1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường thực thi các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh hòa bình đổi mới công nghệ

134 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các chính sách đó trên thực tế đã có tác động như thế nào đến hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện nay vẫn còn là một vấn đề cần phải nghiên cứu.. Đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

HÀ NỘI - NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng Các kết quả trong nghiên cứu của luận văn là do tác giả tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ĐẶNG VIỆT HƢNG

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện công trình nghiên cứu này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Viện Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo Sau đại học trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài

Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô PGS TS Trần Thị Bích Ngọcthuộc Bộ môn Quản lý công nghiệp, viện Kinh tế và Quản lý, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Người đã tận tình hướng dẫn, góp ý và giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tiếp theo, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và các thầy, cô giáo của Viện Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo Sau đại học trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, những người đã giúp đỡ, giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi có định hướng rõ ràng hơn trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các vị lãnh đạo Sở Khoa học

và Công nghệ tỉnh Hòa Bình, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp

đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ĐẶNG VIỆT HƯNG

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 5

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 5

1.1 KHÁI NIỆM VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 5

1.1.1 Khái niệm công nghệ 5

1.1.2 Khái niệm đổi mới công nghệ 7

1.1.3 Khái niệm quản lý đổi mới công nghệ 11

1.1.4 Hiệu quả đổi mới công nghệ 14

1.1.5 Đầu tư đổi mới công nghệ 15

1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 16

1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 16

1.2.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 17

1.2.3 Nhu cầu đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa 18

1.2.4 Tầm quan trọng của đối mới công nghệ tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hiện nay 19

1.3 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÕ VÀ NỘI DUNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP 20

1.3.1 Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp 20

1.3.2 Nội dung đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nông nghiệp 21

1.4 CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ THỂ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 23

1.4.1 Vốn của doanh nghiệp 23

1.4.2 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp 24

1.4.3 Thông tin về các lĩnh vực: Chính sách, khoa học công nghệ, thiết bị, sáng chế, thị trường… 24

1.4.4 Chính sách của Nhà nước 25

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33 CHƯƠNG 2 34 THỰC TRẠNG THỰC THI CÁC CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÕA BÌNH 34 2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÀNH NÔNG NGHIỆP TỈNH HÒA BÌNH 34

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 342.1.2 Đặc điểm ngành nông nghiệp tỉnh Hòa Bình 38

2.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC KẾT QUẢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÕA BÌNH 40

2.2.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 402.2.2 Các kết quả đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 44

2.3 THỰC TRẠNG THỰC THI CÁC CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÕA BÌNH 47

2.3.1 Nội dung của công tác thực thi chính sách 472.3.2 Tình hình thực thi chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình 50

2.4 NHỮNG RÀO CẢN VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN TRONG THỰC THI CÁC CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÕA BÌNH 55

2.4.1 Phân tích dữ liệu 562.4.2 Những rào cản trong thực thi các chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 632.4.3 Các nguyên nhân của những rào cản trong thực thi các chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68

Trang 7

v

CHƯƠNG 3 70

CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC THI CÁC CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÕA BÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 70

3.1 CÁC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH HÕA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN SẮP TỚI ĐẾN NĂM 2020 70

3.1.1 Định hướng tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình đến năm 2020 70

3.1.2 Các định hướng phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Hòa Bình đến năm 2020 73 3.2 CÁC ĐỊNH HƯỚNG VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO CÁC DOANH NGHIỆP CỦA TỈNH HÕA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN SẮP TỚI ĐẾN NĂM 2020 75

3.2.1 Định hướng về đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn sắp tới đến năm 2020 75

3.2.2 Định hướng về đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn sắp tới đến năm 2020 78

3.2.3 Định hướng về đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành nông nghiệp tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn sắp tới đến năm 2020 81

3.3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC THI CÁC CHÍNH SÁCH CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÕA BÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 82

3.3.1 Giải pháp 1: Tăng cường và nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực thực thi chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ 82

3.3.2 Giải pháp 2: Sớm ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 84

3.3.3 Giải pháp 3: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về đổi mới công nghệ, về chính sách khuyến khích, hỗ trợ đổi mới công nghệ 85

3.3.4 Giải pháp 4: Thúc đẩy phát triển hơn nữa thị trường khoa học và công nghệ của tỉnh Hòa Bình 87

3.3.5 Giải pháp 5: Nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ, khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp 92

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 100

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

- DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

Từ viết tắt Cụm từ tiếng việt

- DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng việt

Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh

tế

Trang 9

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng hợp chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ 30 Bảng 2.1 Số lượng các doanh nghiệp đang hoạt động phân theo loại hình doanh nghiệp 41 Bảng 2.2 Số lượng các doanh nghiệp đang hoạt động phân theo ngành kinh tế 42 Bảng 2.3 Số lượng các doanh nghiệp đang hoạt động phân theo vùng 43 Bảng 2.4 Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 52 Bảng 2.5 Số doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ và phương thức đổi mới công nghệ 56 Bảng 2.6 Khó khăn doanh nghiệp gặp phải khi tiến hành đổi mới công nghệ 57 Bảng 2.7 Đánh giá khả năng nhận biết các chính sách Nhà nước khuyến khích đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nông nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hòa Bình 58 Bảng 2.8 Đánh giá khả năng nhận biết về các chính sách của tỉnh Hòa Bình có liên quan tới hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hòa Bình 59 Bảng 2.9 Các kênh nhận biết các chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ của Nhà nước và tỉnh Hòa Bình 60 Bảng 2.10 Mức độ nhận hỗ trợ đổi mới công nghệ theo chính sách Nhà nước 61 Bảng 2.11 Mức độ nhận hỗ trợ đổi mới công nghệ theo chính sách của tỉnh Hòa Bình 61 Bảng 2.12 Những hỗ trợ mà các doanh nghiệp mong muốn nhận được trong việc đổi mới công nghệ 62

Trang 10

về giao thông đường bộ và đường thủy, có nhiều tiềm năng thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Hòa Bình có diện tích tự nhiên khoảng 4.600 km2, dân số trên 83 vạn người, chiếm 1,41% diện tích và 0,90% dân số của cả nước Trong đó đất chưa sử dụng chiếm khoảng 20% diện tích đất tự nhiên, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, có tiềm năng thu hút đầu tư vào sản xuất chế biến các sản phẩm từ nông, lâm nghiệp như: trồng và phát triển cây cà phê, trồng cây ăn quả có múi công nghệ cao (Cam Cao Phong, Bưởi Tân Lạc, ), cây dược liệu

Tuy nhiên, việc ứng dụng Khoa học công nghệ phát triển ngành nông nghiệp chưa tạo được kết quả có tính đột phá Hiệu quả sử dụng vốn ngân sách hỗ trợ lĩnh vực này còn thấp Chưa có cơ chế phù hợp để huy động mọi nguồn lực để đầu tư đổi mới công nghệ trong sản xuất nông nghiệp

Công nghệ và đổi mới công nghệ trở thành yếu tố quan trọng tác động đến năng suất, sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ Tuy nhiên, các chính sách đó trên thực tế đã có tác động như thế nào đến hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện nay vẫn còn là một vấn đề cần phải nghiên cứu

Để giải quyết được tình trạng như vừa nêu thì cần có các giải pháp đồng bộ, tăng cường thực thi các chính sách, khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nông nghiệp đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, hiệu quả trong sản

xuất kinh doanh Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi chọn “Giải

pháp tăng cường thực thi các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đổi mới công nghệ” làm đề

tài luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 11

- Đề tài khoa học cấp tỉnh: “Đánh giá hiện trạng đổi mới công nghệ của một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực đổi mới cho doanh nghiệp” là một đề tài do Nguyễn Thành Vinh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình chủ trì năm 2014

- “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu - triển khai trong các cơ

sở sản xuất ở Việt Nam” là một đề tài do Trần Ngọc Ca, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ chủ trì năm 2000

- “Đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội”, luận văn thạc sỹ khoa học của tác giả Nguyễn Khắc Tiên, 2008

- “Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của

Hà Nội”, luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị của tác giả Nguyễn Thị Minh Thùy,

2012

- “Thúc đẩy đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý khoa học và công nghệ của tác giả Bùi Trọng Tín, 2010

- Cuốn sách “Quản lý đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa” của TS Trần Ngọc Ca, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2000

Tuy nhiên từ trước đên nay, tác giả chưa thấy có công trình nghiên cứu cụ thể nào về tăng cường thực thi chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nông nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh Hòa Bình, một tỉnh miền núi năm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc, có những đặc điểm riêng biệt về điều kiện địa lý, kinh tế - xã

hội Sự khác biệt của đề tài Giải pháp tăng cường thực thi các chính sách khuyến

khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đổi mới công nghệ mà Luận văn này tiến hành là lấy các doanh nghiệp nông

nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hòa Bình làm đối tượng khảo sát, trên cơ sở đó

