1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng chiến lược marketing mix nhằm thu hút khách quốc tế đến khu du lịch suối nước khoáng thanh tân, thừa thiên huế

117 157 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân chủ yếu là do ở Thanh Tân, cơ sở hạ tầng kĩ thuật cũng như chất lượng dịch vụ còn kém, sản phẩm du lịch còn đơn điệu,…nên Thanh Tân chưa đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu tiêu d

Trang 1

THANH TÂN, THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-***** -

NGUYỄN THỊ VUI

XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC MARKETING MIX NHẰM THU HÚT

KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN KHU DU LỊCH SUỐI NƯỚC KHOÁNG

THANH TÂN, THỪA THIÊN HUẾ

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS NGUYỄN TIÊN PHONG

Hà Nội 2017

Trang 3

HV: Nguyễn Thị Vui

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung được trình bày trong luận văn này là trung

thực, là sản phẩm trí tuệ của Tôi, dưới sự hướng dẫn của Thầy TS Nguyễn Tiên Phong Các tài liệu, số liệu thực tế được lấy từ khu du lịch suối nước khoáng Thanh

Tân, Thừa Thiên Huế Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tinh trung thực trong bài luận văn này

Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Vui

Trang 4

HV: Nguyễn Thị Vui

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài “Xây dựng chiến lược Marketing mix nhằm

thu hút khách quốc tế đến khu du lịch suối nước khoáng Thanh Tân, Thừa Thiên

Huế” em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các Thầy giáo,

cô giáo, bạn bè

Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy: TS Nguyễn Tiên Phong đã hướng

dẫn em trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Viện Đào

Tạo Sau Đại Học, Viện Kinh Tế Và Quản Lý đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em

trong suốt quá trình học tập của khóa học

Em xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh Đạo, các Anh, Chị, Em nhân

viên Khu du lịch suối nước khoáng Thanh Tân, Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện về

việc khảo sát, cung cấp tài liệu trong suốt quá trình em thực hiện đề tài này

Mặc dù em đã thực sự cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi những sai

xót E rất mong nhận được sự góp ý từ phía Thầy, Cô để em hoàn thiện luận văn

này

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2017

Tác Giả

Nguyễn Thị Vui

Trang 5

HV: Nguyễn Thị Vui 1

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU 6

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 6

1.2.2.1 Xác định thị trường mục tiêu và định vị hàng hóa dịch vụ đó trên thị trường

26

Trang 6

HV: Nguyễn Thị Vui 2

1.3.1 Phân tích nhu cầu và xu hướng trong môi trường vĩ mô 27

Trang 7

HV: Nguyễn Thị Vui 3

1.6 Ý nghĩa của việc thu hút khách quốc tế trong kinh doanh du lịch 44

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG CHIÊN LƯỢC

MARKETING MIX CHO KHU DU LỊCH SUỐI NƯỚC KHOÁNG tHANH

2.1 Giới thiệu khái quát về khu du lịch Suối nước khoáng Thanh Tân – Thừa Thiên

2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm của khu du lịch Thanh Tân 46

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ và cách thức tổ chức bộ máy quản lý của Khu du lịch

2.1.4.2 Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 48

2.2 Thực trạng chiến lược marketing mix tại khu du lịch Suối nước khoáng Thanh

Trang 8

HV: Nguyễn Thị Vui 4

2.3 Thực trạng hiệu quả chiến lược marketing mix thu hút khách quốc tế đến khu du

lịch suối nước khoáng Thanh Tân giai đoạn 2014 -2016 60

2.3.1 Tinh hình thu hút khách quốc tế đến Thanh Tân giai đoạn 2014 -2016 60

2.3.2 Tình hình ngày khách quốc tế tại Thanh Tân giai đoạn 2014-2016 62

2.2.3 Phân tích cơ cấu nguồn khách quốc tế của Thanh Tân theo quốc tịch 63

2.3.5 Đặc điểm tâm lý tiêu dùng trong du lịch của khách quốc tế mục tiêu của

2.3.6 Kết quả điều tra nhu cầu du lịch tại Thanh Tân của khách quốc tế trên địa

2.3.7 Phân Tích môi trường marketing đối với Thanh Tân 78

2.3.8 Phân tích ma trận SWOT về khả năng thu hút khách quốc tế đến Thanh Tân 83

CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC MARKETING MIX NHẰM THU HÚT KHÁCH

QUỐC TẾ ĐẾN KHU DU LỊCH SUỐI NƯỚC KHOÁNG THANH TÂN –

3.1.1 Mục tiêu của việc phát triển du lịch tại Thanh Tân 86

3.1.2 Đánh giá những mặt thuận lợi và hạn chế, khó khăn 86

3.1.3 Kết quả điều tra nhu cầu du lịch tại Thanh Tân của khách quốc tế trên địa bàn

Trang 9

3.4 Dự báo xu hướng nhu cầu của khách quốc tế tại Thanh Tân trong tương lai 100

3.5 Các vấn đề ưu tiên khi thực hiện các giải pháp chiến lược marrketing mix tại

Trang 10

Bảng 2.5: Nguồn khách quốc tế đến Thanh Tân giai đoạn 2014 - 2016 61

Bảng 2.6: Tình hình ngày khách quốc tế tại Thanh Tân 62

Bảng 2.7: Cơ cấu nguồn khách quốc tế của Thanh Tân theo quốc tịch 64

Bảng 2.8: Tình hình thu hút khách quốc tế của Thanh Tân qua từng tháng 65

Bảng 3.3.3.1: Bảng chi phí thay đổi chiến lược marketing mix 99

Bảng 3.3.3.2: Kết quả dự báo số lượng khách quốc tế đến Thanh Tân và

tổng doanh thu giai đoạn 2017 - 2020

100

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỀU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ biểu diễn quy luật thời vụ của khách quốc tế đến Thanh

Tân

66

Trang 11

HV: Nguyễn Thị Vui 7

LỜI MỞ ĐẦU

- Lý do chọn đề tài

Trong hơn hai thập kỉ qua, do nền kinh tế ngày một phát triển làm cho cuộc

sống của con người ngày càng được cải thiện tốt hơn, du lịch đã trở thành một nhu

cầu cần thiết và là một trào lưu trong xã hội mới Dưới sức ép của công việc cũng

như cuộc sống bề bộn hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với tình trạng căng

thẳng, mệt mỏi và sự ô nhiễm của môi trường xung quanh, họ luôn mong muốn

được thoát khỏi cái môi trường sống hàng ngày nhàm chán ấy để hướng đến những

vùng đất còn hoang sơ với những phong cảnh tuyệt đẹp, nơi có những người dân

chân chất, thật thà, hiếu khách và những giá trị tài nguyên thiên nhiên có tác dụng

phục hồi trí lực và thể lực sau những ngày làm việc mệt mỏi Chính vì vậy, du lịch

nghỉ dưỡng kết hợp với du lịch sinh thái ngày nay đã trở thành loại hình du lịch được

nhiều người ưa chuộng và ngày càng phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu

Nằm trong quỹ đạo phát triển chung của du lịch thế giới, ngành du lịch Việt

Nam nói chung và của Thừa Thiên Huế nói riêng đã có những bước đi phù hợp,

hướng sự quan tâm đến việc phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng kết hợp với du

lịch sinh thái trên cơ sở khai thác theo hướng bền vững nguồn tài nguyên du lịch

đặc thù của địa phương

Là một khu chữa bệnh, nghỉ dưỡng, với phong cảnh thiên nhiên quyến rũ, khu du

lịch Thanh Tân đang là địa chỉ cho nhiều du khách trong nước cũng như quốc tế tìm đến

Điểm khác biệt cũng là điểm nhấn của khu du lịch này so với các khu du lịch

sinh thái khác là du khách có thể tìm đến Thanh Tân bất kỳ mùa nào trong năm

Đến đây, du khách không chỉ được tận hưởng những tặng phẩm quý giá từ thiên

nhiên mang lại như ngâm tắm ở suối nước nóng, đắm mình trong không gian lãng

mạn tĩnh lặng của những vườn hoa với những cánh hoa dại phảng phất mùi hương

lạ, lắng nghe bản hòa tấu trữ tình của những côn trùng mà còn được đi bộ và hít thở

không khí trong lành vào những ban mai, cảm nhận cảm giác mạo hiểm khi leo núi

Vào những ngày mùa hè nắng nóng, du khách có thể thả mình theo dòng nước mát

với trò chơi trượt thác chui ống, tắm biển nhân tạo, hồ phun nước… Cảnh vật nơi

đây đã thực sự lôi cuốn con người làm cho những lo toan mệt nhọc của cuộc sống

đời thường như được cuốn trôi

Trang 12

HV: Nguyễn Thị Vui 8

Tuy là một khu du lịch đầy tiềm năng như vậy song trong thời gian qua, Thanh

Tân vẫn chưa đạt được những kết quả kinh doanh tương xứng với tiềm năng vô giá

của mình, doanh thu du lịch thực sự chưa cao trong đó doanh thu từ nguồn khách

quốc tế là không đáng kể, thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế còn quá

thấp, nói cách khác, Thanh Tân vẫn chưa thu hút được sự quan tâm của đông đảo

khách du lịch nước ngoài Nguyên nhân chủ yếu là do ở Thanh Tân, cơ sở hạ tầng

kĩ thuật cũng như chất lượng dịch vụ còn kém, sản phẩm du lịch còn đơn

điệu,…nên Thanh Tân chưa đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng cao cấp của

khách du lịch quốc tế, một đối tượng khách hàng đầy tiềm năng với mức tiêu dùng

trong du lịch khá cao

Xuất phát từ thực trạng trên, việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp thiết thực

nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại, nâng cao mức độ thỏa mãn nhu cầu du

lịch nhằm khai thác hiệu quả hơn nguồn khách này trong tương lai để đem lại lợi

nhuận cao cũng như giúp Thanh Tân từng bước khẳng định được vị thế trên thị

trường du lịch trong nước và thế giới đã trở thành một vấn đề hết sức quan trọng và

mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết Đó cũng chính là lý do tôi đã chọn đề tài :

“CHIẾN LƯỢC MARKETING MIX NHẰM THU HÚT KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN

KHU DU LỊCH SUỐI NƯỚC KHOÁNG THANH TÂN – THỪA THIÊN HUẾ”

cho luận văn thạc sỹ của mình

* Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng, phân tích các căn cứ và đề xuất chiến lược marketing

mix tích cực nhằm thu hút khách quốc tế đến khu du lịch suối nước khoáng Thanh

Tân, Thừa Thiên Huế

* Đối tượng nghiên cứu

Chiến lược marketing mix tại Thanh Tân

* Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: tại khu du lịch suối nước khoáng Thanh Tân – Thừa

