều tra như sau:

Bảng 2 Tổng hợp phiếu điều tra

(Nguồn: Tổng hợp từ các phiếu điều tra thu về)

TT Đối tượng đánh giá Số lượng phiếu

gửi đi

Số lượng phiếu thu về

Đạt tỷ lệ (%)

1

Lãnh đạo các phòng, khoa

Trang 19

+ Nội dung điều tra: Đánh giá năng lực của đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại

+ Cách thiết kế phiếu điều tra: Trên cơ sở các yêu cầu về năng lực của giảng viên, tác giả đã tiến hành thiết kế mẫu phiếu điều tra để đánh giá năng lực giảng viên Mẫu phiếu được thiết kế chung cho cả 3 đối tượng là lãnh đạo, giảng viên và sinh viên Nội dung phiếu điều tra được thiết kế tập trung vào kiến thức, kỹ năng và thái độ của người giảng viên Các yếu tố cấu thành năng lực được thiết kế bởi các tiêu chí khác nhau theo thang đánh giá từ 1-5 (Trong đó: 1 Rất kém; 2 Kém; 3 Bình thường; 4 Tốt; 5 Rất tốt)

Phương pháp so sánh kết quả được thực hiện trên hai khía cạnh như sau:

Thứ nhất: so sánh điểm giữa các năng lực để xác định năng lực nào tốt hơn năng lực nào, sự so sánh này là tương đối, miêu tả sự hơn kém giữa 2 năng lực, chưa phản ánh được mức độ tuyệt đối của từng năng lực Đồng thời, so sánh với yêu cầu đặt ra

để thấy được tiêu chí nào đã đạt yêu cầu, tiêu chí nào cần phải nâng cao

Thứ hai: so sánh kết quả đánh giá giữa các đối tượng đánh giá khác nhau Khi tiến hành điều tra, kết quả thu được từ đánh giá của lãnh đạo, sinh viên và giảng viên có thể khác nhau vì mỗi đối tượng trên đánh giá trên những giác độ khác nhau,

họ có những mong đợi khác nhau từ năng lực giảng viên Mong đợi của lãnh đạo cũng như kỳ vọng của sinh viên về năng lực giảng viên được thể hiện ở đánh giá của họ

6 Nội dung của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo thì luận

Trang 20

văn chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực của đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng và một số bài học kinh nghiê ̣m

Chương 2: Phân tích thực trạng năng lực đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên cho trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật thương mại

Trang 21

1.1.1 Khái niệm giảng viên, đội ngũ giảng viên

1.1.1.1 Khái niệm giảng viên

Xuất phát từ tư tưởng chiến lược của Đảng, coi con người là nguồn lực quan trọng nhất trong sự phát triển của đất nước, ngành Giáo dục – Đào tạo xác định người giảng viên là một trong những nguồn lực quan trọng và cơ bản nhất của sự

phát triển giáo dục Đội ngũ giảng viên nắm giữ những vai trò vô cùng quan trọng

Họ giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục

Theo Từ điển Tiếng Việt của GS Hoàng Phê chủ biên thì: “Giáo viên là người giảng dạy ở đại học, cao đẳng hay lớp huấn luyện cán bộ”[10] Như vậy, theo cách hiểu thông thường giảng viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng

Theo Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005 thì giảng viên

là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở giáo dục đại học, để phân biệt với giáo viên – người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, cụ thể trong Luật giáo dục đã quy định như sau: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục Đại học gọi là giảng viên” [7]

Như vậy, với nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau, song có thể thống nhất định khái niệm về giảng viên như sau: Giảng viên là nhà giáo, người làm nhiệm vụ giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề

Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi chung là giáo viên Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục đại học (gồm Đại học, Cao đẳng) gọi chung là Giảng viên

Như vậy có thể hiểu: “Giảng viên trường cao đẳng là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục hoặc hướng dẫn một môn học nào đó trong các trường cao đẳng”

Trang 22

Nhiệm vụ chính của giảng viên cao đẳng, giảng viên đại học và giáo viên phổ thông đều là giảng dạy Tuy nhiên, giáo viên phổ thông chỉ dạy kiến thức cơ bản, mang tính chất khái quát, đại cương, tổng hợp Giảng viên cao đẳng phải nắm vững nghề nghiệp ở mức độ chuyên sâu, tiếp cận với kiến thức mới để cập nhật vào bài giảng Viết đề cương, giáo trình phục vụ giảng dạy, học tập tại trường, nghiên cứu các đề tài ở tầm vi mô Giảng viên đại học ngoài những nhiệm vụ của giảng viên cao đẳng, còn bắt buộc phải tham gia công tác nghiên cứu khoa học ở tầm vĩ

mô hoặc vận dụng những kiến thức mới mẻ vào hoạt động thực tiễn, xem đó là một trong những nhiệm vụ chính của mình

Theo quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức làm công tác giảng dạy trong các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học công lập tại thông tư số 698/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì tiêu chuẩn của giảng viên cao đẳng bao gồm:

sức khỏe tốt, lý lịch bản thân rõ ràng

vụ sư phạm Nhà trường ưu tiên tuyển chọn các sinh viên tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi, có phẩm chất tốt và những người có trình độ đại học và sau đại học có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành giảng viên để tiếp tục đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm

- Phẩm chất chính trị vững vàng ở người giảng viên được quy định bởi các yêu cầu: Giảng viên là người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, phấn đấu vì độc lập tự

do của tổ quốc, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, công bằng và văn minh

- Chịu sự lãnh đạo của Đảng cô ̣ng sản Viê ̣t Nam, chấp hành tốt pháp luật của nhà nước Phẩm chất chính trị của người giảng viên thể hiện trách nhệm công dân trước tổ quốc, trước vận mệnh của dân tộc, trước vai trò lãnh đạo của Đảng, nhà nước Một giảng viên chân chính là người nhận thức rõ trách nhiệm của mình, đem hết tâm sức của mình cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, tạo ra các sản phẩm “đặc biệt” đó là con người theo mục tiêu, quan điểm của Đảng, của đất nước Sự thờ ơ về chính trị, sự mơ hồ về đường lối, sự bỏ quên trước quá khứ, sự dao động về lập trường tư tưởng sẽ làm cho người giảng viên không thể thực hiện tốt vai trò "trồng người” hay nói khác đi không thể vun đắp lí tưởng, hoài bão, ước mơ ở người học

- Về phẩm chất đạo đức, giảng viên là người có đạo đức trong sáng, có lối

Trang 23

sống lành mạnh, theo hướng vươn tới cái thiện Có lòng nhân ái, khoan dung, sống

có lương tri, trách nhiệm, biết đấu tranh chống cái Ác, chống sự giả dối Phẩm chất đạo đức của người giảng viên được thể hiện sự gìn giữ nhân cách, sống gương mẫu, lành mạnh, trong sáng tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ, có trách nhiệm trong việc thực hiện công việc Phẩm chất đạo đức ở người giảng viên được xem như tấm gương để học trò noi theo Một giảng viên không có phẩm chất đạo đức, không có lòng nhân ái thương người, mà trước hết đó là ở tình thương học trò không thể khiến học trò khâm phục