đề xuất các giải pháp cho vấn đề nghiên cứu

Trang 12

3

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Đề xuất các giải pháp để tăng cường thực thi các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đổi mới công nghệ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng thực thi các chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nông nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hòa Bình trong thời gian gần đây

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu tại tỉnh Hòa Bình

- Về thời gian: Các dữ liệu thứ cấp (dữ liệu cứng) có các số liệu chung từ năm

2012 đến năm 2017 Các dữ liệu sơ cấp (dữ liệu mềm) được tác giả tự tổng hợp qua phiếu điều tra các doanh nghiệp theo mục tiêu luận văn trong khoảng thời gian từ 3/2017 - 6/2017

- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng công nghệ, đổi mới công nghệ, thực thi chính sách khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Luận văn kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước trong lĩnh vực đổi mới công nghệ của các DNNVV

- Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu lý thuyết và tài liệu có liên quan tới đề tài nghiên cứu, khảo sát qua phiếu điều tra, tổng hợp và phân tích thông tin

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm:

- Chương 1 Một số vấn đề lý luận và tổng quan về các chính sách khuyến

khích đổi mới công nghệ tại Việt Nam;

- Chương 2 Thực trạng thực thi các chính sách khuyến khích đổi mới công

nghệ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình;

Trang 13

4

- Chương 3 Các giải pháp tăng cường thực thi các chính sách khuyến khích

các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đổi mới công nghệ

Trang 14

5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở

VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM VỀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

1.1.1 Khái niệm công nghệ

Công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành và phát triển xã hội loài

người Từ “công nghệ” có gốc Hy Lạp, nó được ghép bởi tekhne có nghĩa là kỹ năng và logos có nghĩa là sự nghiên cứu Thuật ngữ technology trong tiếng Anh có

nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật Trong tiếng Việt, công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất, là thiết bị để thực hiện một công việc, do đó công nghệ thường mang nghĩa tính từ của thuật ngữ như: Quy trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ

Có quan niệm cho rằng: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên, vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh” [Nguyễn Đăng Dậu và Nguyễn Xuân Tài (2007), trang 8 ], theo đó, công nghệ chỉ liên quan

Công nghệ được thể hiện ở công nghệ về sản phẩm và công nghệ về quy trình

sản xuất Công nghệ về sản phẩm được hiểu là những tri thức hay sáng kiến/sáng

tạo được thể hiện trong một sản phẩm Còn, công nghệ về quy trình sản xuất là những bí quyết gắn với quy trình sản xuất ra sản phẩm nói chung

Trang 15

6

Trong nền kinh tế thị trường, với cương vị là sản phẩm trí tuệ, công nghệ là một hàng hoá đặc biệt, có các đặc thù cơ bản như: Đó là hàng hoá vô hình; mang đặc điểm của một số hàng hoá công; có tác động lan tỏa; rất khó xác định được giá

cả thực của sản phẩm công nghệ theo cơ chế thị trường

Tiếp theo, có bốn khía cạnh cần phải nêu rõ trong định nghĩa về công nghệ, đó là:

- Công nghệ là máy biến đổi

- Công nghệ là một công cụ

- Công nghệ là kiến thức

- Công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó

Xuất phát từ các khía cạnh trên, chúng ta thừa nhận định nghĩa về công nghệ

do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - ESCAP) đưa ra: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dựng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ” [Nguyễn Đăng Dậu và Nguyễn Xuân Tài

(2007), trang 10]

Trong định nghĩa nêu trên, công nghệ đó bao gồm:

- Công nghệ là một quy trình sản xuất nhằm biến đổi các sản phẩm ở đầu ra

sẽ có giá trị cao hơn giá trị sản phẩm của đầu vào Nó bao gồm cả những thiết bị kỹ

thuật trong quy trình (Technoware)

- Công nghệ là một sản phẩm, nó có mối quan hệ chặt chẽ với con người

(Humanware),và cơ cấu tổ chức (Orgaware)

- Công nghệ không đơn thuần chỉ là các vật thể mà đặc trưng là kiến thức Việc sử dụng công nghệ đòi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ năng, trang

bị kiến thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó (Inforware)

Hoặc có thể diễn đạt theo cách khác, đó là công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản:

- Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm

hoàn chỉnh…);

- Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm );

Trang 16

7

- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp được

mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu…);

- Dạng thiết kế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ

cấu quản lý, cơ sở luật pháp)

Theo luật Khoa học và công nghệ của nước ta được Quốc hội ban bố Luật số 29/2013/QH13 thì: "Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm"

Trong phạm vi đề tài Luận văn, khái niệm công nghệ được hiểu: là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, các loại công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện, tư liệu sản xuất và các tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ )

dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

Bất cứ một công nghệ nào, dù đơn giản cũng phải gồm có bốn thành phần tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đổi mong muốn

- Công nghệ hàm chứa trong các vật thể, bao gồm mọi phương tiện vật chất

như các trang thiết bị, máy móc, công cụ, phương tiện vận chuyển, nhà xưởng Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần thiết bị - Technoware (T) Đây

là phần vật chất, phần cứng của công nghệ (hard ware)

- Công nghệ hàm chứa trong con người, nó bao gồm mọi năng lực của con

người về công nghệ như: kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, kỷ luật, tính sáng tạo mà

các kỹ năng chỉ có thể có được qua đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn Dạng hàm chứa này của công nghệ được gọi là Phần con người của công nghệ - Humanware (H)

- Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức có tổ chức được tư liệu hóa như:

Các lý thuyết, các khái niệm, các phương pháp, các thông số, công thức, các bản vẽ

kỹ thuật, bí quyết….Dạng thức này của công nghệ được gọi là Phần thông tin - Inforware (I)

- Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế, tạo nên bộ khung tổ chức của

công nghệ, như cơ cấu tổ chức, phạm vi chức năng, trách nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết Đây là Phần tổ chức của công nghệ - Organware (O)

1.1.2 Khái niệm đổi mới công nghệ

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn, trong đó mỗi giai đoạn thường gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của một hoặc nhiều loại

Trang 17

8

hình công nghệ đặc trưng quyết định sự phát triển của xã hội ở giai đoạn đó Như vậy, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có sự ra đời của công nghệ mới thay thế cho công nghệ cũ

Vậy đổi mới công nghệ là gì? Đó chính là cấp cao nhất của thay đổi công nghệ

và là quá trình quan trọng nhất của sự phát triển đối với tất cả các hệ thống công nghệ

Ở Việt Nam hiện nay trong các văn bản chính thức, ngay cả Luật Khoa học và công nghệ và Luật Chuyển giao công nghệ cũng không đề cập khái niệm này, mặc

dù trong Luật có cụm từ “đổi mới công nghệ” liên quan đến Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia; Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia

Theo Keith Pavitt (2003) quá trình đổi mới là quá trình khám phá ra các cơ hội cho một sản phẩm, dịch vụ hay quá trình mới dựa trên các tiến bộ kỹ thuật hoặc dựa trên sự thay đổi của nhu cầu thị trường hoặc của cả hai yếu tố đó Keith Pavitt nhấn mạnh rằng cơ sở cho việc đổi mới là các tiến bộ kỹ thuật và sự thay đổi của nhu cầu thị trường

Điều đó nói lên rằng mục đích của việc đổi mới là tạo ra sản phẩm, dịch vụ hay quá trình đáp ứng sự thay đổi của thị trường

Định nghĩa của OECD (1997) theo một nghĩa rộng hơn: “Đổi mới công nghệ

sản phẩm và quy trình (Technological product and process innovations) - TPP là việc thực hiện được sản phẩm và quy trình mới về mặt công nghệ hay đạt được tiến

bộ đáng kể về mặt công nghệ đối với sản phẩm và quy trình Đổi mới TPP được thực hiện nếu đổi mới đó đã được đưa ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được

sử dụng trong sản xuất (đổi mới quy trình) Đổi mới TPP gắn với một chuỗi các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại”

Quan niệm khác cho rằng, đổi mới công nghệ là sự hoàn thiện và phát triển không ngừng các thành phần cấu thành công nghệ dựa trên các thành tựu khoa học nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất, kinh doanh và quản lý kinh tế, xã hội [Nguyễn Đăng Dậu và Nguyễn Xuân Tài (2007), trang 155] Theo quan điểm này, một sự thay đổi dù rất nhỏ cũng được coi là đổi mới công nghệ, thực ra các hoạt động này được coi là cải tiến công nghệ thì chính xác hơn