Thiên Huế

- Phạm vi thời gian: giai đoạn 2014-2016

* Phương pháp thu thập số liệu

- Phân loại số liệu

Trang 13

HV: Nguyễn Thị Vui 9

Số liệu được thu thập để sử dụng cho mục đích nghiên cứu của đề tài có thể

được chia thành 2 loại cơ bản:

- Số liệu sơ cấp: được thu thập thông qua các phiếu trưng cầu ý kiến của khách

hàng tức thông qua phương pháp bảng hỏi và phương pháp quan sát trực tiếp

- Số liệu thứ cấp: được thu thập được thu thập thông qua phương pháp thống

* Nguồn số liệu

- Nguồn của số liệu sơ cấp là các khách hàng quốc tế được phỏng vấn trực tiếp

bằng bảng hỏi trên địa bàn thành phố Huế và tại khu du lịch Suối Nước Khoáng

Thanh Tân, Thừa Thiên Huế

- Nguồn của số liệu thứ cấp là số liệu từ các báo cáo tổng kết cuối năm của các

năm từ 2014 đến 2016

* Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu

sau đây:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp này được sử dụng để thu thập các thông tin cần thiết trên cơ sở

xây dựng các bảng biểu mẫu số liệu để lấy các thông tin số liệu về nguồn khách

cũng như hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch phù hợp cho mục đích nghiên cứu

của đề tài Phương pháp này được thực hiện chủ yếu tại Khu du lịch Thanh Tân

- Phương pháp phân tổ, hệ thống

Trong quá trình phân tích số liệu, phương pháp phân tổ, hệ thống là một trong

những công cụ đắc lực giúp tổng hợp và hệ thống hóa số liệu điều tra Việc phân tổ

số liệu được thực hiện dựa trên một số tiêu chí phù hợp với ý đồ của người thực

hiện nghiên cứu Ví dụ trong đề tài thạc sỹ này, để tổng hợp và hệ thống hóa số liệu

về thực trạng nguồn khách quốc tế nhằm dễ dàng hơn cho việc phân tích số liệu, tôi

đã tiến hành phân tổ khách quốc tế theo tiêu chí quốc tịch như Pháp, Mỹ, lào,

Campuchia,….Thông qua đó tôi có thể phân tích được kết cấu của nguồn khách

quốc tế, nắm được đối tượng khách hàng mục tiêu của Thanh Tân trong giai đoạn

2014-2016

- Phương pháp chuyên gia

Trang 14

HV: Nguyễn Thị Vui 10

Phương pháp chuyên gia là việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong

lĩnh vực nghiên cứu Thông qua những ý kiến đóng góp của giáo viên hướng dẫn và

Ban quản lý Khu du lịch Thanh Tân đã giúp tôi xây dựng được những định hướng

quan trọng trong hướng giải quyết những vấn đề đặt ra cho đề tài nghiên cứu

- Phương pháp bảng hỏi ( hay phương pháp trưng cầu ý kiến )

Đây là phương pháp thu thập số liệu sơ cấp thông qua việc thăm dò ý kiến

khách hàng bằng các câu hỏi được hệ thống một cách logic phù hợp với mục đích

nghiên cứu của đề tài

Có thể nói, Thanh Tân đã được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho một nguồn tài

nguyên vô giá, đó là hệ thống các suối nước khoáng nóng dường như vô tận được

bao quanh bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ, nơi đây là điểm du lịch lý tưởng cho những

ai muốn đến thư giãn sau những ngày làm việc mệt mỏi Mặc dù vậy trong thời gian

qua, lượng khách quốc tế tìm đến với điểm du lịch này vẫn còn rất ít ỏi, do đó

doanh thu du lịch từ nguồn khách này gần như là không đáng kể Đây quả thật là

một điều vô cùng đáng tiếc cho Thanh Tân

Xuất phát từ thực tế bức thiết đó, tôi đã mạnh dạn tiến hành một cuộc điều tra

thăm dò nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng kết hợp với du lịch sinh thái của khách quốc tế

về Thanh Tân thông qua phương pháp bảng hỏi trên địa bàn thành phố Huế

Cuộc trưng cầu ý kiến khách du lịch quốc tế được tiến hành trong khoảng thời

gian từ ngày 15/03/2017 đến ngày 15/04/2017, 350 phiếu điều tra được phát ra và

số phiếu hợp lệ được thu hồi là 300 phiếu Đối tượng được chọn để tiến hành phỏng

vấn là khách quốc tế từ nhiều thành phần dân tộc với nghề nghiệp, độ tuổi cũng như

trình độ học vấn khác nhau nhằm đảm bảo tính đại diện và khách quan cho kết quả

nghiên cứu

- Tôi đã sử dụng phương pháp bảng hỏi này nhằm mục đích:

 Nhận biết được cách tiếp cận thông tin về các điểm du lịch tự nhiên tại Huế

nói chung và Thanh Tân nói riêng Từ đó nhận biết được các kênh cung cấp thông

tin hiệu quả nhất cho khách để khách có thể tiếp cận được thông tin về Thanh Tân

một cách dễ dàng hơn

 Nhận biết được các yếu tố du lịch mà khách quốc tế quan tâm khi đến Thanh

Tân như các loại hình du lịch, chất lượng dịch vụ,…

Trang 15

HV: Nguyễn Thị Vui 11

 Xác định nhu cầu tham gia vào các loại hình du lịch nghỉ dưỡng kết hợp với

du lịch sinh thái của khách quốc tế tại Thanh Tân, từ đó xác định được thị trường

tiềm năng của Thanh Tân trong tương lai

 Dự báo được xu hướng phát triển nhu cầu của khách quốc tế đến Thanh Tân

trong tương lai làm cơ sở cho việc hoạch định các giải pháp nhằm khai tác hiệu quả

đối tượng khách hàng này

- Bố cục của đề tài

Nội dung của luận văn này được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về marketing dịch vụ, chiến lược marketing mix

Chương 2: Phân tích căn cứ để xây dựng chiến lược marketing mix cho khu du

lịch suối nước khoáng Thanh Tân, Thừa Thiên Huế

Chương 3: Chiến lược marketing mix nhằm thu hút khách quốc tế đến Khu du

lịch Suối nước khoáng Thanh Tân – Thừa Thiên Huế

Trang 16

Marketing dịch vụ là sự phát triển lý thuyết marketing vào lĩnh vực dịch vụ •

Là quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thoả mãn những nhu cầu của thị trường

mục tiêu đối với một dịch vụ nhất định và được thực hiện bằng quá trình phân phối

các nguồn lực của một tổ chức dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu đó

• Sự thoả mãn của KH và sự cung ứng dịch vụ phụ thuộc vào nhân viên

• Không đảm bảo dịch vụ sẽ được cung ứng như Tiêu chuẩn hoá Không

đồng nhất kế hoạch truyền thông đã cam kết

• Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào những yếu tố không thể kiểm soát

• Khách hàng tham gia và tác động vào giao dịch Sản xuất

• Các khách hàng ảnh hưởng lẫn nhau

• Rất khó khăn để sản xuất hàng loạt

• Rất khó để cân bằng giữa cung và cầu không thể tồn kho

• Dịch vụ không thể hoàn trả và khó bán lại

1.1.3 Chiến lược marketing dịch vụ

1.1.3.1 Chính sách sản phẩm

Khái niệm sản phẩm Theo quan điểm của Philip Kotler thì “Sản phẩm là bất

cứ cái gì có thể đưa vào thị trường để tạo ra sự chú ý, mua sắm hay tiêu thụ nhằm

thoả mãn một nhu cầu hay ý muốn” Nó có thể là những vật thể, dịch vụ của con

người, địa điểm, những tổ chức và những ý nghĩa sản phẩm đem lại lợi ích cho con

người Người mua hàng hóa hay dịch vụ chính là người đem lại giá tri, lợi ích của

sản phẩm cho họ

Sản phẩm du lịch là toàn bộ những hàng hóa và dịch vụ cung ứng cho khách

du lịch trong quá trình du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của họ Sản phẩm của doanh

Trang 17

HV: Nguyễn Thị Vui 13

nghiệp lữ hành là những chương trình du lịch (tuor) cung cấp cho khách du lịch

Chương trình này bao gồm nhiều loại hàng hóa và dịch vụ du lịch như: Khách sạn,

nhà hàng Đối với người làm Marketing thì giá trị sản phẩm là giá trị những nhân

tố đầu vào cho việc sản xuất sản phẩm Nhưng đối với khách hàng thì giá trị sản

phẩm là sự cảm nhận của khách sau khi tiêu dùng

Chính sách sản phẩm được hiểu là một chủ trương của doanh nghiệp về việc

hạn chế, duy trì, phát triển, mở rộng đổi mới cơ cấu mặt hàng nhằm đáp ứng kịp

thời nhu cầu của thị trường với hiệu quả phù hợp với các giai đoạn chu kỳ sống của

sản phẩm Sản phẩm du lịch là các chương trình du lịch, các dịch vụ lưu trú, ăn

uống,…Do vậy đặc trưng của sản phẩm du lịch là phải sử dụng thì mới biết Sản

phẩm du lịch phải bán cho khách trước khi họ tiêu dùng và thấy sản phẩm đó Vì

thế khách hàng cần phải được thông tin một cách kỹ lưỡng về tất cả những gì mà họ

sẽ mua, sẽ sử dụng,…Do đó cần phải có một kinh nghiệm tích luỹ Mặt khác, sản

phẩm du lịch không lưu trữ được, không sản xuất trước được, do vậy việc điều hoà

cung cầu là rất khó khăn Một chương trình du lịch vốn là một chỉnh thể hoàn chỉnh

chứa đựng những yếu tố, đặc tính thông tin khác nhau về một sản phẩm hàng hoá

Những yếu tố, đặc tính, thông tin đó có thể có những chức năng khác nhau Khi tạo

ra một chương trình du lịch, giá trị của nó được thể hiện thông qua cấp độ sản

phẩm Cấp độ sản phẩm có thể gồm 4 cấp:

+ Sản phẩm cơ bản: đây là lý do chính mà khách hàng tìm mua

+ Sản phẩm mong đợi: gồm sản phẩm cơ bản và một số điều kiện tối thiểu khi

sử dụng hoặc mua bán

+ Sản phẩm tăng thêm: mình nhận được nhiều hơn mình mong đợi

+ Sản phẩm tiềm năng: gồm tất cả đặc trưng cơ bản bổ sung và những lợi ích

tiềm năng và có thể được người mua sử dụng Do vậy người làm Marketing phải

sản xuất sản phẩm dịch vụ gì để cho khách hàng nhận ra được đó là dịch vụ tăng

thêm, để khuyến khích khách hàng quay trở lại Cấp độ sản phẩm có thể gồm 2 cấp

độ: sản phẩm dịch vụ cốt lõi và sản phẩm dịch vụ bổ sung…Thông qua nhãn hiệu

của công ty và hãng mà người ta cho rằng sản phẩm ngoại vi đó hấp dẫn đối với họ

Khi sản phẩm dịch vụ có thương hiệu tốt có vị thế thì sẽ đạt được lợi thế cạnh tranh