- Về sức khỏe của người giảng viên biểu hiện ở thể lực và trí lực thật tốt Một thể lực phải dựa trên một cơ thể khỏe mạnh, không có khiếm khuyết về giác quan

và tư duy Một trí lực tốt đựa trên sự dẻo dai của trí tuệ, có khả năng hoạt động trí

óc, tư duy

đâu, quá trình học tập ra sao, chấp hành chủ trương chính sách thế nào Lí lịch rõ ràng của người giảng viên là cơ sở, xuất phát điểm cho công tác tổ chức xem xét, đánh giá cán bộ, giao nhiệm vụ cho phù hợp

Trong giai đoạn hiện nay, giao lưu hội nhập với quốc tế là xu hướng chủ đạo, việc làm chủ tri thức khoa học công nghệ hiện đại càng cần đến trình độ tin học, ngoại ngữ Đây được xem là những công cụ hữu hiệu để giảng viên có thể giao lưu, hội nhập và khai thác các thông tin thuộc về kiến thức, nghiệp vụ làm tốt vai trò của mình

1.1.1.2 Đội ngũ giảng viên

Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Văn Đạm (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 1993) thì “Đội ngũ được hiểu là tập hợp những người có chung hành động, nhiệm vụ thành một tổ chức hướng đạt tới mục tiêu chung” [11]

Theo Từ điển Tiếng Việt của GS Hoàng Phê chủ biên (2001)[10], đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng như đội ngũ những người viết văn, đội ngũ nhà giáo

“Đội ngũ” được hiểu chung nhất là tập hợp một số đông người cùng đặc điểm chức năng hoặc nghề nghiệp được tổ chức thành một lực lượng xã hội cùng thực hiện một mục đích nhất định

Với cách hiểu trên thì, đội ngũ giảng viên có thể hiểu là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học

Trang 24

(trường cao đẳng và trường đại học), họ gắn kết với nhau bằng hệ thống mục tiêu giáo dục; cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục người học, cùng chịu sự ràng buộc của những quy tắc có tính chất hành chính của ngành giáo dục và nhà nước

Như vậy, khi đề cập đến đội ngũ nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng là nói đến quy mô, cơ cấu, sự gắn kết giữa những con người trong một tổ chức có chung nhiệm vụ, hành động hướng tới những mục tiêu nhất định Đội ngũ giảng viên của một cơ sở đào tạo chính là số lượng, cơ cấu giảng viên của cơ sở đó hợp thành tổ chức để thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu chung của cơ sở giáo dục, đào tạo

đó

tạo, nhà trường quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn

giảng dạy và nghiên cứu khoa học

- Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển giao công nghệ theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn

- Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy

để nâng cao chất lượng đào tạo

Trong các nhiệm vụ trên, giảng dạy là nhiệm vụ quan trọng nhất của người giảng viên Để quá trình giảng dạy có hiệu quả, người giảng viên cần phải là người giỏi về chuyên môn, đồng thời cũng cần có năng lực sư phạm tốt

Kiến thức chuyên môn được hiểu là hệ thống lí luận khoa học hoặc thực tiễn

về môn học cần giảng dạy Còn năng lực sư phạm là hệ thống các phương pháp, phương tiện…mà người giảng viên sử dụng để truyền đạt kiến thức chuyên môn tới người học và giúp người học nắm chắc các nguyên lí, các quy luật, các khái niệm và mối liên hệ giữa chúng Trên cơ sở đó giúp người học có phương pháp tự tìm hiểu,

tự giải quyết các vấn đề liên quan mà thực tiễn đặt ra

Để có chuyên môn tốt, đòi hỏi người giảng viên phải dày công nghiên cứu, tìm hiểu, đúc rút kinh nghiệm từ thực tế Có như vậy mới làm cho kiến thức luôn được mới và bài giảng không bị xơ cứng Tương tự, để có năng lực sư phạm giỏi người giảng viên phải được qua quá trình rèn luyện, đào tạo Đặc biệt sau mỗi giờ lên lớp giảng viên tự đánh giá mặt được cần phát huy, mặt hạn chế cần khắc phục Những

Trang 25

lỗi lần trước không được lặp lại lần sau

Trong xã hội ngày nay việc học diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, không gian khác nhau Hoạt động học không chỉ diễn ra trong thời gian người học ngồi trên ghế nhà trường, trong môi trường sư phạm mà còn diễn ra mọi lúc, mọi nơi và trong suốt cả cuộc đời mỗi con người Do đó trong hoạt động Dạy của người giảng viên ngoài những kiến thức cơ bản, người giảng viên cần cung cấp phương pháp khoa học giúp người học tự chủ động tìm kiếm tri thức Hay nói cách khác đó là quá trình “tự học”, tự khám phá tìm ra chân lí Các nguồn thông tin cung cấp tri thức cho người học cũng rất đa dạng Bên cạnh những kiến thức tốt, có ích, có giá trị cho người học vẫn tồn tại không ít kiến thức không mang tính chất sư phạm, không có lợi cho người học Do đó, trong nhiệm vụ chính của người giảng viên phải biết định hướng những kiến thức bổ ích, thiết thực cho người học

Theo quan điểm của lý luận dạy học, dạy học phải bao gồm hai hoạt động cơ bản: Hoạt động dạy và hoạt động học

Hi ̀nh 1.1 Mô hình dạy và học theo quan điểm lý luận dạy học

(Nguồn: Giáo trình lý luận dạy học, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành

phố Hồ chí Minh, 2009)

Trong hoạt động dạy, giảng viên đóng vai trò chủ thể, người học đóng vai trò khách thể Mục tiêu của mối quan hệ này là tạo dựng quan hệ về lý thuyết hành động của mối quan hệ thứ hai, đó là hoạt động học, mà trong đó người học đóng vai trò khách thể Hoạt động của giảng viên thông qua nội dung bài giảng, bài tập hoặc giờ thực hành có tác động tới hoạt động học, mà trong đó người học là khách thể, làm thay đổi trạng thái nhân cách của người học từ thời điểm với những đặc trưng mới

Trong quá trình dạy học, giảng viên truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp thông qua việc thực hiện các công việc: Định hướng - điều chỉnh - kiểm tra Người học bằng các hoạt động của mình sẽ lĩnh hội các tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo và thông qua đó hình thành và phát triển nhân cách

Như vậy, trong quá trình dạy người thầy đóng vai trò vô cùng quan trọng Họ chính là người quyết định tới việc hình thành và phát triển nhân cách cho người

thức Người học

Giảng viên

Trang 26

học Ngược lại, người học là đối tượng, là “đơn đặt hàng” của hoạt động dạy ở người Thầy, quy định người Thầy: dạy cái gì và dạy như thế nào? Đây được xem như mối quan hệ biện chứng, ở đó người thầy đóng vai trò quyết định “không thầy