Nhưng hệ thống công nghệ mà chúng ta đang sử dụng có tính phức tạp và đa dạng cao, có khi chỉ để cho ra đời một loại sản phẩm đã có thể dùng rất nhiều loại công nghệ khác nhau, do đó nếu xếp tất cả mọi loại thay đổi nhỏ về công nghệ đều

là đổi mới công nghệ, thì việc quản lý đổi mới công nghệ là điều không dễ dàng

Trang 18

9

Bởi vậy, khi nói đến đổi mới công nghệ, chúng ta nên tập trung vào những thay đổi

cơ bản trong hệ thống công nghệ

Đổi mới công nghệ có thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như: hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến sản phẩm có chất lượng, mẫu mã tốt hơn, có sức hấp dẫn hơn và khả năng cạnh tranh lớn hơn; hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến/đổi mới quy trình công nghệ sao cho đạt chi phí thấp hơn, năng suất, hiệu quả cao hơn; nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ sản phẩm hoặc công nghệ quy trình sản xuất nhập ngoại cho phù hợp với điều kiện trong nước Hoạt động đổi mới công nghệ không chỉ dừng lại ở khâu nghiên cứu và triển khai mà còn bao gồm cả khâu phổ biến, chuyển giao những kết quả nghiên cứu đổi mới đó vào thực tiễn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Xét về năng lực tạo ra công nghệ thì đổi mới công nghệ được đánh giá là có trình độ cao hơn so với hấp thụ công nghệ, nhưng lại thấp hơn so với sáng tạo công nghệ Theo đó, năng lực sáng tạo công nghệ và đổi mới công nghệ cho phép tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn nhiều so với năng lực hấp thụ công nghệ (mang tính thụ động hơn) Sáng tạo công nghệ là việc tao ra một công nghệ hoàn toàn mới, một sản phẩm hoàn toàn mới Trong khi đó, đổi mới công nghệ mới chỉ đạt ở mức

độ cải tiến quy trình công nghệ hoặc đổi mới công nghệ sản phẩm đã có với những cải tiến đem lại hiệu quả tốt hơn cho sản xuất Còn hấp thụ công nghệ chỉ dừng lại ở năng lực sử dụng công nghệ đã có (qua mua lại của người khác, thông qua chuyển giao công nghệ)

Do đó, có thể đưa ra định nghĩa về đổi mới công nghệ như sau: Đổi mới công

nghệ là việc chủ động thay thế phần quan trọng (cơ bản, cốt lõi) hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiên tiến hơn, hiệu quả hơn [Nguyễn

Đăng Dậu và Nguyễn Xuân Tài (2007), trang 156]

Đổi mới công nghệ có thể chia ra:

- Đổi mới quá trình: nhằm giải quyết các bài toán tối ưu các thông số sản xuất, chất lượng, hiệu quả

- Đổi mới sản phẩm: nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ nhu cầu của thị trường

Đổi mới công nghệ có thể đưa ra hoặc ứng dụng các công nghệ hoàn toàn mới chưa có trên thị trường công nghệ, ví dụ: tạo ra sáng chế, giải pháp hữu ích, những công nghệ được bảo hộ hoặc chưa hội tụ đủ các điều kiện để được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Trường hợp khác, đó là đổi mới công nghệ bằng chuyển giao

Trang 19

Trường hợp khác, nếu máy móc, phương tiện mới mà doanh nghiệp mua về ở dạng phức tạp, để sử dụng chúng cần phải có giải pháp, quy trình, bí quyết công nghệ đi kèm, các giải pháp, quy trình, bí quyết công nghệ này có thể doanh nghiệp mua (chuyển quyền sử dụng đồng thời với quyền sở hữu) hoặc chỉ license (chỉ chuyển quyền sử dụng) Trường hợp này là đổi mới công nghệ

Công nghệ là sản phẩm do con người tạo ra, bởi vậy nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của sản phẩm nói chung: sinh ra, phát triển và tiêu vong Như vậy, đổi mới công nghệ là tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển Tính tất yếu của đổi mới công nghệ còn do lợi ích của các doanh nghiệp quy định Về lợi ích thương mại, nhờ đổi mới công nghệ mà doanh nghiệp tạo ra được các sản phẩm mới

có chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, khẳng định vị thế của doanh nghiệp đối với xã hội Đổi mới công nghệ thực chất là một quá trình thay thế, các công nghệ mới tiên tiến hơn do mang tính ưu việt sẽ thay thế công nghệ cũ lạc hậu hơn

Tính tất yếu của đổi mới công nghệ còn do xu thế hợp tác quốc tế về kinh tế quy định Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khi thị trường mở rộng ra khỏi biên giới quốc gia, thì yếu tố sống còn của mỗi nền kinh tế phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của nó, trong đó việc đổi mới công nghệ quyết định phần không nhỏ cho năng lực cạnh tranh này

Đổi mới công nghệ chỉ thực sự thành công và có ý nghĩa xã hội, trước hết khi

nó được thương mại hóa và sau đó được thị trường và xã hội chấp nhận Hay nói cách khác, tính thương mại của việc đổi mới công nghệ phải gắn liền với sự ổn định

xã hội, để đạt được mục tiêu này quả là bài toán khó khăn đối với các nhà quản lý

xã hội nói chung, trong đó có các nhà quản lý khoa học và công nghệ

Các bước của quá trình đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp có thể chia ra:

- Ghi nhận nhu cầu của thị trường, tìm cách đáp ứng nhu cầu đó, phân tích các

Trang 20

11

giải pháp, lựa chọn giải pháp tối ưu, đề đạt việc thực thi

- Xác định mục tiêu: sản phẩm, dịch vụ, quy trình quản lý

- Phân tích kỹ thuật, các nguồn lực cần thiết

- Kế hoạch kinh doanh

- Triển khai, sản xuất thử, kiểm định thử nghiệm

- Marketing, kiểm định trên thị trường

- Sản xuất thương mại

- Loại bỏ sản phẩm lỗi thời và công nghệ lạc hậu

Trong các bước trên thì có bước thứ ba liên quan trực tiếp đến nhân lực, tất nhiên các bước còn lại cũng liên quan đến nhân lực, nhưng ở mức độ gián tiếp

1.1.3 Khái niệm quản lý đổi mới công nghệ

Trong phần này, Luận văn tiếp cận quản lý đổi mới công nghệ trong khuôn khổ hoạt động của các doanh nghiệp có áp dụng công nghệ vào quá trình sản xuất, kinh doanh

Công nghệ được hiểu là máy móc, thiết bị, phương tiện sản xuất và các cấu trúc hạ tầng khác Công nghệ luôn gắn liền với trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho

nó Trong công nghệ sản xuất, các yếu tố này thường kết hợp với nhau để tạo thành một dây chuyền công nghệ, nhằm mục đích tạo ra sản phẩm sau một quá trình biến đổi từ các nguyên liệu đầu vào Mỗi một dây chuyền công nghệ đều có một quy trình sản xuất tương ứng

Quản lý đổi mới công nghệ là quá trình ra quyết định và triển khai việc thực hiện đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu về đổi mới

đã hoạch định [Nguyễn Sĩ Lộc (2006), trang 158] Trong quá trình quản lý công nghệ thì các vấn đề liên quan đến công nghệ của doanh nghiệp bao gồm những nội dung chủ yếu:

- Doanh nghiệp tạo ra công nghệ mới căn cứ theo đầu vào là các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực), đó là các hoạt động từ việc mua hoặc nhập các nguồn lực, hoạt động nghiên cứu (có thể dựa trên các ý tưởng mới), đưa ra các mẫu thử nghiệm, chuyển sang hoạt động sản xuất, phân phối

- Trong quá trình sử dụng hoặc kinh doanh công nghệ, doanh nghiệp tiếp tục xem xét các tiêu chí liên quan đến quản lý công nghệ như năng suất, chất lượng ,

Trang 21

12

và các hoạt động cải tiến công nghệ, ví dụ như thay đổi nhỏ (công nghệ bắt đầu có những cải tiến nhất định) hoặc đổi mới lớn (công nghệ được sáng chế ra gần như hoàn toàn mới)

Quản lý đổi mới công nghệ được chia theo các cây mục tiêu:

Quản lý theo trình độ công nghệ: Công nghệ truyền thống thường là thủ công,

có tính độc đáo, độ tinh xảo cao những năng suất không cao, chất lượng không đồng đều, giá thành cao Công nghệ tiên tiến là thành quả của khoa học hiện đại, có năng suất cao, chất lượng tốt và đồng đều, giá thành sản phẩm hạ

Quản lý theo mục tiêu phát triển của công nghệ: Công nghệ phát triển bảo

đảm cung cấp các nhu cầu thiết yếu cho xã hội như ăn, mặc, ở, đi lại Công nghệ thúc đẩy tạo nên sự tăng trưởng nền kinh tế quốc gia Công nghệ dẫn dắt có khả năng cạnh tranh trên thị trường