Trang 18

HV: Nguyễn Thị Vui 14

trên thương trường Mức độ cạnh tranh giữa các dịch vụ khách hàng nếu ai cũng

giống ai thì dần dần thị trường coi là hàng hoá không có gì khác biệt Do vậy người

làm Marketing cần ngăn chặn sự rơi xuống của các sản phẩm dịch vụ này để cố

gắng giữ sản phẩm của mình ở trên do đó cần phải có dịch vụ khách hàng để tạo ra

sự riêng biệt, hấp dẫn

Khi thực hiện chiến lược sản phẩm du lịch của mình các doanh nghệp cần phải

quyết định hàng loạt các vấn đề có liên quan: Quyết định dịch vụ cơ bản: là những

dịch vụ cung cấp những lợi ích cơ bản cho khách hàng Đó chính là động cơ để

người mua tìm đến tiêu dùng một loại dịch vụ này chứ không phải là dịch vụ khác

Và căn cứ vào thị trường mục tiêu mà người làm Marketing quyết định dịch vụ cơ

bản và lợi ích cơ bản mà khách hàng tìm kiếm Từ đó doanh nghiệp có thể cung cấp

các chương trình du lịch: du lịch văn hoá, du lịch lễ hội,… Quyết định về dịch vụ

ngoại vi: có 2 loại dịch vụ ngoại vi Một là dịch vụ nhằm tăng thêm giá trị cung cấp

cho khách hàng có thể cùng nằm trong hệ thống dịch vụ cơ bản và tăng thêm lợi ích

cơ bản Hai là các dịch vụ độc lập mang lại lợi ích phụ thêm cho khách hàng Thông

qua hai loại dịch vụ này thì dịch vụ cơ bản ít thay đổi và dịch vụ ngoại vi thì ít

thường xuyên thay đổi Và khách hàng thường nhận biết khách sạn này với khách

sạn kia hoặc hãng này với hãng kia thông qua dịch vụ ngoại vi Nguyên tắc hình

thành dịch vụ cơ bản và dịch vụ ngoại vi xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và

tình thế cạnh tranh ở trên thị trường Quyết định dịch vụ sơ đẳng: Doanh nghiệp

cần phải quyết định cung ứng cho khách hàng cấu trúc dịch vụ cơ bản hoặc dịch vụ

ngoại vi đạt tới độ chính xác nào đó Mức lợi ích nhất định mà khách hàng nhận

được tương ứng với các chi phí đã thanh toán Quyết định về dịch vụ tổng thể: Là

hệ thống dịch vụ bao gồm : dịch vụ cơ bản, dịch vụ ngoại vi và dịch vụ sơ đẳng mà

doanh nghiệp cung ứng cho khách hàng Dịch vụ tổng thể sẽ mang lại lợi ích tổng

thể khi khách hàng tiêu dùng dịch vụ Khi quyết định cung cấp một dịch vụ tổng thể

cần căn cứ vào lợi ích tổng thể hệ thống dịch vụ của công ty mang lại và so sánh

chúng với dịch vụ tổng thể của đối thủ cạnh tranh Mỗi một dịch vụ sẽ có một hệ

thống tạo ra dịch vụ khác nhau Với mỗi khách hàng sẽ có một dịch vụ tổng thể

khác nhau phụ thuộc vào khả năng thanh toán và nhu cầu,… Sự đa dạng hoá của

dịch vụ được đánh giá thông qua chiều dài, chiều rộng, chiều sâu và tính đồng nhất

Trang 19

HV: Nguyễn Thị Vui 15

của danh mục sản phẩm Danh mục sản phẩm là tập hợp các nhóm chủng loại sản

phẩm dịch vụ mà các đơn vị hàng hoá do mọi người bán cụ thể đem ra chào bán cho

người mua Chủng loại sản phẩm dịch vụ có liên quan chặt chẽ với nhau do giống

nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng một nhóm khách hàng, hay thông

qua cùng một kiểu tổ chức thương mại hay trong khuôn khổ của một dãy giá Bề

rộng danh mục sản phẩm dịch vụ là tổng số các nhóm chủng loại hàng hoá do công

ty sản xuất Mức độ phong phú của danh mục sản phẩm dịch vụ ( chiều dài) là tổng

số những mặt hàng, thành phần của nó Bề sâu của danh mục sản phẩm dịch vụ là

tổng số các hàng hoá cụ thể được chào bán trong từng mặt hàng riêng của nhóm

chủng loại Tính đồng nhất của nó phản ánh mức độ gần gũi, hài hoà của hàng hoá

thuộc các nhóm chủng loại khác nhau xét theo góc độ mục đích sử dụng cuối cùng

hoặc những yêu cầu về tổ chức sản xuất, các kênh phân phối hay một tiêu chuẩn nào

đó Danh mục sản phẩm dịch vụ ban đầu sẽ thoả mãn thị trường mục tiêu nhưng về

lâu dài sẽ có sản phẩm còn phù hợp hơn và lúc đó sản phẩm của doanh nghiệp trở

lên lỗi thời Do đó cần có định hướng chiến lược mở rộng ( phát triển ) danh mục

sản phẩm dịch vụ Đổi mới này sẽ dựa trên cơ sở nghiên cứu thị trường và thị

trường mục tiêu của doanh nghiệp Việc hoạch định chính sách phát triển và tăng

trưởng sản phẩm dịch vụ được tiến hành thông qua việc phân tích hai thông số

chính: sản phẩm và thị trường Từ đó, doanh nghiệp tuỳ vào tình hình cụ thể mà có

4 chính sách khác nhau:

+ Chính sách xâm nhập thị trường: Tức là phải khai thác sản phẩm hiện có

trong thị trường hiện có

+ Chính sách phát triển sản phẩm mới: Tức là trên cơ sở các nhu cầu khách

hàng và cạnh tranh trên thị trường mà chúng ta quyết định tạo sản phẩm mới để thu

hút thêm khách hàng và thoả mãn nhu cầu của khách

+ Chính sách phát triển thị trường: Tức là thu hút thêm tập khách mới trong

sản phẩm hiện có của doanh nghiệp

+ Chính sách đa dạng hoá: Tức là chúng ta tạo sản phẩm mới để thu hút thêm

tập khách mới

1.1.3.2 Chính sách giá

Trang 20

HV: Nguyễn Thị Vui 16

Giá cả mang nhiều tên gọi khác nhau Đằng sau của những tên gọi đó, các hiện

tượng giá cả luôn mang một ý nghĩa chung là: lợi ích kinh tế được xác định bằng

tiền Trong các công cụ Marketing mix chỉ có biến số giá cả là trực tiếp tạo doanh

thu và lợi nhuận thực tế Còn đối với người mua, giá cả là phải bỏ ra để sở hữu và

tiêu dùng hàng hóa Vì vậy những quyết định về giá luôn luôn giữ vai trò quan

trọng và phức tạp nhất mà một doanh nghiệp phải đối mặt khi soạn thảo các hoạt

động Marketing của mình

Chiến lược giá cả là việc xác định mục tiêu của chiến lược giá, lựa chọn

phương pháp định giá, các chiến lược giá của công ty Trong kinh doanh sản phẩm

hàng hoá thì chính sách giá khác với dịch vụ: Chính sách giá của dịch vụ để làm

tăng bằng chứng vật chất để khách hàng cảm nhận được chất lượng dịch vụ mà

mình mua để từ đó có thể tôn tạo được hình ảnh của dịch vụ Nếu sản phẩm chất

lượng tốt thì giá phải đặt cao để tôn vinh hình ảnh của chúng ta Nếu giá không

đúng thì việc truyền thông sẽ có tác dụng ngược lại Giá ảnh hưởng đến tất cả các

phần của kênh phân phối, những người bán, người cung cấp, đối thủ cạnh tranh,

khách hàng,…tất cả đều chịu tác động của chính sách giá Định giá hợp lý sẽ tạo

dựng một kênh phân phối hoạt động tốt, định nhãn thương hiệu cho các dịch vụ

cũng có thể cho phép chúng ta thực hiện chính sách giá cao Đối với hàng hoá bình

thường thì định giá dựa trên chi phí, còn đối với hàng hoá dịch vụ thì định giá dựa

trên giá trị cảm nhận của khách hàng, dựa vào tình hình cạnh tranh còn chi phí chỉ

là nền của giá Trong dịch vụ giá bao gồm giá trọn gói toàn phần hoặc giá từng

phần Đối với mỗi doanh nghiệp thì việc định giá cho sản phẩm dịch vụ của mình

đều phải phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp Mục tiêu định giá phải xuất phát

từ mục tiêu của doanh nghiệp và chất lượng định vị sản phẩm mà công ty đã lựa

chọn Trong điều kiện thị trường đầy rẫy những bất lợi thì mục tiêu định giá có thể

liên quan đến mức độ lợi nhuận trong tương lai để đảm bảo duy trì sự tồn tại Lợi

nhuận là trong tương lai còn trước mắt là phải tồn tại, bù đắp chi phí thậm chí giá

bán nhỏ hơn giá thành Mục tiêu định giá có thể là tối đa hoá lợi nhuận trong một

thời kỳ nhất định Mục tiêu định giá có thể làm tối đa hoá doanh số: dựa trên

nguyên tắc định giá để tạo ra thị phần, giá thấp hơn thì có thể tạo ra nhiều thị phần

hơn để xâm nhập vào thị trường mới Mục tiêu định giá có thể là để khẳng định vị

Trang 21

HV: Nguyễn Thị Vui 17

thế của mình giống như là một sự độc quyền (định giá uy tín) Mục tiêu định giá

trên cơ sở mong muốn thu hồi đầu tư trong một thời gian nào đấy

1.1.3.3 Chính sách phân phối

- Định nghĩa phân phối

Phân phối là quá trình tổ chức các hoạt động có liên quan đến việc điều hành và

vận chuyển sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng, nhằm tiêu thụ

được nhanh, nhiều với chi phí thấp nhất Phân phối trong marketing làm thay đổi sở hữu

của sản phẩm, doanh nghiệp phải xác lập những kênh phân phối thích hợp và sử dụng

những trung gian như nhà bán sỉ, nhà bán lẻ, đại lý hay môi giới để sản phẩm đến người

tiêu dùng một cách hợp lý nhất

Hệ thống kênh phân phối của doanh nghiệp gồm: Nhà sản xuất, người tiêu dùng;