đố mày làm nên”

Ngược lại, những đặc điểm tâm sinh lí, trạng thái nhân cách ở người học lại có tác động trở lại hoạt động dạy của thầy Nó được xem là điểm xuất phát cho hoạt động Dạy của người giảng viên Một bài giảng được xem là đạt yêu cầu khi nó phải đảm bảo các tính chất như: tính khoa học, tính phù hợp và tính thực tiễn Tính khoa học có nghĩa rằng kiến thức mà người thầy truyền đạt phải chính xác, lôgic chặt chẽ, có cơ sở luận cứ, luận chứng rõ ràng Tính phù hợp muốn nói lên quá trình dạy học người thầy kiểm soát được khả năng tiếp thu ở người học Người thầy không thể “thao thao” trên bục giảng trong khi học trò biểu lộ sự mệt mỏi, căng thẳng, không hiểu gì về kiến thức Người thầy cần chủ động trong việc truyền đạt kiến thức và có thể điều chỉnh hoạt động dạy của minh cho phù hợp với đối tượng là người học

Để hoàn thành được những công việc trên đòi hỏi mỗi người giảng viên phải

có năng lực thực sự để sáng tạo trong phương pháp giảng dạy, cải tiến chương trình thường xuyên để đáp ứng với những thay đổi của xã hội, chủ động trong việc truyền đạt kiến thức

Với mỗi giảng viên, trong hoạt động dạy cần nắm vững 3 nguyên tắc là: Dạy chữ, dạy nghề và dạy làm người Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nhiệm vụ quan trọng của toàn ngành Giáo dục là dạy người học cách làm người Một con người nếu chỉ giỏi về chuyên môn thôi thì chưa đủ, mà người đó cần phải biết sống có Tình có Nghĩa với người thân trong gia đình và ngoài xã hội; biết tôn trọng, tự hào truyền thống dân tộc, có ý thức vươn tới những giá trị cao đẹp của cuộc sống Sống

có trách nhiệm với mình và với mọi người Để làm được điều đó đòi hỏi người giảng viên phải có tâm với nghề, yêu nghề và yêu người, cống hiến hết mình cho sự nghiệp giáo dục

Hoạt động dạy của người giảng viên là lao động trí óc, lao động khoa học, lao động đặc thù nhằm tạo ra sản phẩm đặc biệt là con người đã được giáo dục và đào tạo Sản phẩm của lao động của người giảng viên là cả một thế hệ Mỗi con người, mỗi thế hệ sinh ra được trưởng thành là sự kết tinh của lao đông cả một đội ngũ nhà giáo trong đó giảng viên là một bộ phận Đến lượt mình, mỗi con người, mỗi thế hệ nhờ đã qua giáo dục và đào tạo lại đóng góp công sức của mình cho xã hội, cho đất nước Xét về mặt kinh tế, hoạt động dạy học của giảng viên chính là nguồn gốc sâu

Trang 27

xa để tạo ra nguồn của cải cải về vật chất và tinh thần cho xã hội, đưa xã hội ngày càng phồn thịnh Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Nghị quyết TW2 khóa VIII năm

1996 và các nghị quyết trong các kì đại hội sau này Đảng ta đã khẳng định: Giáo dục và Đào tạo phải được thực sự coi là quốc sách hàng đầu; giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển Mục tiêu của Giáo dục và Đào tạo là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [8]

1.2 Năng lực đội ngũ giảng viên trường cao đẳng

1.2.1.1 Khái niệm năng lực

Theo Từ điển Tiếng Việt [11], năng lực: “là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay năng lực là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó”

Từ trước đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về năng lực, nhưng dù được định nghĩa dưới khía cạnh nào thì năng lực là khả năng thực hiện được một công việc với một kết quả nhất định Năng lực là yếu tố tiềm ẩn trong mỗi con người, nó có thể do bẩm sinh và cũng có thể do quá trình học tập, tích lũy và rèn luyện mà có được Kiến thức và kỹ năng thuần thục để hoàn thành một công việc cũng chính là năng lực Kiến thức và kỹ năng chỉ trở thành năng lực khi kiến thức

và kỹ năng ấy được sử dụng để thực hiện một công việc và tạo ra được một kết quả nào đó

Theo Bernard Wyne và David Stringer (1997) [19], “Năng lực là kỹ năng, hiểu biết, hành vi, thái độ được tích lũy mà một người sử dụng để đạt được kết quả công việc mong muốn của họ” Theo đó, năng lực được tạo thành bởi các thành tố: kiến

thức, kỹ năng và thái độ

- Kiến thức: Hiểu một cách đơn giản, kiến thức là những hiểu biết về một sự

vật hoặc hiện tượng mà con người có được thông qua trải nghiệm thực tế hoặc giáo dục

- Kỹ năng: Theo nghĩa thông thường, kỹ năng là khả năng áp dụng tri thức

khoa học vào thực tiễn để giải quyết một công việc cụ thể nào đó

Trang 28

- Hành vi, thái độ: Hành vi, thái độ đối với một công việc được hiểu là quan điểm, quan niệm về giá trị, thế giới quan, suy nghĩ, tình cảm, ứng xử của cá nhân ấy với công việc đang đảm nhận

“Năng lực” gắn liền với việc thực hiện công việc, được thể hiện bằng kết quả

công việc, “Năng lực” mang đặc thù công việc và đặc trưng cá nhân Khi xem xét

năng lực làm việc của cá nhân cần gắn với một công việc cụ thể chứ không thể phân tích chung chung cho mọi công việc Năng lực có thể hiểu mới chỉ tồn tại ở dạng khả năng, để đánh giá được nó cần phải qua công việc cụ thể Hay công việc chính

là sự hiện thực hóa năng lực

Trong luận văn này năng lực được hiểu là: “Sự tổng hợp những thuộc tính của

cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt

động đạt được những kết quả cao”

1.2.1.2 Năng lực đội ngũ giảng viên

Trong sự nghiệp CNH – HĐH người giảng viên cần phải rèn luyện và nâng cao năng lực để có thể đảm nhận vai trò trách nhiệm của mình trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đất nước

Trước khi đưa ra những tiêu chuẩn năng lực tối thiểu hoặc đánh giá giảng viên, những nhà quản lý cần phải xác định rất cẩn thận năng lực Theo Pearson (1980) [20], ba luận chứng cần đặt ra để xác định năng lực của một người giảng viên:

đạt mức tối thiểu?

- Kỹ năng chung gì được đặt ra cho mỗi người dạy tại một trình độ nhất định?