Quản lý theo mục tiêu bảo vệ môi trường: Công nghệ ô nhiễm gây những tác

hại nhất định đến môi trường Công nghệ sạch có quá trình sản xuất tuân theo điều kiện giảm ảnh hưởng ô nhiễm đến môi trường, sử dụng các nguồn nguyên liệu thô

và năng lượng với chi phí hợp lý và kinh tế (công nghệ thân môi trường)

Quản lý theo đặc thù của công nghệ: Công nghệ cứng bao gồm các thành phần

kỹ thuật cấu tạo nên (Technoware) Công nghệ mềm bao gồm ba thành phần còn lại

(Humanware, Orgaware, Infoware)

Quản lý theo đầu ra của công nghệ: Công nghệ sản phẩm liên quan đến thiết

kế sản phẩm (phần mềm thiết kế) và việc sử dụng bảo dưỡng sản phẩm (phần mềm

sử dụng) Công nghệ chế tạo các sản phẩm đó được thiết kế

Phạm vi của quản lý đổi mới công nghệ bao gồm các yếu tố có liên quan:

- Mục tiêu phát triển công nghệ

- Các tiêu chuẩn chọn lựa công nghệ

- Thời hạn kế hoạch cho các công nghệ

- Các ràng buộc để phát triển công nghệ

- Cơ chế để phát triển công nghệ

- Các hoạt động công nghệ

Các yếu tố trên có mối quan hệ tương hỗ với nhau, ở phạm vi doanh nghiệp, quản lý đổi mới công nghệ liên quan đến bốn lĩnh vực chủ yếu, mỗi lĩnh vực gồm

Trang 22

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu cạnh tranh gay gắt, công nghệ ngày càng trở thành nhân tố chủ yếu, quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của quốc gia Năng lực công nghệ còn là một trong những điều kiện quyết định đối với

sự sống còn của doanh nghiệp buộc doanh nghiệp không ngừng nâng cao nó Như vậy, để nâng cao năng lực công nghệ buộc doanh nghiệp phải đầu tư, đổi mới, nhưng không thể thiếu được vai trò quản lý Nhà nước trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đặc biệt là tạo khung khổ luật pháp cho việc hình thành và vận hành thị trường này

Thời gian qua nhiều bộ luật quan trọng liên quan đến phát triển khoa học và công nghệ đã được ban hành và thực thi như Luật Khoa học và công nghệ, Luật Chuyển giao Công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Công nghệ cao Chính phủ cũng

đã ban hành nhiều Nghị định quan trọng nhằm khuyến khích việc đầu tư vào khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp như Nghị định 119/1999/NĐ-CP về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ, Nghị định 122/2003/NĐ-CP về thành lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia; Nghị định 115/2005/NĐ-CP về tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ; Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã ban hành nhiều quyết định, thông tư quy định các

Trang 23

14

mặt khác nhau liên quan đến việc thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ nói chung, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nói riêng Nhưng thực tế chúng ta vẫn thiếu một chính sách đặc thù cho việc khuyến khích, đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhiều chương trình, dự án do các Bộ, ngành, địa phương thực hiện trong nhiều năm qua còn rất ít, đồng thời không phát huy tác dụng Một số các đề tài, dự án liên quan đến đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp sau khi hoàn thành không có khả năng ứng dụng hoặc không thể ứng dụng thành công trên đại trà Hiện cũng có không ít doanh nghiệp khó tiếp cận và nhận được sự

hỗ trợ của Nhà nước…

Để có một hệ thống cơ chế, chính sách giúp đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiệu quả, cần làm ngay Thứ nhất là Nhà nước cần sớm có một chiến lược hỗ trợ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh Thứ hai là nên đổi mới quá trình đề xuất, thẩm định, lựa chọn và đánh giá một đề tài hay dự án đổi mới công nghệ Thứ ba là đổi mới và tổ chức hợp

lý hơn việc cung cấp thông tin công nghệ cho doanh nghiệp và làm thế nào để đông đảo các doanh nghiệp có thể tiếp cận được với các nguồn thông tin trên Thứ tư là cần minh bạch hóa việc sử dụng nguồn lực của nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ nói chung, đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nói riêng

1.1.4 Hiệu quả đổi mới công nghệ

Đổi mới công nghệ nhằm mục đích phục vụ tốt hơn các nhu cầu của xã hội, bao gồm nhu cầu về kinh tế và nhu cầu ổn định xã hội Nền kinh tế thị trường, thường chạy theo nhu cầu lợi ích kinh tế một cách thuần túy Nhưng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì ngoài nhu cầu lợi ích về kinh tế còn hướng mục tiêu cao cả hơn, đó là vì sự phát triển toàn diện của xã hội Bởi vậy khi xét hiệu quả của đổi mới công nghệ, ta phải tính tới các yếu tố như vừa phân tích Đổi mới công nghệ được coi là thành công nếu nó mang lại hiệu quả kinh tế cho người chủ

sở hữu nói riêng và cho xã hội nói chung

Đổi mới công nghệ tạo ra các cơ hội kinh doanh và đồng thời cũng tạo ra cơ hội cho sự tăng trưởng kinh tế, nhưng đánh giá đầy đủ kết quả của đổi mới công nghệ là một công việc hết sức khó khăn, do những lợi ích mà đổi mới công nghệ mang lại rất đa dạng, trong số đó, có những lợi ích không thể đánh giá một cách chính xác được, bên cạnh đó có những mặt tưởng chừng như có hiệu ứng tiêu cực lúc này nhưng lại là yếu tố tích cực trong tương lai nếu có sự quản lý tốt để khắc phục

Trang 24

15

Khi đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, ta phải đánh giá qua so sánh giá trị gia tăng của doanh nghiệp trước và sau khi đổi mới công nghệ Các chi phí cho đổi mới công nghệ thể hiện ở các chi phí đầu tư cho bốn thành phần của công nghệ, đó là:

- Chi phí để đổi mới phần kỹ thuật;

- Chi phí đào tạo nhân lực cho kỹ thuật mới;

- Chi phí cho thông tin, tư vấn, bí quyết công nghệ;

- Chi phí đổi mới sắp xếp lại bộ máy quản lý cho phù hợp với yêu cầu của công nghệ mới

Khi thực hiện đổi mới công nghệ thì chi phí thứ hai chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng chi phí nói chung Đối với các doanh nghiệp lớn, có tiềm lực kinh tế mạnh thì có thể liên kết với các cơ quan nghiên cứu - triển khai (R&D) để tạo ra các công nghệ mới hoàn toàn chưa từng tồn tại trên thị trường Việc tạo ra các công nghệ mới này cũng đồng nghĩa với việc chi phí để đào tạo nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ Nhưng đối với đa số doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì việc liên kết với các cơ quan R&D là điều khó khăn, bởi vậy họ chọn con đường chuyển giao công nghệ bằng hình thức chỉ chuyển quyền sử dụng thông qua hợp đồng license, trong các hợp đồng license có thể có quy định trách nhiệm của bên chuyển giao phải đào tạo nhân lực để có thể làm chủ công nghệ, nhưng trong trường hợp đó tổng giá trị của hợp đồng phải tăng lên rất nhiều Do đó, đã có những doanh nghiệp chọn con đường tắt ngắn nhất, chỉ nhận chuyển giao quyền sử dụng công nghệ, sau đó tuyển chọn nhân lực bên ngoài có khả năng làm chủ công nghệ mới (không phải chi phí đào tạo), đào thải nhân lực sẵn có nhưng không có khả năng làm chủ công nghệ mới Nếu thuần túy xét trên góc độ cạnh tranh nhân lực thì

có thể đây là một yếu tố tích cực, nhưng hiệu quả xã hội thì lại không đạt vì như vậy

đã tạo nên một đội quân thất nghiệp khi quá trình đổi mới công nghệ diễn ra Như vậy, hiệu quả đổi mới công nghệ không chỉ thuần túy xét trên góc độ kinh tế của doanh nghiệp mà phải xét trên tổng thể bình diện kinh tế - xã hội nói chung

1.1.5 Đầu tư đổi mới công nghệ

Được hiểu là việc bỏ vốn thay đổi, cải tiến công nghệ đã có (trong nước, nước ngoài), góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh Đầu tư đổi mới công nghệ có thể bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như: đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến sản phẩm có chất lượng, mẫu mã tốt hơn, có sức hấp dẫn hơn và có khả