Các trung gian; Hệ thống cơ sở vật chất; Bộ phận phục vụ khách hàng

Định nghĩa kênh phân phối

Kênh phân phối hàng hóa là một tập hợp các tổ chức hay cá nhân cùng làm nhiệm vụ

chuyển đưa hàng hóa, sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Kênh

phân phối tạo nên dòng chảy hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Ta có thể hiểu

kênh phân phối hàng hóa thông qua hình ảnh của kênh dẫn nước, kênh điện thoại hay kênh

truyền hình Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối được gọi là thành viên của

kênh, các trung gian thương mại nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng là

thành viên quan trọng trong nhiều kênh phân phối Có nhiều loại trung gian thương mại

tham gia vào kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau

- Chức năng kênh phân phối và vai trò của các trung gian thương mại

+ Chức năng

- Nghiên cứu thị trường nhằm giúp thông tin cần thiết để lập chiến lược phân phối

- Xúc tiến khuếch trương cho những sản phẩm họ bán, soạn thảo, truyền bá những

thông tin về hàng hóa

- Thương lượng: thỏa mãn việc phân chia trách nhiệm và quyền lợi trong kênh

Thỏa thuận với nhau về giá cả và những điều kiện phân phối khác

- Tiếp cận người mua hàng, thông tin và bán hàng: Doanh nghiệp phải tự tìm và

xác định xem ai là người mua hàng ở các giai đoạn khác nhau của kênh phân phối Họ

cần phải thông báo cho khách hàng biết về sản phẩm, đặc điểm tính chất của sản phẩm,

Trang 22

HV: Nguyễn Thị Vui 18

giá cả và các địa chỉ để giao hàng, bán hàng và cuối cùng họ nhận được đơn đặt hàng của

khách hàng

Vai trò

- Chiến lược phân phối có vai trò quan trọng trong hoạt động marketing giải quyết

việc vận chuyển sản phẩm đến người tiêu dùng

- Chiến lược phân phối hợp lý, thuận tiện cho người mua, sẽ góp phần cho sản

phẩm lưu thông thông suốt, sản phẩm sẽ dễ dàng, nhanh chóng đến người mua

- Doanh nghiệp sẽ bán được nhiều sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, góp phần chiếm

lĩnh thị trường cho sản phẩm

- Chiến lược phân phối tốt sẽ là một công cụ quan trọng để sản phẩm xâm nhập

vào thị trường mới Nếu chiến lược phân phối không hợp lý thì quá trình lưu thông sẽ

không thông suốt, tốn kém nhiều chi phí, kết quả thu không cao hoặc có khi lỡ mất cơ

hội bán hàng

Hệ thống kênh phân phối trong lĩnh vực du lịch gồm:

(1) Nhà sản xuất  Các chi nhánh và văn phòng đại diện  Khách du lịch

(2) Nhà sản xuất  Công ty lữ hành  Khách du lịch

(3) Nhà sản xuất  Công ty lữ hành  Đại lý du lịch bán buôn  Khách du lịch

(4) Nhà sản xuất  Công ty lữ hành  Đại lý du lịch bán buôn  Đại lý du lịch

bán lẻ  Khách du lịch

(5) Nhà sản xuất  Công ty lữ hành  Đại lý du lịch bán lẻ  Khách du lịch

(6) Nhà sản xuất  Đại lý du lịch bán buôn  Đại lý du lịch bán lẻ  Khách du lịch

(7) Nhà sản xuất  Đại lý du lịch bán lẻ  Khách du lịch

1.1.3.4 Chính sách xúc tiến, quảng bá

- Khái niệm

Xúc tiến bán hàng là bao gồm toàn bộ hoạt động hướng vào việc kích thích, tác

động làm thay đổi thị hiếu tiêu dùng hay gia tăng sự ham thích sản phẩm và khuếch

trương ảnh hưởng của công ty đến khách hàng thông qua việc sử dụng các cửa hiệu bán

hàng trực tiếp cho người tiêu dùng

Thông thường người bán lẻ thường bán nhiều sản phẩm nhỏ, người bán lẻ phục vụ

người tiêu dùng bằng cách cung cấp sản phẩm và dịch vụ thích hợp với yêu cầu của họ

Trang 23

HV: Nguyễn Thị Vui 19

Người bán lẻ phục vụ người sản xuất hoặc người bán buôn bằng cách liên kết họ với

người tiêu dùng Trung gian bán lẻ vạch ra được chính sách bán sao cho thu hút được

khách hàng Bất cứ trung gian bán lẻ nhỏ hay lớn đều tùy thuộc vào việc liên tục khuyến

khích khách hàng quen thuộc mua hàng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng người bán lẻ

mới tồn tại và phát triển

- Các chiến lược xúc tiến hỗn hợp

* Quảng cáo

Khái niệm:

Quảng cáo là hình thức giới thiệu một cách gián tiếp và đề cao những ý tưởng,

hàng hóa hoặc dịch vụ được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể quảng cáo, chủ thể phải

thanh toán các khoản chi phí

* Đặc điểm

+ Sự giới thiệu có tính đại chúng cao khiến cho sản phẩm có được sự thừa nhận và

hợp lý hóa về một cống hiến đã được tiêu chuẩn hóa

+ Tính lan truyền cho phép bên bán lặp lại nhiều lần một thông điệp truyền về qui

mô, tầm cỡ, sự nổi tiếng và thành công sản phẩm, hàng hóa được sản xuất

+ Sự diễn đạt khuếch trương

+ Tính tự do: quảng cáo không có tính thúc ép, áp đặt, không bó buộc phải chú ý

hay có đáp ứng nào đó vì thông tin quảng cáo truyền đi mang tính độc thoại, không phải

đối thoại

* Mục tiêu quảng cáo

+ Quảng cáo để thông tin: Tạo ra nhu cầu ban đầu là giới thiệu sản phẩm mới, thay

đổi giá, giải thích công dụng của sản phẩm, giới thiệu dịch vụ cần thiết, xây dựng hình

ảnh mới của công ty

+ Quảng cáo để thuyết phục: Đặc biệt ở giai đoạn cạnh tranh cần tạo ra sự ưa thích

và độc đáo cho hàng hóa, khuyến khích dùng thử nhãn hiệu, thay đổi nhận thức về tính

năng tác dụng sản phẩm, thuyết phục khách hàng dùng thường xuyên

+ Quảng cáo để nhắc nhở: Nhắc nhở sản phẩm có mặt tại điểm bán, lợi ích, thiết

thực, vừa lòng sản phẩm Thông thường mục tiêu quảng cáo hướng vào: Tăng số lượng

hàng tiêu thụ trên thị trường truyền thống; mở ra thị trường mới; giới thiệu sản phẩm

Trang 24

HV: Nguyễn Thị Vui 20

mới; xây dựng và củng cố uy tín của những nhãn hiệu hàng hóa và uy tín của doanh

nghiệp.Quảng cáo được sử dụng nhiều trong giai đoạn đầu của chu kỳ sống sản phẩm

* Nội dung quảng cáo

+ Sáng tác các nội dung thông báo: Dùng nhiều phương pháp diễn tả mục tiêu

quảng cáo như:

+ Phương pháp qui nạp: Thường được tiến hành từ các buổi nói chuyện, trao đổi

với khách hàng, nhà buôn, các chuyên gia và các đối thủ cạnh tranh Chắt lọc các ý

tưởng đó để phác họa những nét cơ bản cho nội dung cần quảng cáo

+ Phương pháp suy diễn: Được tiến hành dựa trên những phân tích và đánh giá từ

những suy nghĩ và lợi ích của khách hàng trên những mặt cảm tính, xã hội và khẳng định

trong sử dụng sản phẩm - Đánh giá và tuyển chọn nội dung

* Xác định ngân sách quảng cáo

Dựa vào mục tiêu quảng cáo để xác định phân phối ngân sách truyền thông cho

quảng cáo và hoạt động truyền thông khác Ngân sách quảng cáo cũng cần phân phối

hợp lý cho các loại sản phẩm, các thị trường cần hoạt động quảng cáo

* Quyết định phương tiện quảng cáo

Phương tiện quảng cáo mà doanh nghiệp quan tâm khi lựa chọn là mức độ trung

thành của khách hàng, mục tiêu đối với các phương tiện quảng cáo phải thích hợp với

hàng hóa đặc thù của thông tin, chi phí Đặc tính nổi bật của phương tiện quảng cáo mà

doanh nghiệp thường sử dụng là:

+ Báo chí: dễ sử dụng, kịp thời, phổ biến rộng rãi tại các thị trường địa phương, độ

tin cậy cao nhưng tuổi thọ ngắn, số lượng độc giả hạn chế

+ Tạp chí: Có độ lựa chọn theo dân số và địa lý cao, có uy tín, quan hệ với người

đọc lâu dài nhưng thời gian chờ đợi lâu, số lượng phát hành lãng phí

+ Truyền hình: Phương tiện này rất thông dụng khai thác đươc lợi thế về âm thanh,

ngôn ngữ, hình ảnh, mầu sắc, đối tượng khán giả rộng, thuộc nhiều tầng lớp xã hội, khả

năng truyền thông nhanh, dễ dàng tạo nên sự chú ý Tuy nhiên chi phí quảng cáo cao,

khán giả ít chọn lọc, thời gian quảng cáo quá ngắn

+ Radio: người nghe nhiều, chi phí thấp, có linh hoạt về địa lý nhưng vì chỉ giới

thiệu bằng âm thanh nên khả năng gây chú ý thấp

Trang 25

HV: Nguyễn Thị Vui 21

+ Ngoài ra các doanh nghiệp còn quảng cáo qua nhiều các phương tiện khác mỗi

loại phương tiện đều có những lợi thế và tác dụng nhất định

- Xúc tiến bán

Đây là nhóm công cụ truyền thông sử dụng hỗn hợp các công cụ cổ động, kích

thích khách hàng nhằm tăng nhanh nhu cầu về sản phẩm tại chỗ Xúc tiến tác động trực

tiếp, tích cực tới việc tăng doanh số bằng những lợi ích vật chất bổ sung cho người mua