Theo một số nhà nghiên cứu cho rằng năng lực của người giảng viên được đánh giá thông qua kết quả học tập của sinh viên Mặt khác, nhiều vấn đề về chất lượng liên quan đến hiệu quả giảng dạy Điều này bao gồm: những mong chờ của người học, những sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo, sự mở rộng vốn kỹ năng giảng dạy và những kỹ thuật hỗ trợ dạy học tích cực Một giờ học tốt là giờ học tạo cho người học cảm giác thoải mái, có chất lượng

Năng lực giảng viên là năng lực chuyên biệt, đặc trưng của nghề sư phạm

Trang 29

Năng lực giảng viên là tổ hợp của nhiều năng lực, đặc biệt là năng lực chuyên môn

và năng lực sư phạm Năng lực giảng viên có điều kiện cần là năng lực chuyên môn

và điều kiện đủ là năng lực sư phạm Giảng viên thiếu một trong hai điều kiện trên thì chưa đủ năng lực giảng viên Ví dụ: Người giảng viên dạy nghề nếu chỉ có năng lực chuyên môn nghề thì đó là nhà kỹ thuật chứ không phải là người giảng viên dạy nghề Họ có thể tiến hành hoạt động nghề nghiệp rất tốt nhưng không có khả năng dạy người khác nắm được chuyên môn nghề, vì họ không biết cách thức, con đường để truyền đạt kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho người học, không biết tổ chức điều khiển quá trình dạy nghề Ngược lại, nếu một người có năng lực sư phạm, nhưng không có năng lực chuyên môn nghề thì không thể dạy nghề vì họ không có kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo nghề nghiệp để giảng dạy, hướng dẫn cho người học Cũng giống như chúng ta không thể sử dụng giáo viên phổ thông để dạy nghề mặc

dù họ có năng lực sư phạm vững vàng

Từ phân tích trên trong luận văn sử dụng khái niệm: “Năng lực đội ngũ

giảng viên” là khái niệm chỉ mức độ một tập hợp các đặc tính vốn có, thể hiện bản chất, đặc trưng cơ bản của nhiều người cùng chức năng, nhiệm vụ làm công tác giảng dạy, nghiên cứu hay còn gọi là các thầy giáo, cô giáo với tư cách là chủ thể của hoạt động giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng hoặc tương đương, đáp ứng các yêu đặt ra của ngành giáo dục trong từng thời kỳ khác nhau

Trong nghiên cứu luận văn sử dụng khái niệm:“Nâng cao năng lực đội ngũ

giảng viên” là khái niệm chỉ mức độ cao hơn của một tập hợp các thuộc tính vốn có, thể hiện bản chất, đặc trưng cơ bản , cấu thành nên đội ngũ giảng viên với tư cách là chủ thể của quá trình giảng dạy, nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng,hay tương đương nhằm để đáp ứng ngày càng cao hơn các yêu cầu đặt ra của ngành giáo dục so với trước đây

Năng lực đội ngũ giảng viên là năng lực tổng hợp của tất cả các giảng viên trong Nhà trường, muốn có năng lực này nhất thiết phải được đào tạo theo mục tiêu

và chương trình xác định Năng lực đội ngũ giảng viên trường cao đẳng bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ của người giảng viên đối với Kiến thức của giảng viên trường cao đẳng là sự hiểu biết của người giảng viên về nhiều lĩnh vực đặc biệt là

về lĩnh vực chuyên môn thông qua sự giáo dục đào tạo hay thông qua các trải nghiệm thực tế Trong xu thế phát triển hiện nay, đòi hỏi người giảng viên phải được đào tạo cơ bản, nghiêm túc Bất cứ ngành gì đều phải có chuyên môn của

Trang 30

ngành đó Kiến thức chuyên môn là quan trọng nhất đối với giảng viên, muốn trở thành giảng viên tốt nhất thiết phải có chuyên môn giỏi Nó là tiêu chuẩn đầu tiên

để tuyển chọn giáo viên, đồng thời cũng là yếu tố để phân biệt giáo viên với các ngành khác

hiểu biết của mình vào các hoạt động trong thực tiễn để đạt được mục tiêu của mình Kỹ năng của người giảng viên mang yếu tố thực hành và nó sẽ được phát triển khi qua trải nghiệm và rèn luyện thực tế Nó thể hiện sự thành thạo của mỗi giảng viên khi vận dụng sự hiểu biết vào công việc nhằm đạt được mục tiêu đã

đề ra

yêu thích, sự say mê của giảng viên đối với công việc Một người giảng viên giỏi chưa chắc đã có kết quả tốt nếu người giảng viên đó không yêu thích công việc của mình hay nói cách khác người giảng viên không có thái độ tốt đối với công việc Thái độ của người giảng viên có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ học tập của sinh viên Vì thế, nếu người giảng viên có thái độ làm việc tích cực sẽ có khả năng truyền lửa và lôi cuốn sinh viên học tập tốt

1.3 Các yêu cầu đánh giá đội ngũ giảng viên

1.3.1 Về quy mô giảng viên

1.3.1.1 Về số lượng

Số lượng ĐNGV là biểu thị về mặt định lượng của đội ngũ này, nó phản ánh quy mô của ĐNGV tương xứng với quy mô của mỗi nhà trường Số lượng đội ngũ giảng viên phụ thuộc vào sự phân chia tổ chức trong nhà trường

Số lượng đội ngũ giảng viên của mỗi trường tùy thuộc vào quy mô phát triển của Nhà trường, nhu cầu đào tạo và các yếu tố tác động khách quan khác, chẳng hạn như: Chỉ tiêu biên chế công chức của Nhà trường, các chế độ chính sách đối với đội ngũ giảng viên Tuy nhiên dù trong điều kiện nào, muốn đảm bảo hoạt động giảng dạy thì người quản lý cũng đều cần quan tâm đến việc giữ vững sự cân bằng về số lượng đội ngũ giảng viên với nhu cầu đào tạo và quy mô phát triển của Nhà trường Đảm bảo mỗi giảng viên giảng dạy với số giờ không quá cao và cũng không quá thấp và nên ở mức theo quy định của Nhà nước

Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo [7] thì để xác định số lượng giảng viên trong các trường cao đẳng dựa vào chỉ tiêu tuyển sinh của trường Cụ thể như

Trang 31

hình 1.1 sau:

- Giảng viên có trình độ đại học

- Giảng viên có trình độ thạc sĩ

- Giảng viên có trình độ tiến sĩ

- Giảng viên có học hàm phó giáo sư

- Giảng viên có học hàm giáo sư

1

1,3 1,5

2

3

Hi ̀nh 1.1 Tiêu chí xác định quy mô giảng viên của các Trường Cao đẳng

(Nguồn: Thông tư số 57/2011/TT-BGĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Việc phát triển ĐNGV về số lượng thực chất là xây dựng ĐNGV đủ về số lượng, khi xem xét về số lượng ĐNGV, một nội dung quan trọng là những biến dộng liên quan đến sự chi phối việc tính toán số lượng như: Việc bố trí, sắp xếp đội ngũ, tình trạng sĩ số SV/lớp cũng như việc định mức giờ dạy, giờ trội của giảng viên, chương trình môn học, phương pháp dạy học mới đều có ảnh hưởng đến việc chi phối đến số lượng đội ngũ giảng viên