Trang 25

16

năng cạnh tranh mạnh mẽ hơn; đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến/đổi mới quy trình công nghệ sao cho đạt chi phí thấp hơn, năng suất và hiệu quả cao hơn; đầu tư cho việc nhập khẩu công nghệ mới, nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ sản phẩm hoặc công nghệ quy trình sản xuất nhập ngoại cho phù hợp với điều kiện trong nước Chủ thể đầu tư đổi mới công nghệ về nguyên tắc là các doanh nghiệp nhưng cũng có thể là Nhà nước, các tổ chức nghiên cứu và triển khai Mặt khác, người thực hiện hoạt động đổi mới công nghệ có thể là những nhà công nghệ/kỹ thuật thuộc bộ phận nghiên cứu và triển khai của các doanh nghiệp, cũng

có thể là các cán bộ hoa học làm việc tại các viện nghiên cứu nằm ngoài doanh nghiệp

Nguồn vốn đầu tư đổi mới công nghệ có thể từ nhiều nguồn khác nhau: của ngân sách nhà nước (thông qua các chương trình hỗ trợ, thể chế tài chính của Nhà nước), vốn của doanh nghiệp, vốn của các tổ chức nghiên cứu và triển khai, vốn trong nước, vốn nước ngoài

1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp của nước ta được Quốc hội ban bố

Luật số 68/2014/QH13 thì Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ

sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh

Doanh nghiệp được phân chia theo quy mô, bao gồm doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa phân định theo 3 loại hình: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) Trong đó, điểm nhấn quan trọng nhất tại Điều 3 của Nghị định 56/2009/NĐ-CP:

“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy

Trang 26

17

định của pháp luật” theo đó khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đến nay không chỉ có doanh nghiệp, mà còn bao gồm có cả loại hình hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể Nghị định 56/2009/NĐ-CP cho phép xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo 3 cấp: Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động từ 10 người trở xuống; Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc

có số lao động từ trên 10 người đến 200 người (đối với doanh nghiệp hoạt động thương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định từ 10 tỷ đồng trở xuống hoặc có số lao động từ trên 10 người đến 50 người); Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc có số lao động từ trên 200 người đến 300 người (đối với doanh nghiệp hoạt động thương mại

và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng hoặc có số lao động từ trên 50 người đến 100 người)

1.2.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau:

Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%) Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể

Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp

nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế

Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ,

nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa với đặc điểm quy mô nhỏ, cần ít vốn phát triển rộng khắp cả thành thị và nông thôn đã thu hút một số lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển ở các địa phương thì sẽ hình thành và phát triển các khu - cụm - điểm công nghiệp địa phương Khác với khu công nghiệp tập trung cấp quốc gia, khu - cụm - điểm công nghiệp địa phương có phạm vi nhỏ,

Trang 27

18

cơ sở hạ tầng không đòi hỏi cao, phục vụ trực tiếp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ

và vừa thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh

Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở

ở những Trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương

Doanh nghiệp nhỏ và vừa có một vị trí rất quan trọng về tạo việc làm mới với thu nhập cao hơn nhiều so với lao động ở khu vực nông nghiệp Riêng khu vực này

đã tạo việc làm cho trên 50% số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp nói chung (gần 3,37 triệu người), mỗi năm tăng thêm gần nửa triệu việc làm mới với thu nhập bình quân năm 2006 gần 1,49 triệu đồng/tháng, góp phần quan trọng giải quyết tình trạng việc làm cho đội ngũ lao động trẻ Để tạo ra một việc làm, các doanh nghiệp Nhà nước lớn phải đầu tư 41 triệu đồng, các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài là 294 triệu đồng, trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân chỉ là 26 triệu đồng

Do vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều quốc gia đã chú trọng công tác khuyến khích loại hình doanh nghiệp này phát triển Các hỗ trợ mang tính thể chế để khuyến khích bao gồm: các hỗ trợ nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi (xây dựng và ban hành các luật về doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo thuận lợi trong cấp giấy phép, cung cấp thông tin, ), những hỗ trợ bồi dưỡng năng lực doanh nghiệp (đào tạo nguồn lực quản lý, hỗ trợ về công nghệ, ), và những hỗ trợ về tín dụng (thành lập ngân hàng chuyên cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay, bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp, thành lập các công ty đầu tư mạo hiểm, ),

1.2.3 Nhu cầu đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo Tổng cục thống kê, ở nước ta hiện nay trên 95% doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 66% (phân theo tiêu chí lao động của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) Do quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế, nhất là về vốn, nên phần lớn các doanh nghiệp tập trung vào việc đổi mới công nghệ hơn là hoạt động nghiên cứu triển khai Trong giai đoạn 2007 đến 2010 xét trong tổng đầu tư cho hoạt động Khoa học công nghệ, tỷ trọng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu triển khai đã giảm mạnh từ 55,3% năm 2007 xuống còn 38,5% năm 2010 (theo phòng

Trang 28

19

Thương mại) Trong khi đó, chi phí bình quân của mỗi doanh nghiệp cho việc đổi mới công nghệ đã không ngừng tăng lên cả về giá và tỷ trọng Năm 2007 bình quân một doanh nghiệp chi phí đầu tư khoảng 712 triệu đồng, chiếm 33% tổng mức đầu

tư cho Khoa học công nghệ thì đến năm 2010, mức chi phí đầu tư cho đổi mới công nghệ đã tăng lên gấp 3 lần, đạt trên 2 tỷ đồng, chiếm 50% tổng mức đầu tư cho Khoa học công nghệ của doanh nghiệp Tỷ lệ nguồn vốn của doanh nghiệp trong tổng nguồn vốn đầu tư cho Khoa học công nghệ chiếm đa số và ngày càng tăng lên: Năm 2007 chiếm 75,89% và tăng lên 86,06% năm 2010 Trong khi đó, tỷ trọng đầu

tư cho hoạt động Khoa học công nghệ của doanh nghiệp từ nguồn vốn ngân sách giảm từ 15,06% năm 2007 còn 8,48% năm 2010 Số liệu trên đây được Phòng thương mại khảo sát ở 270 doanh nghiệp có trả lời về đầu tư cho Khoa học công nghệ trong tổng số 155.771 doanh nghiệp được điều tra, chỉ chiếm 0,2% còn 99,8% doanh nghiệp chưa hoặc không đủ sức quan tâm đến hoạt động Khoa học công nghệ, đổi mới công nghệ Chính sự thiếu quan tâm này đã dẫn đến tình trạng mặc

dù cơ cấu hàng xuất khẩu đã có chuyển biến tích cực theo chiều hướng tăng dần tỷ trọng hàng chế biến và chế tạo nhưng đến nay xuất khẩu sản phẩm thô vẫn là chủ yếu

Tình hình đó cho thấy doanh nghiệp không có những hoạt động nhằm đổi mới công nghệ thì chắc chắn hệ thống công nghệ, dây chuyền sản xuất, máy móc, trang thiết bị… sẽ trở nên lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, dẫn đến bị đào thải làm cho sự tồn tại và phat triển của doanh nghiệp bị đe dọa Do đó, đổi mới công nghệ là tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển Tính tất yếu của đổi mới công nghệ còn xuất phát từ các lợi ích khác nhau mà đổi mới công nghệ đem lại cho doanh nghiệp cũng như cho toàn xã hội

1.2.4 Tầm quan trọng của đối mới công nghệ tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hiện nay

Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam thể hiện rõ nét qua cơ cấu xuất khẩu Hàm lượng công nghệ trung - cao của xuất khẩu công nghiệp Việt Nam chỉ vào khoảng 11,3% và 8,4% trong năm 2006 Trong khi đó, Trung Quốc đã nâng cấp liên tục từ công nghệ trung - cao chuyển sang công nghệ cao (Tỷ trọng 11,5% năm

2002 tăng lên 25% năm 2006) So với các nước tại thời điểm có trình độ phát triển tương đương (thông qua chỉ tiêu GDP bình quân đầu người ngang giá sức mua), Việt Nam có năng lực cạnh tranh thấp hơn, với hàm lượng công nghệ cao chỉ bằng 1/2 Trung Quốc (năm 1998) Thái Lan (1986) và bằng 1/3 Malaysia (1980) trong khi

Trang 29

Những kết quả trên cho thấy vai trò của công nghệ và đổi mới công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và trình độ phát triển cho quốc gia

1.3 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÕ VÀ NỘI DUNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NÔNG NGHIỆP

1.3.1 Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nông nghiệp

Doanh nghiệp nông nghiệp là tổ chức kinh tế tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp, tham gia vào toàn bộ thị trường đầu vào và đầu ra, được tổ chức và hoạt động phù hợp với Luật Doanh Nghiệp mà Nhà nước ban hành

Doanh nghiệp nông nghiệp là những doanh nghiệp chủ yếu tiến hành sản xuất

và kinh doanh trên địa bàn nông thôn, được hình thành từ các hộ kinh doanh, các hợp tác xã và trang trại