Nhiệm vụ của xúc tiến Khuyến khích người tiêu dùng mua với khối lượng lớn và

mở ra khách hàng mới, khuyến khích lực lượng phân phối đẩy mạnh các hoạt động mua

bán, củng cố và dự trữ hàng hóa trên thị trường

* Các nhóm công cụ xúc tiến

Nhóm công cụ tạo nên lợi ích kinh tế trực tiếp thúc đẩy người tiêu dùng gồm: hàng

mẫu, phiếu thưởng, gói hàng chung quà tặng

+ Hàng mẫu: Có chức năng khuyến khích dùng thử một số hàng mẫu miễn phí

hoặc với giá bán rất hạ Hàng mẫu có thể phân phối tại các cửa hàng hoặc gửi đến tận

nhà qua đường bưu điện hay qua đội ngũ nhân viên tiếp thị

+ Phiếu thưởng: Là giấy chứng nhận cho người khách được giảm một khoản tiền

nhất định khi mua một sản phẩm của doanh nghiệp Phương thức này rất hiệu quả đối

với kích thích tiêu dùng sản phẩm mới, nhãn hiệu mới

+ Gói hàng chung quà tặng: Là gói hàng giới thiệu một số sản phẩm hàng hóa nhất

định nhưng bán với giá hạ

+ Phương tiện phổ biến tài liệu: Cần quyết định và phát hành tài liệu cần thiết cho

những người tại gia sử dụng các công cụ trên

+ Xác định ngân sách xúc tiến: Có thể xác định ngân sách theo nhiệm vụ hoàn

thành hoặc theo tỷ lệ % của ngân sách Hiệu quả của chương trình được đánh giá dựa

trên kết quả làm tăng doanh số của doanh nghiệp sản xuất, thường sử dụng phương pháp

so sánh các chỉ tiêu doanh số tiêu thụ của thời gian trước, trong và sau khi thực hiện

chương trình Thu hút được nhiều khách hàng mới và sau khi kết thúc tỷ phần tăng lên,

chứng tỏ nhiều khách hàng mới đã tin tưởng và tiêu dùng hàng hóa của doanh nghiệp

- Tuyên truyền

* Bản chất của tuyên truyền

Trang 26

HV: Nguyễn Thị Vui 22

+ Tuyên truyền là sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng truyền tin

không mất tiền về hàng hóa - dịch vụ và về doanh nghiệp tới khách hàng hiện tại, khách

hàng tiềm năng, nhằm đạt mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp

+ Tuyên truyền là một bộ phận cấu thành của khái niệm tổ chức dư luận xã hội, dư

luận thị trường: cho doanh nghiệp có danh tiếng tốt, hình ảnh tốt, xử lý các tin đồn, các

hình ảnh bất lợi đã lan tràn ra ngoài

+ Tuyên truyền có tác động sâu sắc đến mức độ hiểu biết của xã hội, có khả năng

thuyết phục người mua lớn và tốn kém hơn nhiều so với hoạt động quảng cáo

+ Nội dung cơ bản của tuyên truyền gồm :

+ Tuyên truyền cho sản phẩm: Gồm các nỗ lực khác nhau làm cho công chúng

biết về sản phẩm

+ Tuyên truyền hợp tác: Hoạt động này gồm nhiều việc truyền thông trong nội bộ

cũng như bên ngoài để người ta hiểu về tổ chức của mình nhằm tạo một hình ảnh tốt đẹp,

tăng ưu thế của doanh nghiệp

+ Vận động hành lang: Là việc giao tiếp với các nhà làm luật, quan chức nhà nước

để ủng hộ hay cản trở một sắc luật nào đó

+ Tuyên truyền là xử lý một vụ bất lợi cho doanh nghiệp đang lan truyền ra ngoài

* Quyết định về tuyên truyền

+ Xác định mục tiêu: Mục tiêu tuyên truyền xuất phát từ mục tiêu marketing của

doanh nghiệp Để thực hiện nhiệm vụ của mục tiêu chiến lược đặt ra tuyên truyền phải

chi tiết hóa để có được mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể đối với các loại sản phẩm hàng hóa

trong từng thời kỳ khác nhau trên các thị trường Mục tiêu càng chi tiết, cụ thể và rõ nét

thì tổ chức hoạt động có thuận lợi, mục tiêu có thể là sự thuyết phục, hướng dẫn, khuyên

nhủ, vận động, thuyết minh, đối với công chúng, đồng thời thực hiện nhiệm vụ của

doanh nghiệp

+ Thiết kế thông điệp và chọn công cụ tuyên truyền: Đó là những câu chuyện hay

các bài viết lý thú nói về sản phẩm hay doanh nghiệp Đây là một nghệ thuật sáng tạo,

người tuyên truyền đang tạo tin tức chứ không còn tìm tin tức nữa Công cụ thường là

tivi, báo chí, tạp chí Tạo sự kiện là phương tiện đặc biệt cho tuyên truyền gồm biểu diễn

thời trang, liên hoan văn nghệ, các cuộc thi

Trang 27

HV: Nguyễn Thị Vui 23

+ Thực hiện tuyên truyền: Diễn ra trong một thời gian ở một không gian nhất định

Doanh nghiệp cần có kế hoạch chi tiết và cụ thể trong việc sáng tạo, lựa chọn các thông điệp

từ lực lượng biên tập hoặc ngoài doanh nghiệp, lựa chọn phương tiện truyền tin

+ Đánh giá kết quả tuyên truyền bằng các phương pháp: Đo lường số lần thông tin; đo

lường thay đổi thái độ của khách hàng; đo lường sự thay đổi doanh số và lợi nhuận

- Bán hàng cá nhân

Bán hàng cá nhân bao gồm mối quan hệ trực tiếp giữa hàng bán và các khách hàng

hiện tại và tiềm năng Là một loại ảnh hưởng cá nhân và một quá trình giao tiếp phức tạp

Tầm quan trọng của hoạt động bán hàng cá nhân phụ thuộc vào bản chất của sản phẩm,

nhu cầu của người tiêu dùng và giai đoạn trong quá trình mua Tham gia vào hoạt động

bán hàng gồm rất nhiều người trong doanh nghiệp như người nhận đơn đặt hàng, người

bán trực tiếp Nhiều doanh nghiệp lớn duy trì một lực lượng bán hàng rất đông đảo, lưc

lượng này cần phải được tổ chức và quản lý một cách khoa học

- Quá trình bán hàng

+ Nhiệm vụ của người bán: Thăm dò, tìm kiếm những khách hàng mới, truyền đạt

khéo léo những thông tin về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp; thực hiện việc bán,

cung cấp các dịch vụ cho khách hàng, cố vấn về các vấn đề của họ, trợ giúp kỹ thuật,

giao hàng, nghiên cứu và thu thập thông tin về tuyên truyền, đánh giá tính chất khách

hàng và điều phối hàng hóa

+ Bán hàng cá nhân là một nghệ thuật hơn là một khoa học Bởi quá trình bán

hàng phải rất sáng tạo, với điều kiện như nhau, một người được đào tạo có thể bán được

nhiều hơn một người bán không được đào tạo Người bán phải hiểu rõ quá trình bán

hàng, nên phải thăm dò, đánh giá, tiếp xúc và xử lý những từ chối với khách hàng, kết

thúc việc bán hàng, theo dõi khách hàng xem khả năng mua hàng lặp lại của họ

- Quản trị bán hàng

Là việc phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra những hoạt động bán hàng

bao gồm: việc thiết lập những mục tiêu cho nhân viên bán hàng, thiết kế chiến lược cho

lực lượng bán hàng, tuyển chọn, giám sát, đánh giá những người bán hàng của doanh

nghiệp Doanh nghiệp phải đưa ra những qui định về tuyển chọn và đào tạo lực lượng

bán hàng Quá trình quản trị bán hàng còn quan tâm đến giám sát nhân viên bán hàng

Trang 28

HV: Nguyễn Thị Vui 24

hoạt động Đưa ra các biện pháp khuyến khích họ tích cực hoạt động bằng các chế độ trả

thù lao và tiền thưởng

1.1.3.5 Chính sách con người

Chiến lược Nhân sự ở mỗi công ty cần phải được nhìn nhận dưới gọc độ

Marketing Ngày càng có nhiều các phương pháp tiếp thị định hướng con người PR được

vận dụng triệt để ngay từ những năm đầu họat động được phân tách bởi PR đối ngoại và

PR đối nội PR đối ngoại (External PR) nhắm đến việc xây dựng và duy trì các mối quan

hệ và hệ thống chăm sóc khách hàng (CRM) đối với Nhà Phân phối, giới Báo chí; các Liên

đoàn thể thao và các đơn vị sở hữu Truyền thông PR đối nội (Internal PR) nhắm đến việc

chăm sóc từng cá nhân và gia đình nhân viên làm việc cho công ty ở mọi cấp bậc công

việc Công ty có những chính sách đãi ngộ và hiếu hỉ cho từng nhân viên và giá đình tùy

theo quá trình công hiến của họ; những nhân viên làm việc gắn bó với công ty được khen

thưởng theo nấc thâm niên mà họ đã gắn bó với công ty Đặc biệt Ngày hội Gia đình hàng

năm của toàn thể cán bộ nhân viên công ty được tổ chức hết sức ấn tượng tạo ra không khí

đoàn kết thân mật… tất cả tạo ra niềm kiêu hãnh của nhân viên và gia đình họ đối với

những người xung quanh

Theo hệ thống “7P” nhóm giải pháp này nằm trong phạm trù P5 (People); và nói

theo ngôn ngữ brand marketing thì mỗi cá nhân và gia đình Nhân viên cũng được “gắn

nhãn” với thương hiệu chung của doanh nghiệp cũng như các thương hiệu sản phẩm mà họ

đang nỗ lực gầy dựng từng ngày ở mọi nơi mọi lúc

1.1.3.6 Chính sách quy trình quản lý

Gộp chung gồm quy trình hệ thống, hay tính chuyên nghiệp, tức process hay

professionalism Doanh nghiệp phát triển luôn đặt những quy trình quản trị (điển hình là

ISO:9001) làm hệ thống quản trị làm nền tảng để thể chế hóa bộ máy làm việc, giúp luật

hóa trách nhiệm cá nhân hay nói đúng hơn là “minh bạch hóa” vai trò và phạm vi trách

nhiệm của từng người để cá nhân thấy rõ nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong một tập

thể quản trị Tuy nhiên sự vận dụng hệ thống quản trị chuẩn mực (theo ISO) ở một số

doanh nghiệp có hàm lượng chất xám va hàm lượng dịch vụ cao hay mang nhiều tính sáng

tạo xem ra không chứng minh được hiệu quả

Marketing 7P giải thích hiện tượng này bằng một luận điểm rất cơ bản đó là xem tổ

chức doanh nghiệp cũng là một sản phẩm trong đó người lao động thụ hưởng hai nhóm lợi

ích (hay giá trị) là lý tính và cảm tính (rational và emotional) Nếu một doanh nghiệp có hệ

thống quản trị (thể hiện qua sản phẩm đầu cuối mà doanh nghiệp tạo ra) thiên về lý tính

hơn thì khả năng áp dụng các quy trình ISO (kinh điển) sẽ hiệu quả hơn; ngược lại nếu hệ

thống quản trị doanh nghiệp thiên về sản xuất ra các sản phẩm cảm tính (dịch vụ, văn hóa

nghệ thuật, truyền thông…) thì khả năng áp dụng quy trình quản trị kinh điển cần phải kết

hợp với các biện pháp kích thích sáng tạo và mở rộng các tiêu chí đánh giá hiệu quả công

việc (tức sản phẩm làm ra) một cách linh hoạt hơn thì nhân viên (người lao động trí tuệ) sẽ

không cảm thấy bị gò bó và cảm nhận được đẳp cấp của nhà quản trị, từ đó mới thu hút họ

là việc

Nói cách khác một quy trình ISO kinh điển liệu có thể quản lý quy trình sáng tạo

(sản xuất) ra một tác phẩm âm nhạc hay không? Đó là một trong những tình huống thử

thách điển hình đối vớ các quy trình chuẩn hóa quản trị theo tư tưởng thuần lý tính mà các

mô hình quản trị marketing ngày nay có thể khắc phục, trong đó “7P” là một điển hình