1.3.1.2 Về chất lượng

Phát triển ĐNGV chính là làm tăng phẩm chất đạo đức, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của người giảng viên Muốn vậy cần phải xác định rõ nhiệm vụ chính của người giảng viên để thấy được thực chất là phải quản lý phát triển ĐNGV ở các điểm nào

Từ đó, xây dựng các tiêu chí cụ thể, như vậy sẽ tránh được việc đề ra các quy định thiếu hợp lý không mang lại hiệu quả Phát triển đội ngũ giảng viên về chất lượng bao gồm:

Về trình độ chuyên môn: Phải nắm vững những nguyên lý cơ bản, những nội dung của môn mình phụ trách và hiểu biết liên quan với các bộ môn khoa học khác Một bài giảng hay trước hết phải thể hiện tính khoa học, tính triết lý, có chiều sâu nhưng lại không xa rời thực tiễn

Về mặt kỹ thuật hay tính logic của bài giảng: GV phải sử dụng kết hợp công nghệ dạy học mới đạt hiệu quả

Về ngôn ngữ và sự hiện diện của GV trong suốt thời gian giảng dạy

Thường xuyên giao tiếp với người học một cách thân thiện, chia sẻ kinh nghiệm điều kiện cần và đủ để phát triển ĐNGV về chất lượng thì cần phải có

Trang 32

ĐNGV có trình độ chuyên môn cao, có tâm huyết với nghề, có cơ sở vật chất phù hợp với yêu cầu và cơ chế QL làm việc hiệu quả hay nói cách khác QL phát triển ĐNGV trường ĐH về chất lượng là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều yếu tố Trình độ đào tạo: Đạt chuẩn hay không đạt chuẩn theo quy định, chính quy, không chính quy, chất lượng và uy tín của cơ sở đào tạo

Sự hài hòa giữa các yếu tố của ĐNGV: Hài hoà giữa chức vụ, ngạch bậc và trình độ được đào tạo giữa phẩm chất đạo đức kiến thức và kỹ năng sư phạm chất lượng giáo dục phần lớn phụ thuộc vào năng lực của ĐNGV và việc chuẩn bị ĐNGV phụ thuộc vào các nhà sư phạm có năng lực cao

Sự hài hoà giữa nội dung công việc và vị trí phù hợp với năng lực mà nhân viên đang đảm nhận, thâm niên công tác và nhiệm vụ của GV Như vậy quản lý và phát triển ĐNGV về chất lượng là thể hiện ở phẩm chất, năng lực và trình độ chuyên môn được đào tạo

1.3.2 Về cơ cấu đội ngũ giảng viên

- Cơ cấu về trình độ chuyên môn

Cơ cấu trình độ chuyên môn ít nhất phải đảm bảo theo quy định của Nghị định

chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học Theo Nghị định 73 này thì cơ sở giáo dục đại học được phần thành ba tầng: đại học nghiên cứu, đại học ứng dụng và đại học thực hành Trên cơ sở quy định đó các trường đại học phải xây dựng đội ngũ giảng viên có cơ cấu về trình độ đảm bảo hợp lý theo quy định Tương tự, các trường đại học cũng phải xây dựng đội ngũ giảng viên đảm bảo cơ cấu giữa số lượng giảng viên và chỉ tiêu tuyển sinh ít nhất theo quy định của Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT của Bô ̣ Giáo du ̣c và Đào ta ̣o quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh đối với các cơ sở giáo dục đại học

- Cơ cấu về giới tính

Vấn đề này liên quan đến tính chất và môi trường làm việc vì giới tính là một trong những yếu tố chủ quan của giảng viên ảnh hưởng đến công việc Tuy nhiên, xét về cơ cấu giới tính nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới, công bằng xã hội; từ đó xác định tỷ lệ nam nữ sao cho phù hợp vào từng vị trí công việc, nhiệm

vụ được giao để đảm bảo hiệu quả và chất lượng công việc

- Cơ cấu về độ tuổi

Độ tuổi lao động thể hiện năng lực và kinh nghiệm trong công việc nên cần có

Trang 33

kế hoạch tuyển dụng giảng viên đảm bảo tính kế thừa giữa các thế hệ Phù hợp về lứa tuổi của người lao động là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công việc vì có những công việc cần người có tuổi và kinh nghiệm; nhưng cũng

có vị trí và công việc cần người trẻ, năng động, sáng tạo

1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực đô ̣i ngũ giảng viên

1.4.1 Về kiến thức

1.4.1.1 Kiến thức xã hội

+ Nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước Đây được xem như phẩm chất chính trị của người giảng viên Việc giảng viên nắm vững các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, Pháp luật của nhà nước

sẽ giúp giảng viên đứng vững trên lập trường của Đảng, của nhà nước pháp quyền XHCN có chính kiến trong quá trình giảng dạy, truyền đạt kiến thức Định hướng niềm tin lí tưởng cho HSSV về vai trò của Đảng của nhà nước trong quản lí,

lãnh đạo đất nước

+ Nắm vững các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực chuyên môn (luật giáo dục, luật lao động, luật công chức, viên chức, các thông tư, nghị định, văn bản dưới luật ) Có nắm vững được quy đi ̣nh, người giảng viên mới tinh thông về nghiệp vụ, giảng dạy mới theo kịp các quy chuẩn mà nhà nước đặt ra

+ Hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế: Không chỉ được trang bị các kiến thức chuyên môn mà người giảng viên còn phải có tầm hiểu biết về văn hóa xã hội trong nước và quốc tế rộng; đồng thời có khả năng tự học, tự nghiên cứu, không ngừng bổ sung hoàn thiện vốn tri thức để đáp ứng yêu cầu ngày một cao và mới cho sinh viên

Người giảng viên có tri thức và tầm hiểu biết rộng thể hiện ở chỗ:

thức chuyên môn qua kiến thức sách vở, mà là những kiến thức thực tế qua việc đúc rút kinh nghiệm lâu năm giảng dạy; các tình huống sư phạm vô cùng phong phú mà

có lẽ sách vở, kiến thức còn chưa cập nhật đến Do đó đòi hỏi người giảng viên phải không ngừng tự học, tự giáo dục Như C Mác đã nói: nhà giáo dục cũng cần phải thường xuyên được giáo dục

tiến hành nghiên cứu khoa học và có những hứng thú lớn lao đối với nó Áp dụng các phát minh khoa học vào nội dung kiến thức bài giảng Có như vậy người giáo

Trang 34

viên sẽ luôn làm mới kiến thức và sinh động, hấp dẫn người học

đầy đủ ý thức để thấm hút vòa mình mọi tinh hoa của khoa học, của nền văn hóa nhân loại

Để có yêu cầu này không có gì hơn đòi hỏi ở người giảng viên phải có hai yếu

tố cơ bản trong chính mình Nhu cầu về sự mở rộng tri thức và tầm hiểu biết (nó là nguồn gốc của tính tích cực và động lực của việc tự học), những kỹ năng để làm thỏa mãn nhu cầu đó (phương pháp dạy học) Một vĩ nhân nếu không thường xuyên

tự bồi dưỡng thì cũng dần dần mất hết nhu cầu trí tuệ và hứng thú tinh thần và lúc