Ở Việt Nam hiện nay, số lượng doanh nghiệp nông nghiệp là khá lớn, nhưng

về thực chất, thực hiện chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu doanh nghiệp nông nghiệp giữa khu vực quốc doanh và dân doanh đang có sự thay đổi Số lượng doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ngày càng giảm, số lượng doanh nghiệp dân doanh ngày càng tăng Trên 98% số doanh nghiệp nông nghiệp là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Số lao động bình quân làm việc trong một doanh nghiệp nông nghiệp là trên 40 người Trên 90% số doanh nghiệp nông nghiệp có vốn dưới

10 tỷ đồng; 6,5% số doanh nghiệp có vốn từ 10 đến 50 tỷ đồng và trên 1% số doanh nghiệp có mức vốn trên 200 tỷ đồng Vốn sản xuất kinh doanh tính bình quân cho 1 lao động trong các doanh nghiệp nông nghiệp là 200 triệu đồng, bằng gần ¼ số vốn bình quân cho 1 lao động trong các doanh nghiệp của tất cả các ngành kinh tế

Trang 30

về thị trường và các quy định của thương mại quốc tế Chất lượng sản phẩm nông sản còn thấp so với tiêu chuẩn xuất khẩu, khối lượng sản phẩm sản xuất ra chưa nhiều, thậm chí còn manh mún Tính đến nay, danh mục sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế của Việt Nam còn rất ít Do vậy, dẫn đến khả năng tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp nông nghiệp bị hạn chế

Phần lớn các doanh nghiệp nông nghiệp có trình độ khoa học, công nghệ lạc hậu, tay nghề công nhân thấp do vậy chất lượng sản phẩm, hàng hóa dịch vụ thấp, khả năng cạnh tranh yếu, chi phí giá thành cao, đầu tư đổi mới kỹ thuật và công nghệ còn thấp so với yêu cầu phát triển Bên cạnh yếu kém về chất lượng sản phẩm hàng hóa, thì việc thiếu hụt về công nghệ thông tin và khả năng ngoại ngữ cũng là nguyên nhân quan trọng thể hiện doanh nghiệp nông nghiệp chưa thật sự có đủ sức mạnh trước yêu cầu cấp bách của hội nhập

Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản nước ta đã có những bước tiến vượt bậc; hiện nay Việt Nam vẫn duy trì được 10 mặt hàng nông nghiệp có giá trị xuất khẩu hằng năm từ 1 tỷ USD trở lên Nông nghiệp hiện nay đóng góp khoảng 20% GDP của cả nước; có rất nhiều mặt hàng xuất khẩu có thứ hạng trên thế giới như: Gạo, tiêu, cà phê, cao su Tuy nhiên, Việt Nam đa phần xuất hàng thô, chưa gia tăng chế biến theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; chưa chú trọng xây dựng thương hiệu mạnh cho ngành nông sản

1.3.2 Nội dung đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nông nghiệp

Nông nghiệp toàn cầu đang đối mặt với một số thách thức lớn trong những năm tới: tăng dân số nhanh chóng trên toàn thế giới, biến đổi khí hậu, tăng nhu cầu năng lượng, khan hiếm nguồn lực, tốc độ đô thị hóa gia tăng, thay đổi chế độ ăn uống, dân số già ở các vùng nông thôn ở các nước phát triển, cạnh tranh gia tăng trên thị trường thế giới, và khó khăn trong tiếp cận tín dụng và đất ở nhiều nước đang phát triển Công nghệ chắc chắn sẽ là một trong những phương tiện chính để cải thiện sản xuất nông nghiệp cần thiết để đáp ứng nhu cầu của dân số thế giới

Trang 31

22

ngày càng tăng Ngành nông nghiệp ở nhiều nơi trên thế giới đang ở bước ngoặt quan trọng Việc áp dụng công nghệ số hóa ngày càng cao trong hoạt động nông nghiệp làm cho nó có thể sản xuất các sản phẩm động, thực vật với hiệu quả ngày càng cao hơn và tác động môi trường thấp hơn

Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, từ năm 1995 đến nay, đổi mới công nghệ đã giúp tăng năng suất lúa từ 30 tạ/ha lên 50 tạ/ha, cao gấp 1,5 lần Thái Lan và đứng đầu Đông Nam Á về năng suất Việc áp dụng quy trình công nghệ mới cũng đã góp phần tăng lợi nhuận đáng kể cho người trồng lúa Quy trình sản xuất rau an toàn đã được hoàn thiện và áp dụng trên phạm vi cả nước, góp phần đưa diện tích rau an toàn lên 20.000ha Các nghiên cứu chọn, tạo giống cây công nghiệp đã đạt được một số kết quả khích lệ như gần 100% diện tích cao su của nước ta được trồng bằng loại giống tốt, đưa năng suất cao su trung bình của nước ta vào loại cao nhất thế giới Cùng với đó, nhiều loại giống mới có năng suất cao đã được nghiên cứu và đưa vào sản xuất như cà phê, các loại cây nguyên liệu giấy, bông, cây có dầu…

Trong lĩnh vực thủy sản, đóng góp của KHCN tập trung vào sản xuất giống, nuôi trồng và công nghệ chế biến giúp tăng sản lượng và giá trị xuất khẩu Trong

đó, một số công nghệ sản xuất giống đã tiếp cận hoặc vượt trình độ quốc tế, chẳng hạn cua biển có tỷ lệ ra giống đạt 6 - 8% ở quy mô trang trại, cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Nam Á Các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công mô hình nuôi tôm sú năng suất cao, từ 1,5 - 2,5 tấn/ha, ít thay nước; các mô hình nuôi

cá + lúa có năng suất lúa từ 4,5 - 5 tấn và năng suất cá 1 - 3 tấn/ha/năm; nghiên cứu thành công và áp dụng rộng rãi công nghệ sản xuất giống cá ba sa nhân tạo Về chế biến thủy sản, hoạt động KHCN đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản với các công nghệ chế biến, bảo quản đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu Đối với lĩnh vực lâm nghiệp, gần 100 dòng, giống cây rừng mới được đưa vào sản xuất, nhiều tiến bộ trong trồng rừng, khoanh nuôi khôi phục rừng tự nhiên, sử dụng chế phẩm sinh học và phân bón cho cây rừng đã được ứng dụng rộng rãi Ngành khoa học cũng đã triển khai nhân giống bằng công nghệ tế bào đối với các loại cây bạch đàn, keo lai, cây thông… góp phần thực hiện thắng lợi chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc Mặt khác, máy móc cơ khí cho ngành nông nghiệp trong những năm qua có nhiều ứng dụng, tuy nhiên các doanh nghiệp chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có Việc cơ giới hóa nông nghiệp cần được đẩy mạnh hơn nữa trong quá trình phát triển nông nghiệp

Trang 32

23

Đối với tỉnh Hòa Bình, đổi mới công nghệ được vận dụng trong ngành nông nghiệp cụ thể là : Đổi mới cơ cấu giống, đổi mới cơ cấu thời vụ, đổi mới áp dụng các biện pháp phân bón, ứng dụng công nghệ sinh học…

Các doanh nghiệp họa động trong lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu tập trung vào nghiên cứu, chọn tạo để đưa vào sản xuất những giống cây, giống con phù hợp với vùng sinh thái và trình độ quản lý, thâm canh của người sản xuất Các doanh nghiệp này đảm bảo sản xuất, cung ứng các giống mới như lúa lai, ngô lai năng suất thường cao hơn giống truyền thống 20 - 50 % Đã đưa giống cam chất lượng vào vùng sản xuất cam truyền thống Cao Phong Từng bước các doanh nghiệp đang cải tiến việc sản xuất kinh doanh gắn với vùng sản xuất hàng hóa và vùng nguyên liệu…

1.4 CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ THỂ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

1.4.1 Vốn của doanh nghiệp

Đổi mới công nghệ có thể được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau như: hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến sản phẩm có chất lượng, mẫu mã tốt hơn, có sức hấp dẫn hơn và khả năng cạnh tranh lớn hơn; hoạt động nghiên cứu và triển khai để cải tiến/đổi mới quy trình công nghệ sao cho đạt chi phí thấp hơn, năng suất, hiệu quả cao hơn; nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ sản phẩm hoặc công nghệ quy trình sản xuất nhập ngoại cho phù hợp với điều kiện trong nước Hoạt động đổi mới công nghệ không chỉ dừng lại ở khâu nghiên cứu và triển khai mà còn bao gồm cả khâu phổ biến, chuyển giao những kết quả nghiên cứu đổi mới đó vào thực tiễn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong bất cứ hình thức nào thì yếu

tố vốn luôn có sự tác động mạnh nhất đối với đổi mới công nghệ Nhu cầu về vốn cho hoạt động đổi mới của doanh nghiệp là rất lớn trong khi doanh nghiệp lại ít vốn

và thiếu vốn Doanh nghiệp không thể tiến hành các dự án đầu tư đổi mới công nghệ nằm ngoài khả năng tài chính của mình Sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp cũng chỉ chiếm một phần nhỏ trong kinh phí để đổi mới công nghệ,do vậy doanh nghiệp muốn làm dự án đổi mới công nghệ nào đó thì cũng phải chủ động đầu tư vốn là chính Thực tế hiện nay các doanh nghiệp, ngoại trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đều gặp khó khăn về vốn

và huy động vốn cho đầu tư sản xuất kinh doanh cũng như đổi mới công nghệ Nhu cầu về vốn cho hoạt động đầu tư là rất lớn, nó phát sinh liên tục Tình trạng chung tại các doanh nghiệp hiện nay là nguồn vốn tự có rất hạn hẹp và thường không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng Vì vậy, để có đủ vốn thực hiện hoạt động đầu tư thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn từ các nguồn khác là không thể tránh khỏi Trong