Trang 29

HV: Nguyễn Thị Vui 25

1.1.3.7 Chính sách cơ sở vật chất

Các giải pháp ở cấp độ này thể hiện bởi sứ mệnh hay tầm nhìn của doanh nghiệp,

của thương hiệu; văn hóa, những thói quen ứng xử và chuẩn giá trị trong doanh nghiệp,

cũng như giữa thương hiệu ứng xử trước cộng đồng; tư tưởng, tầm nhìn và giá trị của tổ

chức cũng cần phải được thông đạt một cách hiệu quả đến với toàn thể cá nhân trực thuộc

(stake holder) và kể cả đối với cộng đồng trong đó dĩ nhiên là có khách hàng, người tiêu

dùng, đối tác, người thân của họ, hay nói rộng hơn là của toàn xã hội

1.2 Tổng quan về Marketing mix, chiến lƣợc marketing mix

1.2.1 Định nghĩa

- Marketing - Mix là những biến (variables) có thể kiểm soát mà các tổ chức

du lịch nhà nước hay tư nhân sử dụng để đạt được những mục tiêu du lịch của điểm

đến với mỗi thị trường mục tiêu Có hàng loạt các công cụ Marketing - Mix, Mc

Canthy đã phổ biến 4 yếu tố để phân loại các công cụ này gọi là 4P: Sản phẩm

P1(product), giá cả P2(price), phân phối P3 (place), xúc tiến bán hàng

P4(promotion)

- Marketing - Mix là sự tập hợp các phương thức tiếp thị có thể kiểm soát

được mà doanh nghiệp du lịch sử dụng để tác động đến khách hàng tạo nên sự đáp

ứng cần thiết trong thị trường mục tiêu Có 4 yếu tố cơ bản tạo nên phối thức

Marketing - Mix, đó là sản phẩm, giá cả, giao tiếp khuyếch trương, phân phối

Trong đó sản phẩm mà doanh nghiệp du lịch cống hiến cho thị trường mục tiêu

được đánh giá cao theo các đặc trưng về phẩm chất, hình thức, dịch vụ Giá cả là

số tiền mà khách hàng phải bỏ ra để có được sản phẩm, nó tương xứng với giá trị

được cảm nhận của sản phẩm và được xem xét theo mức giá gốc triết khấu, bù lỗ,

thời hạn thanh toán Phân phối là những hoạt động nhằm đưa sản phẩm đến tận tay

khách hàng mục tiêu, như chọn kênh phân phối, các trung gian đại lý du lịch, vận

chuyển giao tiếp khuyếch trương là những hoạt động đạt giá trị của sản phẩm du

lịch và thuyết phục khách hàng mục tiêu sản phẩm đó gồm có các công cụ, cụ thể

như: tuyên truyền, quảng cáo, bán hàng trực tiếp

- Chiến lược marketing mix là một chuỗi những hoạt động hợp nhất dẫn đến

một ưu thế cạnh tranh vững chắc (jonh Scully)

Trang 30

HV: Nguyễn Thị Vui 26

- Chiến lược marketing là việc lựa chọn hướng hành động liên quan đến những

nhóm khách hàng cụ thể (thị trường mục tiêu), phương pháp liên lạc, kênh phân

phối và cơ cấu giá

- Chiến lược marketing mix là những yếu tố có thể kiểm soát được mà doanh

nghiệp đưa ra để thích ứng với thị trường mục tiêu

1.2.2 Chiến lược marketing mix

- Qui trình xây dựng chiến lược marketing mix

1.2.2.1 Xác định thị trường mục tiêu và định vị hàng hóa dịch vụ đó trên thị

trường

*) Phân đoạn thị trường

Để đưa ra được một định hướng phát triển kinh doanh, doanh nghiệp phải

được tập khách hàng mà mình có khả năng cung ứng và thỏa mãn nhu cầu của họ

Mặt khác khách hàng là rất lớn, phân tán lại có sự khác biệt nhau trong các nhu cầu

tiêu dùng Do vậy, nếu marketing mix đại trà thì chắc chắn sẽ bị cạnh tranh rất dể

dàng ở bất cứ thị trường nào Do vậy phận đoạn thị trường là nhằm phân chia thị

trường thành các nhóm có đặc trưng chung Từ đó tìm ra điểm mạnh của mình để

tập trung nỗ lực maketing vào một đoạn thị trường nhất định Có như vậy mới đem

lại hiệu quả nhất định Bên cạnh đó phân đoạn thị trường cũng đem lại lợi ích rất sát

thực:

- Sử dụng hiệu quả hơn ngân quỹ marketing

- Hiểu biết một cách thấu đáo hơn các nhu cầu, ước muốn của khách hàng

mục tiêu

- Xác định vị thế hiệu quả hơn

- Nâng cao độ chính xác trong việc lựa chọn công cụ và phương tiện quảng

cáo như: quảng cáo, quan hệ công chúng, bán hàng trực tiếp…

Tuy nhiên, phân đoạn thị trường cũng làm cho các doanh nghiệp gặp khó

khăn

Trang 31

HV: Nguyễn Thị Vui 27

- Mỗi đoạn thị trường khách thì phải có chiến lược marketing mix riêng, sản

phẩm riêng, giá riêng, xúc tiến và kênh phân phối riêng Do đó, nếu doanh nghiệp

chia nhỏ thị trường sẽ phải bỏ kinh phí khá lớn

- Doanh nghiệp khó chọn được phân đoạn tối ưu vì khó chọn được tiêu thức

phân đoạn

- Khó biết được nên chia nhỏ thị trường đến mức nào là hợp lý

1.1.2.2 Xác định thị trường mục tiêu

Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, xác lập nhu cầu thị trường, các doanh

nghiệp tiến hành việc phân đoạn thị trường Sau đó xác định những phân khúc thị

trường hấp dẫn nhất, phù hợp sở trường và nguồn lực của doanh nghiệp

1.2.2.3 Định vị

Do quá trình nhận thức của con người là không có gì đặc biệt thì họ không

nhớ, do sự cạnh tranh ngày càng gia tăng trong kinh doanh du lịch là phải làm thế

nào để khách hàng nhớ đến mình

Yêu cầu của định vị là tạo ra được hình ảnh, truyền tải được các lợi ích đến

khách hàng và phải khác biệt hóa tên, nhãn hiệu dịch vụ của mình so với đối thủ

cạnh tranh

1.3 Phân tích môi trường Marketing

Môi trường Marketing là tập hợp các chủ thể tích cực bên trong và các lực

lượng hoạt động bên ngoài doanh nghiệp và có ảnh hưởng tới khả năng chỉ đạo các

hoạt động Marketing, nhằm thiết lập và duy trì các mối quan hệ tốt đẹp với các

khách hàng mục tiêu Đặc trưng của môi trường Marketing là luôn biến động, khó

khống chế và hoàn toàn bất định, nhưng lại có ảnh hưởng sâu sắc tới sự sống còn

của doanh nghiệp Marketer luôn phải nhạy bén, tỉnh táo để có thể hiểu rõ, nắm bắt

các thay đổi của môi trường Marketing để có phản ứng và hành động kịp thời

1.3.1 Phân tích nhu cầu và xu hướng trong môi trường vĩ mô

Những doanh nghiệp thành đạt là những doanh nghiệp có thể nhận thức và

đáp ứng một cách có lời những nhu cầu và xu hướng chưa được đáp ứng trong môi

Trang 32

HV: Nguyễn Thị Vui 28

trường vĩ mô Những nhu cầu chưa được đáp ứng bao giờ cũng tồn tại Các nhà

kinh doanh có thể tạo nên cơ đồ nếu họ có thể giải quyết được bất kỳ vấn đề nào

trong số đó: Điều trị khỏi bệnh ung thư, chữa khỏi bệnh tâm thần bằng hóa trị liệu,

khử muối trong nước biển, tạo ra thực phẩm ngon, bổ dưỡng, không gây béo, ô tô

điện tử sử dụng được trong thực tế, máy tính nhận lệnh bằng tiếng nói và nhà ở để

cho mọi người có đủ tiền mua… Ngay cả trong nền kinh tế tăng trưởng chậm, một

số cá nhân và doanh nghiệp vẫn tìm cách tạo ra được những giải pháp mới cho

những nhu cầu chưa đáp ứng Bằng cách xác định nhu cầu có thể tìm ra cơ hội

Một xu hướng là một chiều hướng hay kết quả của sự kiện xảy ra tức thời

hay lâu dài Ví dụ, một xu hướng quan trọng là “sự tham gia các hoạt động xã hội

ngày càng nhiều của phụ nữ” Xu hướng này có hàm ý sâu sắc về sự tăng trưởng

kinh tế, về cuộc sống gia đình, về cuộc sống công tác, về quyền lực chính trị, về sở

thích hàng hóa dịch vụ Việc nhận diện một xu hướng, khám phá những hiệu quả

chắc chắn và xác định ra những cơ hội của doanh nghiệp là việc cực kỳ quan trọng

Chúng ta cần phân rõ một hiện tượng nhất thời với một xu hướng lớn Một hiện

tượng nhất thời là một hiện tượng không đoán trước được, xuất hiện trong một thời

gian ngắn, không có ý nghĩa xã hội, kinh tế và chính trị Mặc khác, xu hướng dễ dự

đoán và lâu bền hơn Một xu hướng thường bộc lộ ra hình dáng của tương lai Theo

ý kiến của nhà tương lai học Faith Popcorn, xu hướng tồn tại lâu có thể quan sát

được tại một số khu vực của thị trường và trong hoạt động của người tiêu dùng,

nhất quán với những dấu hiệu quan trọng khác xuất hiện hay phát sinh đồng thời

(Xem thêm chương 2, bài đọc thêm 2.3 Faith Popcorn nêu ra mười xu hướng trong

nền kinh tế)