đó còn gì là vĩ nhân, huống chi là một người giảng viên

1.4.1.2 Về kiến thức chuyên môn

+ Nắm vững kiến thức chuyên môn, áp dụng có hiệu quả trong bài giảng của mình Kiến thức chuyên môn của giảng viên là kiến thức mà giảng viên đã được đào tạo ở bậc Đại học, song đó mới chỉ là những kiến thức còn hết sức cơ bản Muốn đảm nhiệm vai trò người thầy, giảng viên cần phải đọc kiến thức chuyên môn thông qua sách báo, tạp chí chuyên ngành, các văn bản quy phạm pháp luật Những kiến thức mà giảng viên đã tích lũy được một lần nữa phải được gia cố” bằng nghiệp vụ

sư phạm để quá trình truyền đạt trở nên hiệu quả và sự tiếp thu của người học trở nên tốt hơn

+ Được giảng dạy đúng chuyên ngành được đào tạo Việc giảng viên được bố trí giảng dạy đúng chuyên ngành giúp giảng viên phát huy sở trường và thế mạnh của mình, vững vàng, tự tin đứng trên bục giảng truyền đạt kiến thức Ngược lại giảng viên bị bố trí giảng dạy không đúng với chuyên ngành đào tạo sẽ không có điều kiện đi sâu kiến thức chuyên môn, giảng dạy chỉ dừng lại ở mức vừa đủ Và như thế người dạy sẽ không có cảm hứng còn người học sẽ là người gánh chịu thiệt hại nhất

+ Nắm vững các quy định, quy chế về công tác HSSV Ngoài kiến thức chuyên môn, giảng viên cần có những hiểu biết các quy định, quy chế về HSSV bởi đối tượng của họ chính là HSSV Về mặt lí luận, muốn cải biến được nhân cách của đối tượng giảng viên cần hiểu rõ về đối tượng Về thực tế, ngoài tinh thông kiến thức, nắm vững các quy định, quy chế về sinh viên sẽ giúp giảng viên có thể giúp

đỡ HSSV giải quyết các khó khăn liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ mà họ phải thực hiện

Đội ngũ giảng viên trong trường cao đẳng phải đạt trình độ đào tạo chuẩn do

Trang 35

Bộ giáo dục và Đào tạo quy định Tối thiểu phải có bằng tốt nghiệp đại học và phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm Được phân công giảng dạy đúng chuyên ngành của mình được đào tạo Chuyên môn của giảng viên cao đẳng khác với giáo viên giảng dạy học sinh phổ thông ở chỗ: giảng viên phải nắm vững nghề nghiệp ở mức độ chuyên sâu Lý thuyết chuyên môn là tri thức của kỹ năng Mọi

kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp hình thành đều trên cơ sở nắm vững lý thuyết của kỹ năng, kỹ xảo đó

Nắm vững chuyên môn sẽ giúp khẳng định vai trò và vị trí của người giảng viên Người giảng viên trước hết phải là người giỏi về chuyên môn Có trình độ chuyên môn giỏi mới có khả năng truyền thụ tốt nhất những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn cho người học Bản thân sự thành thạo trong lĩnh vực chuyên môn sẽ tạo những tiền đề thuận lợi cho quá trình đào sâu nghiên cứu nghề nghiệp chuyên môn

+ Kiến thức tin học, ngoại ngữ: đáp ứng được yêu cầu công việc Ngoại ngữ là phương tiện cần thiết để giảng viên có thể nghiên cứu, tham khảo tài liệu chuyên môn của nước ngoài Nó cũng là phương tiện giao lưu trao đổi kinh nghiệm với bạn

bè trên thế giới Với kiến thức tin học nhất định giảng viên có thể áp dụng vào bài giảng của mình thêm phần sinh động và có thể truy cập những thông tin cần thiết

1.4.2 Về kỹ năng

1.4.2.1 Kỹ năng giảng dạy

Kỹ năng giảng dạy là yếu tố quan trọng để tạo nên chất lượng của người giảng viên bởi vì nhiệm vụ chính của giảng viên là dạy học Kỹ năng này được tạo thành

bởi các kỹ năng thành phần sau:

+ Kỹ năng chuẩn bị bài giảng:

Đòi hỏi người giảng viên phải lựa chọn được các loại tài liệu tham khảo, xác định được mục đích, yêu cầu và các kiến thức, kỹ năng cơ bản, lựa chọn được phương pháp giảng dạy, các bước hướng dẫn để hình thành kỹ năng cho người học, chuẩn bị phương tiện, thiết bị dạy học phù hợp với từng bài giảng và trình độ tiếp thu của người học

bài giảng càng đạt hiệu quả cao bấy nhiêu Một giảng viên không thể truyền đạt kiến thức tốt nếu như bản thân họ không có kỹ năng chuẩn bị bài tốt Nếu giảng viên chuẩn bị bài sơ sài, lựa chọn sai phương pháp, xác định không đúng mục tiêu,

Trang 36

yêu cầu của bài giảng sẽ làm cho quá trình dạy- học đi đến thất bại

Mặt khác, tùy từng nội dung, tùy từng môn học, tùy từng đối tượng mà người giảng viên lựa chọn phương tiện, thiết bị phù hợp

công của bài giảng

+ Kỹ năng tiến hành bài giảng:

Sau giai đoạn chuẩn bị sẽ là giai đoạn thực hiện bài giảng, giảng viên truyền thụ tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho người học thông qua hoạt động giảng dạy thực tế trên lớp Giảng viên phải là người có khả năng tổ chức các hoạt động, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong suốt giờ học Các hoạt động cụ thể của giảng viên trên lớp như: ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, giảng dạy bài mới, định hướng cho sinh viên tự học…Để việc giảng dạy có hiệu quả giảng viên phải có khả năng vận dụng linh hoạt các phương pháp, phương tiện dạy học đồng thời kết hợp với những nguyên tắc truyền đạt như đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phúc tạp, từ cụ thể đến trừ u tượng…

Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương đổi mới trong công tác giáo dục - đào tạo, người giảng viên không giảng lại toàn bộ trên lớp những gì đã có trong giáo trình mà yêu cầu sinh viên tự nghiên cứu Đây là phương pháp giảng dạy đòi hỏi tính tích cực từ hai phía: Người dạy và người học Đặc biệt đối với người dạy phải biết lựa chọ phần trọng tâm, phải chọn giảng những nội dung cơ bản nhất, phải biết nêu vấn đề để người học suy nghĩ và tìm cách luận giải Như vậy, một người giảng viên giỏi không chỉ là người truyền thụ kiến thức cho người học mà còn là người luôn biết khơi dậy và phát huy trí tuệ của người học Stec-bec, một nhà khoa học người Đức đưa ra nhận xét rằng: giảng dạy bình thường là người thầy giáo đem chân lý đến cho học sinh, giảng dạy giỏi là người thầy giáo hướng dẫn cho học sinh tự tìm ra chân lý