Trang 33

24

khi đó, vay ngân hàng cũng không phải dễ, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ, ít rủi ro thì họ mới cho vay

1.4.2 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp

Ngay cả khi công nghệ đã đạt được bước phát triển cao bằng việc cơ giới hóa, điện khí hóa, tự động hóa được áp dụng vào các dây chuyền sản xuất thì vẫn do con người sáng tạo ra và vẫn cần có con người có kỹ thuật để điều hành thực hiện Ngay

cả khi mọi công đoạn sản xuất được thực hiện tự động hóa theo lập trình định trước điều khiển từ trung tâm của doanh nghiệp thì vẫn do con người đặt ra lập trình và giám sát quá trình thực hiện ấy Như vậy, việc đổi mới công nghệ chịu sự tác động khá mạnh bởi yếu tố con người nhân lực có khoa học và kỹ thuật

Cần nhấn mạnh rằng yếu tố con người (Human ware) là một trong bốn yếu tố (T-H-O-I) của công nghệ Vì vậy, đào tạo kỹ năng cho người lao động để có thể vận hành máy móc thiết bị mới, tiếp cận công nghệ mới là điều rất quan trọng.Vấn đề cơ bản không phải là nhận thức vị trí quan trọng của yếu tố này tác động vào đổi mới công nghệ mà là phải nâng cao năng lực nguồn nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ

Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển dựa vào nền tảng đổi mới công nghệ, cần phải tạo ra nguồn nhân lực được đào tạo chuẩn mực về công nghệ phù hợp với nhu cầu thực tế của sản xuất, tạo cơ hội và môi trường thuận lợi để phát huy tối đa năng lực sáng tạo của lực lượng lao động theo đúng lĩnh vực chuyên môn được đào tạo Như vậy, việc tạo nguồn nhân lực công nghệ là một trong những khâu quan trọng nhằm củng cố, phát triển năng lực công nghệ để thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp đề ra trong từng giai đoạn phát triển Không giải quyết tốt vấn đề này thì mặt trái của nguồn nhân lực là trình độ kỹ thuật thấp sẽ trở thành thứ cản trở doanh nghiệp trên bước đường đổi mới công nghệ

1.4.3 Thông tin về các lĩnh vực: Chính sách, khoa học công nghệ, thiết bị, sáng chế, thị trường…

Các doanh nghiệp thiếu thông tin về các chính sách của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động khoa học công nghệ; thiếu thông tin về công nghệ và thiết bị công nghệ gây khó khăn cho việc xây dựng và thực hiện dự án đầu tư đổi mới công nghệ Thông tin (Inforware) là một trong bốn thành phần của công nghệ Thiếu thông tin có nghĩa việc thực hiện công nghệ đã không trọn vẹn Việc nâng cao kiến thức về công nghệ thông tin là nhiệm vụ của cán bộ công nhân viên và công nhân trong các doanh nghiệp

Trang 34

25

Cập nhật thông tin về công nghệ là rất cần thiết đối với doanh nghiệp, nhất là cập nhật những thành tựu mới về công nghệ và sản xuất kinh doanh liên quan đến ngành mình và các ngành có liên quan, những thông tin đầu đủ về thị trường, chính thức hóa công việc này thông qua bộ phận Marketting của doanh nghiệp Mặt khác, cần tăng cường phổ biến thông tin về cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, siêu nhỏ, tư nhân Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về sự cần thiết phải đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế hiện nay Xây dựng cơ chế hỗ trợ tra cứu thông tin về khoa học công nghệ, về sở hữu trí tuệ để doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn

Do quy mô nhỏ và vừa nên vốn ít, nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực thấp, trình độ của đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật trong các doanh nghiệp nhỏ

và vừa mới chỉ hạn chê ở năng lực tiêp thu và vận hành những công nghệ sẵn có một cách thụ động Lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yêu là lao động phổ thông, ít được đào tạo, thiêu kỹ năng, năng lực lựa chọn công nghệ, năng lực làm chủ công nghệ và đổi mới công nghệ còn rất yếu Điều này đã cản trở quá trình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hơn nữa, ở nước ta hiện nay thị trường khoa học công nghệ mới được hình thành nên mặc dù đã có cung từ các tổ chức nghiên cứu khoa học - công nghệ trong nước và cầu từ phía các doanh nghiệp về các sản phẩm công nghệ nhưng cung - cầu

về khoa học công nghệ còn chưa thực sự gắn kết Do vậy, các doanh nghiệp nhìn chung vẫn còn thiếu thông tin về công nghệ và thông tin về thị trường, thiếu cơ hội tiếp xúc, nắm bắt công nghệ mới, cơ hội hợp tác với các tổ chức nghiên cứu - triển khai bên ngoài

Để giúp các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện quá trình đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh thì cần thiết thì phải có chính sách hỗ trợ kịp thời và hiệu quả Như vậy, với vai trò điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, thì các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy và thực thi có hiệu quả quá trình liên tục đổi mới công nghệ để nâng cao

Trang 35

26

khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

1.5 CÁC CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH CÁC DOANH NGHIỆP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

1.5.1 Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ của một số nước trên thế giới

Thái Lan

Thái Lan đã xây dựng Kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ 1997-2006, Quy hoạch ngành ô tô xe máy 2002-2006, Chiến lược quốc gia về khoa học và công nghệ 2004-2013, với mục tiêu cụ thể: tăng tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện ĐMCN lên 35%; phát triển kinh tế - xã hội hướng tới sự cân bằng giữa 3 khu vực (công nghiệp, kinh tế cộng đồng và xã hội) Để thực hiện chiến lược, Chính phủ Thái Lan đã xây dựng cơ chế phân cấp rõ ràng trong hoạt động quản lý, giám sát của các bộ/ngành từ trung ương đến địa phương, trên tinh thần hợp tác chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và nhà khoa học Không chỉ tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động ĐMCN, Thái Lan còn có nhiều chính sách ưu đãi tài chính giúp các doanh nghiệp công nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển hoạt động KH&CN như: Quỹ Phát triển ĐMCN dành cho các hoạt động R&D, trong đó doanh nghiệp phải

bỏ ra tối thiểu 50% tổng kinh phí, 50% còn lại sẽ được hỗ trợ với lãi suất thấp (1/3 được cho vay bởi các ngân hàng thương mại, 2/3 được hỗ trợ từ Quỹ); Quỹ R&D công nghệ sẽ hỗ trợ cho vay lãi suất thấp (5%/năm, thời gian 5-10 năm)

hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, làm chủ công nghệ được nhập khẩu

Chính phủ Trung Quốc còn có nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động ĐMCN như: (1) Lập quỹ hỗ trợ, quỹ đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp đang hoạt động tham gia ĐMCN thay vì xây dựng các doanh nghiệp mới; (2) Các doanh nghiệp được phép giữ lại 1-2% tổng lợi nhuận cho việc thử nghiệm các sản phẩm mới; (3) Thành lập các trung tâm phát triển công nghệ ở

Trang 36

Thời gian qua nhiều bộ luật quan trọng liên quan đến phát triển khoa học và công nghệ đã được ban hành và thực thi Bộ Khoa học và Công nghệ đã trình Quốc hội thông qua 8 đạo luật lớn, trong đó có các đạo luật cơ bản tác động trực tiếp đến hoạt động khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp như Luật Khoa học và Công nghệ (2013), Luật Sở hữu Trí tuệ (2005), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (2009), Luật Chuyển giao công nghệ (2006), Luật Công nghệ cao (2008) Đặc biệt, Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi được ban hành năm