Những xu hướng và xu hướng lớn đáng để Marketer chú ý theo dõi sát Một

sản phẩm mới hay một chương trình Marketing sẽ chắc chắn thành công hơn, nếu

nó phù hợp với những xu hướng mạnh chứ không phải đi ngược lại những xu hướng

đó Đồng thời việc phát hiện ra một cơ hội mới của thị trường không chắc đã đảm

bảo cho nó thành công, ngay cả khi nó khả thi về mặt kỹ thuật Ví dụ có thể cung

cấp cho công chúng tờ báo điện tử hằng ngày theo ý khách hàng qua Internet đến

máy tính của họ chỉ nói về những đề tài mà họ quan tâm Nhưng rất có thể là không

Trang 33

HV: Nguyễn Thị Vui 29

đủ số người quan tâm hay sẵn sàng mua dịch vụ này với mức giá đảm bảo lợi nhuận

cho người cung ứng

1.3.2 Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

Mọi hoạt động marketing của doanh nghiệp đều nằm trong một môi trường

vĩ mô to lớn bao gồm các lực lượng mà ảnh hưởng của nó có thể mở ra cho doanh

nghiệp những cơ hội mới hoặc tạo ra những mối đe dọa, thách thức cho hoạt động

của doanh nghiệp Môi trường vĩ mô bao gồm sáu thành phần chính được trình bày

qua sơ đồ sau, gồm: dân số, kinh tế, tự nhiên, công nghệ, luật pháp và văn hóa

Chúng là những lực lượng tiêu biểu cho “những cái không thể kiểm soát được” mà

doanh nghiệp phải tiên liệu và đáp ứng lại nếu muốn tồn tại và chiến thắng trên

thương trường

Hình 1.3: Các yếu tố của môi trường vĩ mô

1.3.2.1 Yếu tố dân số

Yếu tố dân số trong môi trường vĩ mô bao gồm qui mô dân số, mật độ dân

số, tuổi tác, giới tính, chủng tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp… Đó là những khía

cạnh được các Marketer quan tâm nhiều nhất bởi nó liên quan trực tiếp đến con

người mà con người chính là tác nhân tạo ra thị trường Hiện nay chúng ta đang

sống trong một thế giới luôn có nhiều thay đổi, trong đó có các thay đổi về dân số

Những biến động về dân số có thể làm thay đổi về mặt lượng của thị trường đồng

thời nó cũng ảnh hưởng trực tiếp làm thay đổi về mặt chất của thị trường Chẳng

hạn, sự tăng hoặc giảm qui mô dân số sẽ dẫn đến tăng hoặc giảm qui mô thị trường

hay tuổi bình quân cao hơn trong cơ cấu dân số sẽ dẫn đến sự gia tăng về nhu cầu

liên quan đến sức khỏe trong dân chúng

Văn hóa

Luật pháp

Công nghệ

Kinh

tế

Tự nhiên Dân số

Doanh nghiệp

Trang 34

HV: Nguyễn Thị Vui 30

1.3.2.2 Yếu tố kinh tế

Yếu tố kinh tế bao gồm những tác động liên quan đến khả năng chi tiêu của

khách hàng và việc tạo ra những mẫu tiêu dùng khác biệt Khả năng chi tiêu của

khách hàng ngoài việc phụ thuộc vào nhu cầu và giá cả, nó còn phụ thuộc rất nhiều

vào tình hình kinh tế, mức thu nhập của người dân, nhu cầu tiết kiệm và các điều

kiện tài chính-tín dụng Sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế tác động trực

tiếp tới sức mua và cơ cấu chi tiêu của dân chúng Một minh chứng cụ thể là cuộc

khủng hoàng kinh tế khởi phát từ Mỹ giữa năm 2008 và nhanh chóng lan rộng toàn

cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức mua cho tới suốt năm 2009 tới năm 2010 mới

có dấu hiệu phục hồi Rất nhiều doanh nghiệp lớn đã lâm vào cành phá sản hay đình

trệ Chính phủ nhiều nước phải bỏ ra cả tỉ đô la để kích cầu Việt Nam cũng bị ảnh

hưởng bởi khủng hoảng kinh tế, các doanh nghiệp đã phải nỗ lực hết sức để có thể

vượt qua

Cơ cấu tiêu dùng cũng phụ thuộc vào thu nhập bình quân đầu người Ở các

nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao thì chi tiêu cho các nhu cầu thiết

yếu (ăn uống, nhà ở…) chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ, còn phần lớn là vào các dịch vụ như:

giải trí, du lịch… Chính vì thế mà tại các nước này các ngành dịch vụ rất phát triển,

có khi chiếm tới 70% sản lượng xã hội Còn ở các nước nghèo, kém phát triển thì

tới 80% thu nhập được dành cho các nhu cầu cơ bản, phần còn lại dành cho tiết

kiệm và chỉ có rất ít được dành cho các nhu cầu về dịch vụ giải trí

Trong dài hạn chúng ta cần nhìn nhận một xu hướng tăng lên về thu nhập

trung bình trong dân chúng toàn thế giới trong đó có Việt Nam Xu hướng này

ngoài việc sẽ tạo ra một sức mua cao hơn trên thị trường, nó còn dẫn đến những nhu

cầu, mong muốn khác biệt hơn từ phía người tiêu dùng Họ có thể đòi hỏi nhiều hơn

hay sẳn sàng bỏ ra một số tiền cao hơn cho các yếu tố chất lượng, sự đa dạng, tính

tiện dụng, tính thẩm mỹ hay giá trị tinh thần mà sản phẩm hay dịch vụ có khả năng

mang lại

1.3.2.3 Yếu tố tự nhiên

Môi trường tự nhiên bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên được xem

như là những nhân tố đầu vào cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp và nó có

những ảnh hưởng nhất định đến các hoạt động Marketing của doanh nghiệp đó Ta

Trang 35

HV: Nguyễn Thị Vui 31

có thể liệt kê một số xu hướng liên quan đến môi trường tự nhiên hiện đang có

những ảnh hưởng to lớn đến hoạt động Marketing của một doanh nghiệp như:

- Nạn khan hiếm tài nguyên: Dầu mỏ, vàng… ngày càng khan hiếm và việc

biến động giá vàng, giá dầu mỏ rõ ràng đã ảnh hưởng sâu sắc tới các nền kinh tế

Ngay nước và không khí, những nguồn tài nguyên tưởng như vô tận mà cũng đang

trong nguy cơ bị khai thác cạn kiệt và các tổ chức bảo vệ môi trường đang phải tích

cực cảnh báo về nguy cơ khan hiếm

- Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường nước và không khí, ô nhiễm

tiếng ồn đang là vấn nạn của thế giới và các tổ chức bảo vệ môi trường đang hoạt

động tích cực để hạn chế tình trạng này Bài học Vedan ở Việt Nam cho ta thấy rõ

một sản phẩm có thể bị người tiêu dùng lên án và tẩy chay khi nó góp phần làm ô

nhiễm môi trường

- Sự can thiệp của Nhà nước vào việc sử dụng và tái chế tài nguyên: Các

nhóm dư luận xã hội luôn tạo áp lực đòi hòi Nhà nước và các cơ quan quản lý kiểm

soát chặt chẽ hơn nữa việc khai thác tài nguyên, tái chế nguyên nhiên liệu và bảo vệ

môi trường Ngày nay hiếm có doanh nghiệp nào dám công khai thoái thác các trách

nhiệm này

1.3.2.4 Yếu tố công nghệ

Yếu tố có tác động hết sức mạnh mẽ đến đời sống của dân chúng là yếu tố

công nghệ Công nghệ đã mang đến những điều kỳ diệu như penicillin, phẫu thuật

tim, tế bào gốc, xe hơi, tivi, máy vi tính Nó cũng mang lại những điều khủng

khiếp như bom nguyên tử, hơi độc, súng tiểu liên, bom chùm… Thái độ của chúng

ta đối với công nghệ tùy theo việc chúng ta chịu tác động bởi những điều kỳ diệu

của nó hay chịu tác động bởi những điều sai lầm của nó hơn

Những tiến bộ của công nghệ tác động đến thị trường trên các mặt sau:

- Khởi đầu cho những ngành công nghiệp mới: như máy vi tính, dịch vụ

mạng, robot, công nghệ sinh học, nghiên cứu vũ trụ

- Làm thay đổi căn bản hay xóa bỏ hoàn toàn các sản phẩm hiện hữu Ví dụ,

phát minh ra máy ảnh kỹ thuật số gây ảnh hưởng năng cho việc chụp hình dùng

phim cổ điển, máy photocopy và máy tính làm biến mất những chiếc máy chữ cũ

kỹ…

Trang 36

HV: Nguyễn Thị Vui 32

- Kích thích sự phát triển những sản phẩm liên quan hoặc không liên quan

đến công nghệ mới Ví dụ: Những biện pháp ngừa thai tiên tiến là yếu tố dẫn đến

thu hẹp quy mô hộ gia đình, nhiều người phụ nữ đi làm hơn và có nhiều thu nhập dễ

cho tiêu tùy ý hơn Kết quả là chi tiêu nhiều hơn cho các chuyến du lịch, hàng hóa

bền hơn và những thứ xa xỉ khác

- Sự phát triển của công nghệ làm chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn lại

bởi sự ra đời ngày càng nhiều với tốc độ ngày càng cao của các sản phẩm mới ưu

việt hơn

Việc áp dụng công nghệ mới giúp các doanh nghiệp tạo ra sản phẩm mới và

làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Sự phát triển công nghệ

phụ thuộc rất nhiều vào sự đầu tư công tác nghiên cứu và phát triển Các doanh

nghiệp nào đầu tư cho chi phí nghiên cứu và phát triển cao thì khả năng kiếm lời sẽ

cao hơn

1.3.2.5 Yếu tố luật pháp

Các quyết định Marketing của một doanh nghiệp thường bị ảnh hưởng nhiều

bởi các yếu tố luật pháp Đó có thể là những điều khoản luật pháp, các chính sách

được chính phủ hay các tổ chức xã hội ban hành, nó làm hạn chế những hoạt động

của một doanh nghiệp theo khuôn khổ cho phép của luật pháp và các vấn đề xã hội

Hệ thống luật pháp của một quốc gia bao gồm: hiến pháp, các bộ luật (luật dân sự,

luật doanh nghiệp, luật thương mại, luật về thuế, luật đầu tư nước ngoài…) và các

chính sách Nhà nước liên quan đến doanh nghiệp bao gồm các chính sách đặc thù

về từng lãnh vực như chính sách tài trợ trong doanh nghiệp, trong giao thông, chính

sách thuế quan và quota nhập khẩu…

Môi trường pháp luật chính trị trước hết là để bảo vệ giữa các doanh nghiệp

với nhau Thứ hai là để bảo vệ người tiêu thụ tránh được các giao dịch mua bán

không công bằng Thứ ba là để bảo vệ lợi ích rộng lớn của xã hội, tránh khỏi các

hành vi kinh doanh sai lệch

Tại Việt Nam, có ưu điểm là tính ổn định về chính trị cao, không xảy ra đảo

chính, bạo loạn nên thu hút được nhiều nhà đầu tư và làm cho các doanh nghiệp yên

tâm sản xuất Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật còn chưa hoàn thiện, các văn bản