Như vậy kĩ năng tiến hành bài giảng được xem là thành công khi người giảng viên biết hướng dẫn, khơi dậy sự ham mê khám phá tìm hiểu kiến thức của người học Khiến cho người học không chỉ làm chủ kiến thức ngay khi ngồi trên lớp,

mà còn có một phương pháp khoa học để tự học, tự tìm hiểu, tự lĩnh hội thêm kiến thức thông qua các nguồn tài liệu, các phương tiện khoa học kĩ thuật tiên tiến Trên một phương diện nào đó, người thầy phải truyền được “lửa” cho học trò trong tiến trình tìm kiếm tri thức khoa học

1.4.2.2 Kỹ năng sử dụng thiết bị và phương tiện dạy học

Trang 37

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ dẫn tới sự xuất hiện hàng loạt các phương tiện và thiết bị giảng dạy hiện đại như projector, overhead, bảng điện tử Hiểu biết và có khả năng sử dụng các thiết bị và phương tiện này sẽ đang trở thành một nhiệm vụ cấp thiết đối với người giảng viên Thử hình dung trong một giờ học, nếu giảng viên có khả năng sử dụng các mô hình, đoạn phim có tính hiện thực cao sẽ làm giờ học sinh động hơn, hấp dẫn sự chú ý và tạo hiệu quả cao trong nhận thức của sinh viên Điều này đồng nghĩa với việc dạy tốt và học tốt

1.4.2.3 Kỹ năng về ngôn ngữ và giao tiếp sư phạm

Đó là năng lực biểu đạt rõ ràng mạch lạc ý nghĩa và tình cảm của mình bằng lời nói cũng như nét mặt, điệu bộ, thể hiện trong việc xử lý các mối quan hệ thường ngày cũng như trong hoạt động sư phạm Bằng ngôn ngữ người giảng viên truyền tải thông tin đến cho người học, điều khiển quá trình học tập Ph.Angghen –đã từng nói: ngôn ngữ là vỏ bọc của tư duy, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Giảng viên có ngôn ngữ rõ ràng, diễn cảm sẽ giúp cho người học hiểu bài tốt hơn, người học sẽ tập trung chú ý trong giờ giảng Ngôn ngữ còn là yếu tố của tài năng

sư phạm, nhiều giảng viên nhờ có khả năng diễn đạt tốt mà làm cho người học yêu môn học hơn

Ngôn ngữ của người giảng viên không chỉ có ngôn ngữ nói, mà còn có ngôn ngữ viết và ngôn ngữ “ phi ngôn ngữ”- đó là ngôn ngữ hành vi, là thái độ, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười

Kỹ năng giao tiếp không thể thiếu trong hành trang của người giảng viên Thực chất dạy học là quá trình giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Kỹ năng này bao gồm những hành động liên quan đến việc xác lập có tính chất sư phạm những mối liên quan giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục Kỹ năng giao tiếp được thể hiện trong việc đánh giá và phát triển nhu cầu của đối tượng để phối hợp hoạt động dạy và học Kỹ năng giao tiếp của giảng viên còn được thể hiện ở sự lịch thiệp trong ứng xử sư phạm, là sự mẫu mực, là sự chăm sóc ân cần của giảng viên đối với sinh viên Nó được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày

1.4.2.4 Kỹ năng về hiểu biết và cảm hóa sinh viên

Năng lực hiểu sinh viên trong quá trình dạy học và giáo dục; năng lực gây được ảnh hưởng trực tiếp của mình đến sinh viên về mặt tình cảm và ý chí, hướng dẫn sinh viên đạt được những mục tiêu cụ thể trước mắt Nói cách khác, giảng viên làm cho các em nghe, tin và làm theo bằng tình cảm và cả niềm tin

1.4.2.5 Kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục

Trang 38

Quá trình giáo dục thực chất cũng là một quá trình tổ chức trong đó có sự kết hợp giữa các hoạt động như: hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, sinh hoạt…Do

đó trong hoạt động của mình đòi hỏi giảng viên phải có kỹ năng về tổ chức: tổ chức, điều khiển hoạt động học của sinh viên trên lớp, hướng dẫn thực tập, thăm quan thực tế, cũng như các hoạt động ngoại khóa khác Kỹ năng tổ chức là một nhiệm vụ quan trọng đối với người giáo viên trên con đường thực hiện mục tiêu giáo dục: giáo dục cho con người phát triển toàn diện

1.4.3 Yêu cầu về thái độ

Luật giáo dục quy định [1]: nhà giáo phải là người có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt Nhà giáo phải giữ gìn phẩm chất, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, nêu gương tốt cho người học Những quy định đó cũng chính là những điều mà bất kỳ nhà giáo nào cũng luôn tâm niệm, giữ gìn Một nhà giáo có phẩm chất tốt thì luôn có thái độ tốt đối với trò của mình cũng như đối

với nghề của mình

1.4.3.1 Đạo đức chuẩn mực

Đối với giảng viên một trong những yêu cầu không thể thiếu đó là đạo đức

chuẩn mực

việc làm, cách đối nhân xử thế có văn hóa, có trình độ và có tính sư phạm cao,

có tính nhân văn, nhân đạo, hướng con người đến các chuẩn mực cao cả như Chân - Thiện - Mĩ

cần phải đạt đủ 3 chức năng: dạy chữ, dạy nghề và dạy làm người Trong đó, dạy người được đặt lên hàng đầu; đào tạo nên những nhân cách mà đất nước mong đợi Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã khẳng định: mục tiêu của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài

1.4.3.2 Lòng yêu nghề

Yêu người và yêu nghề dạy học gắn liền với nhau Nghề dạy học có mức độ

tự do, sáng tạo cá nhân, trách nhiệm cá nhân cao Do vậy, chỉ có say mê nghề nghiệp mới thúc đẩy tính tự giác, tích cực học hỏi, rèn luyện để không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực nghề nghiệp đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của

xã hội (Mạc Văn Trang - Quản lý nhân lực trong giáo dục, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội)

Trang 39

Lòng yêu nghề của người giảng viên đó chính là lòng say mê tìm hiểu kiến thức chuyên môn, chịu khó sưu tầm tài liệu để đào sâu, hiểu rộng tri thức mà mình truyền đạt tới người học Sự say mê đó làm cho kiến thức trở lên luôn tươi mới, luôn hấp dẫn đối với người học Bản thân lòng yêu nghề, sự ham mê tìm hiểu kiến thức cũng sẽ làm cho người dạy tự tin truyền đạt, kiến thức Một người giảng viên

có lòng yêu nghề chắc chắn sẽ khác với người giảng viên chỉ giảng cho đúng trách nhiệm Lòng yêu nghề không chỉ ở nghề “giáo” mà trên mọi nghề của xã hội, bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu Điều này càng cấp thiết và quan trọng hơn đối với những ai theo nghề giảng dạy