2013 đã bổ sung những quy định mới, tạo hành lang và thủ tục thuận lợi để doanh nghiệp có thể huy động các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước và từ chính doanh nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ Để cụ thể hóa hơn nữa các quy định pháp luật về khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành nhiều chính sách có trọng tâm hướng vào phát triển năng lực khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp, như Nghị định 119/1999/NĐ-CP về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ, Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2025, Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp, Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, Chương trình quốc gia nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá Nghị định 119/1999/NĐ-CP ra đời với mục đích khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ nhằm đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển

Trang 37

28

sản xuất kinh doanh, tạo ra một đòn bẩy kích cầu về công nghệ Nghị định 119/1999/NĐ-CP đã thúc đẩy doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh trong bối cạnh hội nhập kinh

tế ngày càng sâu rộng Ngoài ra, Nghị định 119/1999/NĐ-CP đã góp phần tạo lập mối liên kết giữa các viện nghiên cứu/trường đại học với các doanh nghiệp

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ là một nội dung cơ bản của Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đên năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định 677/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2011 theo đó, doanh nghiệp được hỗ trợ trong các lĩnh vực: ứng dụng công nghệ thông tin; xây dựng hệ thống thông tin quản lý nguồn lực doanh nghiệp và quảng cáo sản phâm; xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghệ mới, công nghệ tiên tiến và lực lượng chuyên gia công nghệ; hỗ trợ việc hình thành các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp khoa học công nghệ nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất sản phẩm mới

Ngày 16/5/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 Nghị quyết 35/NQ-CP đã thể hiện sự quyết liệt của Chính phủ trong việc đổi mới môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới Ưu điểm nổi bật của Nghị quyết 35/NQ-CP là Chính phủ tập trung, đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo lập môi trường pháp lý và môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho hoạt động đổi mới sáng tạo; đồng thời có những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ các dự án đổi mới sáng tạo, các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.Từ nay đến năm 2020, có khoảng 30 - 35% doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đổi mới sáng tạo hàng năm

là một trong các mục tiêu mà Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 đã xác định Chính phủ đã giao cho Bộ Khoa học và công nghệ triển khai Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016

Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã trình Chính phủ cho phép thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và gần đây là Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia Các Quỹ này đã mở thêm kênh tài chính cung cấp các khoản tài trợ, hỗ trợ vốn vay, bảo lãnh tín dụng nhằm giúp doanh nghiệp, đăc biệt là doanh nghiệp nhỏ

và vừa tiến hành các hoạt động nghiên cứu, đổi mới, phát triển công nghệ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, nỗ lực thu hút, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ cũng được các bộ, ngành khác quan tâm và xây dựng thành các chương trình hỗ trợ như: Chương trình nghiên

Trang 38

29

cứu khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia phát triển công nghiệp hoá dược đến năm 2020 của Bộ Công Thương, Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vục nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đề án "Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông" của Bộ Thông tin và Truyền thông…

1.5.2.2 Các cơ chế, chính sách của tỉnh có liên quan hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp

Ngoài các bộ Luật, văn bản dưới Luật có liên quan đến đến hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ,tỉnh Hòa Bình cũng có những cơ chế khuyến khích, hỗ trợ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Những cơ chế đó thể hiện trong các nghị quyết, quyết định sau đây:

- Nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 20/9/2006 của Tỉnh ủy Hòa Bình về thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

- Quyết định số 04/2011/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình ngày 21/4/2011 quy định và quản lý, khuyến khích đầu tư

- Văn bản số 1022/2011/VP-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình ngày 05/8/2011 đảm bảo thực hiện dự án theo quyết định số 04/2011/QĐ-UBND

- Quyết định số 3112/QĐ-UBND ngày 19/12/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình Quyết định thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Hòa Bình

- Quyết định số 928/QĐ-UBND ngày 06/4/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc phê duyệt Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) tổ chức và hoạt động Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình

- Quyết định số 09/2008/QĐ-UBND ngày 16/5/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình Quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, xác lập quyền sở hữu công nghiệp và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến cho các

tổ chức và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

- Quyết định số 3157/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình ngày 14/12/2016 về việc Phê duyệt Đề án Phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030

- Kế hoạch số 67/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình ngày 06/6/2017 ban hành Kế hoạch khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Hòa Bình giai

Trang 39

Năm ban hành

I Các chính sách Trung

ƣơng

1 Ƣu đãi về các loại thuế

suất, tiền thuê đất, tín dụng

đối với doanh nghiệp đầu

tƣ vào hoạt động khoa học

và công nghệ

2 Ƣu đãi về thuế thu nhập

doanh nghiệp đối với

doanh nghiệp khoa học và

công nghệ

3 Hỗ trợ doanh nghiệp đẩy

mạnh việc đổi mới, nâng

cao trình độ công nghệ

thông qua Quỹ đổi mới

công nghệ quốc gia

4 Hỗ trợ trong các lĩnh vực:

xây dựng cơ sở dữ liệu về

công nghệ mới, công nghệ

tiên tiên; hỗ trợ việc hình

thành các cơ sở ƣơm tạo

doanh nghiệp khoa học

công nghệ nghiên cứu, ứng

Trang 40

31

5 Hỗ trợ, tài trợ, cho vay cho

các nhiệm vụ, dự án đổi

mới công nghệ từ Quỹ Đổi

mới công nghệ Quốc gia

thành lập Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia

và các văn bản pháp luật liên quan

BKHCN

06/2014/TT-2014

BTC-BKHCN

7 Hỗ trợ ứng dụng, chuyển

giao tiến bộ khoa học và

công nghệ thúc đẩy phát

triển kinh tế - xã hội nông

thôn, miền núi, vùng dân

tộc thiểu số giai đoạn 2016

1 Hỗ trợ tài chính cho hoạt

động đầu tƣ đổi mới công

nghệ

Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình

UBND

09/2008/QĐ-2008

2 Hỗ trợ, tài trợ, cho vay,

bảo lãnh vốn vay đối với

các nhiệm vụ khoa học và

công nghệ cấp cơ sở, dự án

hoàn thiện công nghệ, ứng

dụng kết quả nghiên cứu

khoa học công nghệ vào

sản xuất… từ Quỹ phát

Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình

Ngày đăng: 22/01/2021, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (1999), Nghị định 119/1999/NĐ-CP về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ, Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 9 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 119/1999/NĐ-CP về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
2. Chính phủ (2007), Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Chính phủ ban hành ngày 19 tháng 5 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
3. Chính phủ (2009), Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
5. Chính phủ (2013), Nghị định 210/2013/NĐ-CP về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ ban hành ngày 19 tháng 12 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 210/2013/NĐ-CP về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
6. Chính phủ (2014), Nghị định 08/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng d n thi hành một số điều của Luật khoa học và công nghệ, Chính phủ ban hành ngày 27 tháng 01 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 08/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng d n thi hành một số điều của Luật khoa học và công nghệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
8. Phạm Thế Dũng (2009), Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và định hướng hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong một số ngành kinh tế, Đề tài khoa học cấp bộ của Bộ Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và định hướng hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong một số ngành kinh tế
Tác giả: Phạm Thế Dũng
Năm: 2009
9. Nguyễn Sĩ Lộc (2006), Quản lý công nghệ cho doanh nghiệp, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công nghệ cho doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Sĩ Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
10. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
11. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 677/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10 tháng 5 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 677/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020
12. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1342/QĐ-TTg về việc Thành lập Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 5 tháng 8 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1342/QĐ-TTg về việc Thành lập Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia
13. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 592/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 5 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: phê duyệt Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2012
14. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 917/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 11 tháng 6 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 917/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình đến năm 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2013
15. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 1051/QĐ-TTg về Ban hành Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 03 tháng 7 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1051/QĐ-TTg về Ban hành Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2013
17. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 1747/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 13 tháng 10 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1747/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2025
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2015
18. UBND tỉnh Hòa Bình (2007), Quyết định số 3112/QĐ-UBND Quyết định thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Hòa Bình, Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3112/QĐ-UBND Quyết định thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Hòa Bình
Tác giả: UBND tỉnh Hòa Bình
Năm: 2007
19. UBND tỉnh Hòa Bình (2008), Quyết định số 09/2008/QĐ-UBND Quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, xác lập quyền sở hữu công nghiệp và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến cho các tổ chức và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 09/2008/QĐ-UBND Quy định về cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, xác lập quyền sở hữu công nghiệp và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến cho các tổ chức và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Tác giả: UBND tỉnh Hòa Bình
Năm: 2008
20. UBND tỉnh Hòa Bình (2016), Quyết định số số 928/QĐ-UBND về việc phê duyệt Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) tổ chức và hoạt động Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình, Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số số 928/QĐ-UBND về việc phê duyệt Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) tổ chức và hoạt động Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình
Tác giả: UBND tỉnh Hòa Bình
Năm: 2016
7. Nguyễn Đăng Dậu và Nguyễn Xuân Tài (2007), Giáo trình Quản lý công nghệ, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân Khác
16. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 2075/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w