luật quá nhiều và chồng chéo khiến các doanh nghiệp rất vất vả để thực thi, thậm

Trang 37

HV: Nguyễn Thị Vui 33

chí đôi khi còn tại điều kiện cho các cơ quan hành pháp nhũng nhiễu và làm khó

doanh nghiệp

1.3.2.6 Yếu tố văn hóa-xã hội

Con người sinh ra và lớn lên trong một xã hội cụ thể và những niềm tin, nhận

thức về các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, hành vi của họ bị ảnh hưởng từ xã hội,

từ nền văn hóa mà họ đang sinh sống Một số đặc trưng về môi trường văn hóa-xã

hội sau đây có những tác động nhất định đến hoạt động Marketing của một doanh

nghiệp: tính bền vững của văn hóa cốt lõi, các nhóm văn hóa nhỏ như các nhóm tôn

giáo, chủng tộc, giới thanh niên, phụ nữ… Do đó để tiếp cận, để thu phục một thị

trường nào đó các Marketer phải thấu hiểu được nền văn hóa riêng biệt của nơi đó,

tránh những hành vi, những thông điệp thậm chí những sản phẩm, dịch vụ không

tương thích với các giá trị văn hóa nơi đó Ngoài ra do tính đặc thù của các nền văn

hóa khác biệt đôi khi còn giúp cho doanh nghiệp xâm nhập thị trường tốt hơn

1.3.3 Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vi mô

Bộ phận Marketing có nhiệm vụ thu hút và xây dựng những mối quan hệ với

khách hàng thông qua việc cung cấp giá trị và tạo ra sự thỏa mãn cho khách hàng

Tuy nhiên chỉ riêng bộ phận Marketing trong một doanh nghiệp sẽ không hoàn

thành được nhiệm vụ này Điều này đòi hỏi phải có sự kết hợp với các bộ phận khác

bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như các nhà cung cấp, các trung gian

Marketing, khách hàng, đối thủ cạnh tranh và công chúng Các yếu tố trên hình

thành nên môi trường vi mô Marketing của doanh nghiệp Môi trường vi mô

Marketing là những lực lượng có quan hệ trực tiếp tới bản thân doanh nghiệp, tới bộ

phận Marketing và các khả năng phục vụ thị trường của nó Có thể chia các yếu tố

của môi trường vi mô Marketing của doanh nghiệp ra hai loại: các yếu tố môi

trường nội bộ doanh nghiệp và các yếu tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp

Các nhà

cung

cấp

Các trung gian Marketing

Khách hàng Đối thủ cạnh tranh

Khách hàng Đối thủ cạnh tranh

Doanh nghiệp

Công chúng

Trang 38

HV: Nguyễn Thị Vui 34

Hình 1.4: Các yếu tố môi trường vi mô

Hình 1.4: Các yếu tố môi trường vi mô

1.3.3.1 Môi trường vi mô bên trong doanh nghiệp

Môi trường bên trong còn được gọi là môi trường nội bộ doanh nghiệp Khi

thiết kế các kế hoạch Marketing cho doanh nghiệp, bộ phận Marketing phải chịu sự

lãnh đạo của ban giám đốc doanh nghiệp đồng thời phải hợp tác với những bộ phận

khác như bộ phận tài chính, bộ phận nghiên cứu và phát triển (Research and

Development-R&D), bộ phận vật tư, sản xuất, tài chính-kế toán và bộ phận nhân sự

của doanh nghiệp

- Ban giám đốc: Có nhiệm vụ thiết lập nên những nhiệm vụ, những mục tiêu

chung, chiến lược tổng thể và các chính sách của doanh nghiệp Nhà quản trị

Marketing phải đưa ra những quyết định trong phạm vi những kế hoạch đã được

hoạch định bởi ban giám đốc Các chương trình hành động, kế hoạch Marketing còn

phải được thông qua bởi ban giám đốc trước khi đưa ra thực hiện

Ngoài ra các nhà quản trị Marketing còn phải hợp tác chặt chẽ với những bộ

phận chức năng khác trong doanh nghiệp:

- Bộ phận Tài chính: Đóng vai trò là người tìm kiếm và cung cấp nguồn tài

chính để thực hiện các chương trình Marketing Phòng tài chính luôn quan tâm tới

vấn đề nguồn vốn-tài sản và việc sử dụng vốn cần thiết để thực hiện các kế hoạch

Marketing, đòi hỏi Marketer cần phải biết lập và hoạch định ngân sách cũng như

các kế hoạch chi tiêu cho các hoạt động Marketing

- Bộ phận R&D (Research and Development): Tập trung vào những vấn đề

trong việc thiết kế và tạo ra một sản phẩm có những tính năng thu hút và tương

thích được với nhu cầu, mong muốn từ thị trường

- Bộ phận Kinh doanh: Luôn quan tâm tới việc nâng cao doanh số và mở

rộng khách hàng Suy cho cùng mọi hoạt động của Marketing cũng nhắm vào cùng

mục tiêu ấy, cho nên Marketing luôn là sự hỗ trợ và phối hợp mật thiết nhất cho

kinh doanh Mặt khác, phòng kinh doanh là nơi cung cấp các thông tin nóng hổi và

thực tế nhất từ thị trường cho những Marketer

Trang 39

HV: Nguyễn Thị Vui 35

- Bộ phận Thu mua: Có nhiệm vụ tìm kiếm nhà cung cấp và nguồn nguyên

vật liệu tương thích

- Bộ phận Sản xuất: Có nhiệm vụ sản xuất đúng số lượng và chất lượng sản

phẩm Bộ phận sản xuất luôn cần các định hướng từ Marketing để có kế hoạch sản

xuất phù hợp và kịp thời Ngược lại, những trục trặc từ sản xuất có thể ảnh hưởng

nặng nề tới các hoạt động của Marketing (ví dụ ảnh hưởng tới chương trình tung

sản phẩm mới hay khuyến mãi )

- Bộ phận Kế toán: Bảo đảm tính toán những khoản lời lỗ để biết được các

mục tiêu Marketing đã được thực hiện như thế nào

Từ những nhận xét ấy, chúng ta cần hiểu về khái niệm “Marketing nội bộ”,

tức là toàn bộ các nỗ lực Marketing nhắm tới toàn bộ nhân viên của doanh nghiệp,

không chỉ với tư cách là những người cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra sản

phẩm dịch vụ, mà còn với tư cách những khách hàng đầu tiên Công tác Marketing

không phải là nhiệm vụ của riêng những người làm việc trong bộ phận Marketing,

mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn bộ nhân viên của doanh nghiệp

1.3.3.2 Môi trường vi mô bên ngoài doanh nghiệp

- Các nhà cung cấp: Nhà cung cấp là những cá nhân hoặc tổ chức cung cấp

cho doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh các nguồn lực (có thể là sản phẩm, dịch

vụ, nguyên, nhiên vật liệu, vốn và nguồn nhân lực) cần thiết cho hoạt động của

doanh nghiệp Như vậy, sản phẩm cuối cùng của người này có thể là đầu vào của

người kia

Các nhà cung cấp có thể ảnh hưởng tới chất lượng, giá thành và tiến trình sản

xuất sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ Sự tăng giá hay khan hiếm các nguồn lực

này trên thị trường có thể ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động Marketing trong

doanh nghiệp Do vậy các nhà quản trị Marketing phải đảm bảo sự ổn định của các

nguồn cung cấp Nói khác đi, bộ phận Marketing phải tự mình “tiếp thị” các nhà

cung cấp Nếu chúng ta không làm các công tác Marketing với nhà cung cấp, họ sẽ

không hiểu chúng ta cần những gì để phục vụ và thỏa mãn các nhu cầu, mong muốn

của khách hàng mục tiêu Công tác Marketing cho nhà cung cấp phải thực hiện tốt

việc cung cấp các thông tin cần thiết về thị trường mục tiêu (nhu cầu, khả năng

Trang 40

HV: Nguyễn Thị Vui 36

thanh toán, nhân chủng học, địa lý, ), các yêu cầu của doanh nghiệp về các nguyên

liệu vật tư đầu vào tốt nhất để có thể thiết kế và sản xuất các sản phẩm phù hợp

- Các trung gian marketing: Những trung gian bao gồm những cá nhân hay

doanh nghiệp hỗ trợ cho việc phân phối, tiêu thụ, quảng bá hàng hóa hoặc dịch vụ

cho thị trường Họ bao gồm:

+ Những trung gian thương mại: Là những cá nhân hay doanh nghiệp bán sỉ,

bán lẻ, làm đại lý hay môi giới thương mại Ví dụ hệ thống trung gian thương mại

của Unilever là hàng ngàn tiệm tạp hóa, các đại lý, các nhà phân phối, các siêu thị…

Tại sao doanh nghiệp cần có trung gian thương mại? Đó là vì không doanh nghiệp

nào có đủ khả năng tự thiết kế kênh phân phối bao trùm khắp thị trường Các trung

gian thương mại đảm bảo tốt hơn, nhanh hơn các điều kiện thuận tiện về thời gian,

địa điểm và thủ tục mua hàng cho các khách hàng mục tiêu và tất nhiên với chi phí

thường thấp hơn so với doanh nghiệp tự làm

+ Những trung gian dịch vụ lưu thông hàng hóa: Là các cá nhân hay tổ chức

giúp lưu thông hàng hóa, vận chuyển từ nơi dự trữ tới nơi cần thiết Các trung gian

này có tác dụng trong việc bảo đảm sự an toàn, đẩy nhanh tiêu thụ hàng hóa, giảm

chi phí trung gian và làm tăng lợi nhuận nếu doanh nghiệp lựa chọn các môi giới

tốt

+ Những trung gian dịch vụ Marketing: Là các cá nhân và tổ chức cung cấp

các dịch vụ như nghiên cứu thị trường, quảng cáo, tư vấn Marketing… giúp doanh

nghiệp có các định hướng tốt hơn và quảng bá hiệu quả hơn cho sản phẩm của

mình Ngày nay, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt thì các doanh nghiệp không thể

nào tự mình làm hết các công tác này, mà cũng không thể làm tốt được Do vậy việc

thuê ngoài các trung gian làm dịch vụ Marketing là vô cùng cần thiết

+ Những trung gian dịch vụ tín dụng-tài chính: Là các tổ chức hỗ trợ đầu tư,

các ngân hàng, các công ty tín dụng, các công ty bảo hiểm… nhằm hỗ trợ doanh

nghiệp đầu tư hoặc bảo hiểm chống lại các rủi ro liên quan tới việc mua bán hàng

hóa Các trung gian này ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp

Nói chung, các trung gian Marketing ảnh hưởng tới đầu ra của sản phẩm, cụ

thể là ảnh hưởng tới giá bán lẻ, hình ảnh thương hiệu, uy tín doanh nghiệp, tốc độ

Ngày đăng: 22/01/2021, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w