Lòng yêu nghề của người giảng viên thể hiện trách nhiệm, lương tri, và nhất là cái Tâm của họ đối với sự nghiệp trồng người, vì sản phẩm họ tạo ra chính là những nhân cách Tài năng cần gắn liền với phẩm chất đạo đức, với trái tim

1.4.3.3 Lòng yêu mến sinh viên

Nghề dạy học đòi hỏi tính nhân đạo cao cả, thể hiện ở sự yêu mến, cảm thông, tôn trọng, có trách nhiệm với sinh viên Tình yêu và sự tôn trọng là cơ sở của sự giao tiếp và ứng xử đúng đắn, có trách nhiệm với các em, “tất cả vì học sinh thân yêu” là động lực cho những cảm hứng, tìm tòi, sáng tạo phương pháp, nghệ thuật giáo dục, giảng dạy [6]

Nghề dạy học cũng giống như các nghề khác trong xã hội như Tâm lí học, y học, Xã hội học… đều hướng đến con người Nhưng khác với các ngành khác, đối tượng dạy học của người giảng viên là những sinh viên - họ là những thanh niên đang tràn căng sức sống, tuổi trẻ, lòng nhiệt tình và sự sáng tạo Ở họ, nhân cách đã

và đang hình thành Đó là cơ sở, là nền tảng, là điểm xuất phát cho những cống hiến của người giảng viên

Do đó lòng yêu mến sinh viên vừa là tình cảm thường trực nhưng đồng thời nó đòi hỏi người giảng viên phải nhận thức sâu sắc đó là trách nhiệm xã hội của chính mình Là nguồn gốc, động lực, mục tiêu mà giảng viên hướng tới

1.4.3.4 Uy tín đối với sinh viên

Bất kỳ người giảng viên nào cũng mong muốn có được uy tín đối với sinh viên Người giảng viên có uy tín đồng nghĩa với có niềm tin, sự quý trọng của sinh viên

Để trở thành một người có uy tín đòi hỏi người giảng viên không những giỏi

về chuyên môn, có sự am hiểu sâu rộng mà phải còn là người có phẩm chất đạo đức

Trang 40

và phong cách sư phạm cao

Uy tín của người giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Người giảng viên

có uy tín phải là người có phẩm chất chính trị - đạo đức trong sang; có xu hướng nghề nghiệp sư phạm ổn định, bền vững; có kiến thức toàn diện; có năng lực sư phạm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhờ đó có sức mạnh cảm hóa lớn, thu hút, lôi kéo, định hướng và điều khiển hoạt động của học sinh và sinh viên

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực của đội ngũ giảng viên trong trường cao đẳng

1.5.1 Nhân tố bên trong

1.5.1.1 Các yếu tố thuộc về bản thân giảng viên

- Năng khiếu bẩm sinh: Khả năng truyền đạt kiến thức một phần do năng khiếu bẩm sinh Có người kiến thức rất uyên thâm nhưng không có khả năng truyền đạt Điều đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy

hóa Một khả năng tư duy tốt được biểu hiện sự nghiên cứu logic về đối tượng, sâu chuỗi các vấn đề liên quan, khả năng liên hệ thực tế vấn đề liên quan Khả năng tư duy tốt giúp người giảng viên hiểu rõ bản chất về đối tượng kiến thức

người có khả năng nói lưu loát, có vốn từ nhiều, có khả năng diễn tả kiến thức dưới nhiều ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ khoa học Mối liên hệ giữa khả năng tư duy

và khả năng nói là mối liên hệ giữa nội dung và hình thức, ở đó khả năng tư duy là nội dung, khả năng nói là hình thức Khả năng nói nếu được kết hợp với khả năng

mô hình hóa tốt sẽ làm cho hiệu quả của quá trình truyền đạt được nâng cao Khả năng mô hình hóa được biểu hiên khả năng sơ đồ hóa kiến thức, khả năng xây dựng các bảng, biểu

yêu với nghề giáo, với sinh viên thì mới toàn tâm toàn ý cho nghề nghiệp của mình Lòng yêu nghề được in đậm trong tâm trí thành động cơ thúc đẩy người giảng viên hăng say học tập, lao động,cống hiến Lòng yêu nghề sẽ khiến cho người giảng viên không quản khó khăn gian khổ, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy

thể hoàn thành nhiệm vụ của mình

Ngày đăng: 22/01/2021, 11:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đề tài khoa học: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV ĐH giai đoạn 2010 – 2015”của các tác giả ThS. Lê Thị Phương Nam, ThS.Hoàng Văn Lợi Vụ Văn hóa, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, Văn phòng Quốc hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV ĐH giai đoạn 2010 – 2015”
2. Tạp chí khoa học: “Xây dựng ĐNGV trong trường ĐH - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, Tạp chí Khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội, Luật học 28 (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng ĐNGV trong trường ĐH - Thực trạng và giải pháp”
3. Tạp chí khoa học: “Phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và NCKH trong cơ sở Giáo dục ĐH – Kinh nghiệm từ ĐH Quốc gia Hà Nội” của tác giả Nguyễn Kiều Oanh, Tạp chí Khoa học ĐH Quốc gia Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân văn 26 (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và NCKH trong cơ sở Giáo dục ĐH – Kinh nghiệm từ ĐH Quốc gia Hà Nội”
4. Luận văn thạc sỹ: “Nâng cao chất lượng ĐNGV trong các trường ĐH khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng , Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nâng cao chất lượng ĐNGV trong các trường ĐH khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc”
12. Thông tư số 698//TT-BGDĐT ngày 27 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 698//TT-BGDĐT ngày 27 tháng 6 năm 2014
13. Giáo trình lý luận dạy học, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ chí Minh, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận dạy học
5. Báo cáo tổng kết công tác tổ chức lao động và đời sống năm 2011, của trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội Khác
6. Đề cương bài giảng Quản lý nhân lực (2002), Mạc Văn Trang, Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục, Hà Nội Khác
8. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Bộ giáo dục và Đào tạo (2003, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Khác
9. Những đòi hỏi về phẩm chất - năng lực của giảng viên trong không gian giáo dục hội nhập, Nguyễn Văn Đệ, Tạp chí giáo dục số 225 Khác
10. Từ điển chính tả, GS Hoàng Phê, Nhà xuất bản, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 1995 Khác
11. Từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Văn Đạm, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 1993 Khác
14. Nghị quyết Hội nghị TW8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo được Tổng Bí thư ký và ban hàng ngày 4/11/2013 Khác
15. Thông tư số 57/2011/TT-BGĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh và đào tạo trình độ Đại học, Cao đẳng Khác
16. Nghị định số 73/2015/NĐ-CP về tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học Khác
17. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 2006-2020 Khác
18. Quản trị nguồn nhân lực, George T.Milkkovich, John W.Boudreau, NXB thống kê (2002) Khác
19. Bernard Wyne, David Stringer (1977), Competency Based Approach to Training and Developmen Khác
20. Dalke, F (2002), Teaching to Learn – Teaching to Teach, Peter Lang, New York Